Nguồn gốc Thuốc y học cổ truyền gồm các loại có nguồn gốc tự nhiên gồm các loại thực vật, động vật, khoáng vật và chế phẩm hóa học. Nguồn gốc xuất hiện của thuốc: do kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh với bệnh tật của con người trong suốt chiều dài lịch sử của xã hội.Y học cổ truyền phát triển theo chiều dài lịch sử xã hội Thời thượng cổ:Con người phát hiện một số cách bảo vệ sức khỏe thông qua các tập quán, phong tục văn hóa, ẩm thực như ăn trầu, nhuộm răng với mục đích làm chắc răng, thơm miệng, ấm áp cơ mặt,…Dùng gừng, tỏi, ớt làm gia vị ăn hàng ngày giúp tiêu hóa tốt, phòng bệnh đường ruột; nấu rượu để uống làm thuốc;… Ngoài ra còn phát hiện một số vị thuốc như mộc hương, quế,…
Trang 2N i dung chính ội dung chính
Trang 3Ngu n g c ồn gốc ốc
• - Thuốc y học cổ truyền gồm các loại có nguồn gốc tự nhiên gồm các loại thực vật, động vật, khoáng vật và chế phẩm hóa học
• - Nguồn gốc xuất hiện của thuốc: do kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh với bệnh tật của con người trong suốt chiều dài lịch
sử của xã hội
Trang 5Ngu n g c ồn gốc ốc
• - Giai đoạn từ năm 179 trước Công nguyên đến năm 938 sau Công
nguyên:
thuốc của chúng ta đem về nước như ý dĩ, sắn dây, hoắc hương, sả,
…
nhiều phương thức và vị thuốc du nhập thêm vào nước ta.
• - Giai đoạn các triều đại phong kiến nước ta từ năm 938 đến khi
sách y học như Tuệ Tĩnh, Lê Hữu Trác, Hải Thượng Lãn Ông, …
thuốc Bắc của Trung Quốc.
Trang 6Ngu n g c ồn gốc ốc
• - Giai đoạn Pháp thuộc:
• Thực dân Pháp đưa Tây y vào nước ta, y học cổ truyền bị chèn
ép đè nén
• Nhiều hội y học cổ truyền được thành lập, cố gắng hoạt động
để gìn giữ vốn quý của cha ông
• - Giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến nay:
• Nhà nước chú trọng phát triển cả Y học cổ truyền và Y học
hiện đại, nhằm muc đích cuối cùng là chữa bệnh hiệu quả
• Y học cổ truyền vẫn được nghiên cứu, hoàn thiện và phát triển từng ngày
Trang 7Ngu n g c ồn gốc ốc
• - Thuốc có nguồn gốc tự nhiên:
• Thời nguyên thủy, nhờ sống gần gũi với thiên nhiên con người phát hiện ra có những loài thực vật, động vật hay khoáng vật
có khả năng điều chỉnh một sự rối loạn sức khỏe nào đó, từ đó mới đi đến dùng chúng với mục đích điều trị
• Sau đó, thực vật, động vật do tự nhiên cung cấp ngày càng cạn kiệt, đòi hỏi con người phải tiến hành gieo trồng, thu hái và chăn nuôi để tạo nguồn nguyên liệu
• Hiện nay, ở Việt Nam đã xác định được nhiều cây thuốc và đã
di thực được một số cây thuốc quý không có tại nước ta Một
số vị thuốc chưa di thực được thì phải nhập từ nước ngoài
Trang 8B ch th ạch thược ược c
(gi m đau, nhu n gan, d ng huy t) ảm đau, nhuận gan, dưỡng huyết) ận gan, dưỡng huyết) ưỡng huyết) ết)
Trang 9H i sâm ảm đau, nhuận gan, dưỡng huyết)
