GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG, TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN,KHOÁNG SẢN VIỆT NAM
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
PHÍ THỊ KIM THƯ
GI¶I PH¸P PH¸T TRIÓN BÒN V÷NG TËP §OµN
C¤NG NGHIÖP THAN - KHO¸NG S¶N VIÖT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế Tài chính - Ngân hàng
Mã số : 62.34.02.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
2 PGS,TS VŨ THỊ BẠCH TUYẾT
hµ néi - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Nghiên cứu sinh
Phí Thị Kim Thư
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu
MỞ ĐẦU i
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẬP ĐOÀN KINH TẾ 1
1.1 KHÁI QUÁT VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ 1
1.1.1 Khái niệm, phân loại Tập đoàn kinh tế 1
1.1.2 Đặc điểm của Tập đoàn kinh tế 4
1.2 PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẬP ĐOÀN KINH TẾ 6
1.2.1 Tổng quan về phát triển bền vững 6
1.2.2 Khái niệm phát triển bền vững Tập đoàn Kinh tế 10
1.2.3 Nội dung phát triển bền vững TĐKT 13
1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển bền vững của tập đoàn kinh tế 18
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẬP ĐOÀN KINH TẾ 30
1.3.1 Nhân tố chủ quan 30
1.3.2 Nhân tố khách quan 35
1.4 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA MỘT SỐ TẬP ĐOÀN KINH TẾ TRÊN THẾ GIỚI, BÀI HỌC VẬN DỤNG ĐỐI VỚI VIỆT NAM 39
1.4.1 Kinh nghiệm của một số TĐKT trên thế giới 39
1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho PTBV các TĐKT ở Việt Nam 47
Tóm tắt chương 1 49
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 51
2.1 TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 51
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam 51
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và ngành nghề kinh doanh của Tập đoàn TKV đến tháng 31/12/2015 52
2.1.3 Khái quát đặc điểm hoạt động kinh doanh của Tập đoàn TKV 53
2.2 TỔNG QUAN HIỆN TRẠNG HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH VÀ CÁC NGUỒN LỰC CHỦ YẾU CỦA TẬP ĐOÀN TKV 57
2.2.1 Kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2010 - 2015 của Tập đoàn TKV 57
Trang 52.2.2 Hiện trạng các hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu của tập đoàn TKV 62 2.2.3 Hiện trạng các nguồn lực chủ yếu của Tập đoàn TKV 65 2.3 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA TẬP ĐOÀN TKV 70 2.3.1 Thực trạng phát triển bền vững sản xuất kinh doanh của Tập đoàn TKV 70 2.3.2 Thực trạng phát triển bền vững về xã hội của Tập đoàn TKV 94 2.3.3 Thực trạng phát triển bền vững về môi trường của tập đoàn TKV 109 2.4 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA TẬP ĐOÀN TKV 113 2.4.1 Những mặt đạt được 113 2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 116
Tóm tắt chương 2 133 Chương 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 135
3.1 THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 135 3.1.1 Thuận lợi 135 3.1.2 Khó khăn 136 3.2 QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN ĐẾN 2020, TẦM NHÌN ĐẾN 2030 138 3.2.1 Mục tiêu, quan điểm phát triển bền vững Tập đoàn TKV 138 3.2.2 Định hướng phát triển bền vững Tập đoàn TKV 139 3.3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 147 3.3.1 Quan điểm về đề xuất giải pháp 147 3.3.2 Nhóm giải pháp tài chính PTBV Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 150 3.3.3 Nhóm giải pháp phi tài chính 185 3.4 KIẾN NGHỊ VỚI NHÀ NƯỚC VỀ CÁC CHÍNH SÁCH CÓ LIÊN QUAN 191
Tóm tắt chương 3 193 KẾT LUẬN 195 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
BVMT : Bảo vệ môi trường
CSH : Chủ sở hữu
CTCP : Công ty cổ phần
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
ĐTPT : Đầu tư phát triển
OECD : Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Từ phát triển đến phát triển bền vững 8
Bảng 1.2: Trích báo cáo tài chính giai đoạn 2010 - 2014 của RAG 42
Bảng 2.1 Các chỉ tiêu chủ yếu về hoạt động SXKD của Tập đoàn TKV từ năm 2010 - 2015 61
Bảng 2.2 Tổng tài nguyên than Việt Nam tính đến 31/12/2015 66
Bảng 2.3 Tổng tài nguyên, trữ lượng tính đến 31/12/2015 do TKV quản lý 66
Bảng 2.4 Tài nguyên, trữ lượng một số khoáng sản chủ yếu đến 31/12/2015 66
Bảng 2.5 - Tổng hợp tình hình vốn và tài sản từ 2008- 2015 của Tập đoàn TKV 69
Bảng 2.6 - Tỷ trọng từng khoản mục TSNH trong tổng TSNH toàn Tập đoàn TKV giai đoạn 2008-2015 79
Bảng 2.7 - Khả năng sinh lời toàn Tập đoàn TKV giai đoạn 2008 - 2015 82
Bảng 2.8 - Tình hình đầu tư vốn của công ty mẹ TKV năm 2015 86
Bảng 2.9 - Kết quả thoái vốn ngoài ngành của Tập đoàn TKV từ năm 2013 - 2016 87
Bảng 2.10 - Kết quả thoái vốn trong ngành của Tập đoàn TKV tính đến hết tháng 12/2015 88
Bảng 2.11 - Hệ số khả năng thanh toán toàn Tập đoàn TKV giai đoạn 2008- 2015 89
Bảng 2.12 - Hệ số tự tài trợ toàn Tập đoàn TKV và Công ty mẹ TKV 91
Bảng 2.13 - Bảng tính hệ số bảo toàn vốn CSH toàn Tập đoàn TKV giai đoạn 2008 - 2015 92
Bảng 2.14 - Tình hình lao động của Tập đoàn TKV giai đoạn 2008 - 2015 94
Bảng 2.15 - Cơ cấu lao động theo ngành nghề của toàn tập đoàn TKV năm 2015 95
Bảng 2.16 - Tổng hợp đội ngũ cán bộ của tập đoàn TKV năm 2015 95
Bảng 2.17 - Cơ cấu, chất lượng đội ngũ CNKT năm 2015 của Tập đoàn TKV theo bậc thợ 97
Bảng 2.18 - Cơ cấu, chất lượng đội ngũ CNKT năm 2015 của tập đoàn TKV theo tuổi đời 97
Bảng 2.19 - Tình hình lao động nữ của Tập đoàn TKV giai đoạn 2008 - 2015 99
Bảng 2.20 - Tiền lương bình quân toàn Tập đoàn TKV giai đoạn 2008 - 2015 102
Bảng 2.21 -Tiền lương bình quân theo khu vực sản xuất của Tập đoàn TKV từ năm 2011 - 2015 102
Bảng 2.22 - Các khoản chi cho con người toàn tập đoàn TKV giai đoạn 2012 - 2015 103
Bảng 2.23 - Hiệu quả sử dụng lao động của Tập đoàn TKV giai đoạn 2008 - 2015 104 Bảng 2.24 - Tình hình NSLĐ theo sản lượng than tiêu thụ của Tập đoàn TKV giai đoạn 2008 - 2015 105
Bảng 2.25 - Tình hình tai nạn lao động từ 2001 - 2015 của Tập đoàn TKV 105
Bảng 2.26 - Tình hình nộp ngân sách nhà nước của tập đoàn TKV giai đoạn 2010 - 2015 107
Bảng 2.27 - Các khoản chi cho các hoạt động xã hội toàn tập đoàn TKV giai đoạn 2012 - 2015 108
Trang 8Bảng 2.28: Các khoản chi cho môi trường toàn tập đoàn TKV từ năm 2012 - 2015 112
Bảng 3.1 - Một số chỉ tiêu chủ yếu về SXKD giai đoạn đến 2030 của Tập đoàn TKV 140
Bảng 3.2 - Dự kiến trữ lượng than huy động vào khai thác của Tập đoàn TKV 142
Bảng 3.3 - Dự kiến trữ lượng khoáng sản huy động vào khai thác của Tập đoàn TKV 142
Bảng 3.4 - Dự kiến nhu cầu khoan thăm dò khoáng sản giai đoạn đến 2030 143
Bảng 3.5 - Dự kiến nhu cầu CNKT toàn Tập đoàn đến năm 2030 144
Bảng 3.6 - Dự kiến nhu cầu vốn đầu tư toàn Tập đoàn đến năm 2030 151
Bảng 3.7 - Tổng hợp giá trị trái phiếu doanh nghiệp các quốc gia trong khu vực tháng 12/2015 155
Bảng 3.8 - Chỉ số Z-Score của Tập đoàn TKV giai đoạn 2008-2015 178
Bảng 3.9 - Chỉ số Z-Score của Công ty mẹ Tập đoàn TKV giai đoạn 2008-2015 178
Bảng 3.10 - Tình hình trích lập các quỹ tập trung của tập đoàn TKV 185
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU
TT Tên biểu Trang
Biểu đồ 2.1 - Quy mô doanh thu và thu nhập của Tập đoàn TKV giai đoạn 2008 - 2015 70 Biểu đồ 2.2 - Quy mô vốn (Tài sản) của Toàn Tập đoàn và Công ty mẹ TKV giai
đoạn 2008 - 2015 73 Biểu đồ 2.3 - Tốc độ tăng trưởng vốn của Tập đoàn TKV giai đoạn 2008 - 2015 74 Biểu đồ 2.4 - Cơ cấu vốn của Toàn Tập đoàn TKV và công ty mẹ TKV giai đoạn
2008 -2015 75 Biểu đồ 2.5 - Xu hướng cơ cấu nợ phải trả của Toàn Tập đoàn TKV giai đoạn
2008 - 2015 76 Biểu đồ 2.6 - Tốc độ tăng trưởng của Tài sản Toàn Tập đoàn TKV giai đoạn 2008
- 2015 77 Biểu đồ 2.7 - Cơ cấu tài sản toàn Tập đoàn TKV và công ty mẹ TKV giai đoạn
2008 - 2015 78 Biểu đồ 2.8 - Xu hướng biến động trong cơ cấu TSNH toàn Tập đoàn TKV giai
đoạn 2008 - 2015 79 Biểu đồ 2.9 - Xu hướng biến động chi phí, doanh thu, lợi nhuận toàn tập đoàn
TKV giai đoạn 2008 - 2015 80 Biểu đồ 2.10 - Xu hướng biến động số vòng quay hàng tồn kho và số vòng quay
các khoản phải thu toàn tập đoàn TKV trong giai đoạn 2008 - 2015 81 Biểu đồ 2.11 - Diễn biến lợi nhuận sau thuế của Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt
Nam giai đoạn 2008 - 2015 83 Biểu đồ 2.12 - Xu hướng biến động ROA, ROE của Tập đoàn Than - Khoáng sản
Việt Nam giai đoạn 2008 - 2015 83 Biểu đồ 2.13 - Hệ số Nợ phải trả trên Vốn chủ sở hữu (DER) toàn Tập đoàn và
Công ty mẹ TKV giai đoạn 2008 - 2015 85 Biểu đồ 2.14 - Xu hướng biến động của các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán
của Tập đoàn Vinacomin giai đoạn 2008 - 2015 89 Biểu đồ 2.15 - Quy mô quỹ dự phòng tài chính của tập đoàn TKV và công ty mẹ
TKV giai đoạn 2008 - 2015 90 Biểu đồ 2.16 - Xu hướng biến động của chỉ tiêu hệ số tự tài trợ của toàn Tập đoàn
TKV và Công ty mẹ giai đoạn 2008 - 2015 91 Biểu đồ 2.17 - Xu hướng biến động của mức độ bảo toàn vốn chủ sở hữu Tập
đoàn TKV và công ty mẹ tập đoàn TKV giai đoạn 2008 - 2015 92 Biểu đồ 2.18 - Quy mô quỹ đầu tư phát triển toàn tập đoàn TKV và công ty mẹ
TKV giai đoạn 2008 - 2015 93 Biểu đồ 2.19 - Hệ số tự tài trợ từ lợi nhuận để lại toàn tập đoàn TKV và công ty
mẹ TKV giai đoạn 2008 - 2015 93 Biểu đồ 2.20 - Tỷ lệ tăng trưởng bền vững toàn tập đoàn TKV và công ty mẹ TKV
giai đoạn 2008 - 2015 94 Biểu đồ 3.1 - Giá trị trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam qua các năm 155
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Khi kinh tế xã hội phát triển ở mức độ ngày càng cao sẽ càng tạo ra nhiều của cải để thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người, song mặt trái của sự phát triển này là những tác động tiêu cực đến môi trường và xã hội, như: gây ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, làm suy thoái hoặc hủy hoại đa dạng sinh học và hệ sinh thái, làm phát sinh nhiều tác nhân gây biến đổi khí hậu, phân hóa giàu nghèo,… cũng ngày càng gia tăng Những tác động này làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, ảnh hưởng đến sự phát triển xã hội trong tương lai Đứng trước thực
tế đó, phương cách tốt nhất là phải tìm ra con đường phát triển mà trong đó các vấn
đề kinh tế, xã hội, tài nguyên và môi trường được xem xét một cách tổng thể, đó là phát triển bền vững
Môi trường và phát triển bền vững (PTBV) đang là vấn đề được quan tâm ở mọi quốc gia và mọi ngành nghề Chương trình nghị sự 21 với sự tham gia của 179 nước tại Hội nghị Thượng đỉnh Toàn cầu về môi trường và phát triển năm 1992 đã xây dựng một khung kế hoạch chung để thiết kế các chương trình hành động nhằm đạt được sự phát triển bền vững trong thế kỷ 21 Chương trình này nêu lên những thách thức trong thế kỷ 21; khẳng định nguyện vọng của toàn nhân loại phát triển theo một cách thức đảm bảo kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, công bằng xã hội, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường Chương trình nghị sự 21 cũng yêu cầu các nước phải xây dựng chiến lược, kế hoạch quốc gia, đưa ra những chính sách và giải pháp cơ bản để tiến tới phát triển bền vững
Ở nước ta, ngày 17/8/2004 Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 153/2004/TTg ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) Tiếp theo một số ngành và địa phương đã xây dựng định hướng chiến lược PTBV của mình, trong đó có Bộ Công Thương đã xây dựng “Định hướng chiến lược PTBV ngành công nghiệp Việt Nam đến năm 2020” Có thể nói PTBV là một đòi hỏi tất yếu đối với mọi ngành nghề, mọi tổ chức kinh tế nhằm tránh nguy cơ tụt hậu và bất ổn
Nhận thức được điều này, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (Tập đoàn TKV), một Tập đoàn kinh tế lớn của Việt Nam, trong quá trình hoạt động đã chú trọng phát triển theo hướng bền vững, nhờ đó Tập đoàn đã phần nào khẳng định được vị thế quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Mặc dù vậy, hiện trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn còn tồn tại khá nhiều bất cập, cụ thể là tình trạng suy giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh; hoạt động khai thác, chế biến gây ra nhiều tác động xấu tới môi trường sinh thái và xã hội Những biểu hiện này cho thấy trong những năm vừa qua, Tập đoàn TKV chỉ mới chú trọng các lợi ích kinh tế trước mắt, chưa thực sự quan tâm đến các lợi ích lâu dài, đặc biệt là các lợi ích môi trường và
xã hội cũng như lợi ích của các thế hệ tương lai, cho thấy tính thiếu bền vững trong quá trình phát triển của Tập đoàn Để giải quyết những bất cập này nhằm hướng đến sự PTBV của Tập đoàn TKV đòi hỏi phải sử dụng đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó giải
Trang 11pháp tài chính đóng vai trò nền tảng cho quá trình PTBV của Tập đoàn Vì vậy, việc
xem xét, đề xuất một số giải pháp, tập trung vào các giải pháp tài chính nhằm PTBV
Tập đoàn Công nghiệp Than - khoáng sản Việt Nam là cần thiết và phù hợp
Từ trước đến nay, đã có nhiều đề tài và bài báo nghiên cứu về vấn đề phát triển bền vững, nhưng nghiên cứu vấn đề PTBV TĐKT và giải pháp PTBV TĐKT nói chung, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản nói riêng thì chưa có đề tài nào thực hiện Chính
