1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

THỰC TIỄN ÁP DỤNG NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2014

23 121 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 43,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những điểm mới của luật hôn nhân gia đình gồm những điểm sau...thực tiễn áp dụng của từng điểm mới...phù hợp với thực tiễn...còn tồn tại nhiều bất cập, khó thực hiện, thiếu tính khả thi...giải pháp nâng cao tính khả thi để đưa các điểm mới vào thực tiễn cuộc sống...

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ: GIẢI QUYẾT ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

ĐỀ TÀI: NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

NĂM 2014 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

MỞ ĐẦU

Xuất phát từ vị trí, vai trò của gia đình, từ quan niệm gia đình là tế bào của xãhội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành vàgiáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Giađình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt Để đề cao vai tròcủa gia đình trong đời sống xã hội, giữ gìn và phát huy truyền thống và nhữngphong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, xoá bỏ những phong tục,tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình ; Để nâng cao trách nhiệm của côngdân, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và giađình Việt Nam; Kế thừa và phát triển pháp luật về hôn nhân và gia đình ViệtNam;Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm2013; từ đó đã cho ra đời Luật Hôn nhân và gia đình 2014 Luật Hôn nhân vàgia đình năm 2014 có hiệu lực từ 01/01/2015, với 10 chương gồm những quyđịnh pháp lý điều chỉnh về chế độ hôn nhân và gia đình; chuẩn mực pháp lýcho cách ứng xử giữa các thành viên gia đình; trách nhiệm của cá nhân, tổchức, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân vàgia đình

So với Luật hôn nhân và gia đình 2000 thì Luật hôn nhân và gia đình 2014 cónhiều điểm mới nổi bật, phù hợp hơn với thực tiễn và đảm bảo quyền lợi chocác bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình Vì vậy, tôi xin trình đề tài thu

hoạch: “Những điểm mới của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 và thực tiễn áp dụng”

I Những điểm mới của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và

thực tiễn áp dụng.

Trang 2

So với Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì Luật hôn nhân và gia đìnhnăm 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2015) có một số điểm mới nổi bật nhưsau:

1 Tăng cường bảo vệ chế độ Hôn nhân gia đình

Điều 5 quy định bổ sung các hành vi nghiêm cấm, trong đó có: Lợi dụng việcthực hiện các quyền về HNGĐ để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâmphạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi Đặc biệt, trongquá trình giải quyết các vụ việc về HNGĐ thì danh dự, nhân phẩm, uy tín, bímật đời tư và các quyền riêng tư khác của các bên được tôn trọng, bảo vệ

Thực tiễn áp dụng: Đây là một quy định mới của pháp luật và có tác dụng

trong việc xác định tội phạm, đặc biệt là tội phạm nguy hiểm, quy định nàyphù hợp với các chiêu trò lừa đảo của nhiều đối tượng hiện nay Có nhiều đốitượng đã lợi dụng việc kết hôn để mua bán người, bóc lột sức lao động, xâmphạm tình dục hoặc có hành vi khác nhằm mục đích trục lợi Nạn nhânthường là người dân tộc thiếu số, những người nhẹ dạ cả tin, thích lấy chồngnước ngoài hoặc chồng giàu… Do vậy, quy định trên sẽ góp phần nhằm hạnchế và chấm dứt tình trạng lợi dụng hôn nhân

Minh họa: Những năm gần đây, số lượng phụ nữ bị bán qua nước ngoài tăng

nhanh đột biến, chiếm tới 90% trong các vụ mua bán người Phần lớn những nạnnhân bị lừa bán đều có hoàn cảnh khó khăn, hoặc ở những vùng sâu bị một số đốitượng lừa bán qua biên giới Riêng các tỉnh miền Tây Nam Bộ như: Trà Vinh, HậuGiang, Đồng Tháp, Cần Thơ tỷ lệ này lên tới 78%

