TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ, TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ,ĐẾN PHÁT TRIỂN, KINH TẾ XÃ HỘI, NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP, TỈNH HẢI DƯƠNG
Trang 1NGUYỄN THỊ THU HÀ
TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI: NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TỈNH HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Mã số: 62.34.03.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Bất
HÀ NỘI - 2018
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 2Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng luận án này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Thị Thu Hà
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 3LỜI CAM KẾT
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ
DANH MỤC SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 7
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án 7
1.1.1 Các nghiên cứu lý thuyết tác động của FDI đến phát triển kinh tế xã hội 7
1.1.2 Các nghiên cứu tác động của FDI đến phát triển kinh tế xã hội ở các nước đang phát triển trên thế giới và khu vưc 8
1.1.3 Các nghiên cứu tác động của FDI đến phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam 11
1.2 Đánh giá tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 16
1.2.1 Những vấn đề đã được giải quyết cần kế thừa 16
1.2.2 Khoảng trống của các công trình đã công bố 17
1.2.3 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu đối với đề tài luận án 17
Chương 2: LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỊA PHƯƠNG 18
2.1 Lý thuyết chung về phát triển kinh tế - xã hội địa phương 18
2.1.1 Phát triển kinh tế - xã hội 18
2.1.2 Phát triển kinh tế - xã hội địa phương 24
2.2 Nguyên lý tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát triển kinh tế - xã hội địa phương 34
2.2.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài 34
2.2.2 Tác động của FDI đến phát triển kinh tế xã hội địa phương 37
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 51
Chương 3: THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH HẢI DƯƠNG 52
3.1 Đặc điểm kinh tế-xã hội và đầu tư trực tiếp nước ngoài của tỉnh Hải Dương 52
3.1.1 Đặc điểm kinh tế xã hội tỉnh Hải Dương 52
3.1.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Hải Dương giai đoạn 1997- 2016 57
3.2 Tác động của FDI đến phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hải Dương 71
3.2.1 Các tác động tích cực 71
3.2.2 Các tác động tiêu cực 85
3.2.3 Một số bất cập của FDI 90
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 43.3.1 Lựa chọn mô hình lý thuyết 93
3.3.2 Thủ tục, phương pháp ước lượng chuỗi thời gian bằng mô hình ARDL 94
3.3.3 Mô hình thực nghiệm 96
3.3.4 Kết quả ước lượng 98
3.3.5 Thảo luận kết quả ước lượng các mô hình ARDL 104
3.4 Đánh giá tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hải Dương giai đoạn 1997 - 2016 106
3.4.1 Những tác động tích cực 106
3.4.2 Những tác động cản trở phát triển kinh tế xã hội 108
3.4.3 Nguyên nhân của những tác động cản trở 111
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 113
Chương 4: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC, HẠN CHẾ TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH HẢI DƯƠNG 115
4.1 Dự báo xu hướng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam và tỉnh Hải Dương trong thời gian tới 115
4.2 Quan điểm và định hướng tăng cường tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của FDI đến phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hải Dương 118
4.2.1 Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hải Dương 118
4.2.2 Quan điểm tăng cường tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của FDI của tỉnh Hải Dương 119
4.2.3 Định hướng tăng cường tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của FDI của tỉnh Hải Dương 121
4.3 Giải pháp tăng cường tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hải Dương 123
4.3.1 Nhóm giải pháp về môi trường đầu tư kinh doanh 123
4.3.2 Nhóm giải pháp quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài 127
4.3.3 Nhóm giải pháp mở rộng liên kết giữa các DN trong nước và DN FDI 135
4.4 Điều kiện thực hiện giải pháp 140
4.4.1 Đối với Quốc hội 140
4.4.2 Đối với Chính phủ và các bộ ngành 141
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 142
KẾT LUẬN 143
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 144
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 145
PHỤ LỤC 156
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 5STT Chữ viết tắt Giải nghĩa
Trang 6Bảng 3.1: Quy mô FDI vào tỉnh Hải Dương từ 1997 - 2016 64
Bảng 3.2: Các dự án FDI còn hiệu lực theo địa giới hành chính đến năm 2016 68
Bảng 3.3: FDI vào Hải Dương theo đối tác các DA còn hiệu lực tính năm 2016 69
Bảng 3.4: FDI vào tỉnh Hải Dương theo hình thức đầu tư năm 2016 70
Bảng 3.5: Tỷ trọng vốn FDI/VĐT của tỉnh Hải Dương giai đoạn 1997- 2016 71
Bảng 3.6: Đóng góp của FDI vào GRDP của tỉnh Hải Dương giai đoạn 1997- 2016 73
Bảng 3.7: Đóng góp của FDI cho NS tỉnh Hải Dương giai đoạn 1997 - 2016 74
Bảng 3.8: So sánh vốn FDI với ICOR của HD giai đoạn 1997 - 2016 75
Bảng 3.9: Năng suất LĐ của tỉnh Hải Dương giai đoạn 1997 - 2016 79
Bảng 3.10: So sánh giữa vốn FDI với VĐT cho LĐ của HD giai đoạn 1997 - 2016 80
Bảng 3.11: FDI giải quyết việc làm của tỉnh Hải giai đoạn 1997 - 2016 81
Bảng 3.12: Cơ cấu LĐ theo lĩnh vực trước và sau khi có FDI 82
Bảng 3.13: Chỉ số tăng trưởng vốn FDI và tốc độ tăng DS đô thị giai đoạn 1997-2016 83
Bảng 3.14: Chỉ số HDI của tỉnh Hải Dương và cả nước giai đoạn 2000 - 2016 84
Bảng 3.15: Thu nhập bình quân 1 LĐ trong các DN 87
Bảng 3.16: Thu nhập BQĐN/tháng theo khu vực TT, NT của tỉnh GĐ 1997-2016 87
Bảng 3.17: Kết quả KĐ tính dừng của dữ liệu các chuỗi thời gian 99
Bảng 3.18: Kết quả kiểm định tính dừng của sai phân bậc nhất các biến 99
Bảng 3.19: Độ trễ tối ưu của các biến trong mô hình ARDL 100
Bảng 3.20: Kiểm định đồng liên kết dài hạn các mô hình ARDL 101
Bảng 3.21: Ước lượng hệ số dài hạn và ngắn hạn các mô hình ARDL 101
Bảng 3.22: Kiểm định chẩn đoán các mô hình ARDL 103
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 7Hình 2.1: Tác động cạnh tranh của FDI tới doanh nghiệp trong nước 41
Hình 3.1: Tăng trưởng BQ giai đoạn 2011 - 2016 theo khu vực và ngành kinh tế 53
Hình 3.2: CCKT của tỉnh Hải Dương năm 2010 và năm 2016 53
Hình 3.3: Cơ cấu LĐ của tỉnh Hải Dương năm 2010 và năm 2016 54
Hình 3.4: Một số chỉ tiêu FDI của tỉnh Hải Dương phân theo giai đoạn 66
Hình 3.5: FDI của tỉnh Hải Dương theo lĩnh vực năm 2016 67
Hình 3.6: FDI theo địa giới hành chính đến năm 2016 68
Hình 3.7: FDI vào Hải Dương theo đối tác các DA còn hiệu lực năm 2016 69
Hình 3.8: FDI vào tỉnh Hải Dương theo hình thức đầu tư năm 2016 70
Hình 3.9: Tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư hàng năm của tỉnh Hải Dương 72
Hình 3.10: Tốc độ tăng trưởng của GRDP và FDI vào GRDP của HD giai đoạn 1997 - 2016 73
Hình 3.11: So sánh vốn FDI với ICOR của HD giai đoạn 1997 - 2016 75
Hình 3.12: Tăng trưởng các lĩnh vực trong CCKT của tỉnh giai đoạn 1997 – 2016 76
Hình 3.13: FDI trong GTSXCN của tỉnh giai đoạn 2010-2016 giá SS năm 2010 77
Hình 3.14: Tỷ trọng XNK của FDI tỉnh Hải Dương giai đoạn 1997-2016 77
Hình 3.15: Năng suất LĐ của tỉnh Hải Dương giai đoạn 1997-2016 79
Hình 3.16: So sánh giữa vốn FDI với VĐT cho LĐ của HD giai đoạn 1997 – 2016 80
Hình 3.17: CCLĐ các lĩnh vực trước và sau có FDI của HD giai đoạn 1997-2016 83
Hình 3.18: Tăng trưởng vốn FDI và tốc độ tăng dân số đô thị giai đoạn 1997-2016 84
Hình 3.19: Chỉ số HDI của tỉnh Hải Dương và cả nước giai đoạn 2000 - 2016 85
Hình 3.20: Thu nhập bình quân 1 LĐ trong các DN 87
Hình 3.21: Thu nhập BQĐN/tháng theo khu vực TT, NT của tỉnh GĐ 1997-2016 88
Hình 3.22: Tốc độ tăng thu nhập BQĐN/tháng TT, NT của tỉnh GĐ 1997- 2016 88
Hình 3.23: Nhập khẩu/xuất khẩu (%) 89
Hình 3.24: Quy mô bình quân 1 dự án FDI (triệu USD) 90
Hình 3.25: Quy mô bình quân 1 dự án theo đối tác đầu tư (triệu USD) 91
Hình 4.1: Tỷ lệ số doanh nghiệp sử dụng chứng chỉ có chất lượng 140
