1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế và sử dụng học liệu điện tử trong dạy học lịch sử lớp 10 ở trường trung học phổ thông

270 151 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 270
Dung lượng 13,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vận dụng song song hai hình thức dạy học: dạy học trực tiếp và dạy học kết hợp trong dạy học nói chung và DHLS nói riêng sẽ là hướng đi mới phù hợp với thực tế và yêu cầu đổi mới giáo dụ

Trang 1

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:

1 TS NGUYỄN THỊ BÍCH 2 TS HOÀNG THANH TÚ

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án chưa từng

được tác giả nào công bố trong bất cứ công trình nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả

Ninh Thị Hạnh

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 3

4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4

5 Giả thuyết khoa học 5

6 Đóng góp của đề tài 5

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5

8 Cấu trúc của luận án 5

Chương 1: TỔNG QUAN NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 6

1.1 Các công trình nghiên cứu về học liệu điện tử và sử dụng học liệu điện tử trong dạy học 6

1.1.1 Ở nước ngoài 6

1.1.2 Ở Việt Nam 15

1.2 Các công trình nghiên cứu về học liệu điện tử và sử dụng học liệu điện tử trong dạy học lịch sử 18

1.2.1 Ở nước ngoài 18

1.2.2 Ở Việt Nam 22

1.3 Nhận xét chung, những vấn đề luận án kế thừa và tiếp tục giải quyết 26

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 27

Chương 2: VẤN ĐỀ THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG – LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 29

2.1 Cơ sở lý luận 29

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài 29

2.1.2 Đặc trưng và phân loại học liệu điện tử trong dạy học lịch sử ở trường THPT 32

2.1.3 Cơ sở xuất phát của vấn đề thiết kế và sử dụng học liệu điện tử trong dạy học lịch sử ở trường THPT 35

2.1.4 Vai trò, ý nghĩa của việc thiết kế và sử dụng học liệu điện tử trong dạy học lịch sử ở trường THPT 41

2.1.5 Các hình thức tổ chức dạy học sử dụng học liệu điện tử phổ biến hiện nay 49

2.2 Cơ sở thực tiễn 53

Trang 4

2.2.1 Thực tiễn việc thiết kế và sử dụng học liệu điện tử ở một số quốc gia

trên thế giới 53

2.2.2 Thực trạng việc thiết kế và sử dụng học liệu điện tử trong dạy học lịch sử ở trường THPT của Việt Nam 57

2.2.3 Đánh giá chung về thực trạng 63

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 65

Chương 3: THIẾT KẾ HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ LỚP 10 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 66

3.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung chương trình Lịch sử lớp 10 66

3.1.1 Vị trí, mục tiêu chương trình Lịch sử lớp 10 66

3.1.2 Nội dung chương trình Lịch sử lớp 10 69

3.2 Nội dung Lịch sử lớp 10 có thể khai thác để thiết kế học liệu điện tử 72

3.3 Một số yêu cầu có tính nguyên tắc khi thiết kế học liệu điện tử trong dạy học Lịch sử ở trường THPT 74

3.3.1 Đảm bảo tính khoa học 74

3.3.2 Đảm bảo tính hệ thống 75

3.3.3 Đảm bảo tính tương tác và tính đa phương tiện 76

3.3.4 Đảm bảo yêu cầu về mặt kĩ thuật và tính mỹ thuật 77

3.4 Quy trình thiết kế học liệu điện tử trong dạy học Lịch sử lớp 10 ở trường THPT 77

3.5 Giới thiệu trang web học tập: LỊCH SỬ LỚP 10 (https://1095397.site123.me/) 95

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 101

Chương 4: SỬ DỤNG HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ LỚP 10 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG - THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 102

4.1 Một số yêu cầu khi sử dụng học liệu điện tử trong môn Lịch sử ở trường THPT 102

4.1.1 Đảm bảo yêu cầu an toàn 102

4.1.2 Đảm bảo yêu cầu 3Đ 102

4.1.3 Đảm bảo tính hiệu quả 103

4.1.4 Đảm bảo tính thực tiễn 104

4.2 Quy trình sử dụng học liệu điện tử trong dạy học Lịch sử lớp 10 ở trường THPT 105

4.3 Biện pháp sử dụng học liệu điện tử trong dạy học Lịch sử lớp 10 ở trường THPT 114

4.3.1 Sử dụng hiệu quả học liệu điện tử theo hình thức dạy học trực tiếp 114

Trang 5

4.3.1.1 Sử dụng HLĐT để tạo tình huống học tập và nêu nhiệm vụ nhận thức 115

4.3.1.2 Tổ chức HS khai thác HLĐT để cụ thể hóa sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sử 116

4.3.1.3 Hướng dẫn HS trao đổi, phân tích HLĐT để rút ra kết luận 117

4.3.1.4 Hướng dẫn HS sử dụng HLĐT để luyện tập, củng cố kiến thức đã học 119

4.3.1.5 Hướng dẫn HS sử dụng HLĐT chuẩn bị bài ở nhà 121

4.3.1.6 Hướng dẫn HS sử dụng HLĐT hỗ trợ kiểm tra, đánh giá kết quả học tập 123

4.3.2 Sử dụng linh hoạt học liệu điện tử theo hình thức dạy học kết hợp 124

4.3.2.1 Giới thiệu HLĐT và nêu phương pháp, nhiệm vụ học tập 124

4.3.2.2 Hướng dẫn HS tự nghiên cứu HLĐT để lĩnh hội kiến thức và giải quyết các nhiệm vụ học tập 125

4.3.2.3 Tổ chức hoạt động tương tác để báo cáo sản phẩm đã thiết kế 128

4.3.2.4 Hướng dẫn HS dựa vào thông tin của HLĐT để tự kiểm tra đánh giá hoạt động nhận thức 129

4.4 Thực nghiệm sư phạm 131

4.4.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm 131

4.4.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 132

4.4.3 Nội dung, phương pháp thực nghiệm 133

4.4.4 Tiến trình thực nghiệm 134

4.4.5 Kết quả thực nghiệm 135

TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 146

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 147

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Tổng hợp kết quả điều tra GV và HS về vai trò, ý nghĩa của HLĐT 59

Bảng 3.1 Tổng hợp kết quả điều tra nhu cầu của HS 81

Bảng 3.2 Kịch bản công nghệ 83

Bảng 3.3 Kết quả điều tra về mức độ hứng thú của HS đối với các hoạt động học tập có sử dụng HLĐT 94

Bảng 4.1 Kế hoạch tổ chức dạy học sử dụng HLĐT trong hình thức dạy học trực tiếp 110

Bảng 4.2 Kế hoạch tổ chức dạy học kết hợp triển khai bài nội khóa trên lớp 111

Bảng 4.3 Kế hoạch tổ chức dạy học kết hợp theo các bước của dạy học dự án 111 Bảng 4.4 Kế hoạch tổ chức dạy học kết hợp theo các bước của dạy học khám phá qua mạng (WebQuest) 112

Bảng 4.5 Danh sách các trường, lớp và GV tham gia thực nghiệm 133

Bảng 4.6 Tiến trình thực nghiệm 134

Bảng 4.7 Kết quả điều tra về mức độ hứng thú của HS đối với 139

Bảng 4.8 Thống kê điểm trung bình và các tham số kết quả chấm sản phẩm của HS ở TN thăm dò và TN song hành 141

Bảng 4.9 Thống kê kết quả chấm sản phẩm của HS qua hai bài TN 141

Bảng 4.10 Kết quả điều tra về mức độ hài lòng về giờ học và các kĩ năng cụ thể được rèn luyện trong giờ học 144

Trang 8

DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ

Hình 1.1 Nón trải nghiệm Dale 7

Hình 2.1 Hát Tuồng ở xứ Đàng Trong 45

Hình 2.2 Quang cảnh tàu thuyền ở thương cảng Hội An 45

Hình 2.3 Phiếu học tập bài 5 46

Hình 2.4 Phiếu học tập bài 31 46

Hình 2.5 Nhiệm vụ học tập trong bài 10 48

Hình 3.1 Quy trình thiết kế học liệu điện tử trong dạy học Lịch sử 78

Hình 3.2 Hệ thống công cụ hỗ trợ thiết kế HLĐT 85

Hình 3.3 Giao diện chính của ứng dụng Site123 89

Hình 3.4 Hướng dẫn chi tiết thiết kế trang web với ứng dụng Site123 89

Hình 3.5 Biểu đồ về mức độ hài lòng của GV với trang web 91

Hình 3.6 Sản phẩm nhóm 3 lớp 10A1 93

Hình 3.7 Sản phẩm nhóm 2 lớp 10A1 93

Hình 3.8 Giao diện trang chủ của trang web Lịch sử lớp 10 97

Hình 3.9 Trang Quy trình chung trang web Lịch sử lớp 10 98

Hình 3.10 Trang Nhiệm vụ học tập 99

Hình 3.11 Trang Đánh giá 100

Hình 3.12 Trang Liên hệ 101

Hình 4.1 Quy trình sử dụng HLĐT trong dạy học Lịch sử 105

Hình 4.2 Gợi ý cho HS mẫu sách tương tác 109

Hình 4.3 Sản phẩm sách tương tác của HS 109

Hình 4.4 Phiếu học tập 117

Hình 4.5 Nhiệm vụ học tập 117

Hình 4.6 Trang bìa catalogue 118

Hình 4.7 Trang 1của catalogue 118

Hình 4.8 Trang 2 của catalogue 119

Hình 4.9 Trang 3 của catalogue 119

Hình 4.10 Phiếu phản hồi sau bài 32 120

Hình 4.11 Phiếu học tập về quốc gia cổ Phù Nam 120

Trang 9

Hình 4.12 Phiếu giao việc 122

Hình 4.13 Bài tập luyện tập 122

Hình 4.14 Bài tập kiểm tra, đánh giá 124

Hình 4.15 Bài tập kiểm tra, đánh giá thường xuyên 124

Hình 4.16, hình 4.17 Hai mặt bưu thiếp giới thiệu công trình tiêu biểu của vương quốc Lào 125

Hình 4.18 Hướng dẫn tự học, tự nghiên cứu 127

Hình 4.19 Hướng dẫn tự học, tự nghiên cứu 127

Hình 4.20 Nhiệm vụ hướng dẫn tự học, tự nghiên cứu 127

Hình 4.21 HS trực tiếp thiết kế sản phẩm 129

Hình 4.22 HS nộp bài và nhận xét cho điểm 129

Hình 4.23 và Hình 4.24 HS trả lời trắc nghiệm Kahoot 130

Hình 4.25 và Hình 4.26 Bài tập về nhà được thiết kế với ứng dụng Kahoot 131

Hình 4.27 Một số sản phẩm của HS 137

Hình 4.28 Thống kê quả kiểm tra trắc nghiệm trên Kahoot lớp 10A3, THPT FPT, Hà Nội 140

Hình 4.29 Thống kê quả kiểm tra trắc nghiệm trên Kahoot lớp 10A14, THPT Quốc Oai, Hà Nội 140

Hình 4.30 Kết quả sử dụng HLĐT ở TN thăm dò và TN song hành trong hình thức dạy học trực tiếp 142

Hình 4.31 Kết quả sử dụng HLĐT ở TN thăm dò và TN song hành trong hình thức dạy học kết hợp 142

Hình 4.32 Biểu đồ về mức độ hài lòng của GV về thiết kế của trang web 144

Biểu đồ Biểu đồ 2.1 So sánh mức độ thường xuyên sử dụng các loại HLĐT của GV với mức độ hứng thú của HS (Đơn vị: %) 60

Biểu đồ 2.2 Khó khăn của GV khi sử dụng HLĐT trong DHLS 62

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Theo lý luận dạy học hiện đại, các nhà giáo dục coi việc tích hợp các yếu

tố, sản phẩm công nghệ vào quá trình dạy học là cuộc cách mạng thứ tư trong giáo dục (sau sự ra đời của nhà trường, chữ viết, in ấn và sách) Ứng dụng phương tiện kĩ thuật và công nghệ trong dạy học, đặc biệt là công nghệ thông tin cho phép thiết kế những kiểu dạy học mới, khuyến khích sự làm việc độc lập, chủ động của học sinh

