Đề tài nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề xây dựng hệ thống bài tập môn Tiếng Việt lớp 3 theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh; Thực nghiệm sư phạm, đánh giá tính khả thi, tính phù hợp, chất lượng và hiệu quả của việc xây dựng hệ thống bài tập môn Tiếng Việt lớp 3 theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh.
Trang 1ĐỀ TÀI:
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 3
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
A PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong xu thế phát triển hiện nay, với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, sựphát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật đã tác động mạnh mẽ và tạo ra sự
thay đổi lớn lao đến các lĩnh vực của đời sống xã hội Đảng ta luôn coi Giáo dục
là quốc sách hàng đầu Trước yêu cầu đổi mới của thời đại, đòi hỏi ngành Giáo
dục phải đổi mới toàn diện về mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học để giảiquyết những vấn đề cấp bách đặt ra.Việc đổi mới giáo dục luôn được Đảng vàNhà nước quan tâm và được cụ thể hóa trong Nghị quyết số 29-NQ/TW ( tại Hộinghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI)
Trong mấy năm gần đây, vấn đề dạy học trong nhà trường phổ thông đã có
sự chuyển biến mạnh mẽ từ hướng dạy học nội dung sang dạy học phát triểnnăng lực Với các thầy cô dạy Tiếng Việt ở tiểu học, bên cạnh việc phải thay đổiphương pháp dạy học còn cần biết hướng dẫn HS rèn luyện nhằm phát triểnnăng lực đọc, viết, nói nghe Vì vậy cho nên ngoài việc học tập theo sự hướngdẫn của thầy cô, các em còn phải rèn luyện thông qua hệ thống các bài tập đểnăm chắc nội dung đã học Hệ thống bài tập định hướng phát triển năng lựcchính là công cụ để học sinh luyện tập nhằm hình thành năng lực và là công cụ
để giáo viên và các cán bộ quản lý giáo dục kiểm tra, đánh giá năng lực của họcsinh và biết được mức độ đạt chuẩn của quá trình dạy học
Bài tập là một thành phần quan trọng trong môi trường học tập mà ngườigiáo viên cần thực hiện Vì vậy, trong quá trình dạy học, người giáo viên cầnphải thay đổi quan niệm và biết cách xây dựng các bài tập định hướng phát triểnnăng lực
Xuất phát từ những lí do trên nên tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài:" Xây dựng
hệ thống bài tập môn Tiếng Việt lớp 3 theo định hướng phát triển năng lực" làm nội
dung nghiên cứu.
Trang 23 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
3.1 Khách thể nghiên cứu
Là quá trình dạy học môn tiếng Việt lớp 3 ở trường tiểu học
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Là quy trình xây dựng hệ thống bài tập môn Tiếng Việt lớp 3 theo định hướngphát triển năng lực cho học sinh
4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề xây dựng hệ thống bài
tập môn Tiếng Việt lớp 3 theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh
- Thực nghiệm sư phạm, đánh giá tính khả thi, tính phù hợp, chất lượng vàhiệu quả của việc xây dựng hệ thống bài tập môn Tiếng Việt lớp 3 theo định hướngphát triển năng lực cho học sinh
5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung giới thiệu và giải quyết những vấn đề về việc xây dựng hệthống bài tập môn Tiếng Việt lớp 3 theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
- Phương pháp phân tích, tổng hợp các tài liệu, sách báo, văn bản liên quan đến
đề tài
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp đàm thoại, phỏng vấn: Trò chuyện trao đổi với giáo viên để
tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn về việc xây dựng hệ thống bài tập mônTiếng Việt lớp 3 theo định hướng phát triển năng lực
- Phương pháp quan sát, khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng cách thức
xây dựng và vận dụng hệ thống bài tập môn Tiếng Việt lớp 3 theo định hướngphát triển năng lực
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm để kiểm tra, đánh giá tính khả thi của đề
tài
Trang 3
B PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ
XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 3
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Thế nào là đánh giá năng lực
Đánh giá năng lực là đánh giá các kỹ năng nhận thức và xã hội, kỹ nănghợp tác và các năng lực sáng tạo, các phong cách tư duy khác nhau Điều này
có nghĩa là đánh giá theo chiều rộng
Đánh giá năng lực không chỉ là yêu cầu sự nhắc lại (kỹ năng tư duy bậcthấp), mà là các kỹ năng học tập, kỹ năng xây dựng kiến thức và kỹ năng ứngdụng (kỹ năng tư duy bậc cao) Điều này có nghĩa là đánh giá theo chiều sâu
Đánh giá năng lực thông qua các sản phẩm của hoạt động học và quá trìnhhọc
Chú ý đến tiềm năng của học sinh như: Cách học sinh quan sát, nhận biết
sự việc, nhận thức về một vấn đề như thế nào? Khả năng trực giác thế nào?Phong cách tư duy của học sinh là gì? Học sinh nhận xét thế nào? Học sinh có
ưu điểm gì trong hoạt động học? Trong việc hợp tác với các học sinh khác?
