1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÁC ĐỘNG CỦA TÍN DỤNG VI MÔ ĐỐI VỚI THU NHẬP CỦA CÁC HỘ NGHÈO Ở KHU VỰC ĐÔNG NAM BỘ

217 84 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 217
Dung lượng 2,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bằng nghiên cứu này, TDVM được khẳng định có sự tác động đến thu nhập của các hộ nghèo tại khu vực Đông Nam Bộ.. Thông qua các phân tích kiểm định thống kê với mô hình hồi quy tuyến tính

Trang 1

NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-

NGUYỄN HỒNG THU

TÁC ĐỘNG CỦA TÍN DỤNG VI MÔ ĐỐI VỚI THU NHẬP CỦA CÁC HỘ NGHÈO

Ở KHU VỰC ĐÔNG NAM BỘ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

9 34 02 01

MÃ SỐ:

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018

Trang 2

MỤC LỤC

Danh mục các từ viết tắt v

Danh mục bảng biểu vi

Danh mục các hình vii

Tóm tắt luận án viii

Lời cảm ơn x

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1

1.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 1

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài 5

1.3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 7

1.3.1 Mục tiêu chung 7

1.3.2 Mục tiêu cụ thể 7

1.3.3 Câu hỏi nghiên cứu 7

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 8

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 8

1.4.2.1 Phạm vi về không gian 8

1.4.2.2 Phạm vi về thời gian 8

1.5 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, nguồn dữ liệu nghiên cứu 9

1.5.1 Cách tiế p cận 9

1.5.2 Phương pháp phân tích nghiên cứu 9

1.5.3 Nguồn dữ liệu nghiên cứu 10

1.6 Những điể m mới và đóng góp của luận án 10

1.7 Kết cấu của luận án 11

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍN DỤNG VI MÔ VỚI THU NHẬP CỦA HỘ NGHÈO 14

2.1 Tín dụng vi mô 14

2.1.1 Khái niệ m 14

2.1.2 Vai trò của tín dụng vi mô đối với giảm nghèo 15

Trang 3

2.1.3 Khái quát hoạt động tín dụng vi mô ở các nước trên thế giới 17

2.2 Nghèo 22

2.2.1 Khái niệ m 22

2.2.2 Chuẩn nghèo của một số quốc gia trên thế giới 23

2.2.3 Chuẩn nghèo của Việ t Nam 24

2.3 Thu nhập 25

2.3.1 Khái niệ m 25

2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập 27

2.3.3 Tín dụng vi mô đối với hoạt động tạo thu nhập 31

2.4 Tổng quan về lý thuyết tiếp cận tín dụng và rào cản hạn chế khả năng tiếp cận tiếp cận tín dụng 33

2.4.1 Thông tin bất cân xứng trong giao dịch tín dụng và hạn chế tín dụng 33

2.4.2 Vốn xã hội, đo lường vốn xã hội và khả năng tiế p cận tín dụng 36

2.4.3 Đặc điểm của hộ gia đình, yếu tố môi trường và các chính sách với tiếp cận tín dụng40 2.5 Tổng quan các tài liệu nghiên cứu có liên quan 41

2.5.1.Tín dụng vi mô với thu nhập 41

2.5.2 Tiếp cận tín dụng của các hộ gia đình 49

2.6 Cơ sở lý luận hình thành khung lý thuyết nghiên cứu và thiết lập các giả thuyết nghiên cứu 59

2.7 Khoảng trống trong nghiên cứu 62

2.8 Kết luận chương 2 63

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 65

3.1 Mô hình nghiên cứu 65

3.1.1 Mô hình tín dụng vi mô tác động đế n thu nhập của các hộ nghèo 65

3.1.2 Mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng vi mô 68

3.1.3 Xây dựng cơ sở chọn biến trong các mô hình nghiên cứu 70

3.1.3.1 Mô hình tín dụng vi mô tác động đến thu nhập (MH1) 70

3.1.3.2 Mô hình tiếp cận tín dụng vi mô (MH2) 76

3.2 Đo lường các khái niệ m trong các mô hình nghiên cứu 82

3.3 Thiết kế nghiên cứu 87

3.3.1 Tổng quát chung về nghiên cứu 87

Trang 4

3.3.1.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 87

3.3.1.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng 87

3.4 Xác định kích thước mẫu 88

3.5 Quy trình chọn mẫu và thu thập dữ liệu nghiên cứu 89

3.5.1 Chọn mẫu 89

3.5.2 Điề u tra sơ bộ 92

3.6 Kết luận chương 3 92

CHƯƠNG 4: HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VI MÔ TẠI KHU VỰC VÀ CÁC KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH 93

4.1 Khái quát chung về đặc điể m kinh tế-xã hội của khu vực Đông Nam Bộ 93

4.2 Khái quát và mô tả dữ liệu khảo sát ở khu vực 100

4.2.1 Đặc điểm hộ nghèo 100

4.2.2 Tình trạng nhà ở, đất sản xuất 102

4.2.3 Các chính sách 103

4.3 Khái quát hoạt động tín dụng vi mô ở Việt Nam và trong khu vực 106

4.3.1 Tín dụng vi mô tại Việ t Nam 106

4.3.2 Tín dụng vi mô tại khu vực Đông Nam Bộ 113

4.4 Một số tồn tại của công tác giảm nghèo ở khu vực 116

4.5 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 120

4.5.1 Mô hình 1: Tín dụng vi mô với thu nhập của hộ nghèo 120

4.5.2 Mô hình 2: Mô hình tiếp cận tín dụng vi mô 125

4.6 Kiểm định kết quả nghiên cứu 128

4.6.1 Kết quả mô hình tác động TDVM đến thu nhập 128

4.6.1 Kiểm định mô hình nghiên cứu 128

4.6.1.2.Thảo luận kết quả hệ số hồi quy MH1: Tác động của tín dụng vi mô đến thu nhập hộ nghèo 131

4.6.1.3 Giả định sự khác biệt về thu nhập giữa 2 nhóm hộ 138

4.6.2 Kết quả kiểm định mô hình tiếp cận tín dụng vi mô 138

4.6.2.1 Kết quả kiểm định 138

4.6.2.2 Thảo luận kết quả nghiên cứu MH2: Mô hình tiếp cận tín dụng vi mô 140

4.7 Kết luận chương 4 146

Trang 5

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GIẢI PHÁP 147

5.1 Kết luận 147

5.2 Các giải pháp 149

5.2.1 Nhóm giải pháp nâng cao thu nhập cho các hộ nghèo thông qua hoạt động của tín dụng vi mô 150

5.2.2 Nhóm giải pháp nâng cao tiếp cận tín dụng cho các hộ nghèo 157

5.2.3 Đề xuất các giải pháp khác 160

5.3 Hạn chế của nghiên cứu và định hướng nghiên cứu tiế p theo 161

Các công trình nghiên cứu có liên quan 163

Tài liệu tham khảo Tiếng Việt 165

Tài liệu tham khảo Tiếng Anh 171

Phụ lục 1: Bảng câu hỏi khảo sát 182

Phụ lục 2: Danh sách phỏng vấn và tham khảo ý kiến của các chuyên gia 186

Phụ lục 3: Bảng câu hỏi phỏng vấn và tham khảo ý kiến của các chuyên gia 187

(Phần câu hỏi phỏng vấn các cán bộ tham gia công tác giảm nghèo tại địa phương) 187

Phụ lục 4 Bảng câu hỏi phỏng vấn và tham khảo ý kiến của các chuyên gia 188

(Phần câu hỏi phỏng vấn các cán bộ các đơn vị cung cấp sản phẩm TDVM) 188

Phụ lục 5: Danh sách các cán bộ tập huấn và thực hiện khảo sát 189

Phụ lục 6 Tổng hợp các chính sách triển khai tại khu vực 201

Phụ phục 7: Thống kê và kết quả của các mô hình nghiên cứu 194

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ADB Ngân hàng Phát triển châu Á The Asian Development

Bank BQĐN Bình quân đầu người

CEP Quỹ trợ vốn cho người lao động nghèo tự

tạo việc làm

Capital Aid for Employment of the poor Microfinance Institution

HHQTDND Hiệp Hội Quỹ Tín dụng Nhân dân

HCCB Hội cựu chiến binh

Economic Co-operation and Development

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.2 Bảng tổng hợp các kết quả nghiên cứu có liên quan 65 Bảng 3.1 Tổng hợp cơ sở chọn biến cho mô hình tác động của TDVM với thu nhập 87 Bảng 3.2 Tổng hợp cơ sở chọn biến cho mô hình tiếp cận TDVM 92 Bảng 3.3 Đo lường các biến trong mô hình TDVM với thu nhập 93 Bảng 3.4 Đo lường các biến trong mô hình tiếp cận TDVM 96

Bảng 4.2 Tổng hợp các mức chuẩn nghèo của từng địa phương 108

Bảng 4.6 Thống kê báo cáo giảm nghèo trong khu vực khảo sát 117 Bảng 4.7 Thống kê một số chính sách tín dụng tại khu vực khảo sát 127

Bảng 4.11 Bảng tổng hợp đánh giá tác động của TDVM với thu nhập 146 Bảng 4.12 Kiểm định sự khác biệt về thu nhập của hai nhóm hộ 149

Bảng 4.14 Tổng hợp kết quả ảnh hưởng của các biến đến tiếp cận TDVM 152 Bảng 4.15 Tổng hợp các biến trong mô hình tiếp cận TDVM 155

Trang 8

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Mô hình tác động của TDVM đối với thu nhập 81

