Hệ thống hóa các lý thuyết ,về tác động của đầu tư công, đến tăng trưởng kinh tế, để đối chiếu, và vận dụng phù hợp, với các điều kiện, đặc thù của vùng, Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 11.2 Sự cần thiết ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững là mục tiêu chủ yếu của các quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển Tăng trưởng kinh tế luôn là điều kiện tiên quyết để nâng cao đời sống vật chất tinh thần và phúc lợi xã hội cho mọi tầng lớp dân cư và giảm tỷ lệ thất nghiệp mà mọi quốc gia đều kỳ vọng,… Do vậy tăng trưởng kinh tế và nghiên cứu về các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế là vấn đề luôn thu hút sự quan tâm của chính phủ và các nghiên cứu cũng như nhà hoạch định chính sách kinh tế - xã hội
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa đầu tư công với tăng trưởng kinh tế song mối quan hệ giữa hai yếu
tố này vẫn còn nhiều tranh luận Trong số đó, có không ít các công trình nghiên cứu, khẳng định tác động tích cực của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế như các nghiên cứu của Easterly và Rebelo, 1993; Abiad
Trang 2& cộng sự, 2015,… Bên cạnh đó, một số nghiên cứu lại chỉ ra những tác động tiêu cực hoặc tác động không đáng kể đến tăng trưởng kinh tế, thường là các quốc gia đang phát triển (Devarajan và cộng sự, 1996; Shi, 2013; Wamer, 2014)
Các lý giải khác nhau về quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế nói trên, chủ yếu xuất phát từ nhận định về các góc độ tác động của thể chế, cơ chế và chính sách của chính phủ đương quyền Nguyên nhân của sự khác biệt trên là do cách tiếp cận khác nhau và sự khác biệt
về quan điểm nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu về tác động tương quan này ở Việt Nam có những kết quả ban đầu nhưng vẫn còn nhiều hạn chế Chính vì
lẽ đó, luận án mong muốn tham gia nghiên cứu để tìm kiếm những kết quả cần thiết trong trường hợp này ở Việt Nam Cụ thể là ở Đồng bằng sông Cửu Long
Điều kiện kinh tế Việt Nam, vẫn trong tình trạng của một nước đang phát triển, cơ cấu kinh tế còn lạc hậu; việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng hiện đại hóa và hội nhập đang là một yêu cầu bức xúc Để chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc gia, đòi hỏi phải có sự chuyển dịch đồng bộ cơ cấu kinh tế từng vùng (như: vùng đồng bằng Bắc Bộ, vùng Đông Bắc, vùng Tây Bắc, vùng Bắc Trung Bộ, vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, vùng Tây Nguyên Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ (Đồng bằng sông Cửu Long) Sự chuyển dịch đồng bộ đó là nhân tố quan trọng tác động đến tăng trưởng kinh tế
Việc nghiên cứu các chiến lược và chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhằm xác lập cơ cấu kinh tế hợp lý và hướng tới phát triển kinh tế bền vững luôn được đặt ra Đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam được xác định là một vùng kinh tế trọng điểm và giữ vai trò
Trang 3bảo đảm an ninh lương thực quốc gia Tuy nhiên, việc phát triển vùng đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của vùng Tình trạng chậm phát triển kinh tế
ở Đồng bằng sông Cửu Long xuất phát từ nhiều nguyên nhân như kết cấu hạ tầng – xã hội còn yếu kém, công nghiệp phát triển chậm, hệ thống giáo dục còn nhiều hạn chế,… (Nguyễn Hữu Thịnh, 2015)
Bắt nguồn từ thực tế đó, mục tiêu đặt ra cho đề tài nghiên cứu:
Hệ thống hóa các lý thuyết về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế để đối chiếu và vận dụng phù hợp với các điều kiện đặc thù của vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Vận dụng hệ thống lý thuyết này và phân tích thực tế để rút ra thực tiễn của Đồng bằng sông Cửu Long và tìm ra các giải pháp tương ứng
Đề xuất các giải pháp trong mối quan hệ giữa tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế vùng Đồng bằng sông Cửu Long bằng đầu
tư phát triển đồng bộ trên các phương tiện như: Kết cấu hạ tầng kinh tế -
xã hội, công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp, đào tạo, phúc lợi an sinh xã hội và trong các mối quan hệ biện chứng của chúng
1.3 Mục tiêu nghiên cứu của luận án
1.3.1 Mục tiêu tổng quát
Chọn lọc và hệ thống hóa các quan điểm lý luận để hình thành khung lý thuyết, cơ sở lý luận về đầu tư công và ý nghĩa của đầu tư công; những tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế, tạo môi trường cho sự phát triển bền vững; đồng thời vận dụng kết quả đó vào nghiên cứu cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long - Một vùng kinh tế trọng điểm của đất nước với nhiều tiềm năng nhưng chưa hội đủ các cơ hội để bức
Trang 4ra ý nghĩa thực tiễn về các điểm mạnh, yếu, thời cơ, thách thức của vùng Đồng bằng sông Cửu Long và tìm ra cơ hội cho sự tăng trưởng, phát triển của vùng thông qua các nguồn vốn đầu tư Trong đó vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (ngân sách TW và ngân sách địa phương) giữ vai trò trọng yếu Từ kết quả trên, luận án tìm kiếm các phương hướng giải pháp nâng cao hơn hiệu quả đầu tư công cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long theo các trật tự ưu tiên; với mong muốn cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long có mức độ tăng trưởng kinh tế cao hơn và đón nhận cơ hội cho sự phát triển đột phá để Đồng bằng sông Cửu Long hướng tới sự phát triển bền vững theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế toàn cầu
Bên cạnh đó, để đề xuất những giải pháp đầu tư công hiệu quả và phù hợp với bối cảnh thực tế của vùng , luận án cũng đề cập đến sự cảnh báo của biến đổi khí hậu, nhiễm mặn mà Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt và sự cần thiết đầu tư ứng phó với các hiện tượng đó, nhằm bảo đảm sự ổn định và tăng trưởng kinh tế
- Từ cơ sở phân tích thực trạng và bằng chứng thực nghiệm về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế, luận án hướng đến phân tích thực trạng quy trình quản lý đầu tư công tại các tỉnh, thành vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long giai đoạn 2001-2014
Trang 51.4 Các câu hỏi được đặt ra
Để đạt được các mục tiêu trên, câu hỏi được đặt ra để giải quyết là:
Đầu tư công có tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế của vùng Đồng bằng sông Cửu Long?
Thực trạng quy trình đầu tư công vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long giai đoạn 2001-2014 là như thế nào?
Giải pháp nào cho đầu tư công hướng đến mục tiêu tăng trưởng tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long ?
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là thực trạng đầu tư công, tăng trưởng kinh tế cũng như mối quan hệ giữa hai yếu tố này ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Bên cạnh đó, luận án tập trung nghiên cứu những đặc điểm riêng biệt về kinh tế - xã hội của vùng đồng bằng sông Cửu Long, phân tích những lợi thế, khó khăn cũng như những cơ hội và thách thức của vùng trong thời kỳ hội nhập kinh tế, cụ thể là từ 2001 -
2014
Nghiên cứu hướng đến phân tích hiện trạng của các ngành kinh tế
- xã hội: công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, giáo dục đào tạo và các vấn
đề an sinh xã hội; đặc biệt là cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội trong mối quan hệ với đầu tư công và sự tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế của vùng làm cơ sở cho quá trình phát triển bền vững
Nghiên cứu cũng tập trung phân tích cơ cấu đầu tư công, hiệu quả đầu tư công cũng như cơ chế và thực trạng quản lý đầu tư công tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long nhằm khái quát bức tranh toàn diện về đầu tư công của vùng Đồng bằng sông Cửu Long Đó sẽ là tiền đề để nghiên
Trang 6cứu đề xuất những giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao hiệu quả đầu tư công hướng đến mục tiêu tăng trưởng toàn diện của vùng
1.5.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian:
Luận án tập trung nghiên cứu vị trí, điều kiện, đặc điểm kể cả đặc thù và tiềm năng kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long, vùng kinh tế trọng điểm - bảo đảm an ninh và xuất khẩu lương thực quốc gia Theo đó, đề cập đến khả năng của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế và chiến dịch kinh tế theo hướng hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đối với Đồng bằng sông Cửu Long
Luận án cũng nghiên cứu về các hoạt động của các ngành kinh tế -
xã hội - văn hóa của vùng với sự tác động của đầu tư công
