1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bồi dưỡng năng lực tạo lập lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua việc làm quen với tác phẩm thơ

62 91 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC MẦM NON====== NGUYỄN THỊ PHƯƠNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TẠO LẬP LỜI NÓI MẠCH LẠC CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ THÔNG QUA VIỆC GIÚP TRẺ LÀM QUEN VỚI TÁC

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

======

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG

BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TẠO LẬP LỜI NÓI MẠCH LẠC CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ THÔNG QUA VIỆC GIÚP TRẺ LÀM QUEN VỚI TÁC PHẨM

THƠ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

======

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG

BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TẠO LẬP LỜI NÓI MẠCH LẠC CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ THÔNG QUA VIỆC GIÚP TRẺ LÀM QUEN VỚI TÁC PHẨM

THƠ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

Người hướng dẫn khoa học

ThS GVC PHAN THỊ THẠCH

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường ĐHSP Hà Nội 2, cácthầy cô giáo khoa Giáo dục Mầm non đã giúp đỡ em trong quá trình học tập tạitrường và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Đồng thời em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo ThS Phan Thị

Thạch, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong quá trình học tập, nghiên

cứu và hoàn thành khoá luận này

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè đã luôn giúp đỡđộng viên em trong quá trình học tập và thực hiện khóa luận

Quá trình nghiên cứu đề tài, em không tránh khỏi những thiếu sót và hạnchế Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và các bạn đểkhóa luận được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 16 Tháng 05 năm 2018

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Phương

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, những số liệu vàkết quả trong khóa luận là hoàn toàn trung thực Đề tài chưa được công bố trongbất cứ một công trình khoa học nào

Hà Nội, ngày 16 Tháng 05 năm 2018

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Phương

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng nghiên cứu 3

4 Mục đích nghiên cứu 3

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

8 Cấu trúc khóa luận 4

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Cơ sở lí luận 5

1.1.1 Một số vấn đề chung về năng lực 5

1.1.1.1 Thế nào là “ Năng lực”? 5

1.1.1.2 Năng lực hành động 5

1.1.1.3 Năng lực cốt lõi 5

1.1.2 Cơ sở ngôn ngữ học 6

1.1.2.1 Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là gì? 6

1.1.2.2 Các nhân tố tham gia hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ 6

1.1.2.3 Hoạt động tạo lập lời nói trong giao tiếp bằng ngôn ngữ 9

1.1.2.4 Văn bản 9

1.1.3 Cơ sở tâm lý học 10

1.1.3.1 Sự hoàn thiện hoạt động vui chơi và sự hình thành “Xã hội trẻ em” với trẻ mẫu giáo nhỡ 10

1.1.3.2 Sự phát triển chú ý và ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ 11

1.1.3.3 Sự phát triển quá trình nhận của trẻ mẫu giáo nhỡ 12

Trang 7

1.1.3.4 Sự phát triển xúc cảm, tình cảm, ý chí của trẻ mẫu giáo nhỡ 13

1.1.3.5 Sự phát triển động cơ và sự hình thành hệ thống động cơ của trẻ mẫu giáo nhỡ 14

1.1.4 Cơ sở giáo dục học 15

1.1.4.1 Khái niệm lời nói mạch lạc 15

1.1.4.2 Các kiểu lời nói mạch lạc 15

1.1.4.3 Đặc trưng lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo nhỡ 16

1.1.4.4 Phương pháp, biện pháp phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo 16

1.2 Cơ sở thực tiễn 17

Tiểu kết chương 1 20

CHƯƠNG 2 BIỆN PHÁP CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ LÀM QUEN VỚI TÁC PHẨM VĂN HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG GIÚP TRẺ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TẠO LẬP LỜI NÓI MẠCH LẠC 21

2.1 Chọn cách đặt vấn đề độc đáo để gây ấn tượng cho trẻ mẫu giáo nhỡ khi cho trẻ làm quen với tác phẩm thơ 21

2.2 Kết hợp đọc mẫu với biện pháp dùng câu hỏi gợi mở để giúp trẻ ghi nhớ tác phẩm thơ 23

2.3 Dùng câu mẫu kết hợp với biện pháp đàm thoại để giúp trẻ mẫu giáo nhỡ tạo ra câu nói diễn đạt mạch lạc nội dung cần thông báo 25

2.4 Sử dụng tranh minh họa kết hợp với biện pháp dùng lời dể giúp trẻ MGN phát triển lời nói mạch lạc thông qua hoạt động làm quen với tác phẩm thơ 27 Tiểu kết chương 2 31

CHƯƠNG 3 THIẾT KẾ GIÁO ÁN THỂ NGHIỆM 32

KẾT LUẬN 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

Trang 8

1 Lí do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

Trang 9

Nếu gọi toàn bộ hệ thống giáo dục là một công trình kiến trúc thì bậc họcMầm non sẽ là nền móng cho công trình đó Giáo dục mầm non là giai đoạn đầutiên của quá trình đào tạo nhân cách con người

Như U.Sinxki nhận định: “ Tiếng mẹ đẻ là cơ sở của mọi sự phát triển, là

vốn quý của mọi tri thức” Ngôn ngữ là công cụ để giao tiếp, tư duy và là

phương tiện để trẻ phát triển toàn diện Do đó, phát triển ngôn ngữ cho trẻ đóngvai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển toàn diện nhân cách trẻ.Phát triển ngôn ngữ ở độ tuổi mẫu giáo là vô cùng quan trọng, việc thựchiện nội dung này giúp trẻ mẫu giáo hiểu và biết sử dụng từ để truyền đạt thôngtin một cách rõ ràng, chính xác Ở độ tuổi 4-5 tuổi, ngôn ngữ của trẻ đã pháttriển hơn trẻ mẫu giáo bé nhưng trẻ mẫu giáo nhỡ sắp xếp lời nói còn chưa mạchlạc, trẻ nói còn chưa rõ câu, chưa đúng trọng tâm Chính vì vậy việc bồi dưỡngnăng lực tạo lập lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo nhỡ là rất cần thiết

