2.Mục đích nghiên cứu Với mục đích vận dụng lý luận về hạch toán kế toán và vào nhu cầu thực tiễncông tác Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở Công ty TNHH BưuChính Viễn thô
Trang 1DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCTC : Báo cáo tài chính
BHXH : Bảo hiểm xã hội
BHTN : Bảo hiểm thất nghiệp
BHYT : Bảo hiểm y tế
BPSX : Bộ phận sản xuất
CCDC : Công cụ dụng cụ
CPSX : Chi phí sản xuất
CP : Chi phí
CP NCTT : Chi phí nhân công trực tiếp
CP NVLTT : Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
CP SXC : Chi phí sản xuất chung
ĐHĐCĐ : Đại hội đồng cổ đông
GTGT : Giá trị gia tăng
HĐQT : Hội đồng quản trị
HĐCĐ : Hội đồng cổ đông
KCS : Kiểm tra chất lượng
KKTX : Kê khai thường xuyên
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kếtquả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế củađơn vị thực tập
Hà Nội, ngày 29 tháng 05 năm 2017
Sinh viên
HOÀNG THỊ THU HÀ
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, xu thế mở cửa và hộinhập kinh tế thế giới đã tạo ra nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với các doanhnghiệp sản xuất trong nước.Và mục đích của các nhà quản trị là làm sao đạt được lợinhuận cao nhất Để đạt được mục đích này, các doanh nghiệp phải sử dụng nhiều biệnpháp khác nhau Một trong những biện pháp hiệu quả mà hầu hết các doanh nghiệp đều
áp dụng đó là phấn đấu không ngừng tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sảnphẩm
Trong các doanh nghiệp sản xuất, chi phí chiếm một tỷ trọng lớn và có tínhquyết định đến giá thành sản phẩm Chi phí và giá thành được coi là hai chỉ tiêu cơ bản,
có mối quan hệ khăng khít với nhau trong hệ thống chỉ tiêu kinh tế tài chính của mộtdoanh nghiệp nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế trong từng chu kỳ kinh doanh Vì vậy, đốivới các doanh nghiệp sản xuất nói chung thì vấn đề liên quan đến chi phí sản xuất vàgiá thành sản phẩm luôn luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản trị doanhnghiệp.Việc tìm hiểu về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm sẽ giúp doanh nghiệp
có cái nhìn khái quát nhất về tình hình sản xuất của doanh nghiệp mình, từ đó giúptìm ra được những ưu, nhược điểm và phương hướng hoàn thiện nhằm góp phần tíchcực hơn vào quá trình quản lý, tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, và giúpdoanh nghiệp ngày càng phát triển đi lên trong nền kinh tế hiện nay Do đó, với vaitrò là công vụ quản lý quan trọng, cung cấp thông tin về toàn bộ hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp, công tác kế toán mà đặc biệt là kế toán chi phí sảnxuất và tính giá thành sản phẩm cần phải được đặc biệt quan tâm và coi trọng
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác tập hợp chi phí sản xuất vàtính giá thành sản phẩm, trong thời gian thực tập tại Công ty TNHH Bưu ChínhViễn Thông Sao Việt, sau khi tìm hiểu thực tế công tác kế toán, đặc biệt là kế toántập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, em đã mạnh dạn chọn đề tài:
"Tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty TNHH Bưu chính Viễn thông Sao Việt '' để đi sâu nghiên cứu.
Trang 52.Mục đích nghiên cứu
Với mục đích vận dụng lý luận về hạch toán kế toán và vào nhu cầu thực tiễncông tác Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở Công ty TNHH BưuChính Viễn thông Sao Việt, từ đó phân tích những điểm còn tồn tại, đóng góp một
số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác kế toán đơn vị; kết cấu của khóa luận ngoàiphần mở đầu và kết luận, nội dung được thực hiện bởi ba chương:
Chương 1: Lý luận cơ bản về tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất
Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại
Công ty TNHH Bưu Chính Viễn Thông Sao Việt
Chương 3: Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại
Công ty TNHH Bưu Chính Viễn Thông Sao Việt
Trang 6CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH
NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1 Sự cần thiết tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất
1.1.1 Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất và giá thành
1.1.1.1 Bản chất và nội dung kinh tế của chi phí sản xuất
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người luôn gắn liền với quá trình sảnxuất hàng hoá, đó là quá trình kết hợp của ba yếu tố: tư liệu lao động, đối tượng laođộng và sức lao động Sự tiêu hao các yếu tố này trong quá trình sản xuất kinhdoanh đã tạo ra các chi phí tương ứng, đó là các chi phí về tư liệu lao động, chi phí
về đối tượng lao động và chi phí về lao động sống Các loại chi phí này phát sinhmột cách thường xuyên trong quá trình sản xuất kinh doanh, nó luôn vận động, thayđổi trong quá trình tái sản xuất Để quản lý chi phí một cách có hiệu quả, phải nắmvững được bản chất của chi phí
Chi phí sản xuất kinh doanh là sự dịch chuyển vốn của doanh nghiệp vào đốitượng tính giá nhất định, nó có thể mang tính chủ quan vì nó phụ thuộc vào phươngpháp tính, trình độ quản lý và yêu cầu quản lý cụ thể của từng doanh nghiệp Có thểhiểu chi phí sản xuất là toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hoá vàcác chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong kỳ dùng vào sản xuất sảnphẩm được biểu hiện bằng tiền
Trên thực tế có nhiều cách hiểu khác nhau về chi phí:
- Đứng trên góc độ của kế toán tài chính: chi phí được nhìn nhận như nhữngkhoản phí tổn đã phát sinh gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp để đạtđược một sản phẩm, lao vụ,dịch vụ nhất định Chi phí được xác định bằngtiền của những hao phí về lao động sống, lao động vật hóa…trên cơ sở chứng
từ, tài liệu bằng chứng chắc chắn
Trang 7- Đứng trên góc độ kế toán quản trị: chi phí có thể là những phí tổn thực tế gắnliền với hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày khi tổ chức thực hiên,kiểm tra, ra quyết định; chi phí cũng có thể là những phí tổn ước tính để thựchiện dự án, những phí tổn mất đi khi lựa chọn phương án, bỏ qua cơ hội kinhdoanh Bên cạnh đó, Kế toán quản trị cần chú ý thêm về sự lựa chọn, so sánhtheo mục đích sử dụng, môi trường kinh doanh hơn là chú trọng vào chứngminh bằng các chứng từ, chứng cứ.
Như vậy, bản chất của Chi phí sản xuất kinh doanh là:
- Những phí tổn (hao phí) về các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất gắnliền với mục đích kinh doanh
- Lượng chi phí phụ thuộc vào khối lượng các yếu tố sản xuất đã tiêu haotrong kỳ và giá cả của một đơn vị yếu tố sản xuất đã hao phí
- CPSX được đo lường bằng thước đo tiền tệ và được xác định trong mộtkhoảng thời gian xác định
1.1.1.2 Bản chất và nội dung kinh tế của Giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm được xác định bao gồm những chi phí về lao động sống,lao động vật hóa và các chi phí khác được dung để sản xuất hoàn thành một khốilượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ nhất định
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu mang tính giới hạn và xác định, vừa mangtính chất khách quan vừa mang tính chất chủ quan, phản ánh kết quả sử dụng cácloại tài sản trong quá trình sản xuất kinh doanh, cũng như tính đúng đắn của nhữnggiải pháp quản lý mà doanh nghiệp đã thực hiện để nhằm mục đích hạ thấp chi phí,tăng cao lợi nhuận
Giá thành sản phẩm có 2 chức năng chủ yếu:
Thứ nhất, chức năng thước đo bù đắp chi phí: là toàn bộ chi phí mà doanh
nghiệp đã bỏ ra được bù đắp bằng số tiền thu được do tiêu thụ sản phẩm Căn cứvào đơn giá bán trên thị trường và giá thành đơn vị sản phẩm sẽ biết được doanhnghiệp có bù đắp được chi phí đã bỏ ra hay không
Trang 8Thứ hai, chức năng lập giá: giá thành sản phẩm là cơ sở, là căn cứ để xác định
giá bán của sản phẩm
Như vậy bản chất của giá thành sản phẩm là giá trị của các yếu tố chi phí đượcchuyển dịch vào những sản phẩm đã hoàn thành
1.1.1.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Giá thành và chi phí sản xuất có mối quan hệ mật thiết với nhau Đều là nhữngchỉ tiêu kinh tế quan trọng trong công tác quản lý sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp nhằm không ngừng tiết kiệm chi phí, hạ giá thành, tăng lợi nhuận
Về mặt bản chất, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là biểu hiện hai mặtcủa quá trình sản xuất kinh doanh Hay đều cùng biểu hiện bằng tiền những hao phí
về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra
Tuy nhiên chúng có sự khác nhau về lượng Khi nói đến chi phí sản xuất là nóiđến chi phí phát sinh trong một thời kì nhất định, không gắn với số lượng sản phẩm,không phân biệt chi phí cho loại sản phẩm nào, đã hoàn thành hay chưa; còn khi nóiđến giá thành sản phẩm là xác định một lượng chi phí sản xuất nhất định, tính chomột đại lượng kết quả hoàn thành nhất định
Đứng trên góc độ quá trình hoạt động để xem xét thì quá trình sản xuất là mộtquá trình hoạt động liên tục còn việc tính giá thành sản phẩm thực hiện tại một điểmcắt có tính chất chu kỳ để so sánh chi phí với khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụhoàn thành
Chi phí sản xuất gồm những chi phí phát sinh trong kỳ đó, còn giá thành sảnphẩm có thể gồm một phần chi phí phát sinh ở kỳ trước (chi phí trả trước) và mộtphần chi phí phát sinh của kỳ sau nhưng được ghi nhận trong kỳ này (chi phí phảitrả) Mặt khác, giá thành sản phẩm không tính những chi phí sản xuất dở dang cuối
kỳ, chi phí thiệt hại nhưng lại gồm chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ (một phần củachi phí sản xuất phát sinh kỳ trước chuyển sang) Do vậy, giá thành sản phẩm có thểbằng hoặc có thể nhỏ hơn hoặc lớn hơn chi phí sản xuất trong kì Mối quan hệ giữachúng được biểu hiện qua công thức sau đây:
Trang 9lý kinh tế, tài chính, chế độ kế toán hiện hành Những quan điểm và quy định đó đôikhi không hoàn toàn phù hợp với bản chất của chi phí và giá thành sản phẩm, đòihỏi các nhà quản trị doanh nghiệp cần phải nhận thức rõ ràng đầy đủ để sử dụngthông tin cho thích hợp.
