Những nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển năng lực hợp tác của sinh viên trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin phần Kinh tế chính trị ở các trường đại học
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
NGUYỄN THÙY DƯƠNG
PH¸T TRIÓN N¡NG LùC HîP T¸C Cña SINH VIªN TRONG D¹Y HäC NH÷NG NGUY£N Lý C¥ B¶N CñA CHñ NGHÜA M¸C - L£NIN
(PhÇn kinh tÕ chÝnh trÞ) ë C¸C TR¦êNG §¹I HäC t¹i hµ néi HIÖN NAY
Chuyên ngành: LL&PP dạy học bộ môn Giáo dục chính trị
Mã số: 9.14.01.11
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
TS Nguyễn Đức Thìn
HÀ NỘI - 2019
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các
số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả
Nguyễn Thùy Dương
Trang 3Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Khách thể và đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học 4
6 Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu 4
7 Những luận điểm cần bảo vệ 5
8 Những đóng góp mới của luận án 5
9 Kết cấu luận án 6
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CỦA SINH VIÊN TRONG DẠY HỌC MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 7
1.1 Nghiên cứu vấn đề phát triển năng lực hợp tác của sinh viên trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin ở trường đại học 7
1.1.1 Những nghiên cứu về năng lực hợp tác và phát triển năng lực hợp tác trong dạy học 7
1.1.2 Nghiên cứu về phát triển năng lực hợp tác của sinh viên trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị) 18
1.2 Khái quát các kết quả nghiên cứu được luận án kế thừa và những vấn đề đặt ra tiếp tục nghiên cứu 21
1.2.1 Khái quát các kết quả nghiên cứu 21
1.2.2 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu 23
Kết luận chương 1 24
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CỦA SINH VIÊN TRONG DẠY HỌC MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN (PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ) Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 26
Trang 4môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính
trị) ở các trường đại học 26
2.1.1 Năng lực hợp tác và phát triển năng lực hợp tác của sinh viên 26
2.1.2 Dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị) với việc phát triển năng lực hợp tác của sinh viên 36
2.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển năng lực hợp tác của sinh viên trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin (phần Kinh tế chính trị) ở các trường đại học 42
2.2 Cơ sở thực tiễn phát triển năng lực hợp tác của sinh viên trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị) ở các trường đại học tại Hà Nội hiện nay 47
2.2.1 Đặc điểm sinh viên các trường đại học tại Hà Nội 47
2.2.2 Thực trạng phát triển năng lực hợp tác của sinh viên trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác –Lênin (phần Kinh tế chính trị) ở các trường đại học tại Hà Nội 49
2.2.3 Đánh giá thực trạng và những vấn đề đặt ra với việc phát triển năng lực hợp tác của sinh viên trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin (phần Kinh tế chính trị) ở các trường đại học tại Hà Nội 58
Kết luận chương 2 64
Chương 3: NGUYÊN TẮC VÀ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CỦA SINH VIÊN TRONG DẠY HỌC MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦACHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN (PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ) Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HIỆN NAY 66
3.1 Nguyên tắc phát triển năng lực hợp tác của sinh viên trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị) ở các trường đại học 66
3.1.1 Bảo đảm mục tiêu dạy học 66
3.1.2 Bảo đảm tính thực tiễn và tính giáo dục 69
3.1.3 Phát huy tính tích cực học tập của sinh viên trong quá trình dạy và học 72
3.1.4 Duy trì tính đồng thuận trong hoạt động dạy học hợp tác 74
Trang 5Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin (phần Kinh tế chính trị) ở
các trường đại học 76
3.2.1 Xác định mục tiêu và lựa chọn nội dung của bài học nhằm phát triển năng lực hợp tác cho sinh viên 76
3.2.2 Sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học nhằm phát triển năng lực hợp tác của sinh viên 90
3.2.3 Biện pháp kiểm tra, đánh giá sự phát triển năng lực hợp tác của sinh viên 102
Kết luận chương 3 117
Chương 4: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CỦA SINH VIÊN TRONG DẠY HỌC NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN (PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ) Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI HÀ NỘI HIỆN NAY 118
4.1 Kế hoạch thực nghiệm sư phạm 118
4.1.1 Mục đích, nhiệm vụ, nguyên tắc thực nghiệm sư phạm 118
4.1.2 Cơ sở và đối tượng thực nghiệm sư phạm 118
4.1.3 Nội dung thực nghiệm 119
4.1.4 Phương pháp thực nghiệm 119
4.1.5 Tiến trình thực nghiệm 120
4.1.6 Phương pháp xử lý kết quả thực nghiệm 121
4.2 Kết quả thực nghiệm 122
4.2.1 Giai đoạn 1: Thực nghiệm thăm dò 122
4.2.2 Giai đoạn 2: Thực nghiệm tác động 127
Kết luận chương 4 148
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 149
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 PHỤ LỤC
Trang 6Quy định viết tắt Những từ viết tắt
Trang 7Trang
Bảng 2.1 Biểu hiện của nhóm kỹ năng làm việc độc lập 31
Bảng 2.2 Biểu hiện của nhóm kỹ năng làm việc hợp tác 32
Bảng 2.3 Biểu hiện của nhóm kỹ năng đánh giá 33
Bảng 2.4 Biểu hiện về tinh thần, thái độ tích cực hợp tác của SV 35
Bảng 2.5 Đánh giá của GV về mức độ thực hiện việc phát triển năng lực hợp tác cho sinh viên trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin 52
Bảng 2.6 Kết quả điểm đánh giá kĩ năng hợp tác của sinh viên trong dạy học 57
Bảng 2.7 Đánh giá tinh thần, thái độ tích cực hợp tác của SV 57
Bảng 3.1: Bảng tiêu chí đánh giá nhóm kĩ năng làm việc độc lập của SV 103
Bảng 3.2: Bảng tiêu chí đánh giá nhóm kĩ năng làm việc hợp tác 106
Bảng3.3: Bảng tiêu chí đánh giá nhóm kĩ năng đánh giá 109
Bảng3.4: Bảng tiêu chí đánh giá tinh thần, thái độ khi tham gia hoạt động hợp tác 109
Bảng 4.1 Tên trường, lớp thực nghiệm sư phạm 119
Bảng 4.2 Nội dung kiến thức dạy thực nghiệm 119
Bảng 4.3 Bảng tiêu chí Cohen 122
Bảng 4.4 Phân phối tần suất đánh giá điểm kiểm tra đầu vào của nhóm lớp ĐC và TN 123
Bảng 4.5 Mức độ năng lực đầu vào của nhóm ĐC và TN 124
Bảng 4.6 Tham số đặc trưng của bài kiểm tra đầu vào 125
Bảng 4.7 Điểm số tự đánh giá kỹ năng hợp tác của SV ở lớp TN, ĐC trong lần thực nghiệm thăm dò 126
Bảng 4.8 Điểm số tự đánh giá về tinh thần, thái độ tích cực hợp tác của SV ở lớp TN, ĐC trong lần thực nghiệm thăm dò 127
Bảng 4.9 Phân phối tần suất đánh giá điểm kiểm tra giáo án 1 của lớp ĐC và TN 128
Bảng 4.10 Mức độ NL cho bài kiểm tra giáo án 1 của nhóm ĐC và TN 129
Bảng 4.11 Tham số đặc trưng của bài kiểm tra số 1 130
Trang 8thực nghiệm thăm dò và giáo án số 1 131
Bảng 4.13 So sánh điểm số trung bình đánh giá tinh thần, thái độ tích cực hợp tác ở lớp TN, ĐC giữa thực nghiệm thăm dò với giáo án số 1 132
Bảng 4.14 Phân phối tần suất phần đánh giá của GV đối với giáo án số 2 của nhóm lớp ĐC và TN 133
Bảng 4.15 Mức độ NL của nhóm ĐC và TN qua bài kiểm tra giáo án số 2 134
Bảng 4.16 Tham số đặc trưng của bài kiểm tra số 2 134
Bảng 4.17 So sánh điểm trung bình đánh giá kỹ năng hợp tác của SV ở lớp TN, ĐC giữa giáo án 1 với giáo án 2 135
Bảng 4.18 So sánh điểm trung bình đánh giá tinh thần, thái độ tích cực hợp tác của SV ở lớp TN, ĐC giữa giáo án số 1 và giáo án số 2 136
Bảng 4.19 Phân phối tần số điểm đánh giá giáo án số 3 của nhóm lớp ĐC và TN 137
Bảng 4.20 Mức độ NL của nhóm ĐC và TN qua đánh giá của giáo án số 3 138
Bảng 4.21 Tham số đặc trưng của phần đánh giá cho giáo án số 3 139
Bảng 4.22 So sánh điểm trung bình đánh giá kỹ năng hợp tác của SV ở lớp TN, ĐC giữa giáo án số 2 và giáo án số 3 140
Bảng 4.23 So sánh điểm trung bình đánh giá tinh thần, thái độ tích cực hợp tác của SV ở lớp TN, ĐC giữa giáo án số 2 và giáo án số 3 141
Bảng 4.24 Tổng hợp kết quả đánh giá sự phát triển về kỹ năng hợp tác của SV ở lớp TN, ĐC 145
Bảng 4.25 Tổng hợp kết quả đánh giá sự phát triển về tinh thần, thái độ tích cực hợp tác của SV ở lớp TN, ĐC 146
Trang 9Trang Biều đồ 2.1 Nhận thức của GV về sự cần thiết của việc phát triển năng lực hợp tác
của sinh viên trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác - Lênin 51
Biều đồ 2.2 Sự cần thiết phải phát triển năng lực hợp tác của sinh viên trong dạy học 53 Biều đồ 2.3 Đánh giá về mức độ thực hiện phát triển năng lực hợp tác của GV trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị) 54
Biểu đồ 4.1 Biểu đồ tần suất điểm đầu vào của nhóm ĐC và TN 123
Biểu đồ 4.2 Đường biểu diễn phân phối tần suất điểm đầu vào của nhóm ĐC và TN 124
Biểu đồ 4.3 Biểu đồ tần suất (%) điểm số đầu vào của lớp TN và ĐC 124
Biểu đồ 4.4 Biểu đồ tần suất điểm kiểm tra giáo án 1 của nhóm ĐC và TN 128
Biểu đồ 4.5 Biểu đồ thể hiện tần suất (%) mức độ NL cho bài kiểm tra giáo án 1 129
Biểu đồ 4.6 Biểu đồ tần suất điểm nhóm lớp ĐC và TN qua phần đánh giá cho điểm giáo án số 2 133
Biểu đồ 4.7 Biểu đồ tần suất điểm đánh giá giáo án số 3 của nhóm lớp ĐC và TN 138
Biểu đồ 4.8 Biểu đồ biểu diễn mức độ NL của nhóm ĐC và TN qua phần đánh giá giáo án số 3 138
Biểu đồ 4.9 Tổng hợp kết quả thực nghiệm của lớp TN và lớp ĐC 144
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hợp tác là nền tảng của cuộc sống và tiến bộ xã hội, trung tâm của các mối quan
hệ liên cá nhân, gia đình, các hệ thống kinh tế, pháp lý…đòi hỏi mỗi người phải không ngừng học tập, rèn luyện, biến đổi, thích nghi và định hình cho mình một nền văn hóa
mở, biết cách tiếp nhận và chung sống với các nền văn hóa khác trong xu thế hòa bình, hợp tác của thế giới đa cực Đó cũng là sứ mệnh của giáo dục với mục tiêu trang bị kiến thức, kĩ năng nhằm phát triển năng lực hợp tác cho giới trẻ
Lịch sử giáo dục thế giới chứng minh những quan điểm dạy học hướng đến phát huy năng lực hợp tác của người học đã xuất hiện từ rất sớm với hình thức đầu tiên là truy tìm chân lý từ những cuộc đàm thoại của Socrat [6]; “thuật hùng biện” của Marco Fabio Quintilian [46] Thấy được vai trò của phát triển năng lực hợp tác của người học thông qua con đường dạy học, cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, các nhà nghiên cứu đã thiết kế nhiều hình thức học tập khác nhau như học tập tự quản nhóm của Georg Michael Kerschenteiner – nhà giáo dục học người Đức [86]; Albert Bandura với