Không gian nghiên cứu còn được xem xét đến mối quan hệ tương tác giữa Đồng bằng sông Cửu Long với thành phố Hồ Chí Minh trên vị thế là đầu tàu kinh tế quốc gia và miền Đông Nam Bộ là vùng kinh tế trọng điểm của Nam Bộ
Về thời gian:
Luận án tập trung nghiên cứu những tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ 2001 - 2014 Theo Huy Vũ (2016), trong những năm gần đây, đồng bằng sông Cửu Long có nhiều chuyển biến trên các phương tiện về cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, theo đó là sự tăng trưởng của công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp, giáo dục, đào tạo
và các vấn đề an sinh xã hội và những tác động tích cực đến chuyển dịch
cơ cấu kinh tế toàn vùng
Có thể nói, thời kỳ này đã tạo cho Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều cơ hội hơn trong tăng trưởng kinh tế, nhờ nhận được nhiều nguồn
Trang 7vốn đầu tư, trong đó nguồn quan trọng hơn cả là đầu tư công trình ngân sách TW và ngân sách địa phương Mặt khác, luận án cũng đề cập đến sự cần thiết phải kết hợp đồng thời giữa đầu tư công từ ngân sách nhà nước với các loại hình đầu tư khác, mới có thể tạo điều kiện để Đồng bằng sông Cửu Long chuyển biến tích cực theo xu hướng hội nhập
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu phù hợp với mục tiêu được đặt ra Các phương pháp nghiên cứu được vận dụng để thực hiện các luận án là:
- Phương pháp phân tích dữ liệu thống kê
Luận án tập hợp chọn lọc và sử dụng hệ thống số liệu “thứ cấp” đã được xử lý của các cơ quan thống kê từ TW và địa phương Đồng thời,
hệ thống hóa, phân loại theo các tiêu chí để phân tích đánh giá hiện tượng thực đối tượng nghiên cứu và đúc kết thành những nội dung cần thiết phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Phương pháp điều tra khảo sát
Điều tra và khảo sát ở đây được thực hiện trên 3 phương diện: + Khảo sát các điều kiện, đặc điểm kinh tế - xã hội các địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long để tạo thêm căn cứ phân tích đánh giá khả năng, tiềm lực cũng như những thuận lợi, khó khăn trong tiếp nhận vốn đầu tư công và hiệu quả của nó đối với tăng trưởng kinh tế
+ Tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các nhà quản lý, các nhà hoạch định chiến lược chính sách về đầu tư công và tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế đối với điều kiện kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long như: NGND GS.TS Nguyễn Thanh Tuyền – nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế TP.HCM và Trường Đại
Trang 8học Kinh tế Tài chính TP.HCM; TS Võ Hùng Dũng - Giám đốc VCCI Chi nhánh Cần Thơ; TS Trần Thanh Mẫn - Phó Chủ tịch, Tổng thư ký UBTW MTTQ VN; PGS.TS Mai Văn Nam - Trưởng khoa sau Đại học - Trường Đại học Cần Thơ; TS Trần Ngọc Nguyên - Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Cần Thơ
+ Tìm hiểu, quan sát về các yếu tố, có thể tạo ra những cơ hội thuận lợi để Đồng bằng sông Cửu Long tiếp cận với các nguồn vốn đầu
tư công dưới các dạng khác nhau
Ngoài ra luận án cũng sử dụng các phương pháp suy diễn và qui nạp cũng như phương pháp phân tích SWOT để tìm ra những điểm mạnh, yếu, thời cơ và thách thức về đầu tư công của vùng trong mục tiêu hướng đến tăng trưởng kinh tế bền vững
- Phương pháp phân tích định lượng
Cụ thể, về phân tích định lượng, các kết quả nghiên cứu được thảo luận chủ yếu dựa trên phương pháp Bình phương tổng quát khả dụng (Feasible General Least Square - FGLS) bởi sự hiệu quả của phương pháp này trong việc xử lý phương sai thay đổi và tự tương quan Bên cạnh đó, hệ thống các biến tương tác thích hợp cũng được đưa vào mô hình kiểm định hướng đến những mục tiêu kiểm định cụ thể
Trang 91.7 Lược khảo tài liệu
Một trong những lý do để luận án thực hiện đề tài nghiên cứu này xuất phát từ lược khảo và tổng hợp các tài liệu nghiên cứu trước cùng lĩnh vực Luận án tham khảo một cách có hệ thống các công trình nghiên cứu trong cùng lĩnh vực đã được công bố, nhằm kế thừa tri thức đã được trải nghiệm; đồng thời để tích luỹ thêm kiến thức và vận dụng nó trong nghiên cứu khoa học
1.7.1 Lược khảo nghiên cứu của thế giới
Các nghiên cứu thường xem xét tác động của đầu tư công chung (Pereira, 2000, 2001; Dessus & Herrera, 2000; Bose & cộng sự, 2003;
Le & Suruga, 2005; Arslanalp & cộng sự, 2010) đến tăng trưởng kinh tế hoặc xem xét tác động đầu tư công trong một lĩnh vực cụ thể đến tăng trưởng kinh tế, thường là đầu tư công trong phát triển cơ sở hạ tầng (Aschauer, 1998; Pereira, 2001; Ramirez, 2004), năng lượng ( Lee & Chang, 2005; Hye & Riaz, 2008), nông nghiệp (Mishra & Chand, 1995; Mogues & cộng sự, 2012) hay giáo dục (Kuhl Teles & Andrade, 2008)
Tuy nhiên, đa phần các nghiên cứu thường nghiên cứu với dữ liệu chuỗi thời gian đầu tư công của một quốc gia (Aschauer, 1989; 1998; 2010; Pereira, 2000, 2001; Pereira & Andraz, 2001; Chen, Shen-Tung,
& Lee, 2005; Hye & Riaz, 2008; Abounoori & Nademi, 2010 ) hoặc dữ liệu bảng với nhiều quốc gia (Devarajan & cộng sự, 1996; Dessus & Herrera, 2000; Bose & cộng sự, 2003; Haque, 2004; Gupta & cộng sự, 2005; World Bank, 2007; Arslanalp & cộng sự, 2010) Các nghiên cứu cấp vùng hoặc địa phương còn khá khiêm tốn (Auteri & Constantini, 2004; Matinez-López, 2005; Ezcurra & cộng sự, 2005; Schaltegger & Torgler, 2006; Kortelainen & Leppänen, 2013)
Kết quả thực nghiệm về tác động của đầu tư công còn chưa thống
Trang 10nhất và cho thấy kết quả trái chiều Một số nghiên cứu cho thấy kết quả tác động tích cực của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế (Aschauer, 1989; Pereira 2000, 2001; Dessus & Herrera, 2000; Bose & cộng sự, 2003; Haque, 2004; Romp & de Haan, 2005; Gupta & cộng sự, 2005; World Bank, 2007; Arslanalp & cộng sự, 2010) Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại chỉ ra tác động tiêu cực hoặc tác động không đáng
kể của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế (Deverajan & cộng sự, 1996; Folster & Henrekson, 2001; Schaltegger & Torgler, 2006) Một số nghiên cứu chỉ ra tác động phi tuyến của chi tiêu công/ đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế (Chen & Lee, 2005; Abounoori & Nademi, 2010; Odarawa, 2010; Herath, 2012; Altunc & Aydin, 2013)
Chính vì kết quả kiểm định về tác động của đầu tư công chưa thống nhất, một các dòng nghiên cứu tập trung vào hiệu quả đầu tư tư công hay phân tích cơ chế và thực trạng quản lý đầu tư công tại các trường hợp nghiên cứu khác nhau (Fontaine, 1997, Richard & Daniel, 2001; Florio & Vignetti, 2005; Rajaram & cộng sự, 2010; Dabla-Norris
& cộng sự, 2012)
1.7.2 Lược khảo các nghiên cứu ở Việt Nam
Tương tự, vai trò của đầu tư công tại Việt Nam cũng được các học giả quan tâm nghiên cứu Một số nghiên cứu tập trung vào phân tích thực nghiệm về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tại trường hợp nghiên cứu Việt Nam (Nguyễn Thị Cành, 2008; Tô Trung Thành, 2011; Sử Đình Thành 2011, 2013) Ở cấp độ địa phương, một số nghiên cứu đi vào xem xét tác động của chính sách tài khóa hay quy mô chính phủ đến ở các cấp tỉnh, thành (Phạm Thế Anh, 2008; Hoàng Thị Chinh Thon, 2010; Sử Đình Thành, 2013; Đặng Văn Cường & Bùi Thanh Hoài, 2014) Tuy nhiên, các nghiên cứu thường nghiên cứu với
Trang 11phạm vi nghiên cứu rộng là tất cả các tỉnh thành tại Việt Nam, việc xem xét tác động của đầu tư công đến một vùng cụ thể như Đồng bằng sông Cửu Long dường như khá khiêm tốn Việc này gây ra những khó khăn nhất định trong việc đề xuất ý tưởng, hàm ý chính sách hiệu quả về đầu
tư công cho từng vùng miền cụ thể
Một số nghiên cứu đi vào phân tích thực trạng cơ chế quản lý đầu
tư công ở Việt Nam Tuy nhiên, các nghiên cứu thường xem xét một vài khía cạnh cụ thể của cơ chế quản lý đầu tư công (Nguyễn Hồng Thắng, 2008; Sử Đình Thành & Bùi Thị Mai Hoài, 2012; Nguyễn Xuân Điền, 2015; Phạm Thị Anh Đào, 2015) Hơn nữa, do tập trung vào cơ chế quản
lý đầu tư công, các bằng chứng thực nghiệm về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế ở các nghiên cứu này chưa được chú trọng
Như vậy, vai trò của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế đã và đang được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, các nghiên cứu được phát triển nhiều hướng khác nhau Trong đó, các nghiên cứu
về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế ở cấp độ vùng, địa phương còn khá khiêm tốn Bên cạnh đó, việc kết hợp tìm kiếm bằng chứng thực nghiệm về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế
và phân tích cơ chế quản lý công ở cùng một trường hợp nghiên cứu chưa được chú trọng Chính vì vậy, luận án hướng đến mục tiêu kiểm định thực nghiệm tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế và phân tích thực trạng về cơ chế quản lý đầu tư tại các tỉnh, thành vùng Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2001-2014
1.8 Những điểm mới của luận án
Đầu tiên, luận án kết hợp giữa phân tích thực trạng và đánh giá thực nghiệm về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế của vùng đồng bằng sông Cửu Long Kết quả nghiên cứu chỉ ra đầu tư công
Trang 12của vùng đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập, do
đó, chưa tạo được tác động tích cực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của vùng
Kết quả của mục tiêu nghiên cứu thực nhất cũng là tiền đề để luận
án thực hiện mục tiêu nghiên cứu thứ hai Không phân tích tất cả nguyên dẫn đến đầu tư công không hiệu quả của vùng, luận án tập trung phân tích thực trạng quản lý đầu tư công của vùng đồng bằng sông Cửu Long, vấn đề mà nhà nước có thể thay đổi trực tiếp để cải thiện hiệu quả đầu tư công của vùng Kết quả nghiên cứu cho thấy thực trạng quản lý đầu tư công còn nhiều hạn chế và đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến những khó khăn, kém hiệu quả của đầu tư công của vùng đồng bằng sông Cửu Long
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã cố gắng, gắn kết chặt chẽ giữa đầu tư công với những đặc thù của Đồng bằng sông Cửu Long để phân tích và tìm ra cách thức đầu tư phù hợp, nhằm tác động tích cực và
có hiệu quả hơn trong quan hệ giữa đầu tư công với tăng trưởng kinh tế, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của vùng Đặc biệt chú ý đến mối quan hệ biện chứng trong đầu tư giữa các ngành, nhằm tạo nên tác động dây chuyền cho quá trình đó Cụ thể là với đặc điểm của Đồng bằng sông Cửu Long, ngoài giữ vai trò an ninh lương thực là cần phải ưu tiên đầu tư cho nông nghiệp, nhưng để phát triển căn cơ và đồng bộ trước tiên cần đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng, trong đó đầu tư vào giao thông vận tải có ý nghĩa đòn bẩy cho sự phát triển liên đới với các ngành: Công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và nâng cao phúc lợi xã hội của toàn vùng
Bên cạnh đó, để có thể đưa ra những giải pháp về đầu tư công hiệu quả và phù hợp với thực tế của vùng, luận án phân tích những khó khăn
Trang 13mà vùng đồng bằng sông Cửu Long phải đối mặt trong tình hình mới Đồng bằng sông Cửu Long đang phải đương đầu với biến đổi khí hậu và nhiễm mặn, do đó, một trong những vấn đề cấp thiết được đặt ra là phải tái cấu trúc qui hoạch kinh tế - xã hội toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long và đầu tư công cần có sự thích ứng để hiệu quả đầu tư được nâng cao hơn
Tuy nhiên, bởi năng lực nghiên cứu của tác giả còn hạn chế; do đó những ý tưởng này, trong chừng mực vẫn chưa thể đáp ứng đầy đủ như mong muốn
1.9 Cấu trúc của luận án
Luận án được cấu trúc thành 6 chương ứng với các nội dung nghiên cứu được rút ra:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận về đầu tư công và tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế
Chương 3: Phân tích thực trạng và đánh giá thực nghiệm về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế vùng đồng bằng sông Cửu Long
Chương 4: Phân tích cơ chế và thực trạng quản lý đầu tư công vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Chương 5: Những dự báo về kinh tế vùng đồng bằng sông Cửu Long
Chương 6: Kết luận và hàm ý chính sách
Trang 14CHƯƠNG 2
CÔNG VÀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
Ở Chương này, luận án trình bày về cơ sở lý thuyết lý giải mối quan hệ giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế cũng như cơ chế về quản lý đầu tư công Chương cơ sở lý thuyết này sẽ là nền tảng để nghiên cứu thực hiện các kiểm định, thảo luận kết quả kiểm định và phân tích thực trạng về tình hình đầu tư công, cơ chế quản lý đầu tư công tại các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long ở các chương sau Theo đó, nội dung của chương gồm hai nội dung chính như sau: phần thứ nhất tập trung vào lý giải tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế dựa trên nhiều nền tảng, lập luận khác nhau và phần thứ hai hướng đến các vấn đề lý thuyết liên quan đến quản lý đầu tư công
Tổng quan lý thuyết cho thấy, có nhiều khái niệm về đầu tư công khác nhau và cũng có nhiều khác biệt nhất định tùy theo quan điểm của từng quốc gia Tuy nhiên, tựu chung lại, một cách khái quát nhất, có thể hiểu đầu tư công là hoạt động đầu tư của nhà nước vào các chương trình,
dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, chủ yếu đầu tư vào các lĩnh vực phục vụ lợi ích chung Có nhiều mô hình lý thuyết luận giải về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế, trong đó, mô hình lý thuyết của Le & Suruga (2005) không chỉ luận giải tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế mà còn lý giải tác động của FDI cũng như
sự tương tác giữa hai yếu tố này đến tăng trưởng kinh tế
Trang 15Tương tự, mặc dù có những khác biệt trong quy trình quản lý đầu
tư công ở các quốc gia, quản lý đầu tư công được hiểu là một hệ thống tổng thể, bắt đầu từ việc hình thành những định hướng lớn trong chính sách đầu tư công cho đến việc thẩm định, lựa chọn, lập ngân sách, thực thi, và đánh giá các dự án đầu tư cụ thể, với mục đích là đảm bảo hiệu quả và hiệu lực của đầu tư công, qua đó đạt được mục tiêu tăng trưởng
và phát triển chung của nền kinh tế
Để trình bày các nội dung trên, Chương 2 được cấu trúc như sau: Phần thứ nhất của chương trình bày các khái niệm chính của đề tài như đầu tư công, tăng trưởng kinh tế và quản lý đầu tư công; Phần thứ hai trình bày khung phân tích, một số mô hình lý thuyết điển hình lý giải về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế dựa trên nhiều nền tảng, lập luận khác nhau Trong khi đó, phần thứ ba của bài nghiên cứu xem xét các vấn đề lý thuyết liên quan đến cơ chế quản lý công Bên cạnh đó, các nghiên cứu thực nghiệm và các vấn đề có liên quan cũng được trình bày
2.1 Các khái niệm chính
2.1.1 Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế được hiểu là sự gia tăng về quy mô sản lượng quốc gia hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người qua một thời gian nhất định Theo đó, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng tổng các giá trị hàng hóa và dịch vụ do các ngành kinh tế của một quốc gia tạo ra trong một khoảng thời gian nhất định
Tăng trưởng kinh tế biểu hiện bằng quy mô tăng trưởng và tốc độ tăng trưởng (trong đó quy mô tăng trưởng phản ánh sự gia tăng hay sụt giảm đi; tốc độ tăng trưởng là phép so sánh tương đối phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm của nền kinh tế) Khi nghiên cứu quá trình tăng
Trang 16trưởng, cần phải xem xét hai khía cạnh tăng trưởng về số lượng và chất lượng
2.1.2 Đầu tư và đầu tư công
Đầu tư
Đầu tư, trong kinh tế học vĩ mô, chỉ việc gia tăng tư bản nhằm tăng cường năng lực sản xuất tương lai Đầu tư, vì thế, còn được gọi là hình thành tư bản hoặc tích lũy tư bản Có nhiều cách để phân loại đầu
tư, thông thường, đầu tư được phân loại thành đầu tư tư nhân và đầu tư công Trong mô hình tăng trưởng của Keynes, đầu tư tư nhân I và đầu tư công G là các nhân tố quan trọng hình thành tổng cầu Y trong phương trình: Y = C + I + G + X - M (với C là tiêu dùng cá nhân, X là xuất khẩu
và M là nhập khẩu)
Theo lý thuyết, có hai giả thuyết chính về quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân Giả thuyết đầu tư công “Lấn át” đầu tư tư nhân cho rằng, đầu tư công gia tăng sẽ khiến đầu tư khu vực tư nhân bị thu hẹp lại Lý do là nhu cầu của Chính phủ về hàng hóa dịch vụ có thể khiến lãi suất gia tăng, nguồn vốn trở nên đắt đỏ hơn, theo đó, tác động tiêu cực đến khu vực tư nhân Ngoài ra, việc tài trợ cho chi tiêu đầu tư từ ngân sách nhà nước, thường được thực hiện bởi tăng thuế hay vay nợ, đã cạnh tranh một cách trực tiếp với khu vực tư nhân trong việc tiếp cận các nguồn lực tài chính khan hiếm của nền kinh tế Với quan điểm được đồng thuận là đầu tư công thường có hiệu quả thấp hơn đầu tư tư nhân, thì giả thuyết “Lấn át” đưa ra khuyến nghị cắt giảm đầu tư công để hỗ trợ tăng trưởng
Giả thuyết ngược lại là đầu tư công thúc đẩy đầu tư tư nhân (Bacha, 1990; Taylor, 1994; Agenor, 2000), do đầu tư công có thể tạo ra
“Ngoại ứng tích cực” cho khu vực tư nhân Một số ngoại ứng có thể kể đến như việc cung cấp các cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội như giao thông,