1.1.2 Vai trò, yêu cầu, nhiệm vụ quản lý kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là những chỉ tiêu quan trọng luôn đượcquan tâm vì chúng có mối quan hệ mật thiết với doanh thu và gắn liền với kết quả(lãi, lỗ) hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Yêu cầu đặt ra đối vớicông tác quản lý chi phí và giá thành sản phẩm là: chi phí chi ra phải thực sự cầnthiết, hợp lý, tiết kiệm không lãng phí; giá thành sản phẩm phải là nhỏ nhất, phảithực là chỉ tiêu phản ánh đầy đủ những yếu tố chi phí hợp lý nhất mà doanh nghiệpphải chi ra để sản xuất nên sản phẩm
Việc tổ chức kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý của chi phí phát sinh ở doanhnghiệp, ở từng bộ phận, từng đối tượng, góp phần tăng cường quản lý tài sản, vật tưlao động, tiền vốn một cách tiết kiệm, có hiệu quả
Điều quan trọng, giá thành sản phẩm còn là cơ sở để định giá bán sản phẩm, làcăn cứ để xác định kết quả kinh doanh Đây cũng là khâu trung tâm của toàn bộcông tác kế toán ở doanh nghiệp, chi phối đến chất lượng của các phần hành kế toánkhác cũng như chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý của doanh nghiệp
Vai trò, yêu cầu quản lý kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Trong nền kinh tế thị trường với nhiều chủng loại hàng hoá thì vấn đề quyếtđịnh sự tồn tại của mỗi doanh nghiệp là giá thành sản phẩm Do đó, để thực hiện
Trang 10được mục tiêu hạ giá thành sản phẩm, kế toán tập hợp CPSX và tính giá thành sảnphẩm cần thực hiện tốt các vai trò và yêu cầu sau:
Thứ nhất, nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của kế toán chi phí và tính giá
thành sản phẩm trong toàn bộ hệ thống kế toán doanh nghiệp, mối quan hệ với các
bộ phận kế toán có liên quan, trong đó kế toán các yếu tố chi phí là tiền đề cho kếtoán chi phí và giá thành
Thứ hai, căn cứ đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, quy trình công nghệ
sản xuất, loại hình sản xuất, đặc điểm của sản phẩm, khả năng hạch toán, yêu cầuquản lý cụ thể của doanh nghiệp để lựa chọn, xác định đúng đắn đối tượng kế toánchi phí, phương pháp tập hợp chi phí sản xuất theo các phương án phù hợp với điềukiện của doanh nghiệp từ đó xác định giá thành cho phù hợp
Thứ ba, tổ chức bộ máy kế toán một cách khoa học, hợp lý trên cơ sở phân
công rõ ràng trách nhiệm của từng nhân viên, từng bộ phận kế toán có liên quan,đặc biệt là bộ phận kế toán các yếu tố chi phí
Thứ tư, thực hiện tổ chức chứng từ, hạch toán ban đầu, hệ thống tài khoản, sổ
kế toán phù hợp với các nguyên tắc chuẩn mực, chế độ kế toán đảm bảo đáp ứngđược yêu cầu thu nhận – xử lý – hệ thống hóa thông tin về chi phí, giá thành củadoanh nghiệp
Thứ năm, tổ chức lập và phân tích các báo cáo kế toán về chi phí, giá thành sản
phẩm, cung cấp những thông tin cần thiết về chi phí, giá thành sản phẩm, phù hợpvới quá trình sản xuất - tiêu thụ sản phẩm
Nhiệm vụ quản lý kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Để tổ chức tốt công tác tập hợp CPSX và tính giá thành sản phẩm, đáp ứng đầy đủ,trung thực và kịp thời yêu cầu quản lý CPSX và tính giá thành sản phẩm, kế toáncần thực hiện tốt những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, phản ánh chính xác, kịp thời toàn bộ CPSX thực tế phát sinh.
Thứ hai, kiểm tra tình hình thực hiện các định mức chi phí và các chi phí bánhàng, chi phí quản lý doanh nghiệp Phát hiện kịp thời các khoản chênh lệch so với
Trang 11định mức, dự toán các khoản chi phí ngoài kế hoạch, các khoản thiệt hại trong quátrình sản xuất để đề ra các biện pháp ngăn chặn kịp thời
Thứ ba, Tính toán chính xác, kịp thời giá thành sản phẩm, kết quả từng phần
cũng như toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Thứ tư, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp theo
từng sản phẩm, hợp đồng, vạch ra các biện pháp hạ giá thành một cách hiệu quả
Thứ năm, xác định đúng đắn và bàn giao thanh toán kịp thời cho các hợp đồng
đến hạn Định kỳ, đánh giá khối lượng sản phẩm dở dang đúng nguyên tắc
Thứ sáu, đánh giá đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở từng hợp
đồng trong từng thời kỳ nhất định, kịp thời lập các báo cáo về CPSX và giá thành,cung cấp kịp thời các thông tin cho ban lãnh đạo doanh nghiệp
1.2 Một số vấn đề lý luận cơ sở cho tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp
1.2.1 Hệ thống khái niệm, nguyên tắc kế toán chi phối tới tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp
Hệ thống kế toán Việt Nam không ngừng hoàn thiện và phù hợp với nền kinh
tế thị trường Các khái niệm, các nguyên tắc kế toán ngày càng trở nên quan trọng
vì đó là tiền đề cho bất cứ một lí luận nào, nó chi phối mạnh mẽ đến công tác kếtoán, kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm cũng không ngoại lệ Hệthống khái niệm và nguyên tắc kế toán liền mạch, logic và có sự liên kết với nhau Những khái niệm và nguyên tắc này được rút ra từ kinh nghiệm thực tiễn củanhững người thực hiện công tác kế toán kết hợp với quá trình nghiên cứu của các cơquan chức năng Sau đó được mọi người thừa nhận như là một quy luật và trở thànhmột trong những vấn đề có tính pháp lệnh của công tác kế toán thống kê và đượctriển khai áp dụng thống nhất ở tất cả các đơn vị kinh tế trong phạm vi quốc gia.Sau đây là một số khái niệm và những nguyên tắc cơ bản:
Nguyên tắc cơ sở dồn tích: Theo nguyên tắc này, mỗi nghiệp vụ kinh tế tài
chính của doanh nghiệp liên quan đến chi phí phải được ghi vào sổ kế toán vào thờiđiểm phát sinh thực tế chứ không căn cứ vào thời điểm thu hoặc chi tiền
Trang 12Nguyên tắc hoạt động liên tục: Theo nguyên tắc này, báo cáo tài chính phải
được lập trên cơ sở giả định là doanh nghiệp đang hoạt động và sẽ tiếp tục hoạtđộng kinh doanh bình thường trong tương lai gần, nghĩa là doanh nghiệp không có
ý định cũng như không buộc phải ngừng hoạt động hoặc phải thu hẹp đáng kể quy
mô hoạt động của mình Doanh nghiệp hoạt động liên tục ảnh hưởng sâu sắc đến kỳtính giá thành của doanh nghiệp
Nguyên tắc giá gốc: Nguyên tắc này đòi hỏi tất cả các loại vật tư, hàng hóa,
chi phí… phải được ghi chép, phản ánh theo giá gốc của chúng Vận dụng nguyêntắc “giá gốc” trong việc ghi chép, phản ánh các loại tài sản theo trị giá vốn thực tếtại thời điểm khác nhau Trị giá vốn thực tế được xác định đúng đắn thì công tác tậphợp chi phí và tính giá thành sản phẩm sẽ trở nên chính xác
Nguyên tắc trọng yếu: Nguyên tắc này chú trọng đến các yếu tố, các khoản
mục chi phí mang tính trọng yếu quyết định bản chất, nội dung của các sự kiện kinh
tế, đồng thời cho phép bỏ qua không ghi chép các nghiệp vụ, sự kiện không quantrọng, không làm ảnh hưởng tới bản chất, nội dung nghiệp vụ kinh tế phát sinh
Nguyên tắc phù hợp: Theo nguyên tắc này, việc ghi nhận doanh thu và chi phí
phải phù hợp với nhau.Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận mộtkhoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó Các chi phítương ứng với doanh thu bao gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu, chi phí của các