Tại tỉnh Trà Vinh, mỗi năm có khoảng 200 trường hợp lấy chồng nước ngoài.Thông qua con đường môi giới bất hợp pháp, nhiều phụ nữ đã trở thành nạnnhân của bọn buôn người Thậm chí, họ còn bị chính người thân trong gia đìnhlừa bán để kiếm tiền mà không hề hay biết Hiện nay, hiện tượng môi giới hônnhân bất hợp pháp, việc tổ chức các tụ điểm cho người nước ngoài xem mặtphụ nữ Việt Nam muốn kết hôn với người nước ngoài, hiện tượng mua bánphụ nữ, trẻ em thời gian gần đây không chỉ là nỗi đau lớn mà còn vi phạm tớinhân quyền, tới thuần phong mỹ tục Việt Nam

2 Nâng độ tuổi kết hôn của nam và nữ:

Theo quy định của Luật HNGĐ năm 2000 thì nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18tuổi trở lên (tức chỉ cần nam đã bước sang tuổi 20, nữ đã bước sang tuổi 18)

là đủ tuổi kết hôn Tuy nhiên, theo điều 8 Luật HNGĐ năm 2014 thì độ tuổi

Trang 3

kết hôn của nam và nữ sẽ được nâng lên và được tính theo tuổi tròn, bắt buộcnam phải từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ phải từ đủ 18 tuổi trở lên mới được kết hôn.

Thực tiễn áp dụng: Quy đinh này phù hợp với thực tiễn của Việt Nam hiện

nay, để các bên trong quan hệ hôn nhân chuẩn bị đầy đủ cả năng lực pháp luật

và năng lực chủ thể Việc quy định như vậy rõ ràng phản ánh sự phù hợp vớimức độ phát triển tâm sinh lý của con người Việt Nam, dựa trên cơ sở khoahọc và cơ sở xã hội xác đáng

Nam nữ xác lập quan hệ hôn nhân để thực hiện chức năng cơ bản của gia đình

là duy trì nòi giống Đến độ tuổi này, nam và nữ mới đạt sự phát triển hoànthiện Một số nghiên cứu chỉ ra rằng: Các bà mẹ sinh con trước tuổi 18thường hay gặp các vấn đề về sức khỏe

Không những thế, việc quy định độ tuổi như vậy còn gắn liền với khả năngphát triển về tư duy nhận thức, gắn với mức độ độc lập, tự chủ của chủ thể đểthực hiện các chức năng gia đình

Việc tính tuổi tròn như Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (nam từ đủ 20, nữ từ

đủ 18) sẽ tránh vận dụng tùy tiện các quy định về độ tuổi kết hôn vì theo luậtHôn nhân và Gia đình 2000 thì chỉ cần bước sang tuổi 18 đối với nữ và 20tuổi đối với nam là được phép kết hôn Điều đó dễ dàng tạo ra những ke hởnhất định để các bên kết hôn vi phạm điều kiện về độ tuổi

Tuy nhiên, ở các vùng có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống lại có hiệntượng tảo hôn Và ở một số địa phương có tỷ lệ kết hôn không đăng ký viphạm Luật Hôn nhân và Gia đình rất cao, phần lớn các cặp vợ chồng kết hôntrước tuổi luật định

Minh họa:

Theo một số liệu thống kê cho thấy: 15 tỉnh, thành phố cả nước có trên 1% trẻ

em ở độ tuổi 14 - 16 đã có vợ chồng Các tỉnh có tỷ lệ trẻ em tảo hôn cao như

Hà Giang: 5,72%, Cao Bằng: 5,1%, Lào Cai 2,7%, Sơn La 2,6%, Quảng Trị2,4% và Bạc Liêu 2,1%

3 Yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật:

Luật HN-GĐ 2000 quy định: Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa

án hoặc đề nghị Viện Kiểm sát yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật

Còn Điều 10 Luật HN-GĐ 2014 lại bỏ quy định đề nghị Viện Kiểm sát yêucầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật, mà chỉ còn cá nhân, cơ quan, tổchức mới có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật

Trang 4

Thực tiễn áp dụng: Quy định này giúp đảm bảo quyền lợi, bảo vệ được danh

dự nhân phẩm cho những người có hành vi kết hôn trái pháp luật, vì thực tế

có nhiều trường hợp kết hôn trái pháp luật nhưng vẫn muốn đăng ký kết hônlại khi đã đủ điểu kiện hết hôn Vì hậu quả của việc hủy kết hôn trái pháp luậtrất lớn cả vật chất lẫn tinh thần, các nhà làm luật không muốn phải làm việcnày nên đã quy định các điều có lợi hơn cho đối tượng kết hôn trái pháp luật.Bên cạnh đó, quy định này cũng làm hạn chế bớt quyền tham gia tố tụng củaViện Kiểm sát

Minh họa: A và B kết hôn trái pháp luật vì vi phạm điều kiện độ tuổi kết hôn,

thì chỉ những đối tượng được quy định tại điều 10 mới có quyền yêu cầu hủykết hôn trái pháp luật giữa A và B A và B cũng có thể đăng ký kết hôn lại khi

đã đáp ứng đủ điều kiện kết hôn theo luật Hôn nhân và gia đình

4 Bỏ quy định “Cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính”:

Về hôn nhân đồng giới, luật hôn nhân và gia đình 2000 quy định cấm kết hônđồng giới, và vì cấm nên đi kèm sẽ có chế tài, xử phạt

Nay, theo luật mới, từ 01/01/2015, Luật hôn nhân và gia đình 2014 bỏ quyđịnh “cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính”

Thực tiễn áp dụng: Đây cũng được coi là một bước tiến nhỏ trong việc nhìn

nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính của nhà nước ta trong tìnhhình xã hội hiện nay Một trong những biểu hiện đó là có nhiều cặp đồng giới

đã dám công khai quan hệ với gia đình, bạn bè, xã hội

Tuy nhiên, khoản 2 Điều 8 của Luật Hôn nhân và Gia đình vẫn quy định rằngNhà nước không thừa nhận kết hôn giữa những người cùng giới tính Nhưvậy, mặc dù không cấm nhưng việc kết hôn và chung sống giữa những ngườiđồng giới vẫn chưa được pháp luật bảo hộ và tiềm ẩn nguy cơ phát sinhnhững vướng mắc khó giải quyết khi có tranh chấp xảy ra Đặc biệt, nhiềutrường hợp, họ nhờ người mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (trên thực tếhầu hết đều vì mục đích thương mại) hoặc nhận nuôi con nuôi, vậy họ sẽ doquy định pháp luật nào điều chỉnh? Một vấn đề đáng nói nữa đó là việc nhữngngười nam đồng tính lại có chính con ruột của mình (Lâm Khánh Chi)

Minh họa: Những người đồng tính có thể sống chung với nhau như vợ chồng

mà không bị xem là phạm tội, họ sẽ ít bị kỳ thị như trước đây, và cái nhìn cảungười thân, gia đình, xã hội cũng không còn quá nặng nề với họ

Trang 5

Điển hình là cặp đồng tính Bùi Ngọc Việt và Nguyễn Trọng Tân, cặp đôi nàytừng “gây sốt” cộng đồng LGBT khi quyết định về chung một nhà và có một

cô bé vô cùng đáng yêu

5 Tăng cường bảo vệ phụ nữ và con đối với hôn nhân không đăng ký:

Điều 16, có quy định về giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng củanam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn.Trong đó, đáng chú ý là việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền,lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác cóliên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập Nhưvậy, đối với hôn nhân không đăng ký, mặc dù không được pháp luật côngnhận là vợ chồng nhưng luật mới chú trọng bảo vệ quyền và lợi ích của ngườilàm công việc nội trợ (đa phần là nữ giới) nên quyền lợi các bên được bảođảm tương tự như hôn nhân có đăng ký