1.2 Mục tiêu chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học
1.2.1.Mục tiêu chung của môn Tiếng Việt ở trường tiểu học:
- Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng Việt (đọc,viết, nghe, nói) và cung cấp những kiến thức sơ giản gắn với việc học TiếngViệt nhằm từng bước tạo ra ở học sinh năng lực dùng Tiếng Việt để học tập ởtiểu học và các bậc học cao hơn, để giao tiếp trong các môi trường hoạt độngcủa lứa tuổi
- Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện cho học sinhcác thao tác tư duy cơ bản (phân tích, tổng hợp, phán đoán )
- Cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và conngười, về văn hoá và văn học của Việt Nam và nước ngoài để từ đó:
+ Góp phần bồi dưỡng tình yêu cái đẹp, cái thiện, lòng trung thực, lòng tốt,
lẽ phải và sự công bằng trong xã hội; góp phần hình thành lòng yêu mến và thóiquen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt
Trang 4+ Góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại: có tri thức,biết tiếp thu truyền thống tốt đẹp của dân tộc, biết rèn luyện lối sống lành mạnh,ham thích làm việc và có khả năng thích ứng với cuộc sống xã hội sau này.
1.2.2.Yêu cầu cần đạt về năng lực trong dạy học môn Tiếng Việt
Năng lực trong môn Tiếng Việt ở tiểu học là năng lực ngôn ngữ Đó chính
là khả năng sử dụng tiếng nói và chữ viết trong giao tiếp, thể hiện ở các kĩ năngđọc, viết, nói và nghe Đây chính là biểu hiện rõ nhất của năng lực giao tiếp, mộtnăng lực chung hết sức quan trọng dối với người học, năng lực công cụ Nănglực ngôn ngữ được thể hiện thông qua các tiêu chí sau:
- Đọc trôi chảy và hiểu đúng các văn bản thuộc các kiểu loại khác nhau cóchủ đề, nội dung phù hợp với lứa tuổi; biết phản hồi về các văn bản đã học; cóthói quen tìm tòi, mở rộng phạm vi đọc
- Viết được các văn bản thuộc các kiểu loaị khác nhau có chủ đề, nội dungphù hợp về lứa tuổi, phục vụ yêu cầu học tập và đời sống; bảo đảm các yêu cầu
1.2 Xây dựng hệ thống bài tập theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh trong môn Tiếng Việt ở trường tiểu học.