“lý thuyết học tập mang tính xã hội” [81]; Brown và Palinscar, Roenshine, Meister, Slavin, Renkl tập trung xây dựng mô hình và chiến lược “dạy học theo nhóm”[95]; nghiên cứu mối quan hệ giữa các nhân tố: người học, người dạy và môi trường trong các hoạt động sư phạm của Jean Marc Denomme và Madeleine Roy [45]… Tất cả những nghiên cứu trên đều nhằm mục đích phát huy tối đa sự trao đổi, chia sẻ, hợp tác giữa thầy và trò, trò và trò hướng tới bồi dưỡng, rèn luyện phẩm chất, năng lực hợp tác của học trò Ở Việt Nam, với câu nói “học thầy không tày học bạn” và đặc biệt là phong trào “Bình dân học vụ” sau Cách mạng tháng Tám để diệt "giặc dốt" là bằng chứng hùng hồn chứng minh tính tương tác, hợp tác trong dạy học Tuy nhiên, cho đến nay, những nghiên cứu về phát triển năng lực hợp tác của người học trong dạy học chưa nhiều, hầu hết các công trình mới đề cập đến một vài khía cạnh về thực hiện hoạt động hợp tác mà chưa bàn luận một cách đầy đủ, hệ thống về khái niệm, cấu trúc, nhân
tố ảnh hưởng, các phương pháp, kỹ thuật, hình thức tổ chức dạy học nhằm phát triển năng lực hợp tác của người học
Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực (dạy học định hướng kết quả đầu ra) ra đời từ những năm 90 của thế kỷ XX đã trở thành xu hướng giáo dục quốc
tế cũng như Việt Nam, hướng đến mục tiêu phát triển toàn diện phẩm chất, nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong thực tiễn nhằm chuẩn bị cho người học năng
Trang 11lực giải quyết tình huống trong cuộc sống, trong đó năng lực hợp tác được coi là một trong những năng lực xã hội quan trọng, không thể thiếu của thế hệ trẻ Đặc biệt, sự xuất hiện của cách mạng cộng nghiệp 4.0 với sự lớn mạnh của nền kinh tế tri thức đòi hỏi con người có khả năng làm chủ bản thân, làm chủ khoa học công nghệ hiện đại, chủ động giao tiếp, tự động kết nối với các cỗ máy, thiết bị, cảm biến; sự liên kết “không biên giới” của những con người trong thế giới ảo – internet vạn vật Tuy nhiên, khoa học công nghệ cao cũng khiến nhân loại phải đối mặt với những thách thức to lớn khi con người hiện đại không còn muốn giao tiếp, tương tác trực tiếp với nhau, thay vào đó là smartphone, ipad kết nối wifi - tất cả niềm vui, nỗi buồn của con người nằm ở một nơi không thực – mạng xã hội Điều đó đã hạn chế năng lực hợp tác của thế hệ trẻ hiện nay, trong đó có sinh viên
Được giảng dạy ở các trường đại học nước ta hiện nay, môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị) nghiên cứu hệ thống các quan điểm, phạm trù, quy luật của các học thuyết kinh tế chính trị Mác – Lênin mà thực chất là mối liên hệ giữa con người với con người trong các quan hệ kinh tế, được hình thành và phát triển trên cơ sở kế thừa những giá trị tư tưởng nhân loại và tổng kết thực tiễn thời đại Môn học có vai trò quan trọng đối với hình thành và phát triển thế giới quan, phương pháp luận trong nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn của sinh viên Tuy nhiên, thực trạng dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị) cho thấy: GV thường truyền thụ một chiều hệ thống tri thức khoa học trong chương trình, chưa chú trọng phát triển năng lực hợp tác cho người học thể hiện ở việc: chưa khai thác những giá trị của quan hệ hợp tác trong nội dung bài học để tăng cường nhận thức của SV về vai trò, ý nghĩa của việc tạo lập, duy trì và mở rộng hợp tác trong các quan hệ kinh tế - xã hội từ đó xác định được sự cần thiết phải trau dồi năng lực hợp tác; chưa sử dụng nhiều phương pháp, kĩ thuật dạy học tạo cơ hội cho SV được rèn luyện, thể hiện kĩ năng hợp tác như kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng lắng nghe, kĩ năng phản biện, kĩ năng thuyết phục, kĩ năng tôn trọng sự khác biệt dẫn đến các sinh viên sau khi
ra trường còn nhiều hạn chế về năng lực hợp tác, chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế thị trường sôi động hiện nay
Thực trạng trên đặt ra vấn đề phải tìm ra biện pháp phát triển năng lực hợp tác của
SV trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh
tế chính trị) đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn học ở các trường đại học nước ta hiện nay
Trang 12Đó là lí do tác giả lựa chọn vấn đề “Phát triển năng lực hợp tác của sinh
viên trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị) ở các trường đại học tại Hà Nội hiện nay" làm đề tài
nghiên cứu cho luận án khoa học giáo dục chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Giáo dục chính trị
2 Mục đích nghiên cứu
Từ việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, luận án đề xuất nguyên tắc và biện pháp sư phạm thực hiện phát triển năng lực hợp tác của SV trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị) góp phần phát triển năng lực hợp tác của SV đồng thời nâng cao chất lượng dạy học môn học ở các trường đại học hiện nay
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, làm sáng tỏ cơ sở lý luận về phát triển năng lực hợp tác của SV trong
dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị) ở các trường đại học hiện nay
Thứ hai, tìm hiểu, đánh giá thực trạng phát triển năng lực hợp tác của sinh viên
trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị) ở các trường đại học tại Hà Nội hiện nay
Thứ ba, đề xuất nguyên tắc và biện pháp phát triển năng lực hợp tác của sinh
viên trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị) ở các trường đại học tại Hà Nội hiện nay
Thứ tư, tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi của các biện
pháp đề xuất trong luận án
4 Khách thể và đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: quá trình dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị) ở các trường đại học
- Đối tượng nghiên cứu: phát triển năng lực hợp tác của sinh viên trong dạy học
môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin (phần Kinh tế chính trị) ở các trường đại học
- Phạm vi nghiên cứu:
Nội dung nghiên cứu: phát triển năng lực hợp tác của sinh viên trong dạy học của
môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị)
đang thực hiện ở các trường đại học hiện nay
Địa điểm nghiên cứu: khảo sát thực trạng và tiến hành thực nghiệm sư phạm ở
một số trường đại học trên địa bàn thành phố Hà Nội
Thời gian tiến hành điều tra và thực nghiệm: năm học 2016 - 2017 và 2017 - 2018
Trang 135 Giả thuyết khoa học
Việc dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin (phần Kinh tế chính trị) gắn một cách hữu cơ với phát triển năng lực hợp tác của sinh viên các trường đại học trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc và biện pháp sư phạm mà luận
án đề xuất sẽ nâng cao chất lượng dạy học môn học Đồng thời, mục tiêu phát triển năng lực hợp tác của sinh viên cũng từng bước được đáp ứng
6 Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận
Trong quá trình nghiên cứu, luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, những nguyên tắc lý luận dạy học hiện đại làm cơ sở cho việc tiếp cận nghiên cứu vấn đề trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin nhằm đảm bảo tính khoa học, tính hệ thống và tính thống nhất giữa lí luận và thực tiễn, đáp ứng những yêu cầu cũng như đặc thù của khoa học giáo dục
6.2 Phương pháp nghiên cứu
6.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng kết hợp các phương pháp: Phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa, so sánh, diễn dịch, quy nạp, lôgic, lịch sử nhằm thực hiện nhiệm
vụ của luận án
6.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Dự giờ các tiết dạy của GV (lớp TN và lớp ĐC); quan sát thái độ, sự hứng thú và tính tích cực học tập của SV trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin (phần Kinh tế chính trị) thông qua các buổi dự giờ, giảng dạy trên lớp
- Phương pháp điều tra: Sử dụng phiếu khảo sát, bảng hỏi tìm hiểu việc phát triển năng lực hợp tác của SV trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin (phần Kinh tế chính trị) ở các trường ĐH tại Hà Nội
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Sử dụng câu hỏi mở, phỏng vấn sâu các nhà giáo dục, các GV có kinh nghiệm, uy tín trong giảng dạy về thực trạng dạy học bộ môn
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục: Sử dụng để nghiên cứu các báo cáo, bài báo, công trình khoa học , khái quát hóa kinh nghiệm của các nhà giáo dục Lấy đó làm căn cứ khoa học cho việc xây dựng các biện pháp phát triển năng lực hợp tác của SV trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin (phầnKinh tế chính trị)
Trang 14- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: Nghiên cứu, đánh giá sản phẩm học tập của
SV ở trường ĐH qua dạy học theo dự án, bài tập tình huống, hoạt động học tập hợp tác
- Phương pháp thực nghiệm: TNSP để phân tích, đánh giá, so sánh nhóm TN và nhóm ĐC thông qua tác động của TN và chứng minh giả thuyết khoa học của đề tài
6.2.3 Các phương pháp hỗ trợ
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tham khảo ý kiến của một số nhà khoa học trong xây dựng đề cương, lựa chọn phương pháp nghiên cứu, xây dựng bộ phiếu khảo sát thực trạng; đề xuất yêu cầu và xây dựng các biện pháp sư phạm
- Phương pháp nghiên cứu tác động: Sử dụng để xử lí thông tin, từ đó khẳng định biện pháp luận án đưa ra có tính khả thi và có thể áp dụng phổ biến
- Phương pháp thống kê toán học: Phương pháp này được sử dụng trong chương
3 và chương 4 để xử lí các số liệu thu được trong điều tra thực trạng và TN bằng toán thống kê và phần mềm SPSS nhằm rút ra những kết luận cần thiết
7 Những luận điểm cần bảo vệ
- Năng lực hợp tác là một trong những năng lực cốt lõi, cần thiết đối với SV trong xã hội hiện đại Chính vì thế, phát triển năng lực hợp tác của sinh viên là vấn đề quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay
- Để phát triển năng lực hợp tác của SV trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin (phần Kinh tế chính trị) cần thực hiện đồng bộ các yêu cầu đã
đề xuất trong luận án
- Thực hiện các biện pháp sư phạm đã đề xuất trong luận án như: xác định mục tiêu phát triển năng lực hợp tác cho SV ở mỗi bài học; nâng cao nhận thức về hợp tác cho SV thông qua dạy học môn học; hoàn thiện kĩ năng hợp tác và xây dựng tinh thần, thái độ hợp tác tích cực cho SV thông qua sử dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị) sẽ nâng cao năng lực hợp tác của SV ở các trường đại học nước ta hiện nay
8 Những đóng góp mới của luận án
- Làm rõ được cơ sở lí luận và luận giải được ưu thế của dạy học môn Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị) đối với việc phát triển năng lực hợp tác của SV