vì vậy, NCS đã lựa chọn đề tài nghiên cứu LATS “Giải pháp phát triển bền vững Tập
đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam’’ với mong muốn có thể nghiên cứu,
đề xuất được một số giải pháp, trong đó tập trung vào các giải pháp tài chính có tính khả
thi nhằm thực hiện mục tiêu PTBV Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
trong bối cảnh PTBV chung của quốc gia và quốc tế
2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Luận án
2.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới
2.1.1 Các nghiên cứu về phát triển bền vững nói chung
(1) Thuật ngữ phát triển bền vững (PTBV) liên tục xuất hiện trong các công trình nghiên cứu của các học giả phương Tây vào đầu những năm 70 như Barry Cômmner, Herman Daily, Amory Lovins [3], [4], [39] Các học giả tiếp sau tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về khái niệm PTBV trong các tác phẩm của mình như Maurice Strong (1972), Ignacy Sachs (1975)[42], và được đề cập toàn diện nhất trong công trình của Lester Brown [47] theo đó, một xã hội bền vững kéo theo dân số ổn định, bảo vệ và sử dụng khôn ngoan đất đai và tài nguyên được tái tạo, đặc biệt là trong lĩnh vực năng lượng
Tuy nhiên phải đến năm 1987, khái niệm PTBV mới được phổ biến rộng rãi nhờ Báo cáo Brundtland của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là
Ủy ban Brundtland) của Liên Hiệp Quốc, tại đó nêu rõ: "PTBV là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau", cụ thể hơn là: Phát triển bền vững phải bảo đảm có
sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ
Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường Qua các bản tuyên bố quan trọng, khái niệm này tiếp tục mở rộng thêm và nội hàm của nó không chỉ dừng lại ở nhân tố sinh thái mà còn đi vào các nhân tố xã hội, con người, nó hàm chứa sự bình đẳng giữa những nước giàu
và nghèo, giữa các thế hệ
Dựa vào nền tảng PTBV theo báo cáo Brundtland, các nhà kinh tế học đã tập trung nhiều vào vấn đề PTBV Barbier và Markandya (1990) [114] đã tổng hợp các lý thuyết và chia các định nghĩa thành hai nhóm Một là định nghĩa rộng, theo đó sự bền vững liên quan đến ba khía cạnh: kinh tế, môi trường tự nhiên và xã hội Hai là định nghĩa hẹp: phát triển bền vững về môi trường, nghĩa là khai thác một cách tối ưu tài nguyên thiên nhiên theo thời gian Từ đó hai học giả này đã xây dựng mô hình tăng trưởng trong đó đưa vào các yếu tố tài nguyên thiên nhiên để có thể tính toán mức khai thác tối ưu theo nghĩa bền vững về môi trường
Trang 12Một số học giả như Pearce và Turner [132] tiếp cận khái niệm PTBV là phải duy trì nguyên trạng nguồn vốn tài nguyên thiên nhiên, tức là giữ nguyên lượng tài nguyên ở dạng vật chất, hoặc theo giá trị thực và điều này sẽ cho phép các thế hệ sau cũng có thể tiếp cận nguồn tài nguyên này Với cách tiếp cận này, các tác giả khẳng định tài nguyên cũng là một loại vốn, và để PTBV phải biết tính toán và khai thác tối
ưu để duy trì giá trị tài nguyên cho thế hệ tương lai Cũng đồng quan điểm PTBV phải gắn liền với việc sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, Daly (1990)
[119] đã đề ra bốn nguyên tắc để đảm bảo phát triển bền vững: Một là, cần phải hạn
chế quy mô tiêu dùng của con người đến mức, nếu không phải là tối ưu, thì cũng phải
trong giới hạn cho phép của sức tải của môi trường (carrying capacity); Hai là, sự
tiến bộ công nghệ cần phải tập trung nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tài nguyên chứ
không phải gia tăng lượng tài nguyên được sử dụng; Ba là, đối với tài nguyên có thể
tái sinh, có hai điều kiện đảm bảo phát triển bền vững: (1) mức khai thác phải bằng
mức tái sinh; (2) mức phát thải phải bằng với khả năng hấp thu của môi trường; Bốn
là, đối với tài nguyên không thể tái sinh, cần phải duy trì mức tăng trưởng bằng với
mức tái tạo của các loại tài nguyên có thể tái sinh thay thế Quan điểm này cho thấy PTBV được xem xét gắn liền với việc sử dụng hợp lý tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên hữu hạn và việc bảo vệ môi trường
Để cụ thể hóa hơn về vấn đề PTBV, từ sau báo cáo Brundtland (1987), tổ chức Liên Hiệp Quốc đã triệu tập hai hội nghị quan trọng dành cho vấn đề PTBV: Hội nghị thứ nhất diễn ra năm 1992 tại Rio de Janeiro gọi là Hội nghị Thượng đỉnh về Trái đất (Earth Summit) đã chính thức hóa sự đồng lòng thỏa thuận của các nước hội viên Liên Hiệp Quốc về một chương trình nghị sự PTBV gọi là Agenda 21 (Action Plan for Sustainable Development for the 21st Century) với sự tham gia của 179 quốc gia trên toàn thế giới Chương trình nêu lên những thách thức trong thế kỷ 21, khẳng định nguyện vọng của toàn nhân loại là phát triển theo một cách thức đảm bảo kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, công bằng xã hội, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, đồng thời cũng yêu cầu các nước phải xây dựng chiến lược, kế hoạch quốc gia, những chính sách và giải pháp cơ bản để tiến tới PTBV Nội dung của chương trình gồm 4 phần chính: (1) Những khía cạnh xã hội và kinh tế của sự phát triển (như đói nghèo, dân số, sức khỏe, mô hình tiêu dùng, định cư); (2) Bảo tồn và quản lý các nguồn tài nguyên; (3) Tăng cường vai trò của các nhóm xã hội chính; (4) Những phương tiện để thực hiện (tài chính, công nghệ, khoa học, cơ chế hợp tác, thông tin) Bước tiến mới của hội nghị này là xây dựng được một thông điệp rõ ràng cho tất cả các quốc gia “PTBV là đẩy mạnh sự hòa hợp kinh tế, phát triển xã hội cùng với bảo vệ môi trường”
Hội nghị thứ hai diễn ra vào năm 2002 tại Johannesburg, Cộng hòa Nam Phi với tên gọi là “Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững” Hội nghị này có
sự tham gia của các nhà lãnh đạo cũng như các chuyên gia về kinh tế, xã hội và môi trường của gần 200 quốc gia, đã tổng kết lại kế hoạch hành động về PTBV 10 năm qua và đưa ra những mục tiêu cho PTBV, bao gồm xóa nghèo đói, phát triển những sản phẩm tái sinh hoặc thân thiện với môi trường nhằm thay thế các sản phẩm gây ô
Trang 13nhiễm, bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên Hội nghị cũng đề cập tới chủ đề toàn cầu hóa gắn với các vấn đề liên quan tới sức khỏe và phát triển Cụ thể mục tiêu PTBV có thể tùy thuộc vào từng hoàn cảnh khác nhau, nhưng mọi sự phát
triển đều xoay quanh 3 thành tố chính, đó là: Môi trường bền vững - Kinh tế bền
vững - Xã hội bền vững Điểm mới hơn ở hội nghị này là đã luận giải rõ hơn biểu hiện
PTBV ở 3 khía cạnh Kinh tế - Xã hội - Môi trường, trong đó kinh tế bền vững là phải
có sự phát triển của hệ thống kinh tế; xã hội bền vững là phải chú trọng vào phát triển
sự công bằng, để mọi người đều có cơ hội phát triển tiềm năng bản thân và có điều kiện sống chấp nhận được; môi trường bền vững là phải duy trì mức độ khai thác tài nguyên ở một giới hạn nhất định để có thể hỗ trợ điều kiện sống của con người (2) Nhiều học giả khác cũng nghiên cứu về PTBV trong các công trình nghiên cứu của họ:
Trong tác phẩm “Ta cần có kiến thức gì để phát triển bền vững”, Stephen Viederman cho rằng bền vững “không phải là vấn đề kỹ thuật cần giải quyết” mà là
“một tầm nhìn vào tương lai”, là “một lộ trình” với “tập hợp các giá trị và những nguyên tắc mang tính luận lý và đạo đức để hướng dẫn cho hành động” [74] Theo tác giả, để phát triển bền vững cần tập trung vào các vấn đề sau: chất lượng của các hành động, sử dụng cách tiếp cận hệ thống, quan tâm rõ ràng đến thế hệ tương lai, quan tâm đến tính bền vững và công bằng, tính pha tạp và tính không liên tục
Còn trong tác phẩm “Sự phát triển đích thực có phải là phát triển bền vững không”, tác giả Denis Goulet [32] cho rằng sự phát triển bền vững bao hàm bốn khía cạnh: kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa Sự vững chắc về chính trị, xã hội và văn hóa đảm bảo cho tất cả các thành viên trong xã hội đều được hưởng quyền tự do, nhân quyền và được bảo vệ, định hướng cho hình thức tăng trưởng kinh tế mà sản phẩm sản xuất tập trung vào những nhu cầu cơ bản, tạo công ăn việc làm
Trong tác phẩm “Cẩm nang về một nền kinh tế xanh”, David Pearce và một số học giả khác khẳng định phát triển bền vững bao gồm ba yếu tố: (1) Giá trị của môi trường; (2) Sự bền vững của phát triển kinh tế; và (3) Sự bình đẳng giữa và trong các thế hệ [31] Như vậy, quan niệm này đã vượt ra khỏi khía cạnh môi trường thường được đề cập nhiều khi nói đến PTBV để khẳng định rằng PTBV ngoài giá trị môi trường còn có PTBV kinh tế và sự bình đẳng giữa các thế hệ cũng như trong cùng một thế hệ
Một khía cạnh khác về PTBV được đề cập đến trong tác phẩm “Bền vững là một điều khoa trương hay là một thực tế” của tác giả David Munro thì phát triển bền vững “là một quá trình tiếp diễn”, “có tính lặp đi lặp lại”, “thông qua đó kinh nghiệm trong việc quản lý các hệ thống phức hợp được tích lũy lại, được đánh giá và được vận dụng” PTBV là một tổ hợp các hoạt động có thể giúp cải thiện được các điều kiện cho con người theo cách thức sao cho có thể duy trì được sự cải thiện đó [30] Như vậy, điểm nhấn quan trọng nhất của tác phẩm này là PTBV phải là một quá trình
PTBV cũng được tiếp cận trong từng chuyên ngành, lĩnh vực Theo tác phẩm
“thế giới bền vững” của tác giả Thaddeus C Trzyna, PTBV đòi hỏi phải có sự xuyên suốt nhiều chuyên ngành, lĩnh vực, bộ môn Nó buộc ta phải vươn ra khỏi phương
Trang 14pháp tư duy bó hẹp trong từng lĩnh vực trước đây và phải xem xét trong mối tương quan giữa các lĩnh vực sinh thái, kinh tế, xã hội [88] Với công trình nghiên cứu này, PTBV đã được mở rộng ở việc xem xét trên nhiều lĩnh vực, chuyên ngành khác nhau
2.1.2 Nghiên cứu về phát triển bền vững đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
(1) Bộ tiêu chí Dow Jones: Bộ tiêu chí Dow Jones được công bố vào năm 1999
là bộ tiêu chí đầu tiên trên thế giới được thiết lập nhằm đánh giá thành tích doanh nghiệp trên ba thành tố chính của PTBV là kinh tế, môi trường và xã hội Mỗi thành
tố này được đánh giá thông qua các chỉ tiêu với các trọng số khác nhau:
- Về kinh tế, bộ chỉ tiêu này yêu cầu đánh giá theo các chỉ tiêu: Qui tắc ứng xử/ tuân theo luật lệ/hối lộ - đút lót (trọng số 5,5%); Quản trị doanh nghiệp (trọng số 6,0%); Quản trị rủi ro và khủng hoảng (trọng số 6,0%) và các chỉ tiêu riêng của ngành nghề
- Về môi trường, doanh nghiệp phải có thành tích về môi trường (trọng số 7,0%); có bản báo cáo về môi trường (trọng số 3,0%) và tùy theo ngành nghề cũng có các chỉ tiêu riêng của ngành nghề
- Về xã hội đánh giá qua các chỉ tiêu hoạt động từ thiện (trọng số 3,5%); ứng dụng các qui tắc sử dụng lao động của quốc gia và quốc tế (trọng số 5,0%); việc phát triển vốn con người (trọng số 5,5%); có báo cáo về hoạt động xã hội (trọng số 3,0%); khả năng thu hút (trọng số 5,5%) và các chỉ tiêu riêng của ngành nghề
Các chỉ tiêu trên được thể hiện bằng các câu hỏi cụ thể để đo lường và người đứng đầu doanh nghiệp sẽ phải cung cấp câu trả lời Chẳng hạn đối với thành tích về môi trường, doanh nghiệp sẽ cho biết trong năm qua hoạt động sản xuất và kinh doanh của họ đã thải bao nhiêu lượng khí CO2, lượng nước sạch đã sử dụng, tổng lượng các loại năng lượng (điện, xăng dầu…) đã sử dụng, lượng rác thải Doanh nghiệp cũng phải giải trình về chiến lược của mình trong tương lai xem có giảm thiểu các chỉ số trên hay không Về khía cạnh xã hội, doanh nghiệp sẽ phải cho biết có sự phân biệt đối xử về giới tính trong vấn đề trả lương hay không (lương trung bình của lao động nam và lao động nữ), tỷ lệ nữ đảm trách các trách nhiệm lãnh đạo, vấn đề đảm bảo sức khỏe và an toàn cho người lao động, tổng kinh phí mà doanh nghiệp đã dùng cho các hoạt động từ thiện
(2) Bộ tiêu chí GRI: Bộ tiêu chí GRI được thiết lập vào năm 2002, cho đến nay
đang được coi là bộ tiêu chí đầy đủ và rõ ràng nhất để đánh giá PTBV doanh nghiệp
Bộ tiêu chí này vẫn xoay quanh ba thành tố chính của phát triển bền vững giống như
bộ tiêu chí Dow Jones nhưng được cụ thể hóa hơn, bao gồm các chỉ tiêu về kinh tế (những tác động kinh tế trực tiếp của doanh nghiệp; sự diện diện trên thị trường; những tác động kinh tế gián tiếp), môi trường (nguyên vật liệu; năng lượng; nước sạch; đa dạng sinh học; rác thải; sản phẩm và dịch vụ; vận tải), lao động (nhân công; quản lý các mối quan hệ lao động; sức khỏe và an toàn; đào tạo và giáo dục; sự đa dạng và cơ hội), quyền con người (Chiến lược và quản lý; không phân biệt đối xử; quyền tự do lập nhóm; lao động trẻ em; lao động cưỡng bức; việc tuân thủ các qui tắc lao động và an toàn; tuân thủ luật lệ địa phương), xã hội (Cộng đồng; hối lộ và tham nhũng; các đóng góp về mặt hành chính; cạnh tranh và giá cả), sản phẩm có trách
Trang 15nhiệm (Sức khỏe và an toàn của người tiêu dùng; sản phẩm và các dịch vụ; quảng cáo; tôn trọng sự riêng tư) Bộ tiêu chí GRI bao gồm rất nhiều chỉ tiêu cụ thể, nhưng không đánh giá theo các trọng số như bộ chỉ tiêu Dow Jones Về phạm vi áp dụng cũng rộng hơn, nó được áp dụng cho các doanh nghiệp và tổ chức thuộc mọi quy mô
