1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG THANH TRA THUẾ TẠI VIỆT NAM

253 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 253
Dung lượng 3,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG, THANH TRA THUẾ, TẠI VIỆT NAM

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN



NGUYỄN QUANG HƯNG

HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG

THANH TRA THUẾ TẠI VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

MÃ SỐ: 62.34.02.01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐÀM VĂN HUỆ

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng sự nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật./

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Nghiên cứu sinh

Nguyễn Quang Hưng

Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện Luận án “Hoàn thiện hoạt động thanh tra thuế tại

Việt Nam”, nghiên cứu sinh đã nhận được sự hướng dẫn, hỗ trợ của rất nhiều nhà

nghiên cứu, rất nhiều chuyên gia; đặc biệt là các nhà khoa học trong Hội đồng đánh giá luận án, các nhà khoa học phản biện luận án, các nhà nghiên cứu - giảng viên - cán bộ quản lý đào tạo tại Đại học Kinh tế quốc dân và các chuyên gia của Tổng cục Thuế… Nghiên cứu sinh xin trân trọng cảm ơn về sự giúp đỡ nhiệt tình, sự hướng dẫn quý báu đó

Nghiên cứu sinh xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến PGS TS Đàm Văn Huệ về sự hướng dẫn và sự đồng hành, hỗ trợ trong quá trình học tập, nghiên cứu tại Viện Ngân hàng - Tài chính (Đại học Kinh tế quốc dân)

Cuối cùng và đặc biệt biết ơn về những động viên, chia sẻ, tạo điều kiện… từ gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp mà nghiên cứu sinh nhận được trên chặng đường nghiên cứu tám (08) năm qua./

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Nghiên cứu sinh

Nguyễn Quang Hưng

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA THUẾ 6

1.1 Khái quát chung về hoạt động thanh tra thuế 6

1.1.1 Khái niệm 6

1.1.2 Nguyên tắc 7

1.1.3 Vai trò 10

1.1.4 Phân loại 11

1.2 Tổng quan nghiên cứu về hoạt động thanh tra thuế 15

1.2.1 Nhân tố tác động đến kết quả hoạt động thanh tra thuế 16

1.2.2 Nhân tố tác động đến sự đồng thuận của người nộp thuế đối với kết luận thanh tra thuế 22

1.2.3 Tác động lan tỏa của thanh tra thuế và sự đồng thuận về kết luận thanh tra thuế 26

1.2.4 Nghiên cứu thực tế hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam 28

1.2.5 Khoảng trống nghiên cứu 31

Kết luận Chương 1 33

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34

2.1 Khung mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 34

2.1.1 Khung mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu về nhân tố tác động đến kết quả hoạt động thanh tra thuế 34

2.1.2 Khung mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu về nhân tố tác động đến sự đồng thuận của người nộp thuế đối với kết luận thanh tra thuế 36

2.2 Phương pháp nghiên cứu 37

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 37

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 40

2.3 Mô hình kinh tế lượng và các biến của mô hình 44

Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Trang 5

2.3.1 Mô hình tác động của các nhân tố đối với kết quả hoạt động thanh tra thuế

tại Việt Nam và các biến của mô hình 44

2.3.2 Mô hình tác động của các nhân tố đối với sự đồng thuận của người nộp thuế về kết luận thanh tra thuế tại Việt Nam và các biến của mô hình 49

Kết luận Chương 2 52

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA THUẾ TẠI VIỆT NAM 53

3.1 Thực trạng hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam 53

3.1.1 Kết quả và nguyên nhân 53

3.1.2 Hạn chế và nguyên nhân dẫn đến hạn chế của hoạt động thanh tra thuế 58

3.2 Kết quả khảo sát về hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam 71

3.2.1 Kết quả khảo sát cán bộ thanh tra thuế 71

3.2.2 Kết quả khảo sát doanh nghiệp 76

3.3 Kết quả kiểm định thang đo và phân tích nhân tố 78

3.3.1 Kiểm định thang đo và phân tích nhân tố tác động đến kết quả hoạt động thanh tra thuế 78

3.3.2 Kiểm định thang đo và phân tích nhân tố tác động sự đồng thuận của người nộp thuế đối với kết luận thanh tra 85

3.4 Kết quả phân tích hồi quy và kiểm định giả thuyết 91

3.4.1 Phân tích hồi quy và kiểm định giả thuyết về các nhân tố tác động đến kết quả hoạt động thanh tra thuế 91

3.4.2 Phân tích hồi quy và kiểm định giả thuyết về các nhân tố tác động đến sự đồng thuận của người nộp thuế đối với kết luận thanh tra 93

Kết luận Chương 3 95

CHƯƠNG 4 THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KHUYẾN NGHỊ HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG THANH TRA THUẾ TẠI VIỆT NAM 97

4.1 Thảo luận kết quả nghiên cứu 97

4.1.1 Tổng hợp kết quả nghiên cứu theo phương pháp định tính 97

4.1.2 Nhân tố tác động và mức độ tác động của các nhân tố đối với kết quả hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam 98

4.1.3 Nhân tố tác động và mức độ tác động của các nhân tố đối với sự đồng thuận của người nộp thuế về kết luận thanh tra thuế tại Việt Nam 102

4.1.4 Tác động lan tỏa của kết quả hoạt động thanh tra thuế và sự đồng thuận về kết luận thanh tra thuế tại Việt Nam 104

Trang 6

4.2 Một số khuyến nghị về giải pháp hoàn thiện hoạt động thanh tra thuế tại

Việt Nam 105

4.2.1 Khung pháp lý hỗ trợ hoạt động thanh tra thuế 105

4.2.2 Chiến lược và tổ chức bộ máy hoạt động thanh tra thuế 109

4.2.3 Quy trình thanh tra và tăng cường thực hiện các bước thanh tra thuế 114

4.2.4 Giám sát và đánh giá hoạt động thanh tra thuế 126

4.2.5 Nguồn nhân lực thanh tra thuế 134

4.2.6 Công cụ hỗ trợ hoạt động thanh tra thuế 140

4.2.7 Các giải pháp hỗ trợ khác 144

4.3 Một số khuyến nghị khác 149

4.3.1 Kiến nghị đối với người nộp thuế 149

4.3.2 Kiến nghị đối với các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan 149

4.3.3 Kiến nghị đối với các bên liên quan khác 150

Kết luận Chương 4 151

KẾT LUẬN 152

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 154

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 155 PHỤ LỤC

Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BPTT: Bộ phận thanh tra (thuế)

CBTT: Cán bộ thanh tra (thuế)

CQT: Cơ quan thuế

CSDL: Cơ sở dữ liệu

ĐTT: Đoàn thanh tra (thuế)

GTGT: Giá trị gia tăng

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Biến quan sát của Mô hình tác động của các nhân tố đến kết quả hoạt động

thanh tra thuế 47

Bảng 2.2 Biến quan sát tác động lan tỏa của kết quả hoạt động thanh tra thuế đối với CQT, NNT và xã hội 49

Bảng 2.3 Biến quan sát của Mô hình tác động của các nhân tố đến sự đồng thuận của NNT đối với kết luận thanh tra 51

Bảng 3.1 Tổng hợp kết quả hoạt động thanh tra thuế giai đoạn 2007 - 2015 54

Bảng 3.2 So sánh kết quả hoạt động thanh tra thuế giai đoạn 2007 - 2015 60

Bảng 3.3 Kiểm định thang đo nhân tố tác động đến kết quả hoạt động thanh tra thuế bằng hệ số tin cậy Cronbach’s alpha sau khi loại bỏ một số biến quan sát 78

Bảng 3.4 Kiểm định thang đo kết quả hoạt động thanh tra thuế bằng hệ số tin cậy Cronbach’s alpha 80

Bảng 3.5 Kết quả hệ số KMO và kiểm định Barlett ban đầu 80

Bảng 3.6 Kết quả hệ số KMO và kiểm định Barlett sau khi loại chỉ báo không đảm bảo độ hội tụ 81

Bảng 3.7 Tổng phương sai được giải thích 81

Bảng 3.8 Bảng ma trận nhân tố xoay Varimax 82

Bảng 3.9 Bảng ma trận hệ số điểm nhân tố 84

Bảng 3.10 Kiểm định thang đo các nhân tố tác động đến sự đồng thuận của NNT đối với kết luận thanh tra bằng hệ số tin cậy Cronbach’s alpha sau khi loại bỏ một số biến quan sát 86

Bảng 3.11 Kiểm định thang đo sự đồng thuận của NNT đối với kết luận thanh tra bằng hệ số tin cậy Cronbach’s alpha 87

Bảng 3.12 Kết quả hệ số KMO và kiểm định Barlett ban đầu 87

Bảng 3.13 Tổng phương sai được giải thích 88

Bảng 3.14 Bảng ma trận nhân tố xoay Varimax 89

Bảng 3.15 Bảng ma trận hệ số điểm nhân tố 90

Bảng 3.16 Đánh giá độ phù hợp của mô hình 91

Bảng 3.17 Kiểm định độ phù hợp của mô hình (Kiểm định ANOVA) 92

Bảng 3.18 Kết quả hồi quy bội với các hệ số hồi quy riêng phần trong mô hình 92

Bảng 3.19 Tương quan giữa kết quả hoạt động thanh tra thuế với các hiệu ứng lan tỏa của kết quả hoạt động thanh tra thuế đối với CQT, NNT và xã hội 93

Bảng 3.20 Đánh giá độ phù hợp của mô hình 93

Bảng 3.21 Kiểm định độ phù hợp của mô hình (Kiểm định ANOVA) 94

Bảng 3.22 Kết quả hồi quy bội với các hệ số hồi quy riêng phần trong mô hình 94

Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Trang 9

Bảng 3.23 Tương quan giữa kết quả hoạt động thanh tra thuế với các hiệu ứng lan tỏa của kết quả hoạt động thanh tra thuế đối với CQT và NNT 95

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Các nhân tố tác động đến kết quả hoạt động thanh tra thuế 15

Hình 1.2 Các nhân tố tác động đến sự đồng thuận của NNT đối với kết luận thanh tra thuế 23 Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu về tác động của các nhân tố đối với kết quả hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam và tác động lan tỏa của kết quả thanh tra 35

Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu về tác động của các nhân tố đối với sự đồng thuận của NNT về kết luận thanh tra thuế tại Việt Nam và tác động lan tỏa của sự đồng thuận 36 Hình 3.1 Kết quả khảo sát, đánh giá về quy trình, phương pháp thanh tra thuế 56

Hình 3.2 Đánh giá mức độ hoạt động của CQT Việt Nam 58

Hình 3.3 Kết quả khảo sát, đánh giá về kết quả phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật thuế qua thanh tra 59

Hình 3.4 Kết quả khảo sát, đánh giá về sự đồng thuận của NNT đối với kết luận thanh tra 61

Hình 3.5 Kết quả khảo sát, đánh giá về việc nâng cao tính tuân thủ của NNT sau thanh tra thuế 62

Hình 3.6 Kết quả khảo sát, đánh giá về việc nâng cao hình ảnh, vị thế của CQT sau thanh tra thuế 62

Hình 3.7 Kết quả khảo sát, đánh giá về đội ngũ CBTT 64

Hình 3.8 Kết quả khảo sát, đánh giá về CSDL phục vụ hoạt động thanh tra thuế 66

Hình 3.9 Kết quả khảo sát, đánh giá về các quy định pháp luật 67

Hình 3.10 Kết quả khảo sát, đánh giá của CBTT về các thủ tục giám sát hoạt động thanh tra thuế 68

Hình 3.11 Kết quả khảo sát, đánh giá về cơ sở vật chất và các công cụ hỗ trợ hoạt động thanh tra thuế 69

Hình 3.12 Kết quả khảo sát, đánh giá về chế độ đãi ngộ đối với CBTT 69

Hình 3.13 Kết quả khảo sát, đánh giá sự phối hợp, chia sẻ kinh nghiệm thanh tra thuế nội bộ CQT 70

Hình 3.14 Kết quả khảo sát, đánh giá sự phối hợp phục vụ hoạt động thanh tra thuế giữa CQT và các bên liên quan 70

Hình 3.15 Tổng hợp đánh giá của CBTT về các nhân tố tác động đến kết quả hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam 71

Hình 3.16 Tổng hợp đánh giá của doanh nghiệp về các nhân tố tác động đến sự đồng thuận với kết luận thanh tra thuế tại Việt Nam 75

Hình 4.1 Quy trình thanh tra thuế đề xuất xây dựng 114

Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam, số lượng NNT tại Việt Nam ngày càng tăng và theo đó các vấn đề liên quan đến gian lận thuế nói riêng và tuân thủ pháp luật thuế nói chung cũng ngày càng trở nên phức tạp hơn Trong bối cảnh các nguồn lực phục vụ hoạt động QLT thường tăng chậm hơn yêu cầu và bị giới hạn… những hoạt động của CQT nhằm phát hiện, xử lý và ngăn ngừa các hành vi gian lận thuế; nâng cao tính tuân thủ của NNT đang đứng trước những thách thức ngày một lớn Cũng như CQT các nước khác, CQT Việt Nam đã nhận thấy những yếu tố ẩn sau hành vi gian lận thuế thường rất khác biệt, phức tạp và một chiến lược hành thu có dạng hành động đơn lẻ (ví dụ chỉ tiến hành thanh tra thuế) không thể chống gian lận thuế một cách triệt để Nhưng cũng xuất phát từ thực tế, thanh tra thuế vẫn là công cụ chống gian lận thuế hiệu quả cao và có tác động trực tiếp đến tính tuân thủ của NNT nên cũng như hầu hết các CQT trên thế giới, CQT Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục tăng cường các nguồn lực phục vụ hoạt động thanh tra thuế nhằm thực hiện tốt hơn việc thi hành pháp luật thuế