(b th n, tráng d ng, d ng huy t) ổ thận, tráng dương, dưỡng huyết) ận gan, dưỡng huyết) ương, dưỡng huyết) ưỡng huyết) ết)
Trang 10Lá m t g u (Lá đ ng) ận gan, dưỡng huyết) ấu (Lá đắng) ắng)
(ch a đái tháo đ ng, r i lo n lipid máu) ữa đái tháo đường, rối loạn lipid máu) ường, rối loạn lipid máu) ốc ạch thược
Trang 11M u l ẫu lệ ệ
(ch a ti u d t, ti u són, m hôi tr m) ữa đái tháo đường, rối loạn lipid máu) ểu dắt, tiểu són, mồ hôi trộm) ắng) ểu dắt, tiểu són, mồ hôi trộm) ồn gốc ội dung chính
Trang 12Ngu n g c ồn gốc ốc
• - Chế phẩm hóa học:
• Theo thời gian, nhu cầu đổi mới, cải thiện hiệu quả và cách
dùng đối với các bài thuốc y học cổ truyền được đưa ra, đòi hỏi người nghiên cứu dựa vào cơ chế tác dụng của Y học cổ truyền và đặc điểm thành phần hóa thực vật của các dược liệu
để đề ra các phương pháp chế biến và chiết xuất dược liệu
phù hợp vừa theo các học thuyết của Y học cổ truyền, vừa giữ được các hoạt chất có tác dụng quan trọng theo các nghiên cứu về dược lý của các dược liệu đó, đồng thời vận dụng
những công nghệ sản xuất hiện đại để đưa các bài thuốc thành các chế phẩm hóa học
Trang 13Kim ti n th o ền thảo ảm đau, nhuận gan, dưỡng huyết) (tr s i đ ng ti t ni u) ị sỏi đường tiết niệu) ỏi đường tiết niệu) ường, rối loạn lipid máu) ết) ệ
Trang 14Thu c ho ốc
Trang 15Thu hái
• Cần bảo đảm được sự tồn tại lâu dài của các quần thể hoang dã
và các môi trường sống của chúng.
• Cần xác định mật độ của loài sẽ thu hái trong quần thể, tại địa
điểm thu hái và không được thu hái những loài hiếm.
• Phải đảm bảo duy trì được số lượng khả quan các cây thuốc còn
lại trong quần thể để giúp sự tái sinh của các dược liệu nguồn
• Cần thu hái dược liệu trong thời vị hay khoảng thời gian thích
hợp để bảo đảm chất lượng tốt nhất có được của cả nguyên liệu
và thành phẩm Vì nồng độ định lượng của các hợp chất hoạt tính sinh học thay đổi tùy theo giai đoạn cây tăng trưởng và phát triển.
• Không được thu hái các cây thuốc ở trong hay gần những khu
vực đang có nồng độ thuốc trừ sâu cao hoặc những chất ô
nhiễm, độc hại khác.
Trang 16Nguyên t c quy đ nh th i kì ắng) ị sỏi đường tiết niệu) ờng, rối loạn lipid máu)
thu hái
• Rễ và thân rễ nên thu hoạch vào thời kỳ sinh dưỡng, thường là
vào thời kỳ thu đông Nhưng rễ bồ công anh nên hái vào giữa
mùa.
• Vỏ cây thường thu hoạch vào mùa đông, là thời kỳ nhựa cây hoạt
động mạnh.
• Lá và ngọn cây có hoa phải hái vào thời kỳ quang tổng hợp mạnh
nhất thường là thời kỳ cây bắt đầu ra hoa, không nên hái khi quả
và hạt đã chín.
• Hoa phải hái lúc trời nắng ráo, trước hoặc đúng vào thời kỳ hoa
thụ phấn (trừ một vài trường hợp như nụ hòe, nụ đinh hương)
• Quả thì cũng tùy loại, hái khi quả đã già như tiểu hồi, sà sàng, có
khi hái trước khi quả chín như quả mơ, hồ tiêu Cũng có trường hợp khi quả còn xanh thì hoạt chất nhiều Ví dụ: cây Conium
maniculatum L chứa alcaloid coniin.
