Ảnh hưởng của việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ vào chương trình luyện nói tiếng Anh thực nghiệm được đo lường và thống kê qua 02 công cụ nghiên cứu chính là bài kiểm tra trước và s
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ
CHÂU VĂN ĐÔN
TÓM TẮT LUẬN ÁN
TÍCH HỢP CÁC HOẠT ĐỘNG ĐA TRÍ TUỆ
ĐỂ DẠY KỸ NĂNG NÓI TIẾNG ANH
CHO SINH VIÊN CHUYÊN NGỮ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC BỘ MÔN TIẾNG ANH
HUẾ, 2019
Trang 2Luận án này được hoàn thành tại Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại Học Huế
Người hướng dẫn: PGS.TS TRƯƠNG VIÊN
Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Văn Long
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Quang Ngoạn
Phản biện 3: TS Huỳnh Anh Tuấn
Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Đại học Huế
Họp tại Số 03 Lê Lợi, TP Huế
Vào lúc … giờ, ngày … tháng … năm 2019
Có thể tìm hiểu Luận án tại Thư viện:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại Học Huế
(Số 57 Nguyễn Khoa Chiêm, TP Huế, Tỉnh Thừa Thiên – Huế)
Trang 3TÓM TẮT
Nghiên cứu này nhằm khảo nghiệm ảnh hưởng của việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ để phát triển kỹ năng nói tiếng Anh cho sinh viên chuyên ngữ Qua đó, phân tích ý kiến phản hồi của người học đối với quá trình tích hợp các hoạt động đa trí tuệ như đã nêu Do vậy, để đạt được hai mục tiêu đề ra cho nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp, trong đó phương pháp nghiên cứu định lượng với thiết kế giả thực nghiệm để chứng minh hiệu quả của việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ vào chương trình luyện nói Đối tượng nghiên cứu gồm 60 sinh viên năm thứ hai đang theo học chương trình Sư phạm Tiếng Anh tại địa điểm thực hiện nghiên cứu, lựa chọn ngẫu nhiên trên cơ sở tình nguyện tham gia nghiên cứu và được chia thành Nhóm Thực nghiệm và Nhóm Đối chứng Ảnh hưởng của việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ vào chương trình luyện nói tiếng Anh thực nghiệm được đo lường và thống kê qua 02 công cụ nghiên cứu chính là bài kiểm tra trước
và sau tác động, cùng với các bảng câu hỏi khảo sát người học trước và sau nghiên cứu đối với nhóm thực nghiệm Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu định tính, nhằm tìm hiểu và cung cấp thêm minh chứng liên quan đến ý kiến phản hồi của người học cũng được thực hiện thông qua quá trình thu thập và xử lý dữ liệu từ các phiếu phản hồi thông tin của 30 sinh viên thực nghiệm, cũng như các cuộc phỏng vấn chuyên sâu đối với 06 sinh viên thực nghiệm được lựa chọn ngẫu nhiên theo kết quả điểm kiểm tra sau tác động ở các mức cao nhất (02 sinh viên), trung bình (02) và thấp nhất (02)
Kết quả từ các bài kiểm tra trước và sau tác động cho thấy nhiều sự khác biệt thống
kê có ý nghĩa giữa kết quả kiểm tra đánh giá kỹ năng nói của sinh viên trước và sau khi tham gia thực nghiệm Kết quả phân tích dữ liệu kết quả kiểm tra cho thấy có sự khác biệt
có ý nghĩa (M = 43) nghiêng về phía bài kiểm tra sau tác động Sự cải thiện đáng kể như vậy về giá trị trung bình của bài kiểm tra sau tác động cho thấy chương trình thực nghiệm thật sự đã có ảnh hưởng tích cực cải thiện kỹ năng nói, cũng như tăng cường hứng thú học tập của sinh viên Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy đa số các sinh viên tham gia thực nghiệm đều ủng hộ và đánh giá tích cực quan điểm tích hợp các hoạt động đa trí tuệ Các thông số ủng hộ được thống kê từ các dữ liệu liên quan đến mức độ nhận thức ngày càng cao của sinh viên đối với hồ sơ trí tuệ của bản thân, nhìn nhận những lợi ích của các hoạt động đa trí tuệ trong hỗ trợ kỹ năng nói, tăng cường hứng thú học tập, và tham gia tốt hơn vào các hoạt động thảo luận và tương tác trong chương trình luyện nói thực nghiệm
Trang 4CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Bối cảnh nghiên cứu