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 8Sơ đồ 2.1: Cơ chế tác động trực tiếp của vốn qua kênh đầu tư 37
Sơ đồ 2.2: Cơ chế tác động tràn của FDI đến phát triển kinh tế xã hội 40
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Trong 30 năm qua đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội (KTXH) của Việt Nam Theo số liệu thống kê “tính đến hết năm 2016, cả nước có 22.509 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký gần 293,25 tỷ USD Vốn thực hiện lũy kế đạt hơn 154,54 tỷ USD (bằng gần 53% tổng vốn đăng ký) FDI đóng góp vào GDP liên tục tăng, năm 1992 chiếm 2% GDP, thì đến năm 2015 trên 17%; FDI nộp ngân sách tăng bình quân 24%/ năm; Tỷ trọng xuất khẩu của FDI liên tục tăng năm 2015 chiếm 67,4% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước; FDI đã tạo việc làm cho khoảng 2,8 triệu lao động trực tiếp”
Hải Dương nằm ở “trung tâm tam giác phát triển kinh tế Miền bắc (Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh) Hải Dương được định hướng phát triển vào các dịch vụ mũi nhọn, gồm dịch vụ vận chuyển kho bãi -logistics -viễn thông -công nghệ thông tin, tài chính - ngân hàng, khoa học - công nghệ” Năm 2015, “Hải Dương đứng thứ 11/63 địa phương trên cả nước về thu hút FDI với 299 dự án, tổng vốn đầu tư (VĐT) đăng ký 6,676 tỷ USD Tỷ lệ tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) của FDI trong GRDP tăng liên tục qua các năm, năm 2010: 24,2%, năm 2012: 25,4%, năm 2013: 28,7%, năm 2014: 31,8% và năm 2015 là 35,1%, năm 2015 FDI đóng góp vào ngân sách trên 1700 tỷ VNĐ, bằng 1/3 tổng thu ngân sách của tỉnh Giá trị xuất khẩu của DN FDI tăng theo từng năm và trở thành nguồn xuất khẩu chủ yếu của tỉnh Năm 2005 kim ngạch xuất khẩu của các DN FDI chiếm 48,5%, năm 2015 chiếm 96,2% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của tỉnh, năm 2015 giải quyết việc làm cho trên 142.000 lao động trực tiếp tại các DN FDI”
FDI không chỉ có những đóng góp trực tiếp, mà còn có tác động lan tỏa đến các yếu tố khác của nền kinh tế, như kích thích thu hút nguồn lực đầu tư trong nước, tăng sức cạnh tranh, đổi mới và chuyển giao công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất; phát triển công nghiệp phụ trợ, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho các DN trong nước từng bước tham gia vào chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu
Tuy vậy, theo ý kiến của nhiều chuyên gia cho rằng về cơ cấu, bản chất của FDI trong cả nước nói chung, Hải Dương nói riêng vào lĩnh vực công nghiệp chưa có sự thay đổi nhiều về chất lượng, đóng góp của FDI vào phát triển bền vững ngành công nghiệp còn ở mức khiêm tốn chưa tối đa hóa lợi ích mà FDI có thể mang lại FDI góp phần mở rộng quy mô, đa dạng hóa sản phẩm chủ yếu dựa vào lợi thế so sánh về chi phí lao động giá rẻ và tài nguyên, tập trung ở những khâu có giá trị gia tăng thấp, như
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 10gia công lắp ráp ít có khả năng tạo ra những tác động lan tỏa tích cực về công nghệ Đồng thời FDI đã và đang làm nảy sinh những tác động tiêu cực đến sự phát triển KTXH của cả nước và Hải Dương, như: lấn án, thôn tính các DN trong nước, gây ra tình trạng phát triển mất cân đối về cơ cấu ngành, vùng kinh tế, công nghệ chuyển giao lạc hậu, phân hóa giầu nghèo, ô nhiễm môi trường sinh thái
Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu, sự dịch chuyển FDI quốc tế và trong khu vực diễn ra linh hoạt vào các nước đang phát triển và các nền kinh tế mới nổi liên tục ở mức cao Cạnh tranh trong khu vực và thế giới về thu hút FDI có chất lượng cao ngày càng quyết liệt Đối với Hải Dương trong khuôn khổ cho phép cần phải có cơ chế chính sách, chiến lược và các giải pháp như thế nào với FDI,
để hướng vào phục vụ các mục tiêu phát triển KTXH của tỉnh trong giai đoạn tới Do
đó, Hải Dương cần phải nghiên cứu và phân tích, đánh giá toàn diện một cách khách quan có hệ thống tác động của FDI đến phát triển KTXH của tỉnh trong thời gian qua
để có sự điều chỉnh cơ chế chính sách, chiến lược và các giải pháp phù hợp đối với FDI một cách đồng bộ, nhằm thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI hiệu quả nhất cho mục tiêu đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế của Hải Dương theo hướng phát triển nhanh, bền vững thực hiện thành công chiến lược phát triển KTXH của tỉnh Hải Dương trong tương lai Điều đó, đòi hỏi phải có công trình nghiên cứu có
hệ thống về tác động của FDI đến phát triển KTXH của tỉnh Hải Dương
Vì vậy tác giả lựa chọn đề tài: “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến
cấp bách cả về lý luận và thực tiễn đang đặt ra đối với FDI của tỉnh Hải Dương trong
xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống, luận giải những vấn đề lý luận về bản chất, đặc điểm, cơ chế và sự tác động của FDI đến phát triển KTXH địa phương
- Phân tích đánh giá thực trạng, đồng thời kiểm định tác động của FDI đến các chỉ tiêu phát triển KTXH của tỉnh Hải Dương giai đoạn 1997 - 2016
- Đề xuất các giải pháp tăng cường tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của FDI đến phát triển KTXH của Hải Dương đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 112.2 Câu hỏi nghiên cứu
đánh giá như thế nào?
trong giai đoạn từ 1997 - 2016 như thế nào?
đến năm 2030 và tác động của FDI đến các chỉ tiêu phát triển KTXH của tỉnh thời gian qua, Hải Dương có nên tiếp tục thu hút FDI hay không? Nếu có thì mức độ thu hút cần hướng tập trung vào ngành nào, khu vực nào trong tỉnh?
tiêu cực của FDI đến phát triển KTXH của tỉnh Hải Dương trong thời gian tới?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Lý luận và thực tiễn về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến sự phát triển KTXH địa phương là đối tượng nghiên cứu của Luận án
3.2 Phạm vi nghiên cứu
phát triển KTXH được thu thập của tỉnh Hải Dương
tỉnh Hải Dương giai đoạn từ năm 1997 - 2016, các giải pháp đề xuất được áp dụng đến năm 2025 tầm nhìn đến năm 2030
cũng như mỗi địa phương bao gồm nhiều chỉ tiêu khác nhau (cả chỉ tiêu tổng hợp và các chỉ tiêu chuyên sâu) Để xác định các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển KTXH của địa phương trong nghiên cứu của luận án, tác giả dựa theo cách tiếp cận có tính phổ biến phản ánh trình độ phát triển KTXH của mỗi quốc gia cũng như mỗi địa phương và thường được
sử dụng để so sánh trình độ phát triển KTXH giữa các quốc gia cũng như địa phương trong một quốc gia trong một thời kỳ nhất định Do vậy giới hạn phạm vi nghiên cứu về nội dung tác động của FDI tác giả lựa chọn 9 chỉ tiêu đó là: tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP), chỉ số phát triển con người (HDI), CCKT, đô thị hóa, CNSX, hiệu quả vốn đầu
tư xã hội, độ mở thương mại, việc làm và môi trường
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 124 Phương pháp nghiên cứu
Luận án hệ thống, luận giải lý luận về phát triển KTXH địa phương, những vấn đề lý luận về bản chất, đặc điểm, vai trò, cơ chế và sự tác động của FDI đến phát triển KTXH địa phương trong hội nhập KTQT về các chỉ tiêu: TTKT, phát triển con người (HDI), chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đô thị hóa, CNSX, hiệu quả vốn đầu tư xã hội, xuất nhập khẩu, việc làm, môi trường Quy trình và phương pháp thu thập, xử lý
số liệu thực tiễn về FDI và các chỉ tiêu phát triển KTXH tỉnh Hải Dương của đề tài luận án được thực hiện cụ thể như sau:
4.1 Phương pháp thu thập số liệu
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài luận án sử dụng số liệu thứ cấp Để thu thập
số liệu thứ cấp tác giả tiến hành thu thập và tổng hợp số liệu về FDI, GRDP, thu ngân sách, lao động, thu nhập, chỉ số phát triển con người (HDI), cơ cấu kinh tế, dân
số đô thị, VĐT cho lao động, hiệu quả VĐT xã hội, xuất nhập khẩu và môi trường tại các sở, ban ngành, KCN của tỉnh Hải Dương trong giai đoạn từ năm 1997-2016 Nguồn gốc các tài liệu được chú thích rõ ràng
4.2 Phương pháp phân tích số liệu
4.2.1 Phương pháp phân tích định tính
Từ số liệu thực tiễn về các chỉ tiêu phát triển KTXH của tỉnh Hải Dương trong
giai đoạn 1997- 2016, tác giả sử dụng các phương pháp sau để tiến hành phân tích:
(1) Phương pháp thống kê mô tả
Là nghiên cứu mô tả mối quan hệ giữa FDI với các chỉ tiêu phát triển KTXH bằng các bảng thống kê, các loại đồ thị toán học số liệu thu thập được Phương pháp này được dùng để tính, đánh giá các kết quả thu thập từ các số liệu thứ cấp
(2) Phương pháp phân tích so sánh, tổng hợp
Xử lý số liệu tính toán ra các chỉ tiêu số tương đối cũng như số tuyệt đối nhằm chỉ ra xu hướng biến động của hiện tượng nghiên cứu Phương pháp này dùng để so sánh, đánh giá thực trạng mối quan hệ giữa FDI với các chỉ tiêu phát triển KTXH của Hải Dương giai đoạn từ năm 1997 - 2016
4.2.2 Phương pháp phân tích định lượng
Tác giả đã sử dụng mô hình tự hồi quy phân phối trễ (ARDL), phương pháp
ARDL theo Pesasan và cộng sự (2001) có nhiều ưu điểm, “Thứ nhất, trong trường
hợp số lượng mẫu nhỏ, mô hình ARDL là cách tiếp cận có ý nghĩa thống kê hơn để
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 13kiểm định tính đồng liên kết; Thứ hai, phương pháp ARDL không ước tính hệ phương trình, thay vào đó, chỉ ước tính một phương trình duy nhất; Thứ ba, các kỹ thuật đồng
liên kết khác yêu cầu các biến hồi quy được đưa vào liên kết có độ trễ như nhau thì trong cách tiếp cận ARDL, các biến hồi quy có thể dung nạp các độ trễ tối ưu khác
nhau; Thứ tư, nếu dữ liệu không đảm bảo về thuộc tính nghiệm đơn vị hay tính dừng,
mức liên kết I(1) hoặc I(0) thì áp dụng thủ tục ARDL là thích hợp nhất cho nghiên cứu thực nghiệm” Vì vậy, để lượng hóa tác động của FDI đến các chỉ tiêu phát triển KTXH của HD giai đoạn từ năm 1997 - 2016, tác giả sử dụng mô hình ARDL
Trên cơ sở số liệu thực tế được thu thập về các chỉ tiêu KTXH của Hải Dương
từ năm 1997 - 2016, để kiểm định tác động của FDI đến các chỉ tiêu KTXH của tỉnh, với công cụ kỹ thuật hỗ trợ phân tích là phần mềm Eview 9, kiểm định tác động của FDI đến 9 tiêu chí đo lường: (1) Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP), (2) Vốn đầu tư trong tỉnh, (3) Độ mở thương mại, (4) Việc làm, (5) Hiệu quả sử dụng VĐT toàn xã hội, (6) Vốn đầu tư cho lao động, (7) Dân số đô thị, (8) Tỷ trọng lĩnh vực CN&XD, (9) Tỷ trọng lĩnh vực TM&DV
5 Những điểm mới và đóng góp của luận án
Luận án luận giải cơ sở lý thuyết về cơ chế tác động của FDI đến phát triển KTXH địa phương, theo đó tác động của FDI có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp Trên
cơ sở đó luận giải tác động của FDI đến 9 chỉ tiêu đánh giá sự phát triển KTXH của địa phương được lựa chọn là: TTKT, hiệu quả VĐT xã hội, CCKT, độ mở thương mại, CNSX, việc làm, đô thị, phát triển con người và môi trường, đồng thời phân tích một số vấn đề xã hội phát sinh khi có sự hiện diện của FDI như: những tiêu cực về lao động, chuẩn mực đạo đức, bất bình đẳng XH và hạn chế của FDI là chuyển giá
với một số chỉ tiêu đo lường sự phát triển KTXH của tỉnh HD giai đoạn 1997 - 2016 bằng các bảng thống kê, các loại đồ thị toán học các số liệu thu thập được Thông qua đó bước đầu có những nhận định sơ bộ về tác động của FDI đến sự phát triển KTXH của tỉnh Hải Dương giai đoạn 1997 - 2016 Đồng thời luận án tổng hợp, hệ thống các chính sách về đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam và của tỉnh Hải Dương giai đoạn 1997- 2016 theo tiến trình lịch sử Đặc biệt làm rõ một số nội dung
cơ bản của các chính sách về đầu tư trong đó có FDI của Hải Dương, qua đó thấy được sự vận dụng các chính sách về đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam vào điều kiện cụ thể của tỉnh Hải Dương
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 14Thứ hai, Luận án áp dụng mô hình tự hồi quy phân phối trễ (ARDL) để kiểm định sự tác động của FDI đến phát triển KTXH tỉnh Hải Dương giai đoạn 1997 -
2016 Kết quả kiểm định cho thấy, FDI đã có tác động tích cực trực tiếp hoặc gián tiếp đến độ mở thương mại, mở rộng xuất nhập khẩu, thúc đẩy quá trình đô thị hóa
cả trong ngắn hạn và dài hạn, nâng cao trình độ kỹ thuật sản xuất trong ngắn hạn Tuy nhiên FDI đã có tác động lan tỏa tiêu cực đến hiệu quả sử dụng VĐT trong dài hạn, phát triển CN&XD cả trong ngắn hạn và dài hạn, được biểu hiện khi có sự hiện diện của FDI đã lấn át đầu tư phát triển các DN nội địa, có thể là thu hẹp quy
mô sản xuất và lĩnh vực kinh doanh, phá sản, thôn tính các DN nội địa, qua đó trong dài hạn sẽ tác động làm giảm việc làm cho người lao động Từ kết quả nghiên cứu thực tiễn luận án cho rằng để tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động
tiêu cực của FDI đến phát triển KTXH tỉnh Hải Dương trong thời gian tới, trước
hết, đối với các dự án FDI đang hoạt động cần tăng cường công tác quản lý nhà
nước và khuyến khích mở rộng liên kết với các DN nội địa, thứ hai, đối với việc
thu hút FDI cần có chọn lọc theo địa bàn, lĩnh vực, ngành nghề, trình độ kỹ thuật, đối tác đầu tư gắn với chất lượng và hiệu quả, tăng cường sự liên kết giữa DN FDI
và DN trong nước, thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ
- Những đề xuất mới về giải pháp
Luận án đã đề xuất 3 nhóm giải pháp để tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI đến phát triển KTXH của tỉnh HD đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030 Đó là nhóm giải pháp về môi trường đầu tư KD gồm 5 giải pháp
cụ thể, nhóm giải pháp quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài gồm 5 giải pháp cụ thể
và nhóm giải pháp mở rộng liên kết giữa các DN trong nước và DN FDI gồm 2 giải pháp cụ thể Đồng thời, luận án phân tích một số điều kiện cơ bản thuộc về Quốc hội, Chính phủ và các bộ ngành để thực hiện các giải pháp đề xuất
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục Luận
án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài
Chương 2: Lý luận về tác động của FDI đến phát triển KTXH địa phương Chương 3: Thực trạng tác động của FDI đến phát triển KTXH tỉnh Hải Dương Chương 4: Giải pháp tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực của FDI đến phát triển KTXH tỉnh Hải Dương
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 15Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
1.1.1 Các nghiên cứu lý thuyết tác động của FDI đến phát triển kinh tế xã hội
- Kojima Kiyoshi (1973), “A Macroeconomic Approach to Foreign Direct
Investment” Hitotsubas Journal of Econometrics, 14 (1), pp 1-21 Học thuyết đã phân
chia FDI thành hai hình thức: FDI định hướng thương mại (Nhật Bản) và FDI chống lại thương mại (Mỹ) Ông cho rằng FDI sẽ thúc đẩy việc nâng cấp cơ cấu công nghiệp của cả hai bên và do đó thúc đẩy thương mại giữa hai nước Đồng thời đã chỉ ra mối liên kết giữa FDI và sự TTKT, sự vận động của FDI có thể dẫn đến sự mở rộng sản xuất đến điểm cân bằng mới, tuy nhiên FDI, thông qua việc đào tạo và CGCN, có ảnh hưởng từ từ đối với việc tăng cường NLCT của ngành công nghiệp đặc thù tại quốc gia
sở tại và cuối cùng là nâng cao khả năng sản xuất của ngành CN đó Ngoài ra, hình thức FDI theo xu hướng thương mại (Nhật Bản) và ngược lại mục đích thương mại (Mỹ) có thể cùng xuất hiện trong một quốc gia, hoặc trong cùng một ngành
- Borensztein, E., De Gregorio, J., and Lee, J.W (1998), “How Does Foreign
Direct Investment Affect Economic Growth?”, Journal of International Economics
các nhân tố cơ bản ở các nước đang phát triển Kết quả phân tích tác giả đề xuất mô hình thực nghiệm: g = c0 + c1FDI + c2FDI*H + c3H + c4Y0 +c5A Trong đó: g là TTKT, H là nguồn vốn nhân lực, Y0 là GDP trên đầu người, A là một tập hợp các biến khác ảnh hưởng đến TTKT (gồm các biến kiểm soát và chính sách thường là các yếu
tố quyết định tăng trưởng trong các nghiên cứu xuyên quốc gia, như chi tiêu của chính phủ, chi phí không chính thức, thước đo bất ổn chính trị, lạm phát và thước đo chất lượng của các tổ chức) Biến FDI tính bằng tỷ lệ so với GDP
- Đào Thị Bích Thủy (2012), “Tác động của FDI đến TTKT trong mô hình nền
kinh tế đang phát triển”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và KD số 28,tr193‐199
Nghiên cứu phân tích mô hình sự vận hành của nền kinh tế bao gồm hai khu vực SX là trong nước và nước ngoài với hàm SX Cobb-Douglas, đã cho thấy tầm quan trọng của vốn nhân lực như một nhân tố quyết định sự thành công của FDI đến TTKT Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra cách thức phân bổ đầu tư sẽ đem lại những kết quả khác nhau Việc lựa chọn cách thức phân bổ tùy thuộc vào mục tiêu Nếu mục tiêu của nền kinh tế