1.2.1 Tiếp cận bài tập định hướng phát triển năng lực
Những hạn chế của việc xây dựng bài tập truyền thống
Các nghiên cứu thực tiễn về bài tập trong dạy học đã rút ra những hạn chếcủa việc xây dựng bài tập truyền thống như sau:
- Tiếp cận một chiều, ít thay đổi trong việc xây dựng bài tập, thường lànhững bài tập đóng
- Thiếu về tham chiếu ứng dụng, chuyển giao cái đã học sang vấn đề chưabiết cũng như các tình huống thực tiễn cuộc sống
- Kiểm tra thành tích, chú trọng các thành tích nhớ và hiểu ngắn hạn
- Quá ít ôn tập thường xuyên và bỏ qua sự kết nối giữa cái đã biết và cái mới
- Tính tích lũy của việc học không được lưu ý đến một cách đầy đủ…
Những ưu điểm của việc xây dựng bài tập theo định hướng phát triển năng lực
Trang 5- Trọng tâm không phải là các thành phần tri thức hay kỹ năng riêng lẻ mà là
sự vận dụng có phối hợp các thành tích riêng khác nhau trên cơ sở một vấn đềmới đối với người học
- Tiếp cận năng lực không định hướng theo nội dung học trừu tượng mà luôntheo các tình huống cuộc sống của HS, theo “thử thách trong cuộc sống” Nộidung học tập mang tính tình huống, tính bối cảnh và tính thực tiễn
- So với dạy học định hướng nội dung, dạy học định hướng phát triển nănglực định hướng mạnh hơn đến học sinh và các quá trình học tập
Chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực được xây dựng trên cơ
sở chuẩn năng lực của môn học Năng lực chủ yếu hình thành qua hoạt động họccủa học sinh Hệ thống bài tập định hướng phát triển năng lực chính là công cụ
để học sinh luyện tập nhằm hình thành năng lực và là công cụ để giáo viên vàcác cán bộ quản lý giáo dục kiểm tra, đánh giá năng lực của học sinh và biếtđược mức độ đạt chuẩn của quá trình dạy học
Bài tập là một thành phần quan trọng trong môi trường học tập mà ngườigiáo viên cần thực hiện Vì vậy, trong quá trình dạy học, người giáo viên cầnbiết xây dựng các bài tập định hướng phát triển năng lực
Các bài tập trong Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (Programme for International Student Assesment * PISA) là ví dụ điểm hình cho xu hướng xây
dựng các bài kiểm tra, đánh giá theo năng lực Trong các bài tập này, người tachú trọng sự vận dụng các hiểu biết riêng lẻ khác nhau để giải quyết một vấn đềmới đối với người học, gắn với tình huống cuộc sống PISA không kiểm tra kiếnthức riêng lẻ của HS mà kiểm tra các năng lực vận dụng như năng lực đọc hiểu,năng lực toán học và khoa học tự nhiên
1.2.2 Phân loại bài tập định hướng phát triển năng lực
Đối với giáo viên, bài tập là yếu tố điều khiển quá trình giáo dục Đối vớihọc sinh, bài tập là một nhiệm vụ cần thực hiện, là một phần nội dung học tập.Các bài tập có nhiều hình thức khác nhau, có thể là bài tập miệng, bài tập viết,bài tập ngắn hạn hay dài hạn, bài tập theo nhóm hay cá nhân, bài tập trắc nghiệmđóng hay tự luận mở Bài tập có thể đưa ra dưới hình thức một nhiệm vụ, một đềnghị, một yêu cầu hay một câu hỏi
Những yêu cầu chung đối với các bài tập là:
Trang 6- Được trình bày rõ ràng.
- Có ít nhất một lời giải.
- Với những dữ kiện cho trước, HS có thể tự lực giải được.
- Không giải qua đoán mò được.
