Tạo hứng thú cho học sinh trong một tiết dạy học ngữ văn là gì? Dựa vào khái niệm về hứng thú ta có thể hiểu: Tạo hứng thú cho học sinh trong một tiết dạy ngữ văn nghĩa là giáo viên cần thu hút sự chú ý đặc biệt của học sinh với bài giảng của mình, làm cho người học khát khao muốn tìm hiểu đi sâu vào bài học và hoạt động một cách tự giác tích cực với mỗi bài học đó. “Tạo” có nghĩa là “gây dựng nên”. “Hứng thú” nghĩa là “cảm hứng thích thú”. Như vậy tạo hứng thú cho học sinh là yêu cầu đối với người thầy, là sự kích thích của người thầy, nhằm “gây dựng” cho người học sự ham thích, cảm hứng thích thú trong mỗi tiết học. “Dạy học” nghĩa là “chỉ bảo sự học hành”, nghĩa là: dạy cho học sinh cách học, không phải là học thuộc, học thụ động, tiếp thu một chiều mà là cho học sinh được tiếp thu, trải nghiệm thông qua việc quan sát, tri giác và và thực hành từ đó “làm cho học sinh thay đổi về trí tuệ, tình cảm, nhân cách năng lực”. Như vậy ta hiểu tiết dạy học có sự giao hòa hoạt động của thầy và trò. Trong đó thầy là người chỉ dẫn, trò là trung tâm của hoạt động. Có thể nói mỗi tiết dạy học giống như một công trình và người thầy như một kĩ sư thiết kế. Học sinh có hứng thú hoạt động với công trình đó hay không điều đó phụ thuộc một phần không nhỏ vào khả năng kiến tạo của người thầy. Chính vì vậy, để giúp các em tiếp nhận những giá trị của vẻ đẹp tư tưởng, nghệ thuật, đạo lý của văn chương, người giáo viên cần tạo cho các em biết cảm nhận nó “không chỉ cần có sự thông tuệ mà còn phải bằng cả cảm xúc của tâm hồn mình …”.
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LAI CHÂU Trường PTDT Nội trú Than Uyên
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH TRONG MỘT TIẾT DẠY HỌC NGỮ VĂN
Ở TRƯỜNG PTDT NỘI TRÚ THAN UYÊN
Lĩnh vực/Môn: Ngữ văn
Tên tác giả: Bá Thị Hiền
NĂM HỌC 2013 - 2014
Trang 2MỞ ĐẦU
Trang 31 Lý do chọn đề tài:
Bác Hồ đã từng nói: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dântộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châuhay không, chính là một phần lớn ở công học tập của các em” Lời căn dặn củaNgười với các em thiếu nhi đã khẳng định vai trò to lớn của các em đối với tương laicủa đất nước, của dân tộc Các em chính là những chủ nhân tương lai, là thế hệ sẽ kếthừa và tiếp tục gánh trọng trách xây dựng và bảo vệ đất nước phồn thịnh sau này.Nhưng để làm được điều đó thì việc học tập của các em phải đặt lên hàng đầu Nócũng có nghĩa là trọng trách trên vai tất cả mọi người thầy trong đó không thể không
kể đến người thầy dạy văn, những “kĩ sư tâm hồn” thực thụ càng trở nên quan trọnghơn bao giờ hết Nhất là trong giai đoạn hiện nay khi đất nước đang tiến nhanh trêncon đường công nghiệp hóa hiện đại hóa, tiến đến trở thành một nước công nghiệp
Trong xu thế mới, các em là thế hệ đang được tiếp cận với một thời đại côngnghệ thông tin bùng nổ cùng với điều kiện học tập mở, hiện đại, tiến bộ Nó đòi hỏimọi người thầy phải trau dồi về kiến thức, kĩ năng và có phương pháp định hướnghợp lí, cuốn hút được học trò trong từng bài giảng Làm thế nào để các em không chỉhọc có trách nhiệm với bộ môn mà còn yêu thích môn học đó, cho dù đó không phải
là những môn mà các em sẽ lựa chọn nghề trong tương lai để góp phần tích cực nhấtcho mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực phát triển toàn diện của nước nhà? Một lần nữacâu trả lời lại ở các thầy cô giáo nói chung và đó cũng là trăn trở của người thầy dạy
bộ môn ngữ văn nói riêng - bộ môn mà ít nhiều dưới ảnh hưởng của xu thế thời đạitrong một chừng mực nào đó đã bị xã hội và không ít học sinh coi nhẹ
Làm thế nào để môn ngữ văn giữ vững ở một trong những vị trí hàng đầu như
đã từng sống trong lòng các sĩ tử xưa nay khi mà thực tế những tiết dạy học ngữ vănhiện nay càng ngày càng giảm dần đi hứng thú đối với cả người dạy và người học?