Trên thực tế, “hiện nay có 40% dân số toàn cầu sử dụng Internet mỗi ngày Hãy

tưởng tượng những gì chúng ta có thể làm khi con số đó là 50, 60, 70%” [149]

Điều đó cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin & truyền thông và những tác động không ngừng của nó vào hầu hết các lĩnh vực, làm thay đổi sâu sắc đời sống kinh tế, xã hội, đặc biệt là giáo dục và đào tạo Công nghệ thông tin (CNTT) tạo ra cơ hội, nhưng cũng mang đến không ít thách thức cho việc đổi mới giáo dục từ nội dung chương trình, hình thức và phương pháp dạy học (PPDH),… đến cách thức sử dụng phương tiện dạy học hiện đại mà cụ thể là các nguồn học liệu điện tử (HLĐT)

Với sự phát triển mạnh mẽ của Internet cùng với ứng dụng phổ biến của các thiết bị điện tử thông minh giúp mọi người có thể dễ dàng kết nối và tương tác với nhau từ bất kỳ nơi nào trên thế giới Trong giáo dục, điều đó đã đưa đến cơ hội cho sự phát triển và mở rộng của hình thức dạy học mới, bên cạnh hình thức dạy học trực tiếp (Face to face) vốn có Học tập kết hợp (Blended learning) là một hình thức dạy học mới - một giải pháp kết hợp hình thức dạy học truyền thống với dạy học trực tuyến (E – learning) Vận dụng song song hai hình thức dạy học: dạy học trực tiếp và dạy học kết hợp trong dạy học nói chung và DHLS nói riêng sẽ là hướng đi mới phù

hợp với thực tế và yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay: “Ứng dụng CNTT đổi mới nội

dung, phương pháp dạy và học, gồm: sử dụng hiệu quả các thiết bị, phần mềm dạy học, thí nghiệm ảo, phần mềm mô phỏng; ứng dụng một cách có hiệu quả hệ thống ứng dụng dạy- học thông minh, hiện đại ở những nơi có điều kiện; ứng dụng kho bài giảng E - learning, sách điện tử, sách giáo khoa điện tử đổi mới phương pháp dạy - học; ứng dụng hệ thống đánh giá người học trực tuyến…” [10]

1.2 Dạy học Lịch sử (DHLS) là hoạt động mang tính đặc thù Khác với các bộ môn khác, tri thức LS mang những đặc trưng: tính quá khứ, tính không lặp lại…

Trang 11

Chúng ta không thể trực tiếp quan sát được lịch sử mà chỉ có thể nhận thức một cách gián tiếp thông qua các nguồn sử liệu và với sự hỗ trợ của phương tiện dạy học Do vậy trong DHLS, phương tiện trực quan nói chung và HLĐT nói riêng có vai trò rất quan trọng HLĐT trình bày thông tin dưới nhiều kênh khác nhau mang tính đa phương tiện (multimedia); có khả năng liên kết cao đến bất kì cơ sở dữ liệu nào có trên máy vi tính thông qua các website và không bị giới hạn bởi không gian

và thời gian Do đó, nó không chỉ có ý nghĩa cụ thể hóa thuần túy mà còn giúp phát triển tư duy, năng lực của người học

Việc sử dụng HLĐT trong DHLS ở Việt Nam hiện nay đã và đang được sử dụng rộng rãi Tuy nhiên, do tác động của nhiều yếu tố: điều kiện cơ sở vật chất, cách thức sử dụng của giáo viên (GV)… việc sử dụng HLĐT chưa mang lại hiệu quả nổi bật nhằm nâng cao năng lực của người học, tạo động lực trong môn học Lịch sử

1.3 Lịch sử lớp 10 là nội dung quan trọng trong chương trình môn Lịch sử ở trường THPT bao gồm phần Lịch sử thế giới và Việt Nam từ thời nguyên thủy đến thời cổ - trung đại và giai đoạn đầu của lịch sử thế giới cận đại Nguồn tư liệu phục

vụ nội dung này khá phong phú, GV và học sinh (HS) có thể dễ dàng tiếp cận với tư liệu có giá trị Do đó, GV có thể linh hoạt trong việc điều chỉnh, sắp xếp nội dung các bài học, phần học phù hợp với nhiều hình thức dạy học khác nhau Tuy nhiên, trong thực tế, GV còn gặp nhiều khó khăn trong việc thiết kế và sử dụng HLĐT một cách hiệu quả trong dạy học

Xuất phát từ những lý do nêu trên, chúng tôi chọn vấn đề: “Thiết kế và sử dụng học liệu điện tử trong dạy học Lịch sử lớp 10 ở trường trung học phổ thông” làm đề tài luận án Tiến sĩ Khoa học Giáo dục, chuyên ngành Lý luận và

Phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử

2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình thiết kế và các biện pháp sử dụng học liệu điện tử theo hình thức dạy học trực tiếp và hình thức dạy học kết hợp trong DHLS lớp 10 ở trường THPT

2.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về lý luận và phương pháp dạy học bộ môn:

Trang 12

Luận án tập trung nghiên cứu lý luận về phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan nói chung, phương tiện dạy học nói riêng, đặc biệt là các phương tiện dạy học hiện đại, trong đó ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Lịch sử Đồng thời, luận án nghiên cứu các hình thức tổ chức dạy học theo lý luận dạy học hiện đại

- Về phạm vi vận dụng:

+ Nội dung: Luận án nghiên cứu phần nội dung lịch sử lớp 10 (Chương trình Chuẩn) ở trường THPT đề xuất nội dung kiến thức có thể khai thác để thiết kế học liệu điện tử

+ Học liệu điện tử: Luận án tập trung đề xuất quy trình thiết kế và biện pháp sử dụng một loại học liệu điện tử là trang web học tập theo hai hình thức tổ chức dạy học là dạy học trực tiếp (Face to face) và dạy học kết hợp (Blended learning)

- Về phạm vi điều tra, khảo sát thực trạng và thực nghiệm:

+ Tiến hành điều tra, khảo sát 67 trường THPT ở 18 tỉnh, thành phố đại diện

ba miền trên cả nước1

+ Tiến hành thực nghiệm thăm dò và thực nghiệm song hành2 ở 05 trường THPT với các mô hình trường học khác nhau qua bài 27, bài 32 Lịch sử lớp 103

3.2 Nhiệm vụ

Để thực hiện mục đích trên, đề tài cần giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc thiết kế và sử dụng HLĐT trong DHLS ở trường THPT

- Khảo sát thực trạng việc thiết kế và sử dụng HLĐT trong DHLS ở trường

2

Theo tác giả Vũ Cao Đàm: Thực nghiệm thăm dò được tiến hành để phát hiện bản chất của sự vật, hiện tượng Loại thực nghiệm này được sử dụng để nhận dạng vấn đề và xây dựng giả thuyết Thực nghiệm song hành là những thực nghiệm trên các đối tượng khác nhau trong những điều kiện được khống chế giống nhau [25, tr 94]

3

05 trường thực nghiệm thuộc Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Vĩnh Phúc

Trang 13

THPT để làm cơ sở thực tiễn nghiên cứu đề tài

- Thiết kế hệ thống học liệu điện tử thể hiện trên trang web học tập phục vụ cho quá trình dạy học phần Lịch sử lớp 10

- Đề xuất quy trình, các biện pháp sử dụng hệ thống học liệu điện tử theo hình thức dạy học trực tiếp và hình thức dạy học kết hợp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Lịch sử lớp 10 ở trường THPT

- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi của quy trình, các biện pháp sử dụng học liệu điện tử được đề xuất

4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở phương pháp luận

Cơ sở phương pháp luận của đề tài là lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhận thức, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng về giáo dục nói chung

và dạy học Lịch sử nói riêng

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Tiến hành nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp:

- Nghiên cứu lý thuyết: nghiên cứu lý luận về phương pháp, hình thức tổ chức dạy

học, ứng dụng CNTT trong dạy học, đặc biệt là lý luận về HLĐT và các hình thức dạy học thông qua đọc, sưu tầm và phân tích tài liệu từ sách, báo, tạp chí, Internet ; nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa lịch sử lớp 10 hiện hành và dự thảo chương trình môn học lịch sử sau 2018 để lựa chọn nội dung, chủ đề phù hợp cho việc thiết kế HLĐT

- Nghiên cứu thực tiễn: Sử dụng phương pháp điều tra, phỏng vấn, quan sát để tìm hiểu thực trạng sử dụng HLĐT trong DHLS ở trường THPT và đánh giá bước đầu trong quá trình thực nghiệm các biện pháp sử dụng HLĐT được đề xuất Sử dụng phương pháp chuyên gia để kháo sát, thẩm định bước đầu chất lượng của HLĐT được thiết kế

- Sử dụng phương pháp thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi của quy trình sử dụng, các biện pháp sử dụng HLĐT trong DHLS ở 05 trường THPT trên địa bàn các tỉnh, thành phố: Vĩnh Phúc, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh

- Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lí, thống kê, phân tích số liệu thu được trong quá trình thực nghiệm sư phạm và đánh giá tính khả thi, tính hiệu quả của các biện pháp đề tài đề xuất

5 Giả thuyết khoa học

Trang 14

Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang tác động mạnh

mẽ đến giáo dục, HLĐT ngày càng có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong dạy học, nếu xây dựng được quy trình thiết kế và đề xuất được các biện pháp sử dụng HLĐT phù hợp sẽ góp phần nâng cao chất lượng DHLS ở trường THPT nói chung và DHLS lớp 10 nói riêng

6 Đóng góp của đề tài

Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần:

- Khẳng định vai trò, ý nghĩa, sự cần thiết của việc thiết kế và sử dụng HLĐT trong DHLS nói chung và DHLS lớp 10 nói riêng

- Đánh giá đúng thực trạng việc sử dụng HLĐT theo hình thức dạy học trực tiếp và hình thức dạy học kết hợp trong DHLS ở trường THPT

- Đề xuất được quy trình thiết kế và các biện pháp sử dụng HLĐT theo hình thức dạy học trực tiếp và dạy học kết hợp trong DHLS lớp 10 ở trường THPT

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn:

- Về khoa học: luận án làm phong phú thêm lý luận và phương pháp dạy học môn Lịch sử về việc ứng dụng CNTT trong DHLS nói chung, thiết kế và sử dụng HLĐT trong dạy học lịch sử lớp 10 nói riêng

- Về thực tiễn: luận án là tài liệu hướng dẫn GV phổ thông thiết kế và sử dụng HLĐT vào dạy học bộ môn để nâng cao chất lượng dạy học Đồng thời, luận án cũng là tài liệu tham khảo cho sinh viên và học viên cao học chuyên ngành Lý luận

và Phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử

8 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, nội dung của luận

án bao gồm 4 chương:

Chương 1 Tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 2 Vấn đề thiết kế và sử dụng học liệu điện tử trong dạy học lịch sử ở

trường trung học phổ thông - Lý luận và thực tiễn

Chương 3 Thiết kế học liệu điện tử trong dạy học lịch sử lớp 10 ở trường

trung học phổ thông

Chương 4 Sử dụng học liệu điện tử trong dạy học lịch sử lớp 10 ở trường

trung học phổ thông Thực nghiệm sư phạm

Trang 15

Chương 1

TỔNG QUAN NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

“Chúng ta đang đứng trong cuộc cách mạng công nghệ sẽ làm thay đổi cơ bản cách chúng ta sống, cách chúng ta làm việc và cách chúng ta kết nối với nhau… Tốc độ của cách mạng này là bước đột phá chưa từng có tiền lệ trong lịch

sử loài người” [148] Trong nền kinh tế tri thức, sự phát triển mạnh mẽ của CNTT

làm cho việc số hóa dữ liệu trở nên dễ dàng Mọi loại thông tin, số liệu, âm thanh, hình ảnh có thể được đưa về dạng kĩ thuật số để bất kì máy tính nào cũng có thể

lưu trữ, xử lí Đối với giáo dục, CNTT đã đưa đến cơ hội cho sự phát triển và mở

rộng việc sử dụng HLĐT Để phục vụ cho nghiên cứu của mình, chúng tôi tập trung vào hai hướng tiếp cận là thiết kế và sử dụng HLĐT trong dạy học nói chung, DHLS nói riêng với các hình thức sử dụng đa dạng trên thế giới và ở Việt Nam