Đối với trẻ mầm non, làm quen với các tác phẩm thơ là hoạt động hấp dẫn,thu hút sự quan tâm đặc biệt chú ý của trẻ Những vẻ đẹp của thế giới xung quanh,

vẻ đẹp của tự nhiên và xã hội đã được trẻ cảm nhận thông qua những câu thơ haytrong bài thơ Điều này góp phần to lớn đối với việc phát toàn diện của trẻ Nhữngcâu thơ với hình tượng trong sáng, nhạc điệu diễn đạt có sức lôi cuốn trẻ, nuôidưỡng trong trẻ tình yêu đối với thơ ca, để rồi thích nghe đọc, để rồi giúp trẻyêu thích đọc thơ ngay từ tuổi ấu thơ

Hiện nay việc đưa ngôn ngữ thơ đến với trẻ được áp dụng trên nhiều hoạtđộng, không chỉ ở lĩnh vực phát triển ngôn ngữ mà trẻ còn được lồng ghép quacác hoạt động phát triển thẩm mĩ, phát triển nhận thức Như vậy những năng lựccủa trẻ như: Năng lực ngôn ngữ, năng lực tư duy, năng lực sáng tạo… và cảnăng lực tạo lập lời nói mạch lạc cảu trẻ được phát triển Tuy vậy, việc thực hiệnnội dung này không dễ dàng do nhiều lí do, việc bồi dưỡng năng lực tạo lập lờinói mạch lạc cho trẻ MGN thông qua việc làm quen với tác phẩm thơ chưa thực

Trang 10

sự được phát huy tối đa trong chương trình giáo dục Mầm non Phần lớn thờilượng tiết học giáo viên chỉ chú tâm vào nội dung chính bài học, chưa dành sựquan tâm nhiều tới việc bồi dưỡng năng lực này cho trẻ

Từ những lí do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu: “ Bồi

dưỡng năng lực tạo lập lời nói mạch lạc cho trẻ MGN thông qua việc làm quen với tác phẩm thơ”.

2 Lịch sử vấn đề

Nghiên cứu về tính chất mạch lạc của lời nói và việc phát triển lời nói mạchlạc cho trẻ MGN không phải là vấn đề mới , bởi vì trước đây đã có nhiều ngườitìm hiểu Có thể kể ra đây công trình nghiên cứu của một số tác giả tiêu biểu:Diệp Quang Ban (2003) trong cuốn: “ Giao tiếp Văn bản Mạch lạc Liênkết Đoạn văn” đã dành riêng phần thứ ba trong năm phần chính của công trình

để tìm hiểu về mạch lạc của văn bản Ở phần này, tác giả đã trình bày những vấn

đề có tính chất lý thuyết khái quát như: Định nghĩa sơ bộ về mạch lạc, nhữngbiểu hiện của mạch lạc, mỗi quan hệ giữa mạch lạc và liên kết

Nguyễn Xuân Khoa (2004) là một trong những nhà khoa học giáo dục đầutiên có công trình về “ Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo ” Đó

là cuốn giáo trình gồm 12 chương Trong đó, tác giả dành ra chương III để trìnhbày những vấn đề chung về mạch lạc và phương pháp phát triển cho trẻ hai kiểulời nói mạch lạc ( đối thoại và độc thoại )

Đinh Hồng Thái (2005) trong cuốn giáo trình: “Phương pháp phát triển lờinói trẻ em” đã dành chương VI trong năm chương thuộc phần thứ ba của giáotrình để trình bày các nội dung sau:

- Khái niệm lời nói mạch lạc

- Những đặc trưng lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo

- Các hình thức, phương pháp phát triển lời nói mạch lạc

Những đóng góp về mặt lí luận liên quan đến mạch lạc và phương phápphát triển lời nói mạch lạc của ba tác giả trên rất đáng quý cho những ngườiquan tâm đến việc dạy trẻ để phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở trường mầm non

Trang 11

- Khái niệm lời nói mạch lạc

- Các kiểu lời nói mạch lạc

- Đặc trưng lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo lớn

- Sự cần thiết phải phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn

Vũ Thị Thu Uyên (2017) với đề tài: “Phát triển lời nói mạch lạc cho trẻmẫu giáo lớn thông qua dạy trẻ kể lại chuyện theo đồ chơi, theo tranh”, khóaluận đã tập trung phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn với những nộidung sau:

- Lời nói mạch lạc và đặc trưng lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo lớn

- Sự cần thiết phải phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn

- Nhiệm vụ phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn

Thông qua việc tổng thuật một số công trình nghiên cứu về lời nói mạch lạc

từ các góc độ khác nhau chúng ta có thể thấy: Đây không phải là nội dung mới,nhưng trong các công trình nghiên cứu đã nêu, không có công trình nào trùngvới đề tài khóa luận mà chúng tôi đã lựa chọn

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là: Biện pháp tổ chức các hoạt độngcho trẻ mẫu giáo nhỡ làm quen với tác phẩm thơ nhằm giúp trẻ bồi dưỡng nănglực tạo lập lời nói mạch lạc

4 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện đề tài khóa luận, chúng tôi nhằm đạt những mục đích sau:

- Việc thực hiện đề tài trước hết giúp tác giả nắm chắc lí luận của việc bồidưỡng năng lực tạo lập lời nói mạch lạc cho trẻ MGN.Đồng thời xây dựng được

Trang 12

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

1.1 Xác định cơ sở lí luận và cơ sở thực tiên cho đề tài

1.2 Đề xuất biện pháp tổ chức cho trẻ mẫu giáo nhỡ làm quen với tácphẩm thơ để giúp trẻ bồi dưỡng năng lực tạo lập lời nói mạch lạc.1.3 Thiết kế giáo án thể nghiệm kết quả nghiên cứu khóa luận

6 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung, khóa luận giới hạn tìm hiểu những biện pháp bồi dưỡng năng

lực tạo lập lời nói mach lạc cho trẻ mẫu giáo nhỡ thông qua hoạt động làmquen với tác phẩm thơ

- Về phạm vi khảo sát ngữ liệu, khóa luận bước đầu chỉ tập trung thống kê các

tác phẩm thơ trong chương trình giáo dục trẻ MGN

7 Phương pháp nghiên cứu

Để xử lí đề tài chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp phân tích

- Phương pháp miêu tả

- Phương pháp tổng hợp

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

8 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, phần Nội dung của khóa luận gồmcác chương sau:

- Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

- Chương 2: Biện pháp cho trẻ mẫu giáo nhỡ làm quen với tác phẩm thơ theođịnh hướng giúp trẻ bồi dưỡng năng lực tạo lập lời nói mạch lạc

- Chương 3: Giáo án thể nghiệm

Trang 13

NỘI DUNG CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

- Năng lực là khả năng thể hiện hiệu quả một nhiệm vụ, một hành động cụthể liên quan đến một lĩnh vực nhất định dựa trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo

và sự sẵn sàng hành động

1.1.1.2 Năng lực hành động

Khái niệm

Năng lực hành động là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng

và thuộc tính tâm lí cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định.