Trang 17viễn thông, giáo dục,… từ đầu tư công tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi hơn cũng như giảm được chi phí sản xuất cho khu vực tư nhân
để tăng cường đầu tư và nhu cầu hàng hóa dịch vụ từ chính phủ khiến cầu về sản phẩm của khu vực tư nhân gia tăng, khuyến khích khu vực này đầu tư nhiều hơn do kỳ vọng về doanh thu và lợi nhuận tốt hơn Nếu giả thuyết này được kiểm định đúng, không nhất thiết phải giảm đầu tư công, bởi những ngoại ứng tích cực là cần thiết cho khu vực tư nhân và theo đó là cho tăng trưởng
Đầu tư công
Trên thế giới, khái niệm đầu tư công hay còn gọi là đầu tư của nhà nước hoặc là đầu tư công cộng gắn liền với hoạt động chi tiêu của chính phủ Tuy nhiên, tùy theo quan niệm của từng quốc gia mà khái niệm đầu
tư công có thể có những khác biệt nhất định Nhìn chung, khác biệt chủ yếu là đầu tư công có thể bao gồm các dự án cho các mục đích kinh doanh thông qua khu vực DNNN hoặc các dự án chỉ thuần tùy mục đích công ích
Ví dụ, ở Úc, đầu tư công bao gồm xây dựng cơ bản hạ tầng thiết yếu đường bộ, đường sắt, nhà ở, hệ thống giáo dục và hỗ trợ tài chính cho quỹ hưu trí, người lao động, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ như miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong ngắn hạn, các dự án đào tạo, Đối với nước Áo, đầu tư công gồm cơ sở hạ tầng, hỗ trợ các chương trình đầu tư bằng các biện pháp về thuế và các chương trình việc làm mang tính vùng miền Một số quốc gia như Canada đầu tư công gồm đầu tư vào đường, cầu và giao thông công cộng, hệ thống nước sạch và chăm sóc y tế, đầu
tư và nâng cấp nhà xã hội, hỗ trợ người mua nhà, giảm thuế thu nhập cá nhân và thu nhập doanh nghiệp, hỗ trợ các thành phần kinh tế và cộng đồng dễ ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế như nông nghiệp, công nghiệp sản xuất Pháp chủ yếu đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước trong
Trang 18các lĩnh vực bưu chính, năng lượng và đường sắt; đầu tư cho quốc phòng, các lĩnh vực đầu tư trọng yếu (như phát triển bền vững và công nghệ sạch, giáo dục chất lượng cao); đầu tư cho hệ thống công ích như bệnh viện, nhà trẻ và các tổ chức mang tính cộng đồng khác; hỗ trợ giải quyết vấn đề lao động, nhà ở, sức khỏe và bảo vệ môi trường Đối với Nhật Bản các loại hàng hóa công cộng được cung cấp bởi khu vực công (do chính phủ quốc gia, chính quyền địa phương và các tập đoàn công cộng quản lý) là các loại hàng hóa không giao dịch được thông qua cơ chế thị trường, đồng thời đầu tư được thực hiện bởi khu vực công cho các tiện ích như đường xá, cầu cảng,… thì được gọi là đầu tư công Ở Việt Nam, khái niệm và quan điểm chung về đầu tư công được nhiều tác giả cho rằng là phần chi tiêu công được thêm vào lượng vốn vật chất để tạo ra các dịch vụ xã hội, chẳng hạn xây dựng đường xá, cầu cảng, trường học, bệnh viện,…
Như vậy, mặc dù có nhiều khác biệt tùy thuộc vào quan điểm của từng quốc gia, một cách tổng quát, đầu tư công được hiểu là đầu tư từ nguồn vốn của Nhà nước vào các lĩnh vực phục vụ lợi ích chung, không nhằm mục đích kinh doanh (Nguyễn Xuân Tự, 2010) Tương tự, theo Đỗ Thiên Anh Tuấn (2015), đầu tư công là việc sử dụng các nguồn vốn Nhà nước để đầu tư nhằm thực hiện các mục tiêu của các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Đầu tư công thường tập trung vào các lĩnh vực, cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng như: cầu đường, giao thông, thông tin và công nghệ thông tin; hỗ trợ hoạt động nghiên cứu khoa học; đầu tư phát triển nguồn nhân lực, giáo dục và đào tạo (bao gồm trường học và giáo viên); khuyến khích đầu tư trong các lĩnh vực công nghệ xanh và sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, phát triển bền vững
Theo Sử Đình Thành & Bùi Thị Mai Hoài (2009), căn cứ theo tính chất kinh tế, đầu tư công là một phần của chi tiêu công, là nhóm chi gắn
Trang 19liền với chức năng kinh tế của nhà nước như chi xây dựng các công trình thuộc kết cấu hạ tầng - xã hội Năm 2014, Luật Đầu tư công được Quốc hội thông qua, đưa ra định nghĩa về đầu tư công là hoạt động đầu tư của nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế -
xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế -
xã hội
Như vậy, có thể thấy, có nhiều khái niệm về đầu tư công khác nhau và cũng có nhiều khác biệt nhất định tùy theo quan điểm của từng quốc gia Tuy nhiên, tựu chung lại, một cách khái quát nhất, có thể hiểu đầu tư công là hoạt động đầu tư của nhà nước vào các chương trình, dự
án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, chủ yếu đầu tư vào các lĩnh vực phục vụ lợi ích chung
2.1.3 Nguồn vốn đầu tư công
Theo Trần Văn (2012), vốn đầu tư là tiền đề cơ bản trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Cũng theo tác giả, về nguồn vốn đầu tư công, nguồn vốn tài trợ cho đầu tư công không chỉ từ nguồn ngân sách của chính phủ mà còn của chính quyền địa phương, đầu
tư từ nguồn trái phiếu chính phủ, tín dụng đầu tư qua kênh ngân hàng phát triển, và kể cả đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước Tuy nhiên, ở Việt Nam, nguồn vốn chủ yếu tài trợ đầu tư vẫn là vốn ngân sách nhà nước
Tương tự, Luật Đầu tư công năm 2014 cũng quy định rõ, nguồn vốn để tài trợ cho các hoạt động đầu tư công bao gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn công trái quốc gia, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn đầu tư từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa
Trang 20vào cân đối ngân sách nhà nước, các khoản vốn vay của ngân sách địa phương để đầu tư
Như vậy, nguồn vốn tài trợ đầu tư công được huy động từ các nguồn chính sau đây:
- Vốn ngân sách nhà nước (NSNN): NSNN là hệ thống quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính của xã hội để tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ nhà nước nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước NSNN được hình thành từ các khoản thu thuế, phí
và lệ phí Trong đó, thuế là khoản thu chiếm tỷ trọng lớn nhất tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị Khoản thu này được xây dựng trên cơ sở trao đổi nghĩa vụ giữa công dân với nhà nước; phí và lệ phí là nguồn thu thường được đề cập đầu tiên trong các nguồn thu vốn có của NSNN vì nó trực tiếp gắn với chức năng cung cấp hàng hóa công (Trần Văn, 2012)
- Vốn tín dụng Nhà nước: Nguồn tín dụng ngân hàng là một kênh huy động vốn quan trọng cho đầu tư công (Trần Văn, 2012) Vốn tín dụng Nhà nước được hiểu là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, ủy quyền phát hành theo quy định của pháp luật (Luật Đầu tư công 2014)
- Vốn ODA: Nguồn vốn này gồm các khoản viện trợ và cho vay với các điều kiện ưu đãi, được phân bổ theo công trình, dự án (Trần Văn, 2012) ODA được hiểu là nguồn vốn dành cho các nước đang và kém phát triển được các cơ quan chính thức và cơ quan thừa hành của chính phủ hoặc các tổ chức liên chính phủ, các tổ chức phi chính phủ tài trợ
2.1.4 Đối tượng đầu tư công
Đối tượng của đầu tư công ở hầu hết các nước đều là các chương
Trang 21trình mục tiêu, dự án phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; chương trình mục tiêu, dự án phục vụ hoạt động của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội, kể cả việc mua sắm, sửa chữa tài sản cố định bằng vốn sự nghiệp; các dự án đầu tư của cộng đồng dân cư, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp được hỗ trợ từ vốn nhà nước; chương trình mục tiêu, dự án đầu tư công khác theo quyết định của Chính phủ Theo đó, đầu tư công ở Việt Nam hiện diện ở hầu khắp các lĩnh vực của nền kinh tế, từ, giáo dục - đào tạo, y tế đến phát triển cơ sở hạ tầng, truyền thông các lĩnh vực đầu tư công bao gồm: (i) Đầu tư các chương trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; (ii) Đầu tư phục vụ hoạt động của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trong nước và ở nước ngoài; (iii) Đầu tư và hỗ trợ hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích; (iv) Đầu tư bằng vốn đầu tư công trong phần Nhà nước tham gia thực hiện các dự án theo hình thức đối tác công tư (Luật Đầu tư công 2014)
Có thể nói, trong nền kinh tế thị trường, vốn đầu tư của nhà nước hiện diện ở nhiều lĩnh vực kinh tế và chiếm một vị trí quan trọng, tuy nhiên, tỷ trọng vốn đầu tư nhà nước trong tổng vốn đầu tư xã hội ở hầu hết các lĩnh vực đều đang có xu hướng giảm
2.1.5 Đặc điểm của đầu tư công
- Đầu tư công tạo nên hàng hóa công và đầu tư chủ yếu bằng vốn ngân sách nhà nước