Thực tiễn áp dụng: Quy định này phù hợp với thực tiễn, hiện nay có rất

nhiều trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng

ký kết hôn, giữa họ cũng phát sinh quan hệ tài sản, quan hệ con cái…khi tranhchấp xảy ra, rất nhiều người phụ nữ không được chia tài sản vì giữa hai ngườikhông phải là hôn nhân hợp pháp, họ không chứng minh được nguồn gốc tàisản chung Việc quy định “công việc nội trợ và công việc khác có liên quan đểduy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập” cũng được xem làmột trong những giải pháp khắc phục tình trạng bất bình đẳng và góp phầnbảo vệ quyền lợi người phụ nữ phải từ bỏ công việc xã hội của mình thực hiệncông việc nội trợ, dù họ không tạo ra thu nhập trực tiếp nhưng công việc nàyđóng góp một phần không nhỏ trọng việc làm ra kinh tế gia đình và con đốivới hôn nhân không đăng ký

Minh họa: Anh A và chị B sống chung như vợ chồng từ năm 2007, không

đăng ký kết hôn và không có con, trong thời gian sống chung có tạo lập đượcmột mảnh đất và vườn cây thanh long, anh tôi là người đứng tên trên sổ đỏ,chị B chỉ làm nội trợ, tài sản chủ yếu là nhờ công sức của anh tôi tạo lập, đếnnăm 2017 thì xảy ra mâu thuẫn không thể sống với nhau nữa và 2 bên thoảthuận với nhau, A hổ trợ cho chị số tiền là 5 trăm triệu đồng phần ai nấy sốngkhông làm phiền cuộc sống của nhau nữa, đã viết giấy cam kết, đến đầu năm

2018 chị B mang tờ giấy cam kết đi kiện yêu cầu phân chia tài sản và toà án

đã thụ lý vụ án

Theo Điều 14, Điều 16 Luật hôn nhân gia đình 2014 thì việc phân chia tài sảnchung sẽ ưu tiên sự thỏa thuận của các bên, nếu các bên không thỏa thuận

Trang 6

được thì một trong các bên có thể yêu cầu tòa án giải quyết theo quy địnhpháp luật Như vậy, chị B không đồng ý về việc anh A hỗ trợ 5 triệu đồng thìchị B có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết Khi đó, Tòa sẽ căn cứ vào công sứcđóng góp của anh A và chị B đối với phần tài sản chung để phân chia hợp lý

6 Quy định chế độ tài sản của vợ chồng:

Điều 28 Luật HNGĐ năm 2014 quy định vợ chồng có quyền lựa chọn ápdụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận Điểmmới ở đây là chế độ tài sản theo thỏa thuận, theo đó nếu hai bên kết hôn lựachọn chế độ tài sản này thì phải lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản

có công chứng hoặc chứng thực (điều 41) Chế độ tài sản của vợ chồng theothỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn Nội dung cơ bản củathỏa thuận về tài sản bao gồm: “Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sảnriêng của vợ chồng; quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tàisản riêng và giao dịch có liên quan, tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu củagia đình; điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế

độ tài sản…” Thỏa thuận này vẫn có thể được sửa đổi, bổ sung sau khi kếthôn

Thực tiễn áp dụng: Một mặt, quy định này góp phần giảm thiểu sự tranh

chấp tài sản sau ly hôn của các cặp vợ chồng trong tình hình hiện nay Điềunày phù hợp với thực tiễn tranh chấp, vì tài sản là quan hệ tranh chấp chủ yếuđối với vụ án ly hôn, vì vậy cần phải quy định rõ ràng, đảm bảo được quyềnlợi cho các bên Thảo thuận về chế độ tài sản của vợ chồng giúp hạn chế lyhôn vì nó giúp các cặp vợ chồng vượt qua bất đồng về tài chính ngay từ đầu;nói chuyện tiền bạc trước hôn nhân không phải dễ nhưng lại giúp tránh đượcrắc rối về sau, đồng thời giúp hạn chế các tổn thương về tài chính và cả cảmxúc mà một cuộc ly hôn (nếu buộc phải xảy ra) mang lại

