1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu Luận Những vấn đề cơ bản nhất về Công nghiệp hóa Hiện đại hóa Nông nghiệp Nông thôn

82 129 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 365,5 KB
File đính kèm CNH HDH Nong nghiep nong thon.rar (54 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VÀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở XÃ Chuyên đề 1:NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA,HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔNI. Khái niệm và chủ trương, đường lối của của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn1. Khái niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thônCông nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn là quá trình xây dựng cơ sở vật chất, kĩ thuật và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo định hướng sản xuất hàng hóa lớn, hiện đại, gắn nông nghiệp với công nghiệp và dịch vụ, cho phép phát huy có hiệu quả cao mọi nguồn lực và lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới, mở rộng giao lưu trong nước và quốc tế nhằm nâng cao năng suất lao động xã hội trong nông nghiệp và nông thôn, xây dựng nông thôn mới giàu có, công bằng, dân chủ, văn minh và xã hội chủ nghĩa. Thực chất CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn là quá trình phát triển nông thôn theo hướng tiến bộ kinh tế xã hội của một nước công nghiệp. Điều đó có nghĩa là không chỉ phát triển công nghiệp nông thôn mà bao gồm cả việc phát triển toàn bộ các hoạt động, các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, và đời sống văn hóa, tinh thần ở nông thôn phù hợp với nền sản xuất công nghiệp ở nông thôn và cả nước nói chung. Như vậy, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là quá trình chuyển biến quy trình kĩ thuật sản xuất từ trình độ thủ công sang một nền sản xuất tiên tiến, hướng tới một nền sản xuất hàng hóa lớn, gắn kết vối công nghệ chế biến và thị

Trang 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VÀ TỔ CHỨC, HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ

1 Khái niệm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn làquá trình xây dựng cơ sở vật chất, kĩ thuật và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngnghiệp và nông thôn theo định hướng sản xuất hàng hóa lớn, hiện đại, gắn nôngnghiệp với công nghiệp và dịch vụ, cho phép phát huy có hiệu quả cao mọinguồn lực và lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới, mở rộng giao lưu trong nước

và quốc tế nhằm nâng cao năng suất lao động xã hội trong nông nghiệp và nôngthôn, xây dựng nông thôn mới giàu có, công bằng, dân chủ, văn minh và xã hộichủ nghĩa Thực chất CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn là quá trình pháttriển nông thôn theo hướng tiến bộ kinh tế - xã hội của một nước công nghiệp.Điều đó có nghĩa là không chỉ phát triển công nghiệp nông thôn mà bao gồm cảviệc phát triển toàn bộ các hoạt động, các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ, và đời sốngvăn hóa, tinh thần ở nông thôn phù hợp với nền sản xuất công nghiệp ở nôngthôn và cả nước nói chung

Như vậy, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn là quá trình chuyển biếnquy trình kĩ thuật sản xuất từ trình độ thủ công sang một nền sản xuất tiên tiến,hướng tới một nền sản xuất hàng hóa lớn, gắn kết vối công nghệ chế biến và thị

Trang 2

trường, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỉ trọng các ngành côngnghiệp, dịch vụ, giảm dần tỉ trọng ngành nông nghiệp.

2 Chủ trương, đường lối của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Trong từng thời kỳ phát triển, Đảng ta lại hoàn thiện những quan điểm xâydựng chủ nghĩa xã hội cho phù hợp với điều kiện thực tế và xu thế vận động củathời đại Trên cơ sở quan điểm phát triển chung, các ngành, các cấp vận dụngcho phù hợp với yêu cầu phát triển của ngành mình Trong quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn cần quán triệt các quan điểmsau:

- Coi trọng thực hiện CNH, HĐH trong nông nghiệp và xây dựng nôngthôn, đưa nông nghiệp và kinh tế nông thôn lên sản xuất lớn Đây là nhiệm vụquan trọng cả trước mắt và lâu dài, là cơ sở để ổn định tình hình kinh tế, chínhtrị xã hội, củng cố liên minh công nông với tầng lớp trí thức đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa

- CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn phải tạo ra một nền nông nghiệphàng hóa đa dạng trên cơ sở phát huy các lợi thế so sánh, đáp ứng nhu cầu trongnước và hướng mạnh về xuất khẩu

- CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn phải ưu tiên phát triển các ngànhcông nghiệp và dịch vụ ở nông thôn nhằm khai thác nguyên vật liệu tại chỗ, sửdụng nhiều lao động và yêu cầu ít vốn, chú trọng phát triển các cơ sở có quy môvừa và nhỏ kể cả quy mô hộ gia đình

- CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn phải đảm bảo cho công nghiệpnông thôn có trình độ công nghệ tiên tiến kết hợp với công nghệ truyền thống đểtạo ra sản phẩm có chất lượng cao đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường trongnước và quốc tế Phát huy lợi thế của từng vùng và cả nước, áp dụng nhanh cáctiến bộ khoa học và công nghệ để phát triển hàng hóa đa dạng, đáp ứng ngàycàng cao nhu cầu nông sản thực phẩm với nhiều thành phần kinh tế

Trang 3

- CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn phải gắn bó chặt chẽ với sự pháttriển kinh tế đô thị và các khu công nghiệp, trong đó cần khuyến khích phát triểncác ngành công nghiệp nhẹ, sử dụng nhiều lao động hiện đang tập trung ở đô thịvào phát triển ở nông thôn

- CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn phải dựa trên cơ sở sử dụng hợp lícác nguồn tài nguyên đất, nước, rừng; đảm bảo những yêu cầu về cải tạo môitrường sinh thái ở nông thôn

II Mục tiêu và giải pháp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

1 Mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Mục tiêu tổng quát của CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn là xây dựngmột nền nông nghiệp và kinh tế nông thôn có cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại, cơcấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ và phù hợp để tăng năng suất laođộng, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, nhanh chóng nâng cao thu nhập

và đời sống của dân cư nông thôn, đưa nông thôn nước ta tiến lên văn minh, hiệnđại

Nội dung cơ bản của CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn:

- Phát triển nền nông nghiệp hàng hóa đa dạng, xây dựng các vùng chuyêncanh sản xuất trên quy mô lớn và từng bước hiện đại hóa, đáp ứng yêu cầu củathị trường trong nước và xuất khẩu Trước mắt tập trung một số ngành chủ lựcnhư: cây lương thực (lúa, ngô), cây công nghiệp (cao su, cà phê, chè, mía, lạc),cây ăn quả, rau, hoa, chăn nuôi và nuôi trồng thủy, hải sản

- Thúc đẩy quá trình hiện đại hóa nông nghiệp và kinh tế nông thôn baogồm thủy lợi hóa, cơ giới hóa, điện khí hóa Phát triển giao thông nông thôn,phát triển thông tin liên lạc, phát triển giáo dục, văn hóa, y tế, khoa học côngnghệ và ứng dựng các thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ sản xuấtvào đời sống

Trang 4

- Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn như: côngnghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản; công nghiệp dệt may, giày dép, thủy tinh,sành sứ, cơ khí sửa chữa; các ngành nghề truyền thống tại các địa phương.

- Phát triển các loại hình dịch vụ sản xuất và đời sống ở nông thôn như:dịch vụ thủy nông, dịch vụ thú y, dịch vụ bảo vệ thực vật, dịch vụ cung ứng vật

tư và tiêu thụ sản phẩm

- Xây dựng nông thôn mới sạch về môi trường, giàu có, công bằng, dânchủ, văn minh

2 Giải pháp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

a) Hiện đại hóa nền nông nghiệp

- Gia tăng nhanh quá trình hiện đại hóa nền nông nghiệp phù hợp với điềukiện tự nhiên, sinh thái của từng vùng và từng loại sản phẩm Như vậy mới rútđược lao động ra khỏi khu vực nông nghiệp mà vẫn bảo đảm nông nghiệp đápứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu ngày càng gia tăng

- Xây dựng hợp lý cơ cấu sản xuất nông nghiệp

+ Điều chỉnh quy hoạch phù hợp và ổn định các vùng sản xuất lương thựcphù hợp với nhu cầu và khả năng tiêu thụ, tăng năng suất lao động đi đôi vớinâng cấp chất lượng Xây dựng các vùng sản xuất tập trung lúa hàng hóa; tậndụng điều kiện thích hợp trên các địa bàn khác để sản xuất lương thực có hiệuquả Có chính sách bảo đảm lợi ích của người sản xuất lương thực

+ Phát triển theo quy hoạch và chú trọng đầu tư thâm canh các cây côngnghiệp như cà phê, chè, dừa bông, mía, lạc , hình thành các vùng rau quả có giátrị cao gắn với phát triển các cơ sở bảo quản, chế biến

+ Phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả chăn nuôi gia súc, gia cầm,

áp dụng rộng rãi phương pháp chăn nuôi gắn với chế biến sản phẩm, tăng tỷtrọng ngành chăn nuôi trong nông nghiệp

Trang 5

+ Phát huy lợi thế của các ngành thủy sản, tạo thành một ngành kinh tếmũi nhọn Phát triển mạnh nuôi trồng thủy, hải sản theo phương thức tiến bộ vàbền vững môi trường; nâng cao năng lực và hiệu quả đánh bắt hải sản xa bờ.

+ Bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, nâng độ che phủ của rừng lên43% Hoàn thành việc giao đất, giao rừng ổn định và lâu dài, kết hợp lâm nghiệpvới nông nghiệp để định canh, định cư ổn định và cải thiện đời sống người dânmiền núi Đẩy mạnh trồng rừng kinh tế và ngăn chặn nạn đốt phá rừng, tạonguồn gỗ, nguyên liệu cho công nghiệp bột giấy, chế biến đồ gỗ gia dụng và mỹnghệ xuất khẩu

b) Phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn

- Phát triển các làng nghề truyền thống để khai thác các tiềm năng kinh tế

của các địa phương và phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nôngthôn theo hướng CNH, HĐH Thu hút đầu tư của mọi thành phần kinh tế vàophát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn với những chính sách ưu đãi như:đất đai, thuế, tín dụng

- Chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang các ngành nghề khác;từng bước tăng quỹ đất canh tác cho mỗi lao động nông nghiệp; mở rộng quy môsản xuất, tăng việc làm và thu nhập cho dân cư nông thôn

- Chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế nông thôn phải đặt trong điềukiện của kinh tế thị trường, tránh chủ quan duy ý chí; chú ý tới các yếu tốkhách quan như khả năng về vốn, tổ chức quản lý, công nghệ và điều kiện thịtrường

c) Giảm bớt tỷ trọng lao động làm nông nghiệp

Đây là một tiêu chí quan trọng nhất để thực hiện và đánh giá kết quả quátrình CNH, HĐH ở nông thôn Hiện nay, cơ cấu lao động nông nghiệp và nôngthôn đang chuyển dịch theo hướng tích cực Theo số liệu tại Văn kiện Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ XI, cơ cấu lao động trong nông nghiệp từ 57,1% (năm 2005)giảm xuống còn 48,2% (năm 2010) Như vậy, sự chuyển dịch cơ cấu lao động