Trang 9

TÓM TẮT LUẬN ÁN

Tín dụng vi mô (TDVM) TDVM ngày càng khẳng định là công cụ quan trọng trong công tác giảm nghèo Với sự khởi xướng của giáo sư kinh tế Muhammad Yunus, đến nay mô hình hoạt động của TDVM đang ngày càng được nhân rộng trên toàn thế giới Đối với các quốc gia đang phát triển, hoạt động của các tổ chức TCVM trong đó hoạt động TDVM ngày càng đóng vai trò chủ lực thực hiện các chính sách giảm nghèo, giúp người nghèo giải quyết các vấn đề khó khăn trong cuộc sống Tuy vẫn còn nhiều tranh luận trái chiều về tính hiệu quả của nó, song trong ngắn hạn TDVM đã giúp cho các hộ nghèo vượt qua được cú sốc, các khó khăn và làm giảm các tổn thương trong cuộc sống hàng ngày

Bằng nghiên cứu này, TDVM được khẳng định có sự tác động đến thu nhập của các hộ nghèo tại khu vực Đông Nam Bộ Thông qua các phân tích kiểm định thống kê với mô hình hồi quy tuyến tính đa biến và hồi quy Binary Logistic, nghiên cứu tiến hành thu thập thông tin của 600 mẫu quan sát là các hộ nghèo trong khu vực, kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố TDVM với biến đại diện là quy

mô vốn vay tác động tích cực đến thu nhập của hộ nghèo Bên cạnh đó, đặc điểm của hộ nghèo thông qua yếu tố quy mô lao động tác động đến nguồn thu nhập của

hộ Ngoài yếu tố DVM và đặc điểm của hộ nghèo góp phần làm tăng thu nhập, đặc biệt trong nghiên cứu này luận án đã tìm thấy các chính sách hoạt động phi tài chính góp phần không nhỏ làm cho thu nhập của hộ nghèo tăng lên đáng kể Đây được xem là yếu tố mới của luận án mang tính thực tiễn trong khu vực nghiên cứu

Hơn thế nữa, nghiên cứu đã tìm thấy có sự tương quan giữa thu nhập với khả năng tiếp cận TDVM của các hộ nghèo, nâng cao tiếp cận TDVM góp phần cải thiện thu nhập cho hộ là một trong những mục tiêu nghiên cứu của luận án đã đặt

ra cần phải làm sáng tỏ và mô hình hồi quy Binary Logistic đã chứng minh giả

Trang 10

định này Kết quả nghiên cứu của mô hình hồi quy Binary Logistic cho biết, nhân

tố vốn xã hội, tần suất tham gia vốn xã hội, thu nhập và vị trí địa lý nhà ở của hộ gia đình tác động đến khả năng tiếp cận TDVM của các hộ nghèo Các giả định về khả năng tiếp cận được phân tích kỹ trong phần kiểm định của kết quả nghiên cứu

Từ đây, các giải pháp nâng cao thu nhập thông qua việc nâng cao tiếp cận TDVM được gợi mở và đề xuất Tuy nhiên, việc thay đổi thu nhập của một cá nhân, một hộ gia đình hay một tổ chức còn phụ thuộc nhiều yếu tố khác có liên quan, những yếu tố này được trình bày chi tiết trong phần hạn chế của luận án Do vậy, trong nghiên cứu này tác giả không tham vọng sẽ bao quát hết các vấn đề nội tại nảy sinh liên quan đến sự thay đổi nguồn thu nhập của một cá nhân hay một hộ gia đình, mà các yếu tố này sẽ là một trong những thách thức mới, một động lực mới khơi dậy khả năng tìm tòi cho các nghiên cứu tiếp theo

Trang 11

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến hai Thầy hướng dẫn khoa học của tôi TS Phan Ngọc Minh và PGS.TS Đinh Phi Hổ, những người đã hướng dẫn tận tình cho tôi nghiên cứu và hoàn thành luận án, động viên và khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện nghiên cứu

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Quý Thầy/Cô của trường Đại học Ngân hàng TPHCM đã tận tình truyền đạt những tri thức mới cho tôi Bày tỏ lòng cảm ơn đến Quý Lãnh đạo cơ quan nơi tôi công tác và các tổ chức có liên quan đã tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp tôi được tham gia và hoàn thành khóa học này

Gửi lời cảm ơn đến Quý đồng nghiệp, anh chị em bạn bè và gia đình đã luôn động viên tôi có thêm nhiều nghị lực bước hết chặng đường gian nan này Cảm ơn đến đến Quý Cơ quan, ban ngành, địa phương của các tỉnh Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước và Đồng Nai đã cung cấp số liệu và giúp tôi công tác khảo sát nghiên cứu

Ngoài ra, nghiên cứu còn nhận được rất nhiều ý kiến đóng góp chân thành của Quý Thầy/Cô, bạn bè, đồng nghiệp và các chuyên gia nghiên cứu Tôi vô cùng cảm ơn và luôn tiếp thu lắng nghe những ý kiến đóng góp quý báu này Xin chúc tất cả Quý Thầy/Cô, các chuyên gia nghiên cứu, quý anh chị em bạn bè, đồng nghiệp lời chúc sức khỏe, thắng lợi và thành công

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 12

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan nghiên cứu này do tôi thực hiện Các kết quả nghiên cứu này có tính độc lập riêng, nội dung nghiên cứu chưa từng được nộp tại bất cứ cơ sở nào, các nguồn tài liệu được trích dẫn rõ ràng đúng quy định Tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về lời cam đoan và danh dự của tôi

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 9 năm 2018

Người cam đoan

NGUYỄN HỒNG THU

Trang 13

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Chương 1 giới thiệu tổng quan của nghiên cứu, tính cấp thiết và xác định mục tiêu, câu hỏi nghiên cứu, xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu, thiết lập quy trình nghiên cứu Trong chương này phương pháp nghiên cứu được mô tả sơ lược các phương pháp được dùng trong nghiên cứu và những đóng góp của luận án nghiên cứu Bên cạnh đó, kết cấu của luận án cũng được được mô tả ở phần cuối của chương

1.1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu

Quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của nền kinh tế Việt Nam đã đem lại nhiều cơ hội thay đổi chất lượng cuộc sống cho người dân Trong năm qua, kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, tốc độ tăng trưởng kinh

tế bình quân đạt 6.81%, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm đáng kể, mức sống của người dân ngày càng được cải thiện, đời sống của nhân dân đã được nâng cao, thu nhập của nhân dân tương đối ổn định, người nghèo đã cơ bản có cuộc sống được cải thiện hơn Song, bên cạnh đó cũng còn không ít những khó khăn mà người nghèo đang phải đối mặt như tình trạng bị mất việc làm, việc làm không ổn định của một số lao động có trình độ thấp ở các vùng miền, các rủi ro về thiên tai và các vấn đề xã hội phức tạp đang nảy sinh trước xu thế phát triển

Đói nghèo là một vấn nạn chung của toàn xã hội mà người nghèo ngày càng

dễ bị tổn thương trước những cú sốc của cuộc sống như ốm đau, thiên tai và các tổn thương khác mà thời gian hồi phục lâu hơn Công tác giảm nghèo luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, coi đó là mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Đến nay, mặc dù công tác xóa đói giảm nghèo đã đạt được nhiều tiến bộ và thành công, nhưng hiện tượng tái nghèo đang là nguy cơ rất lớn, các cú sốc do thời tiết, sức khỏe và các rủi ro về thu nhập còn phổ biến và có dấu hiệu gia tăng Bên cạnh đó, phát sinh những nguồn gốc nguyên nhân mới tạo ra tính

Trang 14

dễ bị tổn thương trước xu hướng phát triển toàn cầu Do vậy, công tác giảm nghèo hiện nay vẫn đang là vấn đề cấp bách và thách thức trong quá trình phát triển

Vừa qua, cả nước ta đã kết thúc giai đoạn thực hiện kế hoạch giảm nghèo 5 năm và chuẩn nghèo áp dụng theo tiêu chí thu nhập (giai đoạn 2011 -2015) Theo số liệu khảo sát của Tổng cục Thống kê, từ đầu năm 2016 cả nước ta có khoảng 2.338.569 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 9.88%; có khoảng 1.235.784 hộ cận nghèo chiếm tỷ

lệ 5.22% (TCTK, 2016) Người nghèo đang tập trung ở nhóm dân tộc thiểu số là những đối tượng chiếm không quá 15% dân số nhưng chiếm gần một nửa số lượng những người nghèo và hai phần ba người cùng cực (NHTG, 2012) Bước sang giai đoạn mới với tiêu chí chuẩn nghèo đa chiều, từ đầu năm 2016 các tỉnh thành trong cả nước cũng đã có các đợt tổng điều tra và đánh giá những kết quả đạt được và đề ra những phương hướng kế hoạch để thực hiện một giai đoạn mới theo tiêu chí mới phù hợp với điều kiện trong giai đoạn hiện nay và phù hợp với xu hướng phát triển xã hội

Vùng Đông Nam Bộ (ĐNB) là vùng kinh tế phát triển và năng động, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, bền vững và đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Là khu vực đầu tàu phát triển kinh tế của cả nước, là địa bàn có vai trò cầu nối với các khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long và khu vực Tây Nguyên Hiện nay, khu vực ĐNB có 6 tỉnh thành bao gồm TP.HCM, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Tây Ninh và Bà Rịa –Vũng Tàu (theo Quyết định số 943/2012-TTg) Vùng Đông Nam Bộ đóp góp hơn 2/3 nguồn thu ngân sách của cả nước, với số dân hơn 15 triệu người và mật độ dân số trung bình hơn 600 người/km2

, trong đó có đến 1/3 là dân số di cư từ các tỉnh thành khác trong cả nước Chính sách giảm nghèo

