Trong hơn 30 năm qua, các nghiên cứu về các hợp chất chuyển hóa thứ cấp từ sinh vật biển đã được nghiên cứu rộng rãi, đã tìm ra rất nhiều hợp chất có cấu trúc và hoạt tính sinh học.. Do
Trang 2VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Châu Ngọc Điệp
NGHIÊN CỨU TÌM KIẾM CÁC HOẠT CHẤT GÂY ĐỘC TẾ BÀO UNG THƯU TỪ LOÀI SAN HÔ MỀM
MENELLA WOODIN Ở VÙNG BIỂN CÔ TÔ
Chuyên ngành: Hóa sinh học
Mã số: 9420116
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1 TS Nguyễn Hoài Nam
Viện Hóa sinh biển
2 PGS.TS Đỗ Thị Thảo
Viện Công nghệ sinh học
Hà Nội, 2019
Trang 3Lời cảm ơn
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới TS Nguyễn Hoài Nam và PGS.TS Đỗ Thị Thảo là hai thầy đã hướng dẫn tận tình, chu đáo, chia sẻ những kinh nghiệm quí báu và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận án này
Tôi xin cảm ơn Ban lãnh đạo Viện Hóa sinh biển, Viện Hàn lâm Khoa học
và Công nghệ Việt Nam và Viện Hóa sinh Hữu cơ Thái Bình Dương - Phân Viện Viễn đông Liên Xô, Viện Hàn lâm Khoa học Nga, Liên Bang Nga đã tạo điều kiện cho tôi làm việc, hoàn thành các thủ tục giấy tờ và học tập trong phòng thí nghiệm
để thực hiện tốt luận án này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới tập thể Phòng Dược liệu biển, Viện Hóa sinh biển đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận án này
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ Phòng Thử nghiệm sinh học, Viện Công nghệ Sinh học, đã giúp đỡ tôi hoàn thành các nghiên cứu về hoạt tính sinh học
Tôi xin cảm ơn GS.TS Valentin A Stonik và các cộng sự Viện Hóa sinh Hữu cơ Thái Bình Dương đã giúp đỡ tôi trong thời gian thực tập tại Viện
Tôi xin cảm ơn GS.TS Đỗ Công Thung và các cán bộ kiêm thợ lặn Viện Tài nguyên và Môi trường biển, đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình thu mẫu ngoài biển
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cơ sở đào tạọ Viện Công nghệ sinh học và ThS Bùi Thị Hải Hà cán bộ phụ trách đào tạo đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập ở đây
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã cổ vũ, động viên tôi hoàn thành luận án
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2019
Tác giả NCS Châu Ngọc Điệp
Trang 4Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan:
Đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện, một số kết quả có được cùng cộng tác với các cộng sự khác
Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, một số kết quả lần đầu tiên được công bố trên tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín với sự đồng ý và cho phép của các đồng tác giả
Phần còn lại chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2019
Tác giả
NCS Châu Ngọc Điệp
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn……… i
Lời cam đoan……… ii
MỤC LỤC……… iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT……… vii
DANH MỤC CÁC BẢNG……… x
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ xi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 4
1.1 Đặc điểm chung về san hô mềm 4
1.1.1 Đặc điểm sinh học của san hô mềm 4
1.1.2 Đặc điểm sinh sản 6
1.1.3 Đặc điểm phân bố 7
1.2 Tình hình nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính gây độc tế bào ung thư của giống Menela 7
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 7
1.2.2 Tình hình nghiên cứu về một số loài san hô mềm ở Việt Nam 17
1.3 Giới thiệu về loài san hô mềm Menella woodin 20
CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Vật liệu nghiên cứu 22
2.2 Phương pháp nghiên cứu 22
2.2.1 Phương pháp xử lý mẫu, tạo dịch chiết 22
2.2.2 Phương pháp phân lập và xác định cấu trúc hóa học 25
2.2.3 Phương pháp thử nghiệm hoạt tính gây độc tế bào ung thư 27
2.2.4 Phương pháp xác định hoạt tính ức chế sản sinh ROS 29
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1 Thu mẫu, xử lý mẫu, tạo dịch chiết 31
3.2 Sàng lọc hoạt tính gây độc tế bào ung thư của mẫu dịch chiết thô 33
3.3 Phân lập các hợp chất từ loài Menella woodin 33
Trang 63.4 Thông số vật lý và dữ kiện phổ của các hợp chất phân lập được 37
3.4.1 Hợp chất MW1 (Menellsteroid E): 1β,3β,5α,11β tetrahydroxycholestan-6-one (chất mới) 37
3.4.2 Hợp chất MW2 (Menellsteroid F): Cholest-24-ene-3β,5α,6β,11β- tetraol (chất mới) 38
3.4.3 Hợp chất MW3 (Menellsteroid G): 24-methylcholest-24(28)-ene-3β, 5α,6β,11β-tetraol (chất mới) 39
3.4.4 Hợp chất MW4 (Menellsteroid H): 24-Norcholest-22(E)-ene 3β,5α,6β,11β-tetraol (chất mới) 40
3.4.5 Hợp chất MW5: cholest-3β,5α,6β,11β-tetraol 41
3.4.6 Hợp chất MW6: Menellsteroid B 41
3.4.7 Hợp chất MW7: (22E,24S)-24-methyl-5α-cholesta-7,22 diene-3β,5α,6β,9-tetraol 42
3.4.8 Hợp chất MW8: (1S,2R,8S,10R)-1,8-epoxy-2-hydroxy-guaian-3,5,7- trien-12,8-olide (chất mới) 42
3.4.9 Hợp chất MW9: (1R,2S,8S,10R)-1,2-dihydroxy-8-methoxy-guaian-3,5,7-trien-12,8-olide (chất mới) 43
3.4.10 Hợp chất MW10: Menelloide F (chất mới) 44
3.4.11 Hợp chất MW11: Menelloide G (chất mới) 45
3.4.12 Hợp chất MW12: Menverin A 46
3.4.13 Hợp chất MW13: Menverin B 46
3.4.14 Hợp chất MW14: Menverin C 46
3.4.15 Hợp chất MW15: Menverin F 47
3.4.16 Hợp chất MW16: Menelloide B 47
3.4.17 Hợp chất MW17: 1S*,4S*,5S*,10R*-4,10-Guaianediol 48
3.5 Đánh giá hoạt tính gây độc tế bào ung thư của các hợp chất phân lập được 48
3.6 Xác định hoạt tính ức chế sản sinh ROS 49
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51
Trang 74.1 Hoạt tính gây độc tế bào của dịch chiết thô 51
4.2 Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập đƣợc 51
4.2.1 Hợp chất MW1: Menellateroid E (1β,3β,5α,11β tetrahydroxycholestan-6-one) (chất mới) 51
4.2.2 Hợp chất MW2: Menellsteroid F (Cholest-24-ene-3β,5α,6β,11β-tetraol) (chất mới) 53
4.2.3 Hợp chất MW3: Menellsteroid G (24-methylcholest-24 (28)-ene- 3β,5α,6β,11β-tetraol) (chất mới) 54
4.2.4 Hợp chất MW4: Menellsteroid H (24-Norcholest-22(E)-ene-3β,5α,6β,11β-tetraol) (chất mới) 55