Trang 6

trong những năm qua đã có một bước tiến đáng kể Với thực tiễn này, chươngtrình Chiến lược phát triển nông thôn bền vững ở Việt Nam đã đề ra mục tiêuđến năm 2015 tỷ trọng lao động nông nghiệp chiếm 40-41% lao động xã hội, đếnnăm 2020 còn khoảng 25-30% lao động xã hội Để đạt được những mục tiêu đó,phải có thêm nhiều việc làm phi nông nghiệp được tạo ra ngay tại khu vực nôngthôn và những đô thị vừa và nhỏ nằm rải rác trên khắp các vùng ngay sát với cáclàng xóm nông thôn còn xa các thành phố lớn.

d) Phát triển nông nghiệp và nông thôn nhìn theo giác độ vùng

- Đối với các vùng trung du miền núi:

Đặc điểm của các vùng trung du miền núi là đất đai nhiều (bình quân đầungười chiếm đất nông nghiệp, lâm nghiệp là 4.624m2, trong đó đất nông nghiệp là1.267m2) song chất lượng đất thấp, bạc màu, thoái hóa Hệ sinh thái ở các vùng nàythuận lợi cho phát triển các cây lương thực như: ngô, khoai, sắn, lạc đậu, chè, câyrừng (cả rừng cây nguyên liệu giấy, gỗ trụ mỏ, rừng phòng hộ đầu nguồn) Tuy đất

và lao động làm nông nghiệp khó khăn song việc chuyển đổi lao động sang làmviệc phi nông nghiệp, công nghiệp là có điều kiện tương đối thuận lợi, nếu có vốn

để phát triển nhiều loại chế biến nông sản, công nghiệp chế tác Ở các vùng trung

du miền núi có điều kiện phát triển kinh tế trang trại vì có thể tập trung ruộng đất,

có nhiều ngành nghề: trồng trọt, chăn nuôi Khó khăn lớn ở vùng miền núi là do đấtlàm lương thực ít, trồng các cây có giá trị kinh tế không nhiều, một bộ phận ducanh, du cư hoặc chưa ổn định sản xuất Vì vậy yêu cầu đặt ra phải tìm cách ổnđịnh sản xuất và phát triển kinh tế nông nghiệp hàng hóa, cùng với phát triển côngnghiệp chế biến đi kèm với các loại sản phẩm cây công nghiệp, cây ăn quả, phấnđầu nâng cao thu nhập của tất cả nông dân và xóa đói giảm nghèo ở những địa bàncòn khó khăn Việc phát triển hạ tầng vẫn phải đầu tư nhiều cho giao thông đường

xá, cấp nước, thủy lợi, lưới điện, viễn thông, cơ sở giáo dục, y tế, văn hóa Vấn đềcộng đồng người thiểu số chiếm tỉ lệ đáng kể ( 50%) với 42 dân tộc thiểu số khácnhau đặt ra yêu cầu về phát triển kinh tế để nâng mức sống, về thực hiện các chính

Trang 7

sách để nâng cao dân trí, đoàn kết dân tộc, giữ gìn và phát huy bản số văn hóa dântộc.

e) Đẩy mạnh ứng dựng khoa học công nghệ trong nông nghiệp và nông thôn

CNH, HĐH đất nước đòi hỏi phải trang bị kỹ thuật cho các ngành của nềnkinh tế theo hướng hiện đại Do đó phát triển kinh tế nông thôn trong điều kiệnCNH, HĐH cần phải đẩy mạnh ứng dụng của tiến bộ khoa học công nghệ vàosản xuất nông nghiệp Ngoài những việc về thủy lợi hóa, sử dụng giống mới đã

có phương thức, quy hoạch thực hiện tốt, trên nhiều lĩnh vực còn có chưa cóphương thức, cách làm có hiệu quả như cơ giới hóa, sinh học hóa, đưa tiến bộkhoa học công nghệ vào sản xuất rất cần có những mô hình được xây dựng từthực tiễn, thích hợp với từng địa bàn sinh thái và tính chất của từng hoạt độngsản xuất Cần đưa nhanh công nghệ mới vào sản xuất thu hoạch, bảo quản, chếbiến, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; ứng dụng công nghệ sạchtrong nuôi trồng và chế biến thực phẩm, hạn chế việc sử dụng hóa chất độc hạitrong nông nghiệp, tăng cường đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật viên bám sátđồng ruộng, huấn luyện về kỹ năng cho người nông dân

f) Xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp

Kinh tế hộ nông dân là hình thức kinh tế phổ biến ở nông thôn trong cáclàng nghề, trong hoạt động dịch vụ và sản xuất nông nghiệp Nhà nước cầnkhuyến khích tạo điều kiện thuận lợi để kinh tế hộ trang trại phát triển sản xuấthàng hóa với quy mô ngày càng lớn Bên cạnh đó, phát triển kinh tế tập thể vớinhiều hình thức hợp tác đa dạng mà nòng cốt là hợp tác xã dựa trên sở hữu củacác thành viên và sở hữu tập thể Đối với kinh tế tư nhân cần có chính sách hỗtrợ hướng dẫn tạo điều kiện cho thành phần kinh tế này phát triển vì đây là lựclượng quan trọng và năng động trong cơ chế thị trường, có khả năng về vốn, tổchức quản lý và kinh nghiệm sản xuất Thành phần kinh tế nhà nước đóng vai tròthen chốt trong nền kinh tế nông nghiệp nông thôn

h) Đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp và nông thôn

Trang 8

Nguồn nhân lực ở nông thôn có đặc điểm là trình độ học vấn thấp và phầnlớn không qua đào tạo Đây là một cản trở lớn trong quá trình CNH, HĐH nôngnghiệp và nông thôn Do vậy, việc đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp,nông thôn phải có chính sách giáo dục đào tạo riêng, không chỉ tính đến trình độđầu vào, ưu đãi về tài chính cho khu vực nông nghiệp mà còn phải tính đến nhucầu về số lượng, chất lượng, cơ cấu lao động được đào tạo trong hiện tại vàtương lai.

i) Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội ở nông thôn

Kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội ở nông thôn bao gồm: hệ thống đường xá,thông tin, thủy lợi, trạm biến thế, trạm giống, trường học, nhà văn hóa rất cầnthiết cho sự phát triển nông nghiệp và nông thôn Cần quy hoạch hợp lý và nângcao hiệu quả sử dụng đất, nguồn nước, vốn, rừng, gắn với bảo vệ môi trường.Quy hoạch các khu dân cư phát triển các thị trấn, thị tứ, các điểm văn hóa ởlàng, xã; nâng cao đời sống vật chất văn hóa tinh thần, xây dựng cuộc sống dânchủ, công bằng, văn minh ở nông thôn

III Phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam theo hướng bền vững

1 Khái niệm phát triển bền vững

Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự pháttriển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trongtương lai xa Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới nhiều quốc gia trênthế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, vănhóa riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó

Khái niệm “phát triển bền vững” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980

trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên

nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản:

“Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế màcòn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môitrường sinh thái học” Đến năm 1987, khái niệm phát triển bền vững chính thức

Trang 9

xuất hiện và được phổ biến rộng rãi trong Báo cáo “Tương lai của chúng ta” củaHội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển như là sự phát triển đáp ứngđược những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứngnhu cầu của các thế hệ mai sau Mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững làđạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳnggiữa các công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tựnhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hài hòa được ba mặt là phát triển kinh tế,phát triển xã hội và bảo vệ môi trường

Ở Việt Nam hiện nay, phát triển bền vững đã trở thành đường lối, quanđiểm và chính sách của Đảng và Nhà nước ta Theo Văn kiện Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ XI, khái niệm phát triển bền vững được hiểu là sự phát triểnđáp ứng được những yêu cầu của hiện tại nhưng không gây trở ngại cho việc đápứng nhu cầu của các thế hệ mai sau, và phải bảo đảm có sự kết hợp chặt chẽ, hợp

lý, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển: phát triển kinh tế, phát triển xã hội vàbảo vệ môi trường; coi trọng giữ vững ổn định chính trị - xã hội Tại Văn kiệnĐại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI cũng đề ra quan điểm về phát triển nôngnghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững

2 Chiến lược phát triển bền vững

* Chiến lược phát triển nông thôn bền vững:

Các ưu tiên cần được triển khai thực hiện trong 10 năm tới (2010-2020)trước mắt được xác định trong định hướng chiến lược phát triển nông thôn bềnvững ở Việt Nam bao gồm:

- Mục tiêu và cũng là động lực phát triển nông thôn bền vững là nâng caochất lượng cuộc sống của người dân, xét trên cả khía cạnh kinh tế, xã hội và môitrường Theo đó, nông dân phải là nhân vật trung tâm, người được hưởng lợitrước tiên từ những thành quả của quá trình phát triển

Trang 10

Nội dung của phát triển nông thôn bền vững bao gồm 4 quá trình: côngnghiệp hóa, hiện đại hóa; đô thị hóa; kiểm soát dân số; bảo vệ môi trường sinhthái.

Có thể nói về thực chất của công cuộc xây dựng và phát triển đất nướctrong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế là phát triển nông thôn bền vững với 4 quátrình đó

- Xét riêng quá trình phát triển nông nghiệp bền vững (bao gồm trồng trọt,chăn nuôi, trồng rừng, nuôi trồng, đánh bắt thủy, hải sản), yếu tố đầu tiên và cănbản là nông sản phải đảm bảo 4 yêu cầu:

+ Chất lượng sản phẩm phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của thị trường,trước hết là đảm bảo tiêu chuẩn quốc tế về vệ sinh an toàn thực phẩm Đồng thờisản phẩm nông nghiệp phải đa dạng, có hàm lượng công nghệ cao

+ Giá cả nông sản hợp lý, có sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu

+ Khối lượng nông sản phải có quy mô đủ lớn theo yêu cầu thị trường, cụthể là theo từng yêu cầu của nhà phân phối, nhất là của nhà nhập khẩu nông sản

và quy trình GAP (good agriculture practice), ISO.1.4000 và HCACCP; và ápdụng công nghệ cao trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất nông nghiệp, từchọn, tạo, sản xuất giống đến sản xuất và chế biến, bảo quản, tiêu thụ nông sản

Muốn vậy cần triển khai các mô hình sản xuất sau:

Các trang trại có quy mô lớn về diện tích đất chủ yếu tồn tại dưới hìnhthức trang trại gia đình hay trang trại cá nhân, trang trại hợp doanh có 1 cấp

Trang 11

quản trị phải trở thành lực lượng sản xuất nông sản hàng hóa chủ yếu kết hợpvới du lịch nông thôn trên các vùng nông nghiệp sinh thái.