ở khu vực đạt nhiều kết quả tích cực, tại địa phương các tỉnh thành đã có nhiều hoạt động vì người nghèo và phát huy tính hiệu quả với tỷ lệ giảm nghèo của khu vực giảm đáng kể (chiếm tỷ lệ 1%) Số liệu báo cáo thống kê của BLĐTBXH năm 2016, tại khu vực các tỉnh thành có vị trí xếp hạng theo số hộ nghèo thấp nhất là tỉnh Bình

Trang 15

Dương (vị trí thứ 63), TPHCM xếp vị trí 62, Đồng Nai xếp vị trí 61, Bà Rịa - Vũng Tàu xếp vị trí 60, Tây Ninh xếp vị trí 59 và Bình Phước xếp vị trí 45 (xếp hạng theo tổng số hộ nghèo cao đến thấp trên cả nước) Vùng ĐNB với thế mạnh tập trung là các khu công nghiệp và dịch vụ, cùng với các chính sách xã hội hóa giảm nghèo, nhiều mô hình triển khai hoạt động giảm nghèo theo đặc thù kinh tế của địa phương

đã phát huy tốt năng lực và tạo giá trị phúc lợi cho các hộ gia đình, một số mô hình như chăn nuôi bò sinh sản ở Phú Riềng (tỉnh Bình Phước), mô hình chăn nuôi dê (tỉnh Đồng Nai), mô hình vay vốn tạo việc làm, học nghề (Bình Dương), đã mang lại hiệu quả tích cực trong công tác giảm nghèo của các địa phương Tuy đạt được nhiều thành tựu nổi bật, song công tác giảm nghèo tại khu vực vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức mới Cùng với tiến trình của đô thị hóa tại hầu hết các tỉnh thành trong khu vực đã và đang đối diện với thực trạng tăng dân số cơ học xảy ra tại các đô thị công nghiệp lớn, dẫn đến quá trình thực hiện các chính sách an sinh xã hội gặp phải nhiều khó khăn, trở ngại Đây được xem là vấn đề thách thức lớn đối với sự nỗ lực nâng cao mức sống, thực hiện các chính sách an sinh xã hội và phát triển kinh tế

ở khu vực này

Cùng với các hoạt động của tài chính vi mô (TCVM), tín dụng vi mô (TDVM) góp phần mang lại hiệu quả thiết thực trong công tác giảm nghèo Là một công cụ quan trọng trong cuộc chiến chống lại đói nghèo, nhất là ở các quốc gia đang phát triển (Humle và Mosley, 1996; Shaw, 2004) Hàng loạt các nghiên cứu như của các tác giả Mohanan (2005), Brown (2010), Ifrin, Islam và Ahmed (2010), Ahmed và ctg (2011) đều cho biết rằng ở các quốc gia đang phát triển TDVM đã tạo ra hiệu ứng tác động tích cực đến đời sống kinh tế văn hóa xã hội của nhân dân TDVM cung cấp nguồn tài chính cho người nghèo đúng vào lúc họ cần vốn nhất, giúp họ trang trải cho các hoạt động mưu sinh hàng ngày, tăng cường giáo dục, nâng cao sự tự tin vào năng lực tự làm chủ và mạnh dạn lựa chọn các phương án phát triển kinh tế, vượt qua các

cú sốc và làm giảm các tổn thương trong cuộc sống (Servon, 1999) Các nghiên cứu

Trang 16

của Boamah và Alam (2016); Alhassan và Akuduga (2012); Manganhele (2010); Phùng Đức Tùng và ctg (2013) và Nguyễn Đức Nhật và ctg (2013) đã giới thiệu, phân tích và làm rõ vai trò của TDVM với hoạt động nâng cao khả năng tạo ra giá trị phúc lợi cho gia đình và xã hội Song song với hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng hoạt động phi tài chính là cần thiết nhằm thúc đẩy các đối tượng khách hàng nâng cao tinh thần tự lập, tự chủ vươn lên thoát nghèo Thành công này đã được nhân rộng và triển khai theo nhiều hình thức khác nhau tại các quốc gia trên thế giới và tại Việt Nam

Dẫu vậy, kết luận này hiện nay vẫn đang là vấn đề tiếp tục bàn thảo và ngày càng thu hút nhiều ý kiến khác nhau của các nhà nghiên cứu, với mỗi nghiên cứu các tác giả đã giới thiệu, phân tích các khía cạnh, các lĩnh vực khác nhau, có ý kiến cho rằng mối quan hệ tác động của TDVM với thu nhập là không đáng kể xét về mặt thống kê (Sen, 2008; Rukiye, 2012) hay có ý kiến cho rằng họ không tìm thấy tác động của TDVM đến thu nhập hộ gia đình (Diagne và Zeller, 2001), nghiên cứu của Morduch (1998) cho rằng tín dụng từ ngân hàng Grameen ở Bangladesh làm giảm tổn thương hơn là xóa đói giảm nghèo và nghiên cứu của Coleman (1999) cho thấy rằng họ chỉ tìm thấy có một tác động đáng kể của TDVM với phúc lợi của các hộ gia đình ở Thái Lan mà thôi

Cho đến nay, chính phủ ở hầu hết các quốc gia đã ghi nhận vai trò tích cực của TDVM đối với công tác giảm nghèo, các hoạt động nghiên cứu khoa học về TDVM với hiệu quả của nó đang ngày càng thu hút sự quan tâm của nhiều giới chuyên gia nghiên cứu cũng như các học giả trong và ngoài nước Để tiếp tục kế thừa, tìm hiểu mức độ tác động của TDVM đến thu nhập của hộ nghèo và đặc biệt tại khu vực ĐNB vẫn chưa có nghiên cứu nào được thực hiện thì tại nghiên cứu này, khung lý thuyết được hình thành trên nền tảng các lý thuyết, các phân tích dựa trên tính đặc thù thực tiễn của khu vực nhằm làm rõ mục tiêu đặt ra trong nghiên cứu Hơn thế nữa, trước

xu hướng mới của quá trình hội nhập, khu vực ĐNB với vai trò là vùng kinh tế trọng

Trang 17

điểm phía Nam hội tụ nhiều đặc điểm ưu thế đặc trưng của khu vực nhưng cũng đồng thời nảy sinh nhiều thách thức mới, nhiều chính sách an sinh xã hội mới cần tiếp tục củng cố và phát huy, công tác giảm nghèo trong khu vực đạt được nhiều thành tựu, song trước xu hướng phát triển cần tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động vì người nghèo, nhân rộng các mô hình giảm nghèo, tăng cường công tác tiếp cận vốn vay và tăng cường các hoạt động phi tài chính khác cho người nghèo nhằm đáp ứng tốt nhu cầu

an sinh xã hội và hội nhập chung của đất nước là việc làm cấp bách và quan trọng

Trước bối cảnh đó, nghiên cứu đề ta các vấn đề trọng tâm cần nghiên cứu đó

là (1) kiểm định luận điểm TDVM tác động đến giảm nghèo thông qua yếu tố thu nhập của hộ là cần thiết, (2) để nâng cao thu nhập cho các hộ nghèo cần thiết nâng cao tiếp cận TDVM cho hộ và (3) làm cách nào để nâng cao tiếp cận TDVM cho người nghèo có thêm nguồn vốn để cải thiện thu nhập của họ? Do đó, đề tài nghiên

cứu cần thiết để thực hiện là “Tác động của tín dụng vi mô đối với thu nhập của

các hộ nghèo ở khu vực Đông Nam Bộ‖

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài

Là một phần của hoạt động TCVM, hoạt động TDVM được ghi nhận góp phần nâng cao năng lực tự chủ, năng lực tạo ra giá trị sản phẩm, mở ra các cơ hội cho người nghèo khả năng phát triển sinh kế góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả Mohanan (2005); Islam và Ahmed (2010); Brown (2010); Ahmed và ctg (2011 ); Vitor và ctg (2012); Rykiye (2012); Ayen (2016) nêu lên các luận điểm của họ về tính hiệu quả của TDVM đối với công tác giảm nghèo Hầu hết các kết quả nghiên cứu có sự đồng thuận cao về tác động của TDVM đến khả năng tạo ra giá trị tài sản và giá trị thu nhập cho người nghèo và đặc biệt đã góp phần nâng cao vị thế cho người phụ nữ Dẫu vẫn còn nhiều vấn đề cần phải tranh luận thêm, tuy nhiên không thể phủ nhận vai trò của TDVM đối với công tác giảm nghèo, minh chứng từ mô hình hoạt động của ngân hàng Grameen với ý tưởng ban đầu từ sự khởi xứng bởi giáo sư kinh tế

Trang 18

Muhamad Yunus đã cho thí điểm nhóm đối tượng khách hàng là phụ nữ vay từ những khoản vay rất nhỏ bằng nguồn vốn của ông để giúp họ thực hiện các phương

án tạo việc làm và vượt qua các cú sốc trong cuộc sống Bằng phương thức cho vay theo nhóm, các thành viên trong nhóm tổ chức giám sát tính hiệu quả của các khoản vay và chịu liên đới lẫn nhau trong việc thu hồi nợ vay cũng như cấp quyền được tiếp tục tham gia các khoản vay mới trong tương lai hay không và mô hình này đã tạo nên hiệu ứng tích cực đối với chiến lược giảm nghèo ở xứ sở Bangladesh Cho đến nay,

mô hình hoạt động này đã và đang lan tỏa đến nhiều quốc gia khác nhau nhất là ở các quốc gia đang phát triển Với nhiều phương thức hoạt động khác nhau nhưng mục tiêu chung của các mô hình hoạt động đều hướng đến việc nâng cao năng lực lao động, năng lực tự làm chủ của bản thân và khả năng tạo ra giá trị thu nhập Tuy vẫn chưa có một nghiên cứu nào đề cập cụ thể rõ ràng mức độ ảnh hưởng của TDVM đến thu nhập, nhưng sự ảnh hưởng của TDVM đến khả năng tạo ra thu nhập đã được khẳng định trong rất nhiều các nghiên cứu trước Điều này là một động lực cho các nghiên cứu tiếp theo tiếp tục kế thừa và nghiên cứu