Theo chức năng lý luận dạy học, bài tập có thể bao gồm: Bài tập học
và bài tập đánh giá (thi, kiểm tra):
- Bài tập học: Bao gồm các bài tập dùng trong bài học để lĩnh hội tri thức
mới, chẳng hạn các bài tập về một tình huống mới, giải quyết bài tập này
để rút ra tri thức mới, hoặc các bài tập để luyện tập, củng cố, vận dụngkiến thức đã học
- Bài tập đánh giá: Là các kiểm tra ở lớp do giáo viên ra đề hay các đề tập
trung như kiểm tra chất lượng, so sánh; bài thi tốt nghiệp, thi tuyển
Thực tế hiện nay, các bài tập chủ yếu là các bài luyện tập và bài thi, kiểmtra Bài tập học tập, lĩnh hội tri thức mới ít được quan tâm Tuy nhiên, bài tậphọc tập dưới dạng học khám phá có thể giúp học sinh nhiều hơn trong làm quenvới việc tự lực tìm tòi và mở rộng tri thức
Theo dạng của câu trả lời của bài tập “mở” hay “đóng”, có các dạng bài tập sau:
- Bài tập đóng: Là các bài tập mà người học (người làm bài) không cần tự
trình bày câu trả lời mà lựa chọn từ những câu trả lời cho trước Như vậy trongloại bài tập này, GV đã biết câu trả lời, HS được cho trước các phương án có thểlựa chọn
- Bài tập mở: Là những bài tập mà không có lời giải cố định đối với cả giáo
viên và học sinh (người ra đề và người làm bài); có nghĩa là kết quả bài tập là
“mở” Chẳng hạn giáo viên đưa ra một chủ đề, một vấn đề hoặc một tài liệu, họcsinh cần tự bình luận, thảo luận về đề tài đó Các đề bài bình luận văn học khôngyêu cầu học theo mẫu, học sinh tự trình bày ý kiến theo cách hiểu và lập luậncủa mình là các ví dụ điển hình về bài tập mở
Bài tập mở được đặc trưng bởi sự trả lời tự do của các nhân và không có mộtlời giải cố định, cho phép các cách tiếp cận khác nhau và dành không gian cho
sự tự quyết định của người học Nó được sử dụng trong việc luyện tập hoặckiểm tra năng lực vận dụng tri thức từ các lĩnh vực khác nhau để giải quyết cácvấn đề Tính độc lập và sáng tạo của học sinh được chú trọng trong việc làmdạng bài tập này Tuy nhiên, bài tập mở cũng có những giới hạn như có thể khó
Trang 7khăn trong việc xây dựng các tiêu chí đánh giá khách quan, mất nhiều công sứchơn khi xây dựng và đánh giá cũng không phù hợp với mọi nội dung dạy học.Trong việc đánh giá bài tập mở, chú trọng việc người làm bài biết lập luận thíchhợp cho con đường giải quyết hay quan điểm của mình.
Trong thực tiễn giáo dục trung học hiện nay, các bài tập mở gắn với thựctiễn còn ít được quan tâm Tuy nhiên, bài tập mở là hình thức bài tập có ý nghĩaquan trọng trong việc phát triển năng lực học sinh Trong dạy học và kiểm trađánh giá giai đoạn tới, giáo viên cần kết hợp một cách thích hợp các loại bài tập
để đảm bảo giúp học sinh nắm vững kiến thức, kỹ năng cơ bản và năng lực vậndụng trong các tình huống phức hợp gắn với thực tiễn
1.2.3 Cấu trúc và đặc điểm của bài tập định hướng phát triển năng lực
1.2.3.1 Cấu trúc, câu hỏi/bài tập đánh giá năng lực:
Về cấu trúc, câu hỏi/bài tập đánh giá năng lực gồm 2 phần:
- Phần I Thông tin: Phần này có thể là một đoạn thông tin (sách, báo, mạng),
mô tả một tình huống… (Lưu ý: cần có trích dẫn nguồn thông tin, ảnh chụp…)
- Phần II Hệ thống câu hỏi: Phần này có thể có 1 hay nhiều câu hỏi, có thể là
câu tự luận hoặc trắc nghiệm, có thể sắp xếp theo nhiều mức độ tư duy khácnhau từ nhận biết đến phân tích, tổng hợp, đánh giá…
Các thành tố quan trọng để đánh giá việc đổi mới xây dựng bài tập là: sự đa
dạng của bài tập, chất lượng bài tập, sự lồng ghép bài tập vào giờ học và sự liênkết với nhau của các bài tập
1.2.3.2 Đặc điểm của bài tập định hướng phát triển năng lực:
a Yêu cầu của bài tập
- Có mức độ khó khác nhau.
- Mô tả tri thức và kỹ năng yêu cầu.
- Định hướng theo kết quả.
b Hỗ trợ học tích lũy
- Liên kết các nội dung qua suốt các năm học.