và ngành nghề khác nhau chứ không chỉ với doanh nghiệp có quy mô lớn Tính linh hoạt còn thể hiện ở việc doanh nghiệp có thể chọn các lĩnh vực để báo cáo tùy theo mức độ liên quan tới hoạt động của doanh nghiệp mình Rõ ràng là theo bộ tiêu chí này, để tăng trưởng và phát triển bền vững, ngoài nguồn lực tài chính thì nguồn lực
xã hội và các nguồn lực tự nhiên là một yếu tố quan trọng
(3) Một số học giả nghiên cứu sâu hơn về PTBV trên giác độ kinh tế - tài chính như Carl - Jonhan Lindgren cho rằng một tổ chức được coi là lành mạnh hay phát triển bền vững khi khả năng tài chính và hoạt động của tổ chức đó đạt tới hiệu quả nhất định để có thể tồn tại, chịu đựng và chống đỡ các tác động bất lợi của môi trường bên ngoài Một doanh nghiệp có thể đảm bảo được khả năng thanh toán những khoản nợ tại mọi thời điểm xác định và không gây ra những tác động tiêu cực cho nền kinh tế và cộng đồng dù có những tác động từ các diễn biến bất lợi của nền kinh
tế - xã hội là một doanh nghiệp lành mạnh hay phát triển bền vững.[117]
(4) Trong báo cáo “Banking on sustainability report” của Tập đoàn Tài chính quốc tế - IFC (thành viên của nhóm Ngân hàng Thế giới WB), sự bền vững của một
tổ chức được định nghĩa là quá trình tồn tại lâu dài với hoạt động cung cấp các dịch
vụ và sản phẩm cho khách hàng nhưng phải đảm bảo thúc đẩy sự phát triển của kinh
tế, bảo vệ môi trường và tạo ra sự công bằng cho xã hội, muốn vậy, phải đảm bảo cung cấp vốn và các giải pháp quản lý rủi ro cho các dự án cũng như là các hoạt động kinh doanh nhằm thúc đẩy hoặc không gây trở ngại đến sự thịnh vượng, bảo vệ môi trường và tạo sự công bằng cho xã hội [128]
(5) Trong tác phẩm “The Balance Scorecard”, tác giả Pau R Niven cho rằng PTBV là sự phát triển và cân bằng của bốn nhóm yếu tố cấu thành một doanh nghiệp hay bất cứ một tổ chức nào, đó là: khách hàng, các quy trình nội bộ, đào tạo và phát triển nhân viên và khía cạnh tài chính [55]
2.1.3 Các nghiên cứu về phát triển bền vững ngành công nghiệp khai khoáng
(1) Một số tác giả của Trung Quốc: Wangxiaomei và Zang GuiHua “Phát triển bền vững khai thác than tỉnh Hà Nam”; một số tác giả người Australian: FJ Van Schagen (2008): “Nghiên cứu Than trong phát triển bền vững (2001-2008)” [124] và LiLia.W.Gurba, Robin Evan (2005) “Sử dụng nước và phát triển bền vững trong khai thác mỏ than” [136] Ngoài ra còn có các nghiên cứu của một số tác giả người Hà Lan, Inđônêxia …
Hầu hết các tác giả này đều nghiên cứu và đánh giá PTBV cho một địa phương (ví dụ như tác giả người Trung quốc: Nghiên cứu phát triển khai thác than của tỉnh
Hà Nam); hoặc đánh giá PTBV của một lĩnh vực theo yêu cầu tiêu chuẩn của Hội nghị Môi trường toàn cầu Rio de Janerio (6/1992) về PTBV như tác giả người Australian: Frank Jvan Schangen và LiLia.W.Gurba, Robin Evan (2005) Các công trình nghiên cứu chưa đi sâu nghiên cứu về nội dung PTBV và nhất là nghiên cứu nội
Trang 16dung PTBV trong các Tập đoàn Than - Khoáng sản và giải pháp nói chung, giải pháp tài chính nói riêng cho PTBV các Tập đoàn này tại từng quốc gia
(2) Một số tài liệu của tổ chức CIAB- IEA 2006 (Hội đồng cố vấn của tổ chức năng lượng nguyên tử quốc tế) “Nghiên cứu phát triển bền vững trong ngành công nghiệp than” [118]; của chính phủ Úc (Australian Government Department of Resources, Energy and Tourism, 2011): “Hướng dẫn thực hành cơ bản phát triển bền vững trong khai thác mỏ” [113]; và của tác giả người Côlômbia (Edwin Antonio Malagón Orjuela, May 15, 2012): “Làm thế nào khai thác mỏ bền vững ở Colombia” [121] có nghiên cứu cụ thể về phát triển bền vững ngành công nghiệp mỏ than của nước Úc và Côlômbia, trên cơ sở khái niệm về PTBV của thế giới áp dụng cụ thể vào nước Úc hoặc Côlômbia, riêng tài liệu: “Hướng dẫn thực hành cơ bản phát triển bền vững trong khai thác mỏ” của Chính phủ Úc đề cập đến nội dung và nguyên tắc PTBV ngành công nghiệp Than của nước Úc trên 5 lĩnh vực: An toàn, Môi trường, Kinh tế, Hiệu quả và Cộng đồng; trong đó nhấn mạnh bên cạnh việc khai thác than có hiệu quả, đáp ứng được các yêu cầu về kinh tế cần chú trọng nhiều đến môi trường,
an toàn và xây dựng cộng đồng
(3) Tại các diễn đàn, hội nghị, hội thảo quốc tế về mỏ nói chung và về than nói riêng từ năm 1997 (như Hội nghị quốc tế về than tại Thượng Hải - Trung Quốc, 1997; Hội nghị mỏ của APEC tại Pearth - Australian , năm 2006; Hội nghị thế giới về than tại Bắc Kinh - Trung Quốc, 2007; Hội nghị mỏ thế giới tại Kracốp, Ba Lan, 2009; Hội nghị mỏ thế giới tại Istanbul - Thổ Nhĩ Kỳ, năm 2011; Hội nghị mỏ thế giới tại Montreal - Canada, năm 2013, v.v.) chỉ nghiên cứu về PTBV ngành công nghiệp Than - Khoáng sản, đặc biệt là Than trên phạm vi quốc gia, chưa có công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài nào đề cập cụ thể đến PTBV Tập đoàn Than - Khoáng sản và giải pháp, đặc biệt là giải pháp tài chính cho vấn đề này
2.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước
Mặc dù xuất hiện ở Việt Nam khá muộn nhưng những nghiên cứu về PTBV lại sớm được triển khai và thể hiện ở nhiều chương trình quốc gia với các cấp độ khác nhau
Để triển khai và thực hiện chương trình PTBV quốc gia, Việt Nam đã thành lập Hội đồng Phát triển Bền vững Quốc gia theo Quyết định của Thủ tướng Chính Phủ số 1032/QĐ-TTg ngày 27/9/2005, thành lập văn phòng Phát triển Bền vững theo Quyết định số 685/QĐ-BKH, ngày 28/06/2003 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đến nay, Việt Nam đã hoàn thành việc xây dựng và đang triển khai thực hiện chương trình Nghị sự quốc gia (Agenda 21), Chiến lược PTBV Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 và Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011 - 2020, tầm nhìn đến năm
2050 Các tỉnh, thành phố và các ngành đã xây dựng và phê duyệt chương trình Nghị
sự 21 cấp ngành và địa phương; đã xây dựng và triển khai quy chế dân chủ nhằm phát huy năng lực sáng tạo của cộng đồng dân cư, thực hiện tiến bộ công bằng trong xã hội Bên cạnh các chương trình quốc gia, cũng có rất nhiều nghiên cứu độc lập về vấn đề PTBV Các nghiên cứu này có thể chia thành các nhóm sau:
2.2.1 Nghiên cứu về PTBV nói chung hoặc PTBV cho một số lĩnh vực cụ thể
Các nghiên cứu thuộc nhóm này tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất
về PTBV trên phạm vi quốc gia và quốc tế như khái niệm, các nội dung cơ bản của
Trang 17PTBV, các yếu tố thể hiện sự PTBV, hệ thống chỉ tiêu và tiêu chí đánh giá PTBV,… Hầu như các công trình đều đề cập đến ba khía cạnh chủ yếu của PTBV là PTBV kinh tế, PTBV xã hội và PTBV môi trường, một số công trình đi sâu nghiên cứu vấn
đề PTBV và giải pháp tài chính cho PTBV của một lĩnh vực cụ thể như nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thùy Linh,… Những nghiên cứu này sẽ là những nền tảng rất quan trọng cho việc nghiên cứu vấn đề PTBV cho từng đối tượng cụ thể, trong đó có TĐKT Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu là:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu khoa học
(1) Đề tài cấp Bộ “Phát triển bền vững từ quan niệm đến hành động” của PGS.TS Hà Huy Thành (chủ nhiệm), Viện nghiên cứu Môi trường và PTBV là cơ quan chủ trì thực hiện Đề tài đã nghiên cứu tổng quan nội dung cơ bản và quá trình hình thành và phát triển của khái niệm, khuôn khổ, chương trình hành động, chỉ tiêu PTBV của Liên hợp quốc và các quốc gia, khu vực trên thế giới Trên cơ sở đó, rút ra những bài học về PTBV phù hợp với điều kiện của Việt Nam
(2) Công trình nghiên cứu "Tiến tới môi trường bền vững” (1995) của Trung tâm tài nguyên và môi trường, Đại học Tổng hợp Hà Nội Công trình này đã tiếp thu khái niệm PTBV theo báo cáo Brundtland như một tiến trình đòi hỏi đồng thời trên bốn lĩnh vực: Bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt nhân văn, bền vững về mặt môi trường, bền vững về mặt kỹ thuật
(3) Công trình nghiên cứu "Nghiên cứu xây dựng tiêu chí phát triển bền vững cấp quốc gia ở Việt Nam - giai đoạn I” (2003) do Viện Môi trường và phát triển bền vững, Hội Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật Việt Nam tiến hành Trên cơ sở tham khảo bộ tiêu chí phát triển bền vững của Brundtland và kinh nghiệm các nước: Trung Quốc, Anh, Mỹ, các tác giả đã đưa ra các tiêu chí cụ thể về PTBV đối với một quốc gia
là bền vững kinh tế, bền vững xã hội và bền vững môi trường Đồng thời cũng đề xuất một số phương án lựa chọn bộ tiêu chí PTBV cho Việt Nam
(4) Công trình nghiên cứu "Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững” (2000) do Lưu Đức Hải và cộng sự tiến hành đã trình bày hệ thống quan điểm lý thuyết và hành động quản lý môi trường cho PTBV Công trình này đã xác định PTBV qua các tiêu chí: bền vững kinh tế, bền vững môi trường, bền vững văn hóa, đã tổng quan nhiều mô hình PTBV như mô hình 3 vòng tròn kinh kế, xã hội, môi trường giao nhau của Jacobs và Sadler (1990), mô hình tương tác đa lĩnh vực kinh tế, chính trị, hành chính, công nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội của WCED (1987), mô hình liên
hệ thống kinh tế, xã hội, sinh thái của Villen (1990), mô hình 3 nhóm mục tiêu kinh
tế, xã hội, môi trường của Worl Bank
(5) Công trình nghiên cứu "Đổi mới chính sách xã hội - Luận cứ và giải pháp" (1997) của Phạm Xuân Nam Trong công trình này, tác giả làm rõ 5 yếu tố thể hiện quan điểm PTBV: (1) Phát triển xã hội; (2) Phát triển kinh tế; (3) Bảo vệ môi trường; (4) Phát triển chính trị, tinh thần, trí tuệ; (5) chỉ báo quốc tế về phát triển
(6) Công trình nghiên cứu “Những vấn đề kinh tế - xã hội và văn hoá trong phát triển bền vững”(1993) của Nguyễn Mạnh Huấn, Hoàng Đình Phu: PTBV là mô hình phát triển mới trên cơ sở ứng dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên
Trang 18nhiên để phục vụ cho nhu cầu của con người thế hệ hiện nay mà không làm hại cho thế hệ mai sau
Thứ hai, các bài báo viết trên các báo, tạp chí
(1) Bài báo “Phát triển bền vững - Những vấn đề lý luận” của PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Hoài đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Tài chính - Kế toán (2012) đã hệ thống một cách rất khoa học và dễ hiểu về những khái niệm PTBV theo các quan điểm khác nhau, nội dung và các yêu cầu của PTBV trên các giác độ kinh tế, xã hội và môi trường, từ đó phân tích những điều kiện cần thiết đảm bảo cho sự PTBV
(2) Bài báo của tác giả Bùi Đình Thanh đăng trên Tạp chí Xã hội học (2003) với tiêu đề "Xã hội học Việt Nam trước ngưỡng của thế kỷ XXI" tác giả cũng chỉ ra 7 hệ chỉ báo cơ bản về phát triển bền vững: Chỉ báo kinh tế, xã hội, môi trường, chính trị, tinh thần, trí tuệ, văn hoá, vai trò phụ nữ và chỉ báo quốc tế
(3) Bài báo “Nâng cao chất lượng phát triển bền vững ở Việt Nam giai đoạn 2011- 2015” của tác giả Thanh Tùng đăng trên Tạp chí Kinh tế và dự báo (2011) đề cập đến khái niệm PTBV và 19 thành tựu Việt Nam đã đạt được trong giai đoạn 2006-2010, từ đó đề xuất 8 giải pháp và nhiệm vụ nhằm thúc đẩy việc thực hiện PTBV ở Việt Nam trong thời gian tiếp theo, cụ thể là giai đoạn 2011-2015, tuy nhiên công trình nghiên cứu này cũng chỉ là những nghiên cứu về PTBV mang tính vĩ mô, chưa đi sâu vào đối tượng TĐKT và giải pháp, đặc biệt là giải pháp tài chính cho PTBV TĐKT
Thứ ba, Luận án tiến sĩ
(1) Luận án Tiến sĩ Kinh tế “Nghiên cứu thống kê đánh giá phát triển bền vững
ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Minh Thu (2013) - ĐH Kinh tế quốc dân Điểm đóng góp lớn nhất của luận án là tổng hợp một số hệ thống chỉ tiêu thống kê PTBV
đã có trên thế giới và tại Việt Nam, đề xuất được phương pháp luận cơ bản tính chỉ số tổng hợp PTBV cho Việt Nam trong từng giai đoạn phát triển gồm các công thức và cách xác định các yếu tố trong tính toán chỉ số riêng biệt, chỉ số thành phần và chỉ số tổng hợp phát triển bền vững Luận án cũng phân tích và đề xuất các biện pháp để đánh giá tốt hơn thực trạng PTBV của Việt Nam Rất dễ nhận thấy là công trình nghiên cứu này chỉ liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu thống kê, còn nghiên cứu PTBV TĐKT và giải pháp tài chính cho vấn đề này cũng chưa được đề cập đến (2) Luận án Tiến sĩ kinh tế “Giải pháp tài chính phát triển bền vững Thị trường chứng khoán Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thùy Linh” (2012) - Học viện tài chính: Công trình nghiên cứu này đề cập đến khái niệm, nội dung PTBV thị trường chứng khoán, hệ thống các tiêu chí đánh giá mức độ PTBV thị trường chứng khoán, đánh giá thực trạng PTBV thị trường chứng khoán, từ đó đề xuất một số giải pháp PTBV thị trường chứng khoán Việt nam giai đoạn 2012 - 2020 như giải pháp thu hút quản lý vốn đầu tư nước ngoài, giải pháp tài chính đối với các công ty niêm yết, giải pháp tài chính đối với các trung gian tài chính trên thị trường chứng khoán, Tuy nhiên, công trình nghiên cứu này chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu PTBV thị trường chứng khoán và giải pháp tài chính cho vấn đề này, còn chưa đề cập đến PTBV Tập đoàn kinh tế và giải pháp tài chính cho PTBV Tập đoàn kinh tế, đây chính là “khoảng trống” mà NCS sẽ nghiên cứu trong luận án của mình