Đó là bài toán hóc búa đặt ra đối với mọi giáo viên dạy ngữ văn nói chung và bảnthân tôi nói riêng về yêu cầu cần thay đổi cách dạy, cần tìm ra những giải pháp đểcác em không chỉ học tập có trách nhiệm mà còn còn thấy yêu bộ môn chúng tagiảng dạy như đã nêu ở trên Hiểu rõ điều này, cũng như việc ý thức sâu sắc vềnhững tác động tiêu cực đang ảnh hưởng đến chất lượng thực sự của môn văn tronggiai đoạn hiện nay bản thân tôi (với cương vị là một giáo viên giảng dạy môn ngữvăn) đã trăn trở, tìm tòi, vận dụng để rồi có thể đúc rút cho mình những giải pháp
cộng hưởng nhằm “Tạo hứng thú cho học sinh trong một tiết dạy học Ngữ văn”
mà tôi được trực tiếp tham gia giảng dạy ở đơn vị mình
2 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu.
Trang 4- Phạm vi: Học sinh lớp 8, Trường PTDT Nội trú Than Uyên
- Đối tượng: Tạo hứng thú cho học sinh trong một tiết dạy học Ngữ văn
3 Mục đích
Trên cơ sở thực tiễn đề xuất ra các giải pháp nhằm tạo hứng thú cho học sinhtrong từng tiết dạy học Ngữ văn Qua đó, khắc phục những tồn tại hạn chế trong mỗitiết dạy học ngữ văn hiện nay; giúp học sinh cảm thụ bộ môn một cách chủ động, cóhiệu quả, có chất lượng Cuối cùng, hình thành trong các em thái độ học tập tích cực,yêu thích bộ môn văn, vận dụng những trải nghiệm của bộ môn vào giao tiếp
4 Điểm mới của SKKN:
Đây là đề tài nghiên cứu đầu tiên của bản thân về một số những giải phápmang tính cộng hưởng, bổ trợ cho các giải pháp khác nhằm tác động đến tâm lí họcsinh để tạo ra sự hứng thú trong quá trình học tập chứ không phải là những giải pháp
cơ bản, tổng thể và duy nhất, không phải là phương pháp đặc trưng, đặc thù của bộmôn
Trong quá trình nghiên cứu, ứng dụng có sự vận dụng tích hợp với các hiệuứng tích cực từ những bộ môn nghệ thuật khác như: âm nhạc, sân khấu, mĩ thuật…
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở đúc rút bài học từ thực tiễn, giáo viên tiếnhành điều tra, khảo sát trên phạm vi học sinh của khối 8, áp dụng các giải pháp tácđộng trên một lớp (lớp 8A), so sánh đối chiếu với một lớp (lớp 8B), sử dụng các sốliệu, biểu đồ, hình ảnh tư liệu minh họa
Xét theo sự lựa chọn của cá nhân đối với thế giới khách quan: P.A.Đudichquan niệm hứng thú là biểu hiện xu hướng đặc biệt của cá nhân nhằm nhận thứcnhững hiện tượng nhất định của cuộc sống xung quanh, đồng thời biểu hiện thiênhướng tương đối ổn định của con người đối với các hoạt động nhất định.A.V.Daparôzét coi hứng thú là khuynh hướng chú ý tới đối tượng nhất định lànguyện vọng tìm hiểu chúng một cách càng tỉ mỉ càng tốt B.M.Cheplốp thì coihứng thú là thiên hướng ưu tiên chú ý vào một đối tượng nào đó
Trang 5Xét theo khía cạnh gắn với nhu cầu nhà tâm lý học A.Phreiet cho rằng: Hứngthú là động lực của những xúc cảm khác nhau, Sbinle giải thích hứng thú là tính nhạy cảm đặc biệt của xúc cảm L.A.Gôđơn coi hứng thú là sự kết hợp độc đáo củacác quá trình tình cảm, ý chí, trí tuệ, làm cho tính tích cực của hoạt động con ngườinói chung được nâng cao Trong từ điển tâm lý học, hứng thú được coi là một biểuhiện của nhu cầu, làm cho chủ thể tìm cách thỏa mãn nhu cầu tạo ra khoái cảm thíchthú.