- Làm nhận biết được sự gia tăng của năng lực.
- Vận dụng thường xuyên cái đã học.
c Hỗ trợ cá nhân hóa việc học tập
- Chẩn đoán và khuyến khích cá nhân.
- Tạo khả năng trách nhiệm đối với việc học của bản thân.
- Sử dụng sai lầm như là cơ hội.
d Xây dựng bài tập trên cơ sở chuẩn
Trang 8- Bài tập luyện tập để bảo đảm tri thức cơ sở.
- Thay đổi bài tập đặt ra (mở rộng, chuyển giao, đào sâu và kết nối, xây
dựng tri thức thông minh)
- Thử các hình thức luyện tập khác nhau.
e Bao gồm cả những bài tập cho hợp tác và giao tiếp
- Tăng cường năng lực xã hội thông qua làm việc nhóm.
- Lập luận, lí giải, phản ánh để phát triển và củng cố tri thức.
f Tích cực hóa hoạt động nhận thức
- Bài tập giải quyết vấn đề và vận dụng.
- Kết nối với kinh nghiệm đời sống.
- Phát triển các chiến lược giải quyết vấn đề.
g Có những con đường và giải pháp khác nhau
- Nuôi dưỡng sự đa dạng của các con đường, giải pháp.
- Đặt vấn đề mở.
- Độc lập tìm hiểu.
- Không gian cho các ý tưởng khác thường.
- Diễn biến mở của giờ học.
h Phân hóa nội tại
- Con đường tiếp cận khác nhau.
- Phân hóa bên trong.
- Gắn với các tình huống và bối cảnh.
1.2.4 Các bậc trình độ trong bài tập định hướng phát triển năng lực
Về phương diện nhận thức, người ta chia các mức quá trình nhận thức và cácbậc trình độ nhận thức tương ứng như sau:
Các mức
quá trình
Các bậc trình độ nhận thức
- Tái tạo lại
- Nhận biết lại cái gì đã học theo cách thức không thay đổi.
- Tái tạo lại cái đã học theo cách thức không thay đổi.
Trang 9Các mức
quá trình
Các bậc trình độ nhận thức
Các đặc điểm
3 Tạo thông
tin
Xử lí, giải quyết vấn đề
- Nghiên cứu có hệ thống và bao quát một tình huống bằng những tiêu chí riêng.
- Vận dụng các cấu trúc đã học sang một tình huống mới.
Đánh giá một hoàn cảnh, tình huống thông qua những tiêu chí riêng
Dựa trên các bậc nhận thức và chú ý đến đặc điểm của học tập định hướng phát triển năng lực, có thể xây dựng bài tập theo các dạng:
- Các bài tập dạng tái hiện: Yêu cầu sự hiểu và tái hiện tri thức Bài tập
tái hiện không phải trọng tâm của bài tập định hướng phát triển năng lực
- Các bài tập vận dụng: Các bài tập vận dụng những kiến thức trong các
tình huống không thay đổi Các bài tập này nhằm củng cố kiến thức và rènluyện kỹ năng cơ bản, chưa đòi hỏi sáng tạo
- Các bài tập giải quyết vấn đề: Các bài tập này đòi hỏi sự phân tích, tổng
hợp, đánh giá, vận dụng kiến thức vào những tình huống thay đổi, giảiquyết vấn đề Dạng bài tập này đòi hỏi sự sáng tạo của người học
- Các bài tập gắn với bối cảnh, tình huống thực tiễn: Các bài tập vận
dụng và giải quyết vấn đề gắn các vấn đề với các bối cảnh và tình huốngthực tiễn Những bài tập này là những bài tập mở, tạo cơ hội cho nhiềucách tiếp cận, nhiều con đường giải quyết khác nhau
1.2.5 Quy trình biên soạn câu hỏi/bài tập kiểm tra, đánh giá theo định hướng phat triển năng lực
Việc biên soạn các câu hỏi/bài tập kiểm tra, đánh giá theo định hướng nănglực có thể tiến hành theo các bước như sau:
- Bước 1 Xác định các chủ đề dạy học trong bộ môn để xây dựng câu hỏi, bài
tập nhằm kiểm tra, đánh giá năng lực của học sinh
- Bước 2 Căn cứ nội dung chủ đề, xác định các năng lực có thể hình thành/rèn
luyện cho HS thông qua chủ đề (mỗi năng lực được thể hiện bởi nhiều kĩnăng thành phần)
- Bước 3 So sánh với chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ của mỗi chủ đề trong