1.1.1.3 Năng lực cốt lõi

a, Khái niệm

Năng lực cốt lõi (còn gọi là năng lực chung) là năng lực cơ bản, thiết yếu

mà bất kì một người nào cũng cần có để sống, học tập và làm việc.

Tất cả các hoạt động giáo dục ( bao gồm các môn học và hoạt động trảinghiệm sáng tạo) với khả năng khác nhau nhưng đều hướng tới mục tiêu hìnhthành và phát triển các năng lực cốt lõi khác nhau, tuy nhiên trong các hệ thốngnày thường gồm có:

- Kĩ năng sống và kĩ năng nghề nghiệp

- Kĩ năng học tập và kĩ năng đổi mới

Trang 14

- Kĩ năng về thông tin, đa phương tiện và công nghệ

b, Năng lực cốt lõi của trẻ mẫu giáo nhỡ ở thế kỉ XXI

Theo chúng tôi, ở thế kỉ XXI, Giáo dục Mầm non phải quan tâm bồi dưỡng

để hình thành và phát triển cho trẻ mẫu giáo nhỡ những năng lực cốt lõi sau:

- Năng lực tư duy

1.1.2.1 Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là gì?

Để xã hội tồn tại và phát triển con người cần phải giao tiếp, con người cóthể giao tiếp bằng nhiều loại phương tiện khác nhau (điệu bộ, ký hiệu, hình vẽ,

âm nhạc, vv…) Hoạt động giao tiếp là hoạt động diễn ra thường xuyên giữamọi người trong xã hội Giao tiếp có ở mọi nơi, mọi lúc, có thể ở dạng lời nóinhưng cũng có khi tồn tại ở dạng viết Giao tiếp cũng có thể được tiến hànhbằng nhiều phương tiện “ngôn ngữ” khác nhau: cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, cácphương tiện kĩ thuật (tất cả được gọi là các hành vi siêu ngôn ngữ) Tuy nhiênphương tiện quan trọng nhất, phổ biến nhất và hiệu quả tối ưu nhất vẫn là ngônngữ Nhờ ngôn ngữ và giao tiếp, con người trao đổi thông tin, bộc lộ tình cảm,thái độ, quan hệ,…để tổ chức xã hội hoạt động

Giao tiếp bằng ngôn ngữ là hoạt động trong đó người nói (người viết) sử dụng ngôn ngữ để tạo lời nhằm thông báo cho người nghe (người đọc) một nội dung tư tưởng tình cảm phù hợp với hoàn cảnh cho phép để đạt những mục đích nhất định.

Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là một trong những hoạt động cơ bảncủa con người Hoạt động này bao gồm hai quá trình: Tạo lập văn bản và lĩnhhội văn bản Tạo lập văn bản chính là nói hoặc viết để truyền đạt thông tin, lĩnhhội văn bản chính là nghe hoặc đọc để tiếp nhận thông tin

1.1.2.2 Các nhân tố tham gia hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ

Trang 15

Hoạt động giao tiếp có sự tham gia của nhiều nhân tố các nhân tố này vừatạo ra chính hoạt động giao tiếp vừa chi phối hoạt động giao tiếp, các nhân tố đólà:

a, Nhân vật giao tiếp

Nhân vật giao tiếp trả lời cho câu hỏi: Ai nói, ai viết, nói với ai, viết cho ai?

Đó là những người tham gia hoạt động giao tiếp, gồm người phát ( người nóihoặc người viết) và người nhận (người nghe hoặc người đọc) Thông thườngtrong giao tiếp trực tiếp, vai trò của người phát và người nhận sẽ liên tục đượchoán đổi (tôi nói anh nghe, sau đó anh nói tôi nghe) Trái lại trong những cuộcgiao tiếp gián tiếp, vai trò của người phát và người nhận là cố định hoặc khóthay đổi (ví dụ: Một diễn giả nói trên truyền hình với người nghe là khán giả…).Trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ thơ, sự thể hiện của các nhân vậtgiao tiếp khá tinh tế

VD: Trong bài thơ “ Ước mơ của Tí” của tác giả Lưu Thị Ngọc Lễ

Mẹ! mẹ ơi! Ngã tư đàng Đèn xanh mà!

Con học giỏi Để người sang Mẹ cười xòa

Mẹ Tí hỏi: An toàn mãi Khen Tí giỏi

Giỏi làm gì? Này dừng lại Tí phấn khởi

Tí thầm thì: Đèn đỏ rồi! Cười ha ha!

Con sẽ đi Đi chậm thôi Nhảy quanh nhà

Làm cảnh sát Đền vàng đấy! Tí sẽ là

Con đứng gác Đi thoải mái Anh cảnh sát!

Ở ví dụ trên, người viết là tác giả Lưu Thị Ngọc Lễ còn người đọc là cácđộc giả

Những người đọc bài thơ – người tiếp nhận bài thơ này còn là những trẻmẫu giáo – những người nghe lại bài thơ đó qua giọng đọc của cô giáo Trongbài thơ, tác giả đã tái hiện cuộc đối thoại giữa mẹ và Tí Hai nhân vật đó sốngđộng nhờ sự hóa thân và sự tưởng tượng của nhà thơ

Trang 16

b, Nội dung giao tiếp

Trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, nội dung giao tiếp trả lời cho câuhỏi: Nói, viết về ai, về cái gì, về việc gì?