- Đánh giá được thực trạng phát triển năng lực hợp tác của sinh viên trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị) ở các trường đại học tại Hà Nội hiện nay
Trang 15- Đề xuất được nguyên tắc và biện pháp phát triển năng lực hợp tác của sinh viên
trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin (phần Kinh tế chính trị) ở các trường đại học
9 Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận án được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về phát triển năng lực hợp tác của
sinh viên trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị) ở các trường đại học
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển năng lực hợp tác của sinh viên
trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị) ở các trường đại học hiện nay
Chương 3: Nguyên tắc và biện pháp phát triển năng lực hợp tác của sinh viên
trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị) ở các trường đại học
Chương 4: Thực nghiệm sư phạm biện pháp phát triển năng lực hợp tác của sinh
viên trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh
tế chính trị) ở các trường đại học tại Hà Nội hiện nay
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CỦA SINH VIÊN TRONG DẠY HỌC MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ
CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
1.1 Nghiên cứu vấn đề phát triển năng lực hợp tác của sinh viên trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin ở trường đại học
1.1.1 Những nghiên cứu về năng lực hợp tác và phát triển năng lực hợp tác trong dạy học
C Mác viết: “Xã hội là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người” và “lịch sử xã hội của con người luôn chỉ là lịch sử của sự phát triển cá nhân của những con người” [54, tr.657- 658] Kết luận này cho thấy, con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất, mà còn là chủ thể của hoạt động lịch sử và sáng tạo ra lịch sử Thông qua các hoạt động thực tiễn, con người cùng nhau in dấu ấn sáng tạo nhờ bàn tay và trí tuệ của mình vào giới tự nhiên, cùng nhau cải tạo đời sống xã hội,
“hình thành nên những mối liên hệ trong lịch sử loài người, hình thành lịch sử loài người” và qua đó, phát triển năng lực hợp tác của bản thân trong quá trình mở rộng quan hệ xã hội, đồng thời hoàn thiện chính mình Trong quá trình đó, con người vừa là chủ thể của quá trình hợp tác, vừa là đối tượng của tiến trình hợp tác; vì thế, con người làm nên lịch sử của chính mình và lịch sử của xã hội
Hơn nữa, việc nhận thức về bản chất con người cần được tiến hành trong đời sống
xã hội hiện thực – cụ thể của chính bản thân con người “Chỉ có trong cộng đồng, cá nhân mới có được những phương tiện để phát triển toàn diện những năng khiếu của mình”, “chỉ trong điều kiện có cộng đồng thật sự, các cá nhân có được tự do khi họ liên hợp lại và nhờ sự liên hợp ấy” [50, tr.108], “sự phát triển tự do của mỗi người” mới “là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” [51, tr.628]
Những luận điểm trên đã khẳng định “sự tác động qua lại giữa những con người” trong các “hoạt động sinh sống có ý thức” không chỉ làm cho con người gắn bó khăng khít với nhau, mà còn giúp bản thân con người cùng nhau phát triển, cùng nhau hoàn thiện bản thân mình
Những năm gần đây, khi xu hướng toàn cầu hóa ngày càng phổ biến, nhận thấy hợp tác trở thành yếu tố không thế thiếu trong sự phát triển bền vững, các nhà khoa học, các tổ chức đã dành nhiều sự quan tâm về khả năng “tác động qua lại giữa những con người” – năng lực hợp tác trong xã hội hiện đại
Trang 17Analytic Quality Glossary cho rằng năng lực hợp tác có thể coi là những kỹ năng, kỹ xảo về khả năng tương tác của cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập thể trong việc tổ chức, quản lí, thực hiện các hoạt động nhóm một cách thành thạo, linh hoạt, sáng tạo nhằm giải quyết nhiệm vụ chung một cách có hiệu quả [102]
Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (Organization for economic cooperation and
development – OECD) bằng việc ghép năng lực hợp tác với giải quyết vấn đề, đã định
nghĩa là năng lực của một cá nhân tham gia tích cực và hiệu quả vào một quá trình mà hai hoặc nhiều người cố gắng giải quyết một vấn đề bằng cách chia sẻ sự hiểu biết và cố gắng vận dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ để giải quyết tình huống đó [100]
Năng lực hợp tác giải quyết vấn đề được PISA 2015 (Chương trình đánh giá học sinh quốc tế - PISA) khảo sát và định nghĩa là “năng lực của một cá nhân khi tham gia hiệu quả vào một quá trình giải quyết vấn đề cùng với hai thành viên trở lên bằng cách chia sẻ hiểu biết và những nỗ lực cần thiết để tìm ra giải pháp, đồng thời đóng góp vốn kiến thức, năng lực, nỗ lực của mình để hiện thực hóa giải pháp đó [101, tr.6] Khung cấu trúc năng lực hợp tác giải quyết vấn đề cũng được PISA đưa ra bao gồm 3 năng lực thành phần đó là: thiết lập và duy trì sự hiểu biết chung, lựa chọn giải pháp thích hợp để giải quyết vấn đề, duy trì làm việc nhóm [49]
Tác giả Mai Văn Hưng trong công trình Bàn về năng lực chung và chuẩn đầu ra
về năng lực định nghĩa năng lực hợp tác là khả năng của cá nhân biết thích ứng với tập
thể nhóm, biết tự nhận trách nhiệm, chia sẻ công việc, giúp đỡ cộng sự và thực hiện có hiệu quả những thỏa thuận trong nhóm như kế hoạch đã đề ra, bao gồm: sự đồng cảm,
sự định hướng sự phục vụ, khả năng biết cách tổ chức, khả năng phát triển người khác, khả năng tạo ảnh hưởng, kỹ năng kiểm soát xung đột, kỹ năng lãnh đạo có tầm nhìn, khôn ngoan, những xúc tác để thay đổi, khả năng xây dựng các mối quan hệ, tinh thần đồng đội và sự hợp tác với người khác trong các hoạt động nhận thức [34]
Theo tác giả Vũ Thị Thu Hoài và Nguyễn Thị Kim Ngân trong công trình Phát
triển năng lực hợp tác cho học sinh thông qua dạy học phần phi kim – hóa học lớp 10 trung học phổ thông, năng lực hợp tác là một trong chín năng lực chung cần hình
thành và phát triển cho học sinh trong dạy học theo định hướng phát triển năng lực Theo các tác giả, năng lực hợp tác bao gồm các kiến thức, kĩ năng và thái độ hợp tác, được cấu thành từ các thành tố với 4 biểu hiện: “năng lực tổ chức nhóm hợp tác; năng lực hoạt động hợp tác nhóm; thái độ hợp tác; kỹ năng đánh giá cùng với các tiêu chí
cho mỗi biểu hiện” [27, tr.96]
Trang 18Tác giả Trần Thị Kim Yến trong bài “Hoạt động giáo dục phát triển năng lực
hợp tác nhóm cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non”, khẳng định hoạt động giáo dục
phát triển năng lực nói chung, năng lực hợp tác nhóm nói riêng có vai trò rất quan trọng, “giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, phát triển những chức năng tâm, sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kỹ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học tập suốt đời” [92, tr.23]
Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (ban hành năm 2018) được xây dựng nhằm giúp người học làm chủ kiến thức phổ thông, hình thành và phát triển hài hòa những yếu tố cơ bản về tinh thần và thể chất, phẩm chất và năng lực xã hội, năng lực nghề nghiệp thông qua các cấp học, bậc học, và năng lực hợp tác được coi là một trong
ba năng lực chung cần thiết được hình thành, phát triển cho người học trong tất cả các môn học, bậc học, các hoạt động giáo dục của hệ thống giáo dục Việt Nam Năng lực hợp tác được cấu thành bởi sáu thành tố, đó là:
“Một là, xác định mục đích và phương thức hợp tác biểu hiện ở việc người học
biết chủ động đề xuất mục đích hợp tác để giải quyết một vấn đề; biết lựa chọn hình thức làm việc nhóm phù hợp với qui mô, đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ
Hai là, xác định trách nhiệm và hoạt động của bản thân trong hợp tác biểu hiện ở
việc người học phân tích được công việc cần thực hiện để hoàn thành trách nhiệm của nhóm, sẵn sàng nhận công việc khó khăn của nhóm
Ba là, xác định nhu cầu và khả năng của người hợp tác: tức là qua theo dõi tiến
trình tham gia hoạt động hợp tác, người học đánh giá được khả năng, mức độ hoàn thành công việc của từng thành viên trong nhóm để đề xuất điều chỉnh phương án phân công công việc và tổ chức hoạt động hợp tác
Bốn là, tổ chức và thuyết phục người học khác, biểu hiện ở việc người học biết
theo dõi tiến độ hoàn thành công việc của từng thành viên trong nhóm để điều hòa hoạt động phối hợp; biết khiêm tốn tiếp thu sự góp ý và nhiệt tình chia sẻ, hỗ trợ các thành viên khác trong nhóm
Năm là, đánh giá hoạt động hợp tác biểu hiện ở việc người học căn cứ vào mục
đích hoạt động của nhóm, có thể đánh giá mức độ đạt được mục đích của cá nhân và
cả nhóm; rút kinh nghiệm cho bản thân và góp ý cho từng thành viên trong nhóm
Sáu là, hội nhập quốc tế biểu hiện ở việc người học có hiểu biết cơ bản về hội
nhập quốc tế; biết chủ động, tự tin trong giao tiếp với bạn bè quốc tế; biết chủ động,
Trang 19tích cực tham gia một số hoạt động hội nhập quốc tế phù hợp với bản thân và đặc điểm của nhà trường, địa phương; biết tìm đọc tài liệu nước ngoài phục vụ công việc học tập
và định hướng nghề nghiệp của mình và bạn bè” [10, tr.42 - 45]
Tác giả Phạm Xuân Vũ trong bài “Hợp tác – một kỹ năng cần thiết cho sinh
viên trong quá trình học tập và nghiên cứu ở trường đại học” chỉ ra ý nghĩa to lớn
của sự hợp tác trong học tập và các hoạt động xã hội khác đối với SV đó là “tăng cường sức mạnh của nhóm cũng như các thành viên, tạo cơ hội cho mỗi người hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình và nhiệm vụ chung của nhóm; hình thành quan hệ liên nhân cách vững chắc trong nhóm, tập thể; điều chỉnh tâm lý của mỗi cá nhân như giảm căng thẳng, kiêu căng, tự cao, tự đại; luôn tư duy sáng tạo, tự tin, sẵn sàng chia
sẻ, giúp đỡ người khác; đoàn kết, cảm thông, tạo sự gắn kết; là điều kiện cần thiết để nhóm trở thành tập thể vững mạnh” [89, tr.45] Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra thực trạng kỹ năng hợp tác của SV và đề xuất một số định hướng rèn luyện kỹ năng hợp tác cho sinh viên về các tiêu chí nhận thức kỹ năng hợp tác; thiết kế, xây dựng các nhiệm vụ học tập theo nhóm; tăng cường các hoạt động tập thể, hoạt động ngoài giờ lên lớp [89, tr.46 - 47]
Đối với SV sư phạm, tác giả Lê Quang Sơn trong báo cáo “Nâng cao năng lực
cho đội ngũ giảng viên các trường đại học sư phạm đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản
và toàn diện giáo dục: Những định hướng và giải pháp”, đề xuất 6 năng lực cốt lõi
của người giảng viên, trong đó năng lực hợp tác trong giảng dạy bao gồm hai thành tố