Còn theo Nguyễn Quang Uẩn trong tâm lý học đại cương: Hứng thú là thái độđặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa
có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động
Như vậy, xét về mặt khái niệm: Hứng thú là một thái độ đặc biệt của cá nhânđối với đối tượng, thể hiện ở sự chú ý tới đối tượng, khao khát đi sâu nhận thức đốitượng, sự thích thú được thỏa mãn với đối tượng
Hứng thú biểu hiện ở sự tập trung cao độ, sự say mê, hấp dẫn bởi nội dunghoạt động Hứng thú sẽ làm nảy sinh khát vọng hành động, làm tăng hiệu quả củahoạt động nhận thức, tăng sức làm việc
1.1.2 Một vài nét về môn ngữ văn ở THCS.
Ngữ văn là bộ môn khoa học xã hội, trong từ điển Tiếng Việt, ngữ văn đượctriết tự như sau: ngữ là nói, lời nói, ngôn ngữ; văn là văn học nói chung Theo Líluận văn học thì ngữ văn là môn học cung cấp hệ thống các khái niện và phạm trù líluận phản ánh bản chất đặc trưng của văn học vừa với tư cách là một hình thái ýthức xã hội đặc thù (hình thái ý thức thẩm mĩ) vừa với tư cách một loại hình nghệthuật tiêu biểu (nghệ thuật ngôn từ)
Trong bài viết “Học môn ngữ văn như thế nào để có hiệu quả tốt nhất”, nghệ
sĩ ưu tú Hồ Quang Diệu đã viết: “Nói về môn văn là nói về một môn khoa họcnghiên cứu, tìm hiểu, khám phá, phản ánh về con người để phục vụ con người, cũng
có nghĩa là phục vụ sự nghiệp của con người đối với mọi dân tộc, mọi thời đại Vănhọc ngoài tính chất khoa học nó còn là bộ môn nghệ thuật” Để “tạo nên di sản vănhọc ưu tú, người nghệ sĩ mọi thời đại không chỉ cần sự hiểu biết sâu sắc về conngười và thời đại mà điều quan trọng là cách nhìn, sự rung cảm trong trái tim ngườinghệ sĩ trước con người, thời đại”
Nói cách khác đây là môn học nhằm bồi đắp tâm hồn, hình thành nhân cáchhọc sinh, trang bị cho học sinh những cảm xúc nhân văn để hướng tới cái chân,thiện, mĩ Nó giúp cho đời sống tinh thần của con người trở nên giàu có, phong phú
và tinh tế hơn, tâm hồn cũng bớt chai sạn, thờ ơ, bàng quang với cuộc sống Nó bồiđắp cho học sinh lòng yêu nước, thái độ trân trọng giá trị truyền thống và ngôn ngữ
mẹ đẻ Nó còn có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện khả năng sử dụng ngônngữ, diễn đạt, cách thức tạo lập văn bản phục vụ cho quá trình giao tiếp trên mọi lĩnhvực của đời sống con người
Trong chương trình THCS, môn ngữ văn bậc THCS được biên soạn theochương trình THCS ban hành kèm theo Quyết định số 03/2002/QĐ-BGD&ĐT ngày
24 tháng 1 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; là sự sát nhập (tíchhợp) ba phần mà lâu nay vẫn được coi là ba phân môn: Tiếng Việt, Tập làm văn vàvăn học vào một chỉnh thể là ngữ văn Trừ phần văn bản và chú thích dùng chung
Trang 6cho cả ba phần, các mục còn lại đều thống nhất sắp xếp theo trình tự Văn, TiếngViệt, Tập làm văn Các văn bản được bố trí theo thể loại và phần nào theo tiến trìnhvăn học sử Ngoài một số văn bản lớn được tìm hiểu tại lớp, còn một số văn bản “tựhọc có hướng dẫn” mang tính chất bắt buộc, với số lượng nâng dần trong bậc họcnhằm hình thành và phát triển thói quen, khả năng tìm tòi, nghiên cứu ở người học.