là tăng trưởng cao thì nên tập trung nguồn lực đầu tư cho vốn nhân lực Còn nếu mục tiêu là tạo nhiều việc làm cho LĐ phổ thông thì nên tập trung nguồn lực đầu tư cho
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 16vốn vật chất Tuy nhiên, khuôn khổ mô hình nghiên cứu còn hạn chế chưa tính đến tiến trình công nghệ và kênh CGCN thông qua FDI
1.1.2 Các nghiên cứu tác động của FDI đến phát triển kinh tế xã hội ở các nước đang phát triển trên thế giới và khu vưc
- Masia Tshepo (2014), “The impact of foreign direct investment on Economic
ảnh hưởng của FDI đến PTKT và việc làm ở Nam Phi trong giai đoạn từ năm 1990 –
2013, sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị để kiểm định tính dừng của chuỗi thời gian, kiểm định đồng tích hợp Johasen để kiểm định quan hệ ổn định lâu dài giữa các biến, kiểm định quan hệ nhân quả để thiết lập quan hệ nhân quả giữa các biến, đã chỉ ra việc làm và GDP đứng yên tại bước đầu tiên, trong khi FDI đứng yên ở bước tiếp theo Kiểm định đồng tích hợp khẳng định tồn tại quan hệ nhân quả của FDI đến GDP và của FDI đến việc làm giai đoạn 1990-2013 Nam Phi
- Dr Sauwaluck Koojaroenprasit (2012), “The Impact of Foreign Direct
của FDI đến TTKT ở Hàn Quốc giai đoạn 1980-2009, sử dụng phương trình kinh tế lượng: g = a+b1I+b2FDI+b3L+b4X+b5H+c1FDI*I+c2FDI*H+c3FDI*X+e Trong đó: g
= tốc độ tăng trưởng GDP thực tế; I = vốn đầu tư trong nước; L = việc làm; X = xuất khẩu; H = nguồn nhân lực Nghiên cứu đã chỉ ra ảnh hưởng tích cực và mạnh mẽ của FDI đối với TTKT của Hàn Quốc, đối với nguồn nhân lực, việc làm và xuất khẩu, trong khi đầu tư trong nước tác động không đáng kể đến TTKT của Hàn Quốc Mối tương quan của FDI - nguồn nhân lực và FDI - xuất khẩu chỉ ra rằng sự chuyển dịch công nghệ và kinh nghiệm ảnh hưởng xấu đến TTKT của Hàn Quốc
- Basem Mohammed Louzi & Abeer Abadi (2011), “The Impact of Foreign
TTKT của Jordan, dựa trên dữ liệu thu thập từ năm 1990 đến 2009 Sử dụng hàm SX: GDP = B0FDIB1DINB2TPB3U, trong đó: GDP ở dạng log, FDI theo %, DIN đầu tư trong nước (ở dạng log), TP là tự do hóa TM (ở dạng log), U là sai số ngẫu nhiên, cho thấy FDI đồng thời ảnh hưởng đến TTKT, đầu tư trong nước và tự do hóa TM
- Rui Moura và Rosa Forte (2010), “The Effects of Foreign Diect Investment on
the Host Country Economic Growth - Theory and Empirical Evidence”, Research
KTXH của nước tiếp nhận đầu tư của 08 nước phát triển và 41 nước đang phát triển Kết quả cho thấy, FDI vừa có ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến phát triển KTXH của
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 17nước tiếp nhận đầu tư và ảnh hưởng của FDI đến TTKT phụ thuộc nhiều vào các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa của nước nhận đầu tư Do vậy nhà nước có một vai trò rất quan trọng trong việc sử dụng FDI Nhà nước cần có những chính sách đối với FDI phù hợp tạo ra những điều kiện cần thiết để phát huy tối đa hiệu quả của FDI Mặt khác cần phải có sự chọn lựa các DAĐT có hiệu quả tốt nhất
- OECD (2008), “The social impact of foreign direct investment” Bài viết đã
đánh giá vai trò của FDI đối với kinh tế thế giới ngày càng tăng lên nhanh chóng Tổng nguồn vốn của FDI từ 8% tổng GDP nền kinh tế thế giới năm 1990 đã tăng lên 26% trong năm 2006 Từ giữa những năm 1990, FDI trở thành nguồn chính, chủ yếu đầu tư vào các nước đang phát triển FDI tạo ra việc làm, mức thu nhập cao cho người LĐ trong nước, chuyển giao công nghệ hiện đại cho DN nước sở tại, đẩy mạnh cạnh tranh của các DN trong nước để phát triển Tại các nước đang phát triển, DN FDI trả lương cho người LĐ cao hơn so với các DN trong nước và tăng lương bình quân cho người LĐ trong ngắn hạn Điều này đã có hiệu ứng lan tỏa đến các DN trong nước Những lợi ích tiềm ẩn của FDI còn phụ thuộc vào lợi ích của DN và công nhân trong nước được hưởng
từ dòng vốn này Để FDI thúc đẩy PTKT tốt nhất, chính phủ cần phải hạn chế các thủ tục pháp lý rườm rà cản trở FDI, chú trọng đến chất lượng các dự án FDI bên cạnh việc đẩy mạnh thu hút FDI, đẩy mạnh công tác giám sát, kiểm tra
- OECD-ILO Conference On Corporate Social Responsibility, Report (2008),
“The Impact of Foreign Direct Investment On Wages And Working Conditions”,
LĐ và chỉ ra các tập đoàn đa quốc gia (MNEs) có xu hướng tăng tiền lương cho LĐ trong các DNFDI, kéo theo sự tăng tiền lương của LĐ nội địa tham gia vào chuỗi cung ứng của các DNFDI Được thể hiện rõ nét ở các nước đang phát triển so với các nước phát triển, là do khoảng cách về công nghệ giữa DNFDI và DN trong nước lớn
- Joseph Magnus Frimpong and Eric Fosu Oteng-Abayie (2006), “Bivariate causality analysis between FDI inflows and economic growth in Ghana” Bài viết chỉ ra quan hệ nhân quả giữa FDI và TTKT ở Ghana, với mô hình kinh tế lượng:
Trong đó: lnGDPGR và lnFDI tương ứng là logarit tự nhiên của GDP và FDI k
là thứ tự lag tối ưu, d là tối đa hội nhập của các biến trong các hệ thống và ε1 và ε2 là sai
số Dữ liệu thu thập được phân thành 3 trường hợp: (1) Giai đoạn từ năm 1970-2002; (2) Giai đoạn từ năm 1970-1983 sự bất ổn chính trị và kinh tế suy thoái; (3) Giai đoạn từ
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 18năm 1984-2002 sự ổn định chính trị và kinh tế Kết quả cho thấy FDI không có quan hệ với TTKT cho hai giai đoạn 1970 - 2002 và giai đoạn 1970 - 1983, giai đoạn 1984 -
2002, FDI tác động đến tăng trưởng GDP của Ghana, nhưng tăng trưởng GDP không có tác động thu hút FDI Do đó để thu hút FDI là chất lượng nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng,
tổ chức, quản trị, khuôn khổ pháp lý, CNTT, hệ thống thuế của Ghana
- Sarumi Adewumi (2006), The Impact of FDI on Growth in Developing
Jonkoping, phân tích tác động của FDI đến TTKT ở các nước châu Phi bằng phương pháp phân tích đồ họa và hồi quy, sử dụng mô hình: Ŷt = α + α1Ŷt-1 + α2Ŷt-2 + β1fdit-1 + β2fdit-2 + εt Trong đó: fdi = FDI/GDP Dữ liệu của 11 quốc gia Châu Phi, chuỗi thời gian từ năm 1970-2003 Kết quả chỉ ra đóng góp của FDI đến TTKT là tích cực ở hầu hết các quốc gia, tuy nhiên tác động của FDI đến TTKT không đáng kể
- Har Wai Mun, Teo Kai Lin và Yee Kar Man (2006), “FDI and Economic
Growth Relationship: An Empirical Study on Malaysia”, Nghiên cứu Kinh doanh
Malaysia giai đoạn 1970-2005, sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian và mô hình ước lượng OLS, đã chỉ ra khi tăng FDI 1% sẽ dẫn đến sự gia tăng tốc độ tăng trưởng GDP là 0,046072 Hơn nữa, khi FDI tăng 1%, cũng tăng trưởng GNI là 0,044877%
- Judith M Dean, Mary E Lovely và Hua Wang (2004), “Foreign Direct Investment and Pollution Havens: Evaluating the Evidence from China” Tác giả nghiên cứu quan hệ giữa FDI với ô nhiễm môi trường, được nghiên cứu thực nghiệm tại Trung Quốc, sử dụng mô hình lý thuyết ước tính logarit có điều kiện và mô hình logarit đa thức lồng nhau, để phân tích tác động của FDI đến môi trường, dữ liệu được thu thập từ 2886 dự án SX liên doanh trong thời gian 1993-1996 của tất cả các nước,
đã chỉ ra, VĐT từ các nước đang phát triển ảnh hưởng lớn đến ô nhiễm môi trường, tuy nhiên VĐT từ các nước phát triển không ảnh hưởng đến ô nhiễm môi trường;
- Imad A Moosa (2002), “Foreign Direct Investment, Theory, Evidence and
Practice”, Palgrave, New York, tác giả đã chỉ ra “FDI di chuyển vào các ngành góp
phần phát triển các ngành có lợi thế so sánh, có lợi nhuận cao và các ngành có khả năng cạnh tranh cao, là cơ sở để nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực phát triển trong nước” Giai đoạn đầu của quá trình CNH, các nước đang phát triển thường thu hút FDI vào các ngành sử dụng nhiều LĐ Song, những năm gần đây khu vực CN&DV có xu hướng thu hút FDI nhiều hơn khu vực nông nghiệp, góp phần chuyển dịch CCKT theo hướng phù hợp hơn trong quá trình CNH, đồng thời,
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 19chuyển dịch CCLĐ từ khu vực nông nghiệp sang khu vực CN&DV Tuy nhiên, nếu chính phủ các nước không có định hướng tốt dễ gây mất cân đối về ngành kinh tế;