kỳ trước và chi phí của các kỳ sau nhưng liên quan đến doanh thu đó Nói cáchkhác, nguyên tắc phù hợp đưa ra việc xác định phần chi phí tương ứng với doanhthu đã thực hiện
Nguyên tắc nhất quán: Nguyên tắc này đòi hỏi việc áp dụng, thực hiện các
khái niệm, nguyên tắc chuẩn mực và các phương pháp kế toán phải thống nhấttrong suốt các niên độ kế toán Thực hiện nguyên tắc kế toán sẽ đảm bảo cho số liệuthông tin của kế toán trung thực, khách quan và đảm bảo tính thống nhất, so sánhđược củ các chỉ tiêu giữa các kỳ với nhau, đặc biệt là chỉ tiêu chi phí và giá thànhtrong kỳ
Trang 13Những khái niệm, nguyên tắc kế toán là những chuẩn mực chung, kim chỉnam cho việc đánh giá ghi chép, phân loại, tổng hợp và báo cáo cung cấp thông tin
về hoạt động của các doanh nghiệp
1.2.2 Các cơ sở, giả định kế toán, các khuôn khổ pháp lý kế toán
1.2.2.1 Các cơ sở kế toán
1.2.2.1.1 Cơ sở dồn tích
Theo cơ sở dồn tích, mọi giao dịch kinh tế liên quan đến tài sản, nợ phải trả,nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu và chi phí được ghi nhận tại thời điểm phát sinhgiao dịch, không quan tâm đến thời điểm thực tế thu hoặc chi tiền
Cơ sở kế toán dồn tích được xem là một nguyên tắc chính yếu đối với việc xácđịnh lợi nhuận của doanh nghiệp Lợi nhuận theo cơ sở dồn tích là phần chênh lệchgiữa doanh thu và chi phí Hơn nữa, do không có sự trùng hợp giữa lượng tiền thuvào với doanh thu trong kỳ và tồn tại chênh lệch giữa chi phí ghi nhận và lượng tiềnchi ra trong một kỳ, kế toán theo cơ sở dồn tích cho phép theo dõi các giao dịch kéodài qua các kỳ khác nhau như nợ phải thu, nợ phải trả, khấu hao, dự phòng…
Kế toán theo cơ sở dồn tích đôi khi không tuân thủ theo yêu cầu khách quantrong kế toán Ghi nhận doanh thu và chi phí không dựa vào dòng tiền tương ứngthu vào hay chi ra mà dựa vào thời điểm giao dịch phát sinh Chẳng hạn, việc phân
bổ nhiều loại chi phí hay ghi nhận doanh thu theo tiến độ thực hiện trong hoạt độngxây lắp… thể hiện tính chủ quan của nhà kế toán
Cơ sở kế toán dồn tích thường được lựa chọn cho hầu hết các doanh nghiệp códoanh thu cao Việc áp dụng cơ sở kế toán dồn tích là thực sự cần thiết đối vớinhững doanh nghiệp phát sinh các hoạt động bán chịu, khi đó nó sẽ đảm bảo tínhphù hợp giữa doanh thu và chi phí phát sinh trong một kỳ kế toán nhất định
1.2.2.1.2 Cơ sở tiền
Kế toán theo cơ sở tiền chỉ cho phép ghi nhận các giao dịch khi các giao dịchnày phát sinh bằng tiền Thực chất kế toán theo cơ sở tiền là phương pháp kế toándựa trên cơ sở thực thu – thực chi tiền
Trang 14Kế toán theo cơ sở tiền có ưu điểm nổi bật là tính khách quan cao khi trình bàythông tin trong BCTC Tiền thu vào và chi ra là những hoạt động “ hữu hình”, sốtiền và ngày thu, chi tiền được xác định chính xác, cụ thể không phụ thuộc vào ýmuốn chủ quan của nhà quản lý Thu nhập có thể được ghi nhận vào năm tài chínhsau trong khi chi phí, giá vốn có thể đã được ghi nhận trước, tại thời điểm thanhtoán, do đó đảm bảo nguyên tắc Thận trọng trong kế toán.
Kế toán theo cơ sở tiền thường được áp dụng đối với những doanh nghiệp nhỏ
mà hoạt động chủ yếu dựa trên các luồng tiền ra vào, đặc biệt là các doanh nghiệpdịch vụ không liên quan đến hàng hóa tồn kho
Hiện nay ở Việt Nam cũng như ở các quốc gia khác trên thế giới chủ yếu ápdụng theo cơ sở kế toán dồn tích Cơ sở tiền chỉ được sử dụng cho các nghiệp vụ kếtoán đặc thù của mỗi quốc gia và chính phủ nước đó phải có quy định cụ thể cácloại giao dịch kinh doanh ghi sổ kế toán theo cơ sở tiền
1.2.2.2 Các khái niệm, giả định kế toán
Đơn vị kế toán:
Thông tin tài chính được phản ánh cho một đơn vị kế toán cụ thể Mỗi đơn vịkinh tế riêng biệt phải được phân biệt là một đơn vị kế toán độc lập, có bộ báo cáotài chính của riêng mình BCTC được lập chỉ phản ánh các thông tin tài chính vềtình hình tài chính của đơn vị kế toán đó Hay khái niệm đơn vị kế toán quy địnhgiới hạn về thông tin tài chính mà hệ thống kế toán cần phải thu thập và báo cáo
Kỳ kế toán:
Giả định này cho rằng chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp có thể chia thànhnhững khoảng thời gian xác định Hoạt động của doanh nghiệp là lâu dài, liên tục;
do vậy để kịp thời cung cấp các thông tin cần thiết cho việc quản lý doanh nghiệp,
kế toán phải chia hoạt động lâu dài của đơn vị thành nhiều kỳ có độ dài về thời gianbằng nhau, từ đó đánh giá doanh thu, chi phí và lãi (lỗ) của từng kỳ
Giả định này dựa trên giả thiết hoạt động của đơn vị sẽ ngưng lại vào một thờiđiểm nào đó để kế toán có thể lập báo cáo có tính chất tổng kết tình hình hoạt độngtrong thời gian qua và cung cấp các thông tin về kết quả đạt được lúc cuối kỳ
Trang 15Thông thường ở Việt Nam, kỳ kế toán chính được tính theo năm dương lịch từngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 12 của năm Trong từng năm có thể phânthành các kỳ tạm như: tháng, quý Thời gian để tính kỳ tạm thời là ngày đầu tiêncủa tháng, quý đến hết ngày cuối cùng của tháng, quý đó Trong những trường hợpđặc biệt, doanh nghiệp có thể tính theo 12 tháng tròn sau khi đã thông báo cho cơquan thuế và được phép thay đổi ngày kết thúc kỳ báo cáo năm
Đơn vị thước đo tiền tệ:
Thông tin do kế toán cung cấp phải được thể hiện bằng thước đo tiền tệ Kế toán lựa chọn và sử dụng một đơn vị tiền tệ làm thước đo Thông thường là đơn vịtiền tệ chính thức của quốc gia mà đơn vị kế toán đăng ký hoạt động Mọi nghiệp vụkinh tế phát sinh đều được tính toán và ghi chép bằng thước đo tiền tệ này
Đối với các đơn vị kinh tế Việt Nam, thông thương kế toán phải dùng đồngViệt Nam trong quá trình ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và phải đặt giảthiết là sức mua của đồng tiền có giá trị bền vững hoặc sự thay đổi về tính giá trịcủa tiền tệ ảnh hưởng không đáng kể đến tình trạng tài chính của đơn vị kinh tế
Giả định Hoạt động liên tục:
Kế toán phải đặt giả thiết là doanh nghiệp sẽ hoạt động liên tục trong một thờigian vô hoặc ít nhất là không bị giải thể trong tương lai gần
Giả định này được vận dụng trong việc định giá các loại tài sản đang sử dụngtrong doanh nghiệp Tức là giá trị tài sản hiện còn tính theo số tiền thực sự doanhnghiệp đã phải trả khi mua sắm, xây dựng trừ đi giá trị đã hao mòn chứ không phảigiá mua bán trên thị trường hiện tại Giả định về sự hoạt động liên tục còn là cơ sởcho các phương pháp tính khấu hao để phân chia giá phí của các loại tài sản cố địnhvào chi phí hoạt động của doanh nghiệp theo thời gian sử dụng của nó
Giả định hoạt động liên tục được thừa nhận như một nguyên tắc lập BCTC.Nghĩa là BCTC được lập trên cơ sở giả định doanh nghiệp hoạt động liên tục, vàkhông có ý định cũng không buộc phải ngừng hoạt động hoặc thu hẹp đáng kể quy
mô hoạt động của mình Khi doanh nghiệp không thể tiếp tục hoạt động được thì
Trang 16BCTC phải lập theo thể thức đặc biệt, trong đó tài sản được ghi nhận theo giá trịthực hiện thuần túy và các khoản nợ phải trả có thể được tái phân loại về kỳ hạn.