Các Hợp tác xã (HTX) làm dịch vụ đầu vào - đầu ra cho các trang trại phảitrước hết và chủ yếu là của các chủ trang trại này, được thành lập và phát triển

do nhu cầu và khả năng quản lý của chính các chủ trang trại sản xuất hàng hóanông sản có quy mô lớn Đồng thời, việc điều hành hoạt động kinh tế của cácHTX phải do những nhà quản trị chuyên nghiệp (được đào tạo và trả công xứngđáng theo giá cả sức lao động trên thị trường) đảm trách

Sản xuất theo hợp đồng (Contrac farming) giữa các trang trại và doanhnghiệp chế biến, tiêu thụ nông sản trên thị trường trong và ngoài nước cũng nhưcác doanh nghiệp du lịch sinh thái, phải trở thành hình thức giao dịch buôn bánnông sản phổ biến và chủ yếu Doanh nghiệp kinh doanh chế biến, tiêu thụ nôngsản và du lịch nông thôn phải là lực lượng nòng cốt tổ chức lại nền nông nghiệphàng hóa của đất nước

Những mô hình sản xuất kể trên là yếu tố quan trọng để nâng cao năngsuất, chất lượng, hiệu quả của sản xuất nông nghiệp - cơ sở của sự phát triển bềnvững đối với một nước có mức bình quân diện tích/nhân khẩu thấp như nước ta

Muốn thực hiện được mô hình sản xuất nói trên, thể chế quản lý vĩ mô củanhà nước phải đảm bảo:

Tạo khung pháp lý cho thị trường đất nông nghiệp hoạt động lành mạnh đểquá trình tích tụ ruộng đất diễn ra thuận lợi, hình thành các trang trại quy môlớn

Đào tạo miễn phí cho con em nông dân, từ bậc tiểu học đến trung học cơ

sở và trung học cao đẳng nghề nông nghiệp, để tạo ra một đội ngũ chủ trang trại

“canh nông tri điền” và các kỹ thuật viên nông nghiệp trên tất cả các vùng nôngnghiệp sinh thái

Trang 12

Đầu tư cho hoạt động khuyến nông để nâng cao kỹ năng cho đội ngũ nôngdân hiện hữu theo nhu cầu của nông dân và thị trường nông sản, không phân biệtchủ thể (tổ chức) hoạt động khuyến nông.

Tài trợ 100% kinh phí cho các đề tài khoa học kỹ thuật và kinh tế - xã hộiphục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, không phân biệt chủ thể (tổ chức và

cá nhân) thực hiện các đề tài khoa học này

- Quá trình đô thị hóa, hiện đại hóa nông thôn phải theo mô hình nhiềutrung tâm trên các vùng sinh thái tự nhiên và nhân văn; mỗi trung tâm lại cónhiều “vệ tinh”, kết nối chặt chẽ với nhau về kinh tế - văn hóa, xã hội, lịch sử vàsinh thái Mô hình này cho phép tiến tới xóa bỏ sự cách biệt giữa thành thị vànông thôn xét về mức sống vật chất và tinh thần Điều khác biệt chỉ còn ở mật

độ dân số và các công trình xây dựng ở đô thị cao hơn nông thôn, còn môitrường sinh thái tự nhiên ở nông thôn tốt hơn thành thị; Nông thôn có cảnh quanthiên nhiên thỏa mãn nhu cầu du lịch nông thôn của dân cư thành thị

Muốn vậy, thể chế quản lý vi mô của Nhà nước cần:

Không được hy sinh lợi ích của bất kỳ nhóm dân cư nào trong quá trìnhphát triển nông thôn, nhất là trong việc xây dựng các khu công nghiệp - đô thịmới, phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp

Quy hoạch hệ thống các đô thị trung tâm và vệ tinh trên cả nước và ở mỗivùng kinh tế - sinh thái; có chính sách tài trợ, khuyến khích phát triển côngnghiệp, dịch vụ ở các đô thị vệ tinh, phục vụ trực tiếp cho nông nghiệp và sửdụng lực lượng lao động nông nghiệp dôi dư Nhà nước phải đứng ra tổ chứcthực hiện đền bù giải phóng mặt bằng để xây dựng khu công nghiệp - đô thị, kếtcấu hạ tầng, đấu thầu cho các doanh nghiệp tổ chức thực hiện quy hoạch (không

để các doanh nghiệp - chủ đầu tư trực tiếp thực hiện việc đền bù, giải phóng mặtbằng như hiện nay) Tiền lời thu được qua bán đấu giá phải ưu tiên chi cho việc

“an cư, lạc nghiệp” của người dân bị giải tỏa đất đai, nhà cửa, di dời đến chỗ ởmới với công ăn việc làm tốt hơn nơi ở cũ

Trang 13

Đào tạo nghề phi nông nghiệp miễn phí cho nông dân theo yêu cầu pháttriển công nghiệp, dịch vụ ở các đô thị, trước hết là cho các đô thị vệ tinh.

Miễn, giảm tiền thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất cho các cơ sở côngnghiệp, dịch vụ đóng tại nông thôn và các khu đô thị vệ tinh

Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật: giao thông (kể cả đường sông),

cơ sở giáo dục phổ thông và dạy nghề, chăm sóc sức khỏe con người, cung cấpnước sạch, khu nhà ở cho người thu nhập thấp ở các khu công nghiệp - đô thị vệtinh (Không dùng ngân sách Nhà nước để đầu tư mà chỉ tài trợ lãi suất hay chovay ưu đãi đối với việc xây dựng các cơ sở hạ tầng kỹ thuật để kinh doanh, như

hệ thống sản xuất, truyền tải điện, bưu chính - viễn thông, cầu, đường giao thông

có thể thu phí dưới hình thức BOT)

Để thực thi thành công chiến lược xây dựng nông thôn phát triển bềnvững, Chính phủ cần thành lập chương trình quốc gia về phát triển nông nghiệp,nông thôn bền vững do một Phó Thủ tướng trực tiếp điều hành; còn ở các tỉnh,Chủ tịch UBND tỉnh phải trực tiếp điều hành chương trình này

* Chiến lược phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệuquả, bền vững:

Khai thác lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới để phát triển sản xuấthàng hóa với năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao Tăngnhanh sản lượng và kim ngạch xuất khẩu nông sản, nâng cao thu nhập và đờisống nhân dân, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia Xây dựng môhình sản xuất kinh doanh phù hợp với từng loại cây, con Khuyến khích tậptrung ruộng đất; phát triển trang trại, doanh nghiệp nông nghiệp phù hợp về quy

mô và điều kiện của từng vùng Gắn kết chặt chẽ hài hòa lợi ích giữa người sảnxuất, người chế biến và người tiêu thụ, giữa việc áp dụng kỹ thuật và công nghệvới tổ chức sản xuất, giữa phát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới.Đổi mới cơ bản phương thức tổ chức kinh doanh nông sản, trước hết là kinhdoanh lúa gạo; bảo đảm phân phối lợi ích hợp lý trong từng công đoạn từ sản

Trang 14

xuất đến tiêu dùng Phát triển hệ thống kho chứa nông sản, góp phần điều tiếtcung cầu Tiếp tục đổi mới, xây dựng mô hình tổ chức để phát triển kinh tế hợptác phù hợp với cơ chế thị trường Kiểm soát chặt chẽ việc chuyển đất nôngnghiệp, nhất là đất trồng lúa sang sử dụng vào mục đích khác đi đôi với việc bảođảm lợi ích của người trồng lúa và địa phương trồng lúa Trên cơ sở quy hoạchvùng, bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mùa vụ và giống phù hợp với nhu cầu thịtrường và giảm thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh Phát triển các hình thức bảohiểm phù hợp trong nông nghiệp Đẩy nhanh áp dụng tiến bộ khoa học và côngnghệ hiện đại trong sản xuất, chế biến, bảo quản; ưu tiên ứng dụng trong côngnghệ sinh học để tạo nhiều giống cây trồng, vật nuôi và quy trình sản xuất đạtnăng suất, chất lượng và hiệu quả cao, tăng nhanh giá trị gia tăng trên một đơn

vị đất canh tác Hỗ trợ phát triển các khu nông nghiệp công nghệ cao Đẩy mạnhchăn nuôi theo phương thức công nghiệp, bán công nghiệp, bảo đảm chất lượng

và an toàn dịch bệnh

Phát triển lâm nghiệp bền vững Quy hoạch và có chính sách phát triểnphù hợp các loại rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng với chất lượngđược nâng cao Nhà nước đầu tư và có chính sách đồng bộ để quản lý và pháttriển rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, đồng thời bảo đảm cho người nhận khoánchăm sóc, bảo vệ rừng có cuộc sống ổn định Khai thác bền vững, có hiệu quảnguồn lợi thủy sản, phát triển đánh bắt xa bờ, gắn với bảo đảm quốc phòng, anninh và bảo vệ môi trường biển Phát triển nuôi trồng thủy sản theo quy hoạch,tập trung vào những sản phẩm có thế mạnh, có giá trị cao; xây dựng đồng bộ kếtcấu hạ tầng vùng nuôi; đẩy mạnh áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ vào sảnxuất và chế biến, nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh và đáp ứng yêucầu vệ sinh, an toàn thực phẩm Quy hoạch và phát triển có hiệu quả nghề muối,bảo đảm nhu cầu của đất nước và đời sống diêm dân

3 Chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng bền vững

Trang 15

a) Cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp và phát triển nông - lâm - ngư nghiệp toàn diện theo hướng CNH, HĐH gắn với giải quyết tốt vấn đề nông dân, nông thôn

- Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bềnvững phải chú ý những nội dung sau:

+ Xây dựng chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn theo hướngcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, đa dạng ngành nghề và chuyển đổi cơ cấu kinh tế

ở nông thôn

+ Xây dựng chương trình đưa nhanh tiến bộ khoa học và kỹ thuật vàonông nghiệp (nhất là chương trình giống) Xây dựng và mở rộng mô hình sảnxuất hàng hoá vùng núi khó khăn

+ Điều chỉnh, bổ sung cập nhật quy hoạch phát triển nông, lâm, ngưnghiệp trong từng vùng kinh tế và liên vùng theo hướng phát triển bền vững gắnsản xuất với thị trường, gắn vùng nguyên liệu với công nghiệp chế biến

+ Xây dựng đề án chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và nông thôn theohướng công nghiệp hóa, phát huy thế mạnh của từng vùng; phát triển sản xuấtnông sản hàng hoá có chất lượng và hiệu quả, gắn sản xuất với thị trường trongnước và thị trường quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên (đất đai,lao động và nguồn vốn), nâng cao thu nhập trên một đơn vị ha đất canh tác, trên

01 ngày công lao động; cải thiện đời sống của nông dân

- Phát triển lâm nghiệp toàn diện, bền vững, trong đó chú trọng cả rừngsản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng; tăng diện tích trồng rừng và độ chephủ rừng trên cơ sở khuyến khích các thành phần kinh tế cùng tham gia đầu tư