Mục tiêu chủ yếu của việc học ngoại ngữ, theo Brown (2001), là năng lực thực hiện các hoạt động giao tiếp, thông qua đó sử dụng ngôn ngữ đích Các phương pháp dạy và học ngôn ngữ truyền thống, mặc dù đã có rất nhiều cải tiến và chuyển biến đáng kể, vẫn còn nhiều hạn chế để tạo lập một môi trường luyện nói hoàn toàn phù hợp với mọi sở thích và năng lực sở trường của người học Dorgham (2011) xác lập rằng đa phần mọi người học đều
sở hữu nhiều kiểu và nhiều mức độ trí tuệ khác nhau và khai thác những năng lực này theo cách riêng của mỗi người học Sự thay đổi từ quan niệm người dạy làm trung tâm sang đường hướng người học làm trung tâm của quá trình dạy học thể hiện tinh thần giản lược vai trò áp chế của người thầy trong lớp học, đồng nghĩa với việc gia tăng tính chủ động và sáng tạo ngày càng cao của người học (Jones, 2007; Geven & Attard, 2012; Crumly, 2014;
và Hoidn, 2016) Gardner (1983) đề xuất rằng mỗi cá nhân người học sở hữu ít nhất 08 kiểu trí tuệ khác nhau: trí tuệ sử dụng ngôn ngữ, trí tuệ lô gíc toán học, trí tuệ vận động cơ thể, trí tuệ giao tiếp hướng ngoại, trí tuệ hướng nội, trí tuệ âm nhạc, trí tuệ thị giác không gian, và trí tuệ yêu mến thiên nhiên
1.2 Lý do nghiên cứu
Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để khám phá hiệu quả áp dụng Thuyết Đa trí tuệ phát triển năng lực giao tiếp ngôn ngữ nói chung (Armstrong, 1993; Christison, 1996 & 1999; Younas & Subhani, 2015; và một số tác giả khác) Tuy nhiên, chỉ có tương đối ít nghiên cứu khảo nghiệm hiệu quả ứng dụng Thuyết đa trí tuệ để phát triển kỹ năng nói tiếng Anh cho người học tiếng Anh như một ngoại ngữ (Boonma & Phaiboonnugulkij, 2014; Orhan & Hasan, 2015)
Kỹ năng nói, sử dụng ngôn ngữ đích có tầm quan trọng rất lớn trong quá trình lịch sử dạy và học ngôn ngữ (Brown, 2001 và Nunan, 1991) Ngày nay, kỹ năng nói đã phát triển thành một lĩnh vực dạy, học và kiểm tra đánh giá riêng biệt Tuy vậy, Nunan (1991) và Samira (2014) cũng đã chỉ ra việc thiếu quan tâm đầy đủ của các nhà ngôn ngữ học trong lĩnh vực nghiên cứu các hoạt động phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ nói
Người học ngoại ngữ ở Việt Nam thường gặp nhiều khó khăn khi học tiếng Anh như
là một ngoại ngữ, đặc biệt là lĩnh vực phát triển kỹ năng nói tiếng Anh Thực tế này được phản ánh ở kết quả kiểm tra và thi cử ở các cấp học Kết quả khảo sát điểm kiểm tra kết thúc
Trang 5học phần Tiếng Anh tổng hợp của 62 sinh viên chuyên ngữ năm nhất ở đơn vị thực hiện nghiên cứu này vào thời điểm thực nghiệm (năm 2016) cho thấy điểm kiểm tra của của các sinh viên đa số là ở mức tương đối thấp, dao động bình quân từ 5 đến 6 điểm ở các kỹ năng Nghe, Nói, Đọc và Viết, đặc biệt là ở môn Nói Kết quả thống kê từ các cuộc phỏng vấn đối với các giảng viên có tham gia dạy các học phần Tiếng Anh tổng hợp của lớp cho thấy đa số các sinh viên nói trên thường cảm thấy miễn cưỡng tham gia vào các hoạt động luyện nói trên lớp, xuất phát từ nhiều lý do như vốn từ vựng hạn chế, thiếu tự tin, lớp học đông, trang thiết bị học tập không phù hợp, hạn chế sử dụng các nguồn dụng cụ trực quan, phương pháp luyện nói chưa khuyến khích đúng mực hứng thú học tập của sinh viên
Nhằm mục đích phát triển kỹ năng nói tốt hơn cho sinh viên chuyên ngữ, nghiên cứu này được áp dụng với mô hình tích hợp các hoạt động đa trí tuệ vào chương trình luyện nói thực nghiệm Từ đó, trên cơ sở các kết quả thu được liên quan đến các các mức độ ảnh hưởng có khả năng xảy ra từ việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ, nghiên cứu sẽ khảo sát thông tin phản hồi của sinh viên đối với việc áp dụng chương trình thực nghiệm như vậy
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
1 Việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ có những ảnh hưởng gì đến việc phát triển kỹ năng nói của sinh viên chuyên ngữ?