Thông qua việc tăng cường hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam, hàng chục nghìn tỷ đồng tiền thuế gian lận đã được thu hồi cho NSNN; những hành vi gian lận về thuế về cơ bản đã được phát hiện, xử lý Đồng thời, hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam cũng góp phần tuyên truyền pháp luật thuế, thúc đẩy NNT chấp hành pháp luật thuế, hoàn thiện chính sách pháp luật thuế (TCT, 2008 - 2016)… Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra kết quả của hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam chưa tương xứng với các chi phí, nguồn lực phục vụ thanh tra mà CQT đã bỏ ra, mục tiêu chống gian lận thuế của hoạt động thanh tra nhiều khi không đạt được trong khi bất cập, hạn chế vẫn còn khá nhiều (Booz Allen Hamilton, 2007 và Ngân hàng Thế giới, 2011) Thậm chí, có những ý kiến cho rằng thanh tra thuế là chức năng yếu kém nhất của CQT Việt Nam hiện nay (Ngân hàng Thế giới, 2011) và nhiều nội dung của hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam chỉ đạt mức hiệu quả hoạt động yếu kém so với thông lệ quốc tế (Ngân hàng Thế giới, 2016)

CQT Việt Nam có thể tìm được gợi ý khắc phục những hạn chế này từ kết quả của các nghiên cứu về hoạt động thanh tra thuế đặc biệt là các nghiên cứu lý thuyết cũng như các nghiên cứu thực tiễn về những nhân tố ảnh hưởng đối với hoạt động thanh tra thuế do việc cải thiện, thay đổi các nhân tố này có tác động trực tiếp đến hoạt

Trang 12

động thanh tra thuế Tuy nhiên, đến nay, chưa có các nghiên cứu theo hướng phân tích, đánh giá tác động tổng thể của các nhân tố có liên quan đối với hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam (tác động đến kết quả hoạt động thanh tra; tác động đến sự đồng thuận của NNT đối với kết luận thanh tra và tác động lan tỏa của hoạt động thanh tra thuế…) trong khi kết quả nghiên cứu về các nội dung này lại là gợi ý, khuyến nghị quan trọng cho CQT và các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đưa ra hệ thống giải pháp hoàn thiện hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam một cách khả thi, hiệu quả, khoa học; đảm bảo hoàn thành các mục tiêu quan trọng nhất của hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam (tăng cường khả năng phát hiện, xử lý hành vi vi phạm pháp luật thuế; tăng cường sự đồng thuận của NNT; gia tăng những tác động tích cực của hoạt động thanh tra thuế đối với CQT, NNT và xã hội) Đồng thời, kết quả nghiên cứu theo phương pháp định lượng dựa trên số liệu khảo sát cụ thể, khách quan và rõ ràng sẽ chỉ

ra mức độ tác động mạnh, yếu của từng nhân tố đến hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam Đây chính là cơ sở để CQT và các cơ quan có liên quan tại Việt Nam có sự ưu tiên hay đánh đổi trong từng quyết định để đạt được kết quả cuối cùng cao nhất khi trên thực tế khó có thể thực hiện các biện pháp tác động đồng thời đến tất cả các nhân

tố do nguồn lực có hạn

Trong bối cảnh đó, đề tài “Hoàn thiện hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam”

với ý nghĩa cấp thiết cả về lý thuyết lẫn thực tiễn đã được lựa chọn để nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu

Từ những khoảng trống nghiên cứu và để làm cơ sở đưa ra các khuyến nghị hoàn thiện hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam, bên cạnh việc hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động thanh tra thuế; phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam… mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là luận giải toàn diện, triệt để

về các nhân tố tác động đến hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam trên cơ sở thực hiện các mục tiêu cụ thể:

(1) Nghiên cứu về tác động trực tiếp của các nhân tố đến kết quả hoạt động thanh tra thuế (phương diện phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật thuế);

(2) Nghiên cứu về tác động trực tiếp của các nhân tố đến sự đồng thuận của NNT đối với kết luận thanh tra thuế;

(3) Nghiên cứu về tác động lan tỏa của kết quả thanh tra, sự đồng thuận của NNT đối với CQT (hình ảnh - năng lực quản lý), NNT (tính tuân thủ) và xã hội (tác dụng ngăn ngừa vi phạm pháp luật thuế - sự ủng hộ đối với CQT)

Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Trang 13

Ba (03) mục tiêu nghiên cứu cụ thể này cũng chính là ba (03) vấn đề mà CQT Việt Nam cũng như CQT các nước quan tâm, xác định là những mục tiêu cơ bản, chính yếu của hoạt động thanh tra thuế

3 Câu hỏi nghiên cứu

Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu cụ thể nêu trên, các câu hỏi nghiên cứu được đặt ra trong nghiên cứu này chính là:

(1) Những nhân tố nào ảnh hưởng đến kết quả hoạt động thanh tra thuế (trên khía cạnh phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật thuế)?

(2) Những nhân tố nào ảnh hưởng đến sự đồng thuận của NNT đối với kết luận thanh tra thuế?

(3) Tác động lan tỏa của kết quả hoạt động thanh tra thuế đối với CQT, NNT

và xã hội như thế nào?

(4) Tác động lan tỏa từ sự đồng thuận của NNT với kết luận thanh tra thuế đối với CQT, NNT như thế nào?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động thanh tra

(bao gồm cả kiểm tra tại trụ sở của NNT) do CQT tiến hành đối với NNT Thuật ngữ

ngữ “hoạt động thanh tra và kiểm tra tại trụ sở của NNT do CQT tiến hành đối với

NNT” với nội hàm tương đương (Phụ lục 1) và không bao gồm thanh tra giải quyết khiếu nại của NNT, thanh tra nhằm phúc tra, thanh tra nội bộ

* Phạm vi nghiên cứu:

Luận án tập trung nghiên cứu về thực trạng hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam giai đoạn 2007 - 2015; các nhân tố tác động đến hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam thông qua nghiên cứu về nhân tố tác động đến kết quả hoạt động thanh tra, tác động đến

sự đồng thuận của NNT đối với kết luận thanh tra cũng như tác động lan tỏa của các nội dung này đối với CQT, NNT và xã hội… với thời điểm khảo sát là năm 2015

Các khuyến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam nêu trong Luận án được đề xuất áp dụng cho giai đoạn từ nay đến hết năm 2020 và làm cơ

sở tiếp tục bổ sung, hoàn thiện cho giai đoạn 2020 - 2030

Trang 14

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận án thực hiện trên cơ sở kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng, cụ thể:

* Phương pháp nghiên cứu định tính

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chuyên gia thông qua việc phỏng vấn, trao đổi trực tiếp với các cán bộ thuế, các chuyên gia tư vấn thuế - kế toán - kiểm toán và các lãnh đạo bộ phận kế toán - tài chính của doanh nghiệpnhằm mục đích thu thập ý kiến đánh giá khách quan, toàn diện về thực trạng hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam; hỗ trợ thực hiện nghiên cứu theo phương pháp định lượng và hỗ trợ việc đề xuất các khuyến nghị hoàn thiện hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam

Ngoài ra, nghiên cứu sử dụng các số liệu thống kê thông qua việc thu thập dữ liệu, tổng hợp số liệu có sẵn; xử lý số liệu thu thập thông qua khảo sát, phỏng vấn CBTT và doanh nghiệp; tiến hành lập bảng biểu, vẽ các đồ thị, biểu đồ để dễ dàng so sánh và đánh giá nội dung nghiên cứu Nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh và suy luận để đánh giá về thực trạng hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam

* Phương pháp nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng nhằm kiểm định và nhận diện các nhân tố tác động thông qua các giá trị, độ tin cậy và mức độ phù hợp của các thang đo, kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu, xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến kết quả hoạt động thanh tra thuế; tác động đến sự đồng thuận của NNT với kết luận thanh tra và hiệu ứng lan tỏa đối với CQT, NNT và xã hội

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

* Ý nghĩa khoa học: Luận án góp phần bổ sung và hoàn thiện cơ sở lý luận về

thanh tra thuế; làm rõ các nhân tố tác động đến hoạt động thanh tra thuế (kết quả hoạt động thanh tra thuế - phương diện phát hiện, xử lý các vi phạm; sự đồng thuận của NNT đối với kết luận thanh tra thuế; hiệu ứng lan tỏa của kết quả hoạt động thanh tra thuế cũng như sự đồng thuận của NNT đối với kết luận thanh tra thuế đến sự tuân thủ của NNT, đến hình ảnh - năng lực quản lý của CQT và đến khả năng ngăn ngừa hành

vi vi phạm pháp luật thuế cũng như gia tăng sự ủng hộ của xã hội đối với CQT)

* Ý nghĩa thực tiễn: Luận án phân tích thực trạng hoạt động thanh tra thuế tại

Việt Nam và đánh giá những ưu điểm, hạn chế cũng như làm rõ những nguyên nhân có

Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Trang 15

liên quan Trên cơ sở những phân tích, đánh giá này, kết hợp với những kết quả nghiên cứu định lượng nêu trên, Luận án đưa ra những khuyến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam

7 Kết cấu của Luận án

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, Luận án được chia thành 4 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan nghiên cứu về hoạt động thanh tra thuế Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu về hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam

Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu và khuyến nghị hoàn thiện hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam

Trang 16

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA THUẾ

1.1 Khái quát chung về hoạt động thanh tra thuế

1.1.1 Khái niệm

Thanh tra xuất phát từ nguồn gốc Latinh có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ

một sự xem xét từ bên ngoài đối với hoạt động của một số đối tượng nhất định Theo

Từ điển Pháp luật Anh - Việt: “thanh tra là sự kiểm soát, kiểm kê đối với đối tượng

thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục

tra là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”

Có thể thấy, trong hoàn cảnh kinh tế - xã hội hiện nay, hoạt động thanh tra thường đi kèm với một chủ thể nhất định (thường có yếu tố Nhà nước) và đặt trong

phạm vi quyền hạn của chủ thể nhất định Theo Thanh tra Chính phủ (2008): “Thanh

tra là một chức năng thiết yếu của quản lý Nhà nước, là hoạt động kiểm tra, xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý Nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân; được thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm phòng ngừa, phát hiện và

xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu quả, hiệu lực của hoạt động quản lý Nhà nước, bảo vệ

Thanh tra là hoạt động nhân danh quyền lực công tác động đến đối tượng quản lý để nâng cao tính tuân thủ, bảo vệ pháp luật, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức

Trên thế giới, đa số các nước xác định thanh tra thuế là một hoạt động thanh tra

chuyên ngành - hoạt động thanh tra của cơ quan có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực

đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực Cũng theo

phương pháp tiếp cận này, Kircher (2008) cho rằng: “thanh tra thuế là kiểm tra báo

cáo thuế của một tổ chức hay cá nhân do CQT thực hiện để xác định mức độ tuân thủ

Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Trang 17

thuế là hoạt động của CQT nhằm thiết lập một CQT hiệu quả và độc lập để thường xuyên đối phó với thay đổi kinh tế, đưa ra các chiến lược phù hợp để giải quyết tranh chấp thuế giữa CQT và NNT một cách có trách nhiệm, để duy trì cơ chế hiệu quả giải

Tại Việt Nam, TCT (2010) xác định: “thanh tra thuế là hoạt động giám sát của

CQT đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của NNT, nhằm

Học viện Tài chính (2009) có quan điểm: “thanh tra thuế là hoạt động kiểm tra của tổ

chức chuyên trách làm công tác kiểm tra của CQT đối với đối tượng thanh tra nhằm

Tổng hợp các quan niệm nêu trên, có thể hiểu: thanh tra thuế là hoạt động kiểm tra của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với NNT nhằm kết luận về việc chấp hành các quy định pháp luật thuế; đánh giá ưu điểm - khuyết điểm, góp phần hoàn thiện chính sách, cơ chế QLT; phòng ngừa và xử lý các vi phạm pháp luật thuế, nâng cao tính tuân thủ của NNT… Thanh tra thuế là những hoạt động giám sát của CQT đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế cũng như tình hình chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của NNT nhằm bảo đảm pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh Là một trong các chức năng

cơ bản của CQT, thanh tra thuế góp phần quan trọng trong việc bảo đảm tính công bằng trong thực thi pháp luật thuế, đồng thời làm cho NNT luôn ý thức rằng có một hệ thống giám sát hiệu quả tồn tại, từ đó thúc đẩy họ tự giác tuân thủ pháp luật thuế…

1.1.2 Nguyên tắc

Nguyên tắc của hoạt động thanh tra là tập hợp các quy định, quy tắc, chuẩn mực bắt buộc phải thực hiện xuyên suốt trong quá trình hoạt động thanh tra của các cơ quan thanh tra Nguyên tắc của hoạt động thanh tra nói chung là tuân thủ pháp luật; bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời Hoạt động thanh tra phải đảm bảo không trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra; không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra (Thanh tra Chính phủ, 2008)