1.1 Các công trình nghiên cứu về học liệu điện tử và sử dụng học liệu điện tử trong dạy học

1.1.1 Ở nước ngoài

Sự phát triển của CNTT đã đưa đến sự gia tăng đáng kể của các loại phương tiện trực quan hiện đại, trong đó có HLĐT Xét trên quan điểm của lý luận dạy học hiện đại, các phương tiện công nghệ nói chung và HLĐT nói riêng là một loại phương tiện trực quan Nghiên cứu về CNTT và HLĐT chỉ mới xuất hiện phổ biến vào thập niên cuối của thế kỉ XX, song những nguyên tắc về dạy học đảm bảo tính trực quan trong dạy học đã có quá trình phát triển lâu dài

Tầm quan trọng của nguyên tắc trực quan trong dạy học được học giả, các nhà nghiên cứu giáo dục qua nhiều thế kỉ khẳng định và ngày càng làm rõ hơn:

Từ thế kỉ XVII, Jan Amos Comenxki người đầu tiên trong lịch sử giáo dục

đã thiết kế hệ thống các nguyên tắc dạy học khá hoàn chỉnh dựa trên cơ sở khoa

học nhất định Tác giả đề cao “nguyên tắc trực quan trong dạy học (đề cao cảm

giác, nhận thức cảm tính)” [31, tr.91] và chỉ rõ:“Bước đầu của nhận thức, không còn nghi ngờ gì nữa, bao giờ cũng bắt đầu từ cảm giác (vì không có cái gì tồn tại trong nhận thức mà lại chưa tồn tại trong cảm giác)” [31, tr.85] Từ đó,

Comenxki khẳng định trực quan là “nguyên tắc vàng ngọc” của GV trong dạy học Bước sang thế kỉ XIX, nhà giáo dục nổi tiếng người Nga, Ushinsky Konstantin

Trang 16

Dmitrievich (1824-1870) cũng đưa ra nhiều quan điểm về lý luận dạy học quan

trọng trong hai cuốn sách “The Children's World (1861)” và “The Mother Tongue

(1864)” Qua hai cuốn sách này có thể thấy sự tương đồng về quan điểm của

Ushinsky và Comenxki khi nói về nguyên tắc trực quan trong dạy học Ushinsky

cho rằng: “GV nào có kỳ vọng phát triển trí tuệ cho trẻ em thì trước hết cần phải

luyện tập năng lực quan sát của chúng, dẫn chúng đi từ tri giác tổng hợp đến sự tri giác định hướng, phân tích” [47, tr.106]

Trong thế kỉ XX, các nghiên cứu của Edgar Dale, I.F Kharlamôp giải thích

cụ thể hơn về vai trò của nguyên tắc trực quan trong dạy học:

Theo Edgar Dale trong cuốn: “Phương pháp trực quan trong dạy học” (Audio

- Visual Methods in Teaching, Dryden Press, 1946): “GV cần phải hiểu rõ tầm quan trọng của việc sử dụng phương tiện trực quan bởi khi được sử dụng hợp lý nó sẽ giúp việc giảng dạy đạt hiệu quả cao” Từ đó, Dale khuyên GV “nên tự trang bị cho mình kĩ năng sử dụng phương tiện trực quan để có thể sử dụng nó như một công cụ mạnh mẽ hỗ trợ dạy học” [101, tr 7] Đồng thời, ông cũng đưa ra nguyên

tắc quan trọng để phân loại phương tiện nổi tiếng được gọi là “nón trải nghiệm

Dale” (cone of experience) Theo “nón trải nghiệm Dale”, với các loại phương

tiện, học liệu khác nhau, sự trải nghiệm của người học cũng sẽ khác nhau, và hiệu quả giáo dục đạt được sẽ phân bổ theo dạng thức hình nón

Hình 1.1 Nón trải nghiệm Dale [101, tr.39]

Như vậy, HLĐT được thiết kế sẽ không thuần túy sử dụng để trình bày, cụ thể hóa, giới thiệu nội dung kiến thức mà cần phải khuyến khích được quá trình học tập

Trang 17

của người học, và chuyển nó từ một hành vi học thuần túy tiếp nhận thụ động sang một hành vi học có tính tích cực

I.F Kharlamôp trong cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như

thế nào?” (Bản tiếng Việt, NXB Giáo dục, 1978) cũng khẳng định vai trò của dạy

học trực quan là thúc đẩy việc gắn liền lý thuyết với thực tiễn Đồng thời khẳng định chức năng của dạy học trực quan không đơn thuần để thực hiện các mục tiêu nhận thức bậc thấp mà còn là cơ hội để HS phát triển tốt hơn khả năng tư duy:

“Việc dạy học trực quan không những làm cho quá trình học tập thêm sinh động

Nó còn góp phần rèn luyện tư duy phân tích, học tập cho các em nhìn thấy bản chất của các đối tượng và hiện tượng ẩn sau các hình thức và biểu hiện bề ngoài, kích thích tính ham hiểu biết của các em…” [47, tr 106] Tác giả cũng giải thích cụ thể

lí do sử dụng tính trực quan trong dạy học là góp phần phát huy tính tích cực hoạt

động nhận thức của HS: “Khi biểu diễn các phương tiện trực quan, biểu diễn thí

nghiệm, GV đã động viên sức chú ý của học sinh và huy động không những thính giác, mà cả thị giác, và trong một số trường hợp cả khứu giác và xúc giác của học sinh tham gia vào việc lĩnh hội tài liệu nghiên cứu” [47, tr.105]

Sự phát triển mạnh mẽ của CNTT và các hình thức học tập dựa trên nền tảng công nghệ đã tác động mạnh mẽ đến giáo dục truyền thống Bên cạnh các nghiên cứu về tính trực quan nói chung, xuất hiện ngày càng nhiều nghiên cứu về phương tiện DH hiện đại, CNTT, trong đó có HLĐT trong dạy học

Phân tích sự khác biệt của người học từ hứng thú, sở thích đến nhu cầu học

tập, các tác giả của cuốn: “Hướng tới mục tiêu: Chiến lược dạy học phân hóa” (On

Target: Strategies That Differentiate Instruction, Education Service Agency Region

6 & 7, 2006) đã đề xuất các chiến lược học tập đa dạng tôn trọng sự khác biệt giúp

người học học tập hiệu quả hơn, tham gia tích cực hơn vào các hoạt động học tập và được mỉm cười nhiều hơn trong lớp học Một trong số các chiến lược đó là sử dụng

CNTT trong dạy học phân hóa (Differentiating Instruction with Technology), cụ thể

là HLĐT Tác giả đã chỉ ra sáu lợi ích cơ bản của HLĐT:

- Tác động tới nhiều giác quan của người học Cho phép người học lựa chọn hình thức học tập phù hợp với phong cách học của cá nhân

- Tôn trọng cá nhân khi cho phép người học được lựa chọn cách tạo ra sản phẩm hoặc tiếp nhận thông tin

Trang 18

- Người học thực sự tạo ra bằng chứng về những gì mình học được và sau này

nó có thể trở thành một phần trong hồ sơ năng lực

- Tạo ra bầu không khí chủ động trong học tập, đòi hỏi người học phải tham gia và tích cực tư duy

- Thúc đẩy sự giao tiếp, tương tác giữa HS với nhau và HS với GV

- Giúp việc học mang ý nghĩa thực tiễn vì nó được xây dựng dựa trên cuộc sống hàng ngày của người học [104, tr.20]

Trong đó, trang web học tập là HLĐT được tác giả đặc biệt chú trọng với

nhiều đặc trưng nổi bật: “Phù hợp với các phong cách học tập khác nhau Đồ họa,

hình ảnh, video hỗ trợ cho người học theo kiểu nhìn Trong khi đó những công cụ tương tác sẽ phù hợp với người học theo kiểu vận động Người học theo kiểu nghe

sẽ học tốt hơn với video, âm thanh và người học theo kiểu văn bản sẽ tìm thấy những nội dung đọc và viết thú vị hơn so với việc sử dụng giấy/bút truyền thống”

[104, tr.20] Như vậy, chính tính năng đa dạng, phù hợp với nhiều kiểu học và khả năng phân hóa người học là những lý do quan trọng để việc sử dụng HLĐT dưới hình thức trang web học tập cần có nhiều cơ hội để triển khai trong thực tế dạy học

GV nên căn cứ vào kiểu học, năng lực cụ thể của HS để lựa chọn và sử dụng HLĐT hiệu quả

Trong bài viết:“Công nghệ thông tin, dạy học trực tuyến và sự phát triển của

GV” (IT, e-learning and teacher development, Shannon Research Press, 2005), tác

giả Jonathan Anderson khẳng định: vai trò của GV và HS; cấu trúc lớp học và nội dung học tập là ba phương diện có những thay đổi mạnh mẽ dưới tác động của

CNTT Trong đó, GV từ “nhà hiền triết” trở thành “người hướng dẫn” Cùng với

sự thay đổi vai trò của GV và người học, toàn bộ cấu trúc của trường, lớp cũng có

sự biến đổi: “Các lớp học đóng kín („Closed door‟) đã thay đổi trở thành không

gian học tập mới: không giới hạn trong bốn bức tường của lớp học, mở rộng cơ hội giao tiếp và chia sẻ xã hội của người học Trọng tâm của việc giảng dạy được chuyển từ ghi nhớ sự kiện (memorising facts) sang học tập gợi mở (inquiry-based learning)” [113, tr.3] Do đó, mỗi GV cần nhận thức được sự thay đổi này để phát

triển kĩ năng sử dụng CNTT nói chung, sử dụng HLĐT nói riêng trong lớp học

Trang 19

Bảng 1.1 Những thay đổi vai trò của người học và GV trong môi trường học tập HS làm trung tâm và GV

làm trung tâm dưới tác động của CNTT [113, tr.3]

Môi trường học tập

GV làm trung tâm Người học làm trung tâm

- Tiếp nhận thông tin thụ động

- Tái hiện kiến thức

- Hoạt động đơn độc

- Chủ động tham gia vào quá trình học tập

- Tìm kiếm và chia sẻ kiến thức với vai trò như một chuyên gia

Nghiên cứu sâu về các kĩ năng của GV trong thế kỉ XXI, tác giả Chris

Kyriacou trong cuốn: “Các kĩ năng dạy học cơ bản” (Essential Teaching Skills,

Nelson Thornes Ltd, 2007) cho rằng: mỗi GV thành công cần hoàn thiện tốt bảy kĩ

năng thiết yếu sau: 1.Lập kế hoạch và chuẩn bị bài học; 2 Thực hiện bài học; 3 Quản lí bài học; 4 Quản lí lớp học; 5.Sử dụng kỉ luật trong lớp học; 6 Đánh giá

tiến trình; 7 Phản hồi và đánh giá tổng kết Trong đó, sử dụng CNTT là một tiêu chí quan trọng để đánh giá kĩ năng 1 Lập kế hoạch và chuẩn bị bài dạy Tác giả đã đưa

ra một số gợi ý để GV sử dụng hiệu quả CNTT nói chung, HLĐT nói riêng trong dạy học Cụ thể, GV có thể xác định mục đích sử dụng CNTT bằng việc trả lời các

câu hỏi dưới đây: “Nó có giúp phát triển kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin cho

người học hay không? Nó có chỉ ra cho học sinh cách sử dụng công nghệ thông tin thế nào để giải quyết vấn đề đang được thảo luận? Nó có tạo động lực cho người học? Nó có khuyến khích người học làm việc theo các cách khác nhau (cá nhân, nhóm nhỏ…)? Nó có giúp học sinh hiểu sâu nội dung bài học?” [100, tr.27] Đây là

năm câu hỏi quan trọng, giúp GV có định hướng khi xác định mục đích sử dụng HLĐT trong dạy học nói và DHLS nói riêng

Các tác giả Howard Pitler, Elizabeth Ross Hubbell, Matt Kuhn trong cuốn “Sử

dụng công nghệ trong việc tổ chức lớp học hiệu quả” (Using Technology with Classroom Instruction that works, 2nd, ASCD, 2012 ), đã phân chia các ứng dụng công nghệ trong lớp học thành bảy loại cụ thể: bên cạnh bốn ứng dụng phổ biến: - Ứng dụng

xử lí văn bản;- Ứng dụng bản tin; - Ứng dụng sắp xếp và “động não”; - Đa phương

Trang 20

tiện; tác giả đã đề xuất ba ứng dụng thể hiện tính năng tương tác, giao tiếp cao hơn: Ứng dụng thu thập dữ liệu;- Học liệu trên website; - Ứng dụng giao tiếp [109, tr.12]