- Vaitsos, C.V (1976), “Employment Problems and Transnational Enterprises
in Developing Countries: Distortions and Inequality”, International Labour Office,
ảnh hưởng về việc làm của MNCs bằng cách tham chiếu đến bốn đặc điểm: quy mô, sự tập trung, yếu tố nước ngoài, và sự chuyển dịch ngôn ngữ và đưa ra bằng chứng để chỉ
ra rằng toàn bộ những ảnh hưởng về việc làm của MNCs ở nước sở tại là tương đối nhỏ;
1.1.3 Các nghiên cứu tác động của FDI đến phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam
- Hồ Đắc Nghĩa (2014), “Mô hình phân tích mối quan hệ của FDI và tăng
mô hình véc tơ tự hồi quy (VAR) để phân tích thực nghiệm quan hệ của FDI và TTKT Việt Nam giai đoạn 1990-2012, lựa chọn các biến đại diện trong mô hình: GDP, FDI, KAP (vốn trong nước), OPEN (độ mở nền kinh tế), EM (lao động), HK (số lượng học sinh tốt nghiệp THPT), LIB (khủng hoảng tài chính) Sử dụng phương pháp bán tham
số của Levinsohn-Petrin đánh giá ảnh hưởng của FDI đến các DN trong nước Sử dụng
mô hình hồi quy GMM trên số liệu mảng Tuy nhiên, chưa xem xét mặt tiêu cực của FDI mà chỉ tập trung chủ yếu vào các tác động tích cực của FDI Hơn nữa chưa nghiên đầy đủ các tác động của FDI tới các yếu tố KTXH khác
- Nguyễn Minh Tiến (2014), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh
hàm SX Cobb-Douglas và các nghiên cứu mở rộng thể hiện nhân tố FDI trong lý thuyết gốc về TTKT Mô hình phân tích và xử lý dữ liệu thực hiện dựa trên cơ sở hồi quy theo phương pháp GMM sai phân Đồng thời khai thác phương pháp hồi quy các vector đồng liên kết dài hạn và đặc tính năng động trong ngắn hạn của PMG và có kết quả là “FDI có tác động dương đến TTKT ở cấp độ riêng vùng, liên kết vùng và tổng hợp vùng ở Việt Nam, thể hiện rõ tính hội tụ và đặc trưng của tăng trưởng Việt Nam ớ các cấp không gian nghiên cứu khác nhau”
- Nguyễn Thị Thoa (2014), “Ảnh hưởng của FDI tới đô thị hoá theo hướng
Luận án đề xuất các chỉ tiêu đánh giá tác động của FDI tới ĐTH theo hướng bền vững, sử dụng phương pháp hệ thống, phân tích thống kê thông qua các chỉ tiêu để đánh giá ảnh hưởng của FDI tới ĐTH của thành phố Đà Nẵng
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 20- Hà Quang Tiến (2014), “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát
phân tích, đánh giá ảnh hưởng của FDI đến phát triển KTXH của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 1997- 2014, qua các chỉ tiêu “tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, công nghệ sản xuất, kết cấu hạ tầng, mở rộng kinh tế đối ngoại, thu ngân sách, việc làm, môi trường” Tuy nhiên, Luận án mới chỉ dừng lại trên góc độ phân tích thống kê mô tả định tính, chưa đi sâu phân tích định lượng tác động của FDI đến phát triển KTXH của tỉnh
- Nguyễn Thị Thanh Huyền (2013), “Tác động của hội nhập quốc tế lên bất
học KTQD Sau khi lượng hóa tác động của HNQT đến bất bình đẳng nông thôn - thành thị tại Việt Nam Luận án đánh giá xuất khẩu/GDP càng tăng càng giảm chênh lệch thu nhập giữa hai khu vực này Nhưng FDI/GDP càng tăng thì càng tăng chênh lêch thu nhập nông thôn - thành thị tại Việt Nam, nguyên nhân, do FDI chủ yếu đầu tư vào khu vực thành thị có cơ sở hạ tầng tốt hơn khu vực nông thôn
- Trần Quang Thắng (2012), “Những vấn đề kinh tế xã hội nảy sinh trong đầu tư
tiến sĩ, Trường Đại học KTQD Luận án phân tích những vấn đề KTXH nảy sinh do FDI của một số nước châu Á đó là: “(i) Tạo sức ép cạnh tranh với DN trong nước; (ii) làm mất cân đối ngành, vùng kinh tế; (iii) xuất hiện tình trạng chuyển giá; (iv) chuyển giao công nghệ lạc hậu; (v) gây ô nhiễm môi trường sinh thái; (vi) những bất cập về điều kiện sinh hoạt và làm việc cho người LĐ; (vii) Tranh chấp giữa người sử dụng
LĐ và người LĐ; (viii) nguy cơ thâm hụt thương mại”
- Nguyễn Thị Thìn (2012), “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với
KHXH Việt Nam Luận án sử dụng phương pháp thống kê, mô hình hóa, phân tích đại lượng, so sánh - phân tích - tổng hợp để làm rõ tác động của FDI đến NLCT của các nước đang phát triển, chưa phân tích định lượng ảnh hưởng của FDI đến NLCT;
- Nguyễn Tiến Long (2011), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài với việc chuyển dịch
nghiên cứu tương quan giữa FDI với chuyển dịch CCKT của địa phương, sử dụng phương pháp định lượng xác định tác động của FDI tới chuyển dịch CCKT của tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 1993 - 2009 Các biến trong hàm đánh giá mức độ chuyển dịch CCKT (hệ số cosφ) được chọn thông qua phân tích tương quan Tuy nhiên nghiên cứu không xem xét tác động tổng thể phát triển KTXH của Thái Nguyên như: NLCT, khoa học công nghệ, thu ngân sách, việc làm, HDI, môi trường, xuất khẩu
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 21- Nguyễn Tấn Vinh (2011), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với quá trình
ĐHQG TP HCM Luận án sử dụng phương pháp thống kê mô tả để đánh giá vai trò và những hạn chế của FDI với chuyển dịch CCKT - xã hội, sử dụng hồi quy đa biến để đánh giá ảnh hưởng của FDI đến chuyển dịch CCKT ngành Tác giả sử dụng mô hình TTKT của Robert Solow và sử dụng hàm SX, Cobb - Douglas Yt= Ktα (AtLt)1 - α (0 <α
<1), để phát triển sang dạng mô hình kinh tế lượng cho TTKT ngành Tuy nhiên chưa xem xét tác động tổng thể đến phát triển KTXH của TP HCM như: NLCT, khoa học công nghệ, thu ngân sách, việc làm, HDI, môi trường, xuất khẩu
- Bùi Thúy Vân (2011), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) với việc chuyển
học KTQD, tác giả phân tích quan hệ của FDI với xuất nhập khẩu và chỉ ra, “nếu như FDI có mục tiêu tiêu thụ ở nước nhận FDI thì không ảnh hưởng đến tăng trưởng xuất khẩu của nước nhận FDI, còn nếu FDI có mục tiêu SX hàng hóa phục vụ nhu cầu của nước xuất khẩu FDI, thì sẽ có có tác động tăng trưởng xuất khẩu của nước nhận FDI, đồng thời còn có tác động đến chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu theo hướng gia tăng
tỷ trọng của hàng xuất khẩu đã qua chế biến”
- Nguyễn Trọng Hải (2008), “Vận dụng một số phương pháp thống kê phân tích
Trường Đại học KTQD Luận án sử dụng phương pháp đồ thị không gian ba chiều để phân tích nhân tố, phương pháp chỉ số mở rộng để phân tích hiệu quả kinh tế, đề xuất một số mô hình phân tích tương quan giữa FDI với một số nhân tố như: hiệu quả sử dụng LĐ, giá trị gia tăng của FDI, thu ngân sách, giá trị XK
- Nguyễn Thị Tuệ Anh (2006), “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới
tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam”, Dự án SIDA: “Nâng cao năng lực nghiên cứu chính
Khoa học kỹ thuật Tác giả sử dụng mô hình lý thuyết là mô hình tăng trưởng nội sinh
để đánh giá tác động của FDI đến một số ngành kinh tế ở Việt Nam, đã chỉ ra tác động tràn của FDI và những đề xuất để xuất hiện tác động tràn của FDI và nâng cao khả năng hấp thụ của các DN trong nước Tuy nhiên, những vấn đề về FDI đến phát triển KTXH chưa được nghiên cứu đầy đủ, đặc biệt không đề cập cụ thể đối với tỉnh Hải Dương
- Vương Toàn Thu Thủy (2016), “Đánh giá tác động của FDI và việc gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) đến TTKT thành phố Hải Phòng giai đoạn 1989-
2015”, Tạp chí KHCN Hàng hải, số 47 , 8/2016, tr 59-63 Tác giả sử dụng mô hình với
02 biến giải thích FDI và WTO cùng biến phụ thuộc GDP và chỉ ra xét trong giai đoạn
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 221989-2015, FDI vào Hải Phòng là nhân tố chính làm gia tăng tốc độ tăng trưởng GDP, việc gia nhập WTO (2007-2015) chưa thúc đẩy TTKT của Hải Phòng do thời điểm Việt Nam gia nhập trùng với thời điểm khủng hoảng tài chính toàn cầu Do đó, cần có nhiều thời gian hơn trong việc đánh giá hiệu quả của gia nhập WTO đối với Việt Nam
- Hồ Thị Thanh Mai và Phạm Thị Thanh Thủy (2016), “Mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế và FDI tại Khánh Hòa” Tạp chí Khoa học Trường ĐH Cần Thơ, số 44