1.3 Tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp theo góc độ Kế toán tài chính
1.3.1 Phân loại, nhận diện chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
1.3.1.1 Phân loại, nhận diện chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại khác nhau.Phân loại CPSX là một yêu cầu tất yếu để hạch toán chính xác CPSX và tính giáthành sản phẩm Phân loại CPSX một cách khoa học và thống nhất không những có
ý nghĩa quan trọng đối với công tác kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm màcòn là tiền đề quan trọng để kiểm tra và phân tích CPSX của toàn bộ doanh nghiệp,thúc đẩy không ngừng việc sử dụng tiết kiệm CPSX, hạ giá thành sản phẩm
1.3.1.1.1 Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế
Theo cách phân loại này người ta sắp xếp các chi phí có cùng nội dung vàtính chất kinh tế vào một loại gọi là yếu tố chi phí, mà không phân biệt chi phí đóphát sinh ở đâu và có tác dụng như thế nào
Theo chế độ kế toán hiện hành tại Việt Nam khi quản lý và hạch toán chi phísản xuất các doanh nghiệp phải theo dõi được chi phí theo năm yếu tố sau:
- Chi phí nguyên liệu và vật liệu: bao gồm chi phí nguyên vật liệu chính, chi
phí nguyên vật liệu phụ, chi phí nhiên liệu, chi phí phụ tùng thay thế và chi phínguyên vật liệu khác
- Chi phí nhân công: gồm chi phí về tiền lương phải trả cho người lao động,
các khoản trích BHXH, BHYTBHTN, KPCĐ theo tiền lương của người lao động
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: bao gồm khấu hao của tất cả TSCĐ dùng
vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là số tiền phải trả cho các dịch vụ mua ngoài
phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh như chi phí về điện, nước…
Trang 17- Chi phí khác bằng tiền: Là các khoản chi phí bằng tiền phát sinh trong quá
trình sản xuất kinh doanh ngoài các yếu tố chi phí nói trên như tiền thuê chuyên gia
kĩ thuật, tiền nộp thuế tài nguyên, phí, lệ phí tiếp khách ở phân xưởng, đội thi công Cách phân loại này có tác dụng cho biết nội dung, kết cấu tỷ trọng từng loạichi phí mà doanh nghiệp đã sử dụng vào quá trình sản xuất trong tổng chi phí sảnxuất của doanh nghiệp Số liệu chi phí sản xuất theo yếu tố là cơ sở để xây dựng các
dự toán chi phí sản xuất, xác định nhu cầu về vốn của doanh nghiệp, xây dựng các
kế hoạch về lao động, vật tư, tài sản… trong doanh nghiệp Nó cũng là cơ sở đểphân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất, cung cấp số liệu để lập thuyếtminh BCTC, từ đó để tính vào tổng hợp thu nhập quốc dân…
1.3.1.1.2 Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng kinh tế
Mỗi yếu tố chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ đều có mục đích, công dụngnhất định đối với hoạt động sản xuất Theo cách phân loại này người ta căn cứ vàomục đích công dụng của chi phí trong sản xuất để chia ra các khoản mục chi phí sảnxuất khác nhau, mỗi khoản mục chỉ bao gồm các chi phí có cùng mục đích, côngdụng Vì vậy cách phân loại này cũn gọi là cách phân loại chi phí sản xuất theokhoản mục Toàn bộ chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ được chia thành:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: toàn bộ chi phí nguyên vật liệu được sử
dụng trực tiếp quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ dịch vụ
- Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm tiền lương và các khoản phải trả trực
tiếp cho công nhân sản xuất, các khoản trích theo tiền lương của công nhân sản xuấtnhư kinh phí công đoàn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp
- Chi phí sản xuất chung : là các khoản chi phí sản xuất liên quan đến việc
phục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, đội sản xuất Chi phísản xuất chung bao gồm các yếu tố chi phí sản xuất sau: Chi phí nhân viên phânxưởng, chi phí vật liệu, chi phí dụng cụ sản xuất, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phídịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền
Phân loại chi phí sản xuất theo cách này có tác dụng cho yêu cầu quản lý chiphí theo định mức, cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm, phân tích
Trang 18tình hình thực hiện giá thành, làm tài liệu tham khảo để lập định mức chi phí sảnxuất và lập kế hoạch giá thành cho kỳ sau.
1.3.1.2 Phân loại, nhận diện giá thành sản phẩm
1.3.1.2.1 Phân loại giá thành sản phẩm theo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành
Theo cách phân loại này, giá thành sản phẩm được chia thành 3 loại sau:
- Giá thành sản phẩm kế hoạch: Là giá thành sản phẩm được tính toán trên cơ
sở chi phí sản xuất kế hoạch và số lượng sản phẩm sản xuất kế hoạch Giá thành kếhoạch được tính toán trước khi bắt đầu quá trình sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp trong một thời kỳ
- Giá thành sản phẩm định mức: Là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở
các định mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho một đơn vị sản phẩm Giá thành sảnphẩm định mức được xác định trước khi bắt đầu quá trình sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp và có thể thay đổi khi có sự thay đổi các định mức chi phí sản xuất
- Giá thành sản phẩm thực tế: là giá thành sản phẩm được tính toán và xác
định trên cơ sở số liệu chi phí sản xuất thực tế đã sản xuất và tiêu thụ trong kỳ Giáthành thực tế chỉ có thể tính toán được khi kết thúc quá trình sản xuất, chế tạo sảnphẩm và được tính toán cho cả chỉ tiêu tổng giá thành và giá thành đơn vị
1.3.1.2.2 Phân loại giá thành căn cứ vào phạm vi các chi phí cấu thành.
Theo cách phân loại này, giá thành sản phẩm được chia thành:
- Giá thành sản xuất sản phẩm: bao gồm các chi phí liên quan đến quá trình
sản xuất chế tạo sản phẩm như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân côgtrực tiếp, chi phí sản xuất chung tính cho sản phẩm sản xuất đã hoàn thành Giáthành sản xuất sản phẩm được sử dụng để hạch toán thành phẩm, giá vốn hàng xuấtbán và mức lói gộp trong kỳ của doanh nghiệp
- Giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ: Bao gồm giá thành sản xuất tính cho số
sản phẩm tiêu thụ cộng với chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp phát sinhtrong kỳ tính cho số sản phẩm này Như vậy, giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ
Trang 19chỉ tính và xác định cho cho số sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất và đã tiêu thụ.
Phân loại giá thành sản phẩm theo phạm vi tính toán chi phí
Theo tiêu thức này thì giá thành sản phẩm được chia thành 3 loại sau:
- Giá thành sản xuất toàn bộ: là loại giá thành mà trong đó bao gồm toàn bộ biến
phí và định phí thuộc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp,chi phí sản xuất chung tính cho sản phẩm hoàn thành
- Giá thành sản xuất theo biến phí: là loại giá thành mà trong đó chỉ bao gồm
biến phí thuộc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phísản xuất chung (biến phí sản xuất) tính cho sản phẩm hoàn thành
- Giá thành sản xuất có phân bổ hợp lý định phí sản xuất: là loại giá thành trong
đó bao gồm toàn bộ biến phí sản xuất tính cho sản phẩm sản xuất hoàn thành và mộtphần định phí sản xuất được phân bổ trên cơ sở mức hoạt động thực tế so với mứchoạt động theo công suất thiết kế (mức hoạt động chuẩn)
1.3.2 Tổ chức kế toán chi phí sản xuất
1.3.2.1 Đối tượng, phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
1.3.2.1.1 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
Đối tượng kế toán tập hợp CPSX là phạm vi và giới hạn để tập hợp CPSXtheo các phạm vi và giới hạn đó Thực chất của việc xác định đối tượng tập hợpCPSX là xác định nơi gây ra chi phí hoặc đối tượng chịu chi phí
Các nhà quản trị doanh nghiệp cần biết được các chi phí đó phát sinh ở đâu,dùng vào việc sản xuất sản phẩm nào? Khi xác định đối tượng tập hợp chi phí sảnxuất, trước hết các nhà quản trị phải căn cứ vào đặc điểm, công dụng của chi phítrong sản xuất, sau đó phải căn cứ vào cơ cấu tổ chức kinh doanh, quy trình côngnghệ sản xuất, loại hình sản xuất sản phẩm, khả năng, trình độ của các nhà quản trịdoanh nghiệp, của cán bộ, nhân viên kế toán và yêu cầu quản lý chi phí, yêu cầutính giá thành của doanh nghiệp Chính vì vậy, chi phí sản xuất kinh doanh phátsinh trong kỳ phải được kế toán tập hợp theo phạm vi, giới hạn nhất định
Tuỳ thuộc vào đặc điểm, tình hình cụ thể của doanh nghiệp mà đối tượng tậphợp chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp có thể là:
Trang 20- Từng sản phẩm, chi tiết sản phẩm, từng loại, nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng.