4.2.5 Hợp chất MW5: cholest-3β,5α,6β,11β-tetraol 56
4.2.6 Hợp chất MW6: Menellsteroid B (cholest-22-ene-3β,5α,6β,11β-tetraol) 58
4.2.7 Hợp chất MW7: (22E,24S)-24-methyl-5α-cholesta-7,22-diene- 3β,5α,6β, 9-tetraol 59
4.2.8 Hợp chất MW8: (1S,2R,8S,10R)-1,8-epoxy-2-hydroxy-guaian-3,5,7- trien-12,8-olide (chất mới) 61
4.2.9 Hợp chất MW9: (1R,2S,8S,10R)-1,2-dihydroxy-8-methoxy-guaian-3, 5,7-trien-12,8-olide (chất mới) 64
4.2.10 Hợp chất MW10: Menelloide F (chất mới) 67
4.2.11 Hợp chất MW11: Menelloide G (chất mới) 69
4.2.12 Hợp chất MW12: Menverin A 71
4.2.13 Hợp chất MW13: Menverin B 72
4.2.14 Hợp chất MW14: Menverin C 73
4.2.15 Hợp chất MW15: Menverin F 74
4.2.16 Hợp chất MW16: Menelloide B 76
4.2.17 Hợp chất MW17: 1S*,4S*,5S*,10R*-4,10-Guaianediol 77
4.3 Hoạt tính gây độc tế bào ung thƣ của các hợp chất phân lập đƣợc 80
4.4 Hoạt tính ức chế sản sinh ROS 80
Trang 8KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA LUẬN ÁN 83
TÓM TẮT LUẬN ÁN BẰNG TIẾNG ANH 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
H-1H COSY Correlation Spectroscopy
Phổ tương tác hai chiều
Trang 10Phổ khối phân giải cao ion hóa
phun mù điện tử
IC50 Inhibitory Concentration 50% Nồng độ ức chế tối thiểu 50%
Hz
KB Human epidermoid carcinoma Ung thư biểu mô
LNCaP
Human prostate adenocarcinoma Ung thư tiền liệt tuyến
LU-1
Human bronchogenic
MCF-7 Human breast adenocarcinoma Ung thư vú
Trang 11UV Ultraviolet Spectroscopy Phổ tử ngoại
Trang 12DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.1. Các loại thuốc điều trị ung thư đã được FDA chứng nhận thương
mại có nguồn gốc từ sinh vật biển 16
Bảng 1.2. Một số hợp chất tiềm năng cho trị liệu ung thư từ san hô mềm 16
Bảng 3.1. Kết quả xác định giá trị IC50 của mẫu MW 33
Bảng 3.2. Số liệu phổ NMR của hợp chất MW1 37
Bảng 3.3. Số liệu phổ NMR của hợp chất MW2 38
Bảng 3.4. Số liệu phổ NMR của hợp chất MW3 39
Bảng 3.5. Số liệu phổ NMR của hợp chất MW4 40
Bảng 3.6. Số liệu phổ NMR của hợp chất MW8 43
Bảng 3.7. Số liệu phổ NMR của hợp chất MW9 43
Bảng 3.8. Số liệu phổ NMR của hợp chất MW10 44
Bảng 3.9. Số liệu phổ NMR của hợp chất MW11 45
Bảng 3.10. Kết quả xác định giá trị IC50 của các hợp chất được lựa chọn 49 Bảng 4.1 Số liệu phổ NMR của hợp chất MW5 57
Bảng 4.2 Số liệu phổ NMR của hợp chất MW6 58
Bảng 4.3 Số liệu phổ NMR của hợp chất MW7 60
Bảng 4.4 Số liệu phổ NMR của hợp chất MW12 71
Bảng 4.5 Số liệu phổ NMR của hợp chất MW13 72
Bảng 4.6 Số liệu phổ NMR của hợp chất MW14 74
Bảng 4.7 Số liệu phổ NMR của hợp chất MW15 75
Bảng 4.8 Số liệu phổ NMR của hợp chất MW16 76
Bảng 4.9 Số liệu phổ NMR của hợp chất MW17 77
Trang 13DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Sơ đồ phả hệ của giống Menella 5
Hình 1.2 Các dạng tập đoàn san hô mềm chủ yếu 6
Hình 1.3 Cấu trúc hóa học của các hợp chất (1-8) 8
Hình 1.4 Cấu trúc hóa học của các hợp chất (9-17) 9
Hình 1.5 Cấu trúc hóa học của các hợp chất (18-23) 10
Hình 1.6 Cấu trúc hóa học của các hợp chất (24), (25) và (26) 10
Hình 1.7. Cấu trúc hóa học của các hợp chất (27), (28), (29), (30), (31), (32) 11
Hình 1.8 Cấu trúc hóa học của các hợp chất (33), (34), (35), (36), (37), (38) và (39) 11
Hình 1.9 Cấu trúc hóa học của các hợp chất (40-66) 12
Hình 1.10 Cấu trúc hóa học của các hợp chất (67-75) 13
Hình 1.11 Cấu trúc hợp chất cholest-1β,3β,5α,6β-tetrol (80) 15
Hình 1.12 Cấu trúc hóa học của các hợp chất (93-100) phân lập từ loài Cladiella sp. 18
Hình 1.13. Cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập từ loài Lobophytum sp và loài Lobophytum leavigatum 18
Hình 1.14. Cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập từ loài Sinularia leptoclados 19
Hình 1.15. Cấu trúc vi xương của loài Menella woodin 21
Hình 2.1. Mẫu san hô mềm Menella woodin thu thập ở quần đảo Cô Tô 22
Hình 2.2. Sơ đồ tạo dịch chiết thô và dịch chiết phân đoạn 24
Hình 3.1. Sơ đồ đồ phân bố san hô mềm ở quần đảo Cô Tô 31
Hình 3.2. Sơ đồ phân bố san hô mềm theo độ sâu tại cồn ngầm Bắc Hồng Vàn và dải đá ngầm Vàn Chảy ở Cô Tô 32
Hình 3.3. Mô tả loài Menella woodin 32
Hình 3.4. Sơ đồ chiết phân đoạn mẫu san hô mềm Menella woodin 34
Hình 3.5. Sơ đồ phân lập các hợp chất từ phân đoạn H3 35
Trang 14Hình 3.6. Sơ đồ phân lập các hợp chất từ phân đoạn H4 36
Hình 3.7. Mức độ biểu hiện của ROS trong đại thực bào được kích thích bởi LPS 50
Hình 4.1. Cấu trúc hóa học của hợp chất MW1 52
Hình 4.2. Các tương tác COSY (▬), HMBC ( ) và NOE ( ) chính của hợp chất MW1 52
Hình 4.3. Cấu trúc hóa học của hợp chất MW2 53
Hình 4.4 Các tương tác COSY (─), HMBC ( ) và NOE ( ) chính của hợp chất MW2 54
Hình 4.5. Cấu trúc hóa học của hợp chất MW3 54
Hình 4.6. Một số tương tác HMBC của hợp chất MW3 55
Hình 4.7. Cấu trúc hóa học của hợp chất MW4 55
Hình 4.8. Một số tương tác HMBC của hợp chất MW4 56
Hình 4.9. Cấu trúc hóa học của hợp chất MW5 56
Hình 4.10 Cấu trúc hóa học của hợp chất MW6 58
Hình 4.11. Cấu trúc hóa học của hợp chất MW7 59
Hình 4.12. Cấu trúc hóa học của hợp chất MW8 61
Hình 4.13. Các tương tác COSY (─), HMBC ( ) và NOE ( ) chính của hợp chất MW8 62
Hình 4.14. Phổ ECD thực tế của MW8 và tính toán lý thuyết của các dạng đồng phân 63
Hình 4.15. Cấu trúc hóa học của hợp chất MW9 65
Hình 4.16 Các tương tác COSY (─), HMBC ( ) và NOE ( ) chính của hợp chất MW9 65
Hình 4.17. Phổ ECD thực tế của MW9 và tính toán lý thuyết của các dạng đồng phân 66
Hình 4.18. Cấu trúc hóa học của hợp chất MW10 67
Hình 4.19. Các tương tác HMBC ( ) và NOE ( ) chính của MW10 68
Hình 4.20. Phổ CD của hợp chất MW10 69
Trang 15Hình 4.21. Cấu trúc hóa học của hợp chất MW11 69
Hình 4.22. Các tương tác COSY (─), HMBC ( ) và NOE ( ) chính của hợp chất MW11 70
Hình 4.23. Cấu trúc hóa học của hợp chất MW12 71
Hình 4.24. Cấu trúc hóa học của hợp chất MW13 72
Hình 4.25. Cấu trúc hóa học của hợp chất MW14 73
Hình 4.26. Các tương tác HMBC chính của hợp chất MW14 73