là năng lực quản lí xung đột và năng lực đàm phán [70]
Trong công trình nghiên cứu về “Khung năng lực nghề nghiệp giảng viên đại học
sư phạm – kinh nghiệm thế giới và Việt Nam” [23] của nhóm tác giả Nguyễn Vũ Bích
Hiền, Nguyễn Vân Anh và Hoàng Thị Kim Huệ trên cơ sở tham khảo khung năng lực nghề nghiệp của một số tổ chức trên thế giới như OECD, ATE, NCATE, TEAC… để thiết lập chuẩn quốc gia về năng lực giảng viên đại học sư phạm ở Việt Nam trong đó năng lực hợp tác là một trong số 4 năng lực chung của nhà giáo
“Đối với tổ chức Hiệp hội giảng viên đại học sư phạm Mỹ (ATE - Association of
Teacher Educator) xây dựng tiêu chí năng lực hợp tác là thường xuyên hợp tác tích
cực với đồng nghiệp để cải tiến hoạt động dạy học, nghiên cứu và nâng cao hiệu quả học tập của học sinh” [23, tr.239]
“Hội đồng quốc gia công nhận chức danh giảng viên đại học sư phạm (NCATE -
The National Council for Accreditaion of Teacher Educator) đòi hỏi nhà giáo phải hợp
tác với cộng đồng học tập” [23, tr.239]
Trang 20“Học viện Autralia về dạy học và lãnh đạo nhà trường (AITSL) đưa ra tiêu chuẩn quốc gia về giảng viên - “giáo viên dẫn dắt” với 7 tiêu chí, trong đó lôi cuốn người học vào các hoạt động phát triển nghề nghiệp tương lai – Giáo viên đại học sư phạm cần xây dựng các mối quan hệ hợp tác ngay từ đầu để mở rộng cơ hội học tập nghề nghiệp, tham gia vào các nghiên cứu và cung cấp cơ hội việc làm chất lượng cho các SV sư phạm và liên kết chuyên môn với đồng nghiệp, phụ huynh, học sinh và cộng đồng Tuy không nói về năng lực hợp tác nhưng có thể khẳng định thông qua quá trình liên kết với đồng nghiệp, phụ huynh và cộng đồng trong việc xây dựng các mối quan hệ hợp tác với SV ngay từ đầu, năng lực hợp tác của người giảng viên cũng được rèn luyện và phát triển ở một mức độ nào đó” [23, tr.240]
Đối với khung năng lực do các tác giả Việt Nam đề xuất còn ít tiêu chí đặc trưng riêng, chủ yếu tập chung vào các năng lực chuyên môn, học thuật như năng lực phát triển chương trình đào tạo giáo viên, năng lực nghiên cứu khoa học hay năng lực quản
lí đào tạo, năng lực nghiệp vụ sư phạm, phục vụ cộng đồng… cho thấy việc trang bị năng lực chung cho người giáo viên trong tương lai còn hạn chế, từ đó càng đặt ra tính cấp thiết phải chuẩn bị cho thế hệ trẻ, nhất là những người làm công tác dạy chữ - dạy nghề - dạy người những kỹ năng mềm, năng lực cần thiết, phục vụ cho yêu cầu ngày càng cao của xã hội hiện đại
Tác giả Đặng Thị Mai trong công trình “Phương pháp thảo luận nhóm trong dạy
học Tư tưởng Hồ Chí Minh theo định hướng phát triển năng lực ở các trường đại học, cao đẳng hiện nay”, khẳng định năng lực hợp tác “tạo điều kiện cho người học có thể
đạt được những điều mà một mình thực hiện sẽ rất khó khăn bằng cách huy động sức mạnh của tập thể, đặc biệt là khi có sự hiện diện của yếu tố cạnh tranh” “Trước công việc cụ thể của nhóm, ở bất cứ chủ đề thảo luận nào, các thành viên có nghĩa vụ ngang nhau đòi hỏi mỗi cá nhân phải nâng cao ý thức của bản thân nhằm thực hiện hiệu quả nhiệm vụ chung Mỗi thành viên trong nhóm là một mắt xích quan trọng không thể tách rời Tính đồng đội, tinh thần đoàn kết, tính kỷ luật được hình thành trong thảo luận nhóm Điều đó tạo động lực cho SV củng cố mối quan hệ bạn bè, tạo lập bầu không khí tin cậy và khuyến khích lẫn nhau” [56, tr.53] Đồng thời, tác giả còn đề xuất
5 tiêu chí về năng lực hợp tác của sinh viên trong học tập Tư tưởng Hồ Chí Minh được xếp theo mức độ từ thấp đến cao, đó là 1/ Chủ động đề xuất mục đích hợp tác để giải quyết một vấn đề cho bản thân và những người khác đề xuất 2/ Tự nhận trách nhiệm
và vai trò của bản thân trong hoạt động chung của nhóm; phân tích được những công việc cần thực hiện để hoàn thành nhiệm vụ đáp ứng mục đích chung, đánh giá khả
Trang 21năng của mình có thể đóng góp thúc đẩy hoạt động của nhóm 3/ Phân tích khả năng của từng thành viên để tham gia đề xuất phương án phân công công việc 4/ Theo dõi tiến độ hoàn thành công việc của từng thành viên và cả nhóm để điều hòa hoạt động phối hợp; khiêm tốn tiếp thu sự góp ý và nhiệt tình chia sẻ, hỗ trợ của các thành viên khác 5/ Căn cứ vào mục đích hoạt động của nhóm để tổng kết kết quả đạt được; đánh giá mức độ đạt mục đích của cá nhân, của nhóm, rút kinh nghiệm cho bản thân và góp
ý cho từng thành viên trong nhóm [56, tr.57]
Nhận thấy tiềm năng mà hợp tác mang lại cho xã hội, nhiều nhà khoa học giáo dục trong lịch sử đã đưa quá trình hợp tác vào trường học với các hình thức, cách thức
tổ chức khác nhau nhằm nâng cao chất lượng dạy học cũng như xây dựng môi trường học tập lành mạnh, phát triển toàn diện năng lực, phẩm chất người học
Trong cuốn sách “Mật mã Do Thái”, Perry Stone – nhà truyền giáo quốc tế chỉ ra
“Thiên Chúa đã giao phó cho người Do Thái trách nhiệm ghi lại, sao chép và đọc lời Chúa từ thế hệ này sang thế hệ khác Việc duy trì kết nối việc đọc sách, học hỏi và hướng dẫn của mỗi thế hệ đã mang đến cho họ sự thành công trong cuộc sống tinh thần và xã hội, cá nhân và dân tộc” [73, tr.35] Ngoài ra, người Do Thái cho rằng muốn học một điều gì cũng cần phải hợp tác với nhau, để lĩnh hội được nội dung kinh Talmud, mỗi người học phải có 3 thứ: một bản kinh Talmud, một thầy dạy và một bạn học Như vậy, theo quan niệm của người Do Thái, học tập không chỉ bao gồm sự tác động đồng thời của thầy – bạn – Kinh Talmud mà còn cần đến sự duy trì việc học hỏi
và hướng dẫn từ thế hệ này sang thế hệ khác [73, tr.6]
Socrat cho rằng chân lí khách quan (tri thức chung) luôn được khám phá, phát hiện ra trong các cuộc đàm thoại, thảo luận, tranh luận, tọa đàm, luận chiến mà ai cũng phải thừa nhận; ý kiến chủ quan của mỗi người không phải là tiêu chuẩn của chân lí, mỗi người không thể tự do, tùy ý trong việc lựa chọn các ý kiến trái ngược về sự vật
mà phải dựa vào nền tảng chung khách quan đó [6] Do vậy, ông đề xuất nghệ thuật
tranh luận Socrat (biện chứng pháp – Socrates dialectics) gồm 4 giai đoạn: “mỉa mai,
đỡ đẻ, quy nạp, xác định” Ông đánh giá cao vai trò của tranh luận trong tìm tòi và khám phá tri thức Thông qua các buổi tranh luận, tọa đàm, sự tương tác tích cực giữa người dạy và người học, người học với người học trong việc khám phá, tìm kiếm chân
lí khách quan được đề cao, hơn nữa, các kĩ năng phản biện xã hội, thuyết trình, diễn thuyết trước đám đông cũng được rèn luyện, nâng cao
Cuốn sách “Nền dân chủ và Giáo dục” của John Deway cho rằng con người có
bản chất sống hợp tác, trẻ cần được dạy biết cảm thông, tôn trọng quyền của người
Trang 22khác, làm việc cùng nhau để giải quyết vấn đề theo lẽ phải và cần được trải nghiệm quá trình hợp tác ngay từ trong nhà trường Cuộc sống ở lớp học phải là hiện thân của dân chủ, không chỉ trong việc học sinh tự do lựa chọn cách học và thực hiện các dự án học tập cùng nhau mà còn cả trong việc học sinh học cách quan hệ với người khác [94] Bằng việc khẳng định hợp tác là bản chất của con người trong xã hội, John Deway đã giáo dục, định hướng năng lực hợp tác của học sinh trong nhà trường, đó là biết cảm thông, tôn trọng quyền của người khác, làm việc cùng nhau và thực hiện tinh thần dân chủ… Đó là một trong những yêu cầu không thể thiếu của năng lực hợp tác Albert Bandura (1925) - một trong những nhà tâm lý học có ảnh hưởng tới mọi thời đại, là người sáng tạo ra “thuyết học tập xã hội” Ông cho rằng khi các cá nhân làm việc cùng nhau, sự phụ thuộc lẫn nhau sẽ thúc đẩy họ hoạt động tích cực hơn, hướng tới hoàn thành mục đích chung, giúp nhóm và cũng giúp mình đạt được thành công Đồng thời, nhóm sẽ tìm cách giúp thành viên nhóm mình cùng hoạt động, cùng làm việc một cách tích cực để đạt được kết quả học tập như mong muốn [81] Mặc dù không nhắc đến năng lực hợp tác, song Albret Bandura đã mô tả năng lực hợp tác được thể hiện thông qua hành vi và tiến trình tâm lí của con người trong môi trường học tập xã hội Lý thuyết học tập xã hội của Albert Bandura kết nối các cá nhân học sinh, môi trường và hành vi, học sinh giúp đỡ lẫn nhau, hoạt động tích cực hơn vì mục đích chung để đạt đến sự thành công
Piaget Jean (1896 - 1980) – nhà tâm lý học và triết học Thụy Sĩ với “lý thuyết giải quyết mâu thuẫn” Ông cho rằng để thúc đẩy sự phát triển trí tuệ của học sinh, có thể sắp xếp từng cặp học sinh có quan điểm đối lập nhau về cách thức giải quyết vấn
đề, yêu cầu từng cặp em này hoạt động cùng nhau cho đến khi nhất trí hướng giải quyết chung thì khi đó mới đi đến kết luận về bài học Sau khi các em thống nhất, GV kiểm tra riêng từng em và luôn thấy rằng những em lúc đầu kém cỏi về một vấn đề nào
đó, bây giờ có thể tự mình giải quyết một cách đúng đắn, không khác với cách giải quyết của bạn mình [44] Một cách khác, GV dạy trẻ theo từng đôi một hoặc dạy một trẻ với sự chứng kiến của những trẻ khác nhằm giúp trẻ bắt chước cách giải quyết vấn
đề đúng, để chúng tìm ra những nguyên nhân và con đường phát triển Bằng cách này,
GV đã đưa trẻ vào những tình huống xã hội làm xuất hiện các điểm mâu thuẫn với nhau, từ đó trẻ sẽ tìm cách giải quyết Có thể thấy, để hợp tác hiệu quả đòi hỏi mỗi người cần biết cách giải quyết mâu thuẫn, bất đồng, tìm tiếng nói chung trong các mối quan hệ xã hội
Trang 23Khi nghiên cứu về chức năng tâm lý cao cấp của con người bằng cách tiếp cận
“vùng phát triển gần”, L.X.Vygotxky (1896 -1934) đề cao sự tương tác giữa người học
và môi trường, sự tương tác lẫn nhau giữa các học sinh, sự phát triển hoàn toàn phụ thuộc vào sự tương tác giữa người với người Theo ông, “trong một lớp học, cần coi trọng sự khám phá có trợ giúp (assisted discovery) hơn là sự tự khám phá Ông cho rằng sự khuyến khích bằng ngôn ngữ của giáo viên và sự cộng tác với các bạn cùng tuổi trong học tập là quá trình rất quan trọng Thứ nhất, khi một người cố gắng bắt chước hay sao chép lại những suy nghĩ, hành vi của người khác Thứ hai, sự dạy dỗ, hướng dẫn, cách học này liên quan đến việc ghi nhớ những hướng dẫn, chỉ bảo của
GV và sau đó người học dùng những hướng dẫn này mà tự điều chỉnh bản thân Cuối cùng, là học tập hợp tác, cách học này liên quan đến một nhóm người cố gắng hiểu nhau và làm việc chung với nhau để học những kĩ năng cụ thể Điều này cho thấy để hình thành tri thức, kỹ năng, kỹ xảo có hiệu quả cao, không chỉ coi trọng sự chỉ dẫn, hướng dẫn của giáo viên mà còn coi trọng hoạt động cùng nhau, coi trọng sự hợp tác, làm việc cùng nhau giữa những người học” [90], [20, tr.108-109] Ông cho rằng những