Hàng hóa công là loại hàng hóa có thể được sử dụng cùng một lúc bởi một hoặc nhiều người, việc sử dụng của người này hầu như không gây trở ngại cho những người sử dụng khác và không từ chối bất cứ người sử dụng nào Do vậy, phần lớn hàng hóa công do nhà nước cung
Trang 22cấp Sự tham gia của khu vực tư trong việc cung cấp hàng hóa công gặp nhiều khó khăn bởi khu vực tư phải đối mặt vấn đề hưởng thụ tự do mà không trả tiền
Nguồn vốn từ ngân sách nhà nước có vai trò chủ yếu trong đầu tư công để tạo những bước đột phá phát triển đất nước Mặc dù vậy, trong nền kinh tế nhiều thành phần, nhà nước cũng nên kêu gọi khu vực tư nhân tham gia đầu tư và cung cấp hàng hóa công bằng các hình thức thích hợp (BOT, BTO, BT, PPP, )
Ngoài ra, thông qua đầu tư/chi tiêu công, nhà nước còn là một trung tâm tái phân phối thu nhập vì đầu tư kết cấu hạ tầng, nâng cao phúc lợi xã hội giúp nâng cao mức sống dân cư tạo sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội
- Đầu tư công của ngân sách nhà nước là khoản chi tích lũy
Chi đầu tư công trực tiếp làm gia tăng số lượng và chất lượng tài sản cố định, gia tăng giá trị tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân Vấn
đề này thể hiện rõ nét thông qua việc nhà nước tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội như: giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục,… Sự tăng lên về số lượng và chất lượng của hàng hóa công này là
cơ sở và nền tảng cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân trên các mặt: phát triển cân đối giữa các ngành, các lĩnh vực, các vùng kinh tế trên lãnh thổ quốc gia; nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh; thúc đẩy sự phát triển các thành phần kinh tế, thu hút đầu tư trong nước và nước ngoài và tạo động lực, cú hích cho sự tăng trưởng
- Quy mô và cơ cấu chi đầu tư công của ngân sách nhà nước phụ thuộc vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nhà nước trong từng thời
kỳ và mức độ phát triển của khu vực kinh tế tư nhân
Trong thời kỳ đầu thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, quy mô
Trang 23đầu tư công chiếm tỷ lệ khá lớn so với tổng đầu tư xã hội Do khu vực kinh tế tư nhân còn yếu, chính sách thu hút vốn đầu tư chưa hoàn thiện nên đầu tư từ ngân sách nhà nước đã tạo đà cho tiến trình công nghiệp hóa
Đi đôi với sự gia tăng quy mô, cơ cấu chi đầu tư cũng rất đa dạng
để đáp ứng nhu cầu thực tiễn đặt ra, như chi hỗ trợ, chi thực hiện chương trình mục tiêu kinh tế - xã hội,… Quy mô chi đầu tư công của nhà nước
sẽ giảm dần theo mức độ thành công của chiến lược công nghiệp hóa và mức độ phát triển của khu vực kinh tế tư nhân Khi đó chi đầu tư phát triển của nhà nước chủ yếu hỗ trợ các chương trình mục tiêu của quốc gia như an sinh xã hội và xóa đói giảm nghèo nhằm đạt tới sự ổn định của kinh tế vĩ mô và các khoản chi cho vay chỉ định, chi thực hiện chương trình mục tiêu kinh tế xã hội sẽ được cắt giảm
- Chi đầu tư công phải gắn chặt với chi thường xuyên nhằm nâng cao hiệu quả vốn đầu tư
Sự phối hợp không đồng bộ giữa chi đầu tư với chi thường xuyên
sẽ dẫn đến tình trạng thiếu kinh phí để duy tu, sửa chữa, bảo dưỡng cơ sở
hạ tầng Điều này sẽ làm giảm hiệu quả khai thác và sử dụng tài sản đầu
tư Sự gắn kết giữa 2 nhóm chi tiêu này sẽ khắc phục tình trạng đầu tư tràn lan, không tính đến hiệu quả khai thác
2.1.6 Vai trò của đầu tư công
Vai trò đầu tư công gắn liền với quan niệm về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước nói chung và vai trò bà đỡ của bàn tay nhà nước nói riêng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội theo yêu cầu phát triển bền vững và bảo đảm an sinh xã hội Thực tế, vai trò của đầu tư công được thể hiện rõ ở các điểm như sau:
Đầu tư công góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa - hiện
Trang 24đại hóa, phát triển kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội Đầu tư công đóng góp lớn vào tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế,… Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu thì đầu tư công càng nổi bật vai trò duy trì động lực tăng trưởng kinh tế thông qua các gói kích cầu của Chính phủ
Đầu tư công góp phần định hình và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế
xã hội quốc gia
Đầu tư công làm gia tăng tổng cầu của xã hội Đầu tư công chiếm
tỷ trọng lớn trong tổng đầu tư của toàn bộ nền kinh tế Khi tổng cung chưa thay đổi, sự tăng lên của đầu tư làm cho tổng cầu tăng kéo sản lượng cân bằng và giá cân bằng cũng tăng
Đầu tư công làm gia tăng tổng cung và năng lực kinh tế Đầu tư công làm tăng năng lực sản xuất làm tổng cung tăng và sản lượng tăng, giá giảm xuống cho phép tiêu dùng tăng Tăng tiêu dùng lại kích thích sản xuất phát triển và làm kinh tế - xã hội phát triển
Đầu tư công có vai trò như là khoản “Đầu tư mồi”, tạo cú huých
và duy trì động lực tăng trưởng Đầu tư công định vị và củng cố nền kinh
tế trong mối quan hệ của khu vực và quốc tế Tạo niềm tin và động lực cho các nguồn đầu tư khác vào trong nước góp phần tăng trưởng kinh tế
Đầu tư công góp phần giải quyết việc làm, giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp, tạo việc làm và thu nhập cho toàn xã hội
2.1.7 Hiệu quả đầu tư công
Với nguồn lực có hạn, không chỉ quan tâm đến số lượng, việc đánh giá hiệu quả chi tiêu công nói chung và đầu tư công nói riêng là điều cần thiết, tạo cơ sở để điều chỉnh quy mô và cơ cấu chi tiêu công, đầu tư công hợp lý, hiệu quả, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế Theo Sử Đình Thành & Bùi Thị Mai Hoài (2009), để đánh giá chi tiêu
Trang 25công, đầu tư công cần phân tích trên hai khía cạnh là định tính và hiệu quả Trong đó, mặt định tính là lựa chọn những loại hàng hóa công mà chính phủ nên cung cấp cho xã hội và mặt định lượng là xem xét chi phí
bỏ ra để cung cấp hàng hóa công và lợi ích mà hàng hóa công mang lại
Theo đó, xét về hiệu quả kinh tế, vốn đầu tư công nói riêng và hiệu quả đầu tư nói chung biểu hiện mối tương quan so sánh giữa các lợi ích thu được với khối lượng vốn đầu tư đã bỏ ra nhằm thu được các lợi ích đó
Với cùng mức vốn bỏ ra, khoản đầu tư nào đem lại lợi ích lớn hơn thì hiệu quả lớn hơn và ngược lại, với cùng lợi ích thu được thì khoản đầu tư nào được thực hiện với số vốn thấp hơn thì có hiệu quả cao hơn
- Hiệu quả tổng thể: là hiệu quả được xem xét trên phạm vi một ngành, một địa phương hay trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế
- Hiệu quả tài chính của các dự án: là hiệu quả được xem xét cho từng dự án đầu tư
Chỉ số đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nói chung và vốn đầu
tư công nói riêng phổ biến hiện nay là chỉ số hiệu quả sử dụng vốn đầu
tư (Incremental Capital - Output Ratio – ICOR) Theo Tổng Cục Thống
Kê, chỉ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR) là chỉ tiêu xác định hiệu quả quan trọng cho biết trong từng thời kỳ cụ thể muốn tăng 1 đồng GDP thì cần bao nhiêu đồng vốn đầu tư Do vậy ICOR còn được sử dụng
để xác định nhu cầu vốn đầu tư
ICOR = V/Δ GDP
Trong đó: Δ GDP là phần GDP tăng thêm trong một thời gian nhất định (tối thiểu cũng phải một năm) do đầu tư mới tạo ra V là tổng vốn đầu tư mới đã thực hiện trong thời gian đó Từ công thức trên, nếu cố
Trang 26định chỉ số ICOR, Δ GDP sẽ tỷ lệ thuận với tổng mức đầu tư mới, tức là đầu tư càng nhiều thì phần GDP tăng thêm có khả năng càng lớn ICOR
tỷ lệ nghịch với tốc độ tăng trưởng kinh tế, với cùng tỷ lệ đầu tư trong GDP, nước nào có hệ số ICOR thấp hơn sẽ đạt mức tăng trưởng cao hơn
và ngược lại Như vậy, hệ số ICOR càng thấp thì hiệu quả đầu tư càng cao
Trên thực tế, tính toán ICOR cho một thời gian dài sẽ chính xác hơn là tính ICOR cho một giai đoạn ngắn, bởi vì trong thời gian ngắn thì
có một lượng đầu tư mới chưa phát huy tác dụng, tức là tác động của đầu
tư tới tăng trưởng có một độ trễ nhất định
2.2 Tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế
2.2.1 Khung phân tích
Đầu tư công có vai trò định hướng phát triển chung của đất nước
Có thể thấy, đầu tư công có vai trò quan trọng, tác động đến nhiều biến
số vĩ mô khác nhau như nợ công, đầu tư tư nhân và tăng trưởng kinh tế (Aschauer, 1989; Arai, 2011; Agénor, 2012) Ở nghiên cứu này, luận án tập trung vào tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế Lược khảo lý thuyết cho thấy, quan điểm về vai trò của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế vẫn còn nhiều tranh luận