Trang 17Thu hái
• - Nguyên tắc chung quy định thời kì thu hái cho từng bộ phận của cây:
• Rễ và thân rễ nên thu hoạch vào thời kỳ sinh dưỡng, thường là vào
thời kỳ thu đông Nhưng rễ bồ công anh nên hái vào giữa mùa.
• Vỏ cây thường thu hoạch vào mùa đông, là thời kỳ nhựa cây hoạt
động mạnh.
• Lá và ngọn cây có hoa phải hái vào thời kỳ quang tổng hợp mạnh nhất
thường là thời kỳ cây bắt đầu ra hoa, không nên hái khi quả và hạt đã chín.
• Hoa phải hái lúc trời nắng ráo, trước hoặc đúng vào thời kỳ hoa thụ
phấn (trừ một vài trường hợp như nụ hòe, nụ đinh hương)
• Quả thì cũng tùy loại, hái khi quả đã già như tiểu hồi, sà sàng, có khi
hái trước khi quả chín như quả mơ, hồ tiêu Cũng có trường hợp khi quả còn xanh thì hoạt chất nhiều Ví dụ: cây Conium maniculatum L chứa alcaloid coniin.
Trang 18B o qu n ảm đau, nhuận gan, dưỡng huyết) ảm đau, nhuận gan, dưỡng huyết)
• - Mục đích: giữ hình thức và phẩm chất của dược liệu để
không bị giảm sút (nếu bảo quản không tốt thì dược liệu dễ bị nhiễm nấm mốc, sâu mọt, biến đổi màu sắc mùi vị)
Trang 19M t s yêu c u khi b o qu n ội dung chính ốc ầu khi bảo quản ảm đau, nhuận gan, dưỡng huyết) ảm đau, nhuận gan, dưỡng huyết)
• Nếu dược liệu dễ hút ẩm thì phải đựng trong bao bì bằng nhựa
tổng hợp hoặc bằng sắt và dưới đáy có để chất hút ẩm.
• Nếu dược liệu cần sử dụng tươi thì phải giữ đông lạnh, trong
bình, lọ, hộp, cát hoặc bảo quản bằng enzim hay những biện pháp bảo quản khác.
• Tránh dùng chất bảo quản Nếu có, phải dùng theo đúng quy
định.
• Khi dược liệu bị nấm mốc thì phải xử lý như rửa, lau nước hoặc
lau cồn rồi phơi sấy lại, nếu nhiễm nặng thì loại bỏ.
• Xây dựng kho chứa đúng quy cách theo tiêu chuẩn: xây dựng
bằng các nguyên liệu chống cháy; phải mát, thoáng gió, khô ráo; giữa các giá phải có lối đi lại; các dược liệu phải được xếp đặt theo từng khu vực để dễ tìm, dễ kiểm soát; kho phải dễ điều chỉnh và khống chế nhiệt và hàm ẩm, …
Trang 20Bào ch đ n gi n ết) ơng, dưỡng huyết) ảm đau, nhuận gan, dưỡng huyết)
• - Điều hòa lại tính năng của các vị thuốc, làm hòa hoãn hoặc tăng công hiệu
• Một số vị thuốc dùng sống chín có tác dụng khác nhau nên khi bào chế hoặc chế biến một số vị thuốc có thể thay đổi tác dụng tạo ra các tác dụng mới ngoài tác dụng vốn có của nó như:
• Táo nhân, tâm sen để sống gây mất ngủ.
• Sài hồ có tác dụng thăng đề, sau khi chế biến với dấm có tác dụng giáng.
• Sống địa (sống) vị đắng,ngọt,tính mát có tác dụng thanh nhiệt,lương huyết,sau khi nấu chín với rượu tính hơi ấm tác dụng bổ âm bổ huyết.
• Tóc chỉ làm thuốc cầm máu sau khi đốt tồn tính.
• Tránh được mùi vị khó chịu,giúp cho việc chiết suất thuận lợi,nâng cao chất
lượng dược liệu,chất lượng thuốc và hiệu quả điều trị.
Trang 21Bào ch đ n gi n ết) ơng, dưỡng huyết) ảm đau, nhuận gan, dưỡng huyết)
• - Bỏ tạp chất làm cho sạch.