gì mà hôm nay trẻ làm được nhờ sự giúp đỡ của người lớn thì ngày mai nó có thể thực hiện độc lập Đề cao tầm quan trọng của sự tương tác giữa người học với người học, L.X.Vygotxky khẳng định, sự hợp tác chặt chẽ giữa người học với nhau sẽ mang lại hiệu quả cao hơn so với việc cá nhân học sinh mò mẫm tìm kiến thức [20, tr.214]
Palincsar A.S và Brown.A.L (1984) dưới góc độ khoa học nhận thức mới đã sử
dụng “dạy học lẫn nhau” làm phương pháp nghiên cứu của mình Theo phương pháp này, GV làm mẫu đưa ra cách thức và các vấn đề, đặt các câu hỏi, cách tóm tắt, phân tích làm sáng tỏ vấn đề học sinh học cách làm của GV và áp dụng vào nhóm học tập của mình Lúc này học sinh sẽ thay phiên nhau đóng vai trò người dạy cùng nghiên cứu tài liệu học tập… Các thành viên khác trong nhóm cùng tham gia thảo luận (nêu ra các câu hỏi, trả lời, bình luận), tìm kiếm những từ ngữ chính xác, thích hợp, khái quát
và rút ra những kết luận Vai trò của từng thành viên được luân phiên thay đổi [95] Thông qua “dạy học lẫn nhau”, học sinh có cơ hội trải nghiệm nhiều vị trí, vai trò khác nhau, từ đó nâng cao trách nhiệm của bản thân, rèn luyện một số kĩ năng của năng lực hợp tác như thuyết trình, thuyết phục, giao tiếp và ứng xử, lập kế hoạch, duy trì và xây dựng mối quan hệ tốt đẹp…
Năm 1981, trong cuốn “Học cùng nhau, học độc lập, học cạnh tranh và học cá
nhân”, D.W Johnson và R.T Johnson đã chỉ ra và phân tích kỹ năm yếu tố cơ bản của
sự hợp tác, đó là sự phụ thuộc tích cực, sự tương tác mặt đối mặt, trách nhiệm cá nhân,
Trang 24sự lĩnh hội và sử dụng các kỹ năng nhóm nhỏ, liên cá nhân, sự nhận xét nhóm Đến
1983, hai ông bàn luận về ý nghĩa, vai trò của học hợp tác: nơi nào thực sự áp dụng học hợp tác, nơi đó học sinh học được nhiều hơn, nhà trường dường như tốt hơn, học sinh thân thiện với nhau hơn, tự trọng hơn và có các kỹ năng xã hội hiệu quả hơn [97] Với quan điểm sử dụng “phương pháp dạy học hợp tác nhằm đạt được mục tiêu xã hội
là loài người ngày càng phát triển theo chiều hướng tốt đẹp”, D.W.Johnson, R.T.Johnson và Smith (1991) đi đến xây dựng mô hình dạy học nhằm phát triển năng lực hợp tác của người học, được định nghĩa là “mô hình trong đó người học làm việc trong các nhóm nhỏ để hoàn thành một mục tiêu hoạt động chung trong điều kiện giữa
họ có sự phụ thuộc chặt chẽ, song mỗi cá nhân đều chịu trách nhiệm cụ thể, đồng thời
sự tương tác trực tiếp giữa các cá nhân được thúc đẩy, các kỹ năng cộng tác được sử dụng thích hợp và nhóm ngày càng được củng cố” [97] [80, tr 4] Còn xét theo hoạt động dạy học, “học tập hợp tác là mô hình trong đó giáo viên sử dụng hình thức học tập theo nhóm để người học làm việc cùng nhau nhằm thúc đẩy hoạt động học tập của mỗi em đạt đến mức độ cao nhất” [80, tr 4]
Tính đến năm 1989, Johnson và các cộng sự của mình đã có 122 nghiên cứu và 193 nghiên cứu sâu về ảnh hưởng của giáo dục hợp tác với tư duy phê phán, lòng tự trọng, các mối quan hệ về chủng tộc và dân tộc, các hành vi xã hội và nhiều tiêu chuẩn khác, các nghiên cứu của nhóm này đã chỉ ra rằng giáo dục hợp tác có nhiều khả năng tạo nên thành công hơn, ưu việt hơn đa số các hình thức giáo dục truyền thống [82, tr.411]
Raja Roy Singh - nhà giáo dục của Ấn Độ đề cập nhiều tới nội dung về giáo dục
thế kỷ XXI trong cuốn sách “Nền giáo dục cho thế kỷ XXI: Những triển vọng của
Châu Á – Thái Bình Dương” đề xuất mục tiêu giáo dục là tạo nên những con người
sáng tạo, có kỹ năng hợp tác và chung sống với người khác, biết gắn bó con người với
xã hội trong thế giới toàn cầu hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu rộng Theo ông, sự hoàn thiện của hoạt động học là sự chia sẻ, người ta càng học càng khát khao được chia sẻ để đạt tới sự chắc chắn và để chuẩn bị cho sự chia sẻ [69] Ông đưa ra nhận định “con người cùng nhau tập hợp qua những sở thích chung – có thể là những người bạn, những đồng nghiệp, những người có tri thức, nhóm học Học nhóm sẽ là một trong những hệ thống hỗ trợ quan trọng khi các cơ cấu giáo dục đang xuất hiện” [69, tr.118] Đồng tình với quan điểm của ông, Elsekonler đã nghiên cứu và tìm thấy tính độc đáo của việc học chung Ông cho rằng, qua việc học chung, người học có nhiều cơ hội để nói lên ý tưởng, suy nghĩ của mình với người khác và được lắng nghe nhận xét, góp ý của bạn
Trang 25Jaccques Delor trong bản Báo cáo gửi Ủy ban Quốc tế của UNESCO về giáo dục thế kỷ XXI đã đưa ra 4 trụ cột của giáo dục: “học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để tự khẳng định mình” trong đó “học để cùng chung sống” là mục tiêu học tập rất nhân văn, còn được diễn đạt qua các mệnh đề “Học để biết khoan dung nhau”, “Học để biết tôn trọng sự khác biệt” “Bằng cách phát triển sự hiểu biết về người khác và sự cảm nhận tính phụ thuộc lẫn nhau – trong việc thực hiện những dự
án và giải quyết những xung đột – với tinh thần tôn trọng các giá trị đa phương, sự hiểu biết lẫn nhau và hòa bình” [43, tr.82]
Người Việt Nam xưa có câu: “không thầy đố mày làm nên”; “học thầy không tày học bạn” Lịch sử giáo dục nước ta khi chưa hình thành và phát triển theo hệ thống tổ chức nhà trường, một GV mà người ta vẫn gọi là “thầy đồ” thời phong kiến thường dạy cho một nhóm nhỏ học sinh có thể chênh lệch nhau khá nhiều về lứa tuổi và trình độ Với kiểu dạy đó, thầy đồ Nho bắt buộc phải coi trọng trình độ, năng lực, tính cách của mỗi học trò để thực hiện cách dạy thích hợp với mỗi học sinh, vai trò chủ động tích cực của người học được đề cao Tuy nghiên, dạy học kiểu như vậy thì năng suất quá thấp [28, tr.19]
Những năm gần đây, khi khoa học công nghệ mở rộng, nền kinh tế tri thức phát triển đặt ra những yêu cầu ngày càng cao về năng lực, trình độ đối với thế hệ trẻ, giáo dục Việt Nam cũng hướng tới việc tích cực hóa hoạt động học nhằm phát triển toàn diện nhân cách, phẩm chất cho người học, đặc biệt là năng lực hợp tác của SV, có thể
kể đến một số công trình:
Trong công trình “Dạy học hiện đại – Lý luận, biện pháp, kỹ thuật”, tác giả Đặng
Thành Hưng cho thấy lợi ích của việc ghép nhóm sẽ tạo thuận lợi cho việc học tập phân hóa, thúc đẩy học tập hợp tác và các quan hệ của học sinh, quản lý được những quá trình xã hội trong học tập như thi đua, cạnh tranh, chia sẻ, đoàn kết, đấu tranh, phê bình và tự phê bình, đánh giá và tự đánh giá “Học tập trong môi trường ghép nhóm, học sinh có cảm giác được ủy quyền nhiều hơn, tự do hơn, thoải mái hơn, vì các em dường như không bị đặt trực tiếp dưới quyền uy hay sự chi phối của GV, được suy nghĩ và hành động cùng nhau như những đồng sự bình đẳng” [33, tr 221]
Tác giả Trần Bá Hoành trong cuốn sách “Đổi mới phương pháp dạy học, chương
trình và sách giáo khoa”, khẳng định “phối hợp hợp lí với một số hoạt động cá nhân/
nhóm nhỏ nhằm kích thích tư duy tích cực của SV, tăng cường mối quan hệ ngược giữa người nghe và người thuyết trình, góp phần hướng dẫn sinh viên cách học” [30, tr.133] Dù gián tiếp nhắc đến một số hoạt động cá nhân/ nhóm nhỏ nhằm tăng
Trang 26cường mối quan hệ giữa người nghe và người thuyết trình, tác giả cũng chỉ ra hình thức của sự tương tác trong quá trình học tập của sinh viên, có thể là tương tác nhóm đôi, nhóm lớn và tương tác tập thể Trong quá trình tương tác đó, các năng lực của sinh viên được bộc lộ, đồng thời tạo điều kiện rèn luyện thêm về năng lực hợp tác trong quá trình học tập
Tác giả Lê Thị Minh Hoa trong công trình nghiên cứu “Phát triển năng lực hợp
tác cho học sinh trung học cơ sở qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp”, khẳng
định “năng lực hợp tác là một dạng năng lực cho phép cá nhân kết hợp một cách linh hoạt có tổ chức những tri thức cần thiết cho sự hợp tác, kỹ năng, thái độ, giá trị, động
cơ cá nhân nhằm đáp ứng hiệu quả yêu cầu của hoạt động hợp tác trong bối cảnh cụ thể Trong đó mỗi cá nhân thể hiện sự tích cực, tự giác, sự tương tác và trách nhiệm cao trên cơ sở huy động những tri thức, kỹ năng của bản thân nhằm giải quyết có hiệu quả hoạt động hợp tác” [25, tr.19] và “phát triển năng lực hợp tác cho học sinh được hiểu là làm cho học sinh biến đổi theo hướng tăng cường, nâng cao cả về kiến thức, thái độ giá trị và kỹ năng hợp tác để thực hiện tốt hơn các hoạt động hợp tác góp phần giúp các em thích ứng với cuộc sống tốt hơn” [25, tr.24] Tác giả khẳng định trên cơ sở tâm lý cá nhân (đặc điểm tính cách, tình cảm, ý chí, kỹ năng, kỹ xảo)
và tâm lý lứa tuổi, để hình thành và phát triển năng lực hợp tác phải bắt đầu từ việc cung cấp tri thức, sau đó rèn luyện các kỹ năng, thái độ giá trị thông qua các hình thức hoạt động phong phú đa dạng ở trong và ngoài nhà trường Trong đó nhà trường được coi là môi trường giáo dục chính thống giúp người học hình thành những năng lực chung, cần thiết [25]
Tác giả Lưu Hải Hòa trong bài báo “Phát triển năng lực hợp tác cho sinh viên
cao đẳng trong dạy học môn Chính trị học” cho rằng, “năng lực hợp tác là khả năng
hoạt động, hành động một cách linh hoạt, sáng tạo trong quá trình hợp tác cùng nhau
để giải quyết một nhiệm vụ cụ thể nào đó trong học tập và nghiên cứu khoa học” [26,
tr 275], đồng thời khẳng định “phát triển kĩ năng hợp tác sẽ giúp sinh viên nâng cao tinh thần trách nhiệm cá nhân khi làm việc nhóm, mỗi một cá nhân sẽ phải chịu trách nhiệm và làm tốt phần việc của mình được giao để không ảnh hưởng đến kết quả chung của tập thể; luôn tìm cách tự hoàn thiện công việc của mình; hỗ trợ, tương tác cùng với các thành viên khác trong nhóm để đạt được hiệu quả tốt nhất” [26, tr 276] Tác giả chỉ ra định hướng giảng dạy của môn chính trị học trong trường cao đẳng, đại học hiện nay, đó là “đổi mới chương trình, phương pháp giải dạy để giảm số tiết lí thuyết, tăng lượng thời gian thảo luận, thực hành, gắn liền lí luận với thực tế; … từ đó
Trang 27rèn luyện được năng lực hợp tác, trao đổi, trình bày và lắng nghe ý kiến của người khác để đi đến kết luận chung” [26, tr.276] Thấy được sự cần thiết đó, tác giả khảo sát thực trạng và nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển năng lực hợp tác cho SV trong dạy học môn Chính trị học và đề xuất một số giải pháp phát triển năng lực hợp tác cho SV cao đẳng trong dạy học như: “định hướng thay đổi nhận thức cho SV đối với môn học;
GV không ngừng học tập, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, nghiên cứu, vận dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình đào tạo; tăng cường các hoạt động tập thể ngoài giờ lên lớp” [26, tr.277-278], khẳng định “tất cả biện pháp đề ra xuất phát từ sự tích cực của người học và phương pháp giảng dạy của GV cũng như sự hỗ trợ từ phía nhà trường cũng các tổ chức đoàn hội trong trường” [26, tr.278]