Tất cả các ứng dụng kể trên đều trở thành một phần quan trọng của lớp học hiện đại Ngoài ra, một bảng ma trận thể hiện tương quan giữa bốn câu hỏi định hướng

bài học (Planning Questions); chín mục tiêu chính trong bài học (Strategies

Instructional) và bảy ứng dụng công nghệ (Categories of Technology) được các tác

giả thiết lập [Phụ lục 9] Đây là những gợi ý hữu ích trong quá trình xây dựng kế hoạch sử dụng CNTT, trong đó có HLĐT trong lớp học

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) là một trong những cơ quan có đóng góp tích cực trong việc thúc đẩy ứng dụng CNTT vào giáo dục trên toàn thế giới Văn phòng UNESCO ở các quốc gia không ngừng công

bố những nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực tế về việc sử dụng CNTT nói chung

và sử dụng HLĐT nói riêng trong dạy học ở mỗi quốc gia, cũng như các khu vực khác nhau

Trong cuốn sách “Chuyển đổi giáo dục: sức mạnh của chính sách CNTT” (Transforming Education: The Power of ICT Policies, UNESCO, 2011), các tác giả

thông qua khảo sát việc sử dụng CNTT trong giáo dục ở nhiều quốc gia thuộc các khu

vực khác nhau trên thế giới (gồm cả các quốc gia OECD) đã đưa ra cảnh báo: “Việc

công nghệ thông tin không được sử dụng nhiều trong các trường học là trái ngược với thực tế của các doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh tế tri thức, nơi máy tính được tích hợp vào cuộc sống hàng ngày và được sử dụng như một công cụ trung tâm

để doanh nghiệp thành công” [136, tr 18] Từ thực trạng trên, các tác giả đã nhấn

mạnh cần thay đổi cách tiếp cận, sử dụng học liệu điện tử và xem đó như một hướng đi

để phát huy sức mạnh của CNTT trong giáo dục

Cuốn “Công nghệ thông tin trong đào tạo GV: Hướng dẫn lập kế hoạch”

(Information and Communication Technologies in Teacher Education: A Planning Guide, UNESCO, 2002), tác giả đã khẳng định tầm quan trọng của CNTT đối với

mỗi GV thông qua việc phân tích “Chuẩn hướng dẫn sử dụng công nghệ thông tin

trong đào tạo GV” của các quốc gia Hoa Kì, Singapore và khu vực Bắc Mĩ, Châu

Âu… Để việc sử dụng CNTT trong dạy học một cách bài bản, hiệu quả và tránh

“nhồi nhét”, tác giả nhấn mạnh tới vai trò tự bồi dưỡng, nâng cao khả năng, nghiệp

Trang 21

vụ của bản thân: “Mỗi GV phải tự cập nhật được kiến thức và kĩ năng giảng dạy

mới khi chương trình giáo dục và công nghệ thay đổi… Sự phát triển của mỗi GV phải song song với sự phát triển của nhà trường phổ thông, của các trung tâm đào tạo và các trường đại học” [133, tr.34] Tác giả cũng đề xuất mô hình học qua

mạng (Web-Based Lessons) gồm hai hình thức: học qua tự khám phá (WebQuests)

và học qua hướng dẫn (CyberGuides) Cả hai hình thức này đều sử dụng các

website học tập như một nguồn học liệu tối ưu khi triển khai ý tưởng dạy học ứng dụng CNTT [133, tr.60 - 61]

Trong một công bố khác của UNESCO (Văn phòng ở Cộng hòa Pháp), “Công

nghệ trong giáo dục: Tiềm năng, thực tế và triển vọng” (Technologies for education: potentials, parameters and prospects, UNESCO, Paris, 2002), các tác

giả phân chia HLĐT thành các dạng khác nhau: Văn bản (sách, tạp chí; trang web); Kênh hình (ảnh, bản đồ, sơ đồ kĩ thuật số); Âm thanh (âm thanh kĩ thuật số); Video;

Mô phỏng (Web tương tác; CD) Trong đó, trang web học tập được đánh giá có

những ưu điểm nổi bật: “Linh hoạt và dễ sửa đổi; Các siêu liên kết cho phép việc

điều chỉnh được tiến hành từng bước; chi phí phát triển và xuất bản thấp; khả năng tương tác cao; hỗ trợ việc kiểm tra đánh giá” [135, tr 99 - 100] Với những tính

năng nổi bật trên, việc thiết kế và sử dụng HLĐT để sử dụng trong DHLS ở Việt Nam là hoàn toàn phù hợp và khả thi

Thông qua việc nhấn mạnh vai trò của CNTT trong dạy học, các nghiên cứu

kể trên đều khẳng định việc sử dụng CNTT, HLĐT trong dạy học nói chung và DHLS nói riêng là xu thế tất yếu và ngày càng được phổ biến trên toàn thế giới Trong đó, trang web học tập được lựa chọn như một loại HLĐT đa chức năng, nhiều tiện ích và thân thiện với người học

Trong bài viết “Các xu hướng và vấn đề tích hợp công nghệ thông tin trong

dạy học cho tương lai giáo dục của thế giới” (Trends and Issues to integrate ICT in Teaching Learning for the Future World of Education) đăng trên tạp chí International Journal of Engineering & Technology IJET-IJENS Vol: 11 No: 03

(2011), ba tác giả Md Aktaruzzaman, Md Rashedul Huq Shamim, Che Kum Clement đã dựa trên nghiên cứu về khả năng ghi nhớ của trẻ và lý thuyết về mạng

Trang 22

lưới thần kinh não người để khẳng định tính hiệu quả của việc sử dụng CNTT nói

chung và HLĐT nói riêng trong giáo dục, đặc biệt là giúp người học đến gần với

những trải nghiệm thực tế về những gì đang được học Đồng thời chỉ ra những ưu

điểm vượt trội của HLĐT: “GV và HS không còn phải phụ thuộc hoàn toàn vào

những cuốn sách in và các tư liệu, phương tiện vật chất khác trong thư viện (với số lượng có hạn) Với sự hỗ trợ của Internet, các trang web với một số lượng khổng lồ học liệu điện tử cho hầu hết các môn học có thể truy cập, sử dụng ở bất cứ nơi nào, bất cứ thời điểm nào và không giới hạn số lượng người truy cập Điều này thực sự

có ý nghĩa đối với giáo dục ở các quốc gia phát triển, thậm chí có thể coi đây là trọng tâm của việc đổi mới giáo dục trong thế kỉ XXI.” [96, tr 116-117] Đối với

giáo dục Việt Nam - một quốc gia có nền kinh tế đang phát triển, đẩy mạnh sử dụng CNTT nói chung, HLĐT nói riêng trong dạy học là một trong những chìa khóa quan trọng đưa giáo dục Việt Nam tiến gần hơn với các quốc gia phát triển trên thế giới, giảm bớt sự bất bình đẳng về giáo dục trong xã hội

Chính sự phát triển mạnh mẽ của Internet cùng với ứng dụng phổ biến của các thiết bị điện tử thông minh giúp việc sử dụng HLĐT trở nên linh hoạt và hiệu quả Hiện nay, HLĐT được sử dụng trong dạy học trực tuyến được tiến hành dưới hai

phương thức chủ yếu: phương thức dạy học trực tuyến toàn phần - Online learning và dạy học kết hợp giữa dạy học trực tiếp trên lớp và trực tuyến- Blended learning (Dạy

học kết hợp) Trong một vài năm trở lại đây, dạy học kết hợp có xu hướng được sử

dụng rộng rãi vì có khả năng phù hợp với nhiều điều kiện dạy học khác nhau

Dạy học kết hợp (Blended learning) không phải là khái niệm mới Trước đây,

dạy học kết hợp là một phần của lớp học truyền thống ví dụ như: bài giảng, thư viện, sách hay tài liệu phát tay Hiện nay, với sự phát triển của CNTT nói chung, HLĐT nói riêng giúp chúng ta có nhiều cách tiếp cận và nhiều lựa chọn hơn khi sử dụng mô

hình dạy học kết hợp Cụ thể trong bài viết “Xây dựng chương trình học tập kết hợp

hiệu quả” (Building Effective Blended Learning Programs, Issue of Educational

Technology, 2003), tác giả Harvey Singh khẳng định: “Dạy học kết hợp sử dụng

nhiều loại học liệu điện tử được thiết kế bổ sung cho nhau và điều chỉnh việc học cũng như hành vi của người học” [107, tr.52] Trong đó tác giả đặc biệt nhấn mạnh

ba dạng HLĐT thích hợp cho môi trường dạy học kết hợp là: trang web học tập, sách

Trang 23

điện tử và các định dạng mô phỏng Trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện nhiều

biện pháp để gia tăng ảnh hưởng của cách mạng số đến giáo dục, việc nghiên cứu sử dụng ba định dạng HLĐT kể trên theo hình thức dạy học kết hợp là thực sự cần thiết cho việc hội nhập và chuyển đổi giáo dục trước xu thế mới

Trong phần đầu cuốn sách “Công nghệ thông tin chuyển đổi giáo dục” ( ICT

transforming education: A Regional Guide, UNESCO Bangkok, 2010), tác giả Jonathan

Anderson cho thấy cái nhìn toàn cảnh về sự biến đổi sâu sắc của giáo dục ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương dưới tác động của CNTT với các thống kê đầy đủ: từ chỉ số

phát triển CNTT (ICT Development Index- IDI); chính sách của các Chính phủ; sự thay

đổi cơ cấu việc làm đến sự thay đổi của việc dạy học và các năng lực mới đòi hỏi người

học phải có trong một thế giới kĩ thuật số Theo tác giả, năng lực kĩ thuật số (Digital

literacies) là một trong bốn năng lực cốt yếu mà HS và GV cần phải có trong thế kỉ XXI

Phần lớn nội dung còn lại, tác giả giới thiệu về mô hình học tập trực tuyến Với việc sử

dụng trang web trong mô hình dạy học dạy học kết hợp, tác giả nhấn mạnh: “GV sẽ sử

dụng các trang web như một công cụ để nâng cao chất lượng dạy học Với sự bùng nổ của các công cụ Web 2.0 (Blog, Wiki, Podcasts, Youtube, Moodle, Facebook, Twitter, Linkedln…) tạo ra cơ hội mới giúp GV kết hợp sử dụng học liệu trực tuyến (online materials) trong dạy học trực tiếp trên lớp (Face to face)” [114, tr.72] Từ đó có thể

khặng định, sử dụng trang web học tập trong dạy học kết hợp đã và đang được sử dụng ở

các nước Châu Á – Thái Bình Dương như mô thức dạy học hiệu quả

Trong cuốn “Dạy học kết hợp: Các quan điểm nghiên cứu” (Blended Learning:

Research Perspectives, Routledge Publishing, 2014) các tác giả Anthony G

Picciano, Charles D Dziuban, Charles R Graham trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và điều tra thực tiễn sinh viên trường Đại học Spring Arbor, Michigan đã đưa ra kết luận quan trọng về vai trò của trang web học tập trong hình thức dạy học kết hợp, coi đó như một cách để hỗ trợ dạy học truyền thống, tăng hiệu quả dạy học truyền thống ở

bốn phương diện cơ bản: “nội dung khóa học; đánh giá người học; khả năng tương

tác giữa người học với nhau; và sự phát triển của một cộng đồng học tập” [97, tr

205] Trong mô hình dạy học kết hợp, GV có thể tận dụng môi trường trực tuyến để tạo ra học liệu phù hợp với người học và tăng hiệu quả quản lí lớp học

Như vậy, các nghiên cứu đều khẳng định việc sử dụng hình thức dạy học kết hợp

Trang 24

là một trong những giải pháp nâng cao hiệu quả của việc ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung và HLĐT nói riêng Trong đó, trang web học tập là một loại HLĐT phổ biến được sử dụng trong hình thức dạy học kết hợp bởi những ưu thế vượt trội và khả năng đáp ứng nhu cầu đổi mới giáo dục theo hướng ứng dụng công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới

1.1.2 Ở Việt Nam

Trong cuốn “Lý luận dạy học”, Nxb Giáo dục, 2002, tác giả Nguyễn Văn Hộ

khẳng định tầm quan trọng của nguyên tắc trực quan, coi đó như một trong những nguyên tắc dạy học cơ bản để đảm bảo sự thống nhất giữa cái cụ thể và cái trừu

tượng trong dạy học Từ đó, tác giả đề xuất GV cần “sử dụng phối hợp phương tiện

trực quan khác nhau với tư cách là các phương tiện nhận thức và các nguồn nhận thức” [35, tr.39] Đồng thời khẳng định “các phương tiện trực quan sẽ giúp HS thu lượm được một lượng thông tin đầy đủ hơn, sâu sắc hơn về đối tượng nghiên cứu, giúp làm thỏa mãn và phát triển hứng thú học tập cũng như tăng cường hoạt động của người học” [35, tr.82]

Tác giả Phan Trọng Ngọ đã nhấn mạnh tính trực quan trong dạy học ở cuốn

sách“Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường”, NXB Đại học Sư phạm Hà Nôi, 2005: “Trực quan theo đúng nghĩa của nó không đơn giản là quan sát sự vật bằng

các giác quan, mà là hành động, tác động lên sự vật, làm biến đổi các dấu hiệu bề ngoài của chúng, làm cho cái bản chất, các mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của chúng được bộc lộ, được phơi bày một cách cảm tính, mà nếu không có sự tác động đó thì chúng mãi còn là bí ẩn đối với nhận thức của con người” [63 tr.342] Như vậy, khi sử

dụng nguyên tắc trực quan trong dạy học GV không đơn thuần xây dựng các nhiệm vụ

để HS quan sát, mà hơn hết là các nhiệm vụ giúp HS được tương tác, trải nghiệm

Sang thế kỉ XXI, những nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung và sử dụng HLĐT nói riêng ngày càng phổ biến

Với những nghiên cứu chuyên sâu gồm 14 chương về phương tiện dạy học, tác

giả Tô Xuân Giáp trong cuốn “Phương tiện dạy học”, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội, 2005 đã nhấn mạnh vai trò của phương tiện trực quan trong dạy học: “có tác

dụng làm tăng hiệu quả sư phạm của nội dung và phương pháp dạy học lên rất nhiều Phương tiện dạy học không chỉ có chức năng cụ thể hóa cho bài giảng mà còn có tác dụng thúc đẩy quá trình thu nhận kiến thức và hiểu sâu sắc nội dung của

Trang 25

thông điệp cần truyền” [27, tr.43] Trong đó, vai trò của phương tiện số hóa được

tác giả khẳng định: “giúp cho thầy giáo khả năng truyền đạt rõ ràng, tỉ mỉ và chi

tiết tất cả các vấn đề; tác động một cách dễ dàng vào năm giác quan thông thường,

kể cả phát huy “giác quan thứ sáu” là kĩ năng truyền thông và tiếp nhận thông tin của học sinh.” [27, tr.224] Như vậy, trong hệ thống phương tiện trực quan đa dạng,

phong phú, phương tiện số hóa đã khẳng định được ưu thế riêng giúp phát triển cả kiến thức và kĩ năng của HS

Tác giả Nguyễn Văn Cường - Bernd Meier, trong cuốn “Một số vấn đề chung

về đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ thông” (2010) thuộc Dự

án Phát triển giáo dục trung học phổ thông của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phân tích

cơ sở lý luận và thực tiễn của đổi mới PPDH và trình bày một số quan điểm, phương pháp, kĩ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS Trong đó,

tác giả nhấn mạnh “thông tin và tri thức tăng lên một cách nhanh chóng về số

lượng và tốc độ, kéo theo sự lạc hậu nhanh của tri thức, công nghệ cũ” [20, tr.153],

do đó khả năng sử dụng phương tiện mới, đặc biệt CNTT là một trong những năng

lực chung cần có của người lao động trong điều kiện của xã hội tri thức và toàn cầu hóa hiện nay Tác giả cũng đã giới thiệu PPDH với WebQuest Đây là một PPDH

mới, trong đó trang web học tập được sử dụng như một HLĐT: “học sinh tự lực

thực hiện trong nhóm một nhiệm vụ về một chủ đề phức hợp, gắn với tình huống thực tiễn Những thông tin cơ bản về chủ đề được truy cập từ những trang liên kết (link) do GV chọn lọc từ trước Việc học tập theo định hướng nghiên cứu và khám phá, kết quả học tập được học sinh trình bày và đánh giá” [20, tr.153] Do đó, việc

xây dựng một trang web học tập theo cấu trúc WebQuest cũng là một gợi ý hữu ích khi thiết kế HLĐT trong dạy học

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cho ấn bản cuốn“Tăng cường năng lực sử dụng

thiết bị dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học”(Tài liệu Bồi

dưỡng phát triển năng lực nghề nghiệp GV, 2014), để giúp GV tự học, tự bồi dưỡng năng lực sử dụng thiết bị dạy học và ứng dụng CNTT Các tác giả hướng dẫn GV thiết kế trang web học tập như một loại HLĐT sáng tạo giúp nâng cao hiệu quả dạy

học: “Website dạy học bộ môn không chỉ cung cấp những kiến thức cơ bản, yêu cầu

học sinh phải nắm vững mà còn mở rộng các kiến thức của họ sinh, đáp ứng yêu cầu ham học hỏi, nghiên cứu của các em Bên cạnh đó bổ sung thêm một số các

Trang 26

hình ảnh, đoạn video, các Flash,… Với các chức năng hỗ trợ lập trình trên website, máy tính có thể dễ dàng tạo ra các bài kiểm tra trên website đồng thời tự chấm điểm theo thang điểm đã quy định sẵn, sau đó tự động lưu vào hồ sơ điểm của học sinh từng lớp để GV có thể quản lí” [7, tr.147] Như vậy, thiết kế trang web hỗ trợ

dạy học bộ môn ở Việt Nam không phải là xu hướng mới Tuy nhiên, áp dụng xu hướng này theo hình thức dạy học nào cho phù hợp với điều kiện, đối tượng dạy học cụ thể vẫn là vấn đề đáng được quan tâm và nghiên cứu sâu hơn

Ngoài ra, nhiều hội thảo quốc gia được tổ chức để các nhà nghiên cứu bàn thảo, đưa ra giải pháp thúc đẩy việc ứng dụng CNTT nói chung và sử dụng HLĐT nói riêng trong DH đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện giáo dục hiện nay Trong đó

có hội thảo: “Ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục và dạy học năm 2014”,

do Đại học Đà Nẵng tổ chức với nhiều nghiên cứu đề cập đến việc thiết kế và sử dụng HLĐT dưới các góc độ khác nhau như: xây dựng sách điện tử trong môn Hóa học; tạo trang web để tra cứu trong môn Sinh học; thiết kế bài giảng điện tử trong môn Lịch sử; thiết kế và sử dụng website hỗ trợ dạy học Địa lý

Tháng tháng 12/2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức hội thảo:“Ứng dụng

công nghệ thông tin trong dạy học kết hợp đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới” Các tác giả đã nêu rõ những thách thức mới của việc dạy học ngày

này và khả năng đáp ứng những yêu cầu mới trong dạy học của hình thức dạy học

kết hợp: “Dạy học kết hợp cần được nhìn nhận như một các tiếp cận sư phạm, tích

hợp được tính hiệu quả và các cơ hội xã hội trong lớp học với các khả năng thúc đẩy việc học tập tích cực có sự hỗ trợ của CNTT trong môi trường trực tuyến” [12,

tr 13] Đồng thời, những gợi ý cho việc sử dụng trang web học tập để thiết kế một

khóa học trực tuyến hiệu quả

Những nghiên cứu về các loại HLĐT đơn lẻ, đặc biệt là trang web học tập được nhiều chuyên gia lý luận và phương pháp dạy học bộ môn ở Việt Nam quan tâm thể hiện qua bài viết công bố trên các tạp chí uy tín Cụ thể:

Trong bài viết, Thiết kế và sử dụng giáo án điện tử trên trang web học tập

theo hướng dạy học khám phá, trên Tạp chí Khoa học Giáo dục số 38 (11/2008), tác

giả Phó Đức Hòa đã đưa ra định nghĩa chi tiết về trang web học tập, đề xuất quy trình thiết kế và sử dụng giáo án điện tử trên trang web và minh chứng bằng trang web cụ thể: http://dayhockhampha.com [34, tr 37 - 40] Đây là những gợi ý hữu ích phục vụ quá trình thiết kế HLĐT trong luận án của chúng tôi

Trang 27

Bên cạnh đó còn có các bài viết: “Xây dựng trang web học tập hóa học nhằm

nâng cao hiệu quả dạy học môn hóa học ở phổ thông”, tác giả Phạm Ngọc Sơn,

Tạp chí Giáo dục cố 259 (4/2011); Thiết kế website dạy học môn tự nhiên xã hội ở

Tiểu học, Nguyễn Thị Tường Vi, Tạp chí Thiết bị giáo dục, số 50 (2010) có cùng

định hướng nghiên cứu về trang web học tập trong dạy học

Nhiều đề tài chuyên ngành Lý luận và dạy học Hóa học tại trường ĐHSP Hà

Nội có hướng nghiên cứu này: “Thiết kế giáo trình điện tử và áp dụng phương pháp

dạy học vi mô để rèn luyện một số kĩ năng dạy học, góp phần nâng cao năng lực tự học cho sinh viên khoa Hóa học ĐHSP”, Nguyễn Thị Kim Ánh (2007); luận án

Tiến sĩ Giáo dục học: “Nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy học phần hoá phi kim

trường trung học phổ thông với sự trợ giúp của công nghệ thông tin”, Đào Thị Việt

Anh (2009), “Thiết kế E- book hỗ trợ học sinh tự học phần kim loại hóa học lớp 12

chương trình nâng cao”, Nguyễn Trí Ngẫn (2010); “Xây dựng học liệu điện tử hỗ trợ dạy và học phần cấu tạo nguyên tử và hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học - chương trình trung học phổ thông chuyên”, Trịnh Lê Hồng Phương (2011)…

Điều này cho thấy xu hướng tất yếu của việc sử dụng HLĐT trong các môn học

1.2 Các công trình nghiên cứu về học liệu điện tử và sử dụng học liệu điện tử trong dạy học lịch sử

1.2.1 Ở nước ngoài

Xu hướng ứng dụng CNTT mà cụ thể là HLĐT trong DHLS cũng được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu

Trước hết là những khẳng định của tác giả N.G Đai-ri trong cuốn “Chuẩn bị

giờ học lịch sử như thế nào?” (Bản tiếng Việt, NXB Giáo dục, 1973) về vai trò của

việc đảm bảo tính trực quan trong dạy học: “Tính cụ thể, hình ảnh của sự kiện có

một giá trị lớn lao, bởi vì chúng cho phép hình dung lại quá khứ” [24, tr.25] Đồng

thời, tác giả cũng liệt kê yêu cầu về sử dụng phương tiện trực quan là một trong 14

yêu cầu quan trọng nhất của giờ học và coi đó là “một nguồn nhận thức” quan trọng cho người học [24, tr.9] Những khẳng định này là cơ sở quan trọng giúp chúng tôi xác định vai trò của HLĐT trong dạy học nói chung và dạy học Lịch sử nói riêng Các tác giả Terry Haydn và Christine Counsell trong cuốn “Môn Lịch sử, công

nghệ thông tin và việc học tập tại trường phổ thông” (History, ICT and Learning in the Secondary school, Routledge Falmer, 2003) đã đưa ra những phân tích về vai trò