Đối với CQT, ngoài những nội dung nêu trên, thanh tra thuế cần đảm bảo nguyên tắc thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến NNT, đánh giá việc chấp hành pháp luật của NNT, xác minh và thu thập chứng cứ để xác định

Trang 18

hành vi vi phạm pháp luật về thuế (TCT, 2010) Các nguyên tắc cơ bản của thanh tra thuế được cụ thể hóa như sau:

* Tuân thủ pháp luật

Nguyên tắc trước tiên của thanh tra thuế là phải tuân thủ pháp luật, điều này khẳng định tính pháp lý của hoạt động thanh tra Hoạt động thanh tra thuế phải tuân thủ theo pháp luật về thanh tra cũng như pháp luật thuế Nguyên tắc tuân thủ pháp luật đòi hỏi CQT và cán bộ thực hiện hoạt động thanh tra thuế chỉ được giới hạn trong phạm vi quyền hạn mà pháp luật cho phép và phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ, trách nhiệm theo quy định Mọi hành vi lạm quyền hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đều bị coi là hành vi không tuân thủ quy định của pháp luật và đều phải bị xử lý Thực hiện nguyên tắc này, chủ thể thanh tra (CQT, ĐTT và các thành viên ĐTT) khi thực hiện nhiệm vụ thanh tra phải căn cứ vào các quy định của pháp luật để kiểm tra, đánh giá, kết luận, kiến nghị những vấn đề thanh tra và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận, kiến nghị thanh tra Đối tượng thanh tra (NNT) phải nghiêm chỉnh chấp hành các quyết định của chủ thể thanh tra, cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu và giải trình số liệu khi được yêu cầu

* Tuân thủ quy trình thanh tra

Khi tiến hành thanh tra, CQT và các CBTT cần thực hiện theo đúng quy trình thanh tra thuế, quy trình thanh tra chuyên ngành hoặc/và thanh tra hành chính CBTT

và ĐTT không được làm tắt các bước, bỏ qua các khâu, công đoạn, thủ tục cho là không quan trọng để nôn nóng, vội vàng kết thúc cuộc thanh tra Việc làm tắt các bước, sai quy trình sẽ dễ gây rủi ro không những cho chính ĐTT mà còn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh, uy tín, tính nghiêm minh của CQT và pháp luật thuế, dễ dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng Hơn nữa, việc vi phạm quy trình thanh tra thuế sẽ khiến quyết định của CQT sau thanh tra bị tuyên vô hiệu khi có sự khiếu nại, khởi kiện của NNT hoặc khiến NNT từ chối tuân thủ các kết luận thanh tra

Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Trang 19

không tuân thủ pháp luật thuế, nâng cao hiệu quả QLT Để đạt được hiệu quả, thanh tra thuế phải dựa trên cơ sở phân tích thông tin, áp dụng phương pháp phân tích rủi ro nhằm phân loại rủi ro thanh tra thuế, phải phù hợp với khả năng của NNT trong việc tuân thủ các kết luận về thuế

* Chính xác, khách quan, trung thực

Tính chính xác đòi hỏi chủ thể thanh tra phải nhận thức đúng vấn đề, nội dung thanh tra; xác định, đánh giá đúng bản chất của sự việc để kết luận thanh tra mang tính chính xác Tính chính xác bảo đảm cho thanh tra thuế đạt hiệu quả cao Để đảm bảo tính chính xác, CBTT và ĐTT phải có quan điểm đúng đắn và phải có kiến thức, năng lực đáp ứng yêu cầu công tác

Tính khách quan yêu cầu chủ thể thanh tra thuế phải phản ánh đúng sự vật, hiện tượng như nó vốn có, không được lồng ý kiến chủ quan khi mô tả sự vật, hiện tượng Tính khách quan và tính chính xác có mối quan hệ tác động qua lại Tính khách quan tạo tiền đề cho việc kết luận chính xác và kết luận thanh tra thuế chính xác sẽ góp phần đảm bảo tính khách quan của thanh tra thuế

Tính trung thực đòi hỏi chủ thể thanh tra thuế phải tuân thủ các quy tắc về đạo đức nghề nghiệp, phản ánh đúng thực tế sự việc, không thiên lệch, phản ánh sai sự việc dẫn đến kết luận không đúng thực tế

* Công khai, dân chủ, kịp thời

Tính công khai thể hiện thông qua việc CQT phải thông báo đầy đủ, rõ ràng từ nội dung, kế hoạch, quyết định thanh tra đến kết luận thanh tra để các tổ chức, cá nhân liên quan biết, giám sát và phối hợp thực hiện Việc công khai hoạt động thanh tra thuế nhằm nâng cao tính khách quan hoạt động thanh tra của CQT, hạn chế những tiêu cực phát sinh trong quá trình thanh tra Tuy nhiên, tuỳ tính chất của cuộc thanh tra thuế cụ thể, cần có hình thức, mức độ công khai phù hợp để đảm bảo hiệu quả hoạt động thanh tra

Tính dân chủ nhằm tạo cơ hội cho NNT được trình bày ý kiến, quan điểm về những nội dung thanh tra cũng như về hoạt động cụ thể của ĐTT, tránh tình trạng áp đặt của CQT về các nội dung liên quan đến NNT

Thông thường, hoạt động thanh tra thuế nhằm phục vụ các mục tiêu QLT trong những thời điểm nhất định Tính kịp thời của thanh tra thuế sẽ giúp cho NNT kịp thời nhận rõ sai phạm để sửa chữa, khắc phục ngay, tránh vi phạm kéo dài; giúp CQT chấn chỉnh và sửa đổi cơ chế, chính sách thuế phù hợp thực tiễn, nâng cao hiệu quả QLT Mặt

Trang 20

khác, tính kịp thời còn đảm bảo cuộc thanh tra thuế có biên bản, kết luận đúng thời hạn luật định, tránh tình trạng dây dưa, kéo dài thời gian công bố kết luận thanh tra

* Không trùng lắp và không cản trở hoạt động của NNT

Về nguyên tắc, đối với NNT có ngành nghề kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh doanh rộng thì thanh tra thuế định kỳ một năm không quá một lần Do đó, nguyên tắc không trùng lắp này nhằm hạn chế tối đa những cuộc thanh tra chồng chéo của các cơ quan quản lý, đảm bảo quyền hoạt động bình thường của đối tượng thanh tra, đảm bảo cùng một nội dung, trong một năm đối tượng chỉ bị thanh tra thuế một lần

Sự xuất hiện của CBTT tại trụ sở của NNT cùng với việc kiểm tra, xem xét những vấn đề của NNT, thu thập thông tin từ sổ sách chứng từ của doanh nghiệp sẽ ít nhiều làm gián đoạn các công việc hàng ngày, gây tâm lý, áp lực đối với NNT Việc cơ quan chức năng thực hiện thanh tra tại cơ sở kinh doanh là cần thiết nhưng ít nhiều cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của đối tượng thanh tra Để giảm thiểu tác động tiêu cực này, CQT cần bố trí thời gian, nhân lực hợp lý, sắp xếp kế hoạch làm việc hợp lý với NNT…

sẽ phát hiện các trường hợp trường hợp xác định thiếu nghĩa vụ thuế, tăng thu NSNN

và xử lý phạt theo quy định

* Khuyến khích sự tuân thủ tự nguyện

Theo quan điểm QLT hiện đại, hoạt động thanh tra thuế cần phải khuyến khích

sự tuân thủ tự nguyện pháp luật thuế của NNT Điều này được thực hiện thông qua việc khuyến cáo NNT về rủi ro nếu không tuân thủ và để NNT nhận thức được rằng những hành vi vi phạm pháp luật thuế đều bị phát hiện và xử lý

* Đảm bảo sự bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế

Thanh tra thuế có vai trò không nhỏ trong việc đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh, cạnh tranh bình đẳng thông qua việc kịp thời phát hiện, xử lý các hành vi

Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Trang 21

vi phạm pháp luật thuế, cạnh tranh bằng thủ đoạn trốn thuế, đảm bảo sự bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với tất cả NNT…

* Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thuế

Thực tiễn cho thấy, hiệu lực quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực thuế tùy thuộc vào nội dung, chất lượng và biện pháp tổ chức thực hiện các quyết định của CQT Hoạt động thanh tra thuế nhằm đánh giá, nhận xét tình hình chấp hành pháp luật thuế và các kết quả thực hiện quyết định QLT; làm rõ nguyên nhân, xác định trách nhiệm thuộc khâu nào, thuộc cá nhân nào để chấn chỉnh hoặc xử lý (khi có vi phạm)…

và qua đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước trong lĩnh vực thuế

* Hoàn thiện chính sách pháp luật thuế

Thông qua hoạt động thanh tra thuế, CQT có cơ hội và điều kiện phát hiện ra các kẽ hỡ trong chính sách, pháp luật thuế mà NNT đang lợi dụng để từ đó có những

đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung kịp thời

* Thu thập thông tin

Qua thanh tra thuế đối với NNT, CQT có thể thu thập, tổng hợp được thông tin

và các hành vi gian lận thuế, tránh thuế của NNT Các thông tin này có thể được sử dụng để xây dựng, triển khai các chương trình thanh tra trong tương lai cũng như sử dụng vào các lĩnh vực QLT khác như: tuyên truyền hỗ trợ; hoàn thiện chính sách pháp luật thuế; thu nợ và cưỡng chế nợ thuế…

* Hỗ trợ NNT

Trong quá trình thanh tra, CBTT có thể tuyên truyền, hướng dẫn trực tiếp cho NNT về chính sách, pháp luật thuế Cũng như qua thanh tra thuế, CQT có thể phát hiện ra các ngành nghề, lĩnh vực có có mức độ tuân thủ thấp, chưa nắm rõ quy định của pháp luật thuế để thông báo cho bộ phận tuyên truyền hỗ trợ triển khai các chương trình tuyên truyền, tập huấn, hướng dẫn cho NNT Kết quả hoạt động thanh tra thuế tạo điều kiện để giúp NNT đánh giá rõ hơn về tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế, tình hình tài chính của bản thân NNT; những ưu điểm và hạn chế liên quan để

từ đó có các biện pháp điều chỉnh thức hợp, nâng cao hiệu quả hoạt động, tránh các sai sót, vi phạm…

1.1.4 Phân loại

Hoạt động thanh tra thuế có thể được phân loại tùy thuộc tính kế hoạch; quy

mô, phạm vi tiến hành thanh tra hoặc địa điểm tiến hành thanh tra thuế CQT Việt

Trang 22

Nam (TCT, 2010) và OECD (2004) phân loại hoạt động thanh tra thuế theo các tiêu chí chính sau:

* Phân loại dựa vào kế hoạch thanh tra

Nếu xét theo tính kế hoạch, có thể phân thanh tra thuế thành hai loại: thanh tra theo kế hoạch và thanh tra đột xuất

Thanh tra theo kế hoạch: Được CQT tiến hành theo kế hoạch đã được xây

dựng, phê duyệt từ trước căn cứ vào nguồn lực hiện có, tình hình chấp hành pháp luật thuế của NNT và mục tiêu QLT… Loại hình thanh tra này có ưu điểm là việc thanh tra trên cơ sở kế hoạch nên được chuẩn bị chu đáo từ khâu phân tích thông tin đến khâu thanh tra thực tế

Tuy nhiên, do kế hoạch thanh tra được phê duyệt từ đầu năm nên thời gian cho tính đến khi CQT tiến hành thanh tra tại cơ sở NNT luôn có độ trễ nhất định Tranh thủ thời gian trễ tạm thời đó, NNT có thể có những hành vi nhằm hoàn thiện sổ sách, chứng từ trước khi CQT tiến hành thanh tra hoặc NNT cố tình trì hoãn, trốn tránh nghĩa vụ phối hợp với ĐTT Mặt khác, việc lập kế hoạch thanh tra đôi khi bị ảnh hưởng do nhân tố chủ quan can thiệp, tác động làm thay đổi kế hoạch, đôi khi làm chệnh hướng hoạt động thanh tra

Thanh tra đột xuất: Được tiến hành khi CQT phát hiện NNT có dấu hiệu vi

phạm pháp luật thuế, theo yêu cầu của cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan chức năng có thẩm quyền giao hoặc khi có khiếu nại, tố cáo về thuế Thanh tra đột xuất giúp CQT kịp thời phát hiện ra bằng chứng vi phạm pháp luật của NNT, giúp CQT nắm được lập tức tình trạng SXKD, việc tuân thủ pháp luật thuế của NNT có thường xuyên, tự giác không Thanh tra đột xuất có thời gian tiến hành thanh tra gấp nên ĐTT có ít thời gian

để thu thập, tổng hợp, phân tích thông tin về NNT trước thanh tra và thường có xu hướng tập trung vào một khía cạnh, phạm vi nhất định, kết luận thanh tra giới hạn theo nội dung thanh tra đột xuất

Trên thực tế, nhằm đảm bảo NNT thực hiện tốt các luật thuế, tùy theo yêu cầu QLT từng thời kỳ mà CQT đặt trọng tâm vào áp dụng phương pháp thanh tra theo kế hoạch hay thanh tra đột xuất vì mỗi hình thức thanh tra có ưu điểm hoặc nhược điểm nhất định nhưng lại có thể bổ sung, hỗ trợ rất tốt cho nhau