Hình 4.27. Cấu trúc hóa học của hợp chất MW15 74
Hình 4.28. Các tương tác HMBC chính của hợp chất MW15 75
Hình 4.29. Cấu trúc hóa học của hợp chất MW16 76
Hình 4.30. Các tương tác HMBC chính của hợp chất MW16 77
Hình 4.31. Cấu trúc hóa học của hợp chất MW17 77
Hình 4.32. Các tương tác HMBC chính của hợp chất MW17 78
Hình 4.33. Cấu trúc hóa học các hợp chất phân lập được từ loài Menella woodin 79
Trang 16ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư là một trong những căn bệnh nguy hiểm nhất trên toàn thế giới và là nguyên nhân phổ biển gây tử vong đứng thứ 2 sau tim mạch Nó được định nghĩa là một nhóm bệnh đặc trưng bởi sự phát triển không kiểm soát và lây lan của các tế bào bất thường Theo báo cáo của Hiệp hội ung thư Hoa kỳ có khoảng 1,7 triệu ca ung thư mới được chuẩn đoán năm 2016, trong đó có khoảng 600.000 người Mỹ chết vì ung thư Theo báo cáo mới nhất của Viện nghiên cứu phòng chống ung thư Việt Nam, mỗi năm số bệnh nhân mới mắc ung thư ở Việt Nam là 150.000 người, trong đó có 75.000 người tử vong, con số này có xu hướng tăng trong những năm tiếp theo Bởi vậy việc tìm kiếm thuốc đặc trị cũng như thuốc hỗ trợ điều trị và các tác nhân dự phòng hóa học là hết sức cần thiết và cấp bách
Các hợp chất tự nhiên đã được chứng minh là một nguồn nguyên liệu vô cùng tuyệt vời cho sự khám phá và phát triển các loại thuốc mới Từ dịch chiết của các loại vi sinh vật, thực vật và sinh vật biển, các nhà khoa học đã tìm thấy rất nhiều đặc tính dược lý quý giá Nhiều trong số đó đã được thử nghiệm lâm sàng trong điều trị các bệnh ở người và có thể phân loại thành nhóm các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên, bán tổng hợp hoặc tổng hợp toàn phần sử dụng trong thử nghiệm lâm sàng hoặc nghiên cứu các đặc tính dược lý mới Từ năm 1981 đến năm 2014, có tới 73% thuốc chống ung thư có mặt trên thị trường hiện nay có nguồn gốc thiên nhiên hoặc được tổng hợp theo mẫu hình cấu trúc của hợp chất tự nhiên Từ năm 1940 đến 2014 đã có 246 loại thuốc chống ung thư đã được phê duyệt và trong số này có
207 loại được thiết kế dựa trên những dạng có cấu trúc phân tử nhỏ, loại trừ các thuốc có kích thước phân tử lớn và vacxin Hơn nữa 77,3% (160 trong 207) những loại thuốc chống ung thư này có nguồn gốc từ tự nhiên, cho thấy rằng các hợp chất
tự nhiên là nguồn nguyên liệu đóng góp chính cho nghiên cứu các loại thuốc chống ung thư Ưu điểm của các hợp chất tự nhiên biển so với những phân tử tổng hợp là chúng được hình thành bên trong hệ thống sống và tạo ra phục vụ mục đích sinh tồn, bảo vệ cơ thể và lợi thế cạnh tranh trong hệ sinh thái của chúng, do đó các hợp chất này thể hiện hoạt tính dược lý thú vị Hơn nữa, các hợp chất này có cấu trúc
Trang 17hóa học rất độc đáo trong hầu hết các loại sinh vật biển, điều này cho thấy điều kiện sống khắc nghiệt trong môi trường biển có thể đã tạo nên những hợp chất này Cho tới nay, đã có gần 25.000 hợp chất đã được phân lập từ sinh vật biển và công bố khoa học, trong đó có hơn 10.000 có hoạt tính sinh học, các hoạt chất này có nguồn gốc từ hải miên, da gai, san hô mềm, động vật thân mềm Do vậy, sàng lọc tìm kiếm các hoạt chất có tác dụng diệt tế bào ung thư là bước đi đầu tiên nhưng là bắt buộc đối với quá trình phát triển thuốc mới Thông qua các bước sàng lọc hoạt tính sinh học có thể chọn ra những đối tượng có triển vọng để nghiên cứu tiếp theo (chiết
tách hoạt chất, nghiên cứu cấu trúc, các nghiên cứu in vitro, các nghiên cứu về độ
an toàn, cơ chế tác dụng dược lý…) lựa chọn được dược liệu và hoạt chất sạch cho những nghiên cứu lâm sàng sâu hơn, toàn diện hơn
Trong hơn 30 năm qua, các nghiên cứu về các hợp chất chuyển hóa thứ cấp
từ sinh vật biển đã được nghiên cứu rộng rãi, đã tìm ra rất nhiều hợp chất có cấu trúc và hoạt tính sinh học Cho đến nay đã có rất nhiều thuốc mới điều trị ung thư có nguồn gốc sinh vật biển đã được FDA Hoa Kỳ chứng nhận và bán trên thị trường do các hãng lớn trên thế giới cung cấp như thuốc điều trị ung thư có tên thương mại như Prialt®
(Ziconotide), Halaven® (Eribulin mesylate), Yondelis® (Trabectedin) Đại dương là nơi sinh sống của 34 trong 36 ngành sinh vật trên trái đất với hơn 300.000 loài động thực vật đã được biết đến Đây chính là nguồn cung cấp vô
số các sản phẩm tự nhiên quý giá từ các loài sinh vật biển như rong biển, ruột khoang, rêu biển, thân mềm, da gai và từ các loài vi khuẩn biển Việt Nam nằm trong khu vực biển Thái Bình Dương, sở hữu hơn 1 triệu km2 vùng biển Với bờ biển dài trên 3.260 km từ Bắc xuống Nam, đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, các quốc đảo và các lãnh thổ trên thế giới Kết quả thống kê đến nay đã thông báo có trên 12.000 loài động thực vật biển ở Việt Nam, trong đó có rất nhiều loài có độc tố hoặc có hoạt tính sinh học tốt Do vậy, hướng nghiên cứu các công nghệ chiết xuất, phân lập các hoạt chất theo định hướng hoạt tính sinh học từ các nguồn dược liệu biển có trữ lượng lớn như rong biển, hải sâm, san hô mềm được quan tâm đặc biệt Các nghiên cứu trước đây đã cho thấy, vùng biển nước ta là một trong số
Trang 18các vùng biển có hệ đa dạng sinh học phong phú nhất Đồng thời, san hô mềm có sự phân bố rất dồi dào và đa dạng, tuy nhiên cho tới nay, ở nước ta các công trình nghiên cứu các hợp chất thứ cấp từ các loài san hô mềm vẫn còn ở mức độ khiêm tốn
Do đó, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài trong khuôn khổ luận án Tiến sỹ:
“Nghiên cứu tìm kiếm các hoạt chất gây độc tế bào ung thƣ từ loài san hô mềm
Menella woodin ở vùng biển Cô Tô”
Mục tiêu nghiên cứu chính của đề tài luận án gồm:
- Đánh giá một số hoạt tính sinh học của dịch chiết tổng nhằm định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo
- Nghiên cứu tách chiết, xác định cấu trúc hóa học và hoạt tính gây độc tế bào
ung thư của một số hợp chất sạch phân lập được từ loài san hô mềm Menella