Trang 28

của CNTT trong DHLS dựa trên cơ sở đánh giá thực tế việc sử dụng CNTT của GV ở Vương quốc Anh trong hơn 20 năm qua, chỉ ra những “ngộ nhận” của GV về sức

mạnh của CNTT và giá trị thực sự của nó Từ đó, tác giả khẳng định:“Việc sử dụng

công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử có thể giúp thuyết phục học sinh rằng lịch

sử là quan trọng, hữu ích và có ý nghĩa thực tế Sử dụng một cách linh hoạt, công nghệ thông tin sẽ tạo nên những ảnh hưởng tích cực đến thái độ của học sinh với việc học tập nói chung và học tập môn Lịch sử nói riêng” [130, tr.33] Trong đó, xây dựng

các gói học liệu (learning packages) dưới hình thức trang web học tập là một trong những gợi ý thiết kế HLĐT cho bài học cụ thể giúp GV cải thiện chất lượng dạy học,

phát triển năng lực của HS: “Trang web học tập có thể bao gồm nhiều tài liệu có giá

trị: văn bản, phim tư liệu, tranh ảnh Một số trang web còn cho phép truy cập đến các tư liệu gốc và số liệu cập nhật Nó có thể là cung cấp dữ liệu để học sinh thảo luận hoặc cho phép học sinh để tạo ra một sản phẩm mới” [130, tr 75] Như vậy, khi

sử dụng CNTT nói chung, HLĐT nói riêng, trong đó có trang web học tập trong DHLS, GV cần “tỉnh táo” nhìn rõ những ưu nhược điểm của từng phương tiện để có thể phát huy tốt nhất sức mạnh của công nghệ

Trong bài viết “Mô hình học tập dựa trên trò chơi kĩ thuật số và biện pháp

nâng cao hiệu quả dạy học Lịch sử” (Digital Game-based learning (DGBL) model and development methodology for teaching history) trên tạp chí WSEAS

Transactions on Computers, Issue 2, Volume 8, February 2009, các tác giả Nor Azan Mat Zin, Azizah Jaafar, Wong Seng Yue sử dụng trò chơi kĩ thuật số (digital game) như một loại HLĐT trong DHLS Qua phân tích sơ bộ kết quả khảo sát ở các trường trung học địa phương, các tác giả khẳng định việc sử dụng HLĐT nói chung

và sử dụng trò chơi kĩ thuật số nói riêng trong DHLS sẽ có những lợi thế cụ thể sau:

“cụ thể hóa cho sự kiện lịch sử; tăng hứng thú học tập của học sinh đối với môn Lịch sử; học lịch sử thông qua các trải nghiệm sáng tạo [124, tr 325] Các tác giả

cũng đề xuất quy trình thiết kế trò chơi kĩ thuật số trong DHLS gồm 5 giai đoạn lớn:

Giai đoạn phân tích; Giai đoạn thiết kế; Giai đoạn phát triển; Giai đoạn đảm bảo chất lượng; Giai đoạn vận hành; Giai đoạn đánh giá Trong mỗi giai đoạn sẽ có các bước tiến hành cụ thể bao gồm cả phần cơ chế sư phạm và phần trò chơi đảm bảo cho người học có thể học trong khi chơi [124, tr.329] Đây cũng là 5 giai đoạn

cơ bản, GV có thể tham khảo trong quá trình thiết kế HLĐT trong DHLS

Trang 29

Trong bài viết: “Bạn tư duy nhiều hơn khi bạn quan sát: Cơ sở cho việc sử dụng

phim tư liệu trong dạy học khám phá Lịch sử ở trường trung học” (It Makes You Think More When You Watch Things: Scaffolding for Historical Inquiry Using Film

in the Middle School Classroom), The Social Studies, 2007” tác giả Adam Woelders

đã hướng dẫn cách sử dụng phim tư liệu kết hợp với phiếu K-W-L

(Know-Wonder-Learn Charts) trong DHLS như một HLĐT hiệu quả Tác giả khẳng định: “GV nên

sử dụng phim để khuyến khích học sinh tìm hiểu lịch sử Phim có thể cho học sinh thấy một cách rõ ràng về cách kiến thức lịch sử được sử dụng và thể hiện trên các phương tiện truyền thông mà học sinh thấy mỗi ngày Bằng việc so sánh các nguồn thông tin khác nhau người học có thể thông qua nội dung, hình tượng và giá trị của

bộ phim để xây dựng hiểu biết của mình về quá khứ.” [94, tr.149] Do đó, GV có thể

sử dụng các loại phim lịch sử như một HLĐT để phát triển khả năng tư duy, phê phán của người học

Tác giả Adesote, S.A và Fatoki, O.R trong bài viết “Vai trò của công nghệ

thông tin trong dạy và học lịch sử trong thế kỉ 21” (The role of ICT in the teaching and learning of history in the 21 st century, Global Journal of Education Research,

2013) bên cạnh việc chỉ ra ý nghĩa to lớn của môn Lịch sử trong chương trình giáo

dục đã đưa ra những phân tích khái quát về vai trò của CNTT trong DHLS Theo tác giả, vai trò của CNTT đối với việc DHLS trong thế kỉ XXI tác động đến 4 phương

diện: GV, học sinh, hình dung về lịch sử và các quy tắc dạy học [95, tr.2157] Các tác giả còn chỉ rõ: “Nếu trước đây, GV bị giới hạn bởi nguồn lực và công cụ khi

thực hiện chương trình dạy học theo hướng tiếp cận năng lực người học thì hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, những trở ngại và khó khăn của quá khứ đã được giải quyết,… sự xuất hiện của công nghệ thông tin đã khẳng định tính đúng đắn của nhiều lý thuyết giáo dục cổ điển, trong đó thừa nhận việc học tập là quá trình hoạt động chiếm lĩnh kiến thức hơn là tiếp nhận kiến thức và giảng dạy là quá trình hướng dẫn chiếm lĩnh kiến thức hơn là quá trình chuyển giao kiến thức” [95, tr 2158] Từ đó, tác giả kết luận, CNTT sẽ giúp việc DHLS trở nên

cụ thể hơn“lịch sử sẽ trở thành một chủ thể sống động chứ không phải là nghiên

cứu về những vấn đề “đã chết””[95, tr 2158] Như vậy, việc sử dụng CNTT trong

DHLS là một xu thế tất yếu trong bối cảnh hiện nay Và xu thế này hoàn toàn không phủ nhận những thành quả của dạy học truyền thống

Trang 30

Trong cuốn “Dạy học Lịch sử trong thời đại kỹ thuật số” (Teaching History in

the Digital Age, The University of Michigan Press) của tác giả T Mill Kelly (2013)

đã nêu ra những thuận lợi và thách thức của việc giảng dạy lịch sử trong bối cảnh mới với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, sự đa dạng, phong phú của

các nguồn học liệu Để trả lời cho câu hỏi: “Làm thế nào để học sinh có thể học tốt

lịch sử trong một thế giới mà HS có sẵn hàng triệu cuốn sách và hàng tỉ học liệu trên Internet chỉ qua một cú nhấp chuột?” [128, tr.77], tác giả dành toàn bộ chương

2 để xây dựng nguyên tắc tìm kiếm và sử dụng HLĐT trên Google Trong đó, để kiểm tra tính xác thực của học liệu trên một trang web, tác giả đề xuất quy trình bốn

bước sau: Bước 1 Xác định cá nhân/đơn vị sở hữu trang web Bước 2 Kiểm tra gói

siêu dữ liệu trang web dùng để thu hút lượng người truy cập Bước 3 Xem lịch sử hoạt động của trang web Bước 4 Kiểm tra phản hồi của người truy cập [128, tr.26

- 45] Với chương 3, tác giả phân tích ý nghĩa và những lưu ý khi sử dụng các nguồn học liệu cụ thể: hình ảnh, văn bản, đồ họa địa lý… trong DHLS Những chia

sẻ của tác giả là cơ sở để việc tìm kiếm, lựa chọn HLĐT sẵn có để xây dựng trang web học tập trở nên hiệu quả và chính xác hơn

Tiếp cận ở góc độ khác, các tác giả của cuốn “Dạy và học Lịch sử với công

nghệ” (Pastplay: Teaching and Learning History with Technology, University of

Michigan Press, 2014) bên cạnh việc tập trung hướng dẫn xây dựng các trò chơi học tập với sự hỗ trợ của CNTT thông qua các ứng dụng ảo (virtual), mô hình 3D, Google Earth, và các trang web học tập… nhằm tạo hứng thú, sự vui vẻ cho người học và tăng hiệu quả bài học Lịch sử ở trường phổ thông, các tác giả đã nhấn mạnh

vai trò của CNTT trong DHLS bằng cách đưa ra lời giải cho câu hỏi “Tại sao chúng

ta nên sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử?” Lí do chính được đưa

ra là: Do sự thiếu hiệu quả của cách giảng dạy tập trung vào việc kể chuyện, dựa chủ yếu vào sách giáo khoa và sự cần thiết của việc HS phải tích cực tham gia vào các hoạt động như: đưa ra quan điểm, phê phán tư liệu, nghiên cứu, và điều tra lịch

sử… Từ đó, tác giả khẳng định: “Sử dụng công nghệ thông tin khuyến khích được

sự sáng tạo của người học bằng cách tạo cơ hội để người học tìm hiểu quá khứ theo các cách thức mới Khái niệm cũ nhưng công cụ mới, điều đó mở ra những cơ hội học tập mà trước đây không có” [117, tr.13] Thêm vào đó, việc sử dụng CNTT,

trong đó có hình thức sử dụng web học tập - WebQuest được coi là giải pháp cụ thể

Trang 31

để ứng dụng CNTT trong DHLS Bởi: “chi phí hợp lí, người học truy cập được tài

nguyên trực tuyến giá trị: nguồn tư liệu văn bản gốc, hiện vật, và siêu văn bản, cung cấp một khối lượng thông tin lịch sử phong phú hiếm khi thấy trong sách giáo khoa truyền thống Từ đó, người học có thể tiếp nhận nhiều quan điểm, cách đánh giá khác nhau về một chủ đề nhất định, mở rộng sự hiểu biết và đáp ứng tâm trí tò

mò của họ” [117, tr 46] Có thể thấy, CNTT nói chung và trang web học tập được

xây dựng dưới hình thức WebQuest là một loại công cụ mới, hiệu quả để HS chủ động khám phá kiến thức, nội dung lịch sử theo cách sáng tạo và chân thực nhất Những nghiên cứu trên đã bước đầu khẳng định tầm quan trọng của việc sử dụng HLĐT nói chung trong DHLS, đồng thời đi sâu phân tích vai trò, quy trình, hiệu quả sử dụng của một số loại HLĐT có thể sử dụng trong DHLS như: website học tập; phim tư liệu; trò chơi học tập; sách điện tử (e-book), bài giảng điện tử …

1.2.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, nghiên cứu về việc sử dụng HLĐT chưa thực sự đa dạng và có tính hệ thống, ban đầu là những nghiên cứu về nguyên tắc trực quan trong DHLS nói chung Tuy nhiên, bước sang thế kỉ XXI cùng với sự phát triển chung của giáo dục thế giới, các nghiên cứu về việc sử dụng các loại HLĐT trong dạy học nói chung và DHLS nói riêng cũng ngày càng phong phú

Trong cuốn “Đồ dùng trực quan trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông”, Nxb Giáo dục, của tác giả Phan Ngọc Liên, Phạm Kì Tá (1975) và cuốn “Kênh hình

trong dạy học Lịch sử ở trường Trung học phổ thông”, Nxb Đại học Quốc gia Hà

Nội của tác giả Nguyễn Thị Côi (2000) đều đã nhấn mạnh vai trò của nguyên tắc trực quan trong DHLS và đưa ra những hướng dẫn cụ thể cho việc sử dụng từng loại trực quan

Trong cuốn “Phương pháp dạy học Lịch sử”, NXB Đại học Sư phạm, tập 2

do Phan Ngọc Liên chủ biên (2002), các tác giả một lần nữa khẳng định vai trò của

nguyên tắc trực quan trong dạy học nói chung và đặc biệt với DHLS nói riêng:

“Nguyên tắc trực quan là một trong những nguyên tắc cơ bản của lý luận dạy học, nhằm tạo cho học sinh những biểu tượng và hình thành các khái niệm trên cơ sở trực tiếp quan sát hiện vật đang học hay đồ dùng trực quan minh họa sự vật” [54,

tr.43] Đối với môn Lịch sử: “Do đặc điểm của việc học tập lịch sử - không trực

tiếp quan sát các sự kiện - nên phương pháp trực quan có ý nghĩa rất quan trọng

Trang 32

Có nhiều loại đồ dùng trực quan khác nhau, cách sử dụng và hiệu quả cũng khác nhau, song đều có tác dụng nâng cao chất lượng dạy học lịch sử Việc sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học hiện nay không chỉ giới hạn ở việc sử dụng bản đồ, tranh ảnh, mô hình mà còn có các loại phương tiện kĩ thuật hiện đại” [54, tr.43]