• Làm thuốc sạch và đảm bảo vệ sinh an toàn dược phẩm.
• Các tạp chất vô cơ và hữu cơ lẫn lộn trong dược liệu càn phải loại bỏ bao gồm : nấm,mốc,mọt,cát,sỏi,đất,xác thực vật chết v.v
• Các loại không phải là dược chất và những thành phần hóa học được đưa vào khi trồng trọt và bảo quản,bỏ bớt các bộ phận không cần thiết của dược liệu để vị thuốc tinh khiết hơn
• - Qua bào chế,giúp cho bảo quản dễ dàng,sử dụng thuận
lợi,dự trữ được thuốc vì thuốc thực vật sinh trưởng có mùa
Trang 22X lý d c li u tr c khi bào ch ử lý dược liệu trước khi bào chế ược ệ ước khi bào chế ết)
Trang 23R a s ch d ử lý dược liệu trước khi bào chế ạch thược ược ệ c li u
• - Rửa:
• Các dược liệu là củ, rễ, hột (củ, rễ phức tạp phải tách nhỏ
trước)…cần
• rửa sạch trước khi đưa ra bào chế.
• Chú ý: không nên ngâm lâu dược liệu vì vị thuốc mất hoạt
Trang 24Ch n l a d ọn lựa dược liệu ựa dược liệu ược ệ c li u
phù hợp với yêu cầu điều trị Loại bỏ bộ phận không cần thiết.
• Bỏ gốc, mắt: Ma hoàng dùng phát hãn thì dùng thân bỏ rễ, đốt.
• Bỏ rễ con,lông: Do chúng ít tác dụng, lại gây hại, làm nặng và mất
cảm quan của thang thuốc (Hoàng liên, Hương phụ, Xương bồ…)
• Bỏ hạch (hột): Nhằm nhẹ thang thuốc, loại bộ phận không có tác
dụng như Sơn tra, Sơn thù du…
• Bỏ màng, vỏ: Nếu chúng không có tác dụng như Sử quân tử, Hạnh
nhân, Đào nhân…
• Bỏ lõi ruột: Ví dụ: lõi Mạch môn, Thiên môn, Bách bộ gây chứng ”
phiền” cần phải bỏ.
• Bỏ chân, đầu: Nhằm loại phần không có tác dụng, hoặc gây độc hại
Ví dụ: Thiền thoái, Toàn yết cần bỏ chân, răng khi dùng làm thuốc tán, cóc cần bỏ đầu khi chế biến.
Trang 25Làm khô d ược ệ c li u
• - Mục đích: Loại bỏ nước đến độ ẩm qui định, giữ hàm ẩm của dược liệu càng thấp càng tốt, để giảm sự hư hỏng do nấm
mốc, vi khuẩn, …
• - Tùy theo loại dược liệu mà chọn cách làm khô thích hợp, ví
dụ như phơi gió, phơi nắng, sấy trực tiếp bằng lửa, nướng, sấy bằng tia hồng ngoại, …
Trang 26Các ph ương, dưỡng huyết) ng pháp bào ch ết)
Trang 27H a ch ỏi đường tiết niệu) ết)
• Dùng lửa trực tiếp hay gián tiếp hong, sấy, đốt làm khô ráo,
sém vàng, thành than.
• Nung: dùng nhiệt độ cao để đốt trực tiếp vị thuốc đó cho chảy
hoặc dễ tán thành bột, bỏ ngay vị thuốc vào lửa đỏ, hoặc nung trong nồi chịu lửa để làm tăng tác dụng hấp thu hoặc thu sấp Thường dùng cho các loại khoáng vật như mẫu lệ, từ thạch, …
• Bào: cho vị thuốc vào chảo sao trong chốc lát, đến khi sém vàng
xung quanh, nứt nẻ, làm giảm tính mãnh liệt của thuốc như Bào khương.