ở từng phân môn, còn một số văn bản phụ và văn bản “đọc thêm” có tính chất tư liệunhằm giúp cho học sinh hiểu rõ hơn một vài phương diện của văn bản chính, nắmvững hơn vấn đề lí thuyết hay có thêm chất liệu để làm tốt hơn các bài tập Chươngtrình ngữ văn THCS được cấu tạo theo nguyên tắc đồng tâm, chia làm hai vòng.Vòng I gồm lớp 6 và lớp 7, vòng II gồm lớp 8 và lớp 9 Ngoại trừ phần văn học dângian chỉ có ở vòng I và văn bản thuyết minh chỉ có ở vòng II, hầu hết các nội dung ởlớp 8 (lớp đầu của vòng II) đều đã được đề cập đến ở vòng I với một sự tiếp nối vàphát triển hợp lôgic
1.1.3.Tạo hứng thú cho học sinh trong một tiết dạy học ngữ văn là gì?
Dựa vào khái niệm về hứng thú ta có thể hiểu: Tạo hứng thú cho học sinhtrong một tiết dạy ngữ văn nghĩa là giáo viên cần thu hút sự chú ý đặc biệt của họcsinh với bài giảng của mình, làm cho người học khát khao muốn tìm hiểu đi sâu vàobài học và hoạt động một cách tự giác tích cực với mỗi bài học đó
“Tạo” có nghĩa là “gây dựng nên” “Hứng thú” nghĩa là “cảm hứng thích thú”.Như vậy tạo hứng thú cho học sinh là yêu cầu đối với người thầy, là sự kích thíchcủa người thầy, nhằm “gây dựng” cho người học sự ham thích, cảm hứng thích thútrong mỗi tiết học
“Dạy học” nghĩa là “chỉ bảo sự học hành”, nghĩa là: dạy cho học sinh cáchhọc, không phải là học thuộc, học thụ động, tiếp thu một chiều mà là cho học sinhđược tiếp thu, trải nghiệm thông qua việc quan sát, tri giác và và thực hành từ đó
“làm cho học sinh thay đổi về trí tuệ, tình cảm, nhân cách năng lực” Như vậy tahiểu tiết dạy học có sự giao hòa hoạt động của thầy và trò Trong đó thầy là ngườichỉ dẫn, trò là trung tâm của hoạt động
Có thể nói mỗi tiết dạy học giống như một công trình và người thầy như một
kĩ sư thiết kế Học sinh có hứng thú hoạt động với công trình đó hay không điều đóphụ thuộc một phần không nhỏ vào khả năng kiến tạo của người thầy
Chính vì vậy, để giúp các em tiếp nhận những giá trị của vẻ đẹp tư tưởng,nghệ thuật, đạo lý của văn chương, người giáo viên cần tạo cho các em biết cảmnhận nó “không chỉ cần có sự thông tuệ mà còn phải bằng cả cảm xúc của tâm hồnmình …”
1.2 Các văn bản chỉ đạo
Nghị quyết hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII vềđịnh hướng chiến lược phát triển Giáo dục đào tạo trong thời kì công nghiệp hóahiện đại hóa đất nước và nhiệm vụ đến năm 2020 đã đưa ra một trong các giải phápchỉ đạo là: “Tăng cường công tác giáo dục công dân, giáo dục tư tưởng - đạo đức,
Trang 7lòng yêu nước…Coi trọng hơn nữa các môn học xã hội và nhân văn, nhất là tiếngViệt, lịch sử dân tộc”.