Có cơ chế, chính sách hỗ trợ để người dân có thể sinh sống, làm giàu từ việctrồng, chăm sóc và bảo vệ rừng

- Phát triển mạnh nuôi trồng thủy sản đa dạng theo quy hoạch, phát huy lợithế từng vùng gắn với thị trường Xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng, cơ sở dịch

vụ phục vụ nuôi trồng, đánh bắt, chế biến, xuất khẩu thủy, hải sản

Trang 16

b) Xây dựng đề án sử dụng hợp lý tài nguyên nông nghiệp và nông thôn

- Xây dựng và thực hiện chương trình nâng cao năng suất sử dụng đất, sửdụng hợp lý nguồn tài nguyên nước; áp dụng hệ thống sản xuất nông lâm kếthợp; nông lâm ngư kết hợp, phù hợp với điều kiện sinh thái của từng vùng, nhằm

sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn tài nguyên đất, nước, khí hậu

- Xây dựng chương trình đưa nhanh tiến bộ khoa học và kỹ thuật vào nôngnghiệp nhất là công nghệ sinh học; thực hiện chương trình cải tạo các giống cây,giống con

c) Xây dựng và thực hiện chương trình phát triển thị trường nông thôn, tăng khả năng tiêu thụ nông sản kết hợp với việc phát triển nguồn nhân lực phục

vụ phát triển sản xuất

- Thúc đẩy và phát triển mối liên kết giữa các chủ thể trong các kênh sảnxuất và lưu thông sản phẩm, tạo mới và ổn định các kênh thị trường nhằm tối đahóa lợi ích của các thành phần tham gia

- Xây dựng đề án phát triển đa dạng ngành nghề và dịch vụ ở nông thôn;đào tạo nghề cho lao động nông thôn, tạo việc làm phi nông nghiệp, tăng thờigian lao động và cơ cấu lại nguồn lao động ở nông thôn

d) Xây dựng nông thôn mới

Quy hoạch phát triển nông thôn, phát triển đô thị và bố trí các điểm dân

cư Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ và làng nghề gắn với bảo vệ môitrường Triển khai xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùngtheo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn; giữ gìn và phát huytruyền thống văn hóa tốt đẹp của nông thôn Việt Nam Triển khai có hiệu quảchương trình đào tạo nghề cho 1 triệu lao động nông thôn mỗi năm Thực hiệntốt các chương trình hỗ trợ nhà ở cho người nghèo và các đối tượng chính sách,chương trình nhà ở cho đồng bào vùng bão, lũ Phấn đấu giá trị gia tăng nôngnghiệp bình quân 5 năm đạt 2,6-3%/ năm Tỷ trọng lao động nông nghiệp đến

Trang 17

năm 2015 chiếm 40-41% lao động xã hội Thu nhập của người dân nông thôntăng 1,8-2 lần so với năm 2010.

CÂU HỎI THẢO LUẬN

Câu hỏi 1: Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa dẫn đến nguy cơ maimột những nét đẹp văn hóa, truyền thống của nông thôn Vậy các anh, chị cósáng kiến gì để giữ gìn bản sắc văn hóa của các vùng nông thôn?

Câu hỏi 2: Vấn đề xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, tại sao người dântộc lại thắc mắc nhiều?

Câu hỏi 3: Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nôngthôn đã đem lại rất nhiều thành tựu Vậy theo các đồng chí, thành tựu nào làquan trọng nhất, vì sao?

TÀI LIỆU THAM KHẢO

- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI

- Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 5 khóa IX về đẩy nhanh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn thời kỳ 2001- 2010

- Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5 tháng 8 của Ban chấp hành Trungương khóa X về nông nghiệp, nông thôn, nông dân

- Quyết định số 491/2009/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủtướng Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới

- Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21 tháng 8 năm 2009 của BộNông nghiệp & Phát triển nông thôn hướng dẫn thi hành Bộ tiêu chí quốc gia vềnông thôn mới

- Quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 4 tháng 6năm 2010 về Phê duyệt chương trình, mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thônmới giai đoạn 2010 - 2020

Trang 18

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ tài liệu về tập huấn xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020, 2008.

Chuyên đề 2:

TỔNG QUAN HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở XÃ

I Hệ thống chính trị ở xã trong thời kỳ đổi mới

1 Khái niệm và đặc điểm hệ thống chính trị ở xã

Trang 19

(Theo Từ điển Luật học của Viện pháp lý - Bộ tư pháp do Nhà xuất bản Tư pháp và Nhà xuất bản Từ điển bách khoa phối hợp ban hành).

Cấu trúc của hệ thống chính trị không chỉ là hệ thống các tổ chức và cácquan hệ về tổ chức mà còn là hệ thống các cấp độ và các quan hệ về cấp độ nhìntheo hai chiều vận động từ dưới lên và từ trên xuống

Có các cấp độ của từng tổ chức (Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể)quy định vị trí, vai trò, chức trách, thẩm quyền của các cấp, của cấp trên với cấpdưới trong phạm vi một tổ chức với sự tác động của bộ máy tương ứng với từngcấp Hệ thống chính trị được cấu thành bởi các tổ chức nêu trên cũng có các cấp độnày, biểu hiện thành quan hệ tác động qua lại giữa Trung ương với địa phương và

cơ sở

Giữa các tổ chức lại hình thành quan hệ tác động lẫn nhau trong hệ thống vàtrong từng cấp độ Cụ thể, ở cấp trung ương là quan hệ giữa Đảng với Nhà nước,Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể Ở cấp tỉnh là quan hệ giữa Đảng bộtỉnh với chính quyền tỉnh, Mặt trận với các đoàn thể cấp tỉnh Ở cấp cơ sở xã,phường, thị trấn là quan hệ giữa Đảng bộ xã với chính quyền và Mặt trận cùng cácđoàn thể trong xã

Ở đây ta đang xem xét khái niệm cơ sở và hệ thống chính trị ở cơ sở trênquan điểm xã hội học chính trị và quản lý xã hội Đây là những khái niệm xuấtphát, những khái niệm công cụ để nghiên cứu và đề xuất những giải pháp cải cách

hệ thống chính trị, đặc biệt là hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiệnnay Cơ sở được lấy làm đối tượng nghiên cứu ở đây không phải là một đơn vị cơ

sở bất kỳ (gia đình, cơ quan, công sở, trường học, bệnh viện, doanh nghiệp hayviện nghiên cứu…) mà là cơ sở với tư cách là một cấp quản lý nhà nước trong hệthống quản lý hành chính nhà nước bốn cấp hiện hành Cơ sở đó chính là xã -phường - thị trấn, là cấp cơ sở của quản lý nhà nước Phường, thị trấn là cấp cơ sở

ở đô thị, được đặc trưng bởi quản lý đô thị Xã là cấp cơ sở ở khu vực nông thôn,đây là cả một địa bàn rộng lớn, chiếm đa số trong tổng số đơn vị cơ sở nước ta Vì

Trang 20

thế, nói tới hệ thống chính trị ở xã chính là nói tới hệ thống chính trị ở cơ sở nôngthôn nước ta hiện nay.

Như vậy, hệ thống chính trị ở xã (cơ sở ở nông thôn) cũng bao gồm 3 bộphận cấu thành: Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân ở xã Mỗi

bộ phận tồn tại với vai trò, chức năng riêng và có quan hệ mật thiết với nhau, tạothành hệ thống, quản lý và điều hành mọi hoạt động ở xã về các lĩnh vực của đờisống

và các đoàn thể, các tổ chức quần chúng cấu thành thống chính trị ở xã, các phươngthức tổ chức, hoạt động cùng các mối quan hệ giữa chúng Nhận thức về xã chúng

ta nhấn mạnh tới mấy điểm dưới đây:

- Xã là nơi chính quyền trong lòng dân như Đảng ta đã xác định Xã là cấpthấp nhất trong các cấp độ quản lý của hệ thống chính quyền nhà nước nhưng lại lànền tảng của chế độ chính trị và đời sống xã hội

- Xã là nơi diễn ra cuộc sống của dân, nơi chính quyền và các đoàn thể tổchức cuộc sống, hoạt động và các phong trào của cộng đồng dân cư để nhân dânthực hiện quyền làm chủ, thực hành dân chủ của chính mình Nếu dân chủ là dânlàm chủ như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói, thì xã là nơi thể hiện rõ nhất và trực tiếpnhất ý thức và năng lực dân chủ của dân bằng cả phương thức dân chủ đại diện vàdân chủ trực tiếp Chế độ ủy quyền và những phương tiện, những điều kiện nhằmthực hiện và đảm bảo cho sự ủy quyền đó phải được bắt đầu từ xã mà nhân dân làchủ thể Bao nhiêu quyền hành đều là của dân, bao nhiêu lợi ích cũng thuộc về dân.Quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân Dân có quyền làm chủ, đồng thời có nghĩa

vụ của người chủ Do ở xã là nơi làm việc và sinh hoạt hàng ngày của dân chúng, là

Trang 21

nơi thể chế được dân trực tiếp tổ chức nên và dân thường xuyên tiếp xúc, đề đạtnguyện vọng, yêu cầu của mình với những người đại diện cho mình, đồng thời dâncũng có điều kiện biết rõ sự hoạt động của thể chế, của con người và tổ chức bộmáy, mặt hay cũng như mặt dở, mặt tốt cũng như mặt xấu với những khuyết tật củanó… nên quan hệ và thái độ của dân đối với thể chế ở xã cho thấy rõ nhất hiệntrạng của thể chế nói chung Động lực, nội lực của sự phát triển hay vật cản kìmhãm, sự trì trệ và suy thoái được nhận thấy rõ nhất ở ngay xã Những yếu kém diễn

ra trong thể chế ở xã làm thương tổn đến uy tín và ảnh hưởng xã hội của thể chế nóichung Những phản ứng, bất bình của dân đối với cán bộ xã là khởi đầu cho nhữngmất ổn định, thậm chí trở thành tình huống, thành điểm nóng gây hại tới sự bìnhyên của chế độ nói chung Do vậy, mấu chốt của xã là chất lượng cán bộ, là hiệuquả hoạt động của hệ thống chính trị sao cho giữ được dân, làm cho dân yên ổn,phấn khởi làm ăn, sinh sống, liên kết cộng đồng, quan tâm và bảo vệ thể chế, pháttriển xã hội, phát triển sức dân

- Xã là tầng sâu nhất mà sự vận hành của thể chế từ vĩ mô phải tác động tới

Xã là địa chỉ quan trọng cuối cùng mà mọi quyết định, mọi chủ trương, đường lối,chính sách, pháp luật của Đảng và nhà nước phải tìm đến Đường lối, nghị quyết có