chương trình hiện hành; bổ sung, điều chỉnh chuẩn trên quan điểm địnhhướng phát triển năng lực học sinh
Trang 10- Bước 4 Xác định và mô tả các mức yêu cầu cần đạt của các loại câu
hỏi/bài tập đánh giá năng lực (kiến thức, kĩ năng, thái độ) của học sinh trongchủ đề theo hướng chú trọng đánh giá kĩ năng thực hiện của học sinh (Thiết
kế ma trận thể hiện các tiêu chí đánh giá kĩ năng)
- Bước 5: Xây dựng tiến trình tổ chức hoạt động dạy học chủ đề nhằm hướng
tới những năng lực đã xác định
Đối với việc xây dựng các bài tập để làm công cụ đánh giá thì có 2 cách nhưsau:
+ Cách 1: Xây dựng bài tập dựa trên nội hàm năng lực: Với cách này chúng
ta cần phân tích chi tiết nội hàm năng lực thành các thành tố, các thao tác có thểnhận biết được Trên cơ sở đó ta xây dựng 1 nhiệm vụ trong đó có yêu cầu HSthực hiện thao tác (thao tác tư duy, hoặc thao tác tay chân) đó Trên cơ sở quansát trực tiếp thao tác hoặc kết quả đạt được của thao tác để đánh giá mức độ đạtđược thành tố năng lực cần đánh giá của HS
+ Cách 2: Xây dựng bài tập rồi mới xác định xem bài tập đó giúp đánh giá
được những năng lực thành phần nào trong bảng trên: Với cách xây dựng này ta
sẽ sử dụng các bài tập đã có sau đó đánh giá xem để thực hiện nhiệm vụ của bàitập đó thì HS sẽ hình thành và phát triển năng lực gì Với biện pháp này ta cóthể tận dụng hệ thống bài tập sẵn có để đánh giá kiến thức và một số năng lựcthành tố trong việc vận dụng kiến thức toán Yêu cầu đặt ra là cần xây dựng hệthống bài tập mới trong đó có yêu cầu HS huy động tới các thành tố năng lựckhác
II CƠ SỞ THỰC TIỄN
1 Mục tiêu môn Tiếng Việt lớp 3
Mục tiêu của môn Tiếng Việt của tiểu học ở lớp 3 là:
- Hình thành và phát triển ở HS các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói,đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi
- Thông qua việc dạy - học môn Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác
tư duy
- Cung cấp cho HS những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết
sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hoá, văn học của Việt Nam vànước ngoài
- Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng,giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xãhội chủ nghĩa
2 Cấu trúc chương trình
Trang 11SGK Tiếng Việt 3 (2 tập) gồm 15 đơn vị học, mỗi đơn vị gắn với một chủđiểm, học trong 2 tuần (trừ chủ điểm Ngôi nhà chung học trong 3 tuần) Mỗiđơn vị học gắn với một chủ điểm lại được chia thành các phân môn (Tập đọc,Chính tả, Luyện từ và câu, Kể chuyện và Tập làm văn), căn cứ vào nhiệm vụ rènluyện kĩ năng của từng phân môn
Các chủ điểm học tập trong SGK Tiếng Việt lớp 3 phản ánh nhiều lĩnh vực
khác nhau, từ gia đình, nhà trường, quê hương, các vùng miền và các dân tộcanh em trên đất nước ta đến các hoạt động văn hoá, khoa học, thể thao và cácvấn đề lớn của xã hội như bảo vệ hoà bình, phát triển tình hữu nghị, sự hợp tácgiữa các dân tộc, bảo vệ môi trường sống, chinh phục vũ trụ,… Giữa và cuốimỗi học kì đều có 1 tuần dành cho ôn tập và kiểm tra Các tuần dành để ôn tập
3 Tới trường (Trường học)
4 Cộng đồng (Sống với những người xung quanh)
14 Ngôi nhà chung (Các nước ; Một số vấn đề toàn cầu : hoà bình, hữu
nghị, hợp tác, bảo vệ môi trường)
15 Bầu trời và mặt đất (Các hiện tượng thiên nhiên, vũ trụ ; Con người
với thiên nhiên, vũ trụ)
3.Các phân môn trong SGK Tiếng Việt lớp 3 thể hiện chủ điểm như thế
nào?