woodin thu thập ở vùng biển Cô Tô - Quảng Ninh
Trang 19CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đặc điểm chung về san hô mềm
1.1.1 Đặc điểm sinh học của san hô mềm
Vị trí phân loại bộ san hô mềm (Alcyonacea) trong hệ thống phân loại
San hô mềm thuộc giới động vật (Animalia), ngành ruột khoang (Cnidaria - Coenlenterata), lớp san hô (Anthozoa), phân lớp san hô tám ngăn (Octocorallia),
bộ Alcyonacea Bộ san hô mềm Alcyonacea có 34 họ, 307 giống, khoảng 3000 loài được mô tả, phân bố ở khắp các vùng biển trên thế giới, trong đó có 23 họ phân bố
ở vùng nước nhiệt đới (Fabricius K, 2001)
San hô mềm nằm trong lớp Anthozoa và được chia thành ba phân lớp, tùy theo số xúc tu (tua cảm) hoặc những đường đối xứng, và một loạt các bộ tương ứng với kiểu xương ngoài, loại tế bào châm và phân tích di truyền ti thể Phân lớp san hô
với 8 xúc tu được gọi là san hô tám ngăn (Octocorallia) bao gồm các bộ san hô mềm (Alcyonacea) phân bố phổ biến ở vùng biển Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, bộ san hô lam (Helioporacea), bộ san hô lông chim (Pennatulacea) (Hình
1.1) (Tursch B, 1976)
Những loài có nhiều số xúc tu lớn hơn 8 và là bội của 6 được gọi là phân lớp
san hô sáu ngăn (Hexacorallia), nhóm này bao gồm các loài san hô đá (san hô tạo rạn) (Scleractinia), và phân lớp hải quỳ (Ceriantharia) Giống Menella nằm trong
họ Plexauridae Giống Menella gồm 26 loài phân bố tập trung ở vùng biển Ấn Độ
Dương, Thái Bình Dương (Williams GC, 1992)
Cấu trúc tập đoàn san hô mềm: Tập đoàn san hô mềm: khởi đầu cá thể đầu
tiên mọc nhiều nhánh rỗng, trên đó hình thành các cá thể mới Tiếp theo tầng keo ở nách của các nhánh phát triển mạnh, liên kết cá thể con và cá thể mẹ thành một khối, trong khi hệ thống ống nối các khoang vị được hình thành cùng với sự liên kết các vi xương tạo thành một hệ thống chung của tập đoàn (Trần Thái Bái, 2004) Lớp ngoài của tập đoàn là các polip và lớp mô bảo vệ, lớp bên trong chứa các mô,
Trang 20khoang dạ dày, kênh nội bào, vi xương San hô mềm có có cấu tạo đơn giản, chúng liên kết các cá thể (polip) với nhau thành dạng tập đoàn
Hình 1.1 Sơ đồ phả hệ của giống Menella
Trang 21hô rất mềm Vì vậy chúng được gọi là san hô mềm khác hẳn với san hô cứng có bộ xương đá vôi cứng và vững chắc (Fabricius K, 2001)
Cấu tạo của một polip bao gồm một rãnh hầu, 1 vành với 8 tua miệng dạng lông chim và 8 vách ngăn tạo thành 8 khoang vị ứng với 8 tua miệng phía ngoài Ngăn cạnh rãnh hầu gọi là ngăn định hướng Hai gờ cơ của vách ngăn giới hạn ngăn này xếp hướng vào nhau ở mặt trong của ngăn Các gờ cơ ở trên vách ngăn còn lại được xếp theo hai hướng ngược nhau kể từ ngăn định hướng, theo kiểu đuổi nhau từ vách ngăn này sang vách ngăn tiếp theo Số lượng tua miệng và vách ngăn không thay đổi trong quá trình sinh trưởng (Trần Thái Bái, 2004)
Hình 1.2 Các dạng tập đoàn san hô mềm chủ yếu
A: dạng phiến bám; B: dạng phễu; C: dạng cây; D: dạng bụi
(Nguồn: Đậu Văn Thảo, 2014)
Hình thái tập đoàn: Trong khi hình thái của polip là khá đồng nhất ở các
loài trong san hô mềm thì hình thái của tập đoàn lại rất đa dạng, ngay kể cả trong một loài cũng có những sai khác tùy thuộc vào môi trường mà loài đó sinh sống Các hình dạng có thể chia thành các nhóm chính sau: dạng khảm nạm, dạng màng, dạng phiến gấp, dạng phễu, dạng khối, phân thùy, dạng ngón, dạng cây, dạng quạt, dạng bụi và trong thực tế có những dạng tập đoàn với hình dạng chuyển tiếp giữa các dạng trên (Hình 1.2)
1.1.2 Đặc điểm sinh sản
Sinh sản hữu tính: Phần lớn san hô mềm, cơ quan sinh sản đực và cái là
riêng biệt ở tập đoàn Tuy nhiên, có vài loài san hô mềm, như loài Heteroxenia và
Xenia là lưỡng tính, trong cơ thể trưởng thành chứa cả cơ quan sinh sản đực và cái
Trang 22San hô mềm sinh sản hữu tính theo ba hình thức: phát tán trứng và tinh trùng, ấu trùng san hô nở bên trong, ấu trùng nở bên ngoài (Fabricius K, 2001)
Sinh sản vô tính: Sinh sản vô tính tính thường chiếm ưu thế ở san hô mềm
Nó là quá trình phân chia, phân tách từ tập đoàn ban đầu hình thành tập đoàn mới
Một số tập đoàn san hô mềm bố mẹ phát triển theo kiểu thân bò tách dần so với vị trí ban đầu, khi chúng gắn vào nền đáy xa tập đoàn bố mẹ, chúng nhanh chóng phát triển và tái tạo thành tập đoàn độc lập có kích thước tương tự như tập đoàn san hô ban đầu (Fabricius K, 2001)
1.1.3 Đặc điểm phân bố
Các rạn san hô Việt Nam nằm trên vùng nước trong, nông, độ sâu tới 20 m, mặc dù không có các rạn san hô cực lớn nhưng các rạn san hô Việt Nam có đặc tính đa dạng cao, phong phú và có đặc tính khu vực về sinh thái rõ rệt, điều này chỉ
ra sự tồn tại của các phần dị dưỡng bên trong của các loài Vùng biển có độ đục cao, tầm nhìn tới 2 m độ sâu, rất ít loài san hô mềm và tảo cộng sinh, vùng này có
sự phân bố số ít của tập đoàn Briareum và Sinularia Ở vùng biển có độ trong từ 2
- 5 m, có sự phân bố của các loài Clavularia, Briareum, Sinularia, Sarcophyton và
Klyxum Vùng biển có độ trong 5 - 8m nước là vùng có mức độ phong phú san hô
mềm cao nhất (Fabricus KE, 2000)
1.2 Tình hình nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính gây độc tế bào
ung thƣ của giống Menella
1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
San hô mềm là một trong những động vật biển không xương sống quan trọng, đã là tâm điểm chú ý của các nhà hóa học trong những thập kỷ qua Một số lượng lớn các nghiên cứu công bố về các chất chuyển hóa thứ cấp đã phân lập được
từ các loài san hô mềm bao gồm sesquiterpenoid, diterpenoid, steroid và các glycoside, alkaloid và những hợp chất khác (Berrue F, 2009; Blunt JW, 2008; 2009; Zhang W, 2003) Nhiều trong số các hợp chất này thể hiện hoạt tính sinh học như chống ung thư, kháng khuẩn, sốt rét, hoạt tính chống bám dính (Chai XY, 2012; Zhang W, 2003)
Trang 23Giống Menella (họ Plexauridae) được cho là một trong những giống san hô
mềm phổ biến ở khu vực Biển Đông Đã có nhiều nghiên cứu về thành phần hóa