* Phân loại dựa vào quy mô và phạm vi tiến hành thanh tra

Theo tiêu chí này, thanh tra thuế được chia thành hai loại: thanh tra toàn diện và thanh tra hạn chế

Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Trang 23

Thanh tra toàn diện: Thực hiện loại thanh tra này, CQT sẽ thực hiện thanh tra

toàn bộ các nghĩa vụ thuế của NNT theo quy định Thanh tra toàn diện là loại hình thanh tra sâu về nghiệp vụ, rộng về phạm vi qua đó cho phép kết luận toàn diện về sự tuân thủ pháp luật thuế của NNT Thanh tra toàn diện liên quan đến nhiều sắc thuế, nhiều kỳ tính thuế Mặc dù phạm vi thanh tra toàn diện là không hạn chế tuy nhiên các cuộc thanh tra dạng này cũng vẫn sử dụng các kỹ thuật chọn mẫu thích hợp và sẽ quyết định mở rộng phạm vi thanh tra và thời kỳ thanh tra khi đánh giá, phát hiện thấy có dấu hiệu vi phạm khác có liên quan Thanh tra toàn diện cho thấy một bức tranh tổng quan về tình hình SXKD, cơ chế hạch toán, việc kê khai, nộp thuế trong phạm vi toàn ngành, phát hiện sơ hở về cơ chế, chính sách, hành vi vi phạm pháp luật thuế trong phạm vi toàn ngành, từ đó đề xuất các cấp bổ sung, sửa đổi hoàn thiện cơ chế chính sách Tuy nhiên, do phạm vi cuộc thanh tra rộng và thanh tra nhiều kỳ tính thuế nên CQT sẽ tốn nhiều nhân lực, thời gian, chi phí để tiến hành thanh tra toàn diện và có thể phải gia hạn thêm thời gian thanh tra do phát sinh nhiều vấn đề chưa lường trước được

Thanh tra hạn chế: Thực hiện loại thanh tra này, CQT sẽ tiến hành thanh tra

với phạm vi nhất định, hạn chế; có thể là thanh tra một sắc thuế, một nội dung tuân thủ, một hạng mục doanh thu, chi phí hoặc một chỉ tiêu nào đó trên bảng cân đối kế toán hoặc báo cáo kết quả SXKD… hoặc thanh tra theo một chuyên đề cụ thể như: thanh tra chống chuyển giá, thanh tra các doanh nghiệp lỗ, thanh tra về chi phí sản xuất một số mặt hàng Nhà nước kiểm soát giá… Nói cách khác, thanh tra hạn chế là công việc thanh tra chỉ tập trung tiến hành đối với một số chỉ tiêu nhất định và không bao gồm tất cả các phép thử theo nghiệp vụ thanh tra cũng như không bao gồm tất cả các bước tuần tự thanh tra cần thiết cho phép CBTT đánh giá được tổng thể mức độ tuân thủ hay không tuân thủ pháp luật thuế của NNT bị thanh tra Thông thường thanh tra hạn chế chỉ tập trung làm rõ một số nội dung cụ thể Thanh tra hạn chế thường cần

ít nguồn lực thanh tra hơn thanh tra toàn diện, giúp CQT tìm ra các gian lận, sai sót, chống thất thu thuế theo từng lĩnh vực chuyên sâu, chuyên ngành nhằm tăng tính tuân thủ của NNT trong các ngành, lĩnh vực thanh tra theo chuyên đề Tuy nhiên kết quả thanh tra sẽ không cho thấy được bức tranh toàn cảnh về tình hình tuân thủ khai nộp thuế của NNT do phạm vi thanh tra hạn chế…

* Phân loại dựa vào địa điểm tiến hành thanh tra thuế

Nếu phân loại theo địa điểm tiến hành hoạt động thanh tra thuế, có thể chia thanh tra thuế thành hai loại: thanh tra tại trụ sở CQT và thanh tra tại trụ sở NNT

Thanh tra tại trụ sở CQT (thanh tra tại bàn): Là hình thức thanh tra mà

Trang 24

thực hiện các biện pháp nghiệp vụ ngay tại trụ sở CQT Hoạt động thanh tra tại bàn có thể áp dụng đối với bất kỳ hồ sơ thuế nào mà NNT đã nộp cho CQT, bao gồm cả hồ sơ khai thuế và các loại hồ sơ khác (đề nghị hoàn thuế, miễn, giảm thuế ) và với bất kỳ hoặc toàn bộ các nội dung của hồ sơ thuế đó Phạm vi thanh tra tại bàn thường tập trung vào việc xác một số vấn đề cụ thể đã được cán bộ rà soát tờ khai lưu ý hoặc được cảnh báo về nguy cơ vi phạm Cán bộ thực hiện thanh tra tại bàn thường thực hiện đối chiếu chéo những thông tin kê khai trong hồ sơ thuế cụ thể, xác minh tính đúng quy định của các phép tính xác định nghĩa vụ thuế, của các căn cứ cơ bản liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế thông qua việc tính toán lại, đối chiếu các quy định của pháp luật thuế có liên quan, yêu cầu NNT giải trình, cung cấp một số thông tin, hồ

sơ, tài liệu cho CBTT tại trụ sở CQT

Thanh tra tại trụ sở CQT thường tốn ít chi phí, thời gian đi lại trong quá trình thanh tra Việc kiểm tra, đối chiếu được chủ động do ĐTT tận dụng được cơ sở vật chất sẵn có và hồ sơ sẵn có tại CQT Việc phối hợp với các phòng ban liên quan trong việc truy vấn lịch sử tuân thủ, lịch sử hành vi của NNT cũng thuận tiện hơn Tuy nhiên, do NNT không thể mang đầy đủ sổ sách, chứng từ kế toán và các tài liệu liên quan khác lên trụ sở của CQT nên CBTT khó có chứng cứ cụ thể, xác đáng để phân tích, kết luận Do không trực tiếp thanh tra tại cơ sở của NNT nên CQT không thấy được hiện trạng thực tế tài sản, tình hình SXKD của NNT…

Thanh tra tại trụ sở NNT: Là hình thức thanh tra được diễn ra bên ngoài trụ

sở CQT và tại chính địa điểm SXKD hoặc trụ sở giao dịch của NNT Thanh tra tại trụ

sở NNT là một hoạt động thường xuyên và thường được lập kế hoạch, xác định rõ trong chương trình công tác của CQT hoặc được tiến hành đột xuất trong một số trường hợp nhất định Tuy nhiên, trong một số trường hợp, loại hình thanh tra được áp dụng trong trường hợp thanh tra tại trụ sở CQT không đáp ứng mục tiêu phát hiện, xử

lý hành vi không tuân thủ, CQT cần phải chuyển sang thanh tra tại cơ sở NNT để thu thập thêm các chứng cứ nhằm xử lý triệt để hành vi không tuân thủ

Thời gian cần thiết để thực hiện thanh tra tại trụ sở NNT thường kéo dài và phụ thuộc mục tiêu, bản chất của cuộc thanh tra cũng như phụ thuộc vào quy mô, tính phức tạp của hoạt động của NNT và phụ thuộc sự đánh giá mức độ rủi ro về thuế của CBTT Thanh tra tại trụ sở NNT thường là việc kiểm tra chi tiết nhưng cũng có thể chỉ kiểm tra một phần hồ sơ, sổ sách kế toán, chứng từ liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế của NNT Thanh tra tại trụ sở NNT thường được các CQT tiến hành bởi một nhóm cán bộ có kiến thức chuyên môn tốt, có những kỹ năng, kinh nghiệm bổ sung tốt cho nhau, hỗ trợ cho nhau hiệu quả trong công tác nhưng đôi lúc cũng có thể tiến hành

Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Trang 25

bởi một CBTT duy nhất Thực hiện việc thanh tra tại cơ sở NNT cho CQT bằng chứng xác thực, kết luận thanh tra khách quan hơn, cuộc thanh tra được tiến hành đầy đủ, toàn diện và thu thập được những chứng cứ xác đáng Hình thức này cho phép CBTT tiếp cận trực tiếp với tài sản, máy móc, tài liệu sổ sách chứng từ, quỹ tiền mặt thực tế… của NNT; giúp CBTT có thể quan sát, thẩm định các nội dung liên quan Tuy nhiên, thanh tra tại trụ sở NNT thường tốn kém thời gian, nhân lực và vật lực của CQT…

1.2 Tổng quan nghiên cứu về hoạt động thanh tra thuế

Có thể khẳng định, các công trình nghiên cứu về hoạt động thanh tra thuế khá nhiều, đa dạng về cả về đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu cũng như góc

độ nghiên cứu Tuy nhiên, các nghiên cứu liên quan trực tiếp đến nội dung nghiên cứu

và mục tiêu nghiên cứu của Luận án có thể tổng hợp thành ba (03) nhóm nghiên cứu các vấn đề về lý luận chung (nhân tố tác động đến kết quả hoạt động thanh tra thuế; nhân tố tác động đến sự đồng thuận của NNT đối với kết luận thanh tra; tác động lan tỏa của hoạt động thanh tra thuế) và một (01) nhóm nghiên cứu về thực tế hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam

Hình 1.1 Các nhân tố tác động đến kết quả hoạt động thanh tra thuế

Nguồn: Tổng hợp từ nghiên cứu của nhiều tác giả

Nguồn thông tin,

dữ liệu về NNT

Tổ chức bộ máy và

năng lực CBTT

Giám sát, quản lý chất lượng

Quy trình, phương pháp thanh tra

Trang 26

1.2.1 Nhân tố tác động đến kết quả hoạt động thanh tra thuế

Theo các nghiên cứu, kết quả hoạt động thanh tra thuế chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, trong đó một số nhân tố chính được phản ánh tại Hình 1.1 và các tổng hợp dưới đây:

1.2.1.1 Quy định pháp luật

Alabede (2011) chỉ ra là lý thuyết về sự ngăn chặn phụ thuộc rất lớn vào thanh tra thuế và phạt Alabede cũng nhấn mạnh là lý thuyết về tuân thủ thuế coi NNT thực hiện nghĩa vụ thuế như kết quả của sự lo ngại và bị phạt Trivedi và Shehata (2005) thì cho rằng lý thuyết về sự ngăn chặn gợi ý là NNT chơi trò may rủi trong việc thanh tra (NNT tính toán kết quả của việc lựa chọn các khả năng tuân thủ thuế khác nhau trong mối quan hệ giữa lợi ích thu được thông qua việc gian lận thuế và các chi phí, mức phạt có thể bị áp dụng) Dijke và Verboon (2010) chỉ ra bản chất của mô hình ngăn chặn việc tuân thủ thuế chủ yếu là kiểm tra sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa khả năng phát hiện và tính nghiêm khắc của việc phạt có thể ảnh hưởng đến việc không tuân thủ Brooks (2001) cho rằng lý thuyết kinh điển chỉ dựa trên phân tích kinh tế nhưng các biến số tâm lý và xã hội đều quan trọng như nhau trong việc hiểu vấn đề không tuân thủ với thuế Một số nghiên cứu quan trọng về các tác động của việc ngăn chặn tuân thủ bao gồm Hasseldine (2000), Torgler (2003) và Kirchler (2007) Còn Braithwaith (2003) cho rằng nếu việc ngăn chặn (khả năng phát hiện và tính nghiêm khắc của hình thức phạt) sẽ là một biến số quan trọng trong việc giải thích về mức độ tuân thủ và phần lớn NNT không tuân thủ vì các mức độ ngăn chặn thấp

Nhìn chung, các nghiên cứu dựa trên dữ liệu của Cục Thu nội địa Mỹ cho thấy một bức tranh về hiện tượng tuân thủ mà nhiều yếu tố đóng vai trò trong đó: nguồn thu nhập, nhóm kinh tế xã hội (tuổi, giới tính, địa điểm), xác suất phát hiện, thuế suất biên

và mức thu nhập Đặc biệt, sự trừng phạt khắc nghiệt của chế tài lại dường như không đóng vai trò quan trọng Những ước tính dựa trên dữ liệu của Cục Thu nội địa Mỹ, cũng bộc lộ một số hạn chế như các nghiên cứu thường tập trung vào kết quả hoạt động thanh tra thuế một số năm nhất định và quan điểm lựa chọn NNT để tiến hành thanh tra, định hướng thanh tra nhiều khi không toàn diện và không thống nhất; các biến số sử dụng để phân tích định lượng chưa thực sự đầy đủ…

OECD (2004) đánh giá hiệu quả và hiệu lực trong hoạt động thanh tra của CQT phụ thuộc chủ yếu vào bản chất và phạm vi thẩm quyền quy định trong khuôn khổ pháp lý có liên quan, bao gồm cả quy định về thẩm quyền thu thập thông tin và một hệ thống chế tài để phát hiện và xử phạt các trường hợp không tuân thủ Bên cạnh đó,

Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Trang 27

OECD cũng nhận định khung pháp lý rất cần thiết để đảm bảo sự minh bạch trong công tác thanh tra của ngành thuế và phải đảm bảo rằng các quyền của NNT được bảo

vệ xác đáng

Ngoài ra, OECD cũng xác định việc thiết lập một chiến lược công khai thông tin rõ ràng ở các cấp độ chương trình chung (có thể không phải chỉ riêng về hoạt động thanh tra) là rất quan trọng để quản lý hiệu quả tính tuân thủ của NNT và đẩy mạnh ảnh hưởng của hoạt động thanh tra và các hoạt động nâng cao tính tuân thủ luật thuế Tuy nhiên, việc công khai hoá thông tin cần có những giới hạn pháp luật quy định về mức độ chi tiết của thông tin được công bố

Có thể khẳng định, thanh tra thuế luôn phải dựa trên cơ sở các văn bản pháp luật, các quy định của Nhà nước Hệ thống pháp luật hoàn thiện là cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác thanh tra Hiệu quả hoạt động thanh tra thuế phụ thuộc nhiều vào hệ thống văn bản pháp quy liên quan điều chỉnh hoạt động thanh tra thuế Thanh tra thuế thực hiện quyền kiểm soát của Nhà nước đối với hoạt động khai nộp thuế của NNT

Hệ thống pháp luật đầy đủ, phù hợp với thực tế và yêu cầu quản lý sẽ thúc đẩy thanh tra thuế hoạt động hiệu quả Ngược lại, nếu các văn bản pháp luật không đầy đủ, không phù hợp với thực tế và yêu cầu QLT sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới hiệu quả thanh tra thuế

1.2.1.2 Tổ chức bộ máy và năng lực cán bộ thanh tra

OECD (2004) xác định CQT có chương trình thanh tra đạt hiệu quả thường quan tâm chặt chẽ đến cách tổ chức, phân bổ nguồn lực và quản lý hoạt động thanh tra Tại nhiều nước thuộc OECD, tỉ lệ cán bộ của CQT dành cho hoạt động thanh tra và các hoạt động kiểm tra khác đạt hơn 30% tổng nguồn lực cán bộ thuế

Tổ chức bộ máy thanh tra có tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động thanh tra thuế Việc xác định cơ cấu tổ chức thanh tra và phân bổ nguồn nhân lực một cách hợp

lý, nhằm xây dựng hệ thống thanh tra các cấp khoa học, phù hợp, đảm bảo tính thống nhất, thực hiện đầy đủ, có tác dụng nâng cao hiệu quả thanh tra thuế Bộ máy thanh tra thuế được tổ chức hợp lý, bao quát được các đối tượng thanh tra và các gian lận, sai sót sẽ phát huy được tối đa hiệu lực của toàn bộ hệ thống thuế và đảm bảo hiệu quả quản lý cao Ngược lại, cơ cấu tổ chức bộ máy thanh tra không phù hợp: cồng kềnh, không chuyên nghiệp, phân định không rõ trách nhiệm giữa các bộ phận sẽ làm tăng chi phí thanh tra và kìm hãm, làm suy yếu tổ chức và hạn chế tác dụng của bộ máy QLT, từ đó làm giảm tính hiệu quả của QLT

Trang 28

Ở một khía cạnh khác, khi nghiên cứu ảnh hưởng đến sự tuân thủ pháp luật thuế của thanh tra thuế thông qua tác động của các CBTT - những người có vai trò đáng kể trong sự vận hành hiệu quả cơ chế tự khai thuế, tự nộp thuế tại nhiều quốc gia, OECD (2004) đã chỉ ra: bên cạnh vai trò chủ yếu là ngăn chặn và phát hiện việc không tuân thủ thuế, những CBTT thường được yêu cầu giải thích các văn bản thuế phức tạp và thực hiện việc kiểm tra mở rộng các tài liệu và sổ sách của NNT Do đó, công tác thanh tra thuế sẽ không đạt được mục tiêu đề ra nếu thiếu các CBTT có năng lực Ngoài ra, các CBTT cần được giao nhiều vai trò quan trọng nên cần tuyển dụng và giữ được các CBTT giỏi với kiến thức kỹ thuật, kỹ năng thanh tra và hiểu biết riêng (McManus, 2006)

Tuy nhiên, thái độ của CBTT trong quá trình thực hiện thanh tra có thể ảnh hưởng đến việc tuân thủ của NNT Cách CBTT tiếp xúc với NNT trong quá trình thanh tra có thể có ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của NNT trong tương lai Chẳng hạn như, nếu NNT được tôn trọng trong quá trình thanh tra, NNT có thể được khuyến khích để tuân thủ thuế một cách tự nguyện hơn; ngược lại, nếu CBTT thực hiện việc thanh tra mà khiến cho NNT cảm thấy không được giúp đỡ thì sẽ làm giảm động lực tự nguyện tuân thủ thuế (Frey, 2003) Tương tự, việc thực hiện thanh tra thuế một cách thuận lợi và hợp lý có thể ảnh hưởng tích cực đến cách tuân thủ thuế (Braithwaite, 2001 và Smith, 1992) Bên cạnh đó, nếu NNT tin tưởng CBTT, NNT sẽ

tự nguyện chấp hành các yêu cầu thanh tra (Pope và Isa, 2010)

Có thể khẳng định, yếu tố con người rất quan trọng, mang tính chất quyết định tới hiệu quả thanh tra thuế Không có nguồn nhân lực thanh tra chuyên nghiệp, có sự hiểu biết sâu rộng về thuế, kế toán, có kỹ năng thanh tra và có phẩm chất đạo đức tốt thì dù CQT có cơ sở vật chất hiện đại, chi phí đầu tư lớn, lựa chọn được NNT có rủi ro thuế lớn nhưng hiệu quả thanh tra thuế cũng sẽ không thể cao Do đó, nguồn CBTT được tuyển chọn và đào tạo chuyên sâu, chuyên nghiệp là nhân tố đặc biệt quan trọng đối với bất kỳ CQT nào

1.2.1.3 Nguồn thông tin, dữ liệu về người nộp thuế để phục vụ thanh tra

OECD (2004) đánh giá các thông tin, dữ liệu về NNT có tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động thanh tra của CQT Trong các mô hình CSDL phục vụ thanh tra thuế, CSDL tập trung là nền tảng thông tin quan trọng giúp CQT có thể tập hợp một hệ thống dữ liệu đầy đủ, thuận tiện cho công tác lập kế hoạch thanh tra, giúp cho CBTT khai thác thông tin hiệu quả phục vụ hoạt động thanh tra Quy trình nghiệp vụ thanh tra thuế hiện đại áp dụng phương pháp thanh tra dựa trên cơ sở phân tích rủi ro từ hệ

Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Trang 29

thống thông tin chủ yếu về NNT của CQT Yêu cầu của nguồn thông tin, dữ liệu tập trung là phải đảm bảo cung cấp cho bộ phận liên quan khai thác, sử dụng hiểu rõ NNT, nắm được toàn bộ quá trình hoạt động SXKD, tình hình khai nộp thuế và lịch sử tuân thủ, lịch sử thanh tra của NNT BPTT tiến hành phân loại NNT trong kế hoạch thanh tra của mình theo mức độ rủi ro về thuế và về mức độ tín nhiệm của NNT trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế với Nhà nước Trên cơ sở có đầy đủ thông tin về NNT, CQT

sẽ có nhiều khả năng hơn trong việc khắc phục được tình trạng thanh tra tràn lan, kém hiệu quả… Có thể khẳng định, CSDL thuế là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả hoạt động thanh tra thuế Không có đủ thông tin - dữ liệu thuế, CQT sẽ đối mặt với nhiều khó khăn trong thanh tra NNT

1.2.1.4 Quy trình, thủ tục và phương pháp thanh tra

Reinganum và Wilde (1985) chứng minh rằng bằng thực hiện việc thanh tra thuế trên cơ sở đánh giá hồ sơ khai thuế sẽ làm gia tăng số thuế tăng thu và gia tăng khả năng phát hiện hành vi gian lận thuế Scotchmer và Suzanne (1987), Sanchez và Sobel (1993) mở rộng kết quả này, chứng minh rằng việc phân nhóm khi tiến hành thanh tra thuế là chính sách tối ưu đối với nhằm tối đa hóa số thuế truy thu trong điều kiện thông thường về mức điều tiết thuế, chế tài phạt gian lận cũng như NNT có thái độ bình thường

Xuất phát từ quan điểm những NNT lớn có nhiều cơ hội gian lận thuế và CQT

sẽ tốn kém cũng như gặp nhiều khó khăn hơn trong việc phát hiện, xử lý, Scotchmer (1992), Cremer và cộng sự (1990) nghiên cứu và nhận định cần đối phó hiện tượng này thông qua điều chỉnh chiến lược thanh tra có định hướng cụ thể, phạm vi hẹp cũng như điều chỉnh mức độ điều tiết thuế ở mức phù hợp

Border và Sobel (1987), Melumad và Mookherjee (1989), Marhuenda và Ortin (1994), Hindriks (1994), Chander và Wilde (1998) hướng sự nghiên cứu vào việc xác định ngưỡng tối ưu về thanh tra thuế và lộ trình nộp thuế đối với nhóm NNT trung bình về động cơ gian lận, nguy cơ gian lận nhưng có ý muốn tối thiểu hóa số thuế phải nộp Nghiên cứu chỉ ra, theo hướng tối ưu hóa, cơ chế QLT nên trao quyền tự quản lý cho NNT và thanh tra không nên đặt mục tiêu tăng thu lên hàng đầu

Ortuno-Mittone (2006) nghiên cứu thấy các kinh nghiệm thanh tra sớm hoạt động thuế của NNT là một cách hiệu quả hơn để tăng khả năng tuân thủ thuế so với việc thanh tra muộn Nghiên cứu thử nghiệm của Kastlunger và cộng sự (2009) cũng chỉ ra là, mặc dù tính hiệu quả của việc thanh tra và các khoản phạt không thể được xác nhận hoàn toàn, việc thanh tra sớm hoạt động thuế của NNT có một tác động tích cực đối với việc tuân thủ

Trang 30

OECD (2004) nghiên cứu và rút ra nhận định các CQT có hoạt động thanh tra hiệu quả có xu hướng thực hiện một chiến lược bao quát hơn “từ vĩ mô đến vi mô” đối với các rủi ro tuân thủ (bao gồm, nhưng không giới hạn ở rủi ro kê khai thiếu nghĩa vụ thuế), sử dụng một quy trình ngày càng có tổ chức và hệ thống hơn để nhận dạng, đánh giá và phân loại các rủi ro tuân thủ theo thứ tự ưu tiên và xác định các biện pháp xử lý thích hợp đối với các rủi ro chính đã được nhận diện và hướng đến một chương trình thanh tra cân bằng, đảm bảo cân đối giữa “khả năng bao quát”, “chất lượng thanh tra” hướng đến “khả năng ngăn chặn toàn diện”

T&C Consulting (2008) đánh giá sự ảnh hưởng của quy trình thanh tra chuẩn thể hiện ở 3 yếu tố: (1) quy trình chuẩn sẽ giúp thanh tra phát hiện đúng sai phạm nhanh chóng và hiệu quả; (2) quy trình chuẩn giúp bảo vệ cán bộ thanh tra trong quá trình làm việc và (3) quy trình thanh tra là một tiêu chuẩn để đánh giá sự khách quan

và chuyên nghiệp của đoàn thanh tra

Như vậy, có thể thấy quy trình, thủ tục thanh tra thuế có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả thanh tra Quy trình, thủ tục thanh tra khoa học, hợp lý sẽ làm cho các bước tiến hành đơn giản, đảm bảo thanh tra đúng pháp luật, tiết kiệm thời gian, chi phí, thuận tiện cho CQT và NNT; giúp hoạt động thanh tra thuế được minh bạch, rõ ràng Ngược lại, quy trình thanh tra không đảm bảo các nội dung trên sẽ gây bất lợi cho cả CQT và NNT Ngoài ra, Phương pháp thanh tra cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả thanh tra thuế Nếu lựa chọn phương pháp thanh tra không phù hợp, kết quả hoạt động thanh tra thuế sẽ rất hạn chế Nếu CQT chỉ sử dụng đơn thuần một phương pháp thanh tra thuế sẽ cho ra kết quả không đầy đủ, mà phải vận dụng nhiều phương pháp kết hợp Mặt khác, nếu không căn cứ vào tình hình, đặc thù SXKD, đặc điểm ngành nghề của từng NNT mà áp dụng máy móc phương pháp thanh tra theo trình tự sẽ dẫn đến bỏ sót, thanh tra không trúng, không đúng và sẽ không đủ thời gian thanh tra, dẫn đến hiệu quả thanh tra thấp Do đó, để thanh tra thuế đạt được hiệu quả, CBTT cần cân nhắc và lựa chọn các phương pháp thanh tra phù hợp, khoa học, tránh gây phản ứng của NNT để vẫn đạt được hiệu quả cao nhất

1.2.1.5 Giám sát và quản lý chất lượng hoạt động thanh tra

OECD (2004) tổng kết và xác định các hoạt động thanh tra cần dựa trên những thông lệ quản lý tốt bao gồm sử dụng tập hợp toàn diện các chỉ số đánh giá hiệu quả (đánh giá kết quả đầu ra, lý tưởng là quản lý dựa trên kết quả) đồng thời có sự giám sát chặt chẽ các kết quả và chất lượng của các hoạt động đạt được trong thực tế Hoạt động thanh tra thuế cần được củng cố bằng các phương pháp quản lý hiệu quả như xây

Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Trang 31

dựng và áp dụng một loạt các chỉ tiêu/chỉ số đánh giá hiệu quả công việc (tập trung cả vào kết quả chung và các kết quả trọng tâm đã định sẵn) với sự kiểm soát chặt chẽ kết quả thu được cũng như chất lượng hoạt động thanh tra đã triển khai trên thực tế Ở một

số nước và trong một số giai đoạn, CQT nên có những cam kết chính thức nhằm thắt chặt hoạt động của cơ quan thuế, bao gồm cả hoạt động thanh tra, nhằm đạt được những kết quả và/hoặc hiệu quả nhất định Đồng thời, OECD cũng chỉ ra tầm quan trọng của các chuyên gia / cán bộ thuế được đào tạo bổ sung với nội dung trọng tâm là lĩnh vực chuyên môn cần thiết để tư vấn - hỗ trợ các CBTT khác về các hoạt động thanh tra liên quan đến lĩnh vực chuyên môn của họ hoặc với tư cách là người giám sát kiểm tra chất lượng của tất cả các cuộc thanh tra thực hiện trong lĩnh vực đó

Một số nghiên cứu về thực tế quản lý hoạt động thanh tra thuế cho thấy để đảm bảo hoạt động thanh tra được tiến hành hiệu quả và tuân thủ các nguyên tắc, quy định pháp luật và chuyên môn… rất cần sự giám sát liên tục đối với hoạt động thanh tra Các thủ tục giám sát hoạt động thanh tra cần được thực hiện đối với tất cả các khâu trong quá trình thanh tra thuế Quá trình giám sát này sẽ giúp lãnh đạo CQT nắm bắt việc tuân thủ chuẩn mực đạo đức, quy tắc ứng xử, ý thức kỷ luật của ĐTT; đảm bảo quá trình tác nghiệp của CBTT, ĐTT thực hiện đúng pháp luật, quy trình thanh tra, đúng mục đích, yêu cầu và nội dung thanh tra; hạn chế việc ĐTT bỏ sót, không xử lý đầy đủ các hành vi không tuân thủ cũng như hạn chế việc xác định mức xử lý hành vi

vi phạm không phù hợp quy định…

1.2.1.6 Công cụ hỗ trợ và cơ sở vật chất phục vụ hoạt động thanh tra thuế

Qua khảo sát, đánh giá hoạt động thanh tra thuế của các CQT các nước, OECD (2004) xác định để đưa ra được các kết luận có chất lượng, CBTT và ĐTT cần tiếp cận với các quy trình, chính sách và công cụ, cơ sở vật chất - kỹ thuật trợ giúp Mặc dù các công cụ hỗ trợ, cơ sở vật chất - kỹ thuật này có sự khác biệt đáng kể do các cách thức quản lý khác nhau và sự phức tạp của từng CQT nhưng đều ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, năng suất, hiệu quả của hoạt động thanh tra thuế Trang thiết bị nghèo nàn, lạc hậu khiến thanh tra thuế gặp khó khăn trong quá trình tác nghiệp, thời gian thanh tra sẽ bị kéo dài

Trong bối cảnh trình độ quản lý của NNT ngày một nâng cao, mức độ phức tạp

và xu hướng ứng dụng công nghệ thông tin ngày một sâu, CBTT khó có thể kiểm tra theo phương pháp thủ công như trước đây mà cần được trang bị đầy đủ trang thiết bị hiện đại khi tác nghiệp, am hiểu về phần mềm, về giao dịch điện tử Trong quy trình

Trang 32

thanh tra hiện đại, tất cả các công việc của thanh tra thuế từ phân tích nhận dạng rủi ro, xếp hạng rủi ro, kiểm tra rủi ro đến việc thanh tra rủi ro tại doanh nghiệp đều phải có

sự hỗ trợ của công nghệ máy tính Mức độ thành công của hoạt động thanh tra thuế trên cơ sở phân tích rủi ro phụ thuộc chủ yếu vào mức độ ứng dụng công nghệ máy tính hỗ trợ cho công tác thanh tra

1.2.1.7 Thái độ của người nộp thuế và sự phối hợp của các bên liên quan

Theo các lý thuyết khác về mối quan hệ giữa thanh tra thuế và tuân thủ pháp luật thuế như lý thuyết hành vi định trước chỉ ra là hành vi của các cá nhân trong xã hội dưới ảnh hưởng của các nhân tố xác định, bắt nguồn từ một số lý do nhất định và nổi lên trong cách định trước (Erten, 2002) Benk và Cakmak (2011) chỉ ra là khả năng thực hiện một hành vi cụ thể tùy thuộc vào thực tế là cá nhân có mục đích theo hướng hành vi Vì vậy, các nhân tố xác định mục đích theo hướng hành vi đó là quan điểm hướng đến hành vi, các quy tắc chủ quan và việc kiểm soát hành vi được quan sát (Armitage và Conner, 2001) Ajzen (2002) cho rằng các yếu tố này nằm dưới tác động của niềm tin mang tính cư xử, niềm tin có tính cách quy chuẩn và niềm tin mang tính kiểm soát Wenzel (2004) và Braithwaith (2003) nêu bật các yếu tố xã hội học và tâm

lý học có vị trí quan trọng trong việc nhận thức các mức độ tuân thủ thuế cao, sự phối hợp tốt hơn với CQT trong hoạt động QLT Trong các phân tích này, các khái niệm như lòng tin vào các CQT (Murphy, 2004), sự công bằng nhận thấy trong hệ thống thuế nói chung và thanh tra thuế nói riêng (Wenzel, 2004), các lý do và quy tắc về đạo đức (Frey, 2003 và Wenzel, 2004) được sử dụng để khuyến khích nhận thức về việc tuân thủ thuế tốt hơn qua đó hỗ trợ CQT tốt hơn trong hoạt động thanh tra thuế Jin Kwan (2004) nghiên cứu ở Hàn quốc cũng chỉ ra ảnh hưởng đáng kể của văn hóa thuế đối với quyết định tuân thủ thuế và hoạt động thanh tra thuế

OECD (2004) nhận định: để hoạt động thanh tra thuế đạt kết quả tốt, CQT nói chung và các ĐTT, CBTT rất cần sự phối hợp của các bên có liên quan như hải quan, kho bạc, ngân hàng, công an và các bên liên quan khác (khách hàng, đối tác của NNT)

Sự thiếu hụt, hạn chế phối hợp với các bên liên quan dễ khiến CQT không thu thập đầy

đủ được thông tin để kết luận thanh tra thuế chính xác, toàn diện và khách quan Sự phối hợp tốt giữa CQT và các bên liên quan trong hoạt động thanh tra thuế là cơ hội để chia sẻ kinh nghiệm, thông tin cũng như giúp làm giảm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra thuế…

1.2.2 Nhân tố tác động đến sự đồng thuận của người nộp thuế đối với kết

Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Trang 33

luận thanh tra thuế

Lý thuyết “nhận thức về sự công bằng” hầu như chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống trong quản lý công nói chung và trong hoạt động thanh tra nói riêng Tuy nhiên, những ứng dụng của lý thuyết này vào hoạt động thanh tra có thể nhận biết

và đã được T&C Consulting (2008) kiểm định lý thuyết trong khung cảnh hoạt động của ngành thanh tra Việt Nam, kiểm định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố liên quan đến hoạt động thanh tra đối với mức độ tâm phục, khẩu phục và hành vi thực hiện kết luận, kiến nghị thanh tra của đối tượng thanh tra

Theo kết quả nghiên cứu của T&C Consulting, sự đồng thuận của đối tượng thanh tra đối với kết luận thanh tra trước hết sẽ chịu tác động của sự nhận thức của đối tượng thanh tra về sự công bằng trong kết quả thanh tra theo cách hiểu hẹp là “kết luận

và xử lý đúng người, đúng tội” Tuy nhiên, để đối tượng thanh tra, các bên hữu quan

và công chúng “tâm phục, khẩu phục” với những kết luận thanh tra và tự giác thực hiện những quyết định xử lý thì cần có cả công bằng trong quy trình và công bằng trong thái độ thanh tra

Hình 1.2 Các nhân tố tác động đến sự đồng thuận của NNT đối với kết luận

thanh tra thuế

Nguồn: Tổng hợp từ nghiên cứu của nhiều tác giả

Trên cơ sở kết hợp kết quả các nghiên cứu về thanh tra thuế và kết quả nghiên cứu ứng dụng lý thuyết nhận thức về sự công bằng của T&C Consulting có thể thấy 03 nhóm nhân tố ảnh hưởng tới nhận thức về sự công bằng khi đặt trong bối cảnh thanh tra thuế chính 03 nhân tố: Sự hiểu biết của NNT; Quy định của pháp luật - quy trình,

SỰ ĐỒNG THUẬN CỦA NNT ĐỐI VỚI KẾT LUẬN THANH TRA THUẾ

Quy định pháp luật

và quy trình, thủ tục thanh tra

Năng lực - Phẩm chất của CBTT

Sự hiểu biết của NNT

Trang 34

thủ tục thanh tra và Năng lực - phẩm chất của CBTT sẽ có tác động đến sự đồng thuận của NNT đối với kết luận luận thanh tra thuế (Hình 1.2)

1.2.2.1 Sự hiểu biết của người nộp thuế

Theo lý thuyết về sự nhận thức công bằng và kết quả nghiên cứu của T&C Consulting (2008) nếu đứng trên giác độ của đối tượng thanh tra và của toàn xã hội thì kết quả thanh tra không thể chỉ dừng ở “kết luận và xử lý đúng người đúng tội” Đối tượng thanh tra và toàn xã hội luôn quan tâm tới chi phí cơ hội của thời gian thanh tra Nói cách khác, câu hỏi đặt ra là: “lợi ích mang lại từ cuộc thanh tra có thể bù đắp những chi phí cơ hội mà ĐTTT và toàn xã hội bị mất đi do thanh tra hay không?” Nếu câu trả lời là “không” thì đối tượng và xã hội sẽ cảm nhận có sự bất công bằng đối với

họ Khi đó, nhiều người sẽ có cảm giác thanh tra là rào cản cho sự phát triển của doanh nghiệp và gián tiếp là gánh nặng của xã hội Như vậy, cần có sự đảm bảo là lợi ích thanh tra (ngăn ngừa và phát hiện, xử lý sai phạm…) phải cao hơn chi phí thanh tra (bao gồm cả chi phí cơ hội và thời gian thanh tra) Nói cách khác, sự công bằng trong kết quả thanh tra không chỉ giới hạn trong việc “kết luận và xử lý đúng” mà phải mở rộng tới việc mang lại “lợi ích gia tăng” cho đối tượng thanh tra và cho xã hội

Xét tính quan hệ nhân - quả, OECD (2004) nhận định sự hiểu biết của chính NNT về chính sách pháp luật thuế và các quy định về quyền - nghĩa vụ có liên quan đến hoạt động thanh tra thuế sẽ ảnh hưởng đến thái độ đồng thuận, chấp nhận một kết luận thanh tra thuế đúng đắn Nói cách khác, sự nhận thức đúng đắn về công bằng trong kết quả phụ thuộc vào sự hiểu biết của đối tượng thanh tra và khi NNT càng hiểu biết pháp luật, NNT càng dễ dàng đồng thuận với kết luận thanh tra thuế, miễn là kết luận đó chính xác, đúng quy định pháp luật

1.2.2.2 Quy định pháp luật và quy trình, thủ tục thanh tra

Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra hai động cơ chính lý giải tầm quan trọng của các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động thanh tra và quy trình thanh tra Thứ nhất

là động cơ lợi ích vật chất: Mọi người nói chung và đối tượng thanh tra nói riêng có xu hướng tin rằng các quy định pháp luật minh bạch, hợp lý là điều kiện tiền đề và quy trình thanh tra hiệu quả, hợp lý, công bằng sẽ mang lại lợi ích công bằng (công bằng trong kết quả) Thứ hai là động cơ tâm lý: quy định pháp luật minh bạch, hợp lý sẽ khiến mọi người nói chung, đối tượng thanh tra cảm thấy dễ chấp nhận và quy trình thanh tra hiệu quả, hợp lý, công bằng cho phép đối tượng thanh tra theo dõi, nắm bắt cũng như được tham gia, đóng góp ý tưởng (giúp đối tượng thanh tra thỏa mãn được nhu cầu tâm lý là thể hiện mình, và cảm thấy được đối xử công bằng hơn)

Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Trang 35

Trong khu vực công cũng có nhiều nghiên cứu về công bằng trong quy trình Kết quả nghiên cứu ở một số nước cho thấy niềm tin của công dân vào quy trình quản

lý công bằng của chính phủ có ảnh hưởng lớn tới sự thỏa mãn của họ, thậm chí còn lớn hơn kết quả mà người công dân đó nhận được (Angelis và Kupchik, 2007) Còn tác giả Kerstetter (1996) thì cho rằng lý thuyết công bằng trong quy trình có thể được ứng dụng vào việc nâng cao sự thỏa mãn của công dân với quy trình và kết quả khiếu nại Kerstetter gợi ý là trong quy trình khiếu nại nên để người khiếu nại có cơ hội được tự

do trình bày những thông tin mà họ cho là phù hợp Ngoài ra, điều cực kỳ quan trọng

là phải làm cho người khiếu nại tin rằng người xử lý khiếu nại là người đáng tin cậy và

có khả năng hiểu rõ quan điểm và hoàn cảnh của họ

Theo T&C Consulting (2008), quy trình - thủ tục thanh tra bao gồm nguyên tắc, chính sách, trình tự và phương pháp tiến hành công việc và đảm bảo tiêu chuẩn như khách quan, không thiên vị, nhất quán, minh bạch và phù hợp với những tiêu chuẩn đạo đức của xã hội (quy trình, thủ tục thanh tra chuẩn) sẽ tác động tích cực đến sự đồng thuận của đối tượng thanh tra với kết luận thanh tra Vận dụng lý thuyết “nhận thức về sự công bằng” và qua kiểm định, T&C Consulting xác định quy trình, thủ tục thanh tra chuẩn và mạnh dạn mở rộng sự tham gia của các bên hữu quan (biện pháp

mở rộng các nguồn thông tin, tạo sức mạnh tác động tập thể) có tác động tích cực đối với sự đồng thuận với kết quả thanh tra và đồng thời nâng cao uy tín của đơn vị tiến hành thanh tra

1.2.2.3 Năng lực và phẩm chất của cán bộ thanh tra

Theo lý thuyết nhận thức về sự công bằng, năng lực và thái độ của chủ thể là yếu tố thứ ba ảnh hưởng tới nhận thức về sự công bằng của đối tượng và các bên hữu quan Đối với hoạt động thanh tra thuế và xét ở góc độ NNT, năng lực và phẩm chất của CBTT - những người trực tiếp trao đổi và tương tác với NNT sẽ có tác động lớn đến sự nhận thức sự công bằng trong thái độ quan hệ và tác động đến sự đồng thuận của NNT với kết luận thanh tra Theo các nghiên cứu, những phẩm chất tốt về chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức, kỹ năng… của CBTT sẽ tạo lập được niềm tin của đối tượng vào quy trình và kết quả công việc và qua đó khiến NNT dễ dàng chấp thuận kết luận thanh tra

Khi nghiên cứu sâu về hoạt động thanh tra, T&C Consulting (2008) nhận định: yếu tố công bằng trong thái độ gắn liền với phong cách làm việc và một văn hóa phục

vụ, văn hóa “hướng tới khách hàng” trong hoạt động thanh tra Để đạt được yêu cầu này cần ít nhất hai điều kiện: (1) CBTT phải nhìn nhận mục tiêu công việc của mình

Trang 36

không phải chỉ là “phát hiện sai phạm” mà còn là giúp đỡ và tạo sự đồng thuận để giúp đối tượng thanh tra cải thiện hoạt động của họ; (2) CBTT cũng cần có năng lực, phẩm chất và kỹ năng giao tiếp xã hội tốt để thực hiện nhiệm vụ của mình một cách chuyên nghiệp

Cũng theo T&C Consulting và OECD (2004), việc tăng cường năng lực CBTT (tập trung vào sự hiểu biết pháp luật; sự nắm vững kỹ năng thanh tra; sự hiểu biết kiến thức chuyên ngành; sự thành thạo các kỹ năng “xã hội” và đảm bảo thái độ - phong cách chuẩn mực của CBTT) sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, tạo được sự đồng thuận của động thanh tra…

1.2.3 Tác động lan tỏa của thanh tra thuế và sự đồng thuận về kết luận thanh tra thuế

Khi xem xét về mối liên hệ giữa thanh tra thuế và tuân thủ pháp luật thuế của NNT, không thể không đề cập đến nghiên cứu dựa lý thuyết cổ điển về tuân thủ hay còn gọi được gọi là mô hình Allingham và Sandmo (dựa trên lý thuyết về sự ngăn chặn) Allingham và Sandmo (1972 nêu quan điểm về lý thuyết tuân thủ thuế, theo đó chỉ ra NNT sẽ tối đa hóa các lợi ích kỳ vọng của việc mạo hiểm tránh thuế, cân đối lợi ích của việc gian lận thuế thành công với khả năng rủi ro của việc bị CQT phát hiện và

xử lý, phạt

Allingham và Sandmo (1972) cho rằng thanh tra thuế là hoạt động đặc biệt quan trọng và ảnh hưởng mạnh đến tính tuân thủ pháp luật thuế khi thực hiện cơ chế tuân thủ tự nguyện, cơ chế tự khai thuế, tự nộp thuế bởi vì tỉ lệ tiến hành thanh tra cao hơn sẽ làm tăng khả năng tuân thủ thuế Cũng cùng chung quan điểm này, Hasseldine (2007) khẳng định thanh tra thuế có tác động ngăn chặn nhất định NNT được thanh tra

và quan trọng hơn, việc thanh tra cũng có một tác động ngăn chặn chung đối với NNT chưa được thanh tra Ola (2001) thì nhận định thanh tra thuế rất quan trọng vì thanh tra thuế có tác dụng tích cực đảm bảo việc tuân thủ chặt chẽ luật thuế của NNT, cải thiện mức độ tuân thủ tự nguyện của NNT Niu (2010) trong một nghiên cứu nhận thấy có mối liên hệ tích cực giữa việc thanh tra thuế và tuân thủ thuế tự nguyện

Tuy nhiên, theo một chiều hướng khác, Scotchmer và Slemrod (1989) khi xem xét ảnh hưởng chương trình thanh tra ngẫu nhiên đối với mức độ gian lận thuế đã chỉ

ra việc thanh tra thuế không thật sự hiệu quả (không phát hiện được gian lận thuế hoặc tốn kém để triển khai ) sẽ khuyến khích NNT tăng cường việc gian lận thuế và sẵn sàng chịu phạt nếu bị phát hiện

Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Trang 37

Nghiên cứu về tác động của thanh tra thuế đối với sự tuân thủ pháp luật của NNT, một số nhà nghiên cứu khác có xu hướng tăng cường nghiên cứu định lượng dựa trên các kết quả thử nghiệm trong phòng thí nghiệm như Baldry (1987), Webley (1991), Alm và cộng sự (1993), Alm và cộng sự (1995) Các cá nhân (thường là sinh viên) được yêu cầu tham dự các trò chơi mô phỏng việc tuân thủ pháp luật thuế, qua

đó họ có thể gian lận thuế và chịu phạt nếu bị thanh tra thuế phát hiện Các kết quả nghiên cứu sẽ rất nhạy cảm đối với thiết kế đặc biệt của thử nghiệm Tuy nhiên, việc nghiên cứu này gợi ý rằng tính hiệu quả của thanh tra thuế có thể đóng vai trò quan trọng trong các quyết định về sự tuân thủ pháp luật thuế, mức độ tuân thủ tỉ lệ thuận với thu nhập và tỉ lệ nghịch với mức độ điều tiết thuế, trong khi ảnh hưởng của mức phạt đối với hành vi không tuân thủ lại không rõ ràng (trừ khi hiệu quả thanh tra thuế ở mức rất cao)

Tác dụng ngăn chặn chung của việc thanh tra thuế đề cập đến việc tập hợp thu nhập bổ sung của những NNT thực tế không bị thanh tra Ví dụ như Dubin, Graetz và Wilde (1990) nhận ra là “… mỗi đồng đô-la thuế thu thêm từ NNT bị thanh tra sẽ tạo thêm 6 đô-la số thu bổ sung từ các ảnh hưởng gián tiếp hoặc “nếp gấp” đối với những NNT chưa bị thanh tra” Trong một nghiên cứu gần đây hơn, Dubin (2007) cũng báo cáo về tác dụng gián tiếp lớn hơn tác động trực tiếp của việc thanh tra thuế

Trong các nghiên cứu định lượng dựa vào dữ liệu từ Chương trình Đo lường sự Tuân thủ của NNT Mỹ (TCMP) do Cục Thu nội địa Mỹ (IRS) thu thập, Witte và Woodbury (1985) đã phân tích theo hướng tập trung vào mức độ ảnh hưởng của khả năng kiểm soát của CQT đối với tính tuân thủ pháp luật thuế và chỉ ra mức độ gian lận thuế quan hệ theo tỉ lệ nghịch với tỉ lệ NNT bị tiến hành thanh tra thuế và thanh tra thuế ảnh hưởng trực tiếp đối với cơ hội gian lận thuế của NNT Tuy nhiên, Dubin và Wilde (1988) không thống nhất với các kết quả của Witte, Woodbury và cho rằng tỉ lệ, mức độ, phạm vi thanh tra được Cục Thu nội địa Mỹ quyết định theo quan điểm năng suất tiềm năng của Cục Thu nội địa Mỹ vì có giai đoạn, cơ quan này đã cho rằng nếu giảm tỉ lệ không tuân thủ thì sẽ làm giảm kết quả tăng thu qua thanh tra Dubin và Wilde còn phát hiện rằng các kết quả hoạt động thanh tra thuế có tác động rất khác nhau đối với hành vi gian lận thuế và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác…

Có một số nghiên cứu mang tính kinh nghiệm và lý thuyết về thanh tra thuế và việc tuân thủ thuế cung cấp các phản ứng tổng hợp về mối quan hệ giữa việc thanh tra thuế và tuân thủ thuế Alm và cộng sự (1992) nghiên cứu ứng dụng của các phương pháp thử nghiệm để kiểm tra việc tuân thủ của NNT đáp lại một khả năng chắc chắn thanh tra và kết luận là tỉ lệ tuân thủ thuế tăng nếu NNT biết sẽ bị thanh tra và tỉ lệ

Trang 38

giảm nếu NNT biết sẽ không bị thanh tra Slemrod và cộng sự (2001) kiểm tra ngẫu nhiên những NNT được chọn và thông báo với việc hồ sơ, sổ sách của NNT sẽ được thanh tra cẩn thận và đã ghi nhận được dấu hiệu về những thay đổi trong hành vi của NNT đáp lại khả năng cao về thanh tra, dù các câu trả lời không giống nhau giữa các nhóm NNT khác nhau

OECD (2004) nhận định chương trình thanh tra của CQT nếu được thực hiện một cách hiệu quả sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần cải thiện việc quản

lý hệ thống thuế như: khuyến khích sự tuân thủ tự nguyện, phát hiện ra các hành vi không tuân thủ ở cấp độ từng NNT, tập hợp thông tin về “sức mạnh” của hệ thống thuế, thu thập thông tin tình báo để tiến hành các đề án chống gian lận, giáo dục NNT

và xác định những nội dung của pháp luật thuế cần phải điều chỉnh

Tại Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu khảo sát của T&C Consulting (2008): kết quả thanh tra, sự đồng thuận của đối tượng thanh tra về kết luận thanh tra có tác động đến nhận thức của đối tượng thanh tra về hình ảnh, vị thế của cơ quan tiến hành thanh tra nhưng đối với xã hội, mặt tích cực cơ bản của hoạt động thanh tra chưa được ghi nhận tương xứng

1.2.4 Nghiên cứu thực tế hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam

Tại Việt Nam, thanh tra thuế cũng dành được nhiều quan tâm nghiên cứu nhưng chủ yếu là các nghiên cứu theo phương pháp định tính Có thể phân chia các nghiên cứu này thành các nhóm cơ bản sau:

1.2.4.1 Nghiên cứu đánh giá thực trạng hoạt động thanh tra thuế

Trên phạm vi toàn ngành thuế Việt Nam, Thành Xuân Lý (2006) trong nghiên cứu của mình đã đánh giá khái quát thực trạng thanh tra thuế tại Việt Nam trên các mặt: bộ máy, kết quả thu, quy trình nghiệp vụ, CSDL… và chỉ ra tồn tại chủ yếu ở khâu lực lượng CBTT, công tác lập kế hoạch, chất lượng cuộc thanh tra thấp và nhận định về những nguyên nhân từ cơ chế chính sách và đối tượng nộp thuế Phạm Thúy Hồng (2007) khi nghiên cứu nhằm hoàn thiện công tác thanh tra thuế theo Chương trình cải cách và hiện đại hóa ngành thuế Việt Nam đến năm 2010 đã đánh giá thực trạng tổ chức bộ máy của kiểm tra, thanh tra thuế theo hai giai đoạn 1999 - 2004 và

2004 - 2006 qua các mặt: trình độ cán bộ thuế, việc lập kế hoạch thanh tra thuế qua các năm Hoàng Vân Anh (2008) đã đánh giá khái quát thực trạng thanh tra thuế trên phạm

vi toàn quốc theo hai giai đoạn trước khi có Luật QLT và sau khi có Luật QLT Lê Thị Phương Thảo (2009) đã đánh giá thực trạng thanh tra thuế qua ba nội dung: đăng ký thuế; chấp hành chế độ kế toán sổ sách chứng từ, hóa đơn; kê khai, tính thuế và nộp

Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Trang 39

thuế Đồng thời, Lê Thị Phương Thảo cũng đã phân tích những ưu điểm và hạn chế của khâu lập kế hoạch thanh tra thuế giai đoạn 2005 - 2008