Trang 192.2.2 Các nghiên cứu về TĐKT và nâng cao năng lực quản trị tài chính nhằm PTBV
Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến TĐKT và những vấn đề nhằm nâng cao năng lực quản trị tài chính, nâng cao tính an toàn tài chính nhằm hướng đến PTBV Điểm nhấn mạnh của các công trình nghiên cứu thuộc nhóm này là đề cập đến vấn đề quản trị tài chính như là một yếu tố nền tảng để các TĐKT hướng đến sự PTBV Tiêu biểu có một số công trình sau:
(1) Công trình nghiên cứu “Quản trị rủi ro tài chính trong các Tập đoàn Kinh tế Nhà nước”, chủ biên PGS.TS Nguyễn Trọng Cơ, PGS.TS Nghiêm Thị Thà (2013): Các tác giả đề cập đến những vấn đề tổng quan về TĐKT Nhà nước, về thực trạng hoạt động kinh doanh và thực trạng quản trị rủi ro tài chính tại các TĐKT Nhà nước ở Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tài chính trong các TĐKT Nhà nước hiện nay Đây là những nền tảng để nâng cao tính an toàn tài chính, là cơ sở để TĐKT PTBV
(2) Các công trình nghiên cứu “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính của Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam” của TS Trần Đức Chính (2015, Học viện tài chính),
đề tài cấp học viện “ những vấn đề cơ bản về cơ chế quản lý tài chính của TĐKT” và
“ Đổi mới cơ cấu tài chính của các doanh nghiệp may thuộc Tập đoàn Dệt - May Việt Nam” của TS Bùi Văn Vần (2014, Học viện tài chính) đề cập đến những vấn đề cơ bản trong cơ chế quản lý tài chính của TĐKT, xem xét cụ thể hơn cho tập đoàn dầu khí quốc gia và tập đoàn dệt may, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính, đổi mới cơ cấu tài chính phù hợp nhằm nâng cao năng lực quản trị tài chính, hướng đến sự PTBV của các TĐKT, tuy nhiên cũng chưa đề cập đến PTBV TĐKT và giải pháp, đặc biệt là giải pháp tài chính cho vấn đề này
(3) Luận văn Thạc sĩ kinh tế “Hoàn thiện cơ chế quản lý vốn của Tổng công ty than Việt Nam theo mô hình Tập đoàn”, Trường Đại học Kinh tế quốc dân , tác giả Hoàng Thị Tố Oanh (2005): Công trình đề cập đến cơ chế quản lý vốn của Tập đoàn kinh doanh và của Tổng công ty Than, đánh giá thực trạng cơ chế quản lý vốn, từ đó
đề xuất cơ chế quản lý vốn của Tổng công ty than Việt Nam theo mô hình tập đoàn Công trình nghiên cứu này tuy đã đề cập đến vấn đề cơ bản nhất trong quản lý tài chính của TCT Than là quản lý vốn, tuy nhiên vấn đề nghiên cứu này ở giai đoạn trước khi hình thành TĐKT nên tính thời sự không cao, đồng thời cũng chưa đề cập trực tiếp đến vấn đề PTBV tại Tập đoàn
(4) Luận văn Thạc sĩ kinh tế “Phân tích và dự báo tài chính dài hạn cho Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam”, Học viện Tài chính, tác giả Trần Thị Hải Yến (2009): đề cập đến phương pháp phân tích tài chính và dự báo nhu cầu tài chính dài hạn trong doanh nghiệp, phân tích thực trạng công tác phân tích và dự báo tài chính dài hạn tại Tập đoàn công nghiệp Than - khoáng sản Việt nam, từ đó đề xuất một số biện pháp hoàn thiện công tác phân tích và dự báo tài chính tại Tập đoàn Công trình nghiên cứu này cũng mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu vấn đề phân tài chính và dự báo tài chính dài hạn tại Tập đoàn, còn chưa đề cập đến vấn đề PTBV Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản, đây là khoảng trống mà đề tài luận án của NCS có thể hướng đến
Trang 202.2.3 Các nghiên cứu về PTBV trong lĩnh vực Than - Khoáng sản
Riêng với vấn đề PTBV trong lĩnh vực than - khoáng sản tính cho đến nay có một số công trình nghiên cứu nổi bật:
(1) Đề tài “Nghiên cứu xây dựng bộ chỉ tiêu phát triển bền vững cho ngành công nghiệp Khai khoáng Việt Nam” do Liên hiệp các hội KHKT Việt Nam làm cơ quan chủ quản và Hội KH&CN Mỏ Việt Nam chủ trì, PGS.TS Nguyễn Cảnh Nam làm chủ nhiệm, thực hiện trong 2 năm 2009-2010 [50] Đề tài đã xây dựng bộ chỉ tiêu PTBV cho ngành công nghiệp khai khoáng Việt Nam; đề xuất các giải pháp để triển khai áp dụng bộ chỉ tiêu PTBV của ngành công nghiệp khai khoáng Việt Nam vào thực tiễn; đề xuất các kiến nghị đối với chiến lược phát triển các ngành khai khoáng Việt Nam đến năm 2025 đảm bảo tiêu chí PTBV
(2) Các công trình nghiên cứu “Bàn về mô hình phát triển bền vững ngành công nghiệp Khai khoáng Việt Nam”, Tuyển tập Hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ XIX, Hội Khoa học và Công nghệ mỏ Việt Nam, Hà Nội, tháng 11/ 2009 của tác giả Nguyễn Cảnh Nam, Đinh Văn Sơn,Vũ Thị Thu Hương [51]; “Định hướng PTBV ngành công nghiệp khai khoáng Việt Nam”, Tuyển tập Hội nghị khoa học mỏ Quốc
tế, Hạ Long - Quảng Ninh, 9/2010 của tác giả Nguyễn Cảnh Nam, Nguyễn Quang Tuyên [52] chủ yếu nghiên cứu mô hình PTBV và bộ chỉ tiêu PTBV của ngành khai thác Khoáng sản, định hướng PTBV ngành khai thác khoáng sản Việt Nam mà chưa
đề cập đến PTBV Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
(3) Công trình nghiên cứu “Phát triển bền vững công nghiệp than Việt Nam, triển vọng và thách thức” của tác giả Nguyễn Tiến Chỉnh - Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam tại Hội nghị Khoa học kỹ thuật mỏ Quốc tế - Hạ Long tháng 9/2010 [16] chủ yếu phân tích hiện trạng khai thác ở một số mỏ than và sản lượng khai thác từ năm 2006 đến 2010, đánh giá về tiềm năng tài nguyên than, so sánh cung cầu giai đoạn 2010 đến 2030 từ đó phân tích triển vọng và thách thức phát triển ngành công nghiệp Than trong tương lai, và trong kết luận để PTBV ngành than thì giá năng lượng phải thị trường hóa và có chính sách thuế phù hợp, cần cấp phép thăm dò và khai thác than cho TKV theo qui hoạch phù hợp với luật và mô hình quản
lý của Tập đoàn TKV, còn chưa đề cập đến nội dung PTBV và chỉ tiêu PTBV Tập đoàn TKV và giải pháp, nhất là giải pháp tài chính cho vấn đề này
(4) Đề tài “Nghiên cứu khai thác than với phát triển bền vững sông Hồng” của tác giả Phùng Mạnh Đắc - Viện Khoa học Công nghệ Mỏ chủ yếu đánh giá các yếu tố tác động đến khai thác than ở vùng đồng bằng Sông Hồng, và đề xuất các giải pháp khai thác đảm bảo khắc phục được những khó khăn bất cập trong triển khai dự án khai thác mỏ ở một vùng đồng bằng; công trình nghiên cứu “Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam: Thành tựu - bài học và kiến nghị” của tác giả Lê Minh Chuẩn (2014), Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia “Doanh nghiệp nhà nước: Thành công và những bài học đắt giá” [27] đề cập đến những thành quả, những điểm còn tồn tại, bài học và kiến nghị cho Tập đoàn TKV trong thời gian qua; công trình nghiên cứu “Chiến lược phát triển bền vững ngành than Việt Nam”, Tuyển tập Hội nghị than quốc tế, Bắc Kinh - Trung Quốc, 9/2007 [49] của tác giả Nguyễn Cảnh Nam làm rõ
Trang 21một số thông số chủ yếu trong chiến lược PTBV ngành than Việt Nam như trữ lượng, nguyên tắc PTBV, điều kiện PTBV ngành Than, mà chưa đề cập đến vấn đề PTBV Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
(5) Bài báo của Võ Kim Chi, Giảng viên trường ĐH KHXH &NV: "Phát triển bền vững và bảo vệ môi trường khai thác khoáng sản": trong bài báo tác giả đã đề cập đến khái niệm PTBV, phân tích thực tế khai thác khoáng sản hiện nay và đưa ra một
số kết luận: Việc sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên khoáng sản, sử dụng một cách hợp lý với hiệu quả cao nhất sẽ đảm bảo cho sự tăng trưởng nhanh và bền vững trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là một biện pháp quan trọng để đảm bảo sự PTBV nền kinh tế xã hội, đồng thời bảo vệ được môi trường sinh thái; cũng có nghĩa là để dành một phần tài nguyên khoáng sản cho các thế hệ kế tiếp sau này Công trình nghiên cứu này đề cập đến PTBV là phải có sự kế tiếp cho các thế hệ sau này, tuy nhiên PTBV liên quan đến đối tượng cụ thể là Tập đoàn Than - Khoáng sản và đề xuất giải pháp tài chính cho PTBV Tập đoàn chưa được đề cập đến
(6) Luận án Tiến sĩ Kinh tế “Nghiên cứu phát triển bền vững ngành dầu khí Việt Nam” của tác giả Đinh Văn Sơn (2011) - Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã hệ thống hóa được cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm thực tế về PTBV, vận dụng vào ngành dầu khí, đưa ra được các nội dung cơ bản về PTBV ngành dầu khí Việt Nam; phân tích, đánh giá quá trình PTBV ngành dầu khí Việt Nam theo các khía cạnh: kinh tế,
xã hội và môi trường; từ đó đưa ra năm nguyên tắc và ba nội dung PTBV ngành dầu khí Việt Nam, đề xuất bộ chỉ tiêu PTBV ngành dầu khí Việt Nam với 32 chỉ tiêu gồm
14 chỉ tiêu kinh tế, 8 chỉ tiêu xã hội, 6 chỉ tiêu môi trường và 4 chỉ tiêu về thể chế, bộ chỉ tiêu này được xây dựng theo nguyên tắc mở để có thể bổ sung, cập nhật theo từng giai đoạn phát triển Đóng góp lớn nhất của công trình nghiên cứu này là đã đề cập đến vấn đề PTBV cho đối tượng cụ thể là ngành dầu khí Việt Nam, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở phạm vi ngành và xây dựng bộ chỉ tiêu PTBV ngành, còn liên quan đến đối tượng cụ thể hơn là PTBV TĐKT và giải pháp, nhất là giải pháp tài chính cho vấn
đề này chưa được đề cập đến
(7) Luận án Tiến sĩ Kinh tế “Nghiên cứu phát triển bền vững ngành Than Việt Nam” của tác giả Nguyễn Công Quang (2016) - Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về PTBV làm cơ sở áp dụng nghiên cứu các nội dung PTBV ngành công nghiệp than Việt Nam, xây dựng các luận cứ khoa học, cách tiếp cận, phương pháp lựa chọn bộ chỉ tiêu PTBV ngành công nghiệp Than Việt Nam, xây dựng nội dung PTBV ngành công nghiệp than Việt Nam trên 3 lĩnh vực: Kinh tế, xã hội và môi trường, xây dựng Bộ chỉ tiêu PTBV ngành CN than gồm: 19 chỉ tiêu trên
3 lĩnh vực: Kinh tế(SX-KD): 8 chỉ tiêu, Xã hội:6 chỉ tiêu và Môi trường : 5 chỉ tiêu;đánh giá thực trạng quá trình phát triển ngành CN Than Việt Nam trên quan điểm PTBV và khuyến nghị định hướng PTBV ngành CN Than trong thời gian tới.Luận án
có đề cập đến vấn đề PTBV trong lĩnh vực Than - Khoáng sản, tuy nhiện phạm vi nghiên cứu là cho ngành than Việt Nam, chưa đề cập đến PTBV Tập đoàn TKV và các giải pháp, đặc biệt là giải pháp tài chính cho vấn đề này Đây là khoảng trống để NCS lựa chọn nghiên cứu trong luận án của mình
Trang 222.3 Đánh giá tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan đến
đề tài luận án
Qua khảo sát các công trình nghiên cứu trên thế giới, có thể thấy, cho tới thời
điểm hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu hoàn chỉnh, đồng bộ về vấn đề PTBV Tập đoàn kinh tế và giải pháp PTBV Tập đoàn kinh tế, đặc biệt là giải pháp tài chính và trong phạm vi tập đoàn khai thác Than - Khoáng sản Một số nghiên cứu cũng đã đề cập đến PTBV trong phạm vi từng đơn vị kinh tế, nhưng chỉ là
tổ chức kinh tế nói chung, một số nghiên cứu như chương trình nghị sự 21 cũng đề cập đến “phương tiện” để thực hiện PTBV, nhưng trên phạm vi toàn quốc gia, cho nhiều ngành nghề lĩnh vực, còn chưa đề cập đến nghiên cứu PTBV và giải pháp, nhất
là giải pháp tài chính PTBV riêng cho TĐKT, cụ thể hơn là cho tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam Đây là khoảng trống đề NCS hướng đến trong phạm vi
luận án của mình
Với các công trình nghiên cứu trong nước được đề cập đến ở trên đều có điểm chung là khái quát hóa khái niệm phát triển bền vững theo Brundtland, song những thao tác này còn mang tính liệt kê, tính thích ứng đối với thực tế Việt Nam, đặc biệt đối với Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam ít được đề cập đến Một số công trình nghiên cứu về TĐKT và nhân tố quản trị tài chính nhằm hướng đến PTBV TĐKT nhưng chưa nghiên cứu sâu vấn đề PTBV TĐKT Một số công trình đã đi sâu nghiên cứu vấn đề PTBV trong ngành Than - Khoáng sản, nghiên cứu chiến lược PTBV cho ngành Than - Khoáng sản, xây dựng bộ chỉ tiêu PTBV ngành Than - Khoáng sản,… Như vậy, rất dễ nhận thấy vấn đề nghiên cứu là PTBV Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam và các giải pháp tài chính cho vấn đề này chưa được đề cập đầy đủ, đồng bộ ở các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã nêu trên Trong luận án, tác giả dự kiến sẽ nghiên cứu sâu về PTBV Tập đoàn Kinh tế, thực trạng phát triển bền vững của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, đánh giá kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp, tập trung đi sâu nghiên cứu một số giải pháp tài chính phù hợp nhằm PTBV Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, đây là những vấn đề mà ở tất cả các nghiên cứu kể trên đều chưa đề cập đến đầy đủ
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là đề xuất được các giải pháp, tập trung vào các giải pháp tài chính phù hợp, có căn cứ khoa học và tính khả thi để góp phần thực hiện PTBV Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam theo định hướng chiến lược PTBV của Tập đoàn
Bám sát mục tiêu nghiên cứu của luận án, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án là giải quyết thấu đáo các câu hỏi nghiên cứu:
- Các công trình nghiên cứu có liên quan đến PTBV TĐKT? Từ đó tìm ra khoảng trống nghiên cứu cho luận án
- Bản chất của PTBV TĐKT và các chỉ tiêu đánh giá?
- Những nhân tố nào tác động đến phát triển bền vững Tập đoàn kinh tế? Trong
đó nhân tố tài chính có phải là quan trọng nhất không?