- Từng phân xưởng, đội, trại, bộ phận sản xuất, từng giai đoạn công nghệ sản xuất
- Toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất, toàn doanh nghiệp
Xác định đối tượng tập hợp CPSX một cách khoa học, hợp lí là cơ sở để tổchức công tác ghi chép ban đầu, mở các sổ chi tiết chi phí theo từng đối tượnggiúp cho việc quản lí chi phí sản xuất và phục vụ việc tính giá thành sản phẩm
1.3.2.1.2 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
Phương pháp tập hợp CPSX là cách thức mà kế toán sử dụng để tập hợp, phânloại các khoản CPSX phát sinh trong một kỳ theo đối tượng tập hợp CPSX đã xácđịnh.Thông thường có hai phương pháp tập hợp chi phí:
- Phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp: để tập hợp các loại chi phí có liên quan
trực tiếp đến các đối tượng tập hợp chi phí đã xác định, tức là đối với các loại chiphí phát sinh liên quan trực tiếp đến từng đối tượng tập hợp chi phí cụ thể
- Phương pháp tập hợp và phân bổ gián tiếp: để tập hợp các chi phí gián tiếp,
đó là các chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí đã xácđịnh mà kế toán không thể tập hợp trực tiếp các chi phí này cho từng đối tượng đó Theo phương pháp này, để xác định chi phí cho từng đối tượng cụ thể phải lựachọn các tiêu chuẩn hợp lý và tiến hành phân bổ các chi phí đó cho từng đốitượngliên quan Việc phân bổ được tiến hành theo trình tự sau:
Bước 1: Xác định hệ số phân bổ:
Hệ số phân bổ =
Tổng chi phí cần phân bổ
= HTổng đại lượng tiêu chuẩn phân bổ
Bước 2: Xác định chi phí phân bổ cho từng đối tượng chịu chi phí:
Ci = Ti x H
Trong đó: H: hệ số phân bổ
Ti: tiêu chuẩn dùng để phân bổ cho từng đối tượng i
Trang 21Ci: chi phí phân bổ cho từng đối tượng i.Với phương pháp phân bổ gián tiếp, mức độ chính xác của CPSX tính cho từng đối tượng tập hợp CPSX phụ thuộc vào tính hợp lí của tiêu chuẩn phân bổ được sử dụng.
1.3.2.2 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất
1.3.2.2.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
CP NVLTT bao gồm các khoản chi phí về nguyên vật liệu chính, nửa thànhphẩm mua ngoài, vật liệu phụ sử dụng trực tiếp cho việc sản xuất chế tạo sản phẩmhoặc trực tiếp thực hiện các lao vụ dịch vụ
CP NVLTT thực tế trong kỳ được xác định theo công thức:
+
Trị giá NVLtrực tiếp xuấtdùng trongkỳ
_
Trị giáNVL trựctiếp còn lạicuối kỳ
_
Trị giá phếliệu thu hồi(nếu có)
Các chứng từ được sử dụng bao gồm: Phiếu nhập kho, phiếu xuất kho, biênbản kiểm nghiệm vật tư, biên bản giao nhận vật tư, bảng kê mua hàng…
Để kế toán chi phí NVL trực tiếp, kế toán sử dụng TK 621- Chi phí NVL trực tiếp TK này dùng để phản ánh chi phí NVL sử dụng trực tiếp cho hoạt động sảnxuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ TK này không có số dư cuối kỳ
1.3.2.2.2 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
CP NCTT là những khoản tiền phải trả cho lao động trực tiếp sản xuất sảnphẩmhoặc trực tiếp thực hiện các loại lao vụ, dịch vụ gồm: tiền lương chính, tiền lương
Trang 22phụ, các khoản phụ cấp, tiền trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí côngđoàn theo số tiền lương của công nhân sản xuất.
Chi phí về tiền lương (tiền công) được xác định cụ thể tuỳ thuộc hình thức tiềnlương sản phẩm hay lương thời gian mà doanh nghiệp áp dụng Số tiền lương phảitrả cho công nhân sản xuất cũng như các đối tượng lao động khác thể hiện trên bảngtính và thanh toán lương, được tổng hợp, phân bổ cho các đối tượng kế toán chi phísản xuất trên bảng phân bổ tiền lương Trên cơ sở đó các khoản trích theo lương(BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN ) tính vào chi phí nhân công trực tiếp được tínhtoán căn cứ vào số tiền lương công nhân sản xuất của từng đối tượng và tỷ lệ tríchquy định theo quy chế tài chính hiện hành của từng thời kỳ
Các chứng từ được sử dụng trong kế toán nhân công trực tiếp bao gồm: bảngchấm công; bảng tính lương; bảng thanh toán tiền lương
Để kế toán CP NCTT, kế toán sử dụng TK 622 - Chi phí nhân công trực tiếp.Tài khoản này dùng để phản ánh CP NCTT tham gia vào hoạt động sản xuất sảnphẩm
Phương pháp tập hợp :
Về nguyên tắc, CP NCTT cũng được tập hợp giống như đối với CP NVLTT.Trường hợp cần phân bổ gián tiếp thì tiêu thức phân bổ thường được lựa chọn là:Chi phí tiền công định mức (kế hoạch), giờ công định mức, giờ công thực tế, khốilượng sản phẩm sản xuất
1.3.2.2.3 Kế toán chi phí sản xuất chung
CP SXC là những khoản chi phí cần thiết khác phục vụ cho quá trình sản xuấtsản phẩm phát sinh ở các phân xưởng, bộ phận sản xuất Bao gồm:
- Chi phí nhân viên phân xưởng: phản ánh chi phí liên quan phải trả cho nhân
viên phân xưởng, như: chi phí tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấplương, các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn,bảo hiểm thất nghiệp tính cho nhân viên phân xưởng
Trang 23- Chi phí vật liệu: phản ánh chi phí vật liệu dùng chung cho phân xưởng, như
vật liệu dùng cho sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ thuộc phân xưởng quản lý, sửdụng, vật liệu dùng cho nhu cầu văn phòng phân xưởng
- Chi phí dụng cụ sản xuất: phản ánh chi phí về công cụ, dụng cụ sản xuất dùng
cho phân xưởng sản xuất như khuôn mẫu đúc, gá lắp, dụng cụ cầm tay
- Chi phí khấu hao TSCĐ: bao gồm khấu hao của tất cả TSCĐ sử dụng ở phân
xưởng sản xuất như khấu hao của máy móc thiết bị, khấu hao của nhàxưởng
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: phản ánh chi phí dịch vụ mua ngoài để phục vụ
cho các hoạt động của phân xưởng như chi phí sửa chữa TSCĐ, chi phí điện,nước
- Chi phí khác bằng tiền: phản ánh những chi phí bằng tiền ngoài những khoản
chi phí kể trên, phục vụ cho hoạt động của phân xưởng như chi phí tiếpkhách, hội nghị ở phân xưởng
CP SXC được tổ chức tập hợp theo từng phân xưởng, đội sản xuất Cuối kỳ,sau khi đã tập hợp được CP SXC theo từng phân xưởng, kế toán tính toán phân bổ
CP SXC cho từng đối tượng kế toán
Các chứng từ được sử dụng bao gồm: bảng phân bổ tiền lương và BHXHH;bảng phân bổ NVL và CCDC; bảng khấu hao TSCĐ; phiếu chi
Kế toán sử dụng TK 627 - Chi phí sản xuất chung
Tài khoản 627 được mở chi tiết như sau:
+ TK 6271: CP nhân viên phân xưởng + TK 6274: CP khấu hao TSCĐ
+ TK 6272: CP vật liệu + TK 6277: CP dịch vụ mua ngoài
Trang 24để tập hợp CP SXC cho từng phân xưởng, bộ phận sản xuất CP SXC phát sinh tạiphân xưởng nào thì kết chuyển vào giá thành sản phẩm của phân xưởng, bộ phậnsản xuất đó Trong trường hợp CPSXC có liên quan đến nhiều loại sản phẩm thìphải phân bổ cho từng sản phẩm có liên quan theo các tiêu chuẩn sau:
- Phân bổ theo CP NCTT
- Phân bổ theo CP NVLTT
- Phân bổ theo định mức, kế hoạch CP SXC
- Phân bổ theo chi phí nhân công và NVL trực tiếp
Lựa chọn tiêu thức nào tùy thuộc vào điều kiện cụ thể và yêu cầu quản lý chiphí của từng doanh nghiệp
1.3.2.2.4 Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp
Cuối kỳ kế toán, sau khi đã tập hợp CP NVLTT, CP NCTT và CP SXC theotừng đối tượng trên các TK 621, 622, 627, kế toán sẽ tiến hành kết chuyển, phân bổtừng loại chi phí này để tập hợp toàn bộ chi phí sản xuất cho từng đối tượng chịuchi phí, tiến hành kiểm kê và đánh giá sản phẩm làm dở cuối kỳ, thực hiện tính giáthành các loại sản phẩm, công việc, lao vụ do doanh nghiệp đã hoàn thành trong kỳ
- Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm theo phương pháp KKTX:
Theo phương pháp này, kế toán sử dụng TK 154- Chi phí sản xuất kinhdoanh dở dang TK này dùng để phản ánh tổng hợp chi phí sản xuất phục vụ choviệc tính giá thành sản phẩm
Trang 25Sơ đồ 1.1 Trình tự kế toán Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm theo
phương pháp kê khai thường xuyên
Trang 26Sơ đồ 1.2: Quy trình kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm:
Sơ đồ 1.3 Quy trình ghi sổ kế toán và báo cáo chi phí sản xuất giá thành:
Ghi chú: Ghi hàng ngày
Đồi chiếu kiểm traGhi định kỳ, cuối kỳ
Trang 27- Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm theo phương pháp KKĐK:
Theo phương pháp này, toàn bộ quá trình tổng hợp chi phí sản xuất cuốikỳ,tính giá thành sản phẩm được thực hiện trên TK 631- Giá thành sản xuất TK154-chi phí sản xuất kinh doanh dở dang chỉ sử dụng để phản ánh và theo dõi chiphí sảnxuất kinh doanh dở dang đầu kỳ và cuối kỳ TK 631 dùng để phản ánh tổnghợp chiphí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, dịch vụ trong trường hợp hạch toánhàngtồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ TK 631 không có số dư cuối kỳ
Sơ đồ 1.4 Trình tự kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
theo phương pháp kiểm kê định kỳ
Trang 281.3.3 Tổ chức kế toán tính giá thành sản phẩm
1.3.3.1 Đối tượng tính giá thành
Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm, công việc, lao vụ mà doanh nghiệp
đã sản xuất hoàn thành cần phải tính tổng giá thành và giá thành đơn vị
Xác định đối tượng tính giá thành là công việc đầu tiên trong toàn bộ côngviệc tính giá thành của sản phẩm của kế toán Để xác định đối tượng tính giáthànhhợp lý cần phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất sản phẩm, quy trìnhcông nghệ sản xuất sản phẩm, chu kỳ sản xuất và tính chất của sản phẩm, trình độquản lý của doanh nghiệp
Việc xác định đối tượng tính giá thành ở từng doanh nghiệp cụ thể cần phảicăn cứ vào các yếu tố sau:
- Đặc điểm tổ chức và cơ cấu sản xuất của doanh nghiệp
- Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất chế tạo sản phẩm
- Đặc điểm sử dụng thành phẩm, nửa thành phẩm
- Các yêu cầu quản lý, yêu cầu cung cấp thông tin cho việc ra quyết địnhtrong doanh nghiệp
- Khả năng và trình độ quản lý của doanh nghiệp
Đối tượng tính giá thành có thể sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành của quátrình sản xuất, hay là thành phẩm, bán thành phẩm ở từng giai đoạn công nghệ…
1.3.3.2 Mối quan hệ giữa đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành
Đối tượng tập hợp CPSX và đối tượng tính giá thành giống nhau ở bản chất,đều là những phạm vi, giới hạn nhất định để tập hợp CPSX Tuy vậy, giữa hai kháiniệm này vẫn có sự khác nhau nhất định
- Xác định đối tượng tập hợp CPSX là xác định phạm vi, giới hạn tập hợpCPSX phát sinh trong kỳ, để tổ chức kế toán chi tiết CPSX nhằm phục vụ cho việckiểm soát chi phí và cung cấp tài liệu cho việc tính giá thành sản xuất theo đốitượng tính giá thành
Trang 29- Xác định đối tượng tính giá thành là xác định phạm vi, giới hạn của chi phíliên quan đến kết quả sản xuất đã hoàn thành của quy trình sản xuất Đây là căn cứ
để mở phiếu tính giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ được sản xuất đã hoàn thành
- Trong thực tế có những trường hợp một đối tượng kế toán CPSX lại bao gồmnhiều đối tượng tính giá thành và ngược lại
Đối tượng tập hợp CPSX là căn cứ để mở các tài khoản, các sổ chi tiết, tổ chứcghi chép ban đầu, tập hợp số liệu CPSX chi tiết theo từng đối tượng, giúp doanhnghiệp tăng cường công tác kiểm tra, tiết kiệm chi phí Đối tượng tính giá thành làcăn cứ để lập bảng biểu chi tiết tính giá thành, lựa chọn phương pháp tính giá thànhhợp lý, phục vụ cho công việc kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch giá thành
1.3.3.3 Tổ chức kế toán tính giá thành
1.3.3.3.1 Tổ chức kế toán tính giá thành theo quá trình sản xuất
Phương pháp này được áp dụng đối với những doanh nghiệp sản xuất hàngloạt với khối lượng lớn, mặt hàng sản xuất ổn định, quy trình công nghệ sản xuấtsản phẩm có thể là quy trình công nghệ giản đơn hoặc là quy trình công nghệ phứctạp, hoặc quy trình sản xuất, chế tạo hỗn hợp
Đối với doanh nghiệp có quy trình sản xuất giản đơn:
- Phương pháp tính giá thành giản đơn:
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp có quy trình sảnxuất giản đơn, cuối quy trình công nghệ chỉ cho ra một loại sản phẩm hoàn thành.Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là toàn bộ quy trình công nghệ.Đối tượng tính giá thành là toàn bộ sản phẩm hoàn thành
Công thức:
Z = Ddk + C - Dck Trong đó : Ddk Dư đầu kỳ
C: Chi phí phát sinh trong kỳ
Dck Dư cuối kỳCăn cứ vào chi phí sản xuất đã tập hợp được cho toàn bộ quy trình công nghệ
và trị giá sản phẩm làm dở cuối kỳ đã xác định được để tính ra tổng giá thành và giáthành đơn vị sản phẩm theo công thức trên
Trang 30- Phương pháp tính giá thành theo tỷ lệ:
Được áp dụng thích hợp trong trường hợp từ một quy trình công nghệ sản xuấtmột loại sản phẩm chính nhưng có nhiều quy cách hoặc kích cỡ khác nhau
Đối tượng kế toán tập hợp CPSX là toàn bộ quy trình công nghệ Đốitượngtính giá thành là từng quy cách, kích cỡ sản phẩm hoàn thành
Căn cứ vào CPSX tập hợp được cho cả quy trình công nghệ, CPSX dở dangđầu kỳ và cuối kỳ để tính ra tổng giá thành của nhóm sản phẩm hoàn thành
Z nhóm SP = Dđk + C - Dck
Trong đó : Ddk: Dư đầu kỳ Dck: Dư cuối kỳ
C: Chi phí phát sinh trong kỳ Z: Giá thànhLựa chọn tiêu chuẩn phân bổ để phân bổ giá thành của cả nhóm sản phẩmcho từng quy cách, phẩm cấp của sản phẩm hoàn thành Với phương phápnày tiêu chuẩn phân bổ là giá thành kế hoạch hoặc giá thành định mức tínhtheo sản lượng thực tế.Công thức để tính giá thành của quy cách, phẩm cấpthứ i:
Trong đó Qi: Sản lượng thực tế nhóm sản phẩm quy cách i
Zi: Tổng giá thành thực tế của quy cách i
zi: Giá thành kế hoạch đơn vị của từng sản phẩm quy cách i
- Phương pháp tính giá thành theo hệ số:
Được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp có cùng một quy trình côngnghệ, cùng một loại NVL tiêu hao và thu được nhiều loại sản phẩm khác nhau Đốitượng tập hợp chi phí là toàn bộ quy trình công nghệ sản xuất
Để tính được giá thành cho từng loại sản phẩm ta căn cứ vào hệ số tính giáthành quy cho từng loại sản phẩm Sau đó, quy đổi sản lượng thực tế từng loại sảnphẩm theo hệ số tính giá thành để làm tiêu thức phân bổ
Tổng sản lượng quy đổi =
n
i 1 Sản lượng thực tế x Hệ số sản phẩm
Trang 31Hệ số phân bổ CPSX cho từng loại sản phẩm:
Số lượng sản phẩm quy đổi (i)
Hệ số phân bổ CPSX =
Tổng sản lượng quy đổi
Giá thành thực tế từng loại sản phẩm theo từng khoản mục:
Tổng giá thành
Sản phẩm (i) =
(SP DD đầu kỳ + CPSXTrong kỳ - SP DD cuối kỳ) x
Hệ số phân bổ chiphí sản phẩm (i)Đối với doanh nghiệp có quy trình sản xuất phức tạp:
- Phương pháp kết chuyển tuần tự chi phí:
Phương pháp này áp dụng thích hợp với những doanh nghiệp có quy trìnhcông nghệ phức tạp liên tục
Căn cứ vào CPSX đã tập hợp được ở từng giai đoạn lần lượt tính tổng giáthành và giá thành đơn vị nửa thành phẩm Ở từng giai đoạn, bắt đầu từ giai đoạnmột lần lượt kết chuyển sang giai đoạn sau để tính tổng giá thành và giá thành đơnvịnửa thành phẩm giai đoạn sau Cứ tuần tự như vậy cho đến giai đoạn cuối cùng thì
sẽ tính được tổng giá thành và giá thành đơn vị thành phẩm
Trang 32DĐKi : Chi phí dở dang đầu kỳ giai đoạn i
CTki : Chi phí phát sinh trong giai đoạn i
DCki : Chi phí dở dang cuối kỳ giai đoạn iNgoài các phương pháp tính giá thành nói trên, kế toán có thể áp dụng một sốphương pháp khác như sau:
- Phương pháp tính giá thành loại trừ chi phí sản xuất sản phẩm phụ
- Phương pháp tính giá thành theo hệ số
- Phương pháp kết chuyển chi phí song song
1.4 Tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp theo góc độ Kế toán quản trị
1.4.1 Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại khác nhau Đểthuận tiện cho công tác quản lý, hạch toán, kiểm tra chi phí cũng như phục vụ choviệc ra các quyết định kinh doanh , chi phí sản xuất kinh doanh cần phải được phânloại theo những tiêu thức phù hợp Ở góc độ Kế toán quản trị chú trọng đến cáccách phân loại sau:
1.4.1.1 Phân loại theo mỗi quan hệ của chi phí với các khoản mục trên Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành chi phí sảnphẩm và chi phí thời kỳ