• Lùi: khi tro bếp đang nóng,đặt vị thuốc vào trong đó để lấy sức
nóng của tro làm thuốc chín Đem vị thuốc bọc giấy ướt hay cám
lùi vào tro nóng hoặc than đến khi giấy cháy, cám cháy là được
để thu hút một số hoạt chất có dầu, làm giảm bớt độc tính của thuốc như cam toại, cam thảo, gừng, mộc hương,
Trang 28H a ch ỏi đường tiết niệu) ết)
• Sao:là phương pháp dùng hơi nóng của lửa làm cho thuốc khô,
sém vàng hoặc cháy đen Mục đích làm thay đổi tính năng của thuốc theo ý muốn của người dùng Tuỳ mức độ nóng khác
nhau ta có sao vàng: Bạch truật, Hoài sơn; sao cháy: Quả dành dành; sao đen (thành than tồn tính vẫn giữ nguyên hình dạng chưa thành tro): Trắc bá diệp Thường sao vàng để kiện tỳ, sao đen để cầm máu
• Sấy: sấy thuốc trên than, trong lò sấy Sấy khô: Cúc hoa, Kim
ngân hoa; sấy vàng khô ròn như: Thuỷ điệt, Manh trùng
• Chích: dùng mật, đường và các thành phần khác tẩm dược liệu
xong đem sao cho đến khi thấy khô, thơm, không dính là được Mục đích lấy vị ngọt làm tăng tác dụng của vị thuốc Ví dụ: chích hoàng kỳ, chích cam thảo với mật để tăng tác dụng dinh dưỡng, nhuận phế, …
Trang 29• Ngâm:Dùng nước nguội hay nước sôi để ngâm Đào nhân
ngâm nước dễ bóc vỏ Nếu vị thuốc cứng phải ngâm lâu cho mềm dễ thái, giảm độc tính
• Tẩm: Ngâm cho mềm vị thuốc dễ bào nhỏ
• Thuỷ phi: Cho thêm nước vào nghiền chung với thuốc để tán nhỏ mịn và thuốc không bay ra như Hoạt thạch, Chu sa, Thanh đại
Trang 30H a th y h p ch ỏi đường tiết niệu) ủy chế ợc ết)
• Chưng: chưng cách thuỷ cho chín, hoặc chưng với rượu như thục địa để làm mất tính đắng lạnh của thuốc, thay đổi công hiệu
• Nấu: đem thuốc nấu với nước, nước sắc vị thuốc khác Nấu lấy tinh chất hoà tan rồi cô thành cao
• Tôi: đem vị thuốc nung đỏ tôi với nước, giấm làm cho tan rã và ngậm nước, thường dùng cho các loại khoáng vật
• Ngoài ra còn dùng giấm, rượu nước cơm, nước muối ăn mà chế chung với các cách tẩm, ngâm nước, nướng, sao, chưng
để đạt yêu cầu chữa bệnh: rượu đưa lên, gừng phát tán, muối vào thận, giấm vào can
Trang 31Tính năng d ược ận gan, dưỡng huyết) c v t
• - Tính năng dược vật là tác dụng dược lý của vị thuốc để điều chỉnh lại sự mất thăng bằng về âm dương trong cơ thể
• - Tính năng của vị thuốc gồm khí vị, thăng, giáng, phù, trầm và
bổ tả
Trang 32Khí vị sỏi đường tiết niệu)
• - Thuốc cổ truyền có bốn tứ tính (bốn khí), đó là hàn (lạnh), lương (mát), ôn (ấm), nhiệt (nóng)
• - Bốn loại tính chất này do sự phản ứng cơ thể khi dùng thuốc
mà nhận thấy Tứ khí chỉ mức độ lạnh và nóng khác nhau của
vị thuốc; đương nhiên tính hàn có mức độ lạnh hơn tính
lương; tương tự tính nhiệt có tính nóng hơn tính ôn
Trang 33Khí vị sỏi đường tiết niệu)
tiễn, chúng có thể được dùng để thanh nhiệt hỏa, giải độc, tính chất trầm giáng điều trị những bệnh thuộc chứng nhiệt, dương chứng, lương huyết( làm mát máu), giải độc, lợi tiểu, … thường được dùng
để chữa sốt, chữa chứng âm hư gây nóng trong cơ thể, hoặc chữa mụn nhọt, mẩn ngứa, dị ứng
sốt cao, hoàng liên cũng có tính hàn vì hoàng liên có tác dụng thanh tâm hỏa Trong khi đó mạch môn, kim tiền thảo, lạc tiên…lại có tính lương (tính mát) Mạch môn có tác dụng chữa bệnh ho do nhiệt,kim tiền thảo chữa bàng quang thấp nhiệt dẫn đến tiểu tiện vàng, đỏ, buốt, dắt, …
của cơ năng toàn bộ hay cục bộ, ức chế trung khu điều hòa nhiệt.