Ở phạm vi các địa phương, các nghiên cứu đánh giá thực trạng có xu hướng nghiên cứu tổng hợp các hoạt động thanh tra (cả thanh tra tại trụ sở NNT theo kế hoạch cũng như thanh tra nội bộ, giải quyết khiếu nại tố cáo) mà CQT cấp địa phương thường tiến hành và tập trung ở một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cụ thể Nguyễn Thị Thanh Minh (2007) đã đánh giá thực trạng hoạt động thanh tra thuế giai đoạn 2002 - 2006 ở tỉnh Tiền Giang qua các mặt tổ chức bộ máy, kết quả thu, hành vi

vi phạm và chỉ ra tồn tại, nguyên nhân như việc lập kế hoạch thanh tra thuế còn dựa vào cảm tính, thời gian cần thiết để lập biên bản thanh tra thuế chưa chính xác, báo cáo kết quả thanh tra quá nhiều, nội dung trùng lắp Còn Nguyễn Lan Anh (2009) thì tập trung đánh giá kết quả hoạt động thanh tra thuế theo một tiêu chí định lượng là số NNT được thanh tra và số thuế truy thu, nợ đọng tại Vĩnh Phúc Nhìn chung, các nghiên cứu nêu trên cũng như các nghiên cứu của Phan Thị Minh Hiền (2012), Phạm Đức Long (2012), Đặng Đình Long (2012) và nhiều nghiên cứu khác cũng đều theo hướng phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động thanh tra thuế tại các địa phương dựa vào các số liệu thống kê của CQT về kết quả thanh tra

Khác các nghiên cứu do các tác giả Việt Nam thực hiện (đánh giá cả ưu và nhược điểm của thực trạng thanh tra thuế tại Việt Nam), một số nghiên cứu của các nhà nghiên cứu độc lập nước ngoài hoặc các tổ chức quốc tế tập trung làm rõ các hạn chế của hoạt động thanh tra thuế do CQT Việt Nam tiến hành Theo các kết quả nghiên cứu này, hoạt động thanh tra thuế tại Việt Nam có khá nhiều bất cập, yếu kém tại gần như tất cả các khâu Những bất cập, yếu kém này khiến mục tiêu chống gian lận thuế của hoạt động thanh tra thuế không đạt được, hiệu quả thanh tra thuế chỉ ở mức thấp (Booz Allen Hamilton, 2007 và Ngân hàng Thế giới, 2011) Mới đây (tháng 03/2016), Phái đoàn Đánh giá hệ thống QLT Việt Nam (TADAT) - Ngân hàng Thế giới (2016) cũng đánh giá các nội dung quan trọng trong hoạt động thanh tra thuế cũng như các nội dung liên quan đến công tác QLRR về thuế tại Việt Nam hiện nay chỉ đạt mức hiệu quả hoạt động yếu kém so với thông lệ quốc tế

1.2.4.2 Nghiên cứu các vấn đề lý luận, đề xuất khuyến nghị đối với hoạt động thanh tra thuế

Bên cạnh các nghiên cứu về thực trạng thanh tra thuế, cũng có nhiều nghiên cứu tổng hợp, đề xuất hoặc phân tích đánh giá các vấn đề lý luận về hoạt động thanh tra nhằm làm cơ sở đưa ra các khuyến nghị đối với CQT Nguyễn Thị Nhung (2006) đã

Trang 40

thực hiện phân tích đặc điểm hoạt động thanh tra thuế trong cơ chế CQT tính thuế - ra thông báo nộp thuế và trong cơ chế NNT tự tính, tự kê khai và tự nộp thuế Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Minh (2007), vai trò và mục tiêu của hoạt động thanh tra thuế trong cơ chế tự khai thuế, tự nộp thuế đã được phân tích làm rõ

Trong bối cảnh CQT Việt Nam đang từng bước triển khai áp dụng QLRR trong hoạt động thanh tra thuế và thanh tra thuế theo cơ chế QLRR, có một số nghiên cứu đã tập trung vào các nội dung này Cụ thể: từ thực trạng QLRR đối với hoạt động thanh tra thuế ở 3 cấp CQT, Nguyễn Thị Thu Vân (2009) đã khái quát lý luận về QLRR trong thanh tra thuế và đưa ra ba nhóm tiêu chí đánh giá rủi ro gồm: phân loại NNT, đánh giá mức độ rủi ro về thuế và tiêu chí đánh giá mức độ rủi ro tờ khai thuế Vũ Thị Đến (2011) tập trung tổng hợp các lý luận về hoạt động thanh tra thuế theo kỹ thuật QLRR ở Việt Nam, đánh giá những kết quả đạt được từ khi triển khai thanh tra thuế theo kỹ thuật QLRR từ 2007-2011 trên các mặt: tổ chức bộ máy, năng lực cán bộ, CSDL, tiêu chí đánh giá rủi ro Còn nghiên cứu của Phi Vân Tuấn và cộng sự (2012) lại có cách tiếp cận tổng hợp lý luận, kinh nghiệm quốc tế có liên quan, đánh khả năng

áp dụng vào thực tiễn thanh tra thuế Cục Thuế thành phố Hà Nội Trong nhóm các nghiên này, Nguyễn Thu Thủy (2010) chỉ tập trung vào kỹ thuật phân tích rủi ro trong kiểm tra thuế GTGT, thuế TNDN và đề cập tầm quan trọng của phân tích rủi ro cũng như đề xuất các tiêu chí đánh giá rủi ro và xếp hạng rủi ro

Nghiên cứu về các tiêu chí đánh giá hoạt động thanh tra thuế, Ngô Thị Thu Hương (2011) đã kế thừa các kết quả nghiên cứu khác, đưa ra những tiêu chí định lượng và định tính về hiệu quả thanh tra thuế chỉ ra một số nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả thanh tra thuế như điều kiện kinh tế xã hội, trình độ dân trí, mô hình QLT, cơ chế QLT Phạm Đức Long (2012) tập hợp tương đối đầy đủ, chi tiết các phương pháp thanh tra thuế và bốn tiêu chí định lượng và ba tiêu chí định tính về hiệu quả thanh tra thuế (trình bày cách xác định và ý nghĩa của từng tiêu chí) Lý luận về hiệu quả thanh tra thuế được Phan Thị Minh Hiền (2012) tổng hợp theo các nội dung: khái niệm và các tiêu chí xác định hiệu quả tập trung vào nhóm số thu tăng, chi phí thấp, mức độ thực thi pháp luật, công bằng xã hội Lê Xuân Thành (2013) thì đề xuất một hệ thống các tiêu chí đánh giá hiệu quả thanh tra thuế theo hai nhóm định tính và định lượng khá phong phú dựa trên cơ sở đánh giá hiệu quả thanh tra thuế dựa vào số thuế truy thu

mà còn dựa vào tác động của hoạt động thanh tra thuế đối với tính tuân thủ pháp luật của NNT

Tuy nhiên, trước Lê Xuân Thành, cũng có một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa hoạt động thanh tra thuế của CQT và tính tuân thủ của NNT Trong nghiên cứu

Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

Ngày đăng: 17/09/2019, 06:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ajzen, I. (2002), ‘Perceived Behavioural Control, Self-Efficiency, Locus of Control, and the Theory of Planned Behaviour’, Journal of Applied Social Psychology, Số 32(4), tr. 665-683 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Applied Social Psychology
Tác giả: Ajzen, I
Năm: 2002
2. Alabede, J.O., Zainol-Affirm, Z.B. và Idris, K.M. (2011), ‘Tax Service Quality and Compliance Behaviour in Nigeria: Do Taxpayer’s Financial Condition and Risk Preference Play any Moderating Role?’, European Journal of Economics, Finance and Administrative Sciences, Số 35, tr. 90-108 Sách, tạp chí
Tiêu đề: European Journal of Economics, Finance and Administrative Sciences
Tác giả: Alabede, J.O., Zainol-Affirm, Z.B. và Idris, K.M
Năm: 2011
3. Allingham, M.G., Sandmo, A., (1972), ‘Income tax evasion: a theoretical analysis’, Journal of Public Economics, Số 1, tr. 323-338 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Public Economics
Tác giả: Allingham, M.G., Sandmo, A
Năm: 1972
4. Allingham, Michael G. và Sandmo, Agnar ([1972] 1991), ‘Income Tax Evasion: A Theoretical Analysis’, Modern Public Finance, Số 1, tr. 50-65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Modern Public Finance
5. Alm, James, Cronshaw, Mark B. và McKee, Michael (1993), ‘Tax Compliance with Endogenous Audit Selection Rules’, Kyklos, Số 46, tr. 27-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kyklos
Tác giả: Alm, James, Cronshaw, Mark B. và McKee, Michael
Năm: 1993
6. Alm, James, Jackson, Betty R. và McKee, Michael (1992), ‘Deterrence and Beyond: Toward a Kinder, Gentler IRS’, in Slemrod, Joel (ed.), Why People Pay Taxes: Tax Compliance and Enforcement, Ann Arbor, University of Michigan Press, 311-329 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Why People Pay Taxes: Tax Compliance and Enforcement
Tác giả: Alm, James, Jackson, Betty R. và McKee, Michael
Năm: 1992
7. Alm, James, Jackson, Betty R. và McKee, Michael (1992), ‘Estimating the Determinants of Taxpayer Compliance with Experimental Data’, National Tax Journal, Số 45, tr. 107-114 Sách, tạp chí
Tiêu đề: National Tax Journal
Tác giả: Alm, James, Jackson, Betty R. và McKee, Michael
Năm: 1992
8. Alm, James, Jackson, Betty R. và McKee, Michael (1992), ‘Institutional Uncertainty and Taxpayer Compliance’, American Economic Review, Số 82, tr.1018-1026 Sách, tạp chí
Tiêu đề: American Economic Review
Tác giả: Alm, James, Jackson, Betty R. và McKee, Michael
Năm: 1992
9. Alm, James, Jackson, Betty R. và McKee, Michael (1993), ‘Fiscal Exchange, Collective Decision Institutions, and Tax Compliance’, Journal of Economic Behavior and Organization, Số 22, tr. 285-303 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Economic Behavior and Organization
Tác giả: Alm, James, Jackson, Betty R. và McKee, Michael
Năm: 1993
10. Alm, James, Sanchez, Isabel và de Juan, Ana (1995), ‘Economic and Noneconomic Factors in Tax Compliance’, Kyklos, Số 48, tr. 3-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kyklos
Tác giả: Alm, James, Sanchez, Isabel và de Juan, Ana
Năm: 1995
11. Angelis, J. D., và Kupchik, A. (2007), ‘Citizen oversight, procedural justice, and officer perceptions of the complaint investigation process’, Policing: An International Journal of Police Strategies & Management, Số 30(4), tr. 651-671. Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Policing: An International Journal of Police Strategies & Management
Tác giả: Angelis, J. D., và Kupchik, A
Năm: 2007
12. Armitage, C.J. và Conner, M. (2001), ‘Efficacy of the theory of Planned Behaviour: A meta-analytical review’, British Journal of Social Psychology, Số 40, tr. 471-499 Sách, tạp chí
Tiêu đề: British Journal of Social Psychology
Tác giả: Armitage, C.J. và Conner, M
Năm: 2001
13. Badara, M.S. (2012), ‘The Effect of Tax Audit on Tax Compliance in Nigeria: A Study of Bauchi State Board of Internal Revenue’, Research Journal of Finance and Accounting, Số 3(4), tr. 74-81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Research Journal of Finance and Accounting
Tác giả: Badara, M.S
Năm: 2012
14. Baldry, Jonathan C. (1987), ‘Income Tax Evasion and the Tax Schedule: Some Experimental Results’, Public Finance, Số 42, tr. 357-383 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Public Finance
Tác giả: Baldry, Jonathan C
Năm: 1987
15. Benk, S., Cakmak, A.F. và Budak, T. (2011), ‘An Investigation of Tax Compliance Intention: A Theory of Planned Behaviour Approach’, European Journal of Economics, Finance and Administrative Sciences, Số 28, tr. 180-188 Sách, tạp chí
Tiêu đề: European Journal of Economics, Finance and Administrative Sciences
Tác giả: Benk, S., Cakmak, A.F. và Budak, T
Năm: 2011
16. Booz Allen Hamilton (2007), Business Process Re-engineering Baseline Findings, Internal Document, GDT - Hanoi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Business Process Re-engineering Baseline Findings
Tác giả: Booz Allen Hamilton
Năm: 2007
17. Border, Kim C., và Sobel, Joel (1987), ‘Samurai Accountant: A Theory of Auditing and Plunder’, Review of Economic Studies, Số 54(4), tr. 525-540 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Review of Economic Studies
Tác giả: Border, Kim C., và Sobel, Joel
Năm: 1987
18. Braithwaite, V. (2001), A new approach to tax compliance, Working Paper, Centre for tax system integrity, the Australian National University, Canberra Sách, tạp chí
Tiêu đề: A new approach to tax compliance
Tác giả: Braithwaite, V
Năm: 2001
19. Braithwaith, V. (2003), ‘Dancing with tax authorities: motivational postures and non-compliant actions’. In Braithwaith, V. (ed), Taxing democracy:understanding tax avoidance and tax evasion, Hants UK: Ashgate Sách, tạp chí
Tiêu đề: Taxing democracy: "understanding tax avoidance and tax evasion
Tác giả: Braithwaith, V
Năm: 2003
21. Chander, P. và Wilde, Louis (1998), ‘A General Characterization of Optimal Income Tax Enforcement’, Review of Economic Studies, Số 65, tr. 165-183 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Review of Economic Studies
Tác giả: Chander, P. và Wilde, Louis
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w