2 Sinh viên chuyên ngữ đánh giá như thế nào về việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ vào chương trình thực nghiệm?
1.5 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung vào hai lĩnh vực chính: ảnh hưởng của việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ phát triển kỹ năng nói cho sinh viên và đánh giá của sinh viên đối với quá trình tích hợp các hoạt động đa trí tuệ nêu trên Nghiên cứu này mô phỏng và áp dụng Thuyết Đa trí tuệ của Gardner’s (1983, 1996); hướng dẫn thực hiện các hoạt động đa trí tuệ của Armstrong (1993); khung đánh giá và phát triển năng lực đa trí tuệ (MIDAS) của Shearer (2001)
Trang 61.6 Ý nghĩa của nghiên cứu
Về mặt lý thuyết, nghiên cứu này hướng đến mục tiêu bổ túc một số kiến thức nhất định trong lĩnh vực dạy học phát triển kỹ năng nói tiếng Anh thông qua nguyên lý tích hợp các hoạt động đa trí tuệ Việc áp dụng đồng thời 02 phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính trong nghiên cứu này đã đem lại các minh chứng thuyết phục về tính hiệu quả của quan điểm tích hợp các hoạt động đa trí tuệ phát triển kỹ năng nói cho sinh viên chuyên ngữ thông qua các mô hình thảo luận tương tác nhóm trí tuệ tổ chức theo kết quả phân định từ các hồ sơ trí tuệ tương đồng của sinh viên Xuất phát từ số lượng hạn chế các nghiên cứu khoa học liên quan đến lĩnh vực tích hợp các hoạt động đa trí tuệ vào chương trình luyện nói, nghiên cứu này cũng có thể được xem là nỗ lực bổ sung một số kiến thức lý thuyết và thực hành liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu này, cụ thể là ứng dụng Thuyết Đa trí tuệ và các hoạt động đa trí tuệ phát triển kỹ năng nói cho sinh viên chuyên ngữ ở Việt Nam
Về mặt thực tiễn, trên cơ sở các kết quả thu được từ nghiên cứu này, một số đề xuất
và khuyến nghị cũng được nêu và phân tích dành cho các giảng viên và sinh viên quan tâm lưu ý trong quá trình thực hiện các hoạt động luyện nói trên lớp Chẳng hạn các quy trình giảng dạy được mô tả trong phần thực nghiệm của nghiên cứu này không những giúp các giảng viên ngày càng nhận thức nhiều hơn về năng lực tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên thể hiện được phong cách diễn đạt ngôn ngữ nói xuất phát từ các kiểu trí tuệ nổi trội của mình, mà còn giúp người học ngày càng trở nên năng động, tự tin và tham gia nhiều hơn vào các hoạt động luyện nói trên lớp
Do vậy, nghiên cứu này kỳ vọng sẽ đem lại những đóng góp thiết thực ở các lĩnh vực (1) phương pháp thiết lập nguồn dữ liệu liên quan đến hồ sơ trí tuệ của sinh viên chuyên ngữ ở bậc đại học; (2) chọn lọc các nội dung giảng dạy phù hợp với quan điểm tích hợp các hoạt động đa trí tuệ vào các bài luyện nói tiếng Anh trên lớp; (3) giới thiệu một số hoạt động luyện nói theo nguyên lý đa trí tuệ để phát huy và tăng cường cùng lúc nhiều kiểu trí tuệ khác nhau của sinh viên; (4) xác lập và khẳng định tính hiệu quả từ các hoạt động ứng dụng Thuyết Đa trí tuệ phát triển kỹ năng nói của sinh viên; và (5) chứng minh những ủng hộ ban đầu của sinh viên chuyên ngữ đối với việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ
1.7 Cấu trúc Luận án
Luận này gồm có 05 chương: Chương 1 giới thiệu tổng quan Luận án Chương 2 trình bày lược sử nghiên cứu Chương 3 bàn luận các phương pháp nghiên cứu Chương 4 trình bày các kết quả và thảo luận Chương 5 kết luận và đề xuất các khuyến nghị
Trang 7CHƯƠNG 2: LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU
Chương 2 trình bày tóm lược các khái niệm và nghiên cứu trước đây liên quan đến các nội dung của nghiên cứu này (1) Các đặc trưng cá nhân của người học trong một lớp luyện nói tiếng Anh; (2) Kỹ năng nói tiếng Anh: định nghĩa, các dạng hoạt động luyện nói,
và một số dạng bài tập luyện nói theo 03 giai đoạn áp dụng trong chương trình thực nghiệm của nghiên cứu này; (3) Thuyết Đa trí tuệ của Gardner (1983): định nghĩa trí tuệ, một số quan điểm ủng hộ và phê phán Thuyết Đa trí tuệ trong giao dục; (4) Một số nét đặc trưng của người học tiếng Anh như một ngoại ngữ ở Việt Nam Ngoài ra, chương này cũng nêu và bàn luận đến một số nghiên cứu trước đây ở trong nước và trên thế giới liên quan đến nội dung của nghiên cứu này, cũng như chỉ ra các khoảng trống nghiên cứu mà các công trình trước đây chưa khai thác nhằm nhấn mạnh các điểm đóng góp mới của nghiên cứu này
2.1 Thuyết Đa Trí Tuệ
Thuyết Đa trí tuệ là một học thuyết tâm lý và giáo dục được phát triển và ngày càng
bổ sung hoàn thiện bởi tác giả Gardner (1983) Thuyết Đa trí tuệ đề xuất quan điểm mỗi cá nhân người học có nhiều kiểu trí tuệ sở trường khác nhau, thay vì chỉ có 02 kiểu trí tuệ sử dụng ngôn ngữ và suy luận lô gíc thường được đề cập và định nghĩa theo các quan điểm trí tuệ truyền thống Tác giả Gardner (1983) cho rằng mỗi cá nhân người học thường sở hữu nhiều mức độ khác nhau của nhiều kiểu trí tuệ khác nhau, và do vậy, mỗi người học đều có một “Hồ sơ đa trí tuệ tri nhận” đặc trưng riêng 08 kiểu trí tuệ trong Thuyết Đa trí tuệ áp
dụng trong nghiên cứu này gồm trí tuệ ngôn ngữ, trí tuệ vận động cơ thể, trí tuệ giao tiếp
hướng ngoại, trí tuệ hướng nội, trí tuệ âm nhạc, trí tuệ thị giác không gian, trí tuệ lô gíc toán học, và trí tuệ yêu mến thiên nhiên
2.2 Thuyết Tương tác xã hội, Phong cách học tập và Đặc trưng cá nhân
Vygotsky (1978) nhấn mạnh quan điểm “Mọi trẻ em đều là những người học tích cực” Ông đặc biệt chú trọng đến các tác động môi trường văn hóa và xã hội, và luôn xem đây là các yếu tố đặc trưng ảnh hưởng quá trình phát triển của một cá nhân người học Tương tự, theo Thuyết Đa trí tuệ của Gardner (1983), trí tuệ của mỗi cá nhân người học không phải có sẵn do bẩm sinh, mà có thể phát triển và thay đổi dần để thích nghi với tác động của môi trường Như vậy, điểm giao thoa tương đồng giữa Thuyết Tương tác xã hội của Vygotsky và Thuyết Đa trí tuệ của Gardner là cả hai lý thuyết này đều gắn kết các yếu
Trang 8tố văn hóa, xã hội vào môi trường học tập để thúc đẩy và phát triển năng lực lĩnh hội phù hợp với đặc trưng của cá nhân người học
2.2.1 Mối quan hệ giữa Quan điểm Đa trí tuệ, Thuyết phong cách học tập, Phương pháp lấy người học làm trung tâm và Đường hướng giao tiếp