học và hoạt tính sinh học về các loài san hô mềm từ giống Menella, kết quả tìm thấy
nhiều hợp chất dạng guaiane sesquiterpenoids (Chai XY, 2010; Kao SY, 2011a; Kao SY, 2011b; 2011c; Li L, 2008; Sung PJ, 2012; Zhang W, 2004), polyhydroxylated steroid (Chai XY, 2011; Chai XY, 2010; Zhang W, 2006b), briarane diterpenoids (Chai XY, 2011; Chai XY, 2010) và một số hợp chất khác thuộc giống này (Deng SZ, 1997)
1.2.1.1 Lớp chất sesquiterpenoid
Năm 2004, Zhang và cộng sự công bố 04 hợp chất dạng guaiane lactone là
menverin A (1), menverin B (2), menverin C (3) và menverin D (4) từ loài Menella
verrucosa (Brundin) (Zhang W, 2004) Đây cũng là kết quả phân lập đầu tiên từ loài
san hô mềm này tại thời điểm đó Tất cả các hợp chất đều có dạng liên hợp methyl-substituted, α, β-unsaturated, γ-lactone moiety, C(8)=C(9) liên hợp với γ-lactone moiety, một nhóm exocyclic methylene ở vị trí C(4) Tiếp đó, năm 2008, Liang Li và các tác giả đã phân lập được 04 hợp chất sesquiterpenoid dạng guaiane
α-lactone là 1-epimenverin B (5), menverin F (6), 1-deoxymenverin F (7) và menverin
G (8) từ loài san hô mềm Menella sp thu thập từ vịnh Lingshui, tỉnh Hainan, Trung
Quốc Các hợp chất phân lập đều có dạng liên hợp α-methyl-substituted, α, unsaturated, γ-lactone moiety, γ-lactone moiety, một nhóm exocyclic methylene ở
Hình 1.3 Cấu trúc hóa học của các hợp chất (1 – 8)
(Nguồn: Zhang W, 2004; Li L, 2008)
Trang 24Năm 2011, từ các phân đoạn dịch chiết của loài Menella sp thu thập ở vùng
biển phía Nam Đài Loan đã phân lập được 08 hợp chất sesquiterpenoids bao gồm (–
)-hydroxylindestrenolide (9), gồm (+)-hydroxylindestrenolide (10) (Kao SY, 2011a), menelloides A–E (11-15) (Kao SY, 2011b; 2011c; Lee CH, 2012), (+) chloranthalactone B (16) (Kao SY, 2011b) và hợp chất seco-germacrane anhydride (17) (Sung PJ, 2012)
Cũng từ loài Menella sp., năm 2013, Guo Z và cộng sự đã phân lập và xác
định cấu trúc của bốn hợp chất sesquiterpenoid là subergorgic acid (18), subergorgic acid methyl ester (19), 2β-hydroxyl subergorgic acid methyl ester (20)
Hình 1.4 Cấu trúc hóa học của các hợp chất (9 - 17)
(Nguồn: Kao SY, 2011a; Kao SY, 2011b; Kao SY, 2011c; Lee CH, 2012;
Sung PJ, 2012)
Năm 2014, hợp chất menecubebane A (22) cũng được phân lập từ loài từ loài
Menella kanisa Grassoff thu thập tại Hainan, Trung Quốc (Chen M, 2014) Tiếp tục
nghiên cứu trên loài này, năm 2016, Qi Peng và cộng sự đã phân lập thêm 01 hợp
chất dạng sesquiterpenoids là menecubebane B (23) từ loài Menella sp thu thập tại
vùng đảo Leizhou, Trung Quốc (Peng Q, 2016)
Trang 25
(18) R=OH
(19) R=OCH3
Hình 1.5 Cấu trúc hóa học của các hợp chất (18 - 23)
(Nguồn: Guo Z, 2013; Chen M, 2014; Peng Q, 2016)
1.2.1.2 Lớp chất steroid
Năm 1997, hợp chất 3β-hydroxy-5α-pregnane-20-one (24) dạng steroid đầu
tiên phân lập từ loài san hô mềm Menella spinifera Kukenthal thu thập tại vùng biển
phía Nam Trung Quốc (Deng SZ, 1997) Tiếp đó, năm 2006, nhóm nghiên cứu của Zhang W và cộng sự đã phân lập được hai hợp chất dạng polyoxygenated steroid là
menellsteroid A (25) và menellsteroid B (26) (Zhang W, 2006b) từ loài Menella
verrucosa Brundin
(26) R = b Hình 1.6 Cấu trúc hóa học của các hợp chất (24), (25) và (26)
(Nguồn: Zhang W, 2006) Năm 2010, khảo sát thành phần hóa học trên loài Menella sp thu thập tại đảo
Meishan, tỉnh Hainan, Trung Quốc, Chai XY và các tác giả đã phân lập và xác định
cấu trúc hóa học được một tetrahydroxysteroid là menellsteroid C (27), một hợp
chất tự nhiên lần đầu tiên được phân lập 1β,3β,5α-trihy droxy-cholestan-6-one,
menellsteroid D (28) và 04 hợp chất dạng steroid cholestan-3β,5α,6β-triol (29), cholestan-1β,3β,5α,6β-tetrol (30), nephalsterol (31), cholestan-3β-5-en-6-one (32)
và hợp chất menellsteroid A (26) cũng được tìm thấy ở loài san hô mềm này (Chai
XY, 2010)
Trang 26
(27) R = α-OH (28) R= β-OH
(29) R= H (30) R = β-OH
(31) (32) Hình 1.7 Cấu trúc hóa học của các hợp chất (27), (28), (29), (30), (31) và (32)
(Nguồn: Chai XY, 2010)
(Nguồn: Chai XY, 2011)
Tiếp tục nghiên cứu thành phần hóa học trên loài Menella sp đã phân lập
được 07 hợp chất dạng pregnane steroid, 3α-hydroxy-5β-pregnan-20-one (33), hydroxy-5α-pregnan-20-one (34), 3β-hydroxy-pregnan-5-en-20-one (35), 5β- pregnan-3,20-dione (36), 5α-pregnan-3,20-dione (37), pregnan-4-en-3,20-dione (38)
3β-và pregnan-1,4-dien-3,20-one (39), trong đó hợp chất steroid (39) lần đầu tiên được
phân lập và báo cáo dữ liệu phổ NMR (Chai XY, 2011)
Trang 27Tây, Trung Quốc Wang và các tác giả đã tiến hành khảo sát thành phần hóa học, kết quả phân lập được 27 hợp chất dạng polyhydrosterol trong đó có 14 chất mới và
13 chất đã biết cấu trúc, cụ thể 14 chất mới là (23E)-25
hydroperoxycholest-23-ene-3β,5α,6β-triol (40); Cholest-24-ene-1β,3β,5α,6β-tetrol (41); 24(28) en-6-one (42); (22E)-3β,5α-dihydroxy-24-norcholest-22-en-6-one (43);
3β,5α-dihydroxyergost-(24S,22E) 3β,5α dihydroxyergost-22-en-6-one (44); (24R,22E)-3β,5α
dihydroxyergost-22-en-6 one (45); 1β,3β-dihydroxycholestan-6-one (46); 1β,3β,5α-trihydroxycholest 22-en-6-one (47); 1β,3β,5α-trihydroxycholest-24-en-6-
Trang 28(22E)-one (48); 1β,3β,5α trihydroxyergost-24(28)-en-6-(22E)-one (49); trihydroxy-24-norcholest-22 en-6-one (50); (22E)-3β,5α,6β-trihydroxycholest-22-
(22E)-1β,3β,5α-en-1-one (51); 3β,5α,6β trihydroxycholest-24-en-1-one (52); trihydroxyergost-24(28)-en-1-one (53) và 13 chất đã biết cấu trúc (54-66) đã được
3β,5α,6β-phân lập từ các loài khác, tuy nhiên đây là những hợp chất polyhydrosterol lần đầu
tiên được phân lập từ loài Menella kanisa (Wang P, 2013)
1.2.1.3 Một số chất khác
Từ năm 1993-1997, nghiên cứu thành phần hóa học trên loài san hô mềm
Menella spinifera Kukenthal thu thập tại vùng biển phía Nam Trung Quốc, kết quả
đã phân lập được 06 hợp chất đã biết bao gồm batyl alcohol (67) (Deng SZ, 1997;