Quan niệm của nhà kinh tế ủng hộ thị trường tự do cho rằng nhà nước không nên can thiệp vào nền kinh tế trong quá trình phân bổ nguồn lực như vốn và lao động, mà sự vận động của thị trường sẽ thực hiện tốt hơn vai trò này Trường phái này khẳng định một trong các ưu điểm kinh tế thị trường đó là sự phân bổ nguồn lực một cách tự động hay qua
"Bàn tay vô hình" của thị trường Vai trò nhà nước trong trường hợp này chỉ nên dừng lại ở mức là cung cấp các hàng hóa công cần thiết cho nền kinh tế phát triển như cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội mà
Trang 27nếu để thị trường tự thân vận động thì không thể đáp ứng được (Nguyễn Thị Cành, 2008) Qua đó, quan điểm này ủng hội chính phủ không nên can thiệp vào thị trường bằng thuế, chi tiêu công hay đầu tư công
Tuy nhiên, một số nhà kinh tế khác ủng hộ nhà nước cần can thiệp vào thị trường thông qua các chính sách như thuế, chi tiêu công và đầu
tư công Quan niệm của trường phái ủng hộ sự can thiệp của nhà nước là
do sự không hoàn hảo của thị trường (đặc biệt là thị trường của một số quốc gia đang phát triển) nên sự tự thân vận động của thị trường sẽ không mang lại kết quả tối ưu thông tin không hoàn hảo có thể sẽ dẫn đến sản xuất và đầu tư quá mức Các nhà kinh tế học theo trường phái Keynes cho rằng bản thân nền kinh tế không thể tạo được đầy đủ việc làm, cần thiết phải có sự tác động của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ đến tổng cầu
Hơn nữa, các nghiên cứu chỉ ra các nước đang phát triển thường
có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu nên nếu để tự thân thị trường vận động thì không thể tạo ra sự phát triển công nghiệp mạnh mẽ được Chuyển dịch cơ cấu là nội dung cơ bản của tiến trình công nghiệp hóa và nhà nước cần phải tạo ra sự khởi động ban đầu để hình thành nên các ngành công nghiệp Sự can thiệp của nhà nước, nhất là trong việc phân
bổ các nguồn lực cho công nghiệp là rất cần thiết Sở dĩ cần phát triển công nghiệp bởi vì đây là khu vực có thể tăng năng suất lao động nhanh nhất, do hấp thụ nhanh nhất các thành tựu của khoa học kỹ thuật; sản xuất công nghiệp không bị ràng buộc và giới hạn bởi các điều kiện tự nhiên như sản xuất nông nghiệp; sản phẩm công nghiệp có độ co giãn cầu theo thu nhập cao hơn sản phẩm nông nghiệp, Ngoài ra, khi công nghiệp phát triển sẽ kéo theo nông nghiệp phát triển vì công nghiệp sẽ cung cấp máy móc, thiết bị, tiến bộ kỹ thuật, cho nông nghiệp qua đó
Trang 28làm tăng năng suất trong nông nghiệp Công nghiệp phát triển sẽ là cơ sở
để đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ Tự thân vận động của thị trường trong nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu không thể tạo ra sự phát triển công nghiệp cần thiết, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế gay gắt như ngày nay Do đó, sự can thiệp của nhà nước là hết sức cần thiết
Dù là các quan điểm khác nhau về đầu tư và tăng trưởng cùng với mức độ can thiệp khác nhau của Nhà nước, nhưng đa số các quan điểm đều cho rằng vai trò nhà nước là cung cấp các hàng hóa công cần thiết cho nền kinh tế phát triển như cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội Hay nói cách khác, chính phủ phải tăng cường đầu tư công vào cơ
sở hạ tầng để thúc đẩy thu hút đầu tư của tư nhân vào các ngành sản xuất (Nguyễn Thị Cành, 2008) Theo Fujita & cộng sự (2001), sự cải thiện hạ tầng giao thông và thông tin liên lạc có tác động tích cực nếu tăng trưởng Bởi vì, khi chi phí vận chuyển thấp, lợi nhuận của doanh nghiệp tăng, và quá trình tích lũy cao, lao động và các nguồn lực khác sẽ di chuyển đến những nơi có năng suất lao động cao hơn, tạo nên một sự đột phá trong tỷ lệ tăng trưởng
Tuy nhiên, không phải lúc nào đầu tư công hay sự can thiệp của nhà nước nói chung cũng mang lại tác động tích cực, nhà nước can thiệp quá mức có thể không hiệu quả và sẽ bóp méo thị trường gây trở ngại cho tiến trình công nghiệp hóa và phát triển kinh tế (Nguyễn Thị Cành, 2008)
Như vậy, các nghiên cứu cho thấy rằng có những trường hợp khi tăng chi tiêu/ đầu tư chính phủ sẽ có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế và có những trường hợp khi giảm chi tiêu/đầu tư chính phủ sẽ thúc đẩy tăng trưởng Trong khi đó, một số nghiên cứu khác lại chỉ ra có thể tồn tại mối quan hệ phi tuyến giữa chi tiêu/ đầu tư công và tăng
Trang 29trưởng kinh tế Điều này được minh họa bằng đường cong Rahn (Swaby, 2007) Đường cong phản ánh mối quan hệ giữa chi tiêu/ đầu tư chính phủ và tăng trưởng kinh tế đã được xây dựng bởi nhà kinh tế Richard Rahn (1986), và được các nhà kinh tế sử dụng rộng rãi khi nghiên cứu vai trò của chi tiêu/ đầu tư chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế Đường cong Rahn hàm ý tăng trưởng sẽ đạt tối đa khi chi tiêu/ đầu tư chính phủ
là vừa phải và được phân bổ hết cho những hàng hóa công cộng cơ bản như cơ sở hạ tầng, bảo vệ luật pháp và quyền sở hữu Tuy nhiên, chi tiêu/ đầu tư chính phủ sẽ có tác động tiêu cực đối với tăng trưởng kinh tế khi
nó vượt quá mức giới hạn này
Tương tự, với giả định chi tiêu chính phủ phải được tài trợ bằng thuế và chính phủ luôn thực hiện cán cân ngân sách cân bằng, một mặt,
mô hình của Barro (1990) phản ánh hiệu ứng tiêu cực của thuế hay chi tiêu chính phủ đến tăng trưởng kinh tế Việc tăng thuế sẽ làm giảm sản phẩm biên sau thuế của tư bản, và do vậy làm giảm tốc độ tích luỹ tư bản
và làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế Mặt khác, việc tăng thuế này cũng đồng nghĩa với tăng chi tiêu chính phủ cho các hàng hóa và dịch vụ công cộng như cầu cống, đường sá, hệ thống luật pháp,… Những hàng hóa và dịch vụ công cộng này làm tăng sản phẩm biên và sản lượng của khu vực tư nhân như thể hiện trong hàm sản xuất Như vậy, mô hình cũng phản ánh hiệu ứng tích cực này của hàng hóa và dịch vụ công cộng đối với tăng trưởng kinh tế
Bên cạnh đó, có những lập luận cho rằng chi tiêu/đầu tư chính phủ
có thể tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế thông qua hiệu ứng thúc đẩy hay chèn lấn đầu tư tư nhân Một mặt, đầu tư công có thể dẫn đến sự gia tăng việc làm cho nền kinh tế Đầu tư công trong phát triển cơ sở hạ tầng có thể khuyến khích đầu tư của khu vực tư Tuy nhiên, đầu tư công
Trang 30cũng có thể tạo ra hiệu ứng chèn lấn đầu tư khu vực tư và sẽ có tác động tiêu cực đối với tăng trưởng kinh tế (Swaby, 2007)
Như vậy, có khá nhiều những quan điểm khác nhau về tác động của đầu tư công đối với quá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Một mặt, một số nhà kinh tế cho rằng chính sách tài khóa nên được giữ ở mức tối thiểu đúng mức tiềm năng bởi vì nó sẽ tạo ra sự không hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn lực và có thể có tác động tiêu cực đến nền kinh
tế Mặc khác, một số lập luận lại chỉ ra sự cần thiết của đầu tư công trong việc cung cấp cơ sở hạ tầng, giáo dục, y tế,… từ đó khuyến khích sự phát triển của khu vực tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Một số lập luận chỉ
ra tác động phi tuyến của của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế Chính
vì vai trò của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế còn nhiều tranh luận, luận án hướng đến cung cấp thêm một bằng chứng thực nghiệm về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế tại một vùng/ địa phương cụ thể
2.2.2 Mô hình lý thuyết
Như đã trình bày, bên cạnh phân tích thực trạng bằng phương pháp thống kê mô tả, luận án hướng đến tìm kiếm những bằng chứng thực nghiệm về tác động của chi tiêu công, đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế khu vực Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2001-2014
Các mô hình tăng trưởng tân cổ điển như Solow (1956) và Swan (1956) ban đầu chưa xem xét vai trò của chính phủ nên chưa thể trực tiếp phân tích tác động của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế Tốc độ tăng của các biến ngoại sinh như dân số hay tiến bộ công nghệ quyết định tốc
độ tăng trưởng trong dài hạn Tuy nhiên, dựa vào mô hình tân cổ điển, nhiều nhà kinh tế mở rộng theo nhiều hướng khác nhau, xem xét vai trò của chính phủ trong mô hình tăng trưởng Các nghiên cứu thực nghiệm
Trang 31thường dựa trên các mô hình nghiên cứu điển hình, như mô hình nghiên cứu của Barro (1990) khi xem xét vai trò của chi tiêu công tác động như thế nào đến tăng trưởng kinh tế hay Devarajan & cộng sự (1996) khi kiểm định tác động của từng thành phần chi tiêu công (chi thường xuyên
và đầu tư công) đến tăng trưởng kinh tế (Phạm Thế Anh , 2008)