2.2.1.1 Thuyết Đa trí tuệ và Thuyết Phong cách học tập
Mỗi cá nhân người học đều tiếp nhận và giải quyết vấn đề hiệu quả nhất theo cách riêng của mình Nolen (2003) khu biệt khái niệm đa trí tuệ là phương pháp xử lý và vận dụng thông tin của từng cá nhân người học, và phong cách học tập chính là phương pháp người học tiếp nhận thông tin Hoerr (2002, 2014) lý luận rằng mục tiêu của các hoạt động dạy học trước hết nên hướng đến việc dạy học hiệu quả Và để đạt được các mục tiêu này, người giáo viên cần hiểu rõ cấu trúc trí tuệ của người học, cũng như phương pháp tiếp nhận thông tin mà người học yêu thích, trên cơ sở đó, người giáo viên mới có khả năng thiết kế
và thực hiện được các hoạt động dạy học phù hợp
2.2.1.2 Phương pháp lấy người học làm trung tâm
Brown (2008) định nghĩa phương pháp lấy người học làm trung tâm là phương pháp dựa trên nguyên lý cho rằng hoạt động học tập là hoàn toàn do người học quyết định Nunan (2009, trang 128) cũng nhấn mạnh vai trò quan trọng của người học ngoại ngữ với nhận định “Trong một lớp học ngoại ngữ theo phương pháp lấy người học làm trung tâm, mọi quyết định liên quan đến nội dung, phương pháp, thời gian học tập, và hình thức kiểm tra
đánh giá… tất cả đều do người học quyết định”
2.2.1.3 Đường hướng giao tiếp
Đường hướng giao tiếp được phát triển vào thập niên 1960 và đầu những năm 1970 phát xuất từ các khái niệm “ý niệm” (notions) và “chức năng” (functions) trong quá trình sử dụng ngôn ngữ và năng lực giao tiếp (Nunan, 1991) Về mặt bản chất, đường hướng giao tiếp
có nhiều nét tương đồng với quan điểm người học định hướng quá trình học tập orientation) Nhu cầu giao tiếp của người học nhằm mục đích thu thập thông tin để cân bằng các khoảng trống thông tin được xác lập làm nền tảng cho nhiều mục tiêu khác nhau trong các hoạt động dạy và học
(learner-2.3 Kỹ năng nói tiếng Anh
2.3.1 Định nghĩa kỹ năng nói tiếng Anh
Trong nghiên cứu này, kỹ năng nói tiếng Anh của sinh viên chuyên ngữ được định nghĩa là quá trình tương tác và giao tiếp sử dụng lời nói Tuy nhiên, nhằm mục đích hình
Trang 9thành và phát triển năng lực ngôn ngữ theo đó sinh viên phải có khả năng đáp ứng các yêu cầu đặt ra của chương trình luyện nói, kỹ năng nói tiếng Anh được định nghĩa lại gồm 04 cức năng giao tiếp như sau: (1) trao đổi thông tin về một số chủ điểm thông dụng trong đời sống hàng ngày; (2) so sánh các cặp tranh; (3) nhanh chóng đưa ra quyết định lựa chọn; và (4) thuyết phục người khác đồng ý với quyết định của mình, theo yêu cầu chuẩn đầu ra của chương trình thực nghiệm
2.3.2 Các yếu tố cấu thành kỹ năng nói
Theo các tác giả McDonough và Shaw (2012), người học nếu muốn nói tiếng Anh lưu loát, phải có khả năng sử dụng thông thạo tổng hợp nhiều thành phần kỹ năng nói khác nhau Simin và Tavakoli đã đề cập đến 03 yếu tố cấu thành kỹ năng nói sau đây: “Các yếu
tố cơ học (cách phát âm, ngữ pháp và từ vựng); các chức năng ngôn ngữ (giao dịch và tương tác); và các quy chuẩn văn hóa và xã hội (tính luân phiên, tốc độ sử dụng ngôn ngữ nói, độ dài các khoảng ngừng giữa những người nói, vai trò của các bên tham gia.”