Tại Việt Nam, các nghiên cứu nổi tiếng kinh điển của các tác giả như Nguyễn Kim Anh và ctg (2011) với nghiên cứu TCVM với người nghèo tại Việt Nam - Kiểm định và so sánh, hay hàng loạt các nghiên cứu khác về người nghèo như đánh giá các chính sách giảm nghèo ở TPHCM (Phùng Đức Tùng và ctg, 2013), đánh giá các mô hình giảm nghèo của các đối tác nước ngoài tại Việt Nam (Nguyễn Đức Nhật và ctg, 2013), Hầu hết các nghiên cứu đồng thuận cao về tính hiệu quả của TDVM với cuộc chiến giảm nghèo của quốc gia Xung quanh đó, có nhiều nghiên cứu khác đề cập đến các khía cạnh khác nhau nhưng mục tiêu cơ bản có tính tương đồng với mục tiêu của luận án nghiên cứu, như đánh giá tác động của tín dụng chính thức đến thu nhập của hộ nông dân (Đinh Phi Hổ và Đông Đức, 2015), hay tác động của TDVM với mức sống của người nghèo ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (Phan Đình Khôi,

Trang 19

2012), nhưng tựu chung các nghiên cứu vẫn không thể phủ nhận TDVM là công cụ hữu hiệu chống lại đói nghèo

Các nghiên cứu trên đã phác họa cơ bản các phương thức hoạt động của TDVM ở trong nước cũng như nước ngoài, đánh giá và phân tích tác động của TDVM đến khả năng tạo ra thu nhập của khách hàng Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới đề cập một cách tổng thể về mức độ tác động của TDVM với thu nhập Mục tiêu của luận án nhằm làm rõ các vấn đề đã nêu trong nghiên cứu này và ứng dụng thực tiễn tại vùng ĐNB

1.3 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

1.3.1 Mục tiêu chung

Mục tiêu của luận án kiểm định giả thuyết tác động của TDVM đến thu nhập cho các hộ nghèo và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận TDVM của các hộ nghèo nhằm tìm ra các giải pháp nâng cao thu nhập thông qua việc tăng cường tiếp cận TDVM cho họ

Tìm hiểu ảnh hưởng của các yếu tố đến tiếp cận TDVM của các hộ nghèo

 Các khuyến nghị giải pháp góp phần nâng cao thu nhập cho các hộ nghèo thông qua tăng cường công tác tiếp cận TDVM và tăng cường các hoạt động phi tài chính khác cho các hộ nghèo trong khu vực

1.3.3 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt mục tiêu đề ra, luận án cần trả lời được các câu hỏi sau:

Trang 20

TDVM có tác động đến thu nhập của các hộ nghèo? và các mức độ tác động

đó như thế nào?

 Khả năng tiếp cận TDVM của các hộ nghèo như thế nào? Để tăng cường

tiếp cận TDVM cho các hộ nghèo cần có những giải pháp gì?

 Các khuyến nghị giải pháp chính sách gì góp phần nâng cao thu nhập cho hộ nghèo thông qua hoạt động TDVM tại khu vực ĐNB?

1.4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Xuất phát từ tính cấp thiết của nghiên cứu và thực tiễn của khu vực nghiên cứu, luận án xác định đối tượng cần làm rõ trong nghiên cứu đó là thu nhập của hộ nghèo (cụ thể thu nhập của hộ có tham gia vay TDVM và hộ không tham gia vay TDVM) Đồng thời, tiếp nối với mục tiêu này, mục tiêu tiếp theo là nâng cao tiếp cận TDVM cho hộ nghèo Vì vậy, đối tượng cần thực hiện nghiên cứu nhằm đáp ứng mục tiêu này của luận án là việc tiếp cận TDVM của các hộ nghèo và các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận TDVM của họ

Đối tượng khảo sát: Các hộ nghèo trong khu vực và người khảo sát là người quyết định chính hoặc là chủ hộ trong gia đình

Trang 21

1.5 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, nguồn dữ liệu nghiên cứu

1.5.2 Phương pháp phân tích nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê, phân tích các dữ liệu sơ cấp và thứ cấp có liên quan đã thu thập được để làm rõ các mục tiêu đặt ra trong nghiên cứu

Mô tả thực trạng khu vực nghiên cứu, phân tích các khó khăn và tồn tại về công tác giảm nghèo của khu vực

Phương pháp phỏng vấn 15 chuyên gia là các cán bộ tại các Sở LĐTBXH, các Phòng LĐTBXH địa phương, các cán bộ xã, phường, cán bộ NHCSXH, các chuyên viên thực hiện công tác giảm nghèo tại các địa phương trong khu vực Với bảng câu hỏi được thiết lập sẵn dựa trên nền tảng lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan, nghiên cứu đã thu thập thông tin và bổ sung vào thực trạng cũng như các giải pháp trong nghiên cứu

Phương pháp khảo sát bằng bảng câu hỏi bán cấu trúc với đối tượng khảo sát

là hộ nghèo tại khu vực, với bộ câu hỏi này thông tin thu thập được nhằm làm rõ mục tiêu và trả lời các câu hỏi đặt ra cho nghiên cứu này

Trang 22

1.5.3 Nguồn dữ liệu nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thông tin dữ liệu thứ cấp được cung cấp bởi các cơ quan có liên quan, các số liệu được công bố tại trang thông tin điện tử của Bộ LĐTBXH, NHCSXH và trang thông tin điện tử của các địa phương

Nguồn dữ liệu sơ cấp: Được thu thập từ việc khảo sát 600 hộ nghèo trong khu vực trong năm 2016, phỏng vấn 15 chuyên gia đang công tác tại Sở, Ban, ngành, các chuyên viên thực hiện công tác giảm nghèo tại các địa phương

1.6 Những điểm mới và đóng góp của luận án

1.6.1 Đóng góp về mặt thực tiễn

Thứ nhất, luận án mang tính cấp thiết trong giai đoạn hiện nay, khi cả nước ta

vừa thực hiện đánh giá lại công tác giảm nghèo và bước sang một giai đoạn mới với việc áp dụng chuẩn nghèo theo tiêu chí nghèo đa chiều (giai đoạn 2016-2020)

Thứ hai, luận án đã chứng minh TDVM góp phần quan trọng trong chiến lược

giảm nghèo mà cụ thể tại một khu vực Đông Nam Bộ, khu vực có tốc độ phát triển kinh tế cao nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam của Việt Nam

1.6.2 Đóng góp về mặt lý luận

Thứ nhất, luận án đúc kết đánh giá một cách toàn diện tác động của TDVM

đến thu nhập của hộ nghèo và khẳng định TDVM là công cụ hữu hiệu trong chiến lược giảm nghèo Dẫu vẫn còn tồn tại nhiều tranh luận trái chiều về tính hiệu quả của TDVM, nhưng trong phạm vi nghiên cứu này, luận án đã góp phần tổng luận các cơ

sở lý thuyết có liên quan, việc tổng luận này có ý nghĩa giúp cho các nhà nghiên cứu tiếp theo tiếp cận lý thuyết tín dụng với thu nhập, lý thuyết về tiếp cận TDVM và khẳng định về mặt thống kê có sự tác động của TDVM, có sự ảnh hưởng của các hoạt động phi tài chính tác động đến thu nhập của hộ nghèo

Thứ hai, luận án thực hiện đánh giá sự khác biệt về thu nhập của hai nhóm hộ

có vay vốn TDVM và nhóm không tham gia vay vốn TDVM thông qua kiểm định

Trang 23

thống kê T-test Kết quả thấy rằng nhóm hộ có tham gia vay vốn TDVM có thu nhập trung bình cao hơn nhóm không tham gia vay vốn TDVM

Thứ ba, cùng với hoạt động của TDVM, các hoạt động phi tài chính được tổ

chức lồng ghép song song với quá trình triển khai nguồn vốn tài chính đến với các hộ nghèo, được đánh giá là hoạt động bổ trợ đắc lực góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của TDVM với công tác giảm nghèo Với kết quả phân tích và kiểm định thống

kê, nghiên cứu khẳng định rằng hoạt động phi tài chính ảnh hưởng đến khả năng nâng cao thu nhập cho các hộ nghèo

Thứ tư, yếu tố vốn xã hội (VXH) mà hiện nay đã có nhiều nghiên cứu phân

tích tầm ảnh hưởng của VXH đến việc tham gia các dịch vụ tín dụng nói chung nhưng việc tìm hiểu ảnh hưởng của VXH đến tiếp cận TDVM ở các nghiên cứu trước chưa thật sự quan tâm, kết quả mô hình hồi quy Binary logistic luận án đã khẳng định VXH là vấn đề cần thiết để phát huy và mở rộng trong quá trình thực hiện triển khai chiến lược xóa đói giảm nghèo

1.7 Kết cấu của luận án

Luận án bao gồm 5 chương gồm các nội dung sau:

Chương 1: Giới thiệu tổng quan nghiên cứu Trong chương này luận án giới thiệu tổng quan về nghiên cứu bao gồm tính cấp thiết của luận án nghiên cứu, tổng quan nghiên cứu của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, trình bày tổng quan về phương pháp nghiên cứu và nêu điểm mới của nghiên cứu

Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết Chương 2 trình bày tổng quan cơ sở lý thuyết nghiên cứu, bao gồm các luận cứ có liên quan, các lý thuyết nền tảng liên quan đến nội dung nghiên cứu, tổng hợp và khảo lược các nghiên cứu khác ở trong nước cũng như nước ngoài Từ đó, luận án xây dựng khung lý thuyết cho nghiên cứu và thiết lập các giả định cho mô hình nghiên cứu đã đề xuất để đạt mục tiêu nghiên cứu

đề ra

Trang 24

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 3 của luận án trình bày chi tiết phương pháp nghiên cứu, cụ thể như trình bày cách thức thu thập dữ liệu và phân tích

dữ liệu nghiên cứu, trình bày lập luận cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu, trình bày các khái niệm và đo lường các biến trong mô hình được trình bày chi tiết trong Chương 3 của luận án

Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 4 của luận án trình bày thực trạng địa bàn nghiên cứu, thực trạng hoạt động TDVM ở Việt Nam và trong khu vực, mô tả những kết quả thành tựu đạt được trong công tác giảm nghèo của khu vực, những khó khăn và thách thức cần tiếp tục phát huy và cải thiện

Bên cạnh đó, trong chương 4 trình bày kết quả đã nghiên cứu được qua việc phân tích và kiểm định các giá trị thống kê từ các mô hình nghiên cứu Các giả thiết đặt ra được phân tích chi tiết tại chương này, đồng thời Chương 4 cũng là chương trả lời các câu hỏi và làm rõ mục tiêu của nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và đề xuất các giải pháp có liên quan Chương 5 tổng hợp lại các kết quả nghiên cứu được của luận án Tổng hợp lại các vấn đề và xác định mục tiêu nghiên cứu đã được làm rõ Từ đó, các giải pháp nghiên cứu được trình bày góp phần nâng cao thu nhập cho hộ nghèo thông qua việc nâng cao tiếp cận TDVM cho hộ nghèo nhằm hướng tới mục tiêu giảm nghèo bền vững trong khu vực và cả quốc gia

Trang 25

Hình 1.1 Quy trình thực hiện nghiên cứu

TDVM tác động đến thu nhập của các hộ nghèo ở khu vực Đông Nam Bộ

Phân tích mô hình hồi quy tuyến tính đa biến

thông qua hệ thống kiểm định

Phân tích mô hình hồi quy Binary Logistics thông qua hệ thống kiểm định

Khoảng trống trong nghiên cứu

Đề xuất mô hình nghiên cứu

Thu thập dữ liệu, bổ sung và hoàn chỉnh dữ liệu

Thảo luận kết quả nghiên cứu

Khuyế n nghị giải pháp

Trang 26

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍN DỤNG VI MÔ VỚI

THU NHẬP CỦA HỘ NGHÈO

Chương 2 trình bày tổng quan về sơ sở lý thuyết nghiên cứu như các khái niệm về TDVM, nghèo, thu nhập được trình bày trong phần 2.1 của chương Phần 2.1 tiếp tục trình bày lý thuyết của luận án với lý thuyết nguồn vốn, lý thuyết thu nhập và lý thuyết hạn chế tiếp cận tín dụng Phần 2.2 nghiên cứu tiến hành khảo lược các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan, đồng thời tại phần 2.3 của chương khoảng trống trong nghiên cứu được xác định và nghiên cứu tiếp tục kế thừa và làm rõ khoảng trống nghiên cứu trong các chương tiếp theo của luận án

2.1 Tín dụng vi mô

2.1.1 Khái niệm

Hiện nay có rất nhiều quan niệm về TDVM, theo Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về TDVM tại Washington tháng 2 năm 1997 cho rằng TDVM là việc cung cấp các khoản vay có quy mô nhỏ đến đối tượng nghèo với mục đích giúp những người thụ hưởng thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh để tạo lợi nhuận từ đó nâng cao chất lượng đời sống cho cả người vay vốn và gia đình của họ (Micro-credit Summit, 1997)

TDVM được sử dụng để mô tả các khoản vay nhỏ được cấp cho các cá nhân

có thu nhập thấp bị loại trừ khỏi hệ thống ngân hàng truyền thống Nó là một phần của TCVM, cung cấp tín dụng không chỉ có sản phẩm cho vay mà còn tiết kiệm, bảo hiểm và các dịch vụ tài chính cơ bản khác cho người nghèo Thuật ngữ 'vi mô' xuất phát từ số tiền cho vay tương đối nhỏ (Microworld, 2018) Đồng thuận quan điểm này, Ledgerwood (1999) và Chowdhury (2000) cho rằng TDVM là các khoản vay nhỏ; Abhijit và ctg (2015) cho hay TDVM là việc cung cấp các khoản vay nhỏ phục

Trang 27

vụ cho các mục đích kinh doanh, sản xuất, các hoạt động tạo ra thu nhập và tạo dựng giá trị tài sản

TDVM có nghĩa là khoản vay nhỏ cho những người cần tiền để tự làm chủ các

dự án tạo ra thu nhập hoặc cho các nhu cầu gia đình khẩn cấp như vấn đề về sức khỏe

và giáo dục Nó có nghĩa là để giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân bằng cách cung cấp cho họ một nhỏ số tiền trong một khoảng thời gian ngắn (Maheswaranathan và Kennedy, 2008)

Qua đây, có thể cho thấy TDVM đã được hầu hết các nhà nghiên cứu đồng thuận rằng TDVM là một dịch vụ của TCVM cung cấp cho những người nghèo và những người không có khả năng tiếp cận nguồn vốn từ các định chế tài chính khác bởi các rào cản về tài sản thế chấp với các khoản vay nhỏ, giúp họ tự tạo việc làm và tạo ra thu nhập (Mohanan, 2005)

Như vậy, thuật ngữ TDVM có thể tạm định nghĩa rằng ―TDVM là việc cung

cấp các khoản cho vay nhỏ đến các đối tượng khách hàng là người nghèo, người có thu nhập thấp giúp họ tạo lập trong kinh doanh, tạo dựng tài sản và gia tăng thu nhập‖

2.1.2 Vai trò của tín dụng vi mô đối với giảm nghèo

Công tác xóa đói giảm nghèo là một trong những chiến lược cấp bách mà toàn

xã hội quan tâm Vì lẽ đó trong năm 2015, chính phủ đã thành lập Ban Đề án TCVM nhằm tăng cường hơn nữa công tác hỗ trợ người lao động nghèo, các hộ nghèo có thể cải thiện cuộc sống, kích thích hộ nghèo gia tăng năng suất lao động, bảo đảm ổn định kinh tế gia đình và gia tăng quyền cho người phụ nữ (Quyết định số 20/2017/QĐ-TTg)

Đầu tiên, bắt đầu từ sự khởi xướng bởi giáo sư Yunus từ những khoản vay rất nhỏ nhưng đã giúp cho hàng ngàn người lao động nghèo có cơ hội mở ra cánh cửa mưu sinh Là các khoản tiền tuy nhỏ nhưng đến với họ lúc đang cần nhất, như một

Trang 28

―phao cứu sinh‖ giúp họ vượt qua khó khăn, trắc trở Ở một số nước trên thế giới như

Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia, Philippines, Bangladesh,…TDVM đã mang đến cho hàng ngàn phụ nữ quyền để khẳng định vị thế của mình trong các hộ gia đình Xuất phát từ các phong tục cổ hủ mà phụ nữ thường làm các công việc nội trợ và phụ thuộc chủ yếu vào nam giới trong gia đình thì TDVM đã tạo dựng cho họ có cơ hội tạo ra nguồn thu nhập góp phần giải quyết khó khăn trong cuộc sống Hoạt động TDVM đã phát triển rộng khắp các quốc gia, số lượng khách hàng đã gia tăng đáng

kể tại các nước Argetina, Colombia, Mexico và các nước Châu Mỹ La tinh (Franco, 2011)

Tại Việt Nam, hoạt động cho vay nhỏ được thực hiện bởi các tổ chức TCVM (MFIs), các tổ chức hoạt động tài chính, các tổ chức phi chính phủ (NGOs) hoặc các

tổ chức xã hội tại các địa phương thuộc khu vực chính thức, bán chính thức và phi chính thức (Nguyễn Kim Anh và ctg, 2011) TDVM là chương trình đã được sử dụng

ở các nước đang phát triển và có hiệu quả cao trong xóa đói giảm nghèo, đặc biệt khu vực Châu Á Thái Bình Dương là nơi có nhiều tổ chức TCVM phát triển và phần lớn tập trung hướng vào phụ nữ ở khu vực nông thôn (Krog, 2000) Hoạt động TDVM góp phần làm tăng thu nhập, làm tăng lợi ích chung của gia đình nhất là trẻ em trong các gia đình nghèo điều đó đã làm cho phúc lợi của toàn xã hội cũng được tăng lên

Thế nhưng, vẫn còn tồn tại một số tranh luận chưa đồng thuận về tính hiệu quả của TDVM đối với giảm nghèo Bateman (2010a) nêu luận điểm sự ―ảo tưởng về xóa đói giảm nghèo‖ của TDVM Ông lập luận rằng đây giống như một trò xổ số và có sự may rủi, những trường hợp vươn lên và thoát được đói nghèo do họ đã và đang làm chủ các doanh nghiệp vi mô và cuộc sống của họ có phần khấm khá hơn Đối với những người nghèo cùng cực xa vắng các tổ chức tín dụng, xa vắng các khu đô thị thì việc tiếp cận được với tín dụng thật khó khăn, nhất là những người nghèo cùng cực thì việc tiếp cận được với các khoản vay vi mô thật không dễ dàng (Tazul, 2007)