Trong Luật giáo dục điều 28.2 đã nêu rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thôngphải phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểmtừng lớp học, từng môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theonhóm, rèn kĩ năng rèn luyện kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lạiniềm vui, hứng thú cho học sinh”
Chỉ thị 40/2008/CT-BGDĐT Về “Xây dựng trường học thân thiện học sinhtích cực” cũng chỉ ra yêu cầu: “Tăng cường sự tham gia một cách hứng thú của họcsinh trong các hoạt động giáo dục trong nhà trường và tại cộng đồng, với thái độ tựgiác, chủ động và ý thức sáng tạo”
Những văn bản chỉ đạo trên cho thấy môn ngữ văn là môn học có vai trò quantrọng không thể thiếu trong nhà trường phổ thông Đồng thời cũng chỉ ra yêu cầu,nhiệm vụ của người thầy là phải tích cực đổi mới tư duy, đổi mới phương pháp dạyhọc
Chương 2 Thực trạng hứng thú học tập của học sinh với tiết dạy học ngữ văn ở trường PTDT nội trú Than Uyên
2.1 Vài nét về trường PTDT nội trú Than Uyên
Trường PTDT Nội trú Than Uyên được thành lập từ ngày 01.10.1983 Sauhơn ba mươi năm xây dựng và trưởng thành, trường đã có những đóng góp thiếtthực cho sự nghiệp giáo dục của huyện, tỉnh nhà Đào tạo đội ngũ cán bộ nguồn –cán bộ người dân tộc có chất lượng phục vụ quê hương
Nằm ngay trên địa bàn thị trấn huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, ở khu vựcđông dân cư nhất huyện, các điều kiện về dịch vụ, giao thông, y tế… tương đốithuận lợi với mọi hoạt động của thầy và trò Hiện nay trường có 08 lớp trên 250 với
06 dân tộc: Dao, Tày, Thổ, Khơ Mú, H’Mông, Thái Trong đó, chiếm số đông nhất
là học sinh dân tộc H'Mông và dân tộc Thái Các em là những học sinh tiêu biểu, ưu
tú nhất của các dân tộc hoặc là những học sinh dân tộc có hoàn cảnh đặc biệt khókhăn ở xã đặc biệt khó khăn của huyện Mỗi học sinh đều có những cá tính riêng,mang những dấu ấn riêng, bản sắc riêng của từng dân tộc, từng môi trường sống.Bản tính của các em là thật thà, chất phát, nhu mì, chăm chỉ, cần cù, thân thiện, cónghị lực và khá thông minh
Nhà trường được nhà nước trang cấp trang thiết bị để phục vụ cho hoạt độngdạy và học Học sinh của trường được cấp học bổng phục vụ cho ăn uống sinh hoạthàng ngày, được sinh hoạt tập trung tại khu nội trú, được sống, học, làm quen vàthực hành cách sống tự lập
Trang 8Đội ngũ cán bộ của nhà trường đảm bảo về số lượng, đạt chuẩn về trình độ, có
ý thức trách nhiệm cao với nhiệm vụ được giao
2.2 Những thuận lợi, khó khăn
và môn ngữ văn được khẳng định vị trí của mình
- Nhà trường có tương đối đầy đủ những tài liệu tham khảo tối thiểu cần thiếtcho bộ môn ngữ văn ở tất cả các khối lớp, phòng máy tính cho học sinh truy cậpinternet, hệ thống máy được trang bị và lắp đặt ngay tại các lớp học Giáo viên vàhọc sinh đều có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin để khai thác và truy cập tàiliệu phục vụ cho hoạt động dạy và học
- Chất lượng chung của môn ngữ văn tương đối ổn định không thấp so vớimặt bằng chung ở các môn học
- Nhiều học sinh của trường có thiên hướng học thiên về các môn xã hội cónăng khiếu sở trường ở các môn xã hội trong đó có môn ngữ văn
- Với học sinh khối 8 các em đã được tiếp cận với chương trình ngữ vănTHCS từ lớp 6, lớp 7 tức là đã qua vòng 1 của chương trình vòng tròn đồng tâm vớihầu hết các khái niệm và hệ thống kiến thức đã được làm quen hoặc tìm hiểu mộtcách sơ lược