2.3.3 Các hoạt động luyện nói theo nguyên lý tích hợp đa trí tuệ
Trong nghiên cứu này, một số hoạt động luyện nói theo quan điểm đa trí tuệ tích hợp trong chương trình thực nghiệm có thể được liệt kê như sau: các hoạt động kể chuyện hoặc thảo luận (Trí tuệ sử dụng ngôn ngữ), sử dụng bảng biểu hoặc đồ thị (Trí tuệ lô gíc toán học), các hoạt động theo nhóm và chia sẻ thông tin (Trí tuệ hướng ngoại); kể chuyện từ tranh hoặc thiết kế áp phích (Trí tuệ thị giác không gian), các hoạt động đóng vai (Trí tuệ vận động cơ thể), các hoạt động tư duy độc lập hoặc trình bày quan điểm cá nhân (Trí tuệ hướng nội), các hoạt động thu thập, tái chế hoặc sử dụng lại các vật dụng làm đồ dùng trực quan (Trí tuệ thiên nhiên), các hoạt động sử dụng giai điệu, nhịp điệu hỗ trợ trình bày các nội dung bằng lời (Trí tuệ âm nhạc)
Trong nghiên cứu này, nhằm mục đích tích hợp các hoạt động đa trí tuệ vào chương trình luyện nói thực nghiệm theo nguyên lý mỗi hoạt động đa trí tuệ sẽ được áp dụng để tăng cường và phát huy đồng thời nhiều kiểu trí tuệ khác nhau, tác giả ưu tiên sử dụng 02 kiểu hoạt động: hoạt động học tập dự án và hoạt động thiết kế áp phích
2.4 Thực hiện các hoạt động đa trí tuệ trong chương trình luyện nói thực nghiệm
Các hoạt động đa trí tuệ có thể được tích hợp trong các chương trình dạy học ngoại ngữ theo nhiều hướng khác nhau Berman (1998, trang 84) đề xuất rằng “Giáo viên có thể tổ chức các hoạt động dạy học hàng ngày theo các mô hình trung tâm hoạt động (activity center), hoặc các buổi thuyết trình để khuyến khích phát triển năng lực đa trí tuệ ở người
Trang 10học.” Với phương pháp này, sinh viên có thể được tổ chức hoạt động nhóm, hình thành các trung tâm đa trí tuệ (MI centers) kiến tạo theo các hồ sơ trí tuệ xác lập ngay từ giai đoạn đầu của chương trình đào tạo, hoặc có thể ở giai đoạn gần giữa chương trình đào tạo khi mà sinh viên đã ý thức rõ về cấu trúc hồ sơ trí tuệ thật sự của mình
2.5 Những khác biệt cá nhân của người học trong cùng một lớp luyện nói tiếng Anh
Tác giả Gardner (1983) nhận định “Trong cùng một lớp học, mỗi học sinh là một chủ thể cá biệt, và luôn có những nét đặc trưng khác biệt của riêng bản thân mình.” Những khác biệt giữa các cá thể học sinh có thể bắt nguồn từ môi trường sống hoặc cũng có thể là những đặc điểm cá tính bẩm sinh của các em Rõ ràng rằng, qua nghiên cứu này, có thể nhận thấy các giáo viên không nên chỉ phân chia học sinh thành một hoặc hai nhóm, mà mỗi cá nhân học sinh đều sở hữu những nét đặc trưng khác biệt của bản thân mình, và lớp học ngôn ngữ nào cũng đều có đặc tính tương tự như vậy
2.6 Một số nghiên cứu trước đây liên quan đến áp dụng Thuyết Đa trí tuệ
Phần này trình bày tóm lược một số nghiên cứu trước đây liên quan đến ứng dụng Thuyết Đa trí tuệ vào thực tiễn dạy học ngoại ngữ Nguyên lý ứng dụng Thuyết Đa trí tuệ trong dạy học ngoại ngữ nhìn chung là sự kết hợp của các công cụ như các hoạt động tích hợp đa trí tuệ, nguồn đồ dùng trực quan đa trí tuệ và phương pháp kiểm tra đánh giá theo quan điểm đa trí tuệ như đã được để cập và bàn luận bởi các nhà nghiên cứu Armstrong (1993), Campbell (1994 & 2003), Christison (1996 & 1999), Hoerr (2002, 2014), Nolen (2003), Arnold & Fonseca (2004), Hashemian & Adibpour (2012), Salem (2013), Hamidi & Seifoori (2014), Koura & Hebaishi (2014), Younas & Subhani (2015), Orhan and Hasan (2015), Neda & Rahanama (2015), Fauziah (2015), Adityas (2016), Gündüz & Ünal (2016), Kentab (2016), Madkour & Mohamed (2016) và Beare (2016 & 2018)