Trước hết, đây chủ yếu là phạm vi hiện thực bên ngoài ngôn ngữ Phạm vihiện thực có thể là những gì đã đang hoặc sẽ xảy ra trong thế giới thực tại màchúng ta đang sống hoặc một thế giới tưởng tượng Khi nói đến những phạm vihiện thực ngoài ngôn ngữ chúng ta nói đến những sự vật sự việc nào đó, trong

đó sự việc thế nào, vì sao, ai làm, làm gì, với ai, ở đâu, khi nào, nhằm mục đíchgì… thường phải xác định rõ

c, Hoàn cảnh giao tiếp

Giao tiếp bao giờ cũng được diễn ra trong một hoàn cảnh nào đó Hoàncảnh giao tiếp trả lời cho câu hỏi: Giao tiếp diễn ra ở đâu (không gian) vào lúcnào (thời gian), giao tiếp diễn ra trong điều kiện tự nhiên, xã hội như thế nào?

Trang 17

Cô thợ dệt Dệt vải hoa

Cô thợ mayMay thành áo

Mẹ bảo cháuPhải biết ơnPhải biết thươngCác cô thợ

Tác giả Thy Ngọc viết bài thơ này với mục đích giúp trẻ mẫu giáo hiểu rõcông việc của những người thợ.Từ đó giáo dục các cháu phải biết ơn và có tìnhyêu thương chân thành với những người thợ đó

e, Phương tiện giao tiếp

Trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, phương tiện giao tiếp chính làđơn vị ngôn ngữ (tiếng, từ, cụm từ và câu), những đơn vị đó được người nói sử

Trang 18

dụng để tổ chức thành lời nói dạng nói, dạng viết nhằm truyền đạt nội dung giaotiếp đến người nghe.

Những cách sử dụng các đơn vị ngôn ngữ để tạo câu, tạo lời nói hoànchỉnh, việc chọn dạng của lời nói trong giao tiếp thuộc về cách thức giao tiếp

1.1.2.3 Hoạt động tạo lập lời nói trong giao tiếp bằng ngôn ngữ

Tạo lập và lĩnh hội lời nói là hai hoạt động của nhân vật giao tiếp bằngngôn ngữ

Tạo lập lời nói là hoạt động của người nói trong giao tiếp Khi tham gia gặp

gỡ, tiếp xúc với người nghe, người nói dựa vào hoàn cảnh giao tiếp, mục đíchgiao tiếp từ đó lựa chọn tổ chức các phương tiện ngôn ngữ nhằm tạo ra một sảnphẩm lời nói hoàn chỉnh (ngôn bản, văn bản) để thông báo nội dung giao tiếp

1.1.2.4 Văn bản

a, Định nghĩa

Văn bản là một chỉnh thể thường được tạo ra từ hai câu trở lên, các câu liênkết chặt chẽ với nhau và được tổ chức theo kiểu kết cấu nhất định nhằm phảnánh chọn vẹn, mạch lạc một chủ đề

b Đặc trưng của văn bản

Trang 19

- Các phương tiện ngôn ngữ trong văn bản thơ thường được tổ chức theonhững biện pháp tu từ Chúng có tính hình tượng, tính biểu cảm, tính truyềncảm, tính cá thể hóa.

b3 Về mặt tính chất:

- Văn bản có tính hoàn chỉnh, tính liên kết và tính mạch lạc

- Các câu trong văn bản có sự liên kết với nhau chặt chẽ bằng các liên từ vàliên kết về mặt nội dung Đồng thời, cả văn bản còn phải xây dựng theo một kếtcấu mạch lạc, rõ ràng

- Mỗi văn bản thường hướng vào thực hiện một mục đích giao tiếp nhấtđịnh

- Mỗi văn bản có dấu hiệu hình thức riêng biểu hiện tính hoàn chỉnh về mặtnội dung: Thường mở đầu bằng một tiêu đềvà có dấu hiệu kết thúc phù hợp vớitừng loại văn bản

1.1.3 Cơ sở tâm lý học

1.1.3.1 Sự hoàn thiện hoạt động vui chơi và sự hình thành “Xã hội trẻ em” với trẻ mẫu giáo nhỡ

Ở lứa tuổi mẫu giáo bé, hoạt động vui chơi đồ chơi trẻ em mầm non của trẻ

đã phát triển mạnh Nhưng chỉ ở độ tuổi MGN, hoạt động vui chơi mới mangđầy đủ ý nghĩa của nó nhất Có thể nói rằng hoạt động vui chơi ở lứa tuổiMGN phát triển tới mức hoàn thiện, được thể hiện ở những đặc điểm sau đây:

- Trong hoạt động vui chơi, trẻ thể hiện rõ rệt tính tự lực, tự do và chủđộng

Trong việc lựa chọn chủ đề và nội dung chơi: Do có ít nhiều vốn sống nhờtiếp xúc hằng ngày với thế giới đồ vật, giao tiếp rộng rãi với những người xungquanh tạo điều kiện cho trẻ tự do lựa chọn chủ đề chơi và phản ánh vào vai chơinhững mảng hiện thực mà mình quan tâm

Trong việc lựa chọn bạn cùng chơi: Vào cuối tuổi mẫu giáo nhỡ và lớn, cátính của trẻ đã bắt đầu bộc lộ rõ rệt, mỗi em có mỗi tính, mỗi nết Do đó trẻ cầnphải lựa chọn bạn “tâm đầu ý hợp” với mình

Trang 20

Trẻ tự do tham gia vào trò chơi nào mà mình thích và tự do rút ra khỏinhững trò chơi mà mình đã chán Khi tự nguyện tham gia vào các cuộc chơi thìtrẻ chơi một cách say sưa, chơi hết mình, nhưng khi đã chán thì cũng sẽ bỏ cuộcmột cách nhẹ nhàng.