2.2.2 Khó khăn
Thống kê điểm kiểm tra khảo sát chất lượng đầu năm với môn ngữ văn lớp 8
có số lượng như sau:
Điểm dưới trung bình
Trang 9Bảng thống kê cho thấy tỉ lệ điểm dưới trung bình là 19%, điểm giỏi 15%điểm trung bình và điểm khá 66% Tỉ lệ trên cho thấy chất lượng môn ngữ vănkhông quá thấp nhưng vẫn còn có tới 19% học sinh điểm dưới trung bình là mộtđiều rất đáng trăn trở với giáo viên bộ môn Sau quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, ràsoát, tổng hợp, tôi nhận thấy những trăn trở, khó khăn chung mà các thầy cô giáodạy văn ở trường PTDT Nội trú Than Uyên cần tìm biện pháp giải quyết thể hiện ởnhững khía cạnh sau:
2.2.2.1 Tình trạng học sinh coi nhẹ môn ngữ văn
Điều tra về quan niệm của học sinh về tầm quan trọng của môn ngữ văn với
bản thân trong tương lai (điều tra trên 59 học sinh) với câu hỏi: “Quan niệm của em
về tầm quan trọng của môn ngữ văn với bản thân em trong tương lai” thu được
những câu trả như sau:
Rất quan trọng
Quan trọng Không quan
2.2.2.2 Học sinh không thích môn ngữ văn
Với học sinh THCS, môn văn là một trong 8 môn học cơ bản và là một tronghai môn học chính chiếm thời gian trên lớp nhiều nhất so với các môn học khác.Nhưng có một hiện thực phổ biến và là thách thức lớn đối với người thầy là các em
không thích học văn Bảng số liệu điều tra về mức độ hứng thú học tập môn ngữ văn với câu hỏi: Em có thích học môn ngữ văn không? dưới đây đã một phần chứng
Trang 10Tỉ lệ 13% 27% 37% 23%
Từ bảng số liệu, ta thấy tỉ lệ học sinh rất hứng thú học môn ngữ văn thấp(13%), tỉ lệ học sinh không thích học môn ngữ văn thấp hơn tỉ lệ học sinh thích họcnhưng vẫn là một con số khá lớn 23% Tỉ lệ học sinh có thái độ bình thường vớimôn văn chiếm 37% đa số Lẽ ra với đặc thù của bộ môn thì phải có đa số học sinhthích và rất thích thì mới hợp lí Vì sao vậy? Điều này tôi sẽ lí giải ở phần sau(nguyên nhân của thực trạng)
2.2.2.3 Học sinh lúng túng trong tiếp nhận và cảm thụ văn học
Điều tra về mức độ nhận thức của học sinh bằng câu hỏi trắc nghiệm với bốn
phương án trả lời: Rất khó, khó, bình thường, dễ, cho kết quả như sau:
lệ cảm nhận “dễ” khi học văn với tất cả các em
2.2.3 Nguyên nhân
Học sinh coi nhẹ môn ngữ văn vì môn ngữ vì môn học này không phải là mônhọc mà các em chọn làm đích đến cho sự nghiệp trong tương lai
Điều tra về sự khả năng lựa chọn môn văn để thi vào các trường chuyên, thi
khối C trong tương lai trên 60 học sinh lớp 8: Em có chọn môn ngữ văn để thi vào trường chuyên, thi khối C trong tương lai không? Kết quả như sau:
Trang 11đó mới là một sự đảm bảo cho những cơ hội tốt đẹp trong tương lai sau này vớinhững trường về kĩ thuật, kinh tế, tài chính… Chính vì vậy, các em cho rằng việcsay mê, tìm tòi và khám phá với môn văn là điều không cần thiết, không thiết thực,các em chỉ cần học đạt đến điểm trung bình hoặc đảm bảo các điều kiện cần thiếtcho điểm phẩy khá giỏi trong hồ sơ là đủ
Một thực tế nữa là học sinh không thích học môn ngữ văn, bộ phận khác các
em còn rất lúng túng trong tiếp nhận và cảm thụ văn học Vì sao vậy? Để tìm câu trảlời xác thực và lí giải những nguyên nhân cụ thể, tôi tiến hành khảo sát với câu hỏi:
Theo em nguyên nhân nào dẫn đến kết quả học tập môn ngữ văn chưa hiệu quả?