Deng SZ, 1993), picolinic acid N-methyl betaine (68) (Deng SZ, 1993; Li F, 1996),
n-hexadecanol (69), 9H-purin-6-amino-N-9-dimethyl (70) và thymidine (71) (Deng
SZ, 1997) Năm 2010, từ loài Menella sp thu thập tại đảo Meishan, tỉnh Hainan,
Trung Quốc, ngoài việc phân lập được các hợp chất steroid, nhóm tác giả còn phân
lập và xác định được một số hợp chất khác như menellin A (72) (Chai XY, 2010)
Hai hợp chất diterpenoids lần đầu tiên được phân lập từ loài Menella sp là
junceellolides B (73) (Chai XY, 2010), junceellolides D (74)
Hình 1.10 Cấu trúc hóa học của các hợp chất (67 - 75)
(Nguồn: Deng SZ, 1997; Chai XY, 2010; Gao C, 2014) Năm 2014, từ loài Menella kanisa phân lập 4 hợp chất dạng diketopiperazine
(75-78), trong đó menazepine A (75) là hợp chất mới và 3 hợp chất đã biết là xyclo
Trang 29(4 hydroxyprolylleucyl) (76), xyclo (Pro-Leu) (77) và xyclo (4
hydroxyprolylphenylalanyl) (78) (Gao C, 2014) Mới đây, năm 2018, một hợp chất
mới là dẫn chất của naphthalene (79) được phân lập từ loài Menella kanisa (Yang
H, 2018)
1.2.1.4 Các nghiên cứu về hoạt tính gây độc tế bào ung thư
Năm 2011, từ phân đoạn dịch chiết của loài san hô mềm Menella verrucosa
(Brundin) phân lập được hợp chất sesquiterpenoids là (-)-hydroxylindestrenolide (9) (Kao SY, 2011a), hợp chất (9) thể hiện hoạt tính gây độc tế bào trên dòng tế bào
ung thư ở người HL-60 và K562 với giá trị IC50 tương ứng là 15,6 µg/ml và 38,7 µg/ml, trên dòng tế bào ung thư tiền liệt tuyến ở người DU-145 ở mức yếu với giá trị IC50 > 40 µg/ml
Năm 2014, hợp chất menecubebane A (20) (Chen M, 2014) từ loài Menella
kanisa Grassoff và hợp chất dạng sesquiterpenoids (21) (Peng Q, 2016) từ loài Menella sp cũng được phân lập Cả 2 hợp chất (20) và (21) đều thể hiện hoạt tính
gây độc tế bào trên hai dòng tế bào ung thư thực quản Eca9706 và tế bào ung thư tử
cung HeLa ở người Trong đó hợp chất (21) thể hiện hoạt tính mạnh hơn trên cả 2
dòng tế bào ung thư với giá trị IC50 tương tứng là 20,8 µM (Eca9706) và 30,6 µM
(HeLa) Hợp chất (20) thể hiện hoạt tính yếu hơn trên cả 2 dòng tế bào này Tuy
nhiên, những hợp chất này vẫn chưa có những công trình nghiên cứu đánh giá sâu hơn về mặt cơ chế tác động trên các dòng tế bào ung thư
1.2.1.5 Cơ chế tác động sinh học của một số chất có cấu trúc hóa học tương tự các chất phân lập từ giống Menella
Các hợp chất phân lập từ san hô mềm có nhiều hoạt tính sinh học, có tiềm năng trong việc phát triển thuốc mới từ tự nhiên trong hỗ trợ điều trị ung thư, tuy
nhiên cơ chế tác dụng của các dịch chiết và chất tinh khiết từ giống Menella vẫn
chưa được nghiên cứu nhiều, một số hợp chất có cấu trúc hóa học tương tự được phân lập từ các loài san hô mềm khác đã được nghiên cứu cơ chế tác dụng gây độc
tế bào trên một số dòng tế bào ung thư người Trong số đó, steroid là một trong những lớp chất chuyển hóa thứ cấp đại diện phân lập từ các loài san hô mềm (Blunt
Trang 30JW, 2012; Zhang W, 2006a) Những hợp chất này đã có những công bố khoa học chỉ ra rằng chúng có nhiều hoạt tính sinh học như kháng khuẩn, kháng viêm, gây độc tế bào Đặc biệt, nhóm hợp chất này luôn thể hiện hoạt tính gây độc tế bào trong
điều kiện thử nghiệm in vitro trong những nghiên cứu trước đó, ức chế sự phát triển
của một loạt các dòng tế bào ung thư người ở nồng độ khác nhau bao gồm tế bào ung thư mũi họng (KB), tế bào khối u ác tính (Mel-28), ung thư phổi (A549 và NCI); ung thư đại tràng (HT-29), ung thư biểu mô gan người (HepG2 và Hep3B); ung thư vú (MCF-7 và MDA-MB-231); ung thư bạch cầu P-388 (Blunt JW, 2012; Zhang W, 2006a)
Một trong số 19 hợp chất polyhydroxysterol từ loài san hô mềm thuộc giống
Muriceopsis thu thập ở vùng biển Quảng Tây, Trung Quốc thể hiện hoạt tính rất tốt
trên 2 dòng tế bào ung thư phổi (A549) với giá trị IC50 = 4,2 ± 1,5 và u xương ác tính (MG63) với giá trị IC50 = 4,3 ± 1,3 là hợp chất cholest-1β,3β,5α,6β-tetrol (80),
đặc biệt hợp chất này thể hiện hoạt tính tương tự như chất đối chứng dương adriamycin (IC50 = 2,8 µM đối với A549 và IC50 = 3,4 µM đối với MG63) Tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về cơ chế phân tử ức chế tăng sinh, ức chế phát triển cho thấy, hợp chất này có thể gây ra apoptosis trên dòng tế bào ung thư phổi (A549) (Liu TF, 2013)
Trang 31Bảng 1.1 Các loại thuốc điều trị ung thư đã được FDA chứng nhận thương
mại có nguồn gốc từ sinh vật biển
mại
Năm chứng nhận
Điều trị
Cytarabine Nucleoside Cytosar-U® FDA 1969 Chống ung thư Ziconotide Peptide Prialt® FDA 2004 Chống ung thư Trabectedin Tetrahydrois
oquinoline alkaloid
Yondelis® EMEA 2007 Chống ung thư
Eribulin
mesylate
Macrocylic keton
Halaven® FDA 2010 Chống ung thư
Brentuximab
vedotin
Antibody drug conjugate
Adcetris® FDA 2011 Chống ung thư
di căn chuột, tế bào ung thư
vú MDAMB-231 di căn cao,
tế bào ung thư tuyến tiền liệt PC-3 ở người
Pachycladins
A, D
Cladiella pachyclados
Ức chế di căn tế bào ung thư tuyến tiền liệt PC-3
Sinulariolide Cembranoid
diterpene
Sinularia flexibili
Ức chế dự di cư và xâm lấn của tế bào ung thư biểu mô gan người HA22T
Sinuleptolide Cembranoid
diterpene
Sinularia leptoclados
Ức chế tăng sinh tế bào ung thư nướu răng miệng Ca99-2 (apotosis)
Sinulodurin
A, B
Diterpenoid Sinularia dura Ức chế dự xâm lấn của tế
bào ung thư tuyến tiền liệt PC-3M-CT+ di căn ở mức cao
(Nguồn: Chang YT, 2016; Mudit M, 2016; Rocha J, 2011; Wu YJ, 2015)
Trang 32Trong hơn 30 năm qua, kết quả đã có rất nhiều nghiên cứu về sinh vật biển, phát hiện được nhiều hợp chất thứ cấp có cấu trúc và hoạt tính sinh học cao Cho tới nay, đã có 5 loại thuốc được đưa vào thương mại hóa (Bảng 1.1) và chúng đều có nguồn gốc từ sinh vật biển (Kondracki B, 2014; Newman DJ, 2016), phát hiện từ hải miên, ốc biển, nhuyễn thể, rong biển đỏ (Mudit M, 2016)
Hiện có khoảng 20 hợp chất chọn lọc từ sinh vật biển vẫn đang trong quá trình nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ở pha I, II hoặc III (Bảng 1.2) (Chang YT, 2016; Mudit M, 2016; Gerwick WH, 2012; Kondracki B, 2014; Rocha J, 2011; Wu