- Trong hoạt động vui chơi, trẻ đã biết thiết lập những quan hệ rộng rãi vàphong phú với các bạn cùng chơi: Một xã hội trẻ em được hình thành

Ở lứa tuổi này, việc chơi của các em tương đối thành thạo và chơi với nhautrong nhóm bạn đã trở thành một nhu cầu cấp bách Hoạt động vui chơi, mà đặcbiệt là trò chơi đóng vai theo chủ đề là loại hoạt động cùng nhau đầu tiên của trẻ

em Không có sự phối hợp với nhau giữa các thành viên thì không thành tròchơi Đã chơi thì phải có vai nọ vai kia mới thú vị Một trò chơi của trẻ mẫu giáonhỡ và lớn thường có nhiều vai hơn của trẻ mẫu giáo bé mặc dù có thể cùng mộtchủ đề Như vậy các quan hệ trong trò chơi của trẻ đã được mở rộng hơn nhiều

so với trẻ mẫu giáo bé

Ở tuổi mẫu giáo nhỡ việc chơi trong nhóm bạn bè là một nhu cầu bứcbách Đặc biệt nhu cầu giao tiếp với bạn bè đang phát triển rất mạnh Từ đónhững “Xã hội trẻ em ” thực sự được hình thành

“Xã hội trẻ em ” này còn khác xa so với xã hội người lớn Hợp rồi tan, tanrồi hợp, thực và chơi, chơi và thực Đó chính là nét độc đáo của cái xã hội ấy.Nhưng chính những mối quan hệ xã hội đầu tiên trong nhóm bạn bè này lại cómột ý nghĩa lớn lao đối với cả đời người sau này

Nhóm trẻ cùng chơi là một trong những cơ sở xã hội đầu tiên của trẻ em,

do đó người lớn cần tổ chức tốt hoạt động của nhóm trẻ ở lớp mẫu giáo cũngnhư ở gia đình, khu tập thể, xóm dân cư… để tạo môi trường lành mạnh có tácdụng giáo dục tích cực đối với trẻ

1.1.3.2 Sự phát triển chú ý và ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ

a, Sự phát triển về chú ý của trẻ mẫu giáo nhỡ

Cả hai dạng chú ý có chủ định và không có chủ định đều phát triển mạnh ởtrẻ 4 – 5 tuổi

Trang 21

Nhiều phẩm chất chú ý có chủ định phát triển nhanh do sự phát triển củangôn ngữ và tư duy Sức tập trung chú ý của trẻ cao, trẻ có thể vẽ, nặn một thờigian dài.

Sức bền vững của chú ý ở trẻ khá cao ( Trẻ chú ý tới 37 phút với những đồvật thích thú – theo A.V Daporozet ) Những công việc mà cha mẹ, cô giáo giaocho trẻ chính là điều kiện tốt để trẻ phát triển chú ý có chủ định

Việc giáo dục chú ý có chủ định phụ thuộc vào việc tổ chức nhiệm vụ hoạtđộng cho trẻ Ví dụ giao việc mà trẻ thích sẽ làm tăng năng lực chú ý có chủđịnh, cho trẻ tập tìm, quan sát các chi tiết các đồ vật, tranh vẽ… để rèn luyệnchú ý cho trẻ về tính mục đích, tính hệ thống…

Mặc dù chú ý có chủ định phát triển mạnh, nhưng nhìn toàn bộ lứa tuổi thìtính ổn định chưa cao, do vậy khi giao việc cho trẻ, giáo viên cần giải thích rõràng, nhắc lại khi cần thiết

b, Sự phát triển về ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo nhỡ

Ngôn ngữ của trẻ mang tính chất hoàn cảnh, tình huống nghĩa là ngôn ngữcủa trẻ gắn liền với sự vật, hoàn cảnh, con người, hiện tượng đang xảy ra trướcmắt trẻ Cuối 4 tuổi, ngôn ngữ của trẻ đã bắt đầu biết nối kết giữa tình huốnghiện tại với quá khứ thành một “ Văn cảnh”

Trẻ đã hình thành những cảm xúc ngôn ngữ qua giọng nói, ngữ điệu, âmtiết… Tuy nhiên dưới tác động của cảm xúc trẻ có thể nghe nhầm, phát âmnhầm

Dưới sự hướng dẫn của cô giáo, đặc biệt trong hoạt động vui chơi, tạo hình,các tiết kể chuyện, tham quan, âm nhạc, thể dục…và các nhiệm vụ do người lớngiao cho trẻ, trẻ lĩnh hội được nhiều từ mới và ý nghĩa sử dụng của chúng Nhưvậy vốn từ của trẻ được phát triển Khả năng nói đúng ngữ pháp của trẻ tiến bộhơn trẻ mẫu giáo bé Đó là những tiền đề quan trọng trong đề tại tạo lập lời nóimạch lạc

1.1.3.3 Sự phát triển quá trình nhận của trẻ mẫu giáo nhỡ

a, Về khả năng tri giác của trẻ

Trang 22

- Do tiếp xúc với nhiều đồ vật, hiện tượng, con người… , độ nhạy cảm vềkhả năng phân biệt các dấu hiệu thuộc tính bên ngoài của trẻ ngày càng chínhxác và đầy đủ.

- Khả năng quan sát của trẻ được phát triển không chỉ số lượng đồ vật mà

cả các chi tiết, dấu hiệu thuộc tính, màu sắc…

b, Về đặc điểm trí nhớ của trẻ

- Trẻ đã biết sử dụng cơ chế liên tưởng trong trí nhớ để nhận lại và nhớ lạicác sự vật và hiện tượng Trí nhớ có ý nghĩa đã thể hiện rõ nét khi gọi tên đồ vật,hoa quả, thức ăn…Đồng thời với trí nhớ hình ảnh về đồ vật thì âm thanh ngônngữ được trẻ tri giác, hiểu và sử dụng chúng như một phương tiện giao tiếp ớinhững người xung quanh tuy ở mức độ đơn giản

- Trí nhớ không chủ định của trẻ ở các dạng hoạt động phát triển khác nhau

và tốc độ phát triển rất nhanh

- Ở độ tuổi này, các loại trí nhớ: hình ảnh, vận động, từ ngữ đều được pháttriển tuy ở mức độ khác nhau nhưng đều được hình thành và tham gia tích cựctrong các hoạt động vui chơi, lao động, tạo hình… ở trẻ

c, Về đặc điểm tư duy của trẻ

Ở trẻ 4 – 5 tuổi các loại tư duy đều được phát triển nhưng mức độ khácnhau

Tư duy trực quan hành động vẫn tiếp tục phát triển, nhưng chất lượng khácvới trẻ 3 – 4 tuổi ở chỗ trẻ bắt đầu biết suy nghĩ xem xét nhiệm vụ hoạt động,phương pháp và phương tiện giải quyết nhiệm vụ tư duy.Tư duy trực quan hìnhtượng phát triển mạnh mẽ và chiếm ưu thế

Nhờ có sự phát triển ngôn ngữ, trẻ ở lứa tuổi này đã xuất hiện loại tư duytrừu tượng

1.1.3.4 Sự phát triển xúc cảm, tình cảm, ý chí của trẻ mẫu giáo nhỡ

a, Đời sống xúc cảm và tình cảm của trẻ

Các loại tình cảm bậc cao của trẻ phát triển ngày càng rõ nét hơn so vớimẫu giáo bé

Trang 23

Tình cảm đạo đức của trẻ ngày càng được phát triển do trẻ lĩnh hội đượccác chuẩn mực hành vi, quy tắc ứng xử Trẻ bối rối, cảm thấy có lỗi khi hành viphạm sai lầm Trẻ biết đòi người lớn đánh giá đúng mức hành vi đúng, sai, tốt,xấu của mình.