dụng phân tích định tính kết hợp định lượng, bằng mô hình tự hồi quy vector Var, kiểm định nhân quả Granger thông qua 5 biến số kinh tế làm đại diện là tổng sản phẩm trên địa bàn Khánh Hòa, FDI, lao động, nguồn nhân lực và độ mở thương mại, nghiên cứu chỉ ra giữa TTKT và FDI ở Khánh Hòa có quan hệ nhân quả một chiều, TTKT có tác động tích cực đến thu hút FDI, tuy vậy chưa tìm thấy sự ảnh hưởng của FDI đến TTKT, kết quả cũng chỉ ra nguồn nhân lực có tác động thuận chiều đến GRDP và FDI, chưa phát hiện độ mở thương mại ảnh hưởng đến TTKT và FDI
- Đinh Đức Trường (2015), “Quản lý môi trường tại các doanh nghiệp đầu tư
nước ngoài (FDI) tại Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Đại học QGHN, Tập 31, số 5
lượng vốn và dự án FDI nhiều nhất tại Việt Nam gồm: Hà Nội, Vĩnh Phúc, TPHCM, Đồng Nai và Bình Dương để đánh giá các khía cạnh quản lý môi trường DN như nhận thức các vấn đề môi trường, mức độ tuân thủ qui định môi trường, công nghệ xử lý chất thải, chi phí môi trường và các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi môi trường DN”
Từ đó, đề xuất các số giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý môi trường khu vực FDI
- Nguyễn Văn Duy, Đào Trung Kiên và Bùi Quang Tuyến (2014), “Ảnh hưởng của FDI đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 1990-2013 bằng mô hình
ARDL”, Tạp chí KH&ĐT, số 01 tr59‐67 “Mô hình ARDL được sử dụng để đánh giá ảnh hưởng giữa FDI và GDP có tính đến các tác động trễ và chỉ ra FDI có ảnh hưởng tích cực tới TTKT với độ trễ 1 năm Vốn FDI thực hiện giải thích gần 16% sự thay đổi
về GDP” Tuy nhiên bị giới hạn trong một phạm vi nhất định: Thứ nhất, không có cơ
cở dữ liệu về FDI và GDP của từng địa phương nên chưa thể có kết luận về chất lượng
FDI cho từng địa phương; Thứ hai, chưa khai thác được cơ sở dữ liệu về VĐT của DN
FDI cho các ngành có hàm lượng công nghệ khác nhau Vì vậy chưa đưa ra được các
so sánh về chất lượng FDI tới TTKT, đây là những vấn đề nghiên cứu còn bỏ ngỏ cần tiếp tục có những nghiên cứu tiếp theo khai thác được những cơ sở dữ liệu để nghiên cứu sâu hơn về tác động của FDI tới nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt của Hải Dương
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 23- Nguyễn Thị Tuệ Anh và Vũ Thị Như Hoa (2014), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài
và năng lực cạnh tranh của Việt Nam”, Tạp chí KHXH Việt Nam, số 3(76), tr 25-37 Tác
giả phân tích đóng góp của FDI vào NLCT quốc gia qua chỉ tiêu tổng hợp là chỉ tiêu năng suất lao động và một số chỉ tiêu trung gian là đầu tư và xuất nhập khẩu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế Ngoài ra, FDI còn đóng góp gián tiếp thông qua tác động làm tăng các yếu tố thành phần, làm tăng hiệu quả của nền kinh tế như CGCN, tăng công nghệ sẵn có trong nước và thúc đẩy đổi mới sáng tạo
- Phạm Văn Quyết (2011), “Đô thị hóa, công nghiệp hóa ở Việt Nam: Vai trò
của yếu tố đầu tư nước ngoài”, Tạp chí Xã hội học, số 3(115), tr 18-27 Tác giả đã
chỉ ra giữa FDI và quá trình đô thị hóa, CNH luôn có mối quan hệ chặt chẽ, tác động tương hỗ nhau Đó là mối quan hệ thuận chiều theo hướng cùng tăng và cùng giảm: ở khu vực nào, ở tỉnh nào FDI cao, khả năng thu hút nguồn vốn này tốt thì tốc độ đô thị hóa, CNH cũng tăng nhanh tương ứng và ngược lại
Phạm Thị Phương Loan (2011), “FDI tác động như thế nào đến thu nhập và
phát triển con người tại Việt Nam”, Tạp chí KH&ƯD, số 14-15, tr57-59, nghiên cứu:
“(1) tác động của FDI đối với TTKT với chỉ số đại diện là thu nhập BQ đầu người; (2) tác động của FDI đối với an sinh XH với chỉ số đại diện HDI”, sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính hai phương trình với FDI là biến độc lập với biến phụ thuộc tương ứng
là lngperca (thu nhập BQ đầu người được lấy logarit) và HDI, đó là: Phương trình: lngpercat = α + γ1 FDIt + εt và HDIt = β + γ2 FDIt + υt, đã chỉ ra FDI đóng góp vào sự thay đổi của thu nhập BQ đầu người nhiều hơn vào phát triển con người Tuy nhiên, bài viết chưa đề cập đến độ trễ của biến độc lập FDI đối với các biến phụ thuộc
- Sajid Anwar, Lan Phi Nguyen (2011), Foreign direct investment and export spillovers: Evidence from Vietnam International Business Review 20(2011) 177-193 Nghiên cứu FDI và thương mại ở Việt Nam bằng phương pháp định lượng từ dữ liệu của 19 đối tác thương mại lớn của Việt Nam giai đoạn 1990-2007, thực nghiệm bổ sung mối liên kết giữa FDI và xuất khẩu; FDI và nhập khẩu, tác giả kiểm tra FDI và lan truyền xuất khẩu ở Việt Nam có thể đem lại lợi ích DN trong nước thông qua việc hình thành các liên kết giữa các công ty, xem xét tác động của liên kết ngang và dọc giữa DN trong nước và nước ngoài về (i) các quyết định của DN trong nước để XK và (ii) tỷ trọng XK của DN trong nước Phân tích cho thấy mối liên kết ngang đã dẫn đến hiệu ứng lan tỏa xuất khẩu góp phần định hướng xuất khẩu tại Việt Nam
- Trần Minh Tuấn (2010), “Tác động của FDI đối với nền kinh tế Việt Nam
trong những năm qua”, Tạp chí QLKT, số 35 (8+9/2010), tr 50-60, chỉ ra 5 tác động
tích cực của FDI đến PTKT của Việt Nam “(1) FDI đóng góp tăng truởng, chuyển dịch
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 24CCKT, (2) FDI tăng VĐT xã hội mở rộng nguồn thu cho NS, (3) FDI tăng cường năng lực SX CN và kim ngạch XK, (4) FDI giải quyết việc làm và chất lượng nguồn nhân lực và (5) FDI thúc đẩy CGCN” và 5 tác động xấu của FDI là: “(1) Hiệu quả đầu tư và chất lượng tăng trưởng thấp, (2) FDI có thể tạo ra sự thâm hụt TM, (3) FDI có thể gây
ra sự mất cân đối cơ cấu nền kinh tế, (4) FDI đối với CGCN và nâng cao năng lực lao động không như mong đợi và (5) FDI có thể gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường”
1.2 Đánh giá tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
1.2.1 Những vấn đề đã được giải quyết cần kế thừa
Qua các công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề “Tác động của FDI đến phát
luận án, luận văn, bài báo khoa học mà nghiên cứu sinh tiếp cận được cho thấy:
Thứ nhất, những hướng nghiên cứu chính của vấn đề đã được thực hiện
Các công trình nghiên cứu đã tập trung vào nghiên cứu tác động của FDI đến phát triển KTXH của nước tiếp nhận đầu tư qua các chỉ tiêu cụ thể khác nhau như: TTKT/cơ cấu kinh tế/đô thị hoá/NLCT/chỉ số phát triển con người, kết quả nghiên cứu cho thấy đều có sự tác động nhất định của FDI đến phát triển KTXH của nước tiếp nhận đầu tư, mặc dù ở những mức độ khác nhau của mỗi quốc gia, do vậy chính phủ các nước tiếp nhận FDI cần hoàn thiện các vấn đề về cơ chế, chính sách quản lý có hiệu quả FDI, như: nâng cao chất lượng NNL, cơ sở hạ tầng, tổ chức, quản trị, khuôn khổ pháp lý, công nghệ thông tin, hệ thống thuế
Thứ hai, những cơ sở lý luận chính đã được áp dụng để nghiên cứu vấn đề
Cơ sở lý luận chính các công trình nghiên cứu đã được áp dụng để nghiên cứu là: lý thuyết về FDI, lý thuyết về PTKT, lý thuyết về TTKT, lý thuyết về phát triển KTXH, lý thuyết CCKT, lý thuyết đô thị hoá, lý thuyết năng lực cạnh tranh
Thứ ba, những kết quả nghiên cứu chính của các công trình nghiên cứu
Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về tác động của FDI đến phát triển KTXH của nước tiếp nhận đầu tư Nghiên cứu thực nghiệm tác động của FDI đến một số chỉ tiêu phát triển KTXH của quốc gia/vùng (địa phương) như: tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch CCKT, đô thị hoá, NLCT, CGCN, việc làm
Thứ tư, những phương pháp nghiên cứu đã được áp dụng
Các công trình nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau kết hợp giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng, để xem xét sự tác động
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 25của FDI đến phát triển KTXH của một địa phương hoặc của cả nước như: phân tích
mô tả thống kê, chỉ số thống kê và sử dụng một số mô hình kinh tế lượng để đánh giá tác động của FDI như mô hình véc tơ tự hồi quy (VAR), hệ số cosφ, hàm sản xuất Cobb - Douglas Yt= Ktα (AtLt)1 - α (0 <α <1), mô hình hồi quy tuyến tính
1.2.2 Khoảng trống của các công trình đã công bố
Qua nghiên cứu tổng quan các công trình có liên quan (bao gồm trong và ngoài nước) đến đề tài luận án được phân tích ở trên, tác giả nhận thấy: Khi có sự hiện diện
của FDI ở một quốc gia/vùng (địa phương) thì tác động (tích cực, tiêu cực) đến các chỉ