- Chi phí sản phẩm: là những khoản chi phí gắn liền với quá trình sản xuất sản
phẩm hay quá trình mua hàng hóa để bán Đối với doanh nghiệp sản xuất, chiphí phí sản phẩm bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhâncông trực tiếp và chi phí sản xuất chung.Thực chất, chi phí sản phẩm trongdoanh nghiệp sản xuất là chi phí ở khâu sản xuất tính cho sản phẩm củadoanh nghiệp, đó là giá trị sản phẩm dở dang(khi sản phẩm chưa hoànthành ), là giá thành sản xuất của sản phẩm hoàn thành và là giá vốn hàngbán khi sản phẩm đã được bán
Trang 33- Chi phí thời kỳ: là các chi phí cho hoạt động kinh doanh trong kỳ, không tạo
nên giá trị hàng tồn kho-tài sản nên chúng không được ghi nhận trên bảngcân đối kế toán mà được tham gia xác định kết quả kết quả kinh doanh ngaytrong kỳ chúng phát sinh, có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận trong kỳ màchúng phát sinh Vì vậy chi phí thời kỳ được ghi nhận ở các chỉ tiêu trên Báocáo kết quả hoạt động kinh doanh Bao gồm chi phí bán hàng và chi phí quản
lý doanh nghiệp
1.4.1.2 Phân loại theo khả năng quy nạp chi phí vào các đối tượng kế toán chi phí
Theo cách phân loại này,chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành 2 loại :
- Chi phí trực tiếp: Là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng kế
toán tập hợp chi phí (như từng loại sản phẩm, công việc, đơn đặt hàng );chúng ta có thể được quy nạo cho từng đối tượng chịu chi phí Trong quản trịdoanh nghiệp nói chung và quản trị chi phí nói riêng, nếu loại chi phí nàychiếm đa số trong tổng chi phí thì sẽ thuận lợi cho việc kiểm soát chi phí và
dễ dàng trong việc xác định nguyện nhân gây ra chi phí
- Chi phí gián tiếp: Là các chi phí có liên quan đến nhiều dối tượng kế toán tập
hợp chi phí khác nhau nên không thể quy nạp trực tiếp cho từng đối tượngtập hợp chi phí được mà phải tập hợp theo từng nơi phát sinh chi phí khichúng phát sinh, sau đó quy nạp cho từng đối tượng theo phương pháp phân
bổ gián tiếp Khi thực hiện phân bổ chi phí cho từng đối tượng, doanh nghiệpcần phải lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ phù hợp Mức độ hợp lý của chi phíphân bổ cho từng đối tượng phụ thuộc vào tính hợp lý và khoa học của tiêuchuẩn phân bổ được lựa chọn
1.4.1.3 Phân loại theo mối quan hệ của chi phí với quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm và quá trình kinh doanh
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành 2 loại:
- Chi phí cơ bản: là các chi phí có liên quan trực tiếp đến quy trình công nghệ
sản xuất chế tạo sản phẩm như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí công
Trang 34cụ,dụng cụ sản xuất, chi phí khấu hao tài sản cố định dung trực tiếp vào sảnxuất sản phẩm
- Chi phí chung: là các chi phí liên quan đến phục vụ và quản lý sản xuất có
tính chất chung như chi phí quản lý ở các phân xưởng sản xuất, chi phí quản
lý doanh nghiệp
1.4.1.4 Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với mức độ hoạt động
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất kinh doanh được chia thành:
- Chi phí khả biến (Biến phí): là những chi phí thay đổi về tổng số khi có sự
thay đổi mức độ hoạt động của doanh nghiệp Mức độ hoạt động có thể là sốlượng sản phẩm sản xuất, số lượng sản phẩm tiêu thụ, số giờ máy hoạt động,doanh thu bán hàng thực hiện …
- Chi phí bất biến (Định phí): là những chi phí mà về tổng số không thay đổi
khi có sự thay đổi về mức độ hoạt động của đơn vị
- Chi phí hỗn hợp: là chi phí mà bẩn thân nó bao gồm cả định phí và biến phí
1.4.1.5 Phân loại chi phí theo thẩm quyền ra quyết định
Theo cách phân loại này, chi phí sản xuất kinh doanh bao:
- Chi phí kiểm soát được là chi phí mà các nhà quản trị ở một cấp quản lý nào
đó xác đinh được lượng phát sinh của nó, có thẩm quyền quyết định về sựphát sinh chi phí đó, cấp quản lý đó kiểm soát được những chi phí này
- Chi phí không kiểm soát được là những chi phí mà nhà quản trị ở một cấp
quản lý nào đó không thể dự đoán chính xác sự phát sinh của nó và không cóthẩm quyền đối với khoản chi phí đó
1.4.1.6 Phân loại chi phí được sử dụng trong lựa chọn phương án
Theo cách phân loại này, ta có các loại chi phí:
- Chi phí chênh lệch: là những khoản chi phí có ở phương án sản xuất này
nhưng không có hoặc chỉ có một phần ở phương án sản xuất khinh doanhkhác
Trang 35- Chi phí cơ hội: là lợi ích bị mất đi do chọn phương án kinh doanh này thay vì
chọn phương án kinh doanh khác
- Chi phí chìm: là những chi phí đã phát sinh, nó có trong tất cả các phương án
sản xuất kinh doanh được đưa ra xem xét, lựa chọn
1.4.2 Lập dự toán chi phí
1.4.2.1 Trình tự lập dự toán sản xuất kinh doanh
* Ý nghĩa tác dụng của dự toán sản xuất kinh doanh
Trong công tác quản trị doanh nghiệp, dự toán sản xuất kinh doanh có ý nghĩa tolớn thể hiện trên các mặt:
- Cung cấp cho các nhà quản lý doanh nghiệp toàn bộ thông tin về kế hoạchsản xuất kinh doanh trong tưng thời gian cụ thể và cả quá trình sản xuất kinhdoanh Giúp họ những dự định trong tương lai cần thực hiện giải pháp nào đểđạt được mục đích
- Là căn cứ đánh giá tình hình thực hiện các chỉ tiêu đã dự kiến.Từ đó thấyđược những mặt mạnh cần phát huy và những tồn tại để có giải pháp khắcphục, làm cơ sở cho việc ra các quyết định kinh doanh tối ưu
- Là căn cứ để khai thác khả năng tiềm tang về nguồn lực tài chính nhằm pháthuy nội lực và tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp
Dự toán sản xuất kinh doanh được lập cho cả năm và chia ra các quý, các tháng trong năm Song, để việc lập dự toán được chính xác và có tính khả thi thì cuối tháng cuối quý căn cứ vào tình hình thực hiện và các yếu tố ảnh hưởng của tháng, quý tiếp theo để lập dự toán
*Trình tự lập dự toán sản xuất kinh doanh
Lập dự toán sản xuất kinh doanh, trước hết phải xuất phát từ đơn vị cơ sở Các đơn
vị cơ sở căn cứ vào đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý cụ thể của mình, nghiêncứu tình hình thị trường và những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinhdoanh để lập dự toán về các chỉ tiêu quản lý, chuyển cho đơn vị cấp trên xem xét vàcho ý kiến phê chuẩn Các đơn vị cấp trên căn cứ vào các dự toán mà đơn vị cơ sởgửi lên để nghiên cứu tổng hợp, góp ý kiến, chuyển cho đơn vị cơ sở sửa chữa, bổ
Trang 36sung Sau khi sửa chữa, bổ sung hoàn chỉnh gửi lên đơn vị cấp trên phê chuẩn và trởthành dự toán chính thức.
Theo trình tự này, quá tình lập dự toán gắn liền với quản trị sản xuất kinh doanh của
cơ sở tạo điều kiện phát huy tính chủ động, sáng tạo của cơ sở và tính khả thi của dựtoán đã lập Mặt khác, nâng cao vai trò, trách nhiệm và tăng cường kiểm tra, kiểmsoát của đơn vị cấp trên
Sơ đồ 1.5: Trình tự lập dự toán sản xuất kinh doanh
Quản trị cấp trên
Quản trị cấp cơ sở
Ghi chú : (1)-Đơn vị cơ sở trình dự toán lần 1
(2)-Đơn vị cấp trên góp ý kiến và gửi trở ại cơ sở
(3)-Đơn vị cơ sở hoàn thiện dự toán gửi cấp trên phê duyệt
1.4.2.2 Xây dựng định mức chi phí sản xuất kinh doanh
1.4.2.2.1 Yêu cầu cơ bản xây dựng định mức và các hình thức định mức chi phí sản xuất kinh doanh
* Yêu cầu cơ bản xây dựng định mức chi phí
Xây dựng định mức cho phí là việc xác định số tiền tối thiểu để hoàn thành một đơn
vị sản phẩm, dịch vụ hoặc công việc Khi xây dựng các định mức chi phí cần phảiđảm bảo tôn trọng các yêu cầu cơ bản dưới đây:
- Dựa vào tài liệu lịch, căn cứ vào tính chất của sản phẩm dịch vụ để xem xéttình hình chi phí thực tế cả về hiện vật và giá trị liên quan đến đơn vị sảnphẩm, dịch vụ, công việc
- Phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản lý củađơn vị
- Đảm bảo tính khách quan, trung thực
Trang 37- Xem xét các yếu tố ảnh hưởng của thị trường và các yếu tố khác tác độngđến việc xây dựng định mức chi phí trong kỳ.