Tình cảm trí tuệ cũng phát triển theo hướng mong muốn tìm hiểu nguyênnhân, cội nguồn các hiện tượng tự nhiên và xã hội, cuộc sống xung quanh

Về tình cảm thẩm mỹ: Trẻ bức dầu có khả năng tổng hợp nhiều xúc cảmcùng loại khi rung cảm trước vẽ đẹp của thiên nhiên, con người, cỏ cây, hoa lá…Nhìn chung xúc cảm và tình cảm của trẻ dần phong phú và có những đặcđiểm nổi bật sau đây: Dễ giao động, dễ thay đổi, dễ khóc, dễ cười

b, Đặc điểm ý chí của trẻ

- Tính mục đích phát triển từ tuổi lên 2 khi trẻ đã làm chủ được một sốhành vi của mình Từng bước một, trẻ 4 tuổi có thể điều khiển được quá trìnhghi nhớ và nhớ lại một “tài liệu” nào đó do người lớn giao cho, ghi nhớ một bàithơ ngắn trẻ thích

- Do hiểu được nhiều hành vi ngôn ngữ và biết sử dụng những hành vingôn ngữ, trẻ có thể bước đầu vận dụng để lập kế hoạch hành động và chỉ đạohành động, trẻ thường nói to khi hành động

- Để giáo dục ý chí cho trẻ, giáo viên và phụ huynh cần phải giáo dục động

cơ cho trẻ Bởi vì ở lứa tuổi này, mục đích và động cơ của trẻ thường trùngnhau, chưa tách bạch thật rõ ràng

1.1.3.5 Sự phát triển động cơ và sự hình thành hệ thống động cơ của trẻ mẫu giáo nhỡ

- Cuối tuổi mẫu giáo bé, trong hành vi của trẻ đã xuất hiện những loại động

cơ khác nhau, nhưng những động cơ ấy còn mờ nhạt, yếu ớt, tản mạn

- Đến cuối tuổi mẫu giáo nhỡ, các động cơ đã xuất hiện ở tuổi mẫu giáo béđược phát triển mạnh mẽ Đặc biệt đến cuối tuổi mẫu giáo nhỡ và lớn thì nhữngđộng cơ đạo đức thể hiện thái độ của trẻ đối với những người khác có một ýnghĩa hết sức quan trọng trong sự phát triển các động cơ hành vi

Trang 24

- Ở lứa tuổi này đã bắt đầu hình thành quan hệ phụ thuộc theo thứ bậc củacác động cơ, được gọi là hệ thống thứ bậc các động cơ Đó là một cấu tạo tâm lýmới trong sự phát triển nhân cách của trẻ mẫu giáo.

- Từ 4 tuổi trở đi, hành vi của trẻ tương đối dễ xác định Nếu động cơ vì xãhội chiếm ưu thế thì trẻ sẽ thực hiện những hành vi mang tính đạo đức tốt đẹp.Ngược lại nếu động cơ nhằm thoả mãn quyền lợi riêng chiếm ưu thế thì trongnhiều trường hợp trẻ sẽ hành động nhằm tìm kiếm những quyền lợi cá nhân ích

kỷ, dẫn đến những sai phạm nghiêm trọng về quy tắc đạo đức xã hội Đối vớinhững đứa trẻ này cần áp dụng những biện pháp giáo dục thích hợp, có hiệu quảnhằm thay đổi những cơ sở của nhân cách đã được hình thành một cách bất lợinày, trước hết phải cảm hoá trẻ bằng tình yêu thương, đồng thời lại đòi hỏi ởchúng sự yêu thương và quan tâm đến những người xung quanh, tạo ra nhữngtình huống để gợi lên ở trẻ những hành vi đạo đức tốt đẹp

1.1.4 Cơ sở giáo dục học

1.1.4.1 Khái niệm lời nói mạch lạc

Có rất nhiều nhà sư phạm đã nêu ra định nghĩa về lời nói mạch lạc của trẻ

em và chúng có những đặc điểm giống và khác nhau Trong cuốn “Giáo trìnhphát triển ngôn ngữ tuổi mầm non” của PGS.TS Đinh Hồng Thái đã nêu ra địnhnghĩa của tiến sĩ ngôn ngữ học Xôkhin người Nga - tác giả của nhiều cuốn sáchgiáo khoa, phương pháp về phát triển ngôn ngữ trẻ em Ông đã định nghĩa nhưsau:

“Lời nói mạch lạc được hiểu là sự diễn đạt mở rộng một nội dung xác định, được thực hiện một cách lôgic,tuần tự, chính xác, đúng ngữ pháp và có tính biểu cảm”.

1.1.4.2 Các kiểu lời nói mạch lạc

Các nhà ngôn ngữ học đã nghiên cứu và cho rằng có hai kiểu lời nói mạchlạc đó là hội thoại và độc thoại

- Lời nói hội thoại là câu chuyện giữa hai hay nhiều chủ thể nói năng, baogồm những phản ứng tương hỗ của các cá nhân giao tiếp với nhau, phản ứng tự

Trang 25

pháp một cách bình thường được xác định hoàn cảnh hoặc lời nói của nhữngngười tham gia đối thoại

Có hai hình thức hội thoại đó là nói chuyện và đàm thoại:

- Nói chuyện là hoạt động nói giữa hai hay nhiều người không nhất thiếtphải theo một chủ đề định, được phát triển nhưng không được chuẩn bị kỹ từtrước Đây là hình thức đơn giản nhất của ngôn ngữ nói Nó mang tính hoàncảnh và những người nói chuyện hiểu được nhau Cần nhờ những hình thức diễnđạt khác nhau như nét mặt, cử chỉ, điệu bộ, giọng nói…