Dưới đây là bảng tổng hợp câu trả lời của các em:
Do môn ngữ văn có nhiều bài học khó
Do thầy cô giảng bài khó hiểu
Do học sinh lười học Lí do khác
có rằng nguyên nhân từ phía học sinh chưa tích cực, còn lười học Điều đó có nghĩa
là kết quả học tập tốt hay không phụ thuộc chủ yếu vào nguyên nhân chủ quan dothầy (20%), do học trò (46%) Chỉ có 15% học sinh cho rằng kết quả học tập chưatốt do nguyên nhân khách quan (chương trình còn có nhiều bài học khó)
Thực tế vẫn còn một số giáo viên ngữ văn chưa thực sự tâm huyết với nghề,chưa nỗ lực tìm tòi sáng tạo, ngại học hỏi Giáo viên lên lớp theo quy định, theo lịchđược phân công với một trình tự công thức lặp đi lặp lại, thầy giảng cứ giảng, trò ghi
Trang 12cứ ghi khiến cho tiết học trở nên nhàm chán, nặng nề, buồn ngủ Ở một số giáo viênkhác lại chưa quan tâm đến đối tượng học sinh Học sinh yếu, trung bình, khá giỏiđều được sử dụng một phương pháp dạy giống nhau, mức độ yêu cầu như nhau Dẫnđến hậu quả học sinh khá giỏi không phát huy được tố chất, năng lực sẵn có, họcsinh yếu, trung bình lại chưa cập được yêu cầu của thầy dạy
Bên cạnh yếu tố chủ quan phía thầy giáo còn có yếu tố thuộc về những họcsinh
Thứ nhất với không ít học sinh, học văn là vì trách nhiệm phải học Các emhọc chỉ vì lấy điểm cao, để đạt danh hiệu học sinh khá, giỏi; học vì đây là môn họccác em sẽ thi vào lớp 10, sẽ chọn để theo đuổi một sự nghiệp trong tương lai do bảnthân thấy không có khả năng để lựa chọn môn học khác trước chứ không phải vì các
em hứng thú, yêu thích môn học này
Thứ hai một số học sinh lại chưa thực sự tích cực, các em mải chơi, ngại học,càng ngại học, lười học thì vốn từ, vốn hiểu biết về Tiếng Việt càng ngày càngnghèo hơn, không thỏa mãn được những yêu cầu phục vụ việc học tập, trải nghiệmvăn bản
Ở một bộ phận khác, các em là những học sinh tích cực nhưng chưa cóphương pháp học đúng Các em học bài một cách ôm đồm, thiếu khoa học, chưa biếtcách thâm nhập tác phẩm một cách chọn lọc dẫn đến không ghi nhớ hết được lượngkiến thức cần thiết cho bài học, càng học các thấy rối vì lượng kiến thức quá nhiều
Một nguyên nhân khác nằm ngay trong bản thân học sinh của trường đó là dotính cách của các em Bản tính thật thà, nhu mì, đôi khi cả tin, vốn từ còn nhiều hạnchế (vốn đã là hạn chế chung của học sinh dân tộc miền núi) lại ít được đi đây đógiao lưu, học hỏi tiếp xúc với bên ngoài, thâm nhập thực tế nên việc việc học tậpmôn Ngữ văn của các em cũng bị chi phối và gặp nhiều khó khăn hơn bạn bè cùngtrang lứa ở các huyện, các tỉnh miền xuôi
Bên cạnh nguyên nhân chủ quan còn có một nguyên nhân nhỏ nữa thuộc vềyếu tố khách quan Đó là chương trình dạy học môn ngữ văn ở Trung học cơ sở còn
có một số bài học khó vì một số tác phẩm có quan điểm, tư tưởng, tình cảm, ngônngữ đặt trong những giai đoạn, những thời kì quá xa xôi, khác lạ với thời đại mà các
em đang sống Một số tác phẩm khác lại chưa phù hợp với tâm lí lứa tuổi học sinh.Những tác phẩm này nằm chủ yếu ở chương trình ngữ văn lớp 7, đối với lớp 8 thì sốlượng tác phẩm khó ít hơn những vẫn còn rải rác một vài bài như: Muốn làm thằngcuội, Hai chữ nước nhà, Đánh nhau với cối xay gió, Chiếc lá cuối cùng, Ông GiuốcĐanh mặc lễ phục dẫn đến việc các em khó khăn khi phân tích, băn khoăn, bối rốikhi tìm hiểu; lúng túng khi trình bày, nêu ý kiến
Trang 13Đó chính là những nguyên nhân, những lí do khiến cho những tiết dạy họcngữ văn trở nên thiếu sức hút, thiếu lửa, không hấp dẫn lôi cuốn được học sinh hoạtđộng tích cực chưa đánh thức được những rung động từ trong sâu thẳm tiềm thứccủa học sinh.