- Với phân môn Tập đọc: Các bài tập đọc (thơ, truyện kể, văn bản miêu tả,
văn bản khoa học, văn bản hành chính, thư từ ) đều có nội dung phù hợp với
Trang 12chủ điểm Câu hỏi tìm hiểu bài cũng nhằm vào những vấn đề liên quan giúp HS hiểu chủ điểm sâu hơn.
-Với phân môn Kể chuyện: chương trình Tiếng Việt lớp 3 không có tiết
Kể chuyện riêng mà bố trí trong bài Tập đọc hai tiết ở đầu mỗi tuần Nội dungtruyện kể chính là những câu chuyện các em vừa học trong bài tập đọc Bêncạnh đó, trong một số tiết Tập làm văn còn bố trí một số bài tập nghe – kể để rènluyện các kĩ năng nghe và nói
- Phân môn Tập làm văn có nội dung gắn với các chủ điểm và thể hiện rõ
yêu cầu tích hợp, đặc biệt tích hợp với phân môn Tập đọc
- Trong phân môn Luyện từ và câu, phần Mở rộng vốn từ thể hiện rất rõ
chủ điểm ở phần này, HS được hướng dẫn để tìm từ theo mẫu trong SGK, sắp
xếp chúng theo hệ thống hoặc giải nghĩa Các từ đều thể hiện chủ điểm đanghọc ở các phần khác, SGK thường sử dụng ngữ liệu là những đoạn trích từ cácbài tập đọc đã học hoặc ngữ liệu có liên quan đến chủ điểm đang học
- Trong phân môn Chính tả, các bài nghe - viết, nhớ - viết đều được trích
hoặc tóm tắt từ bài tập đọc; trong trường hợp chọn ngữ liệu mới thì ngữ liệu ấy cũng có nội dung phù hợp với chủ điểm của tuần Các bài tập điền chữ, điền vần, tìm tiếng có âm, vần cho trước nhiều khi cũng góp phần làm rõ thêm chủ điểm
4 Những thuận lợi và khó khăn khi xây dựng hệ thống bài tập theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh trong môn Tiếng Việt ở trường tiểu học
1 Thuận lợi
Đội ngũ giáo viên giảng dạy có trình độ chuyên môn tốt Hầu hết các giáoviên đều tham gia giảng dạy rất lâu năm Với trình độ và kinh nghiệmgiảng dạy đó họ có khả năng nắm bắt đặc điểm, tâm sinh lý, nhận thức ….của học sinh được tốt hơn nên việc xây dựng hệ thống bài tập môn TiếngViệt theo định hướng phát triển năng lực sẽ phù hợp với đối tượng họcsinh và đảm bảo mục tiêu bài học
Các giáo viên luôn quan tâm đến vấn đề tích cực hóa trong dạy học, cũngnhư nghiên cứu các biện pháp, kỹ thuật dạy học để nâng cao hiệu quả dạyhọc Các giáo viên đều nhận thức đúng đắn về sự cần thiết của việc xâydựng hệ thống bài tập môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển nănglực
Số lượng giáo trình, tài liệu tham khảo, tài liệu trên Internet liên quan đếndạy học môn Tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực ngày càngnhiều là cơ sở để giáo viên có thể tham khảo, kế thừa, thiết kế, sáng tạo