Những nguyên tắc này là định hướng cho việc thiết kế và sử dụng HLĐT trong dạy học Lịch sử

Các tác giả Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, Trần Vĩnh

Tường (2002), trong cuốn “Một số chuyên đề phương pháp dạy học Lịch sử”, Nxb

Đại học Quốc gia Hà Nội cũng đã nhấn mạnh ý nghĩa của đồ dùng trực quan trong

dạy học Lịch sử: “Đồ dùng trực quan nếu được sử dụng tốt sẽ huy động được sự

tham gia của nhiều giác quan, sẽ kết hợp chặt chẽ được hai hệ thống tín hiệu với nhau: tai nghe, mắt thấy, tạo điều kiện cho học sinh dễ hiểu, nhớ lâu, gây được những mối liên hệ thần kinh tạm thời khá phong phú, phát triển ở học sinh năng lực chú ý, quan sát và hứng thú” [52, tr.40] Bên cạnh đó, các tác giả cũng nêu rõ

những lưu ý tránh việc lạm dụng và sử dụng không đúng mức đồ dùng trực quan Đây là những lưu ý quan trọng, giúp xác định yêu cầu và nguyên tắc khi thiết kế và

sử dụng HLĐT trong DHLS

Trong cuốn “Hệ thống các phương pháp dạy học Lịch sử ở trường Trung học cơ

sở”, NXB Đại học Sư phạm, do tác giả Trịnh Đình Tùng chủ biên (2006) đã cụ thể hóa

hệ thống PPDH phù hợp với môn Lịch sử Trong đó, tác giả đi sâu phân tích vai trò, ý

nghĩa của việc sử dụng tài liệu khai thác trên Internet trong DHLS, chỉ ra những ưu thế

của nguồn tài liệu trên Internet: “về dung lượng”; “khả năng truy cập”; “về loại

hình”; “về nội dung” và coi đó không chỉ là “một nguồn nhận thức lịch sử” mà còn có

“ý nghĩa rất quan trọng đối với giáo dưỡng, giáo dục và phát triển học sinh” trong học

tập môn Lịch sử [87, tr.132] Đồng thời, tác giả giới thiệu một số phương pháp khai thác tài liệu trên Internet đối với các website cụ thể như: http://vnexpress.net/;

http://thesevenwondersoftheworld.com/ và khẳng định “Sử dụng tài liệu trên Internet

trong dạy học Lịch sử có tác dụng thiết thực trong việc phát triển học sinh Qua niềm say mê, hứng thú bộ môn, đã giúp học sinh phát huy được tư duy độc lập, biết cách tổ chức các công việc mà thầy, cô giao cho Việc để các em tự tìm kiếm các tài liệu phục

vụ bài học sẽ phát huy được năng lực nhận thức độc lập, rèn luyện kĩ năng thực hành

bộ môn, khiến các em tự tin rất nhiều khi học, tránh được lối học thụ động” [87,

Trang 33

tr.138] Như vậy, xét ở góc độ phương pháp, các tài liệu khai thác trên các website cụ thể đã được sử dụng như một nguồn HLĐT phục vụ hiệu quả cho quá trình DHLS

Tác giả Nguyễn Thị Côi (2006) trong cuốn “Các con đường, biện pháp nâng cao

hiệu quả dạy học Lịch sử ở trường phổ thông”, Nxb Đại học Sư phạm đã nêu rõ vai trò

của việc sử dụng đồ dùng trực quan - được coi như một biện pháp đổi mới dạy học theo

mô hình “lấy học sinh làm trung tâm”: “Sử dụng đồ dùng trực quan như một nguồn

kiến thức GV nêu vấn đề gợi mở HS sử dụng đồ dùng trực quan và tự rút ra nhận xét”

[17, tr 28] Do đó, khi xây dựng các biện pháp sử dụng HLĐT không đơn thuần mang tính minh họa GV dùng đồ dùng trực quan để trình bày kiến thức cho HS mà hơn hết cần hướng dẫn HS tự khai thác HLĐT và lĩnh hội kiến thức theo mục tiêu bài học

Trong cuốn “Đổi mới nội dung và phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ

thông”, Nxb Đại học Sư phạm (2008) các tác giả đưa ra những nhận định khách

quan về thế mạnh, vai trò của CNTT trong dạy học nói chung và DHLS nói riêng:

“Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông là xu thế tất yếu của giáo dục thế

hệ trẻ hiện nay Các ứng dụng của nó trong giảng dạy thực sự trở thành phương tiện dạy học có khả năng tích hợp cao các chức năng của những phương tiện dạy học truyền thống Khả năng đa truyền thông, đa phương tiện (Multimedia) là một trong những ưu thế vượt trội của công nghệ thông tin với tư cách là một phương tiện trực quan quan trọng trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông” [57, tr.463]

Những tồn tại cần khắc phục khi ứng dụng CNTT trong DHLS có những tiến triển

đáng kể, cụ thể là:“các sản phẩm số có nội dung lịch sử (những trang web về các

chủ đề lịch sử; các phim VCD tư liệu lịch sử, các dạng CD sách điện tử, tra cứu tư liệu, đố vui lịch sử, ) cũng xuất hiện ngày càng đa dạng, phong phú nhưng phần lớn các sản phẩm này thường ít bám sát nội dung chương trình, sách giáo khoa nên chỉ được khai thác, sử dụng dưới dạng tài liệu tham khảo” [57, tr 469] Như vậy,

có thể thấy sự phổ biến của các sản phẩm số trong DHLS, nhưng lại thiếu các nguồn HLĐT có chất lượng giúp nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn

Cũng tiếp cận dưới góc độ phương pháp dạy học, tác giả Vũ Quang Hiển và Hoàng Thanh Tú, đã đưa ra quan điểm của mình về việc sử dụng phương tiện trực

quan nói chung trong cuốn “Phương pháp dạy học môn Lịch sử ở trường Trung học

phổ thông”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014: “Đồ dùng phương tiện trực quan

là một phần không thể thiếu trong môi trường dạy học với tác dụng tạo nên sự

Trang 34

tương tác giữa người dạy và người học” [32, tr.78] Tuy nhiên “Phương tiện chỉ là công cụ trợ giúp việc chuyển tải nội dung Nó không quyết định đến toàn bộ chất lượng giảng dạy Tùy nội dung từng bài, từng phần trong bài, giáo viên lựa chọn phương pháp giảng dạy và phương tiện kèm theo phù hợp” [32, tr.78] Đây có thể

coi là nguyên tắc cần lưu ý khi sử dụng các phương tiện trực quan nói chung và học liệu điện tử nói riêng

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm lịch sử,

các tác giả của cuốn “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn Lịch sử”, NXB

Đại học Sư phạm, 2011 đã khẳng định kĩ năng ứng dụng thành tựu CNTT và DHLS

là cần thiết trong bối cảnh hiện nay và tập trung vào kĩ năng khai thác thông tin trên

mạng Internet; kĩ năng sử dụng công cụ MS PowerPoint Hướng dẫn GV thiết kế,

tiến hành bài giảng điện tử là một trong hai mục đích quan trọng của kĩ năng sử dụng MS PowerPoint Nếu hiểu theo nghĩa rộng, bài giảng điện tử cũng là một loại

HLĐT “được thiết kế, tổ chức theo ý đồ, mục tiêu sư phạm nhất định” [19, tr.148]

Vì vậy, trong DHLS GV có thể sử dụng bài giảng điện tử như một HLĐT độc lập

trong đó bao gồm nhiều HLĐT đơn lẻ: phim tư liệu, tranh ảnh

Bên cạnh đó, những năm gần đây các công bố về ứng dụng CNTT nói chung,

sử dụng HLĐT trong DHLS nói riêng trên các tạp chí, hội thảo của các chuyên gia giáo dục Lịch sử ngày càng phổ biến Trước hết, các bài viết thống nhất khẳng định tầm quan trọng của việc sử dụng CNTT nói chung trong việc đổi mới PPDH Lịch

sử Cụ thể: Bài viết “Ứng dụng công nghệ thông tin tạo phần mềm trong DHLS ở

trường phổ thông”, Lê Ngọc Thu, Tạp chí Giáo dục số 108 (2005), tr 27 - 28;

“Công nghệ thông tin và truyền thông với vấn đề đổi mới phương pháp dạy học

Lịch sử ở trường phổ thông”, Nguyễn Mạnh Hưởng, Tạp chí Giáo dục số 185

(3/2008), tr 41 - 43

Song song với đó là các đề xuất sử dụng các loại HLĐT, thiết bị dạy học cụ

thể như: “Sử dụng phần mềm Microsoft PowerPoint trong dạy học Lịch sử ở trường

phổ thông”, của tác giả Nguyễn Thị Côi, Đoàn Văn Hưng, Tạp chí Giáo dục, số 98

(10/2004), tr 35 - 37; “Khả năng hỗ trợ của máy vi tính trong dạy học Lịch sử ở

trường trung học phổ thông”, của tác giả Lê Thị Thu Hà, Tạp chí Giáo dục số 108

(2005), tr 29 – 230

Ngoài ra, nghiên cứu về CNTT nói chung, và học liệu ở những khía cạnh nhất

Trang 35

định trong dạy học Lịch sử còn có luận án Tiến sĩ, trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Tiêu biểu là: “Sử dụng phần mềm PowerPoint trong dạy học Lịch sử ở trường

Trung học phổ thông (Qua bài nghiên cứu kiến thức mới phần Lịch sử thế giới lớp 10)”, Đoàn Văn Hưng, Luận án TSGDH, Hà Nội, 2009; “Nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử ở trường Trung học phổ thông với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin (qua thực nghiệm sư phạm ở một số tỉnh, thành phố đồng bằng Bắc bộ)”,

Nguyễn Mạnh Hưởng, Luận án TSGDH, Hà Nội, 2011

1.3 Nhận xét chung, những vấn đề luận án kế thừa và tiếp tục giải quyết

Như vậy, qua tìm hiểu các nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề sử dụng CNTT, HLĐT trong dạy học nói chung và DHLS nói riêng, có thể nhận thấy các vấn đề chính sau đã được giải quyết:

Thứ nhất, khẳng định sự cần thiết và tầm quan trọng của việc sử dụng CNTT,

HLĐT trong môi trường dạy học hiện đại hiện nay, trong đó có DHLS

Thứ hai, phân loại HLĐT và nghiên cứu sâu một số loại HLĐT nhất định Mỗi

loại HLĐT lại có những ưu thế riêng khi sử dụng phục vụ giảng dạy môn học ở những điều kiện khác nhau

Thứ ba, xác định các hình thức chính để sử dụng HLĐT đạt hiệu quả cao

Trong đó dạy học trực tiếp (Face to face), dạy học kết hợp (Blended learning), dạy học trực tuyến (E- learning) là ba phương thức phổ biến hiện nay

Tuy nhiên, chưa có công trình nào trả lời một cách hệ thống các vấn đề dưới đây:

Một là: HLĐTcó ý nghĩa như thế nào đối với việc DHLS ở trường THPT trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay?

Hai là: Thực tiễn việc sử dụng HLĐT trong DHLS ở trường THPT hiện nay có

ưu điểm, hạn chế nào?

Ba là: Xác định mức độ nội dung kiến thức cần sử dụng HLĐT như thế nào? Bốn là: Thiết kế loại HLĐT nào phù hợp với DHLS ở trường THPT hiện nay? Năm là: Cần xây dựng quy trình thiết kế và các biện pháp sử dụng HLĐT trong môn Lịch sử ở trường THPT nói chung và dạy học Lịch sử lớp 10 nói riêng như thế nào cho hiệu quả?