Trang 23- Thực trạng phát triển bền vững của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam trong thời gian qua? Nhân tố tài chính đã ảnh hưởng như thế nào đến PTBV Tập đoàn TKV?
- Giải pháp nào cho PTBV Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam trong thời gian tới? Trong đó các giải pháp tài chính cụ thể là gì?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận án là phát triển bền vững Tập đoàn kinh tế
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu phát triển bền vững kinh tế của TĐKT; luận giải sâu các nguyên nhân thuộc về vấn đề tài chính và các giải pháp tài
chính phát triển bền vững Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
- Về không gian: Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản VN, Công ty mẹ và các đơn vị thành viên của Tập đoàn
- Về thời gian: Hiện trạng của Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam chủ yếu trong giai đoạn từ 2008 - 2015, một số nội dung do hạn chế về mặt số liệu nên tác giả phân tích trong giai đoạn từ 2010 - 2015 và định hướng phát triển của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam giai đoạn đến 2020, tầm nhìn đến 2030
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, luận án sử dụng cách tiếp cận
và các phương pháp nghiên cứu sau đây:
5.1 Cách tiếp cận
- Cách tiếp cận chung: để nghiên cứu vấn đề trong luận án là kết hợp chặt chẽ
giữa nghiên cứu lý thuyết với phân tích, đánh giá thực tiễn trong mối quan hệ biện chứng, trong đó nghiên cứu lý thuyết là để định hướng cho phân tích, đánh giá thực tiễn; ngược lại, kết quả của quá trình phân tích, đánh giá thực tiễn sẽ giúp bổ sung, hoàn chỉnh cho cơ sở lý thuyết, vận dụng lý thuyết cần được đặt vào trong những điều kiện và tình huống cụ thể
- Cách tiếp cận cụ thể: (i) PTBV là một khái niệm rộng, nhưng tựu trung lại các
nghiên cứu đều tập trung ở ba trụ cột chính: PTBV về kinh tế, PTBV về xã hội và PTBV về môi trường Từ quan điểm này, PTBV TĐKT được xem xét trên cơ sở thực hiện đầy đủ sự phát triển về kinh tế trong thời gian dài hạn (PTBV về kinh tế), đồng thời đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực, đảm bảo an toàn lao động, nâng cao hiệu quả lao động, cải thiện thu nhập, thực hiện tốt trách nhiệm với cộng đồng (PTBV về
xã hội) và bảo vệ môi trường (PTBV về môi trường); (ii) Do PTBV là cả một quá trình nên việc phân tích, đánh giá sự PTBV của TĐKT đòi hỏi phải được thực hiện trong một khoảng thời gian dài hạn (thường là từ 5-10 năm) để có thể nhận xét, đánh giá đầy đủ về quá trình PTBV của TĐKT; (iii) PTBV TĐKT là nhiệm vụ chung của
cả Tập đoàn, từng đơn vị thành viên không thể thực hiện riêng rẽ được, nên nghiên cứu PTBV TĐKT sẽ được tiếp cận chủ yếu trên quy mô toàn Tập đoàn (tổ hợp Công
ty Mẹ - công ty con), một số nội dung có thể phân tích kỹ hơn ở Công ty Mẹ hoặc các công ty con nhằm làm rõ hơn vấn đề nghiên cứu
Trang 245.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận án, tác giả sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như: điều tra, khảo sát để thu thập số liệu sơ cấp; thống kê, phân loại, xử lý, tổng hợp tài liệu, số liệu thu thập được; mô hình hóa bằng các bảng biểu, sơ đồ, đồ thị phân tích; sử dụng các phương pháp phân tích, thống kê, so sánh, diễn giải, tổng hợp; tham vấn các nhà khoa học thông qua các hội thảo hoặc trao đổi cá nhân Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét, đánh giá và giải quyết các vấn đề đặt ra trong đề tài nghiên cứu Cụ thể như sau:
- Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu:
Số liệu sơ cấp được tác giả thu thập thông qua khảo sát các cán bộ, các nhà quản
lý thuộc các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan đến tập đoàn TKV, Tập đoàn TKV và các đơn vị thành viên, các viện nghiên cứu, đơn vị tư vấn, đơn vị đào tạo Các đơn vị khác có liên quan đến Tập đoàn TKV Hình thức sử dụng là phát phiếu điều tra (trực tiếp hoặc qua email), số phiếu phát ra là 250 phiếu, số phiếu thu về và
có thể sử dụng được là 215 phiếu, chiếm 86%, trong đó số phiếu của Tập đoàn TKV
và các đơn vị thành viên là 178 phiếu, chiếm 82,79% Để phù hợp mục tiêu thu thập thông tin, phiếu điều tra thiết kế bao gồm các nội dung khảo sát về nội dung PTBV TĐKT, các nhân tố tác động đến quá trình PTBV của tập đoàn TKV, các nguyên nhân dẫn đến tập đoàn TKV chưa thật sự PTBV và các giải pháp tài chính PTBV tập đoàn TKV (Phụ lục 11A); kết quả khảo sát (Phụ lục 11B) được NCS chủ yếu sử dụng trong phân tích nguyên nhân tập đoàn TKV chưa thật sự PTBV và đề xuất giải pháp tài chính PTBV tập đoàn TKV nhằm giúp cho việc đánh giá, nhận xét được xác thực
và có tính thực tiễn hơn
Số liệu thứ cấp được tác giả thu thập qua một số kênh như: báo cáo tài chính đã
được kiểm toán của Công ty Mẹ và báo cáo tài chính hợp nhất của toàn Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam; các báo cáo kinh tế - kỹ thuật tổng hợp của Tập đoàn; các báo cáo tổng kết kết quả hoạt động kinh doanh hàng năm và các báo cáo chuyên đề khác có liên quan của Tập đoàn Ngoài ra luận án cũng sử dụng một số số liệu báo cáo của Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Hiệp hội Than quốc tế; các đề tài nghiên cứu đã công bố, sách tham khảo, tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa học trong nước và quốc tế có liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Phương pháp xử lý, tổng hợp, phân tích dữ liệu: Các số liệu, tài liệu thu thập
được phân loại, xử lý và tổng hợp vào các bảng biểu số liệu cơ sở ban đầu theo chuỗi thời gian và tại một thời điểm Trên cơ sở đó tính toán các số liệu phân tích theo từng nội dung cụ thể của PTBV kinh tế, PTBV xã hội và PTBV môi trường; phân tích, đánh giá sự biến động của các chỉ tiêu này qua các năm để thấy rõ xu thế biến động của các chỉ tiêu trong quá trình PTBV của Tập đoàn Các hàm thống kê như tần suất,
tỷ trọng, trung bình, tỷ lệ tăng trưởng được ứng dụng để phân tích, so sánh, nhận xét, đánh giá vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp mô hình hóa bằng biểu đồ, đồ thị, bảng biểu: Để tăng thêm tính
khái quát, dễ nhận diện, dễ theo dõi, so sánh, nghiên cứu sinh còn sử dụng phương pháp mô hình hóa bằng các sơ đồ, biểu đồ, đồ thị, bảng biểu để biểu thị mối quan hệ
Trang 25của các nội dung PTBV, mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển, cơ cấu tổ chức của Tập đoàn, xu thế biến động của các chỉ tiêu phân tích,…
- Phương pháp tham vấn chuyên gia: Trên cơ sở trao đổi qua các hội thảo, báo
cáo khoa học hoặc trao đổi trực tiếp cá nhân, NCS đã tiến hành trưng cầu ý kiến từ các nhà khoa học, bạn bè đồng nghiệp về các nội dung nghiên cứu
6 Những đóng góp mới của luận án
Luận án đã đạt được những kết quả và đóng góp mới như sau:
Thứ nhất: Luận án đã tổng hợp và hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về
tập đoàn kinh tế và phát triển bền vững Luận án xây dựng hệ thống cơ sở lý luận đầy
đủ về phát triển bền vững tập đoàn kinh tế, bao gồm: khái niệm, nội dung PTBV TĐKT; hệ thống chỉ tiêu đánh giá sự PTBV của TĐKT theo ba nội dung cơ bản là PTBV về kinh tế (PTBV SXKD), PTBV xã hội và PTBV môi trường; đồng thời làm
rõ các nhân tố ảnh hưởng đến PTBV TĐKT
Thứ hai: Luận án đã khảo cứu kinh nghiệm PTBV của một số TĐKT trên thế
giới (4 TĐKT ở Trung Quốc, Đức, Hàn Quốc, Malaysia), từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm tham khảo cho quá trình PTBV của các TĐKT ở Việt Nam, trong đó có Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
Thứ ba: Luận án đã làm rõ thực trạng các hoạt động sản xuất kinh doanh chủ
yếu và thực trạng PTBV của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam chủ yếu trong giai đoạn từ năm 2008 - 2015, với các nội dung cụ thể: PTBV SXKD, PTBV xã hội, PTBV môi trường Đồng thời luận án cũng đánh giá thực trạng, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế trong quá trình PTBV của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, chỉ rõ nguyên nhân của những hạn chế, đi sâu vào các nguyên nhân thuộc về quản trị tài chính Kết quả này là căn cứ thực tiễn để tác giả đề xuất các giải pháp, trong đó tập trung vào các giải pháp tài chính PTBV Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
Thứ tư: Trên cơ sở định hướng PTBV của Tập đoàn Công nghiệp Than -
Khoáng sản Việt Nam giai đoạn đến 2030 và những thuận lợi, khó khăn của tập đoàn trong thời gian tới, luận án đã đề xuất hệ thống các giải pháp để Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam thực hiện chiến lược PTBV, trong đó có 8 giải pháp tài chính và 6 giải pháp phi tài chính Đồng thời luận án cũng đưa ra một số khuyến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước về các chính sách đối với hoạt động khai thác, chế biến tài nguyên khoáng sản của Tập đoàn TKV, trong đó tập trung vào các khuyến nghị về chính sách thuế, phí, lệ phí và chính sách vốn
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Về mặt khoa học:
Kết quả nghiên cứu của đề tài luận án có giá trị đóng góp, bổ sung, phát triển và làm phong phú thêm cơ sở lý luận về PTBV; vận dụng, cụ thể hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về PTBV nói chung và PTBV TĐKT nói riêng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam và Tập đoàn TKV
Về thực tiễn:
Trang 26- Luận án có giá trị tham khảo cho Tập đoàn TKV, các TĐKT, TCT trong nước
có điều kiện tương tự, nhất là các TĐKT, TCT, doanh nghiệp trong ngành khai khoáng cũng như các cơ quan Nhà nước có liên quan đến hoạch định chiến lược, chính sách PTBV
- Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo hữu ích cho nghiên cứu, học tập, giảng dạy trong các chuyên ngành có liên quan đến lĩnh vực PTBV và PTBV TĐKT
8 Kết cấu của luận án:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình nghiên cứu của tác giả, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung của luận án có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển bền vững Tập đoàn kinh tế
Chương 2: Thực trạng phát triển bền vững Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
Chương 3: Giải pháp phát triển bền vững Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
Trang 27Khái niệm Tập đoàn kinh tế (TĐKT) đã được nhắc đến ở rất nhiều tài liệu trong
và ngoài nước Theo Bách khoa toàn thư tiếng Anh thì TĐKT được định nghĩa là “sự liên kết của hai hay nhiều tổng công ty có lĩnh vực kinh doanh khác khác nhau tạo thành một cấu trúc công ty có quy mô quản lý lớn và phức tạp”, “Tập đoàn là một công ty đa ngành, có quy mô rất lớn và thường kinh doanh đa quốc gia"
"TĐKT là một thực thể pháp lí, được sở hữu chung bởi một số chủ thể hoặc tồn tại độc lập, sự tồn tại độc lập này cho tập đoàn những quyền riêng mà những thực thể pháp lí khác không có Qui mô và phạm vi hoạt động của Tập đoàn có thể được chỉ rõ bởi luật pháp nơi Tập đoàn hoạt động"[85]
Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam: “TĐKT là tổ hợp các công ty hoạt động trong một ngành hay những ngành khác nhau trong phạm vi một nước hay nhiều nước, có tiềm lực kinh tế tài chính mạnh, cơ cấu phức tạp, vừa kinh doanh vừa liên kết kinh tế nhằm tăng cường tích tụ, tập trung, tăng khả năng cạnh tranh và tối đa hóa lợi nhuận” [86]
Còn theo Viện nghiên cứu Quản lí Kinh tế Trung ương (CIEM) thì: "TĐKT được hiểu là một tổ hợp lớn các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoạt động trong một hay nhiều ngành khác nhau, có quan hệ về vốn, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu và các liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các bên tham gia Trong mô hình này, "công ty mẹ" nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của "công
ty con" về tài chính và chiến lược phát triển" [112]
Một số học giả khác cho rằng TĐKT “là nhóm các công ty, liên kết chủ yếu dưới hình thức công ty mẹ - công ty con, có từ hai cấp DN trở lên, tạo thành tổ hợp kinh doanh gắn bó với nhau và chịu sự kiểm soát của công ty mẹ” [103]; hay “TĐKT
là tên gọi để chỉ một nhóm công ty kết nối với nhau bằng vốn hay bằng quyền biểu quyết, mỗi công ty trong tập đoàn là một pháp nhân độc lập, tức là có quyền đi kiện
và bị kiện, có tài sản để thực hiện quyền đó, tập đoàn không phải là một khái niệm pháp lý vì trong luật không có khái niệm trách nhiệm tập thể” [5]
Rõ ràng hơn có quan điểm cho rằng “TĐKT là một tổ hợp kinh doanh bao gồm các doanh nghiệp có mối quan hệ với nhau theo nhiều hình thức, trên nhiều lĩnh vực với liên kết chủ yếu là công ty mẹ - công ty con Công ty mẹ và các công ty con có tư cách pháp nhân, công ty mẹ là hạt nhân liên kết, thường nắm quyền kiểm soát, chi phối hoạt động của công ty con, các công ty thành viên cũng có những liên kết với nhau xuất phát từ lợi ích và chiến lược của bản thân mỗi công ty” [29]
Như vậy, tuy có nhiều quan niệm khác nhau về TĐKT, song các quan niệm này đều có điểm chung là: TĐKT là một tổ hợp bao gồm nhiều doanh nghiệp thành viên, được tổ chức thành nhiều cấp, liên kết nhau bằng quan hệ tài sản và quan hệ hợp tác nhằm đáp ứng đòi hỏi của nền sản xuất hàng hóa; các doanh nghiệp trong Tập đoàn đều có tư cách pháp nhân độc lập