Trang 34Khí vị sỏi đường tiết niệu)
• - Những vị thuốc được gọi là thuốc có tính nhiệt hoặc tính ôn trên thực tế chúng được dùng để điều trị các bệnh thuộc
chứng hàn, có tác dụng giải cảm hàn, thông kinh, thông mạch hoạt huyết, giảm đau, hồi dương cứu thoát…
• Ví dụ: quế nhục, phụ tử, …có tính nhiệt vì chúng có tác dụng với các bệnh chứng hàn Trong khi đó mà hoàng, tía tô, kinh giới có tính ôn, vì bản thân chúng chữa các bệnh mang triệu chứng hàn, song mức độ hàn thấp hơn (cảm mạo phong hàn )
• Nói cách khác, nó có tác dụng hưng phấn đối với sự suy
nhược của cơ năng cục bộ hay toàn bộ như chức năng tuần hoàn tiêu hóa kém, suy nhược cơ thể,suy nhược hô hấp hoặc khác năng tạo huyết kém
Trang 35Ngũ vị sỏi đường tiết niệu)
• - Thông qua vị giác mà nhận thấy vị: cay, chua, đắng, ngọt,
mặn Ngoài ra còn có vị đạm không có vị rõ rệt Trên thực tế vị đạm, vị chát là những vị thứ yếu
• Vị cay (vị tân): Có tính chất phân tán, giải biểu, phát hãn, hành khí, hành huyết, giảm đau, khai khiếu Thường dùng vị cay
trong các bệnh cảm mạo hoặc các bệnh đầy bụng, trướng
bụng, đau bụng, dùng thuốc cay với tính chất khử hàn ôn
trung chi thống, chữa đau răng đau buốt cơ nhục Trên thực tế
có một ít vị thuốc thực chất nhấm không có vị cay, song do có tác dụng phát hàn nên cũng được coi như có vị cay như vị cát căn Về thành phần hóa học vị cay chủ yếu là vị của tinh dầu trong dược liệu, đôi khi là alkaloid
Trang 36Ngũ vị sỏi đường tiết niệu)
tác dụng nhuận tràng, làm cho cơ thể tỉnh táo và bồi bổ cơ thể Ví
dụ mật ong, cam thảo, di đường, cam gia…Về thành phần hóa học
vị ngọt chủ yếu do các loại đường Nhiều vị thuốc khi dùng với tác dụng bổ còn tiến hành chích với mật ong để tăng vị ngọt Ví dụ
hoàng kì, đảng sâm, cam thảo chích với mật ong để bổ tỳ, kiện vị.
thạch quyết minh, long cốt… Nhiều khi, khi dùng phải tẩm chích với muối ăn để tăng vị mặn như đỗ trọng, hương phụ, trạch tả, … Vị mặn có tác dụng nhuyễn kiên (làm mềm khối rắn), nhuộm hạ, tiêu đờm, tán kết Thường được sử dụng trong các bệnh loa lịch (bênh tràng nhạc), ung nhọt, bướu cổ Nói chung vị mặn có tác dụng dẫn thuốc vào kinh thận, tuy nhiên đối với từng loại bệnh cụ thể phải có cách chích muối sao cho phù hợp tránh các tác dụng phụ về sau.