Mặt khác, Luật HNGĐ năm 2014 không quy định về quyền yêu cầu tuyên bố

vô hiệu đối với việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, và quyền yêucầu tuyên bố thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu Đây cũng

là một thiếu sót đáng kể Tuy nhiên, Thông tư số VKSNDTC-BTP có hướng dẫn quyền yêu cầu tuyên bố thỏa thuận về chế độtài sản của vợ chồng bị vô hiệu bao gồm: “vợ, chồng hoặc vợ chồng đã thỏathuận về chế độ tài sản; người bị xâm phạm, người giám hộ của người bị xâmphạm quyền và lợi ích hợp pháp do có thỏa thuận về chế độ tài sản của vợchồng” Tuy nhiên, văn bản này lại không hướng dẫn gì về quyền yêu cầutuyên bố việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân bị coi là

Trang 7

01/2016/TTLT-TANNTC-vô hiệu Theo quan điểm của chúng tôi, văn bản hướng dẫn luật cần bổ sungvấn đề này theo hướng tương tự như quyền yêu cầu tuyên bố thỏa thuận vềchế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu.

Thêm vào đó, trong thực tế, có nhiều trường hợp, một bên vợ chồng muốn trốn tránh nghĩa vụ tài sản với người thứ ba nên không yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, điều này làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba nếu không cho họ quyền yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng, nhưng nếu cho người thứ ba được quyền yêu cầu chia tàisản chung thì có thể dẫn đến trường hợp ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống gia đình như chỗ ở, phương tiện kiêm sống, đi lại của vợ chồng, việc họchành của con cái… Tuy nhiên, trong quá trình thi hành án, nếu vợ chồng nhất quyết không chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để lấy phần tài sản của mình trả nợ thì cơ quan thi hành án sẽ áp dụng Điều 74 về cưỡng chế đối với tài sản thuộc sở hữu chung của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi bổ sung năm 2014) để giải quyết

7 Có thể xin ly hôn giùm người thân:

Luật Hôn nhân và gia đình mới năm 2014 cũng bổ sung thêm các đối tượngđược yêu cầu giải quyết ly hôn tại Điều 51

Theo đó, thay vì chỉ vợ, chồng hoặc cả hai người mới có quyền yêu cầu tòa

án giải quyết ly hôn như trước đây thì kể từ nay, cha, mẹ, người thân thíchkhác cũng có quyền yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng

do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủđược hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng,

vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh

thần của họ Thực tiễn áp dụng: Quy định này đã tháo gỡ cho nhiều trường

hợp bức xúc muốn xin ly hôn giùm người thân bị mất năng lực hành vi màkhông được do luật cũ chỉ quy định việc ly hôn phải do chính đương sự (vợ,chồng) yêu cầu, trong khi họ lại bị mất năng lực hành vi dân sự dẫn đếnkhông có năng lực hành vi tố tụng dân sự để xin ly hôn

Tuy nhiên, trên thực tế, không phải đương sự nào cũng đáp ứng về thủtục, đặc biệt là kết luận giám định của cơ quan chuyên môn về trình trạngnhận thức của người bị bệnh tâm thần vì họ từ chối đi giám định Do đó, Toà

án không thể tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự Trong nhữngtrường hợp như vậy, tòa nên trả lại đơn khởi kiện, từ chối thụ lý, nếu đã thụ lý

Trang 8

thì tạm đình chỉ, đình chỉ hay toà án phải thụ lý và giải quyết theo thủ tụcchung Trong khi đó việc trả đơn, tạm đình chỉ, đình chỉ, từ chối thụ lý trongtình huống trên rõ ràng cách làm này miễn cưỡng vì pháp luật tố tụng dân sựkhông cho phép và không nằm trong các trường hợp trả đơn khởi kiện tạiĐiều 192, tạm đình chỉ Điều 214 (Trừ trường hợp áp dụng điểm d khoản 1Điều 214), đình chỉ Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự Nhưng nếu tiến hànhgiải quyết theo thủ tục chung thì còn lúng túng và khả năng bản án bị hủy, sửa