đi vào cuộc sống thực sự hay không, dân có được tổ chức hành động trong phongtrào rộng khắp để biến khả năng thành hiện thực hay không; đường lối, chính sách

có tác dụng, hiệu quả đến đâu, đúng sai ra sao được chứng thực bởi cuộc sống, tâmtrạng, thái độ, niềm tin và hành động thực tế của dân chúng Vì vậy, xã tuy là cấpthấp nhất trong hệ thống quản lý nhưng có tầm quan trọng đặc biệt, là vấn đề sốngcòn, thành bại của chế độ Xã là hình ảnh thu nhỏ của xã hội, là vùng nhạy cảmnhất của đời sống xã hội, không được xao nhãng mà cần đặc biệt quan tâm, chỉ đạothường xuyên Thực chất của mất xã là mất dân, mà khởi đầu của sự mất dân là xadân của cán bộ xã, sự rệu rã của tổ chức bộ máy và sự hoành hành của nạn quanliêu, tham nhũng làm cho dân đói khổ, bần cùng

- Xã không phải là cấp hoạch định đường lối, chính sách Xã là cấp hànhđộng, tổ chức hành động, đưa đường lối, nghị quyết chính sách vào cuộc sống Là

Trang 22

cấp hành động, tổ chức thực hiện nên cán bộ xã phải gần dân, hiểu dân, sát dân vànăng lực của cán bộ xã là năng lực thi hành, tổ chức công việc và thường xuyên giáodục, tuyên truyền, vận động quần chúng Tổ chức bộ máy xã phải thực sự gọn nhẹ,

“thà ít mà tốt”, năng động, nhạy bén, cán bộ xã phải thực sự nhuần nhuyễn lý luậnvới thực tiễn, sáng tạo một cách thiết thực, biết rõ phương hướng hành động, có bảnlĩnh dám chịu trách nhiệm, có phương pháp và phong cách dân vận “óc nghĩ, mắtnhìn, miệng nói, tai nghe, chân đi, tay làm” như Hồ Chí Minh đã chỉ ra (Hồ ChíMinh toàn tập Nxb Chính trị quốc gia, H.2000, t.5, tr.699) Biết làm cho dân tin, dânủng hộ; biết tập hợp dân thành lực lượng và hoạt động trong phong trào; phục vụdân, làm lợi cho dân, mưu cầu hạnh phúc cho dân, đó là tất cả những gì cán bộ xãcần có

2 Hệ thống chính trị ở xã trong thời kỳ đổi mới

Hệ thống chính trị ở xã có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vậnđộng nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước,tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của dân, huy động mọikhả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư Gần

20 năm qua, nói chung hệ thống chính trị ở xã đã tích cực thực hiện chức năng,nhiệm vụ của mình cùng với nhân dân tạo nên những thành tựu quan trọng về kinh

tế, xã hội, văn hóa, làm thay đổi bộ mặt nông thôn, thay đổi đời sống nông dân theohướng tích cực

Cơ cấu của hệ thống chính trị ở xã:

Về mặt tổ chức, hệ thống chính trị ở xã bao gồm ba bộ phận cấu thành là tổchức Đảng, chính quyền Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận

Tổ quốc, bao gồm Đoàn Thanh niên, Hội phụ nữ, Hội Nông dân và Hội Cựu chiếnbinh

a) Tổ chức cơ sở Đảng ở xã

Hiện nay, số lượng tổ chức cơ sở Đảng ở xã chiếm khoảng 20% trong tổng

số các tổ chức cơ sở Đảng, có số lượng lớn nhất so với các loại hình tổ chức cơ sở

Trang 23

Đảng trong cả nước Gần 50% tổng số đảng viên của toàn Đảng đang sinh hoạt vàhoạt động trong các tổ chức cơ sở Đảng ở xã

Tổ chức cơ sở Đảng ở xã là nền tảng của Đảng ở xã Điều 21, Điều lệ ĐảngCộng sản Việt Nam, được Đại hội X của Đảng thông qua, đã quy định: “Tổ chức

cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Ðảng, là hạt nhân chính trị

ở cơ sở” Như vậy tổ chức cơ sở Đảng ở xã là nền tảng của Đảng ở xã Điều này bắtnguồn trực tiếp từ học thuyết của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò quyết định củaquần chúng nhân dân trong lịch sử, về vai trò của giai cấp công nhân - lực lượngchủ yếu của cách mạng vô sản và là người lãnh đạo xã hội trong thời kỳ xây dựngchủ nghĩa xã hội

Tổ chức cơ sở Đảng ở xã là hạt nhân lãnh đạo chính trị, lãnh đạo hệ thốngchính trị ở cơ sở Tổ chức cơ sở Đảng ở xã có vai trò hạt nhân trong lãnh đạo chínhtrị, lãnh đạo hệ thống chính trị, bảo đảm cho đường lối, chính sách của Đảng được

cụ thể hóa và được thực hiện thắng lợi ở cơ sở Tổ chức Đảng ở xã có vai trò lãnhđạo toàn diện các mặt hoạt động trong xã, lãnh đạo chính quyền và các đoàn thểquần chúng

Tổ chức cơ sở Đảng ở xã là nơi giáo dục, rèn luyện đảng viên và phát triểnĐảng Tổ chức cơ sở Đảng là nơi giáo dục lý tưởng cách mạng, rèn luyện ý chí,trau dồi quan điểm, lập trường cách mạng cho đảng viên ở nông thôn, động viênđảng viên tham gia các phong trào giữ gìn an ninh, trật tự, phát triển kinh tế - xãhội ở địa phương; là nơi vận động và bồi dưỡng những người ưu tú, xuất sắc trongphong trào quần chúng, kết nạp họ vào Đảng nhằm xây dựng, phát triển, tăngcường số lượng và sức chiến đấu của Đảng

Tổ chức cơ sở Đảng ở xã là đơn vị chiến đấu cơ bản của Đảng và là chỗ dựađáng tin cậy của quần chúng nhân dân ở cơ sở Bằng việc đưa đường lối, chủtrương của Đảng vào cuộc sống ở xã, tổ chức quần chúng thực hiện thắng lợiđường lối chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước; phát triểnlực lượng đảng viên mới trong quần chúng, các tổ chức Đảng ở xã thực sự là “một

Trang 24

đơn vị chiến đấu cơ bản” của Đảng, là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị và

là chỗ dựa đáng tin cậy của nhân dân ở cơ sở

b) Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân

Theo Hiến pháp 1992, hệ thống chính quyền nhà nước ta bao gồm bốn cấp từTrung ương đến cơ sở, trong đó, chính quyền cấp cơ sở ở xã có vị trí rất quantrọng Đây là đơn vị thực hiện, đồng thời cũng là nơi kiểm tra, đánh giá đường lối,chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước; là nơi trực tiếp và có ưuthế trong việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, khai thác tiềm năng tại chỗ ởđịa phương trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh quốc phòng,tạo điều kiện cho nhân dân địa phương xây dựng một cuộc sống ổn định Chínhquyền cơ sở ở xã, bao gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, được bầu ratheo Hiến pháp và pháp luật

- Hội đồng nhân dân:

Theo Hiến pháp 1992, Hội đồng nhân dân xã được xác định là cơ quanquyền lực nhà nước ở địa phương, đồng thời là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyệnvọng của nhân dân Thông qua Hội đồng nhân dân xã, nhân dân ở cơ sở thực hiệnquyền làm chủ của mình Hội đồng nhân dân chịu trách nhiệm về hoạt động củamình trước cơ quan cấp trên và trước nhân dân địa phương

Về mặt tổ chức, Hội đồng nhân dân xã có Chủ tịch, Phó chủ tịch và các đạibiểu Hội đồng nhân dân Theo Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhândân năm 2003, Hội đồng nhân dân xã có Thường trực Hội đồng nhân dân nhưngkhông có các ban chuyên môn như Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, huyện Nhiệm kỳcủa Hội đồng nhân dân là 5 năm Số lượng đại biểu được quy định tối thiểu là 15người (xã có 1000 người trở xuống) và tối đa không quá 25 người (xã có từ 3000người trở lên) Cũng như Hội đồng nhân dân các cấp, Hội đồng nhân dân xã có haichức năng cơ bản là quyết định và giám sát

Hội đồng nhân dân xã quyết định các biện pháp thực hiện phát triển kinh tế

-xã hội hàng năm nhằm phát huy tiềm năng của địa phương, quyết định trong lĩnhvực văn hóa, giáo dục, xã hội và đời sống, quyết định trong lĩnh vực quốc phòng,

Trang 25

an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyết định đối với việc thực hiện chính sách dân tộc

và tôn giáo, quyết định trong lĩnh vực thi hành pháp luật, quyết định trong lĩnh vựcxây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính

Trong chức năng giám sát, Hội đồng nhân dân giám sát hoạt động củaThường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ở xã; giám sát việc thực hiệnnghị quyết của Hội đồng nhân dân, việc tuân thủ pháp luật của cơ quan nhà nước,

tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân

và công dân ở địa phương

- Ủy ban nhân dân:

Theo Nghị định 107/2004/NĐ-CP của Chính phủ ngày 01 tháng 4 năm 2004(có sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 27/2009/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 19tháng 3 năm 2009), Uỷ ban nhân dân xã miền núi, hải đảo có dân số từ 5.000 ngườitrở lên; xã đồng bằng, trung du có dân số từ 8.000 người trở lên và xã biên giới, có

5 thành viên gồm có 1 Chủ tịch, 2 Phó Chủ tịch, 2 ủy viên Uỷ ban nhân dân xãkhông thuộc diện trên thì có 3 thành viên gồm có 1 Chủ tịch, 1 Phó Chủ tịch và 1

ủy viên Trong đó Chủ tịch phụ trách chung, khối nội chính, quy hoạch và kế hoạchphát triển kinh tế - xã hội xã Các Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phụ trách khốikinh tế - tài chính, xây dựng, giao thông, nhà đất và tài nguyên - môi trường và phụtrách khối văn hóa - xã hội và các lĩnh vực xã hội khác Các ủy viên Uỷ ban nhândân thì phụ trách công an và phụ trách quân sự

c) Các đoàn thể nhân dân ở xã

“ Các đoàn thể nhân dân ” ở nước ta là một phạm trù rất rộng, có thể baogồm cả các tổ chức chính trị - xã hội, thành viên của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức

xã hội - nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, các hiệp hội, giới chức, lợi ích, từthiện Phạm trù “đoàn thể nhân dân” được đề cập ở đây là các tổ chức chính trị - xãhội, thành viên của Mặt trận Tổ quốc Ở nông thôn, rất ít nơi có tổ chức công đoàn,

vì vậy, nói đến các đoàn thể nhân dân ở xã thuộc hệ thống chính trị, chủ yếu cónăm tổ chức là Mặt trận Tổ quốc, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên,Hội Cựu chiến binh

Trang 26

Đoàn thể nhân dân có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị ở xã.