Trang 28Trong các văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam thì TĐKT được xếp là một thành phần trong nhóm công ty, cụ thể như sau:
"TĐKT, TCT thuộc các thành phần kinh tế là nhóm công ty có mối quan hệ với nhau thông qua sở hữu cổ phần, phần vốn góp hoặc liên kết khác TĐKT, TCT không phải là một loại hình doanh nghiệp, không có tư cách pháp nhân, không phải đăng
ký thành lập TĐKT, TCT có công ty mẹ, công ty con và các công ty thành viên khác Công ty mẹ, công ty con và mỗi công ty thành viên trong TĐKT, TCT có quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp độc lập theo quy định của pháp luật”.” [67]
Mặc dù chưa có sự thống nhất cao trong khái niệm TĐKT, nhưng qua các phân
tích trên có thể cho rằng: TĐKT là một tổ hợp các doanh nghiệp, bao gồm công ty mẹ,
công ty con và các doanh nghiệp liên kết, trong đó công ty mẹ là hạt nhân của Tập đoàn, là đầu mối liên kết giữa các doanh nghiệp thành viên, doanh nghiệp liên kết với nhau, nắm quyền kiểm soát, chi phối các chính sách, chiến lược phát triển, chi phối hoạt động của các doanh nghiệp thành viên.TĐKT không có tư cách pháp nhân, nhưng công ty mẹ, công ty con và doanh nghiệp liên kết có tư cách pháp nhân TĐKT hoạt động trong một hay nhiều ngành khác nhau, hoạt động trong một hay nhiều nước
1.1.1.2 Phân loại Tập đoàn kinh tế
Có nhiều tiêu thức phân loại các TĐKT
* Phân loại theo lĩnh vực hoạt động
Theo tiêu thức này các TĐKT được phân chia thành 2 loại:
- Tập đoàn kinh tế hoạt động chuyên ngành: Thuộc nhóm này có các TĐKT
hoạt động chuyên môn hóa rất sâu, có các công ty con hoạt động trong cùng một ngành và phối hợp chặt chẽ với nhau để khai thác thế mạnh chuyên môn Hoạt động theo cách thức này khả năng liên kết dọc được tận dụng tối ưu tạo ra lợi thế cạnh tranh khá cao nhưng cũng dễ gây ra tình trạng độc quyền Điển hình cho nhóm này là các Tập đoàn ngân hàng tài chính
- TĐKT hoạt động đa ngành: Loại TĐKT này thường có một ngành hay lĩnh vực
trung tâm, mũi nhọn, nhưng kinh doanh rất đa dạng với nhiều ngành khác nhau Kiểu kinh doanh này tạo ra chuỗi liên kết ngang gắn bó hỗ trợ khá tốt giữa các đơn vị thành viên nhằm san sẻ rủi ro trong kinh doanh Về cấu trúc, các ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh tạo thành kiểu cấu trúc 3 lớp: lớp trong cùng là ngành mũi nhọn của tập đoàn, lớp thứ 2 gồm những ngành mật thiết về công nghệ hoặc thị trường với ngành mũi
nhọn, lớp ngoài cùng là các ngành mở rộng, ít liên quan đến ngành hạt nhân
* Phân loại theo phạm vi hoạt động
Phạm vi hoạt động không chỉ biểu hiện quy mô của Tập đoàn mà còn quyết định đến cơ cấu tổ chức của Tập đoàn Dựa vào tiêu thức này người ta phân các TĐKT thành hai loại:
- Tập đoàn hoạt động trong một nước (một quốc gia)
- Tập đoàn xuyên quốc gia (Transnational Corporations - TNCs, là tập đoàn hoạt động tại nhiều nước)
* Phân loại theo hình thức sở hữu
Trang 29- TĐKT thuộc sở hữu tư nhân: các TĐKT loại này có nguồn gốc từ những công
ty thuộc sở hữu gia đình hoặc các nhân, qua một quá trình lớn mạnh các công ty đó dần dần trở thành TĐKT
- TĐKT thuộc sở hữu cổ phần: các TĐKT loại này được hình thành bởi tập hợp
công ty thành viên là các công ty cổ phần, hình thức này điều kiện thuận lợi cho việc huy động vốn, nâng cao ảnh hưởng của Tập đoàn, nâng cao khả năng cạnh tranh, phân tán rủi ro nên hầu như các TĐKT lớn đều hoạt động theo hình thức sở hữu này
- TĐKT thuộc sở hữu Nhà nước: các TĐKT thuộc loại này sẽ do Nhà nước đầu
tư vốn hoạt động dưới hình thức đầu tư 100% hoặc đầu tư một phần, hoạt động theo
sự chỉ đạo của Nhà nước hoặc hoạt động trong những ngành nghề có tính trọng điểm quốc gia, điển hình cho TĐKT loại này là các TĐKT ở Việt Nam
* Phân loại theo cấp độ sở hữu
- TĐKT sở hữu đơn giản: Các thành viên trong TĐKT chỉ chịu sự chi phối bởi 1
cấp duy nhất, công ty mẹ đầu tư vốn và chi phối các công ty con (cấp 1), các công ty con lại đầu tư và chi phối các công ty cháu (cấp 2),… Mô hình này không cho phép công ty con đầu tư ngược vào công ty mẹ, và không đầu tư ngang cấp
- TĐKT sở hữu khép kín: Trong TĐKT, Công ty mẹ không chỉ đầu tư kiểm soát
các công ty con, mà còn đầu tư vào các công ty cháu Các công ty con, cháu đầu tư vào các thành viên đồng cấp chi phối lẫn nhau Cấu trúc này tạo nên sự bền vững, rất khó để các công ty ngoài TĐKT hay các cá nhân khác có thể đầu tư kiểm soát hay thôn tính TĐKT Tuy nhiên mô hình này chỉ phù hợp khi mỗi công ty thành viên có tiềm lực đủ mạnh về tài chính, có thế mạnh hoặc lợi thế riêng biệt, các công ty cháu được công ty mẹ đầu tư là những công ty hoạt động trong những ngành nghề quan trọng của TĐKT
- TĐKT sở hữu hỗn hợp (TĐKT trong TĐKT): Đây là sự kết hợp giữa mô hình
TĐKT gồm các công ty thành viên đồng cấp đầu tư vốn và kiểm soát lẫn nhau với mô hình TĐKT có công ty mẹ đầu tư vốn và kiểm soát đối với một số công ty thành viên Trong mô hình này, TĐKT lớn là TĐKT hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực; còn TĐKT nhỏ là TĐKT hoạt động trong một ngành, một lĩnh vực chuyên biệt Hiện nay TĐKT hoạt động theo mô hình này có cấu trúc phức tạp nhất về quan hệ sở hữu
* Phân loại theo mô hình quản lý:
Theo cách phân loại này, TĐKT chia thành 3 mô hình: TĐKT nhất nguyên, TĐKT nhị nguyên và TĐKT hỗn hợp
- TĐKT hoạt động theo mô hình nhất nguyên (Tập trung quyền lực): theo mô
hình này, mọi quyền lực của TĐKT tập trung vào chủ tịch hội đồng quản trị Cơ cấu
tổ chức thành 2 cấp: cấp trên là khối văn phòng TĐKT, nắm toàn bộ quyền quản lý, điều hành TĐKT nhưng không trực tiếp tiến hành hoạt động kinh doanh, đứng đầu là chủ tịch HĐQT, quyết định toàn bộ mọi việc từ nhân sự, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh đến phân phối lợi nhuận,… Cấp dưới là các công ty thành viên trực thuộc trực tiếp tiến hành hoạt động kinh doanh theo tôn chỉ, mục tiêu và nhiệm vụ của TĐKT
Ưu điểm của mô hình này là đảm bảo sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất và duy nhất nên các quyết định quản lý, điều hành nhất quán Hạn chế của mô hình này
Trang 30là do quá tập trung quyền lực quản lý vào người đứng đầu TĐKT nên dễ dẫn đến tình trạng độc đoán, chuyên quyền và trục lợi của người đứng đầu, hơn nữa khối văn phòng can thiệp quá sâu vào hoạt động của các công ty thành viên vừa làm tăng chi phí hoạt động, làm chậm trễ các quyết định kinh doanh, giảm tính chủ động của các công ty thành viên
- TĐKT hoạt động theo mô hình nhị nguyên (công ty mẹ - công ty con): TĐKT là
một tổ hợp bao gồm công ty mẹ và các công ty con, trong đó công ty mẹ và công ty con đều có tư cách pháp nhân độc lập và có bộ máy quản lý riêng Mối quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con là quan hệ đầu tư vốn từ công ty mẹ vào công ty con nhằm
sở hữu toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty con Công ty nắm giữ vốn là công ty mẹ chịu trách nhiệm hoạch định chiến lược phát triển chung của cả Tập đoàn,
có quyền biểu quyết đủ để nắm quyền chi phối và kiểm soát hoạt động của các công
ty con chứ không quản trị trực tiếp hoạt động kinh doanh, do đó các công ty thành viên có quyền tự chủ cao về tài chính và hoạt động SXKD của mình
- TĐKT hoạt động theo mô hình hỗn hợp: là sự kết hợp của TĐKT hoạt động
theo mô hình nhất nguyên và nhị nguyên Quyền lực quản lý TĐKT vừa có tính tập trung, vừa có tính phân quyền Tính tập trung thể hiện ở cơ chế quản trị tập trung của văn phòng TĐKT đối với những vấn đề quan trọng nhất như: quyết định các vấn đề mang tính chiến lược, xây dựng các chính sách chung và điều hành các giao dịch nội
bộ TĐKT, quyết định về các vị trí quan trọng của TĐKT Tính phân quyền được thể hiện ở việc các công ty con, cháu cũng có quyền tự chủ về tài chính và các hoạt động SXKD như công ty mẹ nhưng không được trái ngược với chiến lược phát triển chung của toàn Tập đoàn Về cơ cấu tổ chức thường bao gồm 3 cấp: cấp 1 bao gồm Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát; cấp 2 bao gồm ban giám đốc, các phòng ban chức năng của công ty mẹ đảm nhiệm các vấn đề về tài chính, kế hoạch, nhân sự, kiểm toán, pháp chế,…; cấp 3 là các công ty con hoạt động độc lập, trực tiếp thực hiện hoạt động SXKD
1.1.2 Đặc điểm của Tập đoàn kinh tế
- Tập đoàn kinh tế có quy mô rất lớn và phạm vi hoạt động rộng: Quy mô của
Tập đoàn thể hiện ở một số chỉ tiêu như tổng số vốn, tài sản, số lao động, số lượng doanh nghiệp thành viên, số chi nhánh hoặc văn phòng đại diện, doanh thu và thị trường Phạm vi hoạt động của Tập đoàn thường rất rộng, không chỉ trong phạm vi ranh giới một quốc gia mà còn vươn ra nhiều nước, nhiều tập đoàn có chi nhánh văn phòng đại diện ở khắp các quốc gia trên thế giới Ví dụ: Tập đoàn P&G có nhà máy sản xuất tại hơn 80 quốc gia trên thế giới, sản phẩm được tiêu thụ tại gần 200 nước, Tập đoàn McDonald’s có trên 31.000 cửa hàng phân bố trên 121 quốc gia trên thế giới Với quy mô như vậy sẽ tạo điều kiện tăng cường khả năng tích tụ, tập trung vốn, cạnh tranh và tối đa hóa lợi ích của tập đoàn, phục vụ tốt nhất cho sự PTBV tập đoàn
- TĐKT được hình thành thông qua quá trình tích tụ vốn của một hoặc nhiều thực thể kinh doanh: TĐKT được hình thành thông qua một số con đường: phát triển
nội sinh (Công ty mẹ tự phát triển lớn mạnh với việc hình thành các chi nhánh, đơn
vị, công ty trực thuộc của mình); phát triển ngoại sinh (Công ty mẹ thực hiện tập
Trang 31trung kinh tế như sáp nhập, hợp nhất, mua lại các công ty khác); hoặc liên kết kinh tế (liên doanh, liên kết với các công ty khác), mục đích nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh, nâng cao trình độ quản lý và tối đa hóa lợi ích của mỗi thành viên Quá trình tích tụ vốn tốt sẽ tạo cơ sở tốt cho quá trình PTBV TĐKT và ngược lại
- TĐKT về cơ bản không có tư cách pháp nhân, mà chỉ là một tổ hợp kinh doanh kết hợp bởi nhiều đơn vị thành viên có tư cách pháp nhân Tập đoàn và các
đơn vị thành viên liên kết với nhau bởi mối quan hệ công ty mẹ - công ty con, trong
đó công ty mẹ thường đảm nhiệm những chức năng như phát triển thị trường, ứng dụng công nghệ mới, điều phối toàn tập đoàn hướng đến mục tiêu đã định sẵn thông qua đề ra chiến lược chung, qua tỷ lệ vốn góp; còn các doanh nghiệp thành viên là những doanh nghiệp có tư cách pháp nhân độc lập, chịu sự chi phối của công ty mẹ,
về mặt tài chính và chiến lược phát triển, công nghệ, thị trường Bên cạnh đó các doanh nghiệp thành viên cũng có thể nắm cổ phần của nhau để tạo ra mối quan hệ đan xen, gắn kết chặt chẽ Để TĐKT PTBV cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa công
ty mẹ với công ty thành viên, giữa các đơn vị thành viên với nhau thông qua việc thực hiện đúng các chức năng nhiệm vụ đã được phân chia
- Hầu hết các TĐKT đều hoạt động kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực, tuy nhiên
thường có ngành kinh doanh chính và các ngành kinh doanh khác xoay quanh hoặc
có liên quan đến ngành chính, nhằm tận dụng các nguồn lực, phân tán rủi ro Hiện nay do sức ép cạnh tranh toàn cầu, nhiều TĐKT không ngừng mở rộng cả về quy mô
và phạm vi hoạt động nên tính chất hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực đang có chiều hướng vượt trội hơn so với tính chất chuyên ngành Đây là một hướng đi tốt, tạo điều kiện cho TĐKT phân tán rủi ro, gia tăng thu nhập, tích tụ thêm vốn, là điều kiện cần thiết cho quá trình PTBV Tuy nhiên việc quản lý, kiểm soát hoạt động kinh doanh phải chặt chẽ, hướng đi phải đúng, nếu TĐKT đầu tư quá nhiều vào lĩnh vực rủi ro cao (như bất động sản, chứng khoán), trong khi lại rất thiếu vốn cho hoạt động SXKD chính thì hậu quả là vừa làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, tài sản, vừa làm giảm năng lực thực hiện hoạt động SXKD chính, thì cũng không thể PTBV được
- Hoạt động của TĐKT chịu sự chi phối bởi các quan hệ tài chính trong nội bộ TĐKT, cụ thể là quan hệ tài chính giữa công ty mẹ với công ty con trong các TĐKT
bao gồm: (1) Quan hệ đầu tư vốn, (2) Quan hệ phân phối kết quả, (3) Quan hệ hạch toán, (4) Quan hệ tín dụng, mua bán, thuê và cho thuê
- Mục tiêu quản trị tài chính của TĐKT là điều hành, giám sát các mặt hoạt động SXKD nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, đảm bảo quyền lợi của các chủ thể sở hữu vốn tham gia đầu tư vào TĐKT, hạn chế rủi ro cho các khoản đầu
tư Đối với TĐKT, quản trị tài chính là công cụ để các chủ sở hữu vốn giám sát hiệu
quả của vốn đầu tư, kiểm soát chính sách phân phối lợi ích trong nội bộ TĐKT một cách khoa học và hợp lý, bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể góp vốn, tăng cường và phát huy sức mạnh của TĐKT Việc phân phối lợi ích trong TĐKT bao gồm cả việc phân phối nguồn lực và lợi nhuận phát sinh Quản trị tài chính giúp công ty mẹ của TĐKT nắm bắt được chính xác, toàn diện về tình hình tài chính để điều hành, giám sát các mặt hoạt động SXKD, đảm bảo sự hoạt động của các thành viên đúng theo định hướng, chiến lược phát triển nói chung, chiến lược PTBV nói riêng của TĐKT
Trang 32Ở Việt Nam, các TĐKT ra đời khi Nhà nước đổi mới cơ chế quản lý, phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì vậy TĐKT ở Việt Nam hiện nay cơ bản là TĐKT Nhà nước (TĐKTNN), trong đó có tập đoàn TKV là đối tượng nghiên cứu của luận án.