do sự thiếu sót khi nhận thức, vận dụng pháp luật là điều không tránh khỏi

8 Bạo lực gia đình là căn cứ để ly hôn:

Điều 56 quy định về đơn phương ly hôn như sau: khi vợ hoặc chồng yêu cầu

ly hôn mà hòa giải tại tòa án không thành thì tòa án giải quyết cho ly hôn nếu

có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêmtrọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạngtrầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạtđược Như vậy, luật mới quy định rất rõ “bạo lực gia đình” là căn cứ để giảiquyết cho ly hôn; còn đối với những vi phạm khác, những mâu thuẫn, xungđột, bất đồng…trong đời sống vợ chồng, thì phải có cơ sở nhận định chungrằng tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hônnhân không đạt được thì mới giải quyết cho ly hôn

Thực tiễn áp dụng: Việc quy định như vậy là phù hợp với thực tiễn hiện nay,

bởi qua thực tiễn giải quyết án hôn nhân cho thấy số vụ ly hôn có hành vingược đãi, đánh đập chiếm tỷ lệ cao nhất và phụ nữ đa phần là nạn nhân củatình trạng này Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên trong quan

hệ hôn nhân gia đình, giúp nâng cao ý thức và đời sống gia đình, xã hội

Minh họa: Mỗi lần nhắc đến chồng mình, chị N.T.H ở xã Hòa Quang Bắc,

huyện Phú Hòa đều bật khóc Đã ngoài 50 tuổi nhưng chồng chị không chíthú làm ăn mà tối ngày nhậu Khi đã say khướt, người chồng lại trút hếtnhững trận đòn, những lời chửi mắng lên thân thể hao gầy của chị Hai ngườicon trai của chị vì cảnh gia đình đã phải tìm đến cửa nhà chùa nương náu Theo luật hôn nhân gia đình 2014, nếu muốn chấm dứt hành vi bạo lực giađình thì chị H hoàn toàn có thể thực hiện các quyền nói trên để đề nghị các cơ

Trang 9

quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng, nhân phẩm,quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình

- Nộp đơn tới Ủy ban nhân dân xã trình bày về việc người vợ bị đánh đập,lăng nhục để cơ quan có thẩm quyền giải quyết

- Nếu hành vi bạo lực ở mức độ nghiêm trọng, tàn ác, gây hậu quả nghiêmtrọng tới sức khỏe và tinh thần của người vợ thì bạn có thể nộp đơn tố cáo đếncông an về tội cố ý gây thương tích hoặc tội hành hạ người khác theo Bộ luậthình sự

9 Quy định trách nhiệm ghi chú việc ly hôn:

Nghị định 158/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch có quyđịnh: “Cơ quan có thẩm quyền khi ra quyết định liên quan đến các thay đổi hộtịch (xác định cha, mẹ, con; ly hôn; hủy việc kết hôn trái pháp luật…), đồngthời gửi một bản sao quyết định cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nơitrước đây đã đăng ký sự kiện hộ tịch có liên quan đến việc thay đổi để ghi vào

sổ hộ tịch”

Thực tiễn áp dụng: Đây là quy định tiến bộ, nhằm tăng cường sự quản lý, cập

nhật thay đổi về hộ tịch, vừa giảm thủ tục hành chính cho người dân

Vì đối với ly hôn tại Việt Nam thì không có quy định bắt buộc phải ghi chúviệc ly hôn Nay, điều 57 Luật HNGĐ quy định rõ: tòa án đã giải quyết ly hôn

có trách nhiệm phải gửi bản án, quyết định ly hôn đã có hiệu lực pháp luậtcho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn để ghi vào sổ hộ tịch Như vậy,

từ nay giữa tòa án và cơ quan hộ tịch đã có sự liên kết với nhau trong việcthực hiện ghi chú vào sổ bộ kết hôn Việc này do chính tòa án và cơ quan hộtịch thực hiện (chứ không phải là trách nhiệm của hai bên kết hôn, ly hôn)