1.1.2 Nghiên cứu về phát triển năng lực hợp tác của sinh viên trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị)
Cho đến nay mặc dù chưa có công trình nào nghiên cứu cụ thể về phát triển năng lực hợp tác của SV trong dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị) nhưng cũng có nhiều công trình nghiên cứu có nội dung liên quan đến vấn đề này
Trước hết phải kể đến các nghiên cứu Lí luận kinh tế chính trị trong đó đã chỉ ra nguyên lí về sự hợp tác trong sự phát triển kinh tế - xã hội, như Bộ Tư bản của C Mác với các học thuyết kinh tế về phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được thể hiện trong nội dung chương trình môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin
(phần Kinh tế chính trị) Như phần thứ Tư – Sự sản xuất ra giá trị thặng dư tương đối
của Bộ Tư bản, C Mác chỉ rõ “Cái hình thức lao động trong đó nhiều người làm việc theo kế hoạch bên cạnh nhau và cùng với nhau, trong cùng một quá trình sản xuất hay trong những quá trình khác nhau nhưng gắn liền với nhau, thì gọi là hiệp tác” [54, tr.473] “Sự hiệp tác trong quá trình lao động, như chúng ta thấy nó thống trị trong buổi đầu của nền văn minh của loài người, trong các dân săn bắn hay trong nền công nghiệp của các công xã Ấn Độ” [54, tr.485] và “sự hiệp tác của công nhân làm thuê chỉ là kết quả hoạt động của số tư bản sử dụng những công nhân đó cùng một lúc Mối quan hệ giữa các chức năng của họ và sự thống nhất của họ với tư cách là một cơ thể sản xuất tổng hợp thì nằm ở bên ngoài họ, tức là nằm trong số tư bản đã thống nhất họ
và giữ họ lại với nhau” [54, tr.481] “Trong sự hiệp tác có kế hoạch với những người khác thì người công nhân vứt bỏ được những giới hạn cá nhân và phát triển được những tiềm lực loài của mình” [54, tr.478] Không dừng lại ở những luận giải về hiệp
Trang 28tác giản đơn trong sản xuất, C Mác khái quát lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản trong công nghiệp thông qua ba giai đoạn: hiệp tác giản đơn tư bản chủ nghĩa, công trường thủ công tư bản chủ nghĩa và đại công nghiệp cơ khí tương ứng với ba giai đoạn của hiệp tác lao động: hiệp tác giản đơn, hiệp tác công trường thủ công và hiệp tác công xưởng Chỉ đơn giản là tập trung tư liệu sản xuất, hiệp tác lao động cũng đã
“gây ra một cuộc cách mạng trong những điều kiện vật chất của quá trình lao động” [54, tr.471] Bằng việc chỉ ra khái niệm về hợp tác, luận giải về hiệp tác lao động của người công nhân trong quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa, C Mác khẳng định: “sự hợp tác đã tìm được sẵn những tư liệu của nó về người và vật” [54, tr.489]
Bên cạnh đó có thể đề cập đến một số nghiên cứu về phương pháp dạy học, các hình thức tổ chức dạy học Kinh tế chính trị góp phần phát triển năng lực hợp tác cho sinh viên
Trong công trình “Dạy học kinh tế chính trị theo phương pháp tích cực”, tác giả
Trần Thị Mai Phương đặt ra một trong những yêu cầu để thực hiện nguyên tắc cơ bản trong quá trình dạy học Kinh tế chính trị là “phải thiết lập được mối quan hệ thông tin ngược chiều với người học” [68, tr.22], đặt ra “vấn đề cơ bản là tìm ra cách vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học như thế nào để phát huy những mặt tích cực của từng phương pháp, nhằm nâng cao tính chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập, trên cơ sở đó giúp người học biết cách hợp tác trong học tập, tích cực, chủ động, sáng tạo trong phát hiện và giải quyết vấn đề vừa có những kiến thức căn bản cần thiết, vừa rèn luyện được những năng lực hành động…”[68, tr.38]
Lương Gia Ban, Hoàng Xuân Phúc trong công trình “Góp phần nâng cao chất
lượng giảng dạy và đổi mới nội dung chương trình các môn khoa học Mác – Lênin,
Tư tưởng Hồ Chí Minh”, cho rằng thông qua việc trao đổi một cách tích cực, tự
giác giữa GV và SV, giữa SV và SV về một vấn đề nào đó trên cả hai phương diện
lý luận và thực tiễn sẽ khơi dậy niềm đam mê, sự hứng thú của SV trong học tập Đồng thời, sau mỗi buổi thảo luận, GV sẽ nắm bắt được tình hình học tập của từng
SV, từng nhóm SV và của cả lớp trên cả ba phương diện: thái độ, kiến thức và phương pháp [1, tr.220, 241]
Trong công trình “Phương pháp thảo luận nhóm trong dạy học môn Những
nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin”, tác giả Trần Thu Huyền và Nguyễn
Thị Phương Thủy nhấn mạnh thảo luận nhóm giúp cá nhân thỏa mãn nhu cầu giao tiếp, tăng hiệu suất làm việc do có sự hợp tác chặt chẽ giữa các thành viên trong nhóm [32]
Trang 29Hoàng Phúc trong luận án tiến sĩ khoa học giáo dục với nội dung “Phát triển
năng lực tự học cho SV trong dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin ở các trường đại học, cao đẳng khu vực Tây Bắc” đã luận giải về lý luận năng
lực tự học cho SV, trong đó “nhấn mạnh tính đặc thù trong phát triển năng lực tự học bao gồm phát triển năng lực phát hiện, lựa chọn vấn đề; phát triển năng lực lập và triển khai kế hoạch tự học; phát triển năng lực tìm kiếm thông tin, học liệu phục vụ quá trình tự học; phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong quá trình tự học, năng lực tự kiểm tra, đánh giá và báo cáo kết quả tự học” [66, tr.28 - 31] Trọng tâm của luận án, tác giả đề cập đến nội dung phát triển năng lực tự học trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin ở trường đại học cao đẳng gồm 3 hình thức: “người học tự nghiên cứu theo sở thích và hứng thú môn học, không cần sự hướng dẫn của GV hay chuyên gia; tự học có thầy hướng dẫn ở xa và tự học có thầy trực tiếp hướng dẫn một số tiết trên lớp, sau đó SV về nhà tự học dưới sự hướng dẫn gián tiếp của GV” [66, tr.36 - 39] Trên cơ sở nội dung phát triển năng lực tự học trong dạy học môn học, tác giả đề xuất nhóm biện pháp sử dụng các phương pháp dạy học tạo hứng thú học tập cho SV với 3 phương pháp chính: “phương pháp dạy học giải quyết vấn đề - được đánh giá là phương pháp dạy học sáng tạo, tạo ra ở SV nhu cầu phát hiện và giải quyết vấn đề nảy sinh như nhu cầu của chính bản thân mình” [66, tr.88]; “phương pháp thảo luận nhóm – tổ chức tốt sẽ tăng cường tính tích cực, chủ động của SV, phát triển các kỹ năng tư duy và óc phê phán, các kỹ năng giao tiếp và
xã hội quan trọng khác” [66, tr.94]; phương pháp nghiên cứu trường hợp… và biện pháp sử dụng một số kỹ thuật cơ bản trong dạy học phát huy tính tích cực, chủ động học tập của SV trong đó đề cập đến kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật công não, kĩ thuật mảnh ghép… Tất cả những phương pháp và kĩ thuật dạy học kể trên đều góp phần phát triển năng lực hợp tác của sinh viên trong quá trình dạy và học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin
Tác giả Lê Thị Hồng Khuyên trong Luận án “Nguyên tắc tính thực tiễn trong dạy
học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin phần Kinh tế chính trị ở trường đại học, cao đằng hiện nay” coi tính hợp tác của SV là một trong những nhân
tố tác động trực tiếp đến việc vận dụng nguyên tắc tính thực tiễn trong học tập Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị) ở trường đại học, cao đẳng hiện nay Tác giả khẳng định “thực hiện nhiệm vụ học tập có tính phức hợp cao theo yêu cầu của GV sẽ đáp ứng đổi mới PPDH, SV thích ứng với phương thức
Trang 30“học tập mở” như học chính khóa, học ngoài giờ lên lớp, học theo nhóm, học trải nghiệm từ địa bàn cơ sở sản xuất, thâm nhập thị trường, học theo chủ đề…Để đạt hiệu quả tốt, một SV không thể thực hiện được khi tự học mà phải biết hợp tác, liên kết, phân công nhiệm vụ cùng nhau lên ý tưởng và tổ chức thực hiện” [37, tr.53] Bên cạnh
đó, khi nói về lợi ích của việc tham gia học trải nghiệm thực tiễn bộ môn, “SV không chỉ phát triển năng lực giải quyết vấn đề, mà còn phát triển các năng lực học tập khác như năng lực hợp tác, năng lực giao tiếp, năng lực thông tin và truyền thông… Lớp học là môi trường giao tiếp giữa GV và SV, giữa SV với SV các hoạt động học tập sẽ thúc đẩy mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trong quá trình học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong nhóm và trong lớp, mỗi cá nhân sẽ có cơ hội được bày tỏ, chia
sẻ ý kiến, quan điểm của mình, qua đó năng lực giao tiếp được phát triển cho người học” [37, tr.77] Tuy không nhắc đến năng lực hợp tác của sinh viên trong dạy học bộ môn, nhưng tác giả đã gián tiếp cho thấy hiệu quả đạt được khi người học tích cực, chủ động tham gia vào các hình thức khác nhau khi tổ chức hoạt động hợp tác, và việc phát triển năng lực hợp tác của SV trong dạy học môn học là rất khả quan
1.2 Khái quát các kết quả nghiên cứu đƣợc luận án kế thừa và những vấn đề đặt
ra tiếp tục nghiên cứu
1.2.1 Khái quát các kết quả nghiên cứu
Thứ nhất, những công trình khoa học trong và ngoài nước đã đưa ra nhận định về
năng lực hợp tác là “sự tác động qua lại giữa những con người trong hoạt động sống có
ý thức”; là những kỹ năng, kỹ xảo; kiến thức, kỹ năng, thái độ; khả năng thích ứng…của cá nhân với cá nhân khác, tập thể trong việc tổ chức, quản lý, tham gia tích cực và hiệu quả vào giải quyết nhiệm vụ chung Bên cạnh đó, các nhà khoa học cũng
đề cập đến các thành tố, cấu trúc của năng lực hợp tác, có thể là năng lực quản lý xung đột và năng lực đàm phán; kỹ năng, kỹ xảo; năng lực tổ chức nhóm hợp tác, hoạt động hợp tác nhóm, thái độ hợp tác và kỹ năng đánh giá cùng các tiêu chí…; khẳng định hợp tác là yếu tố đầu tiên của nhân cách, khơi dậy và phát triển tối đa khả năng tiềm
ẩn, đặt nền tảng cho việc học tập suốt đời Tuy nhiên, những công trình đó chưa luận giải một cách có hệ thống về khái niệm, chỉ ra cấu trúc của năng lực hợp tác, biểu hiện, các nhân tố tác động đến năng lực hợp tác
Thứ hai, đối với vấn đề phát triển năng lực hợp tác trong dạy học, các tác giả đã
chỉ ra ý nghĩa to lớn của hợp tác trong học tập và các hoạt động xã hội cùng với thực trạng năng lực hợp tác của SV, đề xuất một số định hướng rèn luyện kỹ năng hợp tác
Trang 31cho sinh viên về các tiêu chí nhận thức về kỹ năng hợp tác; thiết kế, xây dựng các nhiệm vụ học tập theo nhóm; tăng cường các hoạt động tập thể, hoạt động ngoài giờ lên lớp; đề xuất hình thức đánh giá kết quả học tập nhóm theo hướng bồi dưỡng năng lực hợp tác qua việc làm bài tập ở nhà, bài kiểm tra viết tự luận và bài báo cáo thuyết trình, điều này cho phép các thành viên giúp đỡ, trợ giúp và ủng hộ nhau trong quá trình học tập Đối với SV sư phạm, năng lực hợp tác bao gồm hai thành tố là năng lực quản lí xung đột và năng lực đàm phán Bên cạnh đó, các tác giả còn thiết lập chuẩn quốc gia về năng lực giảng viên đại học sư phạm ở Việt Nam trên cơ sở tham khảo khung năng lực của một số tổ chức trên thế giới như OECD, ATE, NCATE, TEAC… trong đó năng lực hợp tác là một trong số 4 năng lực chung của nhà giáo Tuy nhiên,