tiêu phát triển KTXH như thế nào? (gồm cả định tính và định lượng), thì chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu đồng thời và toàn diện về cơ sở lý luận và thực tiễn Đây là khoảng trống về mặt lý luận và thực tiễn mà các công trình nghiên cứu đã công
bố chưa đề cập đến mà NCS tiếp cận được, do vậy cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện Đặc biệt được nghiên cứu cụ thể vào đặc thù riêng tại tỉnh Hải Dương nhằm góp phần thúc đẩy phát triển KTXH của tỉnh Hải Dương trong hội nhập KTQT
Từ khoảng trống đó trong các nghiên cứu đã công bố, trong nghiên cứu của mình, bên cạnh việc phân tích tác động tích cực của FDI, tác giả phân tích, làm rõ các tác động tiêu cực của FDI đến sự phát triển KTXH của tỉnh HD nhằm đề xuất các giải pháp pháp tăng cường tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực
Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài: “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến
phân tích định tính và phân tích định lượng bằng mô hình ARDL, để đánh giá tác động
của FDI đến phát triển KTXH tỉnh Hải Dương
1.2.3 Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu đối với đề tài luận án
(luận án giới hạn nội dung phân tích theo các chỉ tiêu: TTKT, chỉ số phát triển con người (HDI), cơ cấu kinh tế, đô thị hóa, công nghệ sản xuất, hiệu quả sử dụng vốn đầu
tư xã hội, độ mở thương mại, việc làm và môi trường)
định tác động của FDI đến các chỉ tiêu phát triển KTXH của Hải Dương Nhằm rút ra những đánh giá sát thực về thực tiễn tác động của FDI đến phát triển KTXH của Hải Dương giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2016
của FDI đến phát triển KTXH của tỉnh đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 26Chương 2: LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỊA PHƯƠNG 2.1 Lý thuyết chung về phát triển kinh tế - xã hội địa phương
2.1.1 Phát triển kinh tế - xã hội
2.1.1.1 Một số khái niệm
a) Khái niệm phát triển
Từ điển Bách khoa Việt Nam (2003, tập 3, tr.424) viết: “Phát triển là phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới Phát triển là một thuộc tính phổ biến của vật chất Phạm trù phát triển thể hiện mọt tính chất chung của tất cả những biến đổi ấy .Nguồn gốc của phát triển là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập Phương thức phát triển là chuyển hóa những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất, và ngược lại theo kiểu nhẩy vọt, chiều hướng phát triển là sự vận động xoáy trôn ốc” Garry and Asokan (từ http://en.wikipedia.org/wiki/ Social_development_theory) “Phát triển có thể được định nghĩa theo cách thức áp dụng cho tất cả các xã hội ở tất cả các giai đoạn lịch sử như một chuyển động tăng dần lên đến cấp độ cao hơn của hiệu quả, chất lượng, năng suất; gia tăng tính phức tạp, sự hiểu biết, sự sáng tạo, năng lực làm chủ, những nhu cầu và thành tựu”
Từ các quan điểm trên về phát triển, Tác giả rút ra quan điểm về phát triển là
“Phát triển là một quá trình không giới hạn theo đó sự vật hiện tượng được tăng lên về
quy mô và nâng cao về chất lượng Trong đó con người là nguồn lực quyết định và nhân
tố quyết định của phát triển, con người ngày càng nhận thức rõ các tiềm năng, sáng kiến sáng tạo của mình và tận dụng các cơ hội để hiện thực hóa các tiềm năng, sáng kiến đó Các thể chế, các tổ chức xã hội phát triển theo hướng tiến bộ, nhằm khai thác giải phóng tiềm năng và sáng kiến sáng tạo của con người và hướng các nguồn lực xã
thay đổi xã hội, cần được xem xét cả về chiều “rộng”, là sự mở rộng về quy mô, tăng về
số lượng và phát triển chiều “sâu” là chất lượng được tăng lên, hiệu quả tăng cao
b) Khái niệm phát triển kinh tế
Từ điển Bách khoa Việt Nam (2003, tập 3, tr.425): “PTKT là quá trình biến đổi nền kinh tế quốc dân bằng một sự gia tăng SX và nâng cao mức sống của dân cư Đối với các nước đang phát triển thì PTKT là quá trình nền kinh tế chậm phát triển thoát khỏi lạc hậu, đói nghèo, thực hiện CNH, HĐH là sự TTKT gắn liền với sự thay đổi cơ cấu kinh tế, thể chế kinh tế, văn hóa, pháp luật, thậm chí về kỹ năng quản lý, phong cách
và tập tục” TTKT là cơ sở và điều kiện của PTKT TTKT đó là tăng thu nhập BQ đầu
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 27người, là thước đo về lượng của sự phát triển PTKT không chỉ là sự gia tăng thu nhập bình quân đầu người mà còn bao hàm các khía cạnh về VH-XH-CT PTKT được đánh giá theo ba nội dung cơ bản là: “(1) Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), là chỉ tiêu phản ánh về lượng của sự tăng trưởng và PTKT của một nước, (2) Mức độ thỏa mãn các nhu cầu XH, tức là các chỉ tiêu PT về xã hội, phản ánh
về chất của sự PT, như tuổi thọ con người, lượng calo theo đầu người, tỷ lệ người biết chữ…(3) Cơ cấu, tính chất và sự thay đổi của nền kinh tế” Phạm Ngọc Linh (2011, tr.22) viết: “PTKT được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế PTKT được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và chất, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề về kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia”
Vậy theo tác giả “PTKT là sự tăng lên về quy mô SX, tăng thêm giá trị vật chất,
dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của XH, tạo ra một CCKT hợp lý có khả năng khai thác có hiệu quả các nguồn lực trong nước và ngoài nước, gia tăng hiệu quả và NLCT, gia tăng năng lực nội sinh của nền kinh tế, nâng cao chất lượng NNL, làm thay đổi CCXH theo xu hướng tiến bộ, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân”.
c) Khái niệm phát triển xã hội
Nhiều tác giả đã đưa ra các quan niệm về phát triển xã hội, Bilance (1997) cho rằng phát triển xã hội là thúc đẩy một cách bền vững xã hội xứng đáng với phẩm giá con người bằng cách trao quyền cho các nhóm yếu thế, phụ nữ và nam giới, để họ có thể tìm được cách thức riêng cải thiện cộng đồng của họ về địa vị kinh tế và để họ có được vị trí xứng đáng trong xã hội Hoàng Chí Bảo và cộng sự (2010, tr.35) chỉ ra “(1) Mục đích PTXH là vấn đề nâng cao mức sống và chất lượng sống của con người (cá nhân và cộng đồng), thúc đẩy tiến bộ XH; (2) Phương tiện PTXH là phát triển số lượng và chất lượng các nguồn lực, các điều kiện, nhằm đáp ứng tốt hơn các vấn đề XH; (3) Phương thức PT là sự giải quyết kịp thời, đúng đắn, hợp lý các vấn đề nảy sinh trong đời sống của cộng đồng dân cư, từ chính trị, KT, văn hóa đến môi trường” Hoặc Lưu Văn An (2014, tr.14) cho rằng “Phát triển xã hội là kết quả mà xã hội đạt được khi tạo dựng được đầy đủ khả năng cần thiết trong tổ chức các nguồn nhân lực, tài lực và vật lực để khắc phục các thách thức và tranh thủ các cơ hội mà cuộc sống đem lại trong suốt tiến trình lịch sử”
Hội nghị thượng đỉnh về PTXH tại Copenhagen (Đan Mạch) năm 1995, xác định PTXH gồm ba tiêu chí cơ bản: xoá đói giảm nghèo; việc làm và công bằng XH Chương trình PT Liên Hợp quốc (UNDP), đưa ra ba chỉ số PTXH, chỉ số phát triển con người (HDI); chỉ số người nghèo (HPI); chỉ số phát triển giới (GDI) Quan điểm của World Bank (web.worldbank.org) cho rằng: “Phát triển xã hội là đáp ứng những
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 28nhu cầu xã hội”, là “Đổi mới tư duy về các chính sách và đầu tư công nhằm đạt được các kết quả phát triển công bằng và bền vững hơn về mặt xã hội” World Bank đã đề xuất một “khung phát triển toàn diện” về PTXH, trong đó xác định rõ nội hàm PTXH, gồm: Giảm nghèo; ĐT vào con người, y tế, giáo dục; tăng trưởng KT; di sản VH và PTXH; minh bạch và chống tham nhũng; bình đẳng và phát triển; công lý và phát triển; tiếng nói và tri thức trong PTXH; quyền tiếp cận tài sản; bảo vệ phụ nữ và những người dễ bị tổn thương; xung đột và phát triển
Như vậy có thể hiểu tổng quát: “PT XH là quá trình phát triển mỗi cá nhân con
người trong sự tự do và bình đẳng về quyền và cơ hội, con người được sống trong những điều kiện ngày càng đầy đủ về vật chất và tinh thần trong môi trường tự nhiên
và XH trong sạch, lành mạnh, an toàn; làm cho con người có đủ sức khỏe, tri thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để sống, lao động và hoàn thiện mình, xứng đáng là “Con người”, trong các quá trình lịch sử của một quốc gia, dân tộc và của toàn nhân loại”.