YJ, 2015) Điều này cho thấy nghiên cứu phát triển các thuốc hỗ trợ điều trị ung thư
có nguồn gốc từ sinh vật biển là vô cùng tiềm năng và hứa hẹn nhiều kết quả tốt
1.2.2 Tình hình nghiên cứu về một số loài san hô mềm ở Việt Nam
Trong hơn 10 năm trở lại đây, ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên
cứu về san hô mềm, chủ yếu tập trung vào các loài thuộc giống Cladiella,
Lobophytum, Sanularia, Sarcophyton nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu trên
giống Menella Cụ thể ở một số công trình sau :
Năm 2007, Châu Văn Minh cùng các công sự đã nghiên cứu thành phần hóa
học của loài san hô mềm Cladiella sp tại Việt Nam và kết quả đã phân lập được 8
hợp chất (93-100) Hợp chất (93) chỉ có hoạt tính gây độc tế bào đối với dòng KB
với IC50 = 4,43 µg/ml, (94) và (95) thể hiện hoạt tính trên cả 3 dòng tế bào thử nghiệm, 95 thể hiện hoạt tính trên 2 dòng tế bào KB và Hep-G2 với giá trị IC50 =
3,37 và 4,72 µg/ml Một điều đáng chú ý là hợp chất (94) là một hợp chất mới, thể
hiện hoạt tính gây độc trên cả 3 dòng tế bào thử nghiệm và được phân lập với hàm
lượng tương đối cao từ loài san hô mềm Cladiella sp (Chau VM, 2007)
Năm 2010, Nguyễn Hữu Tùng và đồng tác giả cũng đã phân lập được các cembranoit (1S,2S,3E,7E,11E)-3,7,11,15-cembratetraen-17,2-olide (101),
lobohedleolide (102) và lobocrassolide (103) từ loài san hô mềm Lobophytum sp
Ba hợp chất này thể hiện hoạt tính gây độc tế bào trên hai dòng tế bào ung thư người được thử nghiệm là A-549 (ung thư phổi) và HT-29 (ung thư ruột) với giá trị
IC50 từ 1,8 đến 42,6 µM (Nguyen HT, 2010)
Trang 33Hình 1.12 Cấu trúc hóa học của các hợp chất 93-100 phân lập từ loài Cladiella sp
Hình 1.13 Cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập từ loài Lobophytum sp và
loài Lobophytum leavigatum (Nguồn: Nguyen HT, 2010; Tran HQ, 2011)
Trang 34Một nghiên cứu khác, từ dịch chiết MeOH trên loài san hô mềm Lobophytum
leavigatum, Trần Hồng Quang và đồng tác giả đã phân lập được 6 hợp chất
(104-109) trong đó có 1 hợp chất mới lobophytosterol (104) Đánh giá hoạt tính cho thấy
hợp chất (104) thể hiện hoạt tính gây độc tế bào mạnh trên 3 dòng tế bào ung thư
được thử nghiệm là A549 (phổi), HCT-116 (ruột) và HL-60 (máu) với giá trị IC50
tương ứng là 4,5; 3,2 và 5,6 µM Kết quả nghiên cứu tiếp theo cho thấy hoạt tính
của hợp chất (104) có thể do cơ chế kích thích apoptosis của các tế bào trên (Tran
Gần đây năm 2017, Ninh Thị Ngọc và đồng tác giả thuộc Viện Hóa sinh biển –
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã phân lập và xác định cấu trúc
hóa học được 15 hợp chất steroid (110-124) trong đó có 2 chất mới là leptosteroid
(110) và 5,6β-epoxygorgosterol (117) từ loài san hô mềm Sinularia leptoclados thu
thập ở vùng biển Việt Nam Đánh giá tác dụng gây độc tế bào của chúng đối với
Trang 35tám dòng tế bào ung thư ở người cho thấy đối với hợp chất eptosteroid (110) thể
hiện độc tính gây độc tế bào đối với dòng tế bào ung thư gan (HepG2, IC50 = 21,13
± 0,07 µM) và ung thư đại trực tràng (SW480, IC50 = 28,65 ± 1,53µM) Còn đối với
ergost-5-en-3β, 7β-diol (117) ức chế dòng tế bào bệnh bạch cầu cấp tính (HL-60,
IC50 = 20,53 ± 2,26 µM ) và SW480 (IC50 = 26,61 ± 1,59µM) Ngoài ra, hợp chất
3β, 7β-dihydroxyergosta-5,24 (28)-diene (121) thể hiện hoạt tính gây độc tế bào
đáng kể trên tất cả các dòng tế bào được thử nghiệm với các giá trị IC50 dao động từ 13,45 ± 1,81 đến 29,01 ± 3,21µM (Ninh TN, 2017)
Tóm lại, có thể nhận thấy rằng các loài san hô mềm là nguồn dược liệu dồi dào, đa dạng và đáng quý bởi chúng chứa rất nhiều hợp chất thể hiện hoạt tính như tác dụng gây độc tế bào, hoạt tính chống ung thư và kháng viêm v.v Tuy nhiên, việc nghiên cứu thành phần hoá học và hoạt tính sinh học của các loài san hô mềm
ở nước ta vẫn còn hạn chế, mới chỉ thấy tập trung vào một số loài thuộc giống
Lobophytum, Sinularia và Sarcophyton Do đó, việc nghiên cứu hoá học và hoạt
tính gây độc tế bào ung thư của loài san hô mềm Menella woodin thuộc giống
Menella thu thập ở vùng biển Đông Bắc Việt Nam không chỉ làm sáng tỏ thêm
thành phần hoá học của các loài này, mà còn tìm ra những hợp chất có hoạt tính sinh học đáng quý góp phần vào việc tìm kiếm các dược chất có giá trị, đặc biệt là
có khả năng ứng dụng cao trong việc điều trị các bệnh như ung thư, kháng viêm, tiểu đường v.v từ nguồn dược liệu biển
1.3 Giới thiệu về loài san hô mềm Menella woodin
Hệ thống phân loại: Ngành: Cnidaria, Lớp: Anthozoa, Bộ: Alcyonacea, Họ:
Pleuxauridae, Giống: Menella, Loài: Menella woodin Grasshoff, 1999
Khu vực phân bố: Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, Biển Đông, Vịnh Bắc
Bộ Tại vùng biển quần đảo Cô Tô, theo các nghiên cứu trước đây của WWF (1994)
và đợt khảo sát năm 2014
Mô tả: Tập đoàn dạng cây bụi, cao tới 80 cm, với các cành dài, mọc lên trên
phân nhánh gần gốc, tạo thành bụi, đường kính nhánh từ 3 - 4 mm Polip phân bố trên thân và nhánh
Trang 36Vi xương ở lớp bề mặt thân và nhánh có nhiều dạng không đều, dạng có lá phần đầu, ở mép thuôn mịn Vi xương của các lớp bên trong có các dạng không đều vài trong số chúng có từ ba, bốn hoặc năm tia Mỗi đế xúc tu có từ ba đến bốn vi xương nằm ngang và bốn đến sáu vi xương nằm dọc Vi xương có chiều dài 0,01-0,05 mm Có màu đỏ tươi, tua không màu (Grasshoff M, 1999)
Hình 1.15 Cấu trúc vi xương của loài Menella woodin
(Nguồn: Grasshoff M, 1999)
Cho tới thời điểm năm 2019, dựa trên những tài liệu thu thập trên thế giới thì chúng tôi vẫn chưa tìm thêm được những nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt
tính gây độc tế bào của các hợp chất phân lập từ loài san hô mềm Menella woodin
Do vậy, đây có thể coi là cơ sở để chúng tôi tiến hành lựa chọn mẫu và tiến hành nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của các hợp chất phân lập từ loài này tạo cơ sở dữ liệu cho các nghiên cứu tiếp theo trên loài san hô mềm này