về lý luận, việc nghiên cứu phát triển năng lực hợp tác trong dạy học những năm gần đây mới đề cập đến một vài khía cạnh về việc thực hiện dạy học hợp tác hoặc mô tả về năng lực hợp tác của người học, ghép năng lực hợp tác với những năng lực khác mà chưa bàn luận một cách toàn diện về khái niệm, quy trình dạy học, các kỹ thuật, hình thức tổ chức dạy học để phát triển năng lực hợp tác của SV một cách hiệu quả
Thứ ba, các nhà lí luận Kinh tế chính trị học đã khẳng định quan hệ xã hội của
con người trong quá trình sản xuất và tái sản xuất của cải vật chất, vạch ra những quy luật điều tiết sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng những của cải vật chất đó trong những trình độ nhất định của sự phát triển xã hội loài người Chính vì vậy, dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị) sẽ cung cấp tri thức khoa học về hợp tác trong xã hội cho người học Bên cạnh đó, các nhà khoa học giáo dục xây dựng một số hình thức, phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực hợp tác của SV; khẳng định việc trao đổi một cách tích cực, tự giác giữa GV
và SV, giữa SV và SV về một vấn đề nào đó trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn sẽ khơi dậy niềm đam mê, sự hứng thú của SV; lớp học là môi trường giao tiếp giữa GV và SV, giữa SV với SV các hoạt động học tập sẽ thúc đẩy mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trong quá trình học tập, đánh giá thực trạng năng lực hợp tác của
SV trong dạy học các môn lý luận chính trị, xây dựng các tiêu chí của năng lực hợp tác; đề xuất một số giải pháp phát triển năng lực hợp tác cho SV Song, các nhà khoa học mới chỉ dừng ở việc thấy lợi ích, tầm quan trọng của việc phát triển năng lực hợp tác đối với SV hiện nay mà vẫn chưa đưa ra hệ thống lý luận về năng lực hợp tác, các thành tố của năng lực hợp tác thông qua dạy học môn học; cách thức, phương pháp, kĩ
Trang 32thuật dạy học, các hình thức tổ chức dạy học cụ thể cùng với quy trình tổ chức nhằm phát triển năng lực hợp tác của SV
Bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn những khoảng trống cần tìm hiểu như:
- Cơ sở lí luận của việc phát triển năng lực hợp tác của SV trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị)
- Thực trạng phát triển năng lực hợp tác của SV trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị) ở các trường đại học hiện nay
- Nguyên tắc và biện pháp nào để thực hiện hiệu quả việc phát triển năng lực hợp tác của SV trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị) ở các trường đại học
1.2.2 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Phát triển năng lực hợp tác của sinh viên trong dạy học
Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị) ở các trường đại học tại Hà Nội hiện nay”, tác giả trân trọng kế thừa có chọn lọc thành tựu
của các nhà khoa học đi trước Trong khuôn khổ luận án, tác giả tham gia nghiên cứu
và tiếp tục làm sáng tỏ những khía cạnh sau:
- Hệ thống hóa và làm sâu sắc lý luận về phát triển năng lực hợp tác của sinh viên
trong dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị) ở các trường đại học hiện nay
- Làm rõ thực trạng phát triển năng lực hợp tác của sinh viên trong dạy học
Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị) ở một số trường đại học tại Hà Nội hiện nay
- Đề xuất nguyên tắc và biện pháp phát triển năng lực hợp tác của sinh viên trong
dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị) ở các trường đại học tại Hà Nội hiện nay
Trang 33Kết luận chương 1
Trong số những năng lực quan trọng và cần thiết đối với con người hiện đại, năng lực hợp tác được coi là một trong những năng lực cốt lõi Việc hình thành, phát triển năng lực nói chung, năng lực hợp tác nói riêng là một quá trình lâu dài, và giáo dục - đào tạo đóng một vai trò quan trọng Sinh viên đại học là lớp người trẻ tuổi, lực lượng lao động kế cận của đất nước, đang trong giai đoạn trang bị những kiến thức, kỹ năng cần thiết để tham gia vào các hoạt động của đời sống xã hội, là lực lượng nhận được rất nhiều sự quan tâm của gia đình, nhà trường và xã hội Với triết lý giáo dục mới “dạy học định hướng phát triển năng lực” thay cho “dạy học định hướng nội dung” mà trọng tâm là phát triển năng lực hợp tác của SV tại các trường đại học đã trở thành môi trường thích hợp để hình thành, hoàn thiện phẩm chất và năng lực của SV khi quá trình hợp tác trong dạy và học được triển khai
Việc nghiên cứu lý luận về năng lực hợp tác và phát triển năng lực hợp tác của
SV trong dạy học là vấn đề được nhiều nhà khoa học trên thế giới và trong nước quan tâm Các công trình khoa học đã đề cập đến khái niệm, cấu trúc, các thành tố của năng lực hợp tác, thực trạng năng lực hợp tác của người học ở Việt Nam hiện nay; đề xuất một số hình thức tổ chức dạy học nhằm phát huy năng lực hợp tác của người học từ phổ thông trung học đến đại học, đánh giá năng lực hợp tác của SV nhằm nâng cao hiệu quả học tập và phát triển toàn diện phẩm chất, năng lực trong thời kỳ hội nhập và đổi mới Một trong những giải pháp quan trọng để phát triển năng lực hợp tác của SV
ở các trường đại học hiện nay là xây dựng môi trường học tập hợp tác có sự tác động qua lại, trực tiếp, thường xuyên của người thầy và bạn học
Thông qua tổng quan các công trình cho thấy mặc dù đã có một số nghiên cứu tiếp cận đến vấn đề phát triển năng lực hợp tác, nhưng vẫn còn thiếu vắng những nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về nguyên tắc, biện pháp và hình thức tổ chức dạy học để phát triển năng lực hợp tác của SV trong dạy học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị) tại các trường đại học trên cả nước nói chung, ở Hà Nội nói riêng một cách có hiệu quả Đặt ra nhiệm vụ luận án cần tiếp tục nghiên cứu như luận giải được vai trò của dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị) với việc phát triển năng lực hợp tác
Trang 34của SV ở các trường đại học; chỉ ra nội dung phát triển năng lực hợp tác của SV trong dạy học môn học; đánh giá thực trạng phát triển năng lực hợp tác của SV trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị)
ở các trường đại học hiện nay, từ đó đề xuất nguyên tắc và biện pháp phát triển năng lực hợp tác của SV trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị) ở các trường đại học
Những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước là tiền đề, cơ sở khoa
học quan trọng cho việc nghiên cứu luận án: “Phát triển năng lực hợp tác của SV
trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị) ở các trường đại học tại Hà Nội hiện nay”
Trang 35Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CỦA SINH VIÊN TRONG DẠY HỌC MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN (PHẦN KINH TẾ CHÍNH TRỊ)
Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 2.1 Cơ sở lý luận việc phát triển năng lực hợp tác của sinh viên trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (phần Kinh tế chính trị)
Biểu hiện xã hội của hợp tác là chung sức, giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau, có sự phối hợp hòa bình của hai hay nhiều chủ thể trong một công việc, một lĩnh vực nào đó, cùng thực hiện theo một cách thức để tạo nên kết quả chung Quá trình hợp tác không đơn thuần là sự tác động qua lại, trao đổi giản đơn giữa các chủ thể với nhau, mà là sự chủ động tương tác trên cơ sở tự nguyện, tôn trọng lẫn nhau giữa các chủ thể hướng tới hoàn thành mục tiêu xác định
Như vậy, hợp tác là sự chủ động phối hợp của hai hay nhiều chủ thể trong một lĩnh
vực nào đó, cùng chung sức, giúp đỡ lẫn nhau trên cơ sở tự nguyện, tôn trọng, cùng phấn đấu vì mục đích chung
Ngày nay, hợp tác không chỉ là nhu cầu tăng thêm sức lực, trí lực để hoàn thành mục tiêu chung, mà còn trở thành nhu cầu tự thân của mỗi con người, mỗi cộng đồng
do sự liên kết ngày càng chặt chẽ với các cá nhân, dân tộc khác Cuộc sống mới đòi hỏi phải nhận thức đầy đủ vai trò, khả năng, năng lực hợp tác của mỗi con người như
là giải pháp để nhân loại cùng chung sống và phát triển
Năng lực hợp tác là khả năng chủ động phối hợp của con người trong một lĩnh vực nào đó trên cơ sở tự nguyện, tích cực, tôn trọng lẫn nhau, dựa trên sự nhận thức,
Trang 36hệ thống các kỹ năng hợp tác cần thiết được học tập hoặc sẵn có cùng thái độ, cảm xúc tích cực được thể hiện qua hành vi, ứng xử của cá nhân để giải quyết các vấn đề đặt ra trong học tập và cuộc sống
Trong môi trường dạy học đại học hiện nay, tính hợp tác của SV được biểu hiện
ở mối liên hệ giữa GV và SV; giữa SV và SV với các mức độ khác nhau trong các hoạt động học tập, sinh hoạt tập thể, ngoại khóa Đó là khi mọi người biết cùng nhau làm việc; đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ, tôn trọng lẫn nhau; quan tâm, cùng nhau chia sẻ và cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ, công việc chung Tất cả những điều
ấy được bộc lộ ở khả năng nhận thức, hiểu biết của SV về hợp tác; sự thể hiện kỹ năng hợp tác của SV cùng với tinh thần, thái độ tích cực trong quá trình hợp tác khi giao tiếp, tương tác với GV (hoặc SV khác) để hoàn thành nhiệm vụ Như vậy, năng lực hợp tác của SV hiện nay bao gồm 3 thành tố, đó là:
- Nhận thức về hợp tác: biểu hiện ở việc người học hiểu rõ được vai trò, sự cần
thiết của hợp tác từ đó biết chủ động đề xuất mục đích hợp tác; lựa chọn hình thức hợp tác phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ; xác định trách nhiệm và hoạt động của bản thân trong hoạt động hợp tác Biểu hiện ở việc người học phân tích được công việc cần thực hiện để hoàn thành nhiệm vụ, sẵn sàng nhận công việc khó khăn; xác định nhu cầu và khả năng của những người hợp tác, tức là qua theo dõi tiến trình tham gia hoạt động hợp tác, người học đánh giá được khả năng, mức độ hoàn thành công việc của từng thành viên, từ đó đề xuất điều chỉnh phương án phân công công việc và tổ chức hoạt động hợp tác Tất cả những biểu hiện trên thể hiện nhận thức của sinh viên về trách nhiệm xã hội, tinh thần cộng đồng, sự đồng thuận, đoàn kết, cố kết của những con người cùng chung sống, cùng tham gia hợp tác, khoan dung, gắn bó với nhau, với cộng đồng xã hội; cùng nhau chăm sóc sự tồn tại và phát triển của cộng đồng thông qua giáo dục tinh thần trách nhiệm, nâng cao “vốn xã hội”; đóng góp vào công cuộc bảo vệ, phát triển bền vững cộng đồng xã hội từ xóm giềng, phố phường đến quốc gia – dân tộc; thế giới – loài người