Trang 29

Dẫu vậy, đến nay vẫn không thể phủ nhận sự thiếu vắng vai trò của TDVM đối với chiến dịch chống lại đói nghèo, nhất là ở các quốc gia đang phát triển TDVM được xem là phương cách hiệu quả và đáng tin cậy để cung cấp ngày càng nhiều hơn các sản phẩm đến khách hàng là người nghèo, người có thu nhập thấp hoặc các doanh nghiệp siêu nhỏ Sản phẩm của TDVM phân biệt với các sản phẩm tín dụng khác như các khoản vay nhỏ, không cần tài sản bảo đảm và thường linh hoạt, dễ dàng tiếp cận với các đối tượng là người nghèo

2.1.3 Khái quát hoạt động tín dụng vi mô ở các nước trên thế giới

- Hoạt động của mô hình ngân hàng Grameen ở Bangladesh (GB)

Các dịch vụ TCVM được Raiffeisen nghĩ ra và áp dụng đầu tiên vào năm

1860 ở Đức với phương thức cho vay nhỏ dựa trên nguyên tắc giúp đỡ lẫn nhau, tự giám sát và chịu trách nhiệm trong nhóm vay về các khoản vay của mình và hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp Thông qua các hoạt động trong nhóm giúp các thành viên giảm thiểu các khó khăn về vốn bởi các rào cản khi vay vốn từ các tổ chức tài chính có đòi hỏi tài sản thế chấp khi vay Nguồn vốn cho vay được huy động

từ các thành viên trong nhóm nhằm duy trì hoạt động của nhóm, đồng thời góp phần tạo ra nguồn thu nhập cho các thành viên trong nhóm Mô hình này đã phát triển rộng không chỉ trong lĩnh vực nông nghiệp mà được mở rộng trong cộng đồng xã hội

Đến năm 1976, mô hình này tiếp tục được phát triển và đánh dấu sự ra đời của ngân hàng Grameen (GB - ngân hàng làng xã) vào năm 1983 dưới sự khởi xướng của giáo sư Muhammad Yunus và đã có tác động tích cực cho chiến lược xóa đói giảm nghèo ở Bangladesh Với ý tưởng ban đầu cho vay thí điểm với những hộ nông dân nghèo không có tài sản thế chấp được tiếp cận nguồn vốn phục vụ cho sản xuất Nhằm mục đích này, hiệu quả của TDVM mang lại góp phần tích cực đối với sự phát triển kinh tế xã hội chung của các nước bằng cách giảm đói nghèo và giảm bất bình đẳng về thu nhập (Barai và Adhikary, 2013) Điểm khác biệt của ngân hàng này với

Trang 30

các ngân hàng truyền thống đó là, khách hàng chủ yếu là phụ nữ và những người có thu nhập thấp Phương thức hoạt động theo từng nhóm nhỏ là những người sống trong cùng một địa bàn có hoàn cảnh sống gần giống như nhau, với mỗi nhóm thành lập khoảng 5 thành viên và trong nhóm có nhóm trưởng và bầu ra thư ký của nhóm nhằm huy động và duy trì sinh hoạt nhóm, nhằm chia sẻ những thông tin về cách thức hoạt động của nhóm và đại diện cho nhóm tham gia giao dịch với ngân hàng Thành viên trong nhóm cam kết tuân thủ các điều kiện hoạt động của nhóm về việc thực hiện chi trả vốn vay và quy trình vay, các quyền lợi được hưởng trong cùng một nhóm là sự giúp đỡ lẫn nhau sử dụng vốn vay vào các hoạt động sản xuất, góp phần tạo ra thu nhập và nâng cao vị thế cho người phụ nữ (Yunus, 2007) Điều đặc biệt của nhóm hoạt động này là một trong các thành viên trong nhóm không có khả năng chi trả nợ vay thì tất cả các thành viên còn lại trong nhóm sẽ bị từ chối với các khoản vay còn lại Do vậy, tính tuân thủ về điều kiện hoạt động của các thành viên trong nhóm rất cao, trách nhiệm giám sát và tương hỗ lẫn nhau về sử dụng các khoản vay có hiệu quả nhằm cam kết lịch trả nợ đúng hạn không gây ảnh hưởng đến các thành viên khác trong nhóm Mô hình này đã thành công và đã lan tỏa đến hầu hết các quốc gia nhất là các quốc gia đang phát triển

- Hoạt động tín dụng vi mô tại Thái Lan

Tại Thái Lan hệ thống các ngân hàng thương mại thường không đáp ứng các nhu cầu vay vốn của người nghèo nhất là các hộ nghèo vùng nông thôn Lý do mà hộ nghèo bị từ chối bởi hộ nghèo thường hoạt động các dự án có quy mô nhỏ và nhu cầu vay nhỏ nhưng khoản chi phí thu thập thông tin của khách hàng vay lớn hơn phần lợi nhuận mang về, vì vậy họ bị khước từ khả năng truy cập các hệ thống ngân hàng thương mại

Sự thành công của ngân hàng Grameen đã tạo hiệu ứng tích cực đến hoạt động của các tổ chức phi chính phủ tại nơi đây Tại đây, các tổ chức cho vay nhóm được hình thành nhằm cung cấp các khoản vay với lãi suất thấp và chi phí hợp lý cho

Trang 31

khách hàng là người nghèo và nhất là khách hàng là nữ giới Việc hình thành nhóm vay có tính chất tương đồng với nhau về kinh tế, các nhóm từ 20 đến 60 thành viên

và tiếp tục chia thành nhóm nhỏ 5 thành viên Các tổ chức NGO cung cấp khoản vay đến các thành viên trong nhóm trên cơ sở có sự bảo lãnh các thành viên trong nhóm với nhau Giá trị của các khoản vay là 1500bath và thời gian vay thường là 6 tháng Đến chu kỳ vay tiếp theo, mỗi thành viên tiếp tục được vay bằng với khoản vay cũ và được cộng thêm khoản tiết kiệm đã tích lũy được và tối đa quy mô cho mỗi khoản vay là 7500bath Các thành viên trong nhóm cam kết về trách nhiệm về các khoản vay của mình, một trong các thành viên không thực hiện đúng điều kiện cam kết thì

cả nhóm sẽ bị khước từ khả năng tiếp cận tín dụng trong tương lai (Coleman, 1999) Hoạt động cho vay theo nhóm tại Thái Lan mang lại hiệu quả về việc sử dụng vốn vay cho các thành viên trong nhóm bởi sự ràng buộc lẫn nhau, có trách nhiệm tìm kiếm hỗ trợ nhau để tránh các dự án sản xuất kinh doanh thất bại (Besley và Coate, 1995) Vì sự tin tưởng giữa các thành viên trong nhóm có am hiểu biết về cuộc sống của nhau, nên việc giám sát lẫn nhau đã làm giảm tối ưu các khoản chi phí và hình thức cho vay này giảm thiểu về thông tin bất cân xứng xảy ra trong cung cầu thị trường tín dụng (Wydick, 1995)

- Hoạt động tín dụng vi mô tại Ấn Độ

Chính phủ Ấn Độ đặc biệt quan tâm đến TDVM cho hộ nghèo bởi đây là quốc gia có tỷ lệ hộ nghèo đông nhất thế giới Tại đây, phát triển mạnh các nhóm tự giúp nhau thoát nghèo và hình thành nên một hệ thống lớn trong cả nước The self – help group (SHG) là nhóm có 10 đến 20 thành viên và hầu hết là phụ nữ Phương thức hoạt động của SHG cho vay theo nhóm và được tự giám sát bởi các thành viên trong nhóm Đồng thời, tự bản thân các nhóm đi huy động nguồn tài trợ từ các tổ chức ngân hàng thương mại và Chính phủ Họ có mối liên kết với nhiều tổ chức kinh tế xã hội khác nhau nhằm tìm kiếm các nguồn tài trợ cũng như sự hỗ trợ về mặt KHKT ứng dụng vào sản xuất kinh doanh Ngoài việc tổ chức vay vốn các vấn đề về y tế,

Trang 32

giáo dục và tạo việc làm được các thành viên trong nhóm chia sẻ và hỗ trợ lẫn nhau Điều kiện duy trì và phát triển mạnh các nhóm này được Chính phủ quy định ưu tiên các lĩnh vực hoạt động trong nông nghiệp, TCVM, y tế và giáo dục Nguồn chi hỗ trợ chiếm khoảng 10% trong tổng dư nợ từ các ngân hàng thương mại Các khoản chi phí phát sinh được giảm tối thiểu và khả năng tiếp cận vốn vay được hỗ trợ một cách dễ dàng, các thành viên trong nhóm có mối quan hệ hiểu biết lẫn nhau và cùng sống chung với nhau trong một làng, xã Giám sát và giúp đỡ lẫn nhau là phương thức để duy trì hoạt động và phát triển nhóm Do vậy, các nhóm SHG được sự ủng hộ của rất nhiều các tổ chức xã hội và ngày càng phát triển tại quốc gia Ấn Độ

- Hoạt động tín dụng vi mô tại Indonesia

Được chuyển từ ngân hàng hợp tác xã (Cooperative Bank) thành ngân hàng thương mại vào năm 1950 nhằm thực hiện các chương trình hỗ trợ cho phát triển nông nghiệp Bước đầu hoạt động của tổ chức này tập trung cho các dự án nông nghiệp của chính phủ và đại lý cho các chương trình cho vay của chính phủ Tuy nhiên tổ chức này hoạt động được đánh giá là không bền vững Từ đó, bắt đầu từ năm

1984 đơn vị tái cơ cấu theo hướng tiếp cận TCVM thương mại với lãi suất bền vững,

nỗ lực huy động tiết kiệm và gia tăng quản lý hoạt động đã góp phần mang lại hiệu quả sau một năm hoạt động Cho đến năm 2003 ngân hàng Rahyat Indonesia (BRI) niêm yết trở thành ngân hàng vi mô lớn và phát triển bền vững hàng đầu ở Indonesia

và cả trong khu vực với số vốn nhà nước nắm giữ chiếm phần lớn trong tổng quy mô vốn của đơn vị