- Đàm thoại là hoạt động trò chuyện giữa hai người về một chủ đề nào đóđược chuẩn bị kỹ càng với một hệ thống câu hỏi được sắp xếp, tổ chức theo kếhoạch

- Lời nói độc thoại là lời nói của một chủ thể nói với chính mình, nói chomình nghe

1.1.4.3 Đặc trưng lời nói mạch lạc của trẻ mẫu giáo nhỡ

Ở trẻ mẫu giáo nhỡ, lời nói mạch lạc đã đạt trình độ cao hơn so với trẻMGB

Trẻ 3 tuổi phù hợp với hình thức đơn giản của lời nói đối thoại (trả lời câuhỏi) nhưng lời nói trẻ thường xa rời với nội dung câu hỏi, do vốn ngôn ngữ cònnghèo hoặc do trẻ sao nhãng không tập trung vào điều cần nói Những lời nóimạch lạc đầu tiên của trẻ được cấu tạo từ hai đến ba câu

Đến tuổi mẫu giáo nhỡ sự phát triển lời nói mạch lạc chịu ảnh hưởng lớncủa việc tích cực hóa vốn từ (khối lượng lúc này đã đạt đến khoảng 700 từ) Lờinói của trẻ trở nên được mở rộng hơn, có trật tự hơn, mặc dù cấu trúc còn chưahoàn thiện

Trẻ mẫu giáo nhỡ bắt đầu được học cách đặt những câu chuyện nhỏ theotranh hoặc theo đồ chơi Nhưng phần lớn câu chuyện của trẻ chỉ đơn thuần là môphỏng lại mẫu của người lớn Ở độ tuổi này, có sự phát triển mạnh mẽ lời nóivăn cảnh Nghĩa là trong hoàn cảnh nói năng cụ thể chỉ trẻ mới có thể hiểu đượcmình nói về điều gì

1.1.4.4 Phương pháp, biện pháp phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo

Trang 26

Các nhà sư phạm cho rằng có 5 hình thức phát triển lời nói mạch lạc cho trẻmẫu giáo Ở mỗi hình thức, giáo viên có thể sử dụng những biện pháp nhất định

Cụ thể là:

a, Dạy trẻ kể chuyện theo tranh:

Ở hình thức này, giáo viên có thể lựa chọn các phương pháp sau:

- Sử dụng tranh kết hợp lời kiểu mẫu của cô

- Sử dụng tranh kết hợp trò chuyện theo hệ thống câu hỏi

- Sử dụng tranh kết hợp cho trẻ kể lại chuyện

b, Dạy trẻ kể lại chuyện theo đồ chơi

c, Dạy kể trẻ kể lại truyện văn học

Hình thức này có thể cho phép giáo viên có thể lựa chọn một trong những biệnpháp sau:

- Sử dụng tranh rối minh họa

- Sử dụng băng phim minh họa truyện

- Cho trẻ kể lại truyện tập thể

- Sử dụng lời chỉ dẫn của cô

d, Dạy trẻ kể chuyện theo kinh nghiệm

Giáo viên có thể sử dụng những biện pháp sau để dạy trẻ kể lại chuyện theo kinhnghiệm:

- Trò chuyện theo dàn ý

- Cô sử dụng lời kể mẫu

- Kể nối tiếp câu chuyện của cô hoặc của bạn

e, Dạy trẻ kể chuyện sáng tạo

Để dạy trẻ kể chuyện sáng tạo, giáo viên có thể chọn một trong hai biện phápsau:

Trang 27

Dựa vào Hướng dẫn tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục trong trườngmầm non theo chủ đề của Lê Thu Hương (Chủ biên), NXBGD Việt Nam, xuấtbản năm 2015, chúng tôi khái quát kết quả khảo sát, thống kê trong bảng sau:

Bảng thống kê nội dung tổ chức hoạt động cho trẻ MGN làm quen với tác

phẩm thơ theo chương trình của Bộ GD & ĐT

Số lượng tác phẩm thơ

Phần trăm

số lượng tác phẩm thơ

1 Trường mầm non Trường mầm non của bé 2 7,84%

Trang 28

Số lượng tác phẩm thơ

Phần trăm

số lượng tác phẩm thơ

Từ kết quả thống kê ở bảng trên, chúng ta có thể thấy:

Tổng số có 51 bài thơ được đưa vào chương trình tổ chức các hoạt độnggiáo dục trẻ MGN Các bài thơ được phân bố trong 9 chủ đề với tỉ lệ như sau:Có:

- 11 bài thơ thuộc chủ đề Bản thân chiếm 21,57%

- 9 bài thơ thuộc chủ đề Thế giới thực vật chiếm 17,64%

- 6 bài thơ thuộc chủ đề Gia đình chiếm 11,78%

- 6 bài thơ thuộc chủ đề Nghề nghiệp chiếm 11,78%

- 6 bài thơ thuộc chủ đề Giao thông chiếm 11,78%

- 5 bài thơ thuộc chủ đề Nước và các hiện tượng tự nhiên chiếm 9,8%

- 5 bài thơ thuộc chủ đề Quê hương đất nước chiếm 9,8%

- 4 bài thơ thuộc chủ đề Trường mầm non chiếm 7,84%

- 4 bài thơ thuộc chủ đề Thế giới động vật chiếm 7,84%

Việc lựa chọn các bài thơ theo tần suất không đồng đều giữa các chủ đềgắn liền với mục đích của tác giả xây dựng chương trình giáo dục trẻ MGN.Dùng nhiều tác phẩm thơ giúp trẻ hiểu hơn về bản thân, về thế giới thực vật, về

Trang 29

gia đình, về các nghề trong xã hội, về giao thông, đồng thời dùng thơ làmphương tiện có nhận thức cơ bản về các hiện tượng tự nhiên, về quê hương đấtnước, về thế giới động vật – đó là dụng ý của các nhà khoa hoc, những người đãtham gia xây dựng chương trình giáo dục mầm non

Tiểu kết chương 1

Ở chương 1 chúng tôi đã trình bày cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

“Bồi dưỡng năng lực tạo lập lời nói mạch lạc cho trẻ MGN thông qua việc giúptrẻ làm quen với tác phẩm thơ” Đó là những căn cứ để chúng tôi triển khai nộidung ở những chương sau