Trên cơ sở tiếp thu những thành quả nghiên cứu từ các công trình đi trước, luận án sẽ tập trung giải quyết các vấn đề sau:

Thứ nhất, giải thích được các khái niệm, thuật ngữ: HLĐT, HLĐT trong DHLS,

Trang 36

thiết kế và sử dụng HLĐT trong DHLS ở trường THPT, phân loại và đặc trưng của HLĐT, hình thức dạy học trực tiếp, hình thức dạy học kết hợp Đồng thời, trên cơ sở mục tiêu môn học, phân tích đặc điểm của kiến thức lịch sử, đặc điểm quá trình nhận thức của

HS trong DHLS; phân tích vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng HLĐT trong DHLS

Thứ hai, phân tích mối liên hệ giữa việc sử dụng HLĐT với các yếu tố khác

trong QTDH Lịch sử ở trường THPT, những yêu cầu của đổi mới cách thức triển khai PPDH hiện nay và đề xuất những yêu cầu cơ bản của việc sử dụng HLĐT trong DHLS ở trường THPT

Thứ ba, đánh giá chung về thực trạng DHLS ở trường THPT và đi sâu phân

tích những ưu điểm, hạn chế trong việc sử dụng HLĐT dựa trên kết quả điều tra Từ

đó, nêu ra những vấn đề thực tiễn đặt ra cần giải quyết

Thứ tư, nghiên cứu chương trình môn Lịch sử lớp 10 ở trường THPT và xác

định những nội dung kiến thức phù hợp với việc sử dụng HLĐT, lựa chọn quy trình thiết kế HLĐT phù hợp với mục tiêu đề ra Cụ thể luận án sẽ thiết kế HLĐT dưới hình thức trang web học tập hỗ trợ dạy học trực tiếp và dạy học kết hợp

Thứ năm, đề xuất quy trình, các biện pháp sử dụng HLĐT đã thiết kế và thực

nghiệm sư phạm để kiểm định hiệu quả của quy trình và các biện pháp đề xuất Định hướng xuyên suốt trong quy trình thiết kế và sử dụng HLĐT của luận án là căn cứ vào hình thức tổ chức dạy học khác nhau để đưa ra các biện pháp sử dụng HLĐT phù hợp

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Trong chương 1, chúng tôi đã tiến hành tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về các vấn đề mang tính tổng quát như: trực quan, phương tiện dạy học, đến các vấn đề cụ thể như: CNTT, HLĐT và các hình thức tổ chức dạy học hiện đại trong dạy học nói chung và DHLS nói riêng

Chúng tôi nhận thấy sử dụng CNTT nói chung, HLĐT theo các HTDH hiện đại nói riêng hiện đang là một trong những xu hướng phổ biến của giáo dục hiện đại trên thế giới Rất nhiều ưu điểm của CNTT cũng như HLĐT được chỉ ra: khả năng tương tác, kết nối, đa phương tiện; khả năng cá nhân hóa người học; tăng hiệu quả học tập và hiệu quả kinh tế; mở rộng nội dung, không gian học tập Sự phát triển nhanh chóng của Internet và các thiết bị kết nối thông minh đưa đến sự đa dạng về

Trang 37

loại hình HLĐT đồng thời mở ra các hình thức sử dụng HLĐT hiện đại như: dạy học kết hợp, dạy học trực tuyến Tuy nhiên, cũng không ít những “ngộ nhận” của

GV về sức mạnh của công nghệ cần được thay đổi

Ở Việt Nam, sử dụng CNTT nói chung, HLĐT nói riêng trong dạy học là vấn

đề quan trọng, cấp thiết nhằm hướng đến đổi mới dạy học phát triển năng lực người học Các nghiên cứu về HLĐT trong dạy học và DHLS chưa thực sự hệ thống nhưng đã có sự phát triển mạnh mẽ về số lượng và chất lượng trong những năm gần đây Tất cả đều khẳng định sử dụng CNTT trong dạy học, đặc biệt sử dụng HLĐT trong DHLS theo các HTDH hiện là xu thế tất yếu, không thể đảo ngược

Dựa trên kết quả nghiên cứu của các công trình trong nước và thế giới, chúng tôi định hướng bốn vấn đề cơ bản mà luận án sẽ tập trung giải quyết: làm rõ các cơ

sở lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài; xác định nội dung kiến thức lịch sử lớp

10 phù hợp để thiết kế HLĐT; đề xuất quy trình thiết kế, quy trình và các biện pháp

sử dụng HLĐT theo các hình thức tổ chức dạy học hiện đại

Trang 38

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Một số khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài

* Học liệu

Mặc dù không phải mới xuất hiện nhưng trong những năm gần đây, cùng với

sự phát triển và đổi mới mạnh mẽ trong giáo dục, khái niệm “học liệu” ngày càng trở nên phổ biến, xuất hiện thường xuyên hơn trong các bài viết, báo cáo khoa học,

có nhiều trung tâm nghiên cứu và sản xuất học liệu Hiện nay, có hai cách hiểu cơ

bản về khái niệm “học liệu” như sau:

Ở Việt Nam, “học liệu là các phương tiện vật chất lưu giữ, mang hoặc phản

ánh nội dung học tập, nghiên cứu Học liệu có thể sử dụng dưới dạng truyền thống (tranh ảnh, ảnh dạng thẻ)” (Theo Khoản 2, Điều 2, Thông tư số số 11/2018/TT-

BGDĐT: Ban hành tiêu chí để xác định hàng hóa chuyên dùng phục vụ trực tiếp

cho giáo dục)

Trên thế giới, mặc dù được gọi bằng một số thuật ngữ tiếng Anh khác nhau như: Teaching materials (tài liệu giảng dạy), Learning materials (tài liệu học tập), Instructional materials (tài liệu hướng dẫn học tập) hay Learning Resources (tài nguyên học tập) nhưng khái niệm “học liệu” cơ bản được hiểu theo giải nghĩa của

“Từ điển GreenWood về giáo dục” (The Greenwood Dictionary of Education) là:

“những phương tiện được sử dụng để hỗ trợ cho việc truyền đạt kiến thức hoặc phát triển kĩ năng Ví dụ như sách giáo khoa, các nguồn tài liệu nghe nhìn, các chương trình máy tính và thiết bị thí nghiệm ” [112, tr.181]

Do đó, có thể hiểu chung nhất học liệu là các phương tiện vật chất mang, lưu giữ nội dung tri thức với ý tưởng sư phạm cụ thể để phục vụ việc dạy và học Học

Trang 39

liệu gồm hai đặc trưng quan trọng là: lưu trữ thông tin và nội dung tri thức thể hiện

ý tưởng sư phạm cụ thể

* Học liệu điện tử

Trong bối cảnh cách mạng công nghệ 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ trên thế giới, công nghệ thông tin chính là "chìa khóa" của sự thay đổi, tạo nên một diện mạo mới tất cả các lĩnh vực trong đời sống Đối với giáo dục, CNTT đã đưa đến sự ra đời và phát triển của các phương thức, phương tiện dạy học hiện đại chưa từng có trước

đây, trong đó có “học liệu điện tử”

Khái niệm “học liệu điện tử” mới xuất hiện từ những năm 50 của thế kỉ XX, cùng với sự ra đời phát triển của CNTT và được hiểu cùng một ý nghĩa với từ tiếng

Anh là: “courseware”, được kết hợp từ “khóa học” (course) và “phần mềm” (software) [126, tr 823] Tuy còn nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm “học

liệu điện tử” - “courseware” nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất ba cách hiểu cơ bản về bản chất của “học liệu điện tử”:

Thứ nhất, theo nghĩa hẹp, HLĐT được hiểu là phần mềm giáo dục cụ thể được

“đóng gói” dùng để tạo ra một phần khóa học hoặc một khóa học e-learning hoàn chỉnh (e - learning được hiểu là hình thức dạy học thông qua mạng Internet) [111,

tr 109], [128, tr.3 - 4], [139], [149]

Thứ hai, theo nghĩa rộng, HLĐT là khóa học e - learning hoàn chỉnh với đầy

đủ 4 cấu phần (thông tin chung về khóa học; hướng dẫn học tập; nội dung khóa học; tài liệu tham khảo chung) đảm bảo các yêu cầu cụ thể sau: Thể hiện rõ ràng mục tiêu học tập; Cấu trúc rõ ràng, logic; Có nội dung chính xác, phù hợp với mục tiêu học tập; Giao diện thân thiện, dễ sử dụng, thuận tiện khi duyệt qua nội dung học tập; Hỗ trợ tìm kiếm thông tin… [93, tr 42 - 43], [98, tr 130] Để thiết kế và phát triển “học liệu điện tử” theo nghĩa này đòi hỏi sự tham gia của một nhóm các chuyên gia thuộc các lĩnh vực: giáo dục, thiết kế đồ họa, lập trình

Thứ ba, theo cách hiểu chung nhất học liệu điện tử được hiểu là hệ thống phương tiện học tập được số hóa theo ý tưởng sư phạm cụ thể nhằm phục vụ việc dạy và học Dạng thức số hóa có thể là văn bản, trang trình chiếu (slide), bảng

dữ liệu, âm thanh, hình ảnh, video số, các ứng dụng tương tác… và cả phương tiện hỗn hợp gồm các dạng thức nói trên [9], [138, tr 39], [161] Số hoá ở đây

được hiểu là “việc sử dụng các thiết bị công nghệ số để chuyển đổi các hình thức

tài liệu dưới dạng truyền thống sang dạng số để thông tin có thể được xử lí, lưu trữ

và truyền phát qua các thiết bị kĩ thuật số và trên mạng Internet” [161]

Trang 40

Ba quan niệm trên mặc dù có những khác biệt nhất định ở mức độ tiếp cận

nhưng đều thống nhất về mặt bản chất của HLĐT bao gồm hai thành phần: Thành phần vật chất: có chức năng lưu giữ hoặc phản ánh thông tin dưới dạng số hóa; Thành phần nội dung: chứa nội dung, định hướng học tập để cho người dạy và

người học sử dụng phục vụ mục đích giáo dục cụ thể Hai thành phần này hoàn toàn

không phải là sự kết hợp cơ học, khiên cưỡng Trên thực tế, chúng đan xen, hòa quyện thành một chỉnh thể thống nhất phục vụ mục đích cuối cùng là hiệu quả giáo dục Đây cũng chính là hai đặc trưng quan trọng tạo nên sự khác biệt HLĐT với các

học liệu truyền thống và tư liệu dạy học Cụ thể, HLĐT khác với học liệu truyền

thống ở thành phần vật chất số hóa, và khác với tư liệu điện tử ở thành phần nội dung có mục đích sư phạm cụ thể

Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả tiếp cận sử dụng khái niệm theo

cách hiểu chung nhất, nhấn mạnh HLĐT với tư cách là một phương tiện số hóa phục vụ việc giảng dạy và học tập Đây cũng là cách hiểu được sử dụng phổ biến

trong giáo dục ở Việt Nam hiện nay

Trong dạy học, HLĐT được HS sử dụng làm phương tiện, nguồn tài liệu để học tập và được GV sử dụng như một phương tiện trực quan làm căn cứ để tổ chức,

hỗ trợ học tập theo đúng mục tiêu, nội dung dạy học

* Học liệu điện tử trong dạy học lịch sử: từ việc thống nhất quan niệm về HLĐT nói chung, vận dụng vào DHLS có thể hiểu HLĐT trong DHLS là hệ thống

tư liệu chứa thông tin về lịch sử được số hóa theo ý tưởng sư phạm với các hình thức đa dạng (văn bản, tranh ảnh, video, đồ họa trực quan (infographic), sách điện tử (e - book), trang web ) và sử dụng theo một quy trình chặt chẽ hướng đến mục tiêu cụ thể trong DHLS

* Thiết kế và sử dụng HLĐT trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông

Trong bối cảnh giáo dục đang chịu sự tác động và thay đổi mạnh mẽ của CNTT, HLĐT với những đặc trưng riêng biệt sẽ có được ưu thế nổi trội hỗ trợ tích cực quá trình dạy và học của GV và HS hơn hẳn các phương tiện dạy học khác Tuy vậy, xét về mặt bản chất HLĐT cũng vẫn là công cụ giúp bài giảng sinh động, hấp dẫn hơn, không thể thay thế GV trong mọi hoạt động sư phạm Hiệu quả tiết học vẫn tập trung trước hết và chủ yếu vào vai trò tổ chức, hướng dẫn hoạt động nhận thức của GV

Bởi vậy, trong phạm vi luận án thiết kế và sử dụng HLĐT trong dạy học lịch

sử ở trường phổ thông được hiểu là: quá trình GV tạo nên HLĐT với các định dạng

Ngày đăng: 19/09/2019, 15:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w