Cơ chế hoạt động của BRI không hoạt động cho vay theo nhóm như ngân hàng Grameen hay mô hình hoạt động TDVM của Thái Lan và Ấn Độ Các hoạt động của BRI chủ yếu cung cấp sản phẩm vay vi mô đến khách hàng là doanh nghiệp nhỏ, các hoạt động bán lẻ cho người nghèo thông qua các chi nhánh của BRI BRI có mạng lưới hoạt động bao phủ rộng khắp đất nước với gần cả ngàn chi nhánh văn phòng và chi nhánh giao dịch Gần 20 văn phòng giao dịch cấp vùng và hơn năm

Trang 33

ngàn đơn vị BRI khác trong toàn quốc Ngoài hoạt động cho vay vi mô BRI tập trung thu hút tiết kiệm của người lao động và khoản rút vốn là rất linh hoạt nhằm tạo nguồn thu nhập cho các hộ gia đình có thu nhập thấp Các chính sách gửi tiết kiệm phát huy tối ưu với các chương trình tích lũy điểm thưởng, xổ số trúng các giải thưởng, là cách thức để thu hút nguồn vốn từ các khách hàng, vừa tạo thêm nguồn thu cho khách hàng vừa là kênh huy động vốn hữu hiệu Các khoản cho vay vi mô có giá trị

từ 3$ đến gần 5000$, thời gian vay từ 1 tháng đến 36 tháng Định kỳ trả nợ linh hoạt theo tuần, tháng, quý, năm tùy theo sự chọn lựa của khách hàng Với cách thức hoạt động như trên BRI tạo ra mạng lưới phát triển bao phủ rộng khắp cả nước và là ngân hàng thành công nhất trong khu vực về hoạt động tín dụng cho người nghèo

- Hoạt động tín dụng vi mô tại Canada

Canada là một nước phát triển với hệ thống tài chính được thiết lập rất tốt Tại Canada TDVM được cung cấp bởi ba đơn vị đó cung cấp đó là tổ chức tín dụng Vancity Union, Hiệp hội tín dụng Assiniboine và Liên minh tín dụng tương lai (trước đây là Hiệp hội tín dụng FirstSask) Sự phát triển công nghệ đã dẫn tới sự phân khúc thị trường tại đây bởi tính cạnh tranh của các nhà cung cấp dịch vụ Trong bối cảnh

đó, TDVM tại Canada hoạt động khác với các nước đang phát triển (Boamah và

Alam, 2016) Đầu tiên, họ chú trọng phát huy tính tự chủ của người đi vay trong quá trình tạo ra việc làm và giá trị phúc lợi cho họ Thứ hai, họ chú trọng nâng cao vốn

con người và tinh thần doanh nhân, các khoản trách nhiệm nộp thuế, sản xuất cung cấp hàng hóa, dịch vụ phải tuân thủ quy định Tuy nhiên, với những người có thu

nhập thấp thường lại thiếu vốn con người (Bates và Servon, 1998) Do vậy, ngoài vốn

tài chính thì các chương trình TDVM tại Canada chú trọng việc cung cấp các dịch vụ phi tài chính, các dịch vụ phi tài chính như đào tạo tư vấn kỹ thuật đảm bảo sự thành

công cho các doanh nhân vi mô (khách hàng vay vốn của các đơn vị cung cấp

TDVM) Thứ ba, cho vay theo nhóm được áp dụng trong phương thức tiếp cận

TDVM tại Canada Tại đây, để tham gia được nhóm vay này, họ đề cao yếu tố VXH,

Trang 34

họ cho rằng VXH góp phần hình thành các nhóm vay và khả năng tiếp cận được các

khoản vay Thứ tư, các dịch vụ của TDVM tại Canada nhiều hơn ở các nước phát

triển bởi tập hợp được các lợi thế về quy mô trong việc cung cấp các dịch vụ TDVM, các chi phí đầu vào thấp hơn do họ huy động được các nguồn tài trợ trong nước và quốc tế (Chreiner, 2003)

Tại Canada, các dịch vụ phi tài chính chiếm phần quan trọng trong hoạt động TDVM ở Canada Ngoài việc cung cấp các khoản vốn tài chính họ còn cung cấp kỹ năng kinh doanh, các lớp đào tạo bồi dưỡng để phát triển tinh thần tự lực làm chủ của khách hàng vay Tư vấn kỹ thuật, các chương trình hội thảo, dịch vụ chăm sóc được xúc tiến cung cấp cùng với các dịch vụ tài chính Cùng với vốn tài chính và vốn con người giúp các khách hàng của TDVM có nhiều khả năng tạo ra việc làm, nâng cao tính tự chủ và kinh doanh thành công hơn Tại Canada có đến 73% người trả lời nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật và cho vay từ đó thiết lập được các dự án kinh doanh khả thi hơn, 61% người trả lời ngân sách của họ tăng lên, 73% người trả lời họ tự tin hơn trong việc kinh doanh của mình (Boamad và Alam, 2016) Sự sàng lọc khách hàng vay và sự cạnh tranh thị trường tín dụng giúp các đơn vị cung cấp tín dụng tại đây đánh giá tốt khả năng trả nợ của khách hàng thông qua các dự án kinh doanh của họ (Bhatt, Blainer và Tang, 2002)

2.2 Nghèo

2.2.1 Khái niệm

Nghèo: Đói nghèo là một hiện tượng kinh tế xã hội mang tính chất toàn cầu

tồn tại ở hầu hết các quốc gia nhất là các nước đang phát triển NHTG (2011) cho rằng nghèo được chia thành các mức khác nhau đó là nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo có nhu cầu tối thiểu:

+ Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo không

có khả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống: ăn, mặc, ở, đi lại

Trang 35

+ Nghèo tương đối: là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo có mức

sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương đang xét

+ Nghèo có nhu cầu tối thiểu: Đây là tình trạng một bộ phận dân cư có những

đảm bảo tối thiểu để duy trì cuộc sống như đủ ăn, đủ mặc, đủ ở và một số sinh hoạt hàng ngày nhưng ở mức tối thiểu

Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thoả mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện Một cách hiểu khác: Nghèo là một bộ phận dân cư có mức sống dưới ngưỡng quy định của sự nghèo Nhưng ngưỡng nghèo còn phụ thuộc vào đặc điểm cụ thể của từng địa phương, từng thời kỳ

cụ thể hay từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội cụ thể của từng địa phương hay từng quốc gia

- Khái niệm về hộ đói: Hộ đói là một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức

tối thiểu không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống hay nói cách khác đó là một bộ phận dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa, thường xuyên phải vay

nợ và thiếu khả năng trả nợ (TCTK, 2016)

- Khái niệm về hộ nghèo: Hộ nghèo là tình trạng của một số hộ gia đình chỉ

thoả mãn một phần nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện (TCTK, 2016)

Đói nghèo tính theo đầu người là số lượng những cá nhân sống trong các hộ gia đình ở một quốc gia hoặc một khu vực, mà thu nhập hay mức tiêu dùng của họ ở dưới một ngưỡng đói nghèo cụ thể Đói nghèo tính theo đầu người là thước đo chính xác về số lượng người nghèo (UNDP, 2012)

2.2.2 Chuẩn nghèo của một số quốc gia trên thế giới

Nghèo đói là một vấn đề xã hội của hầu hết các nước trên thế giới Tùy từng quốc gia khác nhau qua các giai đoạn khác nhau để quy định mức chuẩn xác định về

Trang 36

hộ gia đình thuộc diện nghèo đói Về cơ bản, vấn đề nghèo đói đang là vấn đề chung toàn cầu các quốc gia đang tập trung đẩy lùi căn bệnh được xem là tồn tại dai dẳng nhiều thập kỷ qua Theo đó, để đánh giá nghèo đói người ta dùng đường nghèo đói (poverty line) và NHTG (2012) đánh giá nghèo đói ở hai loại đường nghèo đói: đường nghèo đói chung và đường nghèo đói về lương thực thực phẩm Từ những năm 80 cho đến nay chuẩn mực để xác định ranh giới giữa người giàu với người nghèo ở các nước đang phát triển và các nước ở khu vực ASEAN được xác định bằng mức chi phí lương thực, thực phẩm cần thiết để duy trì cuộc sống với mức tiêu dùng nhiệt lượng từ 2100 - 2300 calo/ngày/người Quy định mức calo/ngày phổ biến tại một số quốc gia ở khu vực ASEAN như sau: Ở Ấn Độ lấy tiêu chuẩn là 2250 calo/người/ngày Ở Bangladesh lấy tiêu chuẩn là 2100 calo/người/ngày Ở Indonesia: Vào đầu những năm 80 lấy mức tiêu dùng nhiệt lượng là 2100calo/ người/ngày làm mức chuẩn để xác định gianh giới giữa giàu với nghèo Ở Trung Quốc: năm 1990 lấy mức tiêu dùng là 2150calo/người/ngày Các nước công nghiệp phát triển ở Châu Âu:

2570 calo/người/ngày Đường nghèo đói chung gồm nghèo đói về lương thực tính cả các chi phí cho mặt hàng phi lương thực, thực phẩm (01 đô la mỹ/ngày) hoặc mức thu nhập bình quân tính ra tiền là 370USD/người/năm