Chương 3 Các biện pháp nhằm tạo hứng thú cho học sinh trong một tiết dạy học ngữ văn
3.1 Các biện pháp
3.1.1 Thiết kế hoạt động giới thiệu bài thật ấn tượng.
Khi bạn đến xem một chương trình văn nghệ, bạn sẽ thấy trước khi ca sĩ bước
ra sân khấu thể hiện một bài hát, người dẫn chương trình sẽ giới thiệu về ca sĩ vàmột nét vắn tắt, ấn tượng nhất về bài hát của ca sĩ đó Nó khiến cho bạn hồi hộp chờđợi giây phút ca sĩ đó xuất hiện và mong chờ giây phút giọng hát ấy cất lên Với bàihát bạn chưa từng nghe thì sự tò mò càng được kích thích mạnh hơn
Khi đến một siêu thị sách, bạn bị choáng ngợp bởi muôn vàn cuốn sách trìnhbày bắt mắt, những cái tên hấp dẫn Đọc những lời giới thiệu ngắn gọn về sách tôitin rằng bạn sẽ mua cuốn sách hoặc mở cuốn sách để lại cho bạn ấn tượng sâu nhấttrong phần giới thiệu ban đầu
Một bài văn hay là bài văn lôi cuốn người đọc ngay ở phần mở bài
Với một tiết dạy ngữ văn cũng vậy, muốn học sinh tập trung chú ý đến vấn đềđược nêu trong bài học, giáo viên cần gây được cảm giác thích thú, tò mò, gây được
ấn tượng sâu sắc ngay trong phần giới thiệu bài
Nhiều giáo viên đã bỏ qua công đoạn này, với những môn học tự nhiên khácviệc không quan tâm đến hoạt động giới thiệu bài đã là một thiếu sót, với bộ mônngữ văn thì đó là một điều hết sức đáng tiếc và đáng buồn Bởi đây là môn học màhọc sinh vừa được trang bị kiến thức vừa bồi đắp tâm hồn, vừa trau dồi kĩ năng sửdụng ngôn ngữ Nếu bài học chỉ đơn thuần được giới thiệu: “Hôm nay chúng ta họcTiết thứ Văn bản …” đương nhiên vẫn được học sinh chấp nhận, nhưng là một sựchấp nhận cứng nhắc và gượng ép
Xuất phát từ nhu cầu thực tế của bản thân và bạn bè cùng trang lứa thời cắpsách, sự hào hứng hiện lên trong ánh mắt học trò và cả việc rút kinh nghiệm từnhững tiết dạy của đồng nghiệp; trong mỗi bài giảng của mình, tôi luôn chú ý quantâm đầu tư thời gian, trí tuệ để thiết kế phần hoạt động giới thiệu bài sao cho thật ấntượng hấp dẫn với các em dù đó chỉ là một vài phút đầu giờ ngắn ngủi Cách giớithiệu bài ấn tượng sẽ giúp cho các em tập trung sự chú ý với vấn đề được đưa ratrong bài, chuẩn bị cho các em tâm lí sẵn sàng đón nhận bài học một cách nhẹ