*Các hình thức định mức
- Định mức lý tưởng là định mức được xây dựng trong điều kiện sản xuất kinhdoanh tiên tiến, máy móc thiết bị, phương tiện làm việc hiện đại và trình độtay nghề của người lao động cao, quá trình sản xuất kinh doanh liên tục,không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khách quan và chủ quan làm ngừng sảnxuất như sự cố về điện, về quá trình cung cấp vật liệu và an toàn lao động
- Định mức thực tế là đinh mức được xây dựng phù hợp với điều kiện và khảnăng sản xuất kinh doanh bình thường của đơn vị, nó cũng mang tính tiêntiến nhưng ở mức thấp hơn nhằm khuyến khích sự phấn đấu của đơn vị đểđạt được định mức đã được phê duyệt Định mức thực tế là cơ sở để các nhàquản trị kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện các định mức, kinh tế, kỹ thuậtlàm căn cứ để lập dự toán chi phí
1.4.2.2.2 Xây dựng định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Đối với vật liệu chính, khi xác định định mức chi phí cần xem xét 2 yếu tố
+ Số lượng NVL tiêu hao cho 1 đơn vị sản phẩm
+ Đơn giá vốn thực tế của NVL đó
Trước hết, cần căn cứ vào loại sản phẩm để xác định số lượng NVL chính tiêu haocho 1 đơn vị sản phẩm sản xuất
Theo nguyên tắc chung, khi xác định số lượng NVL chính tiêu hao định mức chomột đơn vị sản phẩm phải căn cứ vào loại sản phẩm, khả năng thay thế nguyên vậtliệu, trình độ sử dụng NVL của công nhân hay máy móc thiết bị, số NVL hao hụtđinh mức (nếu có)
Khi xác định đơn giá NVL chính phải tính cho từng thứ NVL tiêu dung cho sảnxuất từng loại sản phẩm Căn cứ vào việc nghiên cứu giá thị trường, nguồn cung cấpNVL và một số điều kiện khác như giá cước phí vận chuyển, quãng đường vậnchuyển, phương tiện vận chuyển…để dự tính đơn giá mua thực tế và chi phí muacủa số vật liệu xuất dùng
Trang 38Sau khi xác định được đơn giá mua thực tế của NVL chính sử dụng công thức dướiđây để tính định mức chi phí NVL chính tiêu hao cho1 đơn vị sản phẩm:
Định mức chi phí NVL chính
tiêu hao cho 1 ĐVSP =
Số lượng NVLchính tiêu hao cho
1 ĐVSP
x
Đơn giá NVLchính tiêu hao cho
1 ĐVSPĐối với vật liệu phụ, căn cứ vào đặc tính của sản phẩm dịch vụ đó để có thể địnhmức theo một tỷ lệ phù hợp, sau đó dựa vào đơn giá của vật liệu phụ để định mứcchi phí vật liệu phụ theo công thức:
Định mức chi phí VLP
tiêu hao cho 1 ĐVSP =
Số lượng VLP tiêuhao cho 1 ĐVSP x
Đơn giá VLP tiêuhao cho 1 ĐVSPCuối cùng, tổng hợp định mức chi phí NVL chính và VLP trực tiếp sử dụng cho sảnxuất 1 ĐVSP sẽ có được định mức chi phí NVL trực tiếp tính cho 1 ĐVSP
1.4.2.2.3 Xây dựng định mức chi phí nhân công trực tiếp
Định mức chi phí nhân công trực tiếp phụ thuộc vào thời gian lao động trực tiếp cầnthiết để sản xuất 1 đơn vị sản phẩm và đơn giá của thời gian lao động đó(đơn giáthời gian lao động thường tính cho 1 giờ công lao động) Để đảm bảo tính trungbình tiên tiến của định mức thì cần phải căn cứ vào mức độ lành nghề trung bìnhcủa công nhân làm việc trong điểu kiện bình thường (có tính đến yếu tố nghỉ ngơicủa công nhân và bảo dưỡng máy móc thiết bị)
Về lý luận cũng như thực tế, định mức thời gian lao động trực tiếp được thực hiệnbằng một trong hai phương pháp sau đây:
+ Bấm giờ để xác định thời gian cần thiết hoàn thành một đơn vị sản phẩm + Chia công việc hoàn thành theo từng thao tác kỹ thuật, xác định thời gian củatừng thao tác kỹ thuật để hoàn thành sản phẩm và tổng hợp nhằm xác địnhthời gian hoàn thành 1 đơn vị sản phẩm
Sau khi định mức số lượng thời gian lao động của công nhân trực tiếp sảnxuất, tiến hành xây dựng đơn giá tiền lương của một đơn vị thời gian(thương tínhtheo giờ công) Đơn giá giờ công lao động của công nhân các định bao gồm tiền
Trang 39lương cơ bản, lương phụ, các khoản phụ cấp và các khoản trích theo tiền lương nhưBHXN, kinh phí công đoàn, BHYT…
Đơn giá tiền lương được xác định đối với lương sản phẩm trông DNSX và lươngtheo doanh thu bán hàng trong DN thương mại, dịch vụ Khi sử dụng phương phápbấm giờ để xác định thời gian cần thiết hoàn thành 1đơn vị sản phẩm và đơn giá giờcông lao động trực tiếp nhằm xác định mức chi phí nhân công trực tiếp cho 1 đơn vịsản phẩm người ta sử dụng công thức sau:
Định mức chi phí
NCTT cho 1 ĐVSP =
Định mức số lượngthời gian lao độngtrực tiếp cho 1 ĐVSP
X
Định mức đơn giá giờcông lao động trựctiếp cho 1 ĐVSP
1.4.2.2.4 Xây dựng định mức chi phí sản xuất chung
Các chi phí sản xuất chung gồm định phí và biến phí Do đó, khi định mức chi phísản xuất chung cũng có thể định mức theo từng loại chi phí, nhằm tạo điều kiệnthuận lợi cho việc đánh giá tình hình thực hiện các dự toán chi phí sau này
Trong quá trình định mức, cần lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ hợp lý để phân bổ địnhmức cho phí chung cho từng đối tượng chịu chi phí Tiêu chuẩn phân bổ hợp lý cóthể là khối lượng sản phẩm sản xuất, tổng số giờ công lao động trực tiếp, tổng giờmáy hoặc phân bổ theo chi phí trực tiếp
Phương pháp xác định mức biến phí và định mức phí thuộc chi phí chung đề giốngnhau và theo công thức:
1.4.2.3 Lập dự toán chi phí sản xuất kinh doanh
1.4.2.3.1 Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chiphí sản xuất và giá thành sản phẩm Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bị ảnh hưởngbởi số lượng nguyên vật liệu tiêu hao tính cho một đơn vị sản phẩm, đơn giá nguyênvật liệu xuất dùng cho sản xuất và khối lượng sản phẩm cần sản xuất Khối lượngsản phẩm cần sản xuất càng cao thì chi phí nguyên vật liệu càng cao và ngược lại
Trang 40Khi lập dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, ngoài việc chú ý đến các yếu tốảnh hưởng nói trên còn cần thiết phải xem xét đến lượng nguyên vật liệu mua vào,tồn kho đầu kỳ và cuối kỳ Để xác định dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, sửdụng công thức dưới đây:
Dự toán chi phí
NVL trực tiếp =
Sản lượng sản phẩmcần sản xuất trong
kỳ
x
Số lượng NVLtiêu hao cho 1ĐVSP
x
Đơn giáNVL xuấtdùngTrong đó, đơn giá NVL xuất dùng cho sản xuất có thể tính theo các phương phápkhác nhau như: Phương pháp đơn giá bình quân của vật liệu luân chuyển trong kỳ,phương pháp đích danh, phương pháp nhập trước xuất trước…
1.4.2.3.2 Dự toán chi phí nhân công trực tiếp
Dự toán chi phí nhân công trực tiếp là việc dự kiến tổng số lượng thời gian cần thiết
để hoàn thành khối lượng sản phẩm sản xuất và đơn giá thời gian lao động trực tiếp(đơn giá giờ công) Khi lập dự toán chi phí nhân công trực tiếp phải chú ý đến kếtcấu công nhân, trình độ thành thạo của từng loại công nhân và đơn giá giờ côngtừng loại Dự toán chi phí nhân công trực tiếp nhằm giúp cho các nhà quản lý doanhnghiệp có kế hoạch chủ động trong việ sử dụng và lao động trực tiếp làm cơ sở choviệc phân tích ảnh hưởng của chi phí nhân công đối với chi phí sản xuất và giáthành sản phẩm
Căn cứ để lập dự toán chi phí nhân công trực tiếp là khối lương sản phẩm cần sảnxuất, định mức thời gian sản xuất 1ĐVSP và đơn giá giờ công trực tiếp sản xuất
x
Đơn giágiờ côngtrực tiếpTrường hợp doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau, phải lập dự toánchi phí nhân công trực tiếp cho từng loại sản phẩm sau đó tổng hợp lại để tính dựtoán cho toàn doanh nghiệp