10 Chia tài sản phải xét yếu tố lỗi:

Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về “Nguyên tắc giải quyếttài sản của vợ chồng khi ly hôn” có nhiều điểm mới, đó là trong trường hợpchế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận, thì việc giải quyết tài sản khi lyhôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu không có thỏa thuận hoặc thỏathuận không đầy đủ, rõ ràng thì được phân chia theo quy định của pháp luật

Về nguyên tắc, khi chia theo pháp luật thì tài sản chung của vợ chồng đượcchia đôi, nhưng có tính đến các yếu tố - trong đó có điểm mới là căn cứ vàoyếu tố lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng

Trang 10

Thực tiễn áp dụng:

Nhưng trên thực tiễn điểm mới này không dễ dàng áp dụng vì một sốnguyên nhân sau:

Thứ nhất, không thể cân đối lỗi giữa vợ và chồng trong cuộc sống khi xét xử,

giải quyết vụ án li hôn Thực tế xét xử tại Toà án cho thấy: Có rất nhiềunguyên nhân dẫn đến ly hôn và chủ yếu đều xuất phát từ hai phía vợ vàchồng Khi đến Tòa án, được Thẩm phán hỏi về nguyên nhân; người vợ khairằng do chồng mình ngoại tình, không quan tâm, chăm sóc vợ con; ngườichồng lại cho rằng vợ mình có những ngôn từ xúc phạm, thường xuyên gây

áp lực Mặt khác, khi một bên cho rằng bên kia ngoại tình nhưng lại không cóchứng cứ chứng minh điều đó, nên việc xác minh yếu tố lỗi trên thực tiễn rấtkhó khăn Rõ ràng, mỗi vợ chồng, mỗi gia đình là một hoàn cảnh, có nhiềunguyên nhân đang xen nhau, nguyên nhân này là tiền đề của mâu thuẫn giađình, rồi chính mâu thuẫn đó lại là nguyên nhân, là tiền đề của mâu thuẫn mớinên không thể xác định được lỗi thuộc về ai, ai là người nhiều lỗi hơn, ai làngười ít hơn Nên việc qui định vấn đề xem xét lỗi của mỗi bên để tính toánquyết định tỉ lệ chia tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn thực sự thiếu khả thi trênthực tế

Thứ hai, khó nhận diện và phân định rõ ràng vợ hay chồng vi phạm

quyền, nghĩa vụ về nhân thân; vi phạm quyền, nghĩa vụ về tài sản Chẳng hạntại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định quyền và nghĩa vụ vềnhân thân của vợ chồng:

“1 Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.

2 Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham

Trang 11

gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.”

Nghĩa vụ yêu thương, nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, nghĩa vụ sốngchung vv… như điều luật qui định là những thuật ngữ mang tính định tính,trừu tượng nên khi xét xử, Toà án khó xác định vợ chồng có vi phạm vềquyền, nghĩa vụ về nhân thân, thậm chí không muốn nói là không thể

Về vi phạm quyền, nghĩa vụ về tài sản: Điều 29 Luật Hôn nhân và Giađình năm 2014 qui định về nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng:

“1 Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.

2 Vợ, chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.

3 Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác thì phải bồi thường.”

Rõ ràng vấn đề bồi thường dân sự đã được đặt ra nếu vợ chồng có viphạm về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản đối với người còn lại hoặcngười thứ ba, vậy tại sao lại tiếp tục qui định vi phạm quyền, nghĩa vụ về tàisản tại điểm d khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016 Với qui địnhnhư thế, khác gì một hành vi vi phạm phải chịu đến hai loại trách nhiệm pháplý?

Để làm rõ thêm về “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của

vợ chồng”, Thông tư liên tịch số 01/2016 cho Ví dụ: Trường hợp người chồng

có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giảiquyết ly hôn Tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sảnchung của vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa

Ngày đăng: 17/09/2019, 20:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w