Trang 30

CHƯƠNG 2 BIỆN PHÁP CHO TRẺ MẪU GIÁO NHỠ LÀM QUEN VỚI TÁC PHẨM VĂN HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG GIÚP TRẺ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC

TẠO LẬP LỜI NÓI MẠCH LẠC

Ở chương này, dựa vào những hiểu biết chung về năng lực, năng lực tạo lậplời nói mạch lạc, dựa vào các hoạt động cho trẻ mẫu giáo nhỡ làm quen với tácphẩm thơ, chúng tôi bước đầu đề xuất vận dụng một số biện pháp giáo dục tíchcực để giúp trẻ hình thành và phát triển năng lực tạo lập lời nói mạch lạc

2.1 Chọn cách đặt vấn đề độc đáo để gây ấn tượng cho trẻ mẫu giáo nhỡ khi cho trẻ làm quen với tác phẩm thơ

Chọn cách đặt vấn đề độc đáo là một biện pháp của nhóm phương phápdùng lời trong hoạt động dạy học của người giáo viên Đó là cách giáo viêndùng lời đặt vấn đề mới lạ, hấp dẫn nhằm thu hút sự chú ý và gây hứng thú đốivới trẻ, từ đó lôi cuốn trẻ tham gia hoạt động

Chọn cách đặt vấn đề độc đáo không phải là biện pháp giáo dục có tácdụng trực tiếp giúp trẻ bồi dưỡng năng lực tạo lập lời nói mạch lạc, nhưng nhờcách đặt vấn đề độc đáo của giáo viên, trẻ sẽ có hứng thú Đó là điều kiện quantrọng để các bé tập trung chú ý vào nội dung bài học, khả năng ghi nhớ của trẻtốt hơn Sự tập trung chú ý, sự thích thú và khả năng ghi nhớ của trẻ sẽ giúp trẻdiễn đạt điều cần trình bày mạch lạc hơn

Để việc cho trẻ làm quen với tác phẩm thơ không bị rơi vào tình trạng đơnđiệu, giáo viên cần đa dạng hóa cách đặt vấn đề

VD 1: Khi cho trẻ làm quen với bài thơ “ Bé làm bao nhiêu nghề” giáo viên

có thể chọn cách đặt vấn đề độc đáo thông qua các bước:

- Bước 1: Tạo tình huống: Bác Gấu gửi tặng lớp món quà, đó là một bức

thư

- Bước 2: Dùng lời để thu hút sự chú ý của trẻ vào nội dung bức thư, chẳng

hạn: “Xin chào các thiên thần bé nhỏ của bác! Nghe tin các con rất chăm

ngoan và lễ phép, ngày hôm nay bác viết thư này để mời các con tham ra chương trình thời trang “ Ngày hội các ngành nghề” Bác gửi tới các con

Trang 31

- Bước 3: Giáo viên cho trẻ thay trang phục các ngành nghề, kết hợp dùng

lời giới thiệu từng trang phục đó

- Bước 4: Giáo viên dùng lời dẫn dắt để giới thiệu tên bài thơ cần làm

quen

Chẳng hạn: “Hôm nay, cô cũng có một bài thơ rất hay nói về những ngành

nghề Đó là bài thơ “ Bé làm bao nhiêu nghề” của tác giả Yến Thảo”

VD 2: Khi cho trẻ làm quen với bài thơ “Em yêu nhà em”, giáo viên chọn

cách đặt vấn đề thông qua các bước sau:

- Bước 1: Tạo tình huống, ví dụ “ Chị Thỏ Trắng mua một bức tranh ghép

nhưng vì sơ ý chị làm rơi bức tranh khiến cho các mảnh ghép không còn đúng vị trí”

- Bước 2: Giáo viên dùng lời để giới thiệu trò chơi “Thi tài ghép tranh” để

thu hút trẻ chú ý, chẳng hạn: “ Để giúp chị Thỏ Trắng ghép lại bức tranh,

cô sẽ tổ chức cho lớp mình một trò chơi mang tên “Thi tài ghép tranh” Cách chơi như sau: Cô chia lớp thành 2 đội chơi,trên bảng của cô là bức tranh mẫu, mỗi đội chơi có một rổ đựng những mảnh ghép của bức tranh, trong thời gian 1 bản nhạc các thành viên trong đội cùng nhau ghép bức tranh Luật chơi: Thời gian kết thúc đội nào ghép đúng bức tranh và nhanh hơn sẽ chiến thắng nhận được phần quà Đội nào chậm hơn hoặc ghép sai bức tranh sẽ thua cuộc”

Ngày đăng: 17/09/2019, 08:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (2003), Giao tiếp. Văn bản. Mạch lạc. Liên kết. Đoạn văn, NXBKHXH Khác
2. Nguyễn Xuân Khoa (2004), phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo,NXBDHSP Khác
3. Lã Thị Bắc Lí – Lê Thị Ánh Tuyết (2009), phương pháp cho trẻ mầm non làm quen vớ tác phẩm văn học, NXBGD Khác
4. Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên), Ngữ văn 10 – NXBGD năm 2012 Khác
5. Hoàng Thị Oanh – Phạm Thị Việt – Nguyễn Kim Đức (2005), phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, NXBDHQGHN Khác
6. Đinh Hồng Thái (2012), phương pháp phát triển lời nói cho trẻ em, NXBDHSP Khác
7. Nguyễn Thị Thu (2017), Phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua hoạt động dạy trẻ kể chuyện sáng tạo ở trường mầm non Xuân Hòa, ĐHSPHN2 Khác
8. Trần Thị Thanh Thủy (chủ biên), . . .Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh – Quyển 2, NXBĐHSP Khác
9. Bùi Kim Tuyến( chủ biên), Nguyễn Thị Cẩm Bích- Lưu Thị Lan – Vũ Thị Hồng Ta- Đặng Thu Quỳnh, Các hoạt động phát triển ngôn ngữ của trẻ mầm non, NXBGDVN, 2015 Khác
10. Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2005), Tâm lý học trẻ em lưới tuổi mầm non – NXBĐHSP Khác
11. Vũ Thị Thu Uyên (2017) ĐHSPHN2, Phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua dạy trẻ kể lại chuyện theo đồ chơi, theo tranh,… Khác
12. Nguyễn Như Ý (1996), Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ - NXBGD Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w