Trang 37CHƯƠNG 2:
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vật liệu nghiên cứu
Mẫu san hô mềm Menella woodin Grasshoff 1999 thuộc họ Plexauridae và
mẫu được thu thập tại quần đảo Cô Tô, Quảng Ninh khu vực Bắc Hồng Vàn, Nam Hồng Vàn và Vàn Chảy vào tháng 4 năm 2014
Mẫu san hô mềm được GS TS Đỗ Công Thung và các cộng sự, Viện Tài nguyên và Môi trường Biển, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam xác định tên khoa học (Hình 2.1)
Mẫu tiêu bản được lưu giữ tại Viện Hoá sinh biển, Viện Hàn lâm Khoa học
và Công nghệ Việt Nam
Hình 2.1 Mẫu san hô mềm Menella woodin Grasshoff 1999 thu thập ở vùng biển
quần đảo Cô Tô, 04/2014
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp xử lý mẫu, tạo dịch chiết
Trang 38bằng cách để trên bệ rửa thí nghiệm, cho nước sạch chảy đều trên bề mặt của mẫu nghiên cứu, các lớp đá bao quang mẫu san hô mềm được tan từ từ để lộ phần thân của mẫu san hô mềm Mẫu được ngâm trong nước lạnh trong thời gian từ 2-3 tiếng nhằm loại bỏ từ từ hàm lượng muối vô cơ
- Sau khi mẫu san hô mềm đã được rã đông, loại bỏ các phần túi nylon và
các thành phần sinh vật biển khác bám trên bề mặt của mẫu san hô mềm Lưu lại tiêu bản mẫu, để mẫu sinh vật biển lên mặt bàn thí nghiệm và chụp ảnh để lưu phần mẫu trước khi xử lý
- Sau khi mẫu san hô mềm đã được loại bỏ các thành phần nilon và các
thành phần khác, mẫu được để trên túi lưới ở nhiệt độ phòng cho đến khi khô hết bề mặt của phần thân mẫu san hô mềm Mẫu được cân để thu được khối lượng thực tế trước khi tiến hành xử lý
- Mẫu được cắt nhỏ thành từ phiến, chiều rộng và dài của phiến tùy
theo độ cứng của mẫu san hô mềm Các phiến càng mỏng thì khả năng làm khô mẫu
và say mẫu càng thuận lợi
- Sấy và làm khô các mẫu san hô mềm Các mẫu san hô mềm sau khi đã
được cắt thành các phiến nhỏ được chuyển vào túi lưới và tiến hành làm khô sơ bộ bằng phương pháp sấy khô trên thiết bị tủ sấy chân không hoặc phơi dưới điều kiện ánh sáng mặt trời (có tránh tia tử ngoại) Trong quá trình sấy mẫu này, khối lượng mẫu san hô mềm giảm xuống rất nhanh
- Làm khô mẫu trên thiết bị đông khô
- Nghiền mẫu thành bột mịn bằng thiết bị nghiền mẫu
2.2.1.2 Phương pháp chiết mẫu
Phương pháp chiết mẫu thực hiện tại Viện Hóa sinh biển, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Hình 2.2)
- Chuẩn bị mẫu thử: Từ mẫu tươi san hô mềm Menella woodin (ký hiệu MW)
(5 kg mẫu tươi) đã tiến hành xử lý mẫu tươi, được làm khô, tạo bột mịn và loại cơ
bản thành phần muối vô cơ thu được 1kg bột khô mẫu san hô mềm
Trang 39Hình 2.2 Sơ đồ tạo dịch chiết thô và dịch chiết phân đoạn
- Toàn bộ mẫy bột khô được ngâm chiết ba lần với MeOH ở nhiệt độ phòng
- Toàn bộ bình dịch chiết được lắc đều cho dung môi thấm đều trên bột san
hô mềm và để lắng qua đêm
- Lọc mẫu, phần dịch lọc được cất loại dung môi trên thiết bị cất loại dung môi áp suất giảm thu được dịch chiết thô
- Sử dụng sắc ký bảng mỏng TLC và hệ dung môi CHCl3: MeOH với tỷ lệ thích hợp để đánh giá các mẫu thô thu được
- Cân một lượng nhỏ cỡ 100 mg cho 02 mẫu cặn chiết thô san hô mềm, 01 lọ mẫu thử cho việc thử nghiệm hoạt tính gây độc tế bào, 01 lọ để lưu mẫu dịch chiết phục vụ công tác thử nghiệm các hoạt tính khác sau này
- Lượng dịch chiết thô còn lại pha loãng bằng nước rồi chiết phân bố lại lần
lượt với các dung môi n-hexane, chloroform, ethyl acetate Các cặn chiết được làm
khô và cất loại dung môi dưới áp suất giảm để thu được các cặn chiết tương ứng là
Bột khô san hô mềm (1kg)
- Lọc, cất loại dung môi
- Thu hồi dung môi, chiết lặp lại
- Cân tổng lượng dịch chiết
- Lấy lượng mẫu nhỏ 100 mg cho vào 2 lọ
Mẫu thử nghiệm hoạt
tính gây độc tế bào
Mẫu lưu trữ phục vụ các nghiên cứu tiếp theo về hoạt tính sinh
Trang 40cặn chiết n-hexane, cặn chiết dichloroform, cặn chiết ethyl acetate và cặn chiết
nước
2.2.2 Phương pháp phân lập và xác định cấu trúc hóa học
2.2.2.1 Phương pháp phân lập chất
Sắc ký lớp mỏng (TLC): Sắc ký lớp mỏng được thực hiện trên bản mỏng
tráng sẵn DC-Alufolien 60 F254 (Merck 1,05715), RP18 F254s (Merck) Phát hiện chất bằng đèn tử ngoại ở hai bước sóng 254 nm và 368 nm hoặc dùng thuốc thử là dung dịch H2SO4 10% được phun đều lên bản mỏng, sấy khô rồi hơ nóng trên bếp điện từ
từ đến khi hiện màu
Sắc ký lớp mỏng điều chế: Sắc ký lớp mỏng điều chế thực hiện trên bản
mỏng tráng sẵn Silica gel 60G F254 (Merck, ký hiệu 105875), phát hiện vệt chất bằng đèn tử ngoại hai bước sóng 254 nm và 368 nm, hoặc cắt rìa bản mỏng để phun thuốc thử là dung dịch H2SO4 10%, hơ nóng để phát hiện vệt chất, ghép lại bản mỏng như cũ để xác định vùng chất, sau đó cạo lớp Silica gel có chất, giải hấp phụ bằng dung môi thích hợp
Sắc ký cột (CC): Sắc ký cột được tiến hành với chất hấp phụ là Silica gel pha
thường, pha đảo và Sephadex LH-20 Silica gel pha thường có cỡ hạt là 0,040-0,063
mm (240-430 mesh) Silica gel pha đảo ODS hoặc YMC (30-50 m, FuJisilisa Chemical Ltd.)
Hệ thống sắc ký lỏng trung áp (MPLC): Hệ thống bao gồm Detector UV-vis
bước sóng từ 200-900 nm, bộ lấy mẫu tự đồng (fraction collector) kèm theo với các dãy ống nghiệm kích thước thay đổi tùy theo lượng mẫu, hệ thống bơm (pump) với khả năng điều chỉnh áp từ 1 đến 10 bar, tốc độ dòng từ 1 ml/phút đến 200 ml/phút; Cột tách SNAP loại C8, C18 với dung lượng từ 100 g đến 450g mẫu đầu vào tại Viện Hóa sinh biển, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Hệ thống sắc ký lỏng điều chế (Preparative HPLC-Agilent 1100 series): Bao
gồm: Bơm dung môi điều chế (G1310A - Isocratic pump); Bơm mẫu bằng tay (G1328A - Manual injector); Buồng ổn nhiệt và quản lý cột (Thermostatted Column Compartment - G1316A); Detector (G1362A - differential refractometer); Cột điều chế pha thường (Ultraphere-Si Backman, 4.6 x 250 mm, 5µm); Cột điều chế pha