Nhiều mô hình phát triển từ các mô hình lý thuyết điển hình này luận giải về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, một trong những hạn chế của những mô hình này là không xem xét đến vai trò của vốn đầu tư nước ngoài Trong khi đó, theo Le & Suruga (2005), nhiều nghiên cứu chỉ ra vai trò quan trọng của vốn đầu tư nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế Theo đó, Le & Suruga (2005) mở rộng
mô hình lý thuyết của Tsoukis & Miller (2003) nhằm lý giải tác động của cụ thể của từng đầu tư công, cùng với chi thường xuyên và vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đến tăng trưởng kinh tế Có thể nói, mô hình lý thuyết của Le & Suruga (2005) đã lý giải được tác động của đầu
tư công, chi thường xuyên (chi tiêu chính phủ không dùng để đầu tư), thuế suất và vốn FDI đến tăng trưởng kinh tế
Các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế trong mô hình bao gồm đầu tư công, chi thường xuyên, thuế suất và FDI Theo Le & Suruga (2005), tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế thông qua quá trình thay đổi công nghệ và do đó, năng suất các yếu tố tổng hợp trong mô hình được xem là hàm số của FDI
Mô hình của Le & Suruga (2005) giả định chính phủ luôn cố gắng tối đa hóa hiệu dụng nên có dạng hàm lợi ích CES (Constant Elasticity of Substitution):
Trang 32Hàm sản xuất có dạng như sau:
Y= AK1−ϕ(PαH1−α)ϕ, A= ƒ ( F ) > 0 0 < ϕ,α < 1 (2)
Trong đó, Y là tổng kết quả đầu ra, K và P lần lượt là vốn đầu tư
tư nhân và vốn đầu tư chính phủ; H là vốn dòng chi tiêu chính phủ không dùng để đầu tư và F là vốn FDI A là năng suất các yếu tố tổng hợp Giả định chính phủ luôn thực hiện cân bằng ngân sách bằng cách đánh thuế lên cách công ty
Theo quy trình biến đổi tương tự Tsoukis & Miller (2003), tỷ lệ tăng trưởng kinh tế dài hạn có dạng như sau:
Như vậy, mối quan hệ giữa các nhân tố có dạng như sau:
& Suruga (2005), luận án cũng bỏ qua tác động của thuế suất Điều này
là phù hợp với trường hợp nghiên cứu tại các tỉnh thành ở Việt Nam khi
mà chính phủ áp dụng mức thuế suất thống nhất cho tất cả tỉnh thành ở Việt Nam
2.3 Quản lý đầu tư công
Trong bối cảnh Việt Nam là quốc gia đang phát triển, đầu tư công
Trang 33luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng ngân sách Vì vậy, bên cạnh xem xét thực trạng của đầu tư công và vai trò của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế, cơ chế quản lý, sử dụng nguồn vốn đầu tư công rất cần được quan tâm xem xét
Có thể nói, mở rộng quy mô đầu tư công tại các nước thu nhập thấp, đặc biệt đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội là hết sức cần thiết để phát triển quốc gia Tuy nhiên, sự yếu kém trong quản lý đầu tư công thường là nguyên nhân quan trọng dẫn đến hiệu quả đầu tư toàn xã hội đạt thấp (Vũ Thành Tự Anh, 2015)
Hiệu quả thấp của đầu tư công bắt nguồn từ lựa chọn dự án và thực thi không tốt do thông tin giới hạn dẫn đến lãng phí; trì hoãn trong thiết kế và hoàn thành làm phát sinh thêm chi phí dẫn đến thay đổi lợi ích dự án; tham nhũng trong thực hiện đầu tư làm thất thóat nguồn lực;
dự án đầu tư dở dang, không đồng bộ; dự án hoạt động dưới công suất hoặc thiếu kinh phí hoạt động và không có chi phí duy tu bảo dưỡng làm cho lợi ích của dự án không đạt được mức kỳ vọng Đầu tư khu vực tư nhân kém hiệu quả do những đầu vào công cộng như hạ tầng giao thông, năng lượng, cấp nước, viễn thông,… không đầy đủ hoặc chất lượng thấp
Mặc dù có những khác biệt trong quy trình quản lý đầu tư công ở các quốc gia, Theo Vũ Thành Tự Anh (2015), quản lý đầu tư công là một
hệ thống tổng thể, bắt đầu từ việc hình thành những định hướng lớn trong chính sách đầu tư công cho đến việc thẩm định, lựa chọn, lập ngân sách, thực thi, và đánh giá các dự án đầu tư cụ thể, với mục đích là đảm bảo hiệu quả và hiệu lực của đầu tư công, qua đó đạt được mục tiêu tăng trưởng và phát triển chung của nền kinh tế
Anand Rajaram & cộng sự (2010) cung cấp một cách tiếp cận thực
tế và khách quan đẻ đánh giá hệ thống quản lý đầu tư công Các tác giả
Trang 34mô tả những yêu cầu phải có của một hệ thống quản lý đầu tư công tốt trong tất cả các giai đoạn của chu trình dự án bao gồm: (1) Định hướng đầu tư, phát triển dự án và sàng lọc dự án (investment guidance, project development, and preliminary screening) (2) Thẩm định dự án (formal project appraisal); (3) Thẩm định độc lập (independent review of appraisal); (4) Lựa chọn và ngân sách thực hiện project selection and budgeting; (5) Quá trình thực hiện (project implementation); (6) Điều chỉnh dự án (project adjustment); (7) Quá trình vận hành (facility operation) ; và (8) Đánh giá dự án (project evaluation) Tương tự, Dabla
& Norris (2012) chỉ ra 4 khía cạnh chính của quản lý đầu tư công là (1) Định hướng chiến lược đầu tư và thẩm định dự án (Strategic Guidance and Project Appraisal); (2) Lựa chọn dự án và ngân sách tài trợ (Project selection and budgeting); (3) Thực thi dự án (Project implication); (4) đánh giá và kiểm tra (Project evaluation and Audit) Theo đó, những nỗ lực quốc gia trong việc quản lý đầu tư công đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng hiệu quả của đầu tư công, từ đó thúc đẩy sự phát triển của khu vực tư và tăng trưởng kinh tế Một cách khái quát nhất, nó bao gồm định hướng đầu tư, năng lực thẩm định và lựa chọn dự án, cơ chế phù hợp để thực hiện, theo dõi, giám sát và đánh giá đầu tư dự án công
2.4 Các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan
2.4.1 Trên thế giới
Lược khảo các nghiên cứu trước cho thấy, các nghiên cứu về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế được phát triển theo nhiều hướng Các nghiên cứu thường xem xét tác động của đầu tư công (Pereira, 2000, 2001; Dessus & Herrera, 2000; Bose & cộng sự, 2003;
Le & Suruga, 2005; Arslanalp & cộng sự, 2010) đến tăng trưởng kinh tế hoặc xem xét tác động đầu tư công trong một lĩnh vực cụ thể đến tăng trưởng kinh tế, thường là đầu tư công trong phát triển cơ sở hạ tầng
Trang 35(Aschauer, 1998; Pereira, 2001; Ramirez, 2004), năng lượng (Lee & Chang, 2005; Hye & Riaz, 2008) hay nông nghiệp (Mishra & Chand, 1995; Mogues & cộng sự, 2012)
Các kết quả kiểm định về tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế vẫn chưa thống nhất và còn nhiều tranh luận (IMF, 2005; Arslanalp & cộng sự, 2010) Đa số nghiên cứu chỉ ra tác động tích cực của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên tác động tích cực này
là khác biệt, tùy thuộc vào từng trường hợp nghiên cứu (Aschauer, 1989; Pereira 2000, 2001; Dessus & Herrera, 2000; Bose & cộng sự, 2003; Haque, 2004; Romp & de Haan, 2005; Gupta & cộng sự, 2005; World Bank, 2007, Arslanalp & cộng sự, 2010)
Nghiên cứu của Aschauer (1989), với dữ liệu nghiên cứu ở Mỹ, chỉ
ra, về tổng thể, đầu tư công có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, với một mức lợi nhuận cho trước, tăng một giá trị trong vốn đầu tư công sẽ làm giảm một giá trị trong vốn tư nhân Mặc dù vậy, vốn đầu tư công lại làm tăng năng suất biên của vốn tư nhân, từ đó tạo hiệu ứng tích cực đến đầu tư tư nhân
Các nghiên cứu của Pereira (2000, 2001) nghiên cứu tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế của Mỹ trong các giai đoạn giai đoạn 1956-1997 Bằng mô hìnhVAR, nghiên cứu chỉ ra tác động tích cực của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế Trong đó, đầu tư công vào hạ tầng cở sở có tác động mạnh nhất Tuy nhiên, nghiên cửa Pereira (2000) chỉ ra tác động chèn lấn của đầu tư công đến đầu tư tư nhân
Xem xét hai nhóm nước có thu nhập thấp và thu nhập trung bình, nghiên cứu của Dessus & Herrera (2000), Bose & cộng sự (2003) và Haque (2004) chỉ ra tác động tích cực của đầu tư công ở cả hai nhóm nước
Trang 36Arslanalp & cộng sự (2010) xem xét tác động của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế ở cả hai mẫu nghiên cứu là 48 quốc gia OECD và các quốc gia không phải thành viên OECD giai đoạn 1960-2001 Kết quả kiểm định cho thấy tác động tích cực của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế ở cả hai mẫu nghiên cứu Tuy nhiên, tác động tích cực của đầu tư công có sự khác biệt ở hai nhóm nước Cụ thể, ở những quốc gia OECD, đầu tư công tác động mạnh hơn đến tăng trưởng trong ngắn hạn so với các quốc gia không phải thành viên OECD Ngược lại, trong dài hạn, tác động này ở các nước không phải thành viên OECD mạnh hơn