Tuy nhiên, trong phần lớn các công trình nghiên cứu của những tác giả trên, mỗi hoạt động đa trí tuệ đều có xu hướng được thiết kế và thực hiện để tập trung phát triển một kiểu trí tuệ nhất định Nghiên cứu này là một nỗ lực để lấp đầy khoảng trống nghiên cứu như vậy trong ứng dụng Thuyết Đa trí tuệ bằng cách tích hợp các hoạt động đa trí tuệ với nguyên tắc mỗi hoạt động dạy học đa trí tuệ có thể cùng một lúc phát huy và tăng cường nhiều kiểu trí tuệ của sinh viên Ngoài ra, nhằm mục đích thiết lập các hồ sơ đa trí tuệ của sinh viên để thuận tiện tìm hiểu và nắm bắt các điểm mạnh và điểm yếu để phát kỹ năng nói, nghiên cứu này mô phỏng phiên bản Khung đánh giá phát triển đa trí tuệ (MIDAS) và có thiết kế lại để phù hợp với mục đích nghiên cứu là phát triển kỹ năng nói tiếng Anh cho sinh viên
Trang 11CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương này trình bày phương pháp nghiên cứu Trước hết, các phương pháp nghiên cứu áp dụng cho nghiên cứu này được phân tích kỹ về tính hợp lý; tiếp theo thiết kế nghiên cứu được mô tả và thực hiện liên quan đến các đối tượng tham gia thực nghiệm, các công cụ nghiên cứu, quy trình thu thập và phân tích dữ liệu Ngoài ra, độ tin cậy và tính hiệu lực của nghiên cứu cũng được đề cập và bàn thảo
3.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm mục đích chứng minh liệu việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ vào chương trình luyện nói thực nghiệm có thể giúp phát triển kỹ năng nói của sinh viên chuyên ngữ hay không; đồng thời, tìm hiểu đánh giá của người học đối với quan điểm tích hợp các hoạt động đa trí tuệ như vậy Hình 4.3 mô tả thiết kế sử dụng trong nghiên cứu này
Kỹ năng nói tiếng Anh của sinh viên, trong nghiên cứu này, được xem là biến số phụ thuộc, được đo lường để xác định mức độ ảnh hưởng của biến số độc lập – các hoạt động đa trí tuệ được tích hợp vào chương trình luyện nói thực nghiệm Ý kiến đánh giá của người học đối với việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ trong chương trình luyện nói cũng được xem là một biến số độc lập khác được phân tích thống kê để tìm hiểu và đề xuất giải pháp
tăng cường hiệu quả cho các hoạt động luyện nói ứng dụng quan điểm đa trí tuệ
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định lượng làm phương pháp nghiên cứu chính, kết hợp với phương pháp phân tích định tính như công cụ bỗ trợ nhằm thu thập thêm minh chứng từ thông tin phản hồi của người học để bổ sung thông tin cho các kết quả thống
kê phân tích dữ liệu từ các bài kiểm tra trước và sau tác động Do vậy, nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp để tìm lời giải cho các câu hỏi nghiên cứu đặt ra, với sự kết hợp một số công cụ và kỹ thuật nghiên cứu khác nhau như các bài kiểm tra trước
Tích hợp các hoạt động
đa trí tuệ
Kỹ năng nói tiếng Anh
Đánh giá của sinh viên đối với việc tích hợp các hoạt động đa trí tuệ
Trang 12và sau tác động, các bảng câu hỏi khảo sát, phiếu phản hồi thông tin, và phỏng vấn chuyên
sâu để thu thập và phân tích dữ liệu cũng như tăng cường độ tin cậy và tính hiệu lực
3.3 Các đối tượng tham gia nghiên cứu
Các đối tượng tham gia nghiên cứu này bao gồm 60 sinh viên chuyên ngữ, chuyên ngành Sư phạm tiếng Anh, chia đều số lượng cho 02 nhóm đối chứng và thực nghiệm trên
cơ sở tự nguyện đăng ký tham gia vào chương trình luyện nói thực nghiệm
3.4 Công cụ nghiên cứu
Công cụ Bảng khảo
sát trí tuệ
Bài kiểm tra trước và sau tác động
Bảng câu hỏi trước và sau thực nghiệm
Phiếu đánh giá thông tin phản hồi
Phỏng vấn
Chức năng
Thiết lập hồ
sơ trí tuệ, thiết kế và thực hiện các hoạt động đa trí tuệ
Đo lướng các ảnh hưởng của thực nghiệm đến
kỹ năng nói tiếng Anh của sinh viên
Khảo sát ý kiến phản hồi của người học đối với quan điểm tích hợp các hoạt động
đa trí tuệ
Điều chỉnh kế hoạch giảng dạy thích nghi với năng lực trí tuệ sở trường của sinh viên