1.2 PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẬP ĐOÀN KINH TẾ
1.2.1 Tổng quan về phát triển bền vững
1.2.1.1 Khái niệm
Tăng trưởng và phát triển đã được các nhà kinh tế học nhắc đến từ rất lâu, trong một số nghiên cứu đã có những phân biệt nhất định về tăng trưởng (Growth) và phát triển (Development) “Tăng trưởng là sự gia tăng về lượng”, “là việc mở rộng sản lượng quốc gia” [33] Tăng trưởng được đo bằng tốc độ và quy mô: Quy mô là số lượng, là phương diện vật chất có thể đo lường được của một hoạt động Tốc độ tăng trưởng được tính bằng tỷ lệ phần trăm thông qua việc so sánh quy mô của hai thời kỳ Quy mô của thời kỳ sau so với thời kỳ trước càng lớn thì tốc độ tăng trưởng càng nhanh Quy mô được biểu hiện bằng số lượng tuyệt đối, còn tốc độ tăng trưởng được biểu hiện bằng số lượng tương đối
Phát triển được định nghĩa là “sự gia tăng dần của một sự vật theo hướng tiến bộ hơn, mạnh hơn ” [85], là “phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới” [86], phát triển bao hàm cả khía cạnh thay đổi theo hướng đi lên, hướng tốt hơn tương đối của sự vật hiện tượng, đối với nền kinh tế đó
là “quá trình lớn lên (hay tăng tiến) về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định, trong đó bao gồm cả sự tăng thêm về quy mô sản lượng (tăng trưởng) và sự tiến
bộ về cơ cấu kinh tế - xã hội” [1]
Có thể nói tăng trưởng không luôn đồng nghĩa với phát triển, nhưng nhất thiết phải có tăng trưởng mới có phát triển Tăng trưởng là điều kiện cần đối với sự phát triển, nhưng chưa phải là điều kiện đủ Về phương diện kinh tế, sự tăng trưởng tạo ra
cơ sở vật chất, tạo nguồn tài chính để giải quyết những yêu cầu, nội dung của phát triển Tăng trưởng với mức độ ổn định và ngày càng cao sẽ thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế lên một trình độ, quy mô mới Còn phát triển chi phối mục tiêu, phương thức đạt được sự tăng trưởng, chi phối sự phân chia thành quả của tăng trưởng Mối quan
hệ giữa tăng trưởng và phát triển là mối quan hệ biện chứng, tăng trưởng là biểu hiện của mặt lượng, phát triển là biểu hiện của mặt chất Đó là mối quan hệ hai chiều đặt trong quá trình vận động không ngừng của nền kinh tế
Tóm lại: Giữa tăng trưởng và phát triển đã có những sự phân biệt nhất định
Trong hoạt động kinh tế, tăng trưởng là sự tăng thêm về quy mô sản lượng hàng hóa
và dịch vụ trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) Phát triển không chỉ là
sự gia tăng về quy mô sản lượng, hàng hóa mà còn là quá trình lớn lên, là sự thay đổi
về bản chất như có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chế kinh tế, chất lượng cuộc sống,… Tăng trưởng là yếu tố cơ bản nhất của phát triển, nếu không có tăng trưởng thì sẽ không có phát triển Phát triển bao hàm trong đó có tăng trưởng nhanh và bền vững hơn, trong đó tăng trưởng bền vững được hiểu là sự tăng trưởng đạt mức tương đối cao và ổn định trong thời gian tương đối dài (5-10 năm) Tăng trưởng và phát triển có mối quan hệ biện chứng với nhau
Trang 33Mục tiêu hoạt động của mỗi quốc gia, mỗi tổ chức kinh tế là phải đạt được sự phát triển, nhưng phát triển một cách đúng nhất là phát triển bền vững Thuật ngữ Phát triển bền vững (PTBV) lần đầu tiên được đề cập đến trong ấn phẩm “Chiến lược bảo tồn thế giới" của Hiệp hội Quốc tế về Bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên (IUCN) [43], theo đó PTBV là sự phát triển “tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học", với ba mục tiêu cơ bản: duy trì hệ sinh thái nhằm hỗ trợ sự sống, bảo tồn tính đa dạng di truyền, bảo đảm sử dụng bền vững các loài và các hệ sinh thái Nội dung PTBV trong tác phẩm này được đề cập chủ yếu theo nghĩa hẹp, nhấn mạnh tính bền vững của sự phát triển sinh thái Khái niệm PTBV được nhiều công trình nghiên cứu nhắc đến cũng như được coi là đầy đủ nhất là khái niệm được nêu ra trong Báo cáo "Tương lai chung của chúng ta" của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên hợp
quốc, trong đó nêu rõ "PTBV là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện
tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau"
[105] Theo khái niệm này, "Phát triển bền vững" được đề cập đến với một nội hàm rộng, nó không chỉ là nỗ lực nhằm hoà giải kinh tế và môi trường, mà còn bao hàm những khía cạnh chính trị xã hội, đặc biệt là bình đẳng xã hội Khái niệm này còn bao hàm một ý tưởng quan trọng của sự PTBV đó là trách nhiệm giữa các thế hệ, mỗi thế
hệ phải có trách nhiệm chuyển giao cho thế hệ kế tiếp các nguồn lực không bị giảm giá trị mà họ được thừa hưởng Như vậy, từ khái niệm này có thể hiểu bản chất của PTBV là sự gia tăng cả về lượng và chất để tối đa hóa lợi ích trong hiện tại đồng thời phải duy trì được các lợi ích đó trong tương lai PTBV theo khái niệm này có thể hiểu theo nhiều cách, theo nhiều hướng khác nhau và dễ áp dụng vào điều kiện thực tế Nội hàm về PTBV theo cách hiểu này tiếp tục được LHQ tái khẳng định tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về Môi trường và Phát triển năm 1992 tại Rio de Janeiro
và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững năm 2002 tại
Johannesburg, với sự khái quát hóa PTBV theo ba mặt, gồm “phát triển kinh tế, phát
triển xã hội và bảo vệ môi trường” Dựa vào nền tảng PTBV theo báo cáo
Brundtland, các nhà kinh tế học đã tập trung nhiều vào vấn đề PTBV và chia khái
niệm PTBV thành hai nhóm: Một là theo nghĩa rộng, theo đó sự bền vững liên quan đến ba khía cạnh: kinh tế, môi trường tự nhiên và xã hội; Hai là theo nghĩa hẹp:
PTBV liên quan đến phát triển bền vững về môi trường, nghĩa là khai thác một cách tối ưu tài nguyên thiên nhiên theo thời gian [119], [114] Về thời gian, một nền kinh
tế “được coi là phát triển kinh tế bền vững nếu duy trì được mức tăng trưởng cao và
ổn định trong một thời gian dài dựa trên cơ sở công nghệ tiên tiến và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực” [73]
Kế thừa những thành quả lý luận và kinh nghiệm của các nước, khu vực trên thế giới, trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 - 2020, tại Đại hội Đảng XI đã
chỉ rõ quan điểm “phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững”,với trọng tâm
là phải giải quyết tốt ba điểm mấu chốt nhằm hướng đến PTBV: (i) phát triển nguồn nhân lực; (ii) nhà nước tăng đầu tư, kêu gọi các thành phần kinh tế tham gia đầu tư cơ
sở hạ tầng (xã hội hóa đầu tư); (iii) tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm
Trang 34là cải cách thủ tục hành chính Nội dung bền vững trong chiến lược này cũng được làm rõ bao gồm 5 nội dung: (i) bền vững về kinh tế - tài chính (phải cân đối tài chính, giảm bớt rủi ro tài chính, tránh để lại gánh nặng nợ nần cho các thế hệ sau); (ii) bền vững về môi trường (phải gắn tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường sinh thái, môi trường sống); (iii) bền vững về chính trị - xã hội (phải gắn tăng trưởng và phát triển kinh tế với ổn định chính trị - xã hội, vì ổn định chính trị - xã hội
là điều kiện tiên quyết, là tiền đề cho tăng trưởng và phát triển, còn tăng trưởng và phát triển tạo cơ sở vật chất và tinh thần cho sự ổn định chính trị - xã hội); (iv) bền vững về quốc phòng - an ninh (tăng trưởng và phát triển không thể tách rời nhiệm vụ đảm bảo quốc phòng - an ninh); (v) bền vững về văn hóa (xây dựng và phát triển văn hóa lành mạnh nhằm thúc đẩy kinh tế phát triển mạnh mẽ và vững chắc, “phấn đấu đảm bảo duy trì tăng trưởng kinh tế bền vững, thì mới có điều kiện phát triển văn hóa mới”, “cả kinh tế và văn hóa phải hòa quyện vào nhau ”)
Luật bảo vệ môi trường Việt Nam đã làm rõ hơn khái niệm PTBV khi định
nghĩa: “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà
không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ
sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo
vệ môi trường”[66]
Qua những phân tích trên cho thấy "phát triển bền vững" đã trở thành một khái niệm phổ biến, là một tiêu chuẩn quan trọng trong chiến lược phát triển của hầu hết các quốc gia PTBV nhấn mạnh đến khả năng phát triển kinh tế liên tục lâu dài, không gây ra những hậu quả khó khôi phục cho thế hệ tương lai hay hậu quả ở những lĩnh vực khác, nhất là thiên nhiên Phát triển mà làm hủy hoại môi trường là phát triển không bền vững, phát triển mà chỉ dựa vào những loại tài nguyên có thể cạn kiệt (mà không lo trước đến ngày chúng có thể cạn kiệt) là phát triển không bền vững Lối phát triển phụ thuộc quá nhiều vào ngoại lực cũng khó bền vững, vì nguồn lực ấy có nhiều rủi ro, không chắc chắn Nói ngắn gọn, phát triển là không bền vững nếu nó thật "nóng" và không thể giữ lâu, nền kinh tế sẽ nhanh chóng rơi vào khủng hoảng, hay ít nhất cũng chậm lại trong tương lai Giữa phát triển và PTBV có một số điểm khác biệt có tính nguyên tắc (Bảng 1.1):
Bảng 1.1: Từ phát triển đến phát triển bền vững
Quan hệ với tự nhiên Khai thác/cải tạo tự nhiên Bảo tồn/sử dụng hợp lý TN
Nguồn: Hội nghị thượng đỉnh RIO 92 về “Môi trường và Phát triển” (1992)
Từ sự khác biệt đó, cho thấy PTBV có nhiều ưu việt hơn, cụ thể là:
Trang 35Một là, PTBV là sự kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển xã
hội và thân thiện với môi trường
Hai là, PTBV lấy con người làm trung tâm, coi con người và tài nguyên thiên
nhiên là điều kiện cơ bản để phát triển và việc khai thác phải đi đôi với bảo tồn và sử dụng hợp lý các nguồn lực này
Ba là, PTBV là phát triển kinh tế tri thức và có tính liên ngành, cộng đồng cao
Nghiên cứu tổng quát trên các lĩnh vực có thể có những cách tiếp cận khác nhau
về PTBV, song có thể khái quát: PTBV là sự phát triển ổn định, liên tục, lâu dài vừa
nhằm đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai PTBV xoay quanh các nội hàm cơ bản là: (i) có sự
gia tăng về mặt lượng và chất để thỏa mãn các nhu cầu của hiện tại; (ii) có sự duy trì trạng thái tăng trưởng trong khoảng thời gian nhất định nhằm đảm bảo lợi ích cho tương lai, khoảng thời gian này phải là dài hạn; (iii) các khía cạnh chủ yếu của PTBV
là bền vững về kinh tế - tài chính, bền vững về môi trường, bền vững về chính trị xã hội; (iv) lối phát triển phụ thuộc quá nhiều vào ngoại lực là không bền vững, vì nó chứa đựng nhiều rủi ro, không chắc chắn, do đó trách nhiệm của thế hệ hiện tại để lại cho thế hệ sau là khả năng phát huy được nội lực của mình để tạo ra sự bền vững; (v) PTBV ở mỗi lĩnh vực khác nhau có thể có những biểu hiện cụ thể khác nhau tùy theo đặc thù hoạt động của lĩnh vực đó
1.2.1.2 Nội dung phát triển bền vững
Từ những nhìn nhận trên có thể khái quát nội dung của PTBV theo ba vấn đề cơ bản sau:
Phát triển bền vững về kinh tế
Phát triển bền vững về kinh tế là đạt được sự tăng trưởng ổn định với cơ cấu kinh tế hợp lý và không ngừng nâng cao hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu cải thiện đời sống nhân dân, tránh được sự suy thoái hoặc đình trệ trong tương lai, tránh để lại gánh nặng nợ nần lớn cho các thế hệ mai sau Như vậy, phát triển kinh tế bền vững là quá trình phát triển nền sản xuất xã hội trên cơ sở khai thác tổng hợp các nguồn lực trong nước, đẩy mạnh áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất kết hợp thu hút hợp lý các nguồn lực từ bên ngoài nhằm thực hiện đồng thời cải tiến chất lượng và cơ cấu sản phẩm + đổi mới sản phẩm + tạo ra các sản phẩm mới có hàm lượng khoa học công nghệ và giá trị gia tăng cao đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và đa dạng của sản xuất và đời sống xã hội
Phát triển bền vững về xã hội
Phát triển bền vững về xã hội là đạt được kết quả cao trong việc thực hiện tiến
bộ và công bằng xã hội, bảo đảm chế độ dinh dưỡng và chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân ngày càng được nâng cao, mọi người đều có cơ hội được học hành và
có việc làm, giảm tình trạng đói nghèo và hạn chế khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớp và nhóm xã hội cũng như giữa các vùng miền, lãnh thổ, giảm các tệ nạn xã hội, nâng cao mức độ công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các thành viên và giữa các thế hệ trong một xã hội, duy trì và phát huy tinh đa dạng và bản sắc văn hóa dân tộc, không ngừng nâng cao trình độ văn minh về đời sống vật chất tinh thần
Trang 36Phát triển bền vững về môi trường
Phát triển bền vững về môi trường là khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường, bảo vệ tốt môi trường sống; bảo vệ các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển và bảo tồn sự đa dạng sinh học; khắc phục suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường Tóm lại, phát triển môi trường bền vững
là đi đối với phát triển kinh tế - xã hội bền vững cần bảo vệ môi trường xanh - sạch - đẹp cùng các thành phần môi trường đảm bảo chất lượng đáp ứng các yêu cầu sự sống bình thường của con người và muôn loài trên Trái đất
1.2.1.3 Nguyên tắc phát triển bền vững
Phát triển bền vững là cách thức phát triển mang tính đạo đức: Phát triển, cải thiện được tình trạng của mình mà không làm cho tình trạng của các chủ thể phát triển khác bị xấu đi Để thực hiện PTBV cần thực hiện theo những nguyên tắc nhất định Theo LHQ, có 27 nguyên tắc cơ bản cần quan tâm để PTBV (Phụ lục 1)
Tổng hợp phân tích 27 nguyên tắc phát triển bền vững của RIO 92 có thể thấy những quan điểm chủ đạo sau: (1) Đảm bảo công bằng trong cùng một thế hệ và giữa các thế hệ; (2) Phát triển là quyền của tất cả các quốc gia, dân tộc; và con người là trung tâm của sự phát triển; (3) Bảo vệ môi trường là hoạt động không thể tách rời của phát triển bền vững; (4) PTBV cần có một thể chế luật pháp và bộ máy hành pháp thống nhất, vận hành hiệu quả và sự tham gia của mọi lực lượng XH, đặc biệt là phụ