Cụ thể các đoàn thể nhân dân có vai trò đoàn kết nhân dân, chăm lo lợi ích củathành viên, thực hiện dân chủ và đổi mới xã hội, thực thi quyền và nghĩa vụ củacông dân, thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Đoàn thể nhândân là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong các phong trào vận động quần chúng thamgia bảo vệ trật tự trị an, xây dựng nếp sống văn hóa, bảo vệ môi trường, phát triểnkinh tế - xã hội ở cơ sở

d) Mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị xã

Như trên đã nói, hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn bao gồm ba bộ phậncấu thành: Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân; mỗi bộ phận tồn tại vớivai trò, chức năng riêng và có quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành hệ thống thốngnhất

Tính hệ thống của hệ thống chính trị cơ sở nông thôn hiện nay thể hiện trêncác mặt cụ thể có tính nguyên tắc sau:

- Các tổ chức thành viên của hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn cùng tồntại và hoạt động trên cùng một địa bàn lãnh thổ - dân cư, đó là đơn vị hành chínhcấp xã

- Các thành viên của hệ thống chính trị thống nhất đặt dưới sự lãnh đạo của

tổ chức cơ sở Đảng về những nội dung cơ bản như đường lối, chủ trương, phươnghướng phát triển kinh tế - xã hội và công tác tổ chức, cán bộ

- Các thành viên của hệ thống chính trị thống nhất tiến hành các mặt hoạtđộng trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước và sự quản lý, điều hành của chínhquyền địa phương theo các nguyên tắc Đảng lãnh đạo, nguyên tắc tập trung dânchủ, nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhân dân

- Tuy có chức năng, nhiệm vụ, cách tổ chức và phương thức hoạt động khácnhau, các thành viên của hệ thống chính trị thống nhất cùng hướng tới các mục tiêuchung là phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở, chăm lo đời sống vật chất và tinh thầncủa nhân dân địa phương, tất cả vì mục tiêu chung của xã hội là thực hiện “dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ và văn minh”

Trang 27

Trong sự thống nhất của hệ thống chính trị, Đảng là bộ phận hạt nhân, giữvai trò lãnh đạo của hệ thống; Chính quyền là lực lượng chủ đạo, giữ vai trò quản

lý, điều hành và các đoàn thể nhân dân là tổ chức đại diện quyền làm chủ của cáctầng lớp nhân dân Tổ chức Đảng cơ sở vừa là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị,lãnh đạo chính quyền và là cầu nối giữa nhân dân với chính quyền cơ sở Chínhquyền cơ sở là cơ quan quyền lực nhà nước trực tiếp quản lý, tổ chức đời sống mọimặt ở địa phương, phát huy mọi tiềm năng nhân tài, vật lực ở địa phương phục vụ

sự phát triển kinh tế - xã hội Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở địaphương là cầu nối giữa nhân dân với tổ chức Đảng và chính quyền cơ sở, đại biểucho lợi ích của các tầng lớp nhân dân, là hậu thuẫn của Đảng và chính quyền ở địaphương

e) Ưu điểm và hạn chế của hệ thống chính trị ở xã hiện nay

- Ưu điểm:

Nhìn chung, mối quan hệ giữa Đảng bộ xã, chính quyền xã và Mặt trận cùngcác đoàn thể trong xã đã hoạt động có hiệu quả trong việc tổ chức và vận độngnhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước; tăngcường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọikhả năng phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư Sựnghiệp đổi mới với việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đã góp phầnchuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh, có nhiều mô hình kinh tế trang trại phát triển làmcho bộ mặt nông thôn nước ta khởi sắc Hệ thống chính trị ở cơ sở đã và đang gópphần thực hiện tốt Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn

- Hạn chế:

Bên cạnh những mặt ưu điểm, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổchức chính trị - xã hội ở nước ta còn nhiều hạn chế, bất cập Hệ thống chính trị ở xãhiện nay hoạt động với nhiều khó khăn, vướng mắc về trình độ, năng lực của độingũ cán bộ, về cơ chế hoạt động, về sự phối hợp công tác giữa các tổ chức đảng,chính quyền và đoàn thể Những khó khăn vướng mắc đó làm hạn chế vai trò, hiệuquả hoạt động của hệ thống chính trị, làm hạn chế quan hệ giữa hệ thống chính trị

Trang 28

với nhân dân và gây trở ngại cho quá trình đổi mới, phát triển nông thôn Sau đây làmột số hạn chế trong của hệ thống chính trị xã hiện nay:

+ Hạn chế về trình độ, năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ xã Tínhchung cả nước, trình độ cán bộ xã còn rất hạn chế cả về học vấn, lý luận chính trị

và chuyên môn nghiệp vụ Nhìn chung, đa số cán bộ xã chưa được đào tạo cả vềchính trị, chuyên môn và nghiệp vụ quản lý hành chính nhà nước, đa phần trúng cửrồi mới đưa đi bồi dưỡng ngắn hạn Tại nhiều xã, nhất là các xã miền núi, vùng cao,vùng sâu, vùng xa, cán bộ xã yếu về khả năng tư duy, xây dựng quy hoạch, kếhoạch; yếu cả về phương pháp tổ chức thực hiện; thường trông chờ sự hướng dẫncủa cấp trên theo kiểu “cầm tay chỉ việc” Khó khăn trong hoạt động của hệ thốngchính trị xã không chỉ đơn thuần là vấn đề trình độ và năng lực cán bộ, mà còn là ởtính tiên phong gương mẫu, liên quan đến phong cách làm việc, phẩm chất đạo đứccủa đội ngũ cán bộ Các cán bộ hiện nay thừa nhận rằng khó khăn của họ là quầnchúng không ủng hộ mà nguyên nhân chủ yếu là cán bộ không gương mẫu, làmmất tín nhiệm trong quần chúng, hoặc là trình độ dân trí thấp, thiếu hiểu biết về luậtpháp và những quy định, thủ tục hành chính

+ Hạn chế ở đội ngũ cán bộ giúp việc

Cái khó khi tiến hành công việc ở xã, một mặt do bản thân người cán bộ chủchốt, như đã nói ở trên, có những mặt hạn chế nhất định về trình độ, năng lực vàkhả năng bố trí thời gian công tác; mặt khác số cán bộ giúp việc cho họ cũng hạnchế về trình độ, năng lực Số cán bộ giúp việc này không phải là do dân bầu, mà do

xã tuyển dụng Các điều kiện, tiêu chuẩn tuyển dụng và thực tế việc áp dụng cácquy định về tuyển dụng còn nhiều hạn chế, dẫn đến một số người có trình độ khôngđược nhận vào làm việc trong khi đó những người được nhận vào lại yếu về nănglực, trình độ

+ Hạn chế về công tác cán bộ

Cán bộ là nhân tố quyết định, song khâu yếu nhất hiện nay ở xã lại chính làkhâu cán bộ Phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ xã hiện naycòn nhiều hạn chế Nhìn chung, phần nhiều do việc quản lý cán bộ chưa tốt; chưa

Trang 29

có sự phân công cán bộ một cách khoa học; trách nhiệm tập thể, cá nhân cũng nhưtiêu chuẩn từng loại cán bộ chưa được quy định thống nhất, rõ ràng, cụ thể nên hiệuquả và chất lượng hoạt động quản lý thấp Bên cạnh đó công tác quy hoạch, đàotạo, bồi dưỡng và xây dựng đội ngũ cán bộ xã chưa được coi trọng đúng mức, nhất

là các xã vùng núi Công tác kiểm tra, đánh giá cán bộ không thường xuyên, nhiềunơi nguyên tắc tập trung dân chủ bị vi phạm, thực hiện kỷ luật không nghiêmchỉnh Thêm vào đó, ở nhiều cơ sở, việc xử lý những biểu hiện lệch lạc, tiêu cựcchưa kịp thời và nghiêm minh, dẫn đến tiêu cực kéo dài, ngày càng trầm trọng Dobuông lỏng công tác quản lý và sử dụng cán bộ nên có không ít cán bộ xã thoáihóa, biến chất về đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, gia trưởng,kèn cựa địa vị, cục bộ, bè phái, dẫn đến mất đoàn kết nội bộ, gây khó khăn cho việclãnh đạo và thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương

+ Điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn và trình độ dân trí còn thấp

Những khó khăn khách quan đối với hoạt động của hệ thống chính trị xã hiệnnay là “điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương còn nhiều khó khăn” Đây là điềukiện khách quan làm ảnh hưởng và tác động đến mặt bằng chung về trình độ, nănglực của đội ngũ cán bộ xã, hạn chế việc tuyên truyền đường lối, chính sách và phápluật trong nhân dân

+ Thiếu sự quan tâm của cấp trên, đặc biệt là cấp huyện

Ngoài những khó khăn xuất phát từ điều kiện, tình hình kinh tế - xã hội, các

lý do chủ quan là khá rõ nét Không chỉ có khó khăn về trình độ, hoàn cảnh, nănglực, phẩm chất, tính tiên phong gương mẫu của cán bộ mà còn là sự quan tâm, kiểmtra, đôn đốc, hỗ trợ, giúp đỡ của cấp trên

+ Tổ chức, điều hành chưa hợp lý, phối hợp chưa đồng bộ và vướng mắc về

cơ chế

Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, khi thực hiện cơ chế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, khi bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, khốilượng công việc của cán bộ trong hệ thống chính trị xã tăng lên rất nhiều Khó khăn

Trang 30

này vừa thể hiện trình độ, năng lực của cán bộ, vừa thể hiện sự hạn chế trong quản

lý, điều hành hệ thống chính trị xã hiện nay

+ Bộ máy cồng kềnh, sự phân công công việc không hợp lý, một số cán bộ,công chức làm việc quá tải, một số không có việc làm

Sự quá tải cũng là một gánh nặng cho cá nhân Sự phân cấp từ trên xuốngdưới hiện nay có nhiều bất hợp lý, thêm vào đó các nhiệm vụ được giao cho cán bộ

xã theo quy định của pháp luật cũng thật nặng nề Điều đáng nói ở đây là trong khicông việc tập trung vào một số chức danh, thì một số chức danh khác lại hầu nhưkhông có việc làm

II Đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị ở xã trong giai đoạn hiện nay

Đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta là một bộ phận của công cuộc đổi mớitoàn diện đất nước Công cuộc đổi mới ở nước ta có ý nghĩa như một bước ngoặtcủa một giai đoạn cách mạng mới Đổi mới kinh tế và đổi mới các lĩnh vực kháckhông thể tách rời đổi mới về chính trị

Trong thời kỳ phát triển mới của cách mạng nước ta hiện nay, việc đổi mới

hệ thống chính trị trên phạm vi cả nước cũng như ở từng cơ sở, nhất là ở xã đã trởnên vô cùng cần thiết và bức xúc Từ đó ta có thể thấy những yêu cầu cho sự cầnthiết phải đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở xã đó là:

- Đáp ứng yêu cầu của thực hành dân chủ Thực hành dân chủ và chống quanliêu, tham nhũng là hai mặt của cùng một vấn đề: tìm động lực cho sự phát triển,tiến bộ xã hội Quan tâm sâu sắc tới vấn đề hệ trọng này, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:

“Cách tốt nhất để chống quan liêu, tham nhũng là thực hành dân chủ” và “Thựchành dân chủ rộng rãi là chiếc chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn” (HồChí Minh toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2000, t.12, tr.249) Trong tư tưởngcủa mình, Hồ Chí Minh sớm phát hiện ra dân chủ là động lực và mục tiêu của sựphát triển, của chủ nghĩa xã hội Đó cũng chính là động lực và mục tiêu của một hệthống chính trị trong sạch, của đổi mới hệ thống chính trị để phát triển chính trị,qua đó mà phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội

Trang 31

- Hiểu đúng về xã và vai trò của xã Muốn đổi mới hệ thống chính trị ở xã,trước hết phải đổi mới nhận thức để nhận thức đúng đắn về xã đó chính là cơ sở xãhội của chính trị, là cơ sở của thể chế nhà nước, của chế độ chính trị ở xã Nó khácbiệt với các loại hình cơ sở khác thuộc các lĩnh vực khác gắn với ngành nghề vớinhững tổ chức tương ứng của nó: doanh nghiệp, công ty, bệnh viện, trường học,công sở, nhóm xã hội hay từng tế bào của xã hội là gia đình Ở xã là nơi nảy sinh từthực tế biết bao kinh nghiệm có thể tổng kết để khái quát thành lý luận, để điềuchỉnh, bổ sung và đổi mới đường lối, chính sách do thường xuyên phải giải quyếtnhững tình huống của cuộc sống đặt ra Đổi mới đã manh nha nảy mầm từ nhữngnhu cầu bức xúc ở xã, và từ xã đã nhanh chóng nhập cuộc với đổi mới, hành độngtheo đường lối đổi mới của Đảng, bởi đổi mới là hợp với quy luật phát triển vàthuận với lòng dân.

- Quản lý và tự quản Một vấn đề nổi bật ở xã cả về vai trò, đặc điểm và tínhchất của nó là trên địa bàn xã không chỉ diễn ra hoạt động quản lý mà đồng thờicòn có cả hoạt động tự quản của dân, tự quản của từng hộ gia đình, của các đoànthể tự nguyện đến cả cộng đồng, tập trung tiêu biểu nhất là ở thôn, làng, ấp, bản,với vai trò của trưởng thôn, trưởng bản do dân bầu trực tiếp Tự quản là nét đặc thù

ở xã Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã phải phát huy được sức mạnh, năng lực tựquản này của dân để qua đó, dân tham gia trực tiếp vào việc kiểm tra, giám sátchính quyền, tham gia quản lý, xây dựng và phát triển cuộc sống cộng đồng

Đổi mới hệ thống chính trị vừa là vấn đề khoa học sâu sắc vừa là vấn đềchính trị thực tiễn nhạy cảm nhất trong đời sống cộng đồng, dân tộc Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ: “Kết hợp ngay từ đầu đổi mới kinh

tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm đồng thời từng bước đổimới chính trị” Cụ thể trong công cuộc đổi mới hiện nay có đổi mới phương thứclãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đổi mới tổ chức và hoạt động của các tổchức chính trị - xã hội, đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND, UBND xã

1 Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trang 32

Phương thức lãnh đạo của Đảng là hệ thống các hình thức, các phương pháp

mà Đảng vận dụng để đưa nội dung lãnh đạo tác động vào hệ thống chính trị, xãhội nhằm đạt được mục tiêu lãnh đạo của Đảng Nhìn lại quá trình lãnh đạo củaĐảng mấy chục năm qua, trong mỗi giai đoạn cách mạng, cùng với việc xây dựngđường lối và tổ chức, Đảng luôn quan tâm đến công tác lãnh đạo Phương pháplãnh đạo không chỉ bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng có hiệu quả mà còn gópphần quan trọng vào việc hoàn thiện đường lối cách mạng, bồi dưỡng cán bộ, đảngviên

Thực tế cho thấy, có đường lối đúng, có tổ chức hợp lý mà không có phươngthức lãnh đạo phù hợp, không giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước vàcác đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội ở các cấp, trên từng lĩnh vực thì hiệu quảlãnh đạo thấp

Trong tác phẩm “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng” tổng kết sự lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ của Đảng, đồng chí Lê Duẩn đã nhận xét: “ Kinh nghiệm cho thấy phong trào cách mạng có khi giẫm chân tại chỗ, thậm chí thất bại nữa, không phải vì thiếu phương hướng và mục tiêu rõ ràng mà chủ yếu vì thiếu phương pháp cách mạng thích hợp”.

Trong thời kỳ đổi mới, với một nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo

cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước và mở cửa hội nhập kinh tế thế giới,

hệ thống chính trị ở xã đã có bước phát triển mới Chính quyền xã phải quản lý xãhội bằng pháp luật, các tổ chức chính trị - xã hội phát triển mạnh mẽ và đa dạnghóa sự hoạt động; hàng trăm hội quần chúng, hội nghiệp đoàn, hội từ thiện mới rađời, hoạt động rất năng động và phong phú Tình hình đó đòi hỏi Đảng phải đứngđúng vị trí của mình để vừa xây dựng bộ máy chính quyền xã thực sự vững mạnh,quản lý xã hội có hiệu quả, vừa phải lãnh đạo các tổ chức xã hội, các tầng lớp nhândân thực hiện tốt chính sách, pháp luật của nhà nước

Thành tựu bước đầu của công cuộc đổi mới đất nước mấy năm qua có sựđóng góp của sự đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bộ xã Một số quan điểm

cơ bản, mang tính định hướng về phương thức lãnh đạo của Đảng:

Trang 33

- Là Đảng cầm quyền, Đảng có trách nhiệm lãnh đạo toàn diện đối với chínhquyền xã, đồng thời chịu trách nhiệm chính trị trước xã hội Do đó, Đảng phải đềphòng nguy cơ quan liêu, xa rời quần chúng và sự sai lầm về đường lối.

- Là Đảng cầm quyền, Đảng phải đặt trọng tâm vào xây dựng và hoàn thiệnchính quyền xã Đảng xây dựng nhà nước vững mạnh và tự mình tuân thủ đúngHiến pháp, pháp luật

- Là Đảng cầm quyền, Đảng phải chăm lo xây dựng và hoàn thiện phươngthức lãnh đạo nhằm thực hiện có hiệu quả đường lối chính trị để giữ vững vai trò và

vị trí lãnh đạo Nghiên cứu và xây dựng phương thức lãnh đạo không chỉ là cải tiến

lề lối làm việc đơn thuần mà phải có cơ sở lý luận và thực tiễn về Đảng cầm quyền.Cùng với việc xây dựng kiện toàn tổ chức, phương thức lãnh đạo phải trở thành nộidung quan trọng của công tác xây dựng Đảng

- Một phương thức lãnh đạo đúng đắn bao giờ cũng vừa bảo đảm thực hiệnđúng định hướng chính trị, vừa phát huy được tính chủ động, tinh thần nhiệt tình,sáng tạo và nhân lên sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nhân dân,nhằm thực hiện đạt hiệu quả cao nhất mục tiêu đề ra

2 Đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND, UBND xã

Cái đích quan trọng nhất của đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND vàUBND xã là nâng cao hiệu lực quản lý bằng cách thực hiện nghiêm chỉnh đườnglối, chính sách, pháp luật của Đảng và nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi cho các hộdân sản xuất kinh doanh theo đúng pháp luật và nâng cao đời sống, tổ chức và quản

lý tốt các mặt trật tự, an ninh ở địa bàn, thực hiện Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở

xã phường, thị trấn Bằng cách đó, xây dựng chính quyền cơ sở thành một chínhquyền được lòng dân, được dân tin tưởng và ủng hộ Như vậy cần phải chú ý tớinhững biện pháp đổi mới nào để nâng cao hiệu lực và uy tín của chính quyền trongviệc thực hiện chức năng quản lý nhà nước và hỗ trợ hoạt động của dân ở cơ sở?

Trước hết, chính quyền cơ sở phải thể hiện, cụ thể hóa phương hướng, chủtrương, nghị quyết của tổ chức đảng ở cơ sở trong công tác quản lý của chính

Trang 34

quyền với tinh thần chủ động và sáng tạo, đề cao tinh thần phụ trách và chịu tráchnhiệm về những nhiệm vụ được giao

Cán bộ chính quyền phải nắm vững và am hiểu chủ trương, chính sách củaĐảng và pháp luật của nhà nước để giải quyết cho đúng, không tùy tiện, tắc trách.Quan hệ của người dân với chính quyền (giữa công dân với nhà nước) là một trongnhững mối quan hệ cơ bản của quản lý dựa trên pháp luật quy định Để nâng caohiệu lực quản lý và tạo điều kiện cho các công dân thực hiện đúng những quyền vànghĩa vụ của mình, chính quyền phải đặc biệt chú trọng cung cấp cho dân biếtnhững thông tin cần thiết liên quan tới những vấn đề về cuộc sống của họ, về hoạtđộng của chính quyền để dân giám sát và kiểm tra

Cuộc sống ở cơ sở thường xuyên nảy sinh rất nhiều những sự kiện, tìnhhuống có ảnh hưởng trực tiếp tới dân Do đó, hoạt động của chính quyền đòi hỏiphải khẩn trương, kịp thời giải quyết những vấn đề bức xúc: thiên tai (lũ lụt, hạnhán), dịch bệnh, trật tự trị an, vệ sinh môi trường, việc ăn, ở, học hành, đi lại củadân, các tranh chấp dân sự xung quanh đất đai, xây dựng nhà cửa, mua bán, đổichác, quản lý hộ tịch, quản lý dân cư trên địa bàn và dân nơi khác đến

Cán bộ chính quyền, từ các đại biểu của dân trong Hội đồng nhân dân đếncác cán bộ trong Ủy ban nhân dân với tư cách là cơ quan hành chính có tác phongsâu sát quần chúng, tận tâm và tận lực phục vụ dân, có kiến thức chuyên mônnghiệp vụ của quản lý, am hiểu pháp luật Công tâm, thạo việc, trách nhiệm và liêmkhiết - đó là những phẩm chất cần thiết mà mỗi cán bộ chính quyền cần phải có vàthường xuyên trau dồi

Để đạt được chất lượng và hiệu quả như vậy trong tổ chức bộ máy, tronghoạt động và trong nguồn nhân lực của chính quyền cơ sở, cần phải chú trọng đổimới và nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân, có những hoạt động

cụ thể thiết thực vừa tầm có thể thực hiện được

Cần tăng số lượng đại biểu của dân trong Hội đồng nhân dân là những quầnchúng ngoài Đảng, tránh tình trạng Hội đồng nhân dân hầu hết là đảng viên và đang

Trang 35

giữ chức vụ, làm cho tiếng nói trực tiếp của những người dân thường bị hạn chế,ảnh hưởng đến quyền lực trực tiếp tham gia quản lý chính quyền của quần chúng.