2.2.3 Chuẩn nghèo của Việt Nam

Tại Việt Nam, căn cứ vào mức sống thực tế của các địa phương, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đã nhiều lần công bố chuẩn nghèo tính theo thu nhập bình quân đầu người cho các giai đoạn cụ thể khác nhau Việc điều chỉnh chuẩn nghèo căn

cứ chủ yếu vào các yếu tố mức tăng thu nhập thực tế của dân cư, đặc biệt là nhóm nghèo trong thời kỳ điều chỉnh và tốc độ lạm phát cùng kỳ Vào những năm 1990, chuẩn nghèo ở Việt Nam được xác định theo mức: những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn miền núi và hải đảo từ 45.000 đồng/người/tháng (540.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực nông thôn đồng bằng những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 70.000

Trang 37

đồng/người/tháng (840.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân đầu người từ 100.000 đồng/người/tháng (1.200.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo

Bảng 2.1 Chuẩn nghèo của Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015

Hộ nghèo 500.000đ/người/tháng 400.000đ/người/tháng

650.000đ/người/tháng

401.000đ đến 520.000đ/người/tháng

Nguồn: Chính phủ (2011) Đến năm 2006 theo Quyết định của Thủ tướng chính phủ số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08/07/2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 –

2010 chuẩn nghèo của cả nước quy định khu vực nông thôn là 200.000đ/người/tháng

và khu vực thành thị từ 260.000đ/người/tháng trở xuống Bước sang giai đoạn

2011-2015 theo Quyết định số 09/2011/QĐ – TTg về việc ban hành chuẩn hộ nghèo giai đoạn 2011- 2015 tại bảng 2.1 Theo Bảng 2.1 trên có thể thấy rằng chuẩn nghèo từ năm 2011 đến năm 2015 có một sự tăng dần của các mức chuẩn nghèo kể từ năm

1990 cho đến nay Chuẩn nghèo đó đã phản ánh sự tăng lên thu nhập bình quân đầu người và đã thể hiện mức giảm thiểu tỷ lệ nghèo đói ở nước ta thời gian qua

2.3 Thu nhập

2.3.1 Khái niệm

Tổng cục Thống kê (2011) định nghĩa rằng: Thu nhập là tổng số tiền mà một

người hay một gia đình kiếm được trong 1 ngày, 1 tuần hay 1 tháng, hay nói cụ thể hơn là tất cả những gì mà người ta thu được khi bỏ sức lao động một cách chính đáng

được gọi là thu nhập Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng được tính bằng cách chia

Trang 38

tổng thu nhập trong năm của hộ dân cư cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng

Thu nhập của hộ là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi

phí sản xuất mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định

Thu nhập của hộ bao gồm thu nhập từ tiền công, tiền lương, thu nhập từ sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (sau khi đã trừ chi phí và thuế sản xuất, thu nhập từ sản xuất ngành nghề phi nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (sau khi đã trừ chi phí và thuế sản xuất), thu khác được tính vào thu nhập như cho biếu, mừng, lãi tiết kiệm…Các khoản thu không tính vào thu nhập gồm rút tiền tiết kiệm, thu nợ, bán tài sản, vay nợ, tạm ứng và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được do liên doanh, liên kết trong sản

xuất kinh doanh …

Samuelson, Milton Spencer, David Begg (trường phái tài chính hiện đại) cho rằng các hình thức của thu nhập bao gồm: người lao động (nhận được tiền lương), chủ sở hữu (địa tô), người có vốn (nhận được lãi suất), người có tài kinh doanh (có được lợi nhuận) Các khoản chênh lệch về lương nhận được do yếu tố về giới tính, nhóm ngành nghề và chất lượng lao động thể hiện qua trình độ và kỹ năng lao động Theo Milton Friedman cho rằng thu nhập của cá nhân được chia thành hai khoản: thu nhập thường xuyên và thu nhập tức thời Jean Baptiste Say khẳng định ba nhân tố tạo nên giá trị đó là: lao động, tư sản và tự nhiên (đất đai) Mỗi nhân tố chỉ đưa lại một lợi ích (giá trị) nhất định Ông cho rằng nên đầu tư thêm tư bản vào sản xuất sẽ làm tăng thêm sản phẩm phù hợp với phần tăng thêm về giá trị Máy móc tham gia vào quá trình sản xuất sẽ tham gia vào tăng giá trị của ba nhân tố trên sẽ tạo ra cho các chủ sở hữu của nó những nguồn thu nhập riêng biệt, lao động tạo ra tiền lương, đất đai tạo ra địa tô, tư bản tạo ra lợi tức Nhà tư bản kinh doanh cũng như những người lao động, thu nhập của họ cũng là tiền lương nhưng đó là loại tiền lương đặc biệt, là phần thưởng đặc biệt cho năng lực kinh doanh và tinh thần làm việc người lao động

Trang 39

2.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập

Nguồn thu nhập của mỗi cá nhân có được do phải bỏ sức lao động tham gia vào các hoạt động lao động Sự đóng góp sức lao động của mỗi cá nhân mang lại nguồn thu nhập cho mỗi cá nhân và gia đình Sự đóng góp ấy mang lại giá trị kinh tế cho gia đình thông qua nguồn thu nhập hàng ngày, hàng tháng hoặc cả một năm cho cả hộ

Do đó, để tạo ra sản phẩm có giá trị đòi hỏi sự kết hợp của nguồn vốn vật chất và nguồn vốn con người (Ismail và Yussof, 2010) Sự kết hợp giữa vốn con người và

vốn vật chất tạo ra giá trị lao động biểu hiện qua giá trị gia tăng về thu nhập nhận được Trong các hoạt động lao động của con người hai yếu tố này không thể tách rời

nhau Vốn vật chất biểu hiện dưới hình thức là vốn tài chính hoặc hiện vật (các nguồn

tư liệu lao động) và con người có được do tự có hoặc đi vay, mượn để thực hiện các

hoạt động lao động hàng ngày Vốn con người là tổng hòa các yếu tố kỹ năng, năng

lực kiến thức và sự kết hợp với các tư liệu sản xuất nhằm tạo ra năng suất lao động của con người, là một yếu tố không thể thiếu trong quá trình sản xuất Trong quá trình sản xuất có sự kết hợp các yếu tố tư liệu sản xuất (tư liệu lao động, đối tượng

lao động) và sức lao động của con người Vốn con người và vốn vật chất đều có vai

trò quan trọng trong quá trình tham gia hoạt động kinh tế xã hội Cả hai đều có thể bị hao mòn theo thời gian, vốn vật chất tăng nhờ đầu tư mua mới các loại thiết bị tư liệu sản xuất, còn vốn con người có thể tăng lên nhờ tích lũy trong quá trình tham gia hoạt động kinh tế xã hội và bị hao mòn nếu không có sự trau dồi, rèn luyện kiến thức kỹ năng, ý chí và nghị lực thì sẽ bị mai một theo thời gian

Người lao động nhận được các khoản thu nhập khác nhau thông qua các hoạt động lao động sản xuất dưới sự tác động của các nguồn vốn khác nhau, nhưng cốt lõi

nhất là vốn con người góp phần tạo ra giá trị năng suất lao động (Đoàn Văn Khải,

2005) Để có giá trị năng suất lao động con người thực hiện thông qua các hoạt động sinh kế hằng ngày, trong đó vốn con người đóng vai trò chủ đạo trong quá trình hình thành các chiến lược, các hoạt động lao động và liên kết các nguồn vốn khác nhằm

Trang 40

tạo ra giá trị thu nhập Theo một nghiên cứu của Thái Phúc Thành (2014) cho rằng,

để tạo ra thu nhập con người vận dụng tổng hòa các kỹ năng (kỹ năng chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng quản lý tài chính, kỹ năng sử dụng vốn, kiến thức và các kỹ năng ứng phó với rủi ro và các yếu tố bên ngoài (yếu tố rủi ro, sốc) nhằm tạo ra giá trị thu nhập cho con người

- Mối quan hệ vốn tài chính với thu nhập

Nguồn vốn được xem là ―đòn bẩy‖ cho quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế, kích thích quá trình mở rộng quy mô sản xuất, thực hiện các dự án kinh tế và góp phần gia tăng lợi ích, tạo đà cho quá trình phát triển kinh tế xã hội Trong nghiên cứu này việc phân tích thu nhập được tính là tổng thu nhập của cả gia đình ở dưới một ngưỡng nhất định nào đó, còn gọi là ngưỡng đói nghèo (UNDP, 2012) Ngưỡng này thường được điều chỉnh theo quy mô và thành phần của hộ gia đình và thường được thể hiện qua các thuật ngữ về tiền (thước đo bằng tiền) Janvry (1995) phát hiện

ra rằng trong thị trường hoạt động hoàn hảo thì các hộ gia đình sẽ giữ lại một phần sản phẩm mà họ đã sản xuất được và phần sức lao động của mình để tiêu dùng sản phẩm Phần dôi thừa của sản phẩm hay lao động hộ gia đình mới bán ra ngoài thị trường và ngược lại hộ gia đình sẽ là người mua ròng hoặc người sử dụng lao động ròng Trong thị trường hoạt động hoàn hảo thì việc quyết định sản xuất hay tiêu dùng phụ thuộc vào mức thu nhập mang về

Tại thị trường hoạt động không hoàn hảo phần quyết định sản xuất và tiêu dùng lại có mối quan hệ lẫn nhau Hộ gia đình quyết định sản xuất hay tiêu dùng phụ thuộc vào chi phí giao dịch và tư liệu sản xuất Trong mô hình hộ gia đình với hoạt động lao động trong nông nghiệp và điều kiện thị trường là hoàn hảo, hộ gia đình nằm trong môi trường đặc trưng có một số sự thất bại về sản phẩm của hộ sản xuất, một số yếu tố sản xuất tồn tại trên thị trường do hạn chế về tính pháp lý Với trường hợp thất bại thị trường thì việc quyết định sản xuất hay tiêu dùng mô hình hộ gia đình phân tích được viết như sau:

Ngày đăng: 17/09/2019, 06:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w