- Kỹ năng hợp tác: biểu hiện ở việc rèn luyện, phát triển đồng thời các kỹ năng
làm việc độc lập như thuyết trình, phản biện xã hội, tư duy sáng tạo, tư duy phê phán
và các kỹ năng làm việc cùng đồng đội như biết quan tâm, động viên, chia sẻ, giúp đỡ thành viên khác, biết chủ động, tự tin trong giao tiếp với bạn bè, thầy cô; tích cực tham gia hoạt động hợp tác phù hợp với bản thân và đặc điểm của nhà trường, địa phương; biết giao lưu, học hỏi, tìm đọc tài liệu phục vụ công việc học tập và định hướng nghề nghiệp của mình và bạn bè ; từ đó người học biết đánh giá, nhận xét tiến
độ hoàn thành công việc của từng thành viên; điều hòa hoạt động phối hợp; khiêm tốn tiếp thu sự góp ý và nhiệt tình chia sẻ, hỗ trợ các thành viên khác trong nhóm
Trang 37- Tinh thần, thái độ khi hợp tác: biểu hiện của sự nhiệt tình, tích cực, ý thức
được nghĩa vụ, trách nhiệm trong mọi hoạt động; năng động, đoàn kết, vui vẻ, cảm thông, đùm bọc, yêu thương lẫn nhau, sẵn sàng kết bạn, chia sẻ thông tin, giao lưu, hòa nhập với mọi người, tạo bầu không khí tâm lí thoải mái, vui vẻ Sống và hoạt động trong nhóm, tập thể có sự hợp tác, sự đoàn kết, chia sẻ, cảm thông sẽ gắn kết các cá nhân lại với nhau tạo nên mối quan hệ liên nhân cách vững chắc
2.1.1.2 Phát triển năng lực hợp tác của sinh viên
Theo từ điển Triết học: “Phát triển là một phạm trù dùng để khái quát quá trình vận động từ thấp tới cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn” [83, tr.39] Phát triển cũng là “quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật; là quá trình thống nhất giữa phủ định các nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ sự vật cũ trong hình thái mới của sự vật” [5, tr.78]
Trong giáo dục, khái niệm phát triển được tiếp cận theo hướng cải thiện tình trạng chất lượng cũ sang chất lượng mới cho những đối tượng cần được phát triển, giúp họ nâng cao nhận thức, kỹ năng, tinh thần, thái độ trên cơ sở những gì đã có, bổ sung, hoàn thiện, phát triển năng lực hoạt động của người học đáp ứng yêu cầu và mục tiêu cần đạt
Vì vậy, có thể hiểu phát triển năng lực là sự gia tăng, nâng cao về kiến thức, kỹ năng, động cơ, tinh thần, thái độ theo hướng tích cực của con người thông qua quá trình học tập hoặc sẵn có nhằm giải quyết hiệu quả các vấn đề xác định Việc hình thành và phát triển năng lực cho người học được thực hiện ở cả trong và ngoài trường Tuy nhiên, trong tất cả các môi trường, dạy học là môi trường trong sạch nhất, thuận lợi nhất, là môi trường giáo dục chính thống giúp người học hình thành những năng lực chung thông qua việc giao lưu, chia sẻ, trao đổi thông tin, tương tác với các thầy cô, bạn bè và môi trường học tập về nội dung bài học hoặc những mảng màu của cuộc sống Những mối quan hệ đó sẽ tạo nên một quá trình dạy và học toàn vẹn, luôn vận động và phát triển không ngừng theo chiều hướng xác định, cùng với
đó, năng lực hợp tác của sinh viên sẽ phát triển thuận lợi hơn
Kế thừa các quan điểm trên, tác giả cho rằng: phát triển năng lực hợp tác của sinh
viên là quá trình tăng tiến, nâng cao nhận thức về hợp tác, hoàn thiện kỹ năng hợp tác
và xây dựng tinh thần, thái độ hợp tác của sinh viên thông qua các hoạt động tập thể, chuyển từ mức độ làm việc đơn lẻ sang thúc đẩy sự liên kết của sinh viên với mọi người xung quanh theo hướng tích cực, chủ động tương tác, hỗ trợ lẫn nhau nhằm hoàn thành
có hiệu quả các hoạt động hợp tác trong học tập cũng như trong cuộc sống
Trang 38- Nội dung phát triển năng lực hợp tác của sinh viên
Để tham gia vào quá trình hợp tác, bản thân mỗi sinh viên trước hết phải không ngừng hoàn thiện năng lực làm việc độc lập (năng lực tự học) Trong quá trình đó, họ sẽ phát triển nhận thức về sự hợp tác: thấy được vai trò của hợp tác, sự cần thiết phải hợp tác, từ đó dần chủ động chuyển từ hành động thuần túy mang tính cá nhân sang những hoạt động mang tính hợp tác với cộng đồng Cũng trong quá trình đó, sinh viên sẽ rèn luyện cho mình kỹ năng hợp tác cũng như hoàn thiện tinh thần, thái độ, cảm xúc trong quá trình hợp tác một cách tích cực Thông qua
đó, sinh viên sẽ ngày càng hòa nhập với cộng đồng, thích ứng với những biến đổi của xã hội, giải quyết được những xung đột, mâu thuẫn xảy ra với bản thân và xã hội Nhờ vậy, các em sẽ dần khẳng định được năng lực xã hội của bản thân trong đó
có năng lực hợp tác Đó chính là tiến trình phát triển năng lực hợp tác của sinh viên
và cũng trong tiến trình phát triển đó, các thành tố năng lực hợp tác của sinh viên đồng thời được bồi dưỡng, nâng cao và phát huy
Từ quan niệm về phát triển năng lực hợp tác của sinh viên nêu trên, có thể chỉ ra những nội dung cơ bản việc phát triển năng lực hợp tác của SV là:
- Nâng cao nhận thức về hợp tác của SV
Như đã phân tích ở trên, mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng dù muốn hay không đều không ngừng hợp tác với nhau để chinh phục thiên nhiên và giải quyết các vấn đề xã hội Ngày nay, mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng đang ngày càng phụ thuộc vào nhau hơn bao giờ hết, đặc biệt với sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức và xã hội tri thức, hợp tác trở thành
xu hướng mới nhân văn và hiện đại, hòa bình và phát triển, giúp cho mỗi cộng đồng biết cách cùng chung sống và kiến tạo tương lai Vì vậy, điều cần bàn lúc này không còn là
sự hợp tác giản đơn mà là làm thế nào đề hợp tác hiệu quả? Do đó, hợp tác được đưa vào nhà trường với mục đích thúc đẩy quá trình tự học trong sự sẻ chia, liên kết của người học với nhau; thiết lập, bổ sung kiến thức, rèn luyện kĩ năng, tinh thần, thái độ hợp tác trong trường học là việc làm cần thiết đầu tiên GV thực hiện để định hướng hợp tác hiệu quả cho SV
Bằng các hoạt động hợp tác như làm việc nhóm, hoạt động học tập hợp tác, SV
có cơ hội được tương tác, hợp tác, sẻ chia, liên kết, tranh luận, thảo luận… với thầy cô
và bạn bè, được giáo dục về tinh thần trách nhiệm xã hội cao, lòng yêu thương, quý trọng con người và cả cộng đồng, đối xử với mọi người với tấm lòng rộng mở, hữu hảo, chia sẻ - hợp tác – giúp đỡ, thương người như thể thương thân…đó là những nội dung cơ bản để nâng cao nhận thức về hợp tác của SV Thông qua ngôn ngữ và các hình thức giao tiếp khác, SV được vận dụng những kiến thức đã học, phát huy bản năng thiên phú của mình vào môi trường thực tiễn, rèn luyện bản thân, từ đó nhận thức
Trang 39được ưu – nhược điểm, định hướng phát triển, điều chỉnh các hoạt động hợp tác sao cho phù hợp Trong môi trường ấy, SV – chủ thể của hoạt động hợp tác được học tập, lao động, vui chơi…, từ đó SV ngày càng nâng cao năng lực nhận thức của bản thân
về hợp tác
- Hoàn thiện kỹ năng hợp tác của sinh viên:
Các kỹ năng hợp tác cần thiết gồm 3 nhóm cơ bản: 1/ nhóm kỹ năng làm việc độc lập; 2/ nhóm các kỹ năng làm việc hợp tác; 3/ nhóm kỹ năng đánh giá Trong đó, nhóm
kỹ năng làm việc hợp tác được coi là trọng tâm bởi chính trong môi trường tương tác, năng lực hợp tác của sinh viên được thể hiện một cách tích cực và trực tiếp nhất
1/ Nhóm các kỹ năng làm việc độc lập:
Trong bất cứ hoạt động nào của tự nhiên, xã hội và tư duy, con người luôn tự thân vận động không ngừng nghỉ, đặc biệt đối với hoạt động tư duy, những tri thức, kỹ năng, kinh nghiệm của mỗi cá nhân được hình thành, phát triển bền vững và phát huy hiệu quả Trong học tập, hoạt động tự thân không chỉ là việc độc lập, chủ động thu nhận kiến thức cho bản thân mà còn thể hiện tính chủ thể của người học trong mối quan hệ với các chủ thể khác, với xã hội trong hoàn cảnh cụ thể diễn ra việc học Nó đòi hỏi con người phải nỗ lực đấu tranh để vươn lên Nếu không có khả năng học tập độc lập (tự học), trên con đường học vấn của mình, SV gặp khó khăn, gian nan nhiều hơn, dễ nhầm lẫn hơn Chính vì vậy, nhân tố quan trọng nhất, quyết định kết quả của quá trình đào tạo vẫn là công tự học của SV Tuy nhiên, những kiến thức mà cá nhân thu nhận được không chỉ là kết quả hoạt động riêng biệt của bản thân người học mà là những điều SV thu nhận được thông qua quá trình chủ động cọ sát, chia sẻ, hợp tác
Đó là sự huy động tối đa về tinh thần và vật chất từ các chủ thể học tập, sự cộng hưởng
ý tưởng của nhiều người để tạo nên sức mạnh trí tuệ
Học tập là sự kết hợp Do vậy, muốn thực hiện đồng thời việc tự học và tự học trong sự sẻ chia (hợp tác với người khác), trước hết, người học ngoài việc cố gắng tự học, còn phải chú ý đến kỹ năng, tinh thần hợp tác trong các quan hệ cùng thầy cô, các bạn học khác, học cách tự mình rèn luyện kỹ năng, tinh thần hợp tác Nếu đoàn kết và hợp tác tốt với mọi người, có thể tập hợp nên một lực lượng phi thường, hoàn thành tất
cả những việc mà một cá nhân không thể làm được Trong quá trình hợp tác ấy, bản thân người học sẽ học được cách làm thế nào để kết hợp lợi ích cá nhân với lợi ích của người khác, dễ dàng thích nghi với xã hội đồng thời phát huy mọi lợi thế Ngược lại, một người không hiểu được tinh thần hợp tác sẽ gặp rất nhiều phiền toái trong cuộc sống, nảy sinh nhiều khó khăn mà không cách nào thích nghi nổi
Chính vì vậy, quá trình phát triển năng lực hợp tác của sinh viên cũng chính là quá trình tự thân sử dụng linh hoạt, có hiệu quả những kiến thức, kỹ năng, tinh thần
Trang 40hợp tác trong các mối quan hệ xã hội ở mọi tình huống, điều kiện Quá trình tự thân ấy bao gồm các kỹ năng sau:
Bảng 2.1 Biểu hiện của nhóm kỹ năng làm việc độc lập
Kỹ năng làm chủ
- Tự nhận thức, ý thức được từng lời nói, hành động của bản thân
- Suy nghĩ độc lập, kiên định với mục tiêu, quan điểm, lựa chọn
đã đặt ra
- Dũng cảm đối mặt với khó khăn, với sai lầm
- Cởi mở, hòa đồng của người khác, tích cực giao tiếp, tăng sự hiểu biết lẫn nhau
Kỹ năng tư duy
sáng tạo
Tạo ra ý tưởng, giả thuyết, thử nghiệm, mới để giải quyết vấn đề dựa vào sự động não tối đa, tìm ra phương án tối ưu thông qua việc tìm tòi, khám phá những khía cạnh mới trên cơ sở những cái cũ
Nhận lỗi và sẵn sàng chịu trách nhiệm nếu không hoàn thành nhiệm
vụ, không đổ lỗi cho hoàn cảnh hay người khác
Kỹ năng quan sát Thể hiện cách nhìn nhận sự vật, hiện tượng một cách chi tiết và có
phân tích
Kỹ năng tự học
Tự giác, chủ động, tích cực, độc lập tìm hiểu, nghiên cứu để lĩnh hội tri thức, bắt đầu từ việc chủ động tìm kiếm, lựa chọn, thu thập tài liệu, thông tin; sắp xếp nguồn tài liệu sao cho khoa học, logic