nữ, thanh niên, người dân địa phương; (5) Duy trì, gìn giữ hòa bình, đảm bảo kiểm soát tác động của chiến tranh, xung đột, áp bức bóc lột để hạn chế tác động xấu đến tài nguyên môi trường; (6) Xóa nghèo, giảm chênh lệch mức sống là một mục tiêu cần và đặc biệt cấp bách của phát triển bền vững; (7) Sử dụng các công cụ quản lí, luật pháp, kinh tế để bảo vệ môi trường, đảm bảo công bằng xã hội và phát triển bền vững
1.2.2 Khái niệm phát triển bền vững Tập đoàn Kinh tế
Có thể nói phát triển, tự thân nó là một quá trình, nên phát triển bền vững cũng
là một quá trình Không thể có một cái đích duy nhất cho phát triển, vì đích hướng tới của phát triển là sự cải thiện tốt hơn cái đang có, thỏa mãn những nhu cầu liên tục thay đổi, nâng cao của loài người
Trong tác phẩm The Balance Scorecard (Thẻ điểm cân bằng), PTBV là sự phát triển và cân bằng của bốn nhóm yếu tố cấu thành bất cứ một tổ chức nào, đó là: khách hàng, các quy trình nội bộ, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực và năng lực tài chính, trong đó tài chính được đề cập đến như là một thành tố quan trọng nhất trong thế giới kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận Thẻ điểm cân bằng đặt ra các mục tiêu: tối thiểu hóa chi phí, nâng cao hiệu suất sử dụng vốn, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận để gia tăng giá trị cho chủ sở hữu Lợi nhuận là cơ sở để ổn định và PTBV [55]
Đối với một tổ chức kinh tế, “bền vững không đơn giản là hiệu quả mà còn ở chính sách khuyến khích nhân tài, đa dạng và đổi mới cũng như tầm nhìn dài hạn” [142], rằng “có mối liên hệ trực tiếp giữa hiệu quả hoạt động về môi trường, xã hội và quản trị với khả năng sinh lời của doanh nghiệp trong dài hạn”[41], việc xây dựng chính sách PTBV phải nhằm 3 mục tiêu: “thúc đẩy tài chính bền vững”, “đóng góp
Trang 37cho nền kinh tế”, và “đầu tư cho cộng đồng” [56]; và để đánh giá sự PTBV của một
tổ chức kinh tế về cơ bản là đánh giá chiến lược dài hạn cả về tài chính, phát triển nguồn lực và hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên, bảo vệ sức khỏe và an toàn cho người lao động cũng như trách nhiệm của ban lãnh đạo, đó là sản xuất nhiều hơn với đầu vào ít hơn, tạo ra nhiều sản lượng hơn trên mỗi đơn vị đầu vào, từ tài chính, con người và tài nguyên thiên nhiên [142] Hơn nữa, hoạt động của một doanh nghiệp bền vững là “quá trình liên tục, nó sẽ luôn luôn là một hành trình” [137]
Với cách tiếp cận này cho thấy PTBV đã được nhìn nhận trong không gian cụ thể là từng tổ chức kinh tế và trong thời gian dài hạn, đồng thời yếu tố được nhấn mạnh đầu tiên đến sự PTBV của một tổ chức kinh tế chính là nhân tố kinh tế - tài chính Như vậy, nói đến PTBV Tập đoàn kinh tế điểm mấu chốt nhất là tính bền vững
về kinh tế - tài chính của tập đoàn đó Một số học giả quốc tế và Việt Nam tại hội thảo chuyên đề "Chỉ số bền vững doanh nghiệp" (2014) cũng tập trung nhấn mạnh vào vấn đề bền vững về kinh tế - tài chính của tổ chức kinh tế như là một tiền đề cho việc nâng cao năng lực cạnh tranh và giá trị gia tăng cho tổ chức đó
Xuất phát từ các nội hàm về PTBV bao gồm PTBV kinh tế, PTBV xã hội và PTBV môi trường, mặt khác TĐKT hoạt động với tư cách là một tổ chức kinh tế kinh doanh trên thị trường nên PTBV kinh tế thực chất là PTBV trong hoạt động sản xuất kinh doanh của TĐKT Vì vậy, từ những nghiên cứu về PTBV nói trên, với đối tượng nghiên cứu cụ thể là Tập đoàn kinh tế có thể đưa ra khái niệm về PTBV Tập đoàn
kinh tế như sau: PTBV TĐKT là sự phát triển đảm bảo hoạt động sản xuất kinh
doanh tăng trưởng ổn định và hiệu quả lâu dài, gắn liền với việc thực hiện tốt trách nhiệm xã hội và bảo vệ môi trường của TĐKT
Hay nói cách khác PTBV TĐKT là sự phát triển trên cơ sở PTBV SXKD, hài hòa với cộng đồng và thân thiện với môi trường
Với khái niệm này phát triển bền vững tập đoàn kinh tế được xây dựng bao hàm hai khía cạnh:
Thứ nhất, phát triển bền vững tập đoàn kinh tế phải gắn với sự phát triển ổn định và lâu dài trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Tập đoàn
Sự phát triển được thể hiện ở sự gia tăng về mặt lượng (có sự tăng trưởng) và mặt chất (hiệu quả, gắn với trách nhiệm xã hội và môi trường) Sự gia tăng về mặt số lượng thể hiện ở việc tăng trưởng quy mô hoạt động sản xuất, tăng doanh thu, tăng lợi nhuận, mở rộng thị phần, tăng quy mô lao động Còn chất lượng của sự tăng trưởng thể hiện ở việc tăng trưởng phải gắn liền với những biểu hiện tích cực, tiến bộ trong hoạt động kinh doanh như đảm bảo an toàn, kinh doanh hiệu quả nhưng vẫn chú trọng đến trách nhiệm xã hội và môi trường nhằm đảm bảo lợi ích cho tương lai Có hai phương thức tăng trưởng là tăng trưởng nội bộ hoặc tăng trưởng bên ngoài Tăng trưởng nội bộ diễn ra bên trong TĐKT, bằng việc đầu tư mở rộng khả năng sản xuất (mua máy móc, thiết bị hoặc xây dựng nhà máy mới), thương mại (mở thêm cửa hàng hoặc củng cố mạng lưới phân phối) và nâng cao khả năng nghiên cứu (tăng chi phí cho bộ phận nghiên cứu và phát triển) Ngược lại, tăng trưởng bên ngoài được thực hiện bằng việc mua lại, sáp nhập hoặc phát triển thỏa thuận hợp tác giữa các đơn vị
Trang 38Trong hai loại tăng trưởng này, tăng trưởng nội bộ sẽ tạo ra sự tăng trưởng bền vững,
đó là sự tăng trưởng bằng cách áp dụng các hoạt động SXKD hiệu quả và chú trọng đến trách nhiệm xã hội và môi trường, đây là nền tảng cho sự PTBV TĐKT
Phát triển bền vững TĐKT còn là phải duy trì được sự phát triển đó ổn định và lâu dài Ổn định không có nghĩa là giữ nguyên mọi thứ như cũ mà hàm ý là duy trì được hoạt động bình thường, không có những biến động đột ngột và bất thường [59] Tính ổn định là một thuộc tính quan trọng của bền vững, bởi vì trong hoạt động kinh doanh của TĐKT nếu tính biến động cao sẽ rất khó dự đoán về xu thế phát triển Phát triển lâu dài hàm ý sự cải thiện về mặt lượng và chất phải được duy trì trong một thời gian dài hạn (với chu kỳ kinh tế thường là 5-10 năm) Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với tinh thần của báo cáo Brundant khi cho rằng khả năng tối đa hóa lợi ích ở hiện tại cần song hành với khả năng duy trì lợi ích đó trong tương lai
Như vậy, phát triển bền vững TĐKT trước hết cần phải có sự phát triển trong hoạt động SXKD, đồng thời sự phát triển đó phải ổn định và trong thời gian dài hạn
Thứ hai, phát triển bền vững Tập đoàn kinh tế phải gắn phát triển sản xuất kinh doanh với việc thực hiện trách nhiệm xã hội và môi trường của TĐKT
Phát triển bền vững TĐKT không chỉ được đánh giá qua doanh thu, lợi nhuận hàng năm mà phải đánh giá trên nhiều mặt Ba vấn đề cơ bản nhất của PTBV là kinh
tế, xã hội và môi trường Một TĐKT kinh doanh hiệu quả, tỷ suất lợi nhuận cao nhưng không đảm bảo các yêu cầu về an toàn cho người lao động hay vệ sinh thực phẩm cho người tiêu dùng, trong quá trình sản xuất gây ô nhiễm môi trường không thể coi là đang phát triển bền vững Ngược lại, nếu tập đoàn có chú trọng đến trách nhiệm xã hội và môi trường, song lại kinh doanh thua lỗ trong một thời gian dài thì cũng khó có thể có đủ nguồn lực để tăng trưởng, đây cũng không phải là PTBV Ở góc độ kinh tế, nếu tập đoàn chỉ tìm cách tối đa hóa lợi nhuận cũng chưa phải là PTBV mà phải hướng đến sự ổn định của các chỉ số tài chính và kết quả kinh doanh của bản thân tập đoàn và các đơn vị thành viên trong thời gian dài hạn và mối quan
hệ với việc thực hiện trách nhiệm môi trường và xã hội Trách nhiệm xã hội và môi trường là cam kết của tập đoàn về những tác động tích cực từ các hoạt động của mình đối với môi trường sinh thái, người tiêu dùng, người lao động,… là việc tập đoàn giám sát và đảm bảo hoạt động của bản thân tập đoàn, của công ty mẹ và các đơn vị thành viên tuân thủ quy định của pháp luật, tuân thủ theo các tiêu chuẩn đạo đức và tiêu chuẩn quốc tế Quy mô và bản chất lợi ích từ việc thực hiện trách nhiệm xã hội
và môi trường có thể khác nhau tùy thuộc vào bản chất của nó và rất khó định lượng Lợi ích từ chính sách trách nhiệm xã hội và môi trường đối với hiệu quả về mặt tài chính cũng không thể được nhìn thấy ngay trong ngắn hạn nhưng có thể mang lại lợi ích trong tương lai Chẳng hạn như việc thực hiện trách nhiệm xã hội và môi trường mang lại một hình ảnh tốt đẹp và triển vọng của tập đoàn, thuyết phục các chính phủ
và công chúng rằng họ luôn quan tâm đến những vấn đề như sức khỏe, môi trường,
an toàn lao động, từ đó giúp tập đoàn có nhiều lợi thế trong việc xin giấy phép kinh doanh, trong việc tuyển dụng và giữ chân nhân viên hay khẳng định thương hiệu
Trang 39Có thể nói, một TĐKT chỉ có thể PTBV khi làm tốt cả ba mặt kinh tế (thực chất là PTBV hoạt động sản xuất kinh doanh), xã hội và môi trường TĐKT muốn nâng cao năng lực cạnh tranh thì phải đầu tư cho PTBV, còn không thì buộc lòng phải bị đào thải
1.2.3 Nội dung phát triển bền vững TĐKT
Từ những phân tích ở trên có thể khái quát nội dung của PTBV TĐKT theo ba trụ cột cơ bản, đó là: PTBV về kinh tế (PTBV SXKD), PTBV về xã hội và PTBV về môi trường Nội dung của PTBV TĐKT được biểu thị bằng mô hình sau đây:
và tạo ra các năng lực sản xuất mới có năng suất lao động cao hơn, tính nhân văn cao hơn và thân thiện hơn với môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội không những trong hiện tại mà cả cho các thế hệ tương lai Năng lực sản xuất mới
có thể sản xuất sản phẩm cùng loại, sản phẩm sạch hơn, sản phẩm thay thế và/hoặc sản phẩm mới hoàn toàn
Một doanh nghiệp được coi là PTBV SXKD khi hoạt động SXKD của doanh nghiệp đó đạt tới hiệu quả nhất định để có thể tồn tại, chịu đựng và chống đỡ các tác động bất lợi của môi trường bên ngoài Một doanh nghiệp có thể đảm bảo được khả năng thanh toán những khoản nợ tại mọi thời điểm xác định và không gây ra những tác động tiêu cực cho nền kinh tế và cộng đồng dù có những tác động từ các diễn biến bất lợi của nền kinh tế - xã hội là một doanh nghiệp đạt được sự bền vững trong hoạt động SXKD [117]
Sự bền vững trong hoạt động SXKD còn được định nghĩa là việc cung cấp vốn
và các giải pháp quản lý rủi ro cho các dự án cũng như các hoạt động kinh doanh nhằm thúc đẩy hoặc không gây trở ngại đến sự thịnh vượng, bảo vệ môi trường và tạo
sự công bằng cho xã hội [128]
Trong tác phẩm “Thẻ điểm cân bằng” [55] đề cập đến hiệu quả hoạt động kinh doanh như là thành tố quan trọng nhất nhằm đạt đến mục tiêu lợi nhuận của một tổ
MÔ HÌNH PTBV TĐKT
PTBVMT
PTBVKT (PTBV SXKD)
PTBVXH
Trang 40chức kinh tế Các chỉ tiêu cơ bản sử dụng để đánh giá năng lực hoạt động kinh doanh của tổ chức kinh tế được đề cập đến trong tác phẩm này bao gồm: quy mô vốn, mức
độ bảo toàn và phát triển vốn, đặc biệt là vốn chủ sở hữu, khả năng tự tài trợ, khả năng đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh, khả năng sinh lời (khả năng sinh lời của tổng vốn kinh doanh, khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu)…
Quan điểm khác lại cho rằng sự bền vững trong hoạt động SXKD có nghĩa là doanh nghiệp có lượng vốn chủ sở hữu đủ lớn để trong trường hợp có khủng hoảng xảy ra, họ có thể tái tổ chức bằng những nguồn lực sẵn có của mình Trong các doanh nghiệp SXKD bền vững, lợi nhuận lâu dài được ưu tiên hơn bất kỳ lợi ích ngắn hạn nào Để có được hoạt động kinh doanh bền vững, họ cần phải phát triển các mục tiêu dài hạn, phác thảo kết quả hoạt động kinh doanh dự kiến (lợi nhuận mong muốn, yêu cầu lưu lượng tiền mặt, các khoản nợ hiện tại,…), từ đó lập kế hoạch kinh doanh giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu này trong một khoảng thời gian quy định, các quyết định đưa ra cũng nên tập trung vào việc đạt được mục tiêu dài hạn, tránh đưa ra quyết định sẽ cung cấp cho doanh nghiệp một lợi ích tài chính ngắn hạn nhưng có tác động tiêu cực đến khả năng đạt được mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp[120]
TĐKT là một tổ chức kinh tế bao gồm một tổ hợp các công ty mẹ, con và các công ty liên kết, có quan hệ về vốn, công nghệ, tài chính, thông tin, đào tạo, nghiên cứu và các liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các bên tham gia, trong đó công ty
mẹ nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của công ty con về tài chính và chiến lược phát triển Từ những nhìn nhận trên cho thấy điểm mấu chốt của PTBV SXKD của TĐKT là đạt được hiệu quả hoạt động SXKD trong thời gian dài hạn
Hiệu quả hoạt động SXKD biểu hiện mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nguyên vật liệu, thiết bị, máy móc, lao động và đồng vốn) để đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động SXKD là mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận Hiệu quả hoạt động SXKD phản ánh kết quả đạt được
từ hoạt động SXKD trong mối quan hệ tương quan với chi phí bỏ ra để có được kết quả đó Để có được hoạt động SXKD bền vững, hiệu quả này cũng cần xem xét trong mối quan hệ với sự an toàn trong hoạt động SXKD và khả năng bảo toàn vốn cho hoạt động SXKD trong tương lai, mối quan hệ này phải được duy trì trong thời gian dài Như vậy có thể thấy PTBV SXKD được thể hiện trên những khía cạnh sau:
Thứ nhất là, phải đảm bảo được hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra khả năng sinh lời lâu dài Mỗi chủ thể kinh tế muốn tồn tại cần phải có lợi
nhuận, có thu nhập Với TĐKT cũng vậy, nâng cao hiệu quả SXKD, gia tăng khả năng sinh lời luôn là cái đích để TĐKT hướng tới Tuy nhiên muốn nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD và gia tăng khả năng sinh lời cần có sự tăng trưởng nhất định ở hiện tại Sự tăng trưởng hiện tại của Tập đoàn được đánh giá thông qua sự gia tăng về quy
mô và tốc độ tăng trưởng của sản lượng, vốn, của tài sản, của các hoạt động đầu tư với chất lượng tốt Lợi nhuận mà Tập đoàn có sẽ được gia tăng trên cơ sở sự mở rộng
về quy mô và chất lượng các hoạt động kinh doanh Có được lợi nhuận, Tập đoàn cũng có thể gia tăng được phần lợi nhuận để lại để tái đầu tư, từ đó gia tăng vốn chủ
sở hữu, hình thành nên năng lực tài chính nội sinh của Tập đoàn, đáp ứng tốt hơn cho