Làm rõ và củng cố thông tin, kết quả thu được từ các công cụ nghiên cứu trước
Phương
pháp phân
tích dữ liệu
Mô tả định lượng
Mô tả định tính
Kết hợp mô tả định lượng và định tính
Kết hợp mô tả định lượng và định tính
Mô tả định tính
Hình thức
công cụ thu
thập dữ liệu
Bảng khảo sát trắc nghiệm với 5
sự lựa chọn đối với mỗi câu hỏi
Bài kiểm tra gồm 4 phần,
mô phỏng dạng thức bài thi nói B2 Cambridge
02 bảng khảo sát trắc nghiệm với 5
sự lựa chọn đối với mỗi câu hỏi
Kết hợp trả lời trắc nghiệm và các câu hỏi đóng – mở
- Bài kiểm tra trước tác động
Nhóm thực nghiệm
Cả 2 nhóm Tuần 1 – 14 - Thực hiện chương trình luyện nói thực nghiệm
- Thực hiện chương trình luyện nói thông thường
Nhóm thực nghiệm Nhóm đối chứng Tuần 15 và sau
thực nghiệm
- Bảng câu hỏi sau thực nghiệm lấy thông tin phản hồi của người học về quan điểm tích hợp các hoạt động đa trí tuệ;
- Bài kiểm tra sau tác động
- Phỏng vấn
Nhóm thực nghiệm
Cả 02 nhóm Nhóm thực nghiệm
3.6 Phân tích dữ liệu
Các dữ liệu được thu thập và phân tích trình tự và nội dung của các câu hỏi nghiên
Trang 13quá trình tích hợp các hoạt động đa trí tuệ để phát triển kỹ năng nói cho sinh viên, cũng như
ý kiến phản hồi của sinh viên đối với quan điểm tích hợp các hoạt động đa trí tuệ
3.7 Độ tin cậy và tính hiệu lực của nghiên cứu
Về độ tin cậy của nghiên cứu này, tất cả các mục ở bài kiểm tra, bảng câu hỏi trước
và sau tác động đều được thao tác bằng các thuật toán phần mềm SPSS, sau đó so sánh với chuẩn hệ số tin cậy Cronbach Alpha, thuộc mức độ tin cậy theo quy định của McMillan & Schumacher trong phạm vi từ 0.70 đến 0.90 Trong nghiên cứu này, hệ số tin cậy α = 0.75 đối với bài kiểm tra thử nghiệm trước tác động, và α = 0.80 đối với bài kiểm tra thử nghiệm sau tác động; α = 0.72 đối với bảng khảo sát thử nghiệm trước thực nghiệm và α = 0.73 đối với bảng khảo sát thử nghiệm sau thực nghiệm Đối với các công cụ nghiên cứu định lượng, tính hiệu lực của nghiên cứu này được gia tăng và củng cố về nhiều phương diện khác nhau Trước hết, nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp để đối sánh các dữ liệu thu thập thông qua nhiều công cụ nghiên cứu khác nhau Sau đó, tính hiệu lực của nghiên cứu này còn được tăng cường thông qua nhận thức của tác giả nghiên nghiên cứu rằng các thao tác diễn dịch, giải mã, và kết luận đối với các nội dung trả lời của các đối tượng tham gia nghiên cứu phải tuyệt đối trung thực, chính xác và được minh chứng tốt từ các nguồn trích dữ liệu phù hợp
3.8 Vai trò của tác giả nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, tác giả đóng vai trò vừa là người nghiên cứu, vừa là giảng viên thực hiện chương trình luyện nói thực nghiệm Vài trò trực tiếp giảng dạy giúp tác giả tiếp cận tốt với cơ sở thực hiện nghiên cứu và hiểu rõ các điều kiện thực hiện nghiên cứu Ngoài ra, trong quá trình thực hiện các bài kiểm tra trước và sau tác động, 02 giảng viên luyện nói khác được mời để chấm điểm trực tiếp cho các sinh viên để có được kết quả điểm
số đánh giá khách quan đối với kỹ năng nói của sinh viên, điều này thật sự đã giúp tác giả rất nhiều trong lĩnh vực thiết lập nguồn dữ liệu khách quan và đáng tin cậy
3.9 Các vấn đề đạo đức nghiên cứu
Để tránh tạo ra các ảnh hưởng không tốt cho các sinh viên tham gia vào nghiên cứu này, tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu đều được thông báo kỹ rằng danh tính và thông tin phản hồi từ các đối tượng nghiên cứu sẽ được bảo mật Mục đích của nghiên cứu này cũng được miêu tả cụ thể và rõ ràng Tất cả mọi đóng góp và tham gia điền vào bảng câu hỏi khảo sát, hoàn thành các bài kiểm tra trước và sau tác động, trả lời phỏng vấn, điền vào phiếu phản hồi thông tin, đều thực hiện trên tinh thần hoàn toàn tự nguyện