Phải nâng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân bằng cách,ngoài chất lượng đại biểu còn cần có sự chuẩn bị tốt nội dung các kỳ họp Hộiđồng nhân dân, tăng số lượng và thời gian các phiên họp của Hội đồng để có thểbàn bạc, thảo luận, chất vấn, kiểm tra, quyết định những vấn đề kinh tế - xã hội -văn hóa, tài chính - ngân sách vốn liên quan mật thiết tới cuộc sống của dân vàđược dân rất quan tâm

Phải đặc biệt đề cao vai trò và trách nhiệm của Hội đồng nhân dân, của đạibiểu nhân dân, tăng cường những tiếp xúc giữa đại biểu với cử tri, mở rộng môitrường hoạt động của các đại biểu, để họ kiêm nhiệm thêm các công tác xã hội tại

cơ sở, cùng tham gia vào các hoạt động tự quản với dân

Đối với Ủy ban nhân dân xã vừa là cơ quan chấp hành vừa là cơ quan hànhchính của dân ở cơ sở, là nơi thực hiện chức năng hành pháp ở cơ sở, cần hết sứcchú trọng tới năng lực của cán bộ, trước hết là năng lực tổ chức, điều hành của Chủtịch Ủy ban nhân dân, quan hệ giữa Chủ tịch Ủy ban nhân dân với Chủ tịch Hộiđồng nhân dân và Bí thư Đảng ủy cơ sở Cũng như vậy phải có sự phân công rànhmạch giữa Chủ tịch, Phó Chủ tịch, và cần tăng cường chức trách của ủy viên Ủyban nhân dân xã

Chính quyền cơ sở là bộ phận then chốt và là một khâu đặc biệt quan trọngcủa hệ thống chính trị ở cơ sở Không có một chính quyền cơ sở thực sự vữngmạnh thì việc thực hiện dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân như Pháplệnh dân chủ ở cơ sở đã được Đảng và Nhà nước ban hành sẽ vấp phải những khókhăn trở ngại lớn Những giải pháp, biện pháp nêu trên chính là nhằm vào đổi mới

và nâng cao hiệu lực quản lý của chính quyền cơ sở, nhất là chính quyền xã, coi đó

là khâu đột phá của đổi mới

3 Đổi mới tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội

Muốn phát huy vai trò của các đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội, phảiđổi mới nội dung, phương thức hoạt động của các đoàn thể ở xã cho phù hợp với

Trang 36

tình hình thực tế của xã hội, của địa phương và ý nguyện của người dân Cần chútrọng thúc đẩy sự phối hợp của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong nhân dân đểđẩy mạnh việc thực hiện Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn Cóthể coi đây là trọng điểm công tác của các đoàn thể nhằm bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của các thành viên trong tổ chức của mình Công tác đoàn thể nhiệt tình,tận tụy, gắn bó với phong trào, gần gũi với quần chúng, có năng lực vận động quầnchúng Đó là phong cách của người cán bộ dân vận như Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “ócnghĩ, tai nghe, mắt nhìn, miệng nói, chân đi, tay làm” Yêu cầu này càng đặc biệtcần thiết ở xã, có như thế mới thu hút được toàn dân tham gia phong trào, tiếp thuđược những kinh nghiệm, sáng kiến của dân từ hoạt động thực tiễn Mặt trận và cácđoàn thể là lực lượng chủ yếu trong công tác vận động quần chúng cơ sở, có nhữngđóng góp tích cực vào việc thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chínhsách và pháp luật của nhà nước trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở cơsở.

CÂU HỎI THẢO LUẬN

Câu hỏi 1: Hệ thống chính trị là gì? Anh (chị) hãy nêu những đặc điểm cơbản của hệ thống chính trị ở xã hiện nay

Câu hỏi 2: Trình bày những phương hướng cơ bản nhằm đổi mới hệ thốngchính trị xã

Câu hỏi 3: Theo anh (chị) cần thực hiện những biện pháp gì để khắc phụcnhững hạn chế của hệ thống chính trị xã hiện nay?

TÀI LIỆU THAM KHẢO

- Đảng Cộng sản Việt Nam: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam

- Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia

- Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 1999

- Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân 2003

- Hoàng Chí Bảo, Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay,

Trang 37

- Đặng Đình Tân, Chính quyền cấp cơ sở (xã) ở nước ta hiện nay: thực trạng

và giải pháp, Kỷ yếu Đề tại khoa học về hệ thống chính trị ở cơ sở.

- Dương Xuân Ngọc, Mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền và đoàn thể cấp

xã, Kỷ yếu Đề tài khoa học về hệ thống chính trị ở cơ sở.

- Phan Xuân Sơn, Các đoàn thể nhân dân ở cấp xã, phường và một số vấn đề

về đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở, Kỷ yếu Đề tài khoa học về hệ thống chính trị

ở cơ sở

Trang 38

I Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội

ở xã trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

1 Vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

Tổ chức cơ sở Đảng ở xã là nền tảng của Đảng ở xã Với vị trí là hạt nhânlãnh đạo hệ thống chính ở xã, trong những năm qua, tổ chức cơ sở Đảng ở xã luônkhẳng định được vai trò quan trọng của mình trong quá trình công nghiệp hóa,hiện đại hóa (CNH, HĐH) nông nghiệp, nông thôn Tại Nghị quyết số 17-NQ/TWngày 18/3/2002 của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 5 khóa IX về

“Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở xã, phường, thị trấn”(sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 17) đã đưa ra phương hướng về tiếp tục tăngcường hệ thống chính trị ở nông thôn, trên cơ sở xác định rõ, rành mạch về chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa các bộ phận trong hệ thống chính trị trên địa bànnông thôn, đồng thời xây dựng mối quan hệ đoàn kết, phối hợp giữa các tổ chứcdưới sự lãnh đạo của đảng bộ, chi bộ tập trung cho nhiệm vụ phát triển toàn diệnnông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH Theo tinh thần của Nghị quyết

số 17, vai trò của tổ chức cơ sở Đảng ở xã thể hiện cụ thể :

- Đảng bộ, chi bộ cơ sở là hạt nhân lãnh đạo toàn diện các mặt công tác ở

cơ sở, cần nắm vững nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là

Trang 39

then chốt, chăm lo xây dựng chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân, bảođảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị hướng vàophục vụ nhân dân, đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luậtcủa nhà nước đến mọi người dân và tổ chức thực hiện tốt ở cơ sở, phản ánh vàgiải đáp mọi tâm tư nguyện vọng của nhân dân, khơi dậy trí tuệ và nguồn lực củadân, không ngừng nâng cao trình độ dân sinh, dân trí, dân chủ ở cơ sở

- Công tác phát triển đảng viên mới nhằm vào những người có lý tưởngcách mạng, lao động giỏi (nhất là nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi), có đạođức, lối sống lành mạnh, có uy tín trong quần chúng và tích cực hoạt động trong

hệ thống chính trị, có vai trò nòng cốt trong các đoàn thể nhân dân ở cơ sở Đốivới những đảng viên không chịu khó làm việc, lười học tập, đã được tập thể giúp

đỡ mà không tiến bộ thì vận động họ ra khỏi Đảng Từng Đảng bộ, Chi bộ cơ sởphải phấn đấu không còn đảng viên yếu kém

- Đổi mới việc ra nghị quyết của Đảng bộ, Chi bộ, của cấp uỷ Đảng: Đốivới những vấn đề lớn, quan hệ tới cuộc sống và quyền lợi của đông đảo nhân dânđịa phương, đòi hỏi sự phối hợp của cả hệ thống chính trị ở cơ sở, Đảng bộ, Chi

bộ và Cấp uỷ Đảng đề ra chủ trương và các giải pháp có tính định hướng và phâncông, giao trách nhiệm cho các tổ chức trong hệ thống chính trị đề ra biện pháp và

tổ chức thực hiện theo quyền hạn, trách nhiệm của từng tổ chức Những chủtrương công tác thuộc thẩm quyền quyết định của chính quyền và đoàn thể thìchính quyền và đoàn thể chủ động đề xuất, cấp uỷ đảng bàn và có ý kiến về nhữngnội dung quan trọng

- Xây dựng và thực hiện quy chế làm việc giữa Bí thư cấp uỷ với Chủ tịchHội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc

và những người đứng đầu các đoàn thể nhân dân để bàn và giải quyết kịp thờinhững công việc quan trọng và bức xúc trên địa bàn, bảo đảm cho cấp uỷ đảngquán xuyến được các mặt công tác ở xã

Trang 40

- Đảng bộ, Chi bộ và Cấp uỷ đảng chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ gồmnhiều thế hệ bổ sung, kế tiếp nhau thông qua việc rèn luyện đội ngũ đảng viên,đồng thời phát hiện và bồi dưỡng những người có tài, có đức trong dân để đảmđương các vị trí công tác trong hệ thống chính trị Dựa vào dân và thông qua hoạtđộng thực tiễn ở cơ sở để phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, kiểm tra cán bộ

- Tăng cường công tác kiểm tra việc chấp hành nghị quyết của Đảng bộ,Đảng uỷ; kiểm tra công tác, đồng thời kiểm tra tư cách đảng viên Chú trọng tìmhiểu, lắng nghe ý kiến nhận xét, đánh giá của quần chúng đối với đảng viên và tổchức Đảng thông qua việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cơ sở Hàng năm, Bí thưcấp uỷ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tự phê bình trướcđại diện của nhân dân

Theo tinh thần trên, Ban Bí thư ban hành quy chế và hướng dẫn cho các tổchức Đảng ở xã thực hiện phù hợp với điều kiện thực tế

- Củng cố, nâng cao vai trò của hệ thống chính trị cơ sở, nâng cao trình độmọi mặt cho đảng viên, cán bộ, công chức cơ sở, tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn,

đi đôi với đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của chi bộ, đảng bộ vàchính quyền cơ sở, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở nông thôn hướngvào phục vụ dân, sát với dân, được dân tin cậy, thực sự là hạt nhân lãnh đạo vàtoàn diện trên địa bàn nông thôn Tập trung chỉ đạo thực hiện các mặt công việcchính như:

+ Làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, khơi dậy quyết tâm vượtqua khó khăn vươn lên xây dựng cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn ở mỗi địaphương

+ Cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước trong lĩnhvực nông nghiệp, nông thôn và thể hiện thành kế hoạch, chương trình hoạt động

cụ thể của từng cấp ủy, chính quyền cơ sở

Qua khảo sát tại các địa bàn dân tộc miền núi, đa số những người được hỏi củacác dân tộc thiểu số đều chưa biết nhiều về các chủ trương, chính sách quan trọng của

Ngày đăng: 20/09/2019, 10:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w