Tuy nhiên, một số nghiên cứu thực nghiệm phát hiện tác động âm của chi tiêu công đến tăng trưởng kinh tế như các nghiên cứu của Landau (1983), Marlow (1988), Deverajan & cộng sự (1996), Folster & Henrekson (2001), Ghani & Din , Roache (2007),…
Devarajan & cộng sự (1996) đưa ra bằng chứng thực nghiệm trên
43 nước đang phát triển, nghiên cứu đã chỉ ra rằng tổng chi tiêu công (tiêu dùng công và đầu tư công) không có tác động đáng kể đến tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, các tác giả tìm thấy một hiệu ứng thành phần quan trọng đối với chi tiêu công: đó là, sự gia tăng trong tiêu dùng công
có một tác động tích cực đáng kể về tăng trưởng kinh tế, trong khi tăng chi phí đầu tư công có ảnh hưởng tiêu cực đáng kể đến tăng trưởng kinh
tế Tác động tiêu cực cũng đúng cả với các thành phần chính của đầu tư công, bao gồm cả giao thông vận tải và truyền thông
Ghani & Din (2006) nghiên cứu vai trò của đầu tư công đối với tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh của nền kinh tế Pakistan Tác giả sử dụng mô hình tự hồi quy (VAR) bao gồm bốn biến: đầu tư công (IG), đầu tư tư nhân (IP), tiêu dùng công (CG) và GDP (Y) Dữ liệu về các biến này trong điều kiện thực tế cho giai đoạn 1973-2004 Kết quả cho thấy rằng sự tăng trưởng phần lớn được thúc đẩy bởi đầu tư tư nhân và
Trang 37không có bằng chứng thuyết phục có thể được rút ra từ những ảnh hưởng của đầu tư công và tiêu dùng công đối với tăng trưởng kinh tế
Roache (2007) sử dụng mô hình VAR với dữ liệu bảng (PVAR)
để đánh giá tác động của đầu tư công đến tăng trưởng tại trường hợp nghiên cứu các quốc gia vùng Đông Caribbean Nghiên cứu được thực hiện bằng cách sử dụng GDP thực tế, đầu tư công thực tế và tỷ giá hối đoái thực tế như các biến nội sinh Trong đó, nguồn viện trợ cũng như các biến giả cho các thảm họa tự nhiên và các cuộc bầu cử được coi là biến ngoại sinh Kết quả cho thấy rằng đầu tư công chỉ có hiệu lực tạm thời và ít có ý nghĩa đến sự tăng trưởng trong khu vực Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn cho thấy đầu tư của chính phủ được tài trợ thông qua vốn vay có tác động đến chứng khóan nợ lớn hơn mức tăng trưởng
Một số nghiên cứu khác lại cho thấy tác động hỗn hợp của đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế (Pereira & Andraz, 2001; Dar & AmirKhalkhali, 2002)
Trong khi đó, nhiều nghiên cứu cho thấy tồn tại mối quan hệ phi tuyến giữa quy mô chính phủ và tăng trưởng kinh tế Các nghiên cứu này chỉ ra tác động của chi tiêu/ đầu tư công đến tăng trưởng kinh tế là khác nhau ở từng trường hợp cụ thể, tùy thuộc vào quy mô tối ưu của chi tiêu công và tồn tại giá trị ngưỡng chi tiêu công như nghiên cứu của Chen & Lee (2005); Abounoori & Nademi (2010); Odarawa (2010); Herath (2012); Altunc & Aydin (2013),
Chen & Lee (2005) triển khai mô hình hồi quy ngưỡng với dữ liệu quý ở Đài Loan giai đoạn 1979 - 2003 và tìm thấy ngưỡng tổng chi tiêu công, chi đầu tư và chi thường xuyên lần lượt là 22,8%, 7,3%, 15 % so với GDP
Tương tự, Abounoori & Nademi (2010) áp dụng mô hình của Ram
Trang 38(1986) và triển khai phương pháp Bootstrap của Hansen với dữ liệu hàng năm của Iran từ 1959 – 2005 Kết quả là phát hiện hiệu ứng ngưỡng chi tiêu công lên nền kinh tế của Iran lần lượt là: chi tiêu công tổng thể: 34% GDP, chi thường xuyên: 23,6% và đầu tư công: 8% GDP
Trên cơ sở ứng dụng mô hình của Ram (1986) và Chen & Lee (2005), bằng việc sử dụng dữ liệu quý của Mỹ và 04 nước khối OECD (Canada, Anh, Nhật, Úc), Odawara (2010) kết luận tồn tại mối quan hệ phi tuyến giữa đầu tư công và tăng trưởng kinh tế, ủng hộ khái niệm quy
mô chi tiêu/ đầu tư công tối ưu
Herath (2012) cũng tìm thấy ngưỡng chi tiêu công cho trường hợp của Srilanka giai đoạn 1959-2003 là 27% GDP Bài nghiên cứu cũng chỉ
ra rằng đường cong Armey không chỉ đúng cho trường hợp các nước phát triển mà còn đúng ở các nước đang phát triển
Sử dụng dữ liệu của ba quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ, Bungari và Rumani, Altunc & Aydin (2013) ứng dụng phương pháp ARDL bound testing của Paseran và cộng sự (2001) nhằm kiểm định mối quan hệ phi tuyến giữa chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế, phát hiện ngưỡng chi tiêu công tối
ưu ở Thổ Nhĩ Kỳ, Bungari và Rumani lần lượt là 25%, 22%, 20% GDP
Về cơ chế quản lý đầu tư công, Anand Rajaram và cộng sự (năm
2010) cung cấp một cách tiếp cận thực tế và khách quan để đánh giá hệ thống quản lý đầu tư công Các tác giả mô tả những yêu cầu phải có của một hệ thống quản lý đầu tư công tốt trong tất cả các giai đoạn của chu trình dự án bao gồm: chỉ dẫn đầu tư và sàng lọc sơ bộ, thẩm định dự án, thẩm định độc lập, lựa chọn dự án và ngân sách, thực hiện dự án, điều chỉnh dự án, vận hành và đánh giá Đồng thời, nghiên cứu cũng gợi ý
những câu hỏi chẩn đoán để ước lượng hiệu quả đầu tư công
Era Dabla-Norris & cộng sự (2011) xây dựng chỉ số hỗn hợp để
Trang 39đánh giá hiệu quả của đầu tư công trong tất cả các giai đoạn của chu trình đầu tư bao gồm: chỉ dẫn mục tiêu và thẩm định dự án; lựa chọn dự
án và ngân sách; thực hiện và quản lý dự án; đánh giá và kiểm toán thay cho phương pháp đánh giá hiệu quả đầu tư công dựa trên những chỉ tiêu vật chất như: tỷ lệ phần trăm đường trong điều kiện tốt, tỷ lệ thất thóat điện năng,… Các tác giả xây dựng 17 chỉ tiêu để đánh giá các chỉ số thành phần trong các giai đoạn của chu trình dự án, bao gồm: chỉ dẫn mục tiêu đầu tư và thẩm định dự án; lựa chọn dự án và ngân sách; thực hiện dự án; đánh giá và kiểm toán Phương pháp cho điểm với thang điểm từ 0 đến 4 đã được sử dụng, với điểm càng cao thì thực hành quản
lý đầu tư công càng tốt, điểm số của từng chỉ số thành phần và chỉ số hỗn hợp được tính toán bằng 2 phương pháp: bình quân giản đơn và bình quân có trọng số Cả hai phương pháp đều cho kết quả gần tương đương nhau
2.4.2 Việt Nam
Từ số liệu bảng cho 34 tỉnh thành của Việt Nam trong giai đoạn
2000 - 2005 cùng với phương pháp tiếp cận tham số (dựa trên hàm sản xuất ngẫu nhiên) và phương pháp tiếp cận phi tham số (dựa trên DEA), Nguyễn Khắc Minh (2008) đã chỉ ra sự chưa hiệu quả trong chi tiêu công, tồn tại trong cả chi tiêu thường xuyên và đầu tư công
Cũng nhằm mục đích xem xét mối quan hệ giữa cơ cấu chi ngân sách và tăng trưởng kinh tế, Phạm Thế Anh (2008) đã dùng số liệu thu thập được từ 61 tỉnh thành ở Việt Nam trong giai đoạn 2001-2005 Tác giả chia đầu tư công và thường xuyên thành 5 ngành khác nhau, kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu ứng tích cực hơn của các khoản chi đầu tư so với chi thường xuyên trong một số ngành và ngược lại chi thường xuyên
có tác động tích cực hơn đối với chi đầu tư trong một số ngành khác
Trang 40Nguyễn Phi Lân (2009) dựa trên lý thuyết tăng trưởng kinh tế nội sinh và lý thuyết tài khóa, mô hình về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh
tế và phân cấp quản lý tài khóa, đã tìm ra mối quan hệ giữa phân cấp tài khóa và tăng trưởng kinh tế tại địa phương của 64 tỉnh thành phố của Việt Nam trong hai giai đoạn riêng biệt 1997 - 2001 và 2002 - 2007 Và kết luận rằng trong giai đoạn 1997 - 2001, biến phân cấp quản lý chi thường xuyên và chi đầu tư xây dựng cơ bản tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế địa phương với mức ý nghĩa thống kê là 1% Còn giai đoạn 2002 -
2007, phân cấp chi đầu tư có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế địa phương, còn chi thường xuyên thì có tác động ngược lại
Trong bài nghiên cứu của mình, với dữ liệu chuỗi thời gian, Sử Đình Thành (2013) đã triển khai mô hình lý thuyết hai khu vực của Ram (1986), Chen & Lee (2005) và được mở rộng bởi Odawara (2010) nhằm phát hiện ngưỡng chi tiêu công tối ưu cho trường hợp Việt Nam giai đoạn 1989 - 2011 Ngưỡng chi tiêu công tổng thể và chi thường xuyên tối ưu tại Việt Nam lần lượt là 28% GDP và 19% GDP
Với số liệu đã thu thập được ở các địa phương ở Việt Nam, dùng phương pháp ước lượng tham số để tiến hành phân tích hồi quy, Hoàng Thị Chinh Thon & cộng sự (2010) đã đánh giá, phân tích tác động của chi tiêu cấp tỉnh và cấp huyện đến tăng trưởng của địa phương Kết quả hồi quy được cho thấy nguồn chi cho đầu tư cấp huyện cần được tăng cường, trong khi chi đầu tư cấp tỉnh nên giảm để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của địa phương
Về cơ chế và thực trạng quản lý đầu tư công tại Việt Nam, theo Sử Đình Thành và Bùi Thị Mai Hoài (2008), quy trình phức tạp của đầu tư công với nhiều quyết định và sự lựa chọn chính sách cùng với sự kém minh bạch và trách nhiệm giải trình là môi trường thuận lợi cho tham