2.1.1.2 Quan điểm về phát triển kinh tế - xã hội
Bản chất của PTKT là sự thay đổi về lượng và chất, là quá trình hoàn thiện về KTXH của mỗi quốc gia Tức là PTKT là sự tăng trưởng của nền kinh tế và công bằng trong XH của mỗi quốc gia Tuy nhiên trong lịch sử PTKTXH của thế giới có các quan điểm khác nhau về học thuyết PTKTXH
quan điểm này là David Ricardo nhà KT học cổ điển Anh Ông cho rằng: “TTKT được đảm bảo bằng bất bình đẳng trong phân phối và làm gia tăng sự bất bình đẳng này Với lý
do chỉ tầng lớp có thu nhập cao mới có khả năng tích luỹ là nguồn gốc đảm bảo đầu tư cho tăng trưởng nên bất kỳ sự phân phối nào làm giảm mức độ tập trung thu nhập đều kìm hãm sự TTKT” Quan điểm này đã được chứng minh trong lịch sử PT của CNTB Quá trình tích tụ và tập trung TB cùng với sự bần cùng hoá người lao động trong XH, GCTS
đã thực hiện thành công cuộc CMCN Ông còn nhấn mạnh TTKT được đảm bảo bởi mức
độ tiết kiệm cao của GCTS, vì vậy ông phản đối việc phân phối lại thu nhập không có lợi cho GCTS C.Mác cũng có quan điểm tương tự về sự PT của CNTB, tuy nhiên ông chỉ ra quá trình PT của CNTB dẫn đến sự gia tăng bất bình đẳng trong XH trở thành lực cản đối quá trình PT KTXH trong các giai đoạn kế tiếp
cho rằng công bằng XH là yếu tố quan trọng để thúc đẩy quá trình TTKT của mỗi quốc gia Alesina and Rodrick (1994), Benhabib và Rustichini (1996), chỉ ra hệ quả của bất bình đẳng xã hội dẫn đến sự bất ổn định chính trị và xã hội, có tác động tiêu
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 29cực đến TTKT: “Bất bình đẳng làm gia tăng xung đột xã hội, hệ quả là làm cho quyền sở hữu tài sản kém đảm bảo và làm giảm tăng trưởng Hơn nữa, sự tham gia của người nghèo vào tội phạm và những hành động chống xã hội là biểu hiện của lãng phí trực tiếp nguồn lực”
khảng định: “Trình độ PTKT là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội,
nhưng những mục tiêu xã hội lại là mục đích của hoạt động kinh tế” ĐH VII (1991),
“…Kết hợp hài hòa giữa PTKT với phát triển văn hoá, xã hội, giữa TTKT với tiến bộ
xã hội, giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân” Đại hội VIII (1996)
“TTKT phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển Công bằng xã hội phải thể hiện ở cả khâu phân phối tư liệu sản xuất lẫn khâu phân phối kết quả SX, ở tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình” Đại hội IX (2001) "TTKT gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển" Như vậy quan điểm của Việt Nam là thống nhất với quan điểm thứ hai, đồng thời khảng định "TTKT gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển", là
một định hướng đúng đắn đảm bảo cho sự phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam
2.1.1.3 Các mô hình phát triển kinh tế - xã hội
Từ các quan điểm trên về PTKT-XH cho thấy, TTKT bản thân nó không tạo ra công bằng XH, mà còn làm cho bất bình đẳng XH ngày càng tăng Tuy nhiên, nếu mang lại nhiều công bằng hơn thì làm giảm động lực của TTKT Ngược lại, nếu không khắc phục sự bất bình đẳng XH thì XH sẽ mất ổn định và như vậy tăng trưởng không bền vững Do vậy việc lựa chọn giữa TTKT và công bằng XH là vấn đề phức tạp và khó khăn, song trong PTKT-XH hiện nay của các nước trên thế giới, có 3 mô hình PTKT-
XH để từng quốc gia lựa chọn Đó là mô hình “Công bằng trước-Tăng trưởng sau”;
“Tăng trưởng trước-Công bằng sau” và mô hình “Tăng trưởng đi đôi với Công bằng”
a) Mô hình “Công bằng trước - Tăng trưởng sau”
Đây là mô hình của các nước theo khuynh hướng XHCN Mô hình này nhấn mạnh và đặt công bằng lên trên, đi trước và là cơ sở vì cho rằng mục tiêu của PT là nâng cao đời sống dân cư, xóa bỏ khoảng cách giàu nghèo Để thực hiện mô hình này, các quốc gia đã thực hiện cuộc cách mạng tịch thu ruộng đất của địa chủ, xóa bỏ giai cấp tư sản Cải tạo QHSX XHCN để thúc đẩy LLSX phát triển Chính sách phân phối theo lao động và chế độ phúc lợi rộng rãi đã được thiết lập Tuy nhiên, cơ chế phân phối được thực hiện vẫn là chủ nghĩa bình quân, không dựa trên trình độ PTKT Kết
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 30quả bước đầu đạt được là các chỉ tiêu tiến bộ XH khá tốt, nhưng tốc độ TTKT thấp vì
cơ chế phân phối bình quân đã làm hạn chế động lực của tăng trưởng “Công bằng” được thực hiện nhưng không thúc đẩy được tăng trưởng bền vững, thu nhập và mức sống của dân cư thấp (Đinh Phi Hổ, 2006) Xét theo quan điểm triết học thì mô hình này hàm chứa nhiều yếu tố phi duy vật Vận dụng mô hình này khi điều kiện vật chất, trình độ văn minh chưa đủ độ chín muồi, có thể tạo nguy cơ hủy hoại động lực phát triển, kiềm chế, đẩy lùi sự phát triển của lịch sử (Nguyễn Công Nghiệp, 2006) Lịch sử
đã chứng minh công bằng trong điều kiện như vậy chỉ là sự công bằng trong nghèo khổ và mong manh đã cản trở quá trình tăng trưởng và PTKT, tạo ra sự bất công ngày càng lớn giữa người LĐ và bộ máy quyền lực nhà nước và dẫn đến mất ổn định chính trị Do vậy các quốc gia PT theo mô hình này đã chuyển sang nền KT thị trường, sự tăng trưởng và bình đẳng có các quan điểm tiếp cận khác nhau
b) Mô hình “Tăng trưởng trước - Công bằng sau”
Kuznets (1955), nhà kinh tế học người Mỹ, đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm của một số nước và đưa mô hình dạng chữ U ngược, tức là các nước đang PT thì tình trạng bất bình đẳng ở mức độ cao hơn các nước PT Nói cách khác, “bất bình đẳng sẽ tăng ở giai đoạn ban đầu, sau khi đạt đỉnh cao thì bất bình đẳng sẽ giảm khi lợi ích của sự tăng trưởng được lan tỏa rộng hơn” Arthur Lewis (1950) (trích dẫn từ Phạm Ngọc Linh, 2011), đã xây dựng mô hình PTKT ở đó nguồn LĐ dư thừa Theo
mô hình này, bất bình đẳng XH sẽ giảm dần cùng với sự PTKT Theo Lewis, “bất bình đẳng không chỉ là kết quả tất yếu của tăng trưởng kinh tế mà đồng thời còn là nguyên nhân của tăng trưởng Bởi lẽ phân phối có lợi cho những người có thu nhập cao sẽ tạo mức tiết kiệm cao” Tuy nhiên, ông không coi bất bình đẳng trong thu nhập là vĩnh viễn, mà chỉ trong giai đoạn đầu của sự PT, khi LĐ dư thừa chưa được chuyển hết sang khu vực CN&DV, trở thành nguồn lực khan hiếm của SX và nhu cầu LĐ ngày càng tăng đòi hỏi tăng lương thực tế ngoài mức sử dụng cận biên Chính việc tăng lương này sẽ dẫn tới giảm bất bình đẳng và nghèo khổ Như vậy, bất bình đẳng vừa là kết quả của TTKT, vừa là điều kiện để tăng trưởng “Bất bình đẳng là điều kiện để người giàu tăng tích lũy, tăng đầu tư, do đó sẽ thúc đẩy tăng trưởng Các cố gắng nóng vội để phân phối lại thu nhập sẽ dẫn đến nguy cơ bóp nghẹt tăng trưởng KT” Mô hình này được nhiều nước đang PT áp dụng trong nhiều thập kỷ Tuy vậy, vẫn còn một số
hạn chế Thứ nhất, dựa trên giả thuyết của mô hình tăng trưởng KT cổ điển theo đó tăng trưởng là hàm số của hai yếu tố vốn, LĐ, chỉ giải thích được 10% sự TTKT Thứ
hai , chưa có cơ sở để khảng định tiết kiệm được dùng để đầu tư Thứ ba, việc sử dụng
hết lượng LĐ dư thừa có gắn liền với quá trình TTKT hay không?
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 31c) Mô hình “Tăng trưởng đi đôi với Công bằng”
Trong thực tế PTKT-XH của các nước trong những thập kỷ qua cho thấy, những hạn chế của việc coi trọng tăng trưởng KT và ngược lại, coi trọng công bằng
XH Vậy, để vừa có tăng trưởng KT và công bằng XH Có hai cách làm:
trong những năm 70 Nhà nước tập trung việc cung ứng các dịch vụ, cùng với sự TTKT và tạo điều kiện để dân chúng được tham gia đầy đủ vào HTKT Bởi vì (1) Thị trường không thể điều tiết hợp lý lợi ích do TTKT đạt được, nhất là giai đoạn đầu của sự PT, (2) Trình độ giáo dục và y tế của đại bộ phận dân cư làm giảm khả năng tham gia vào nền KT với tư cách là người LĐ và người tiêu dùng Để thực hiện được chiến lược này, phải có nguồn tài chính lớn và phải xây dựng mạng lưới để cung cấp các dịch vụ cho người nghèo Tuy nhiên có hạn chế đó là, Thứ nhất, giai đoạn đầu của sự PTKT, lợi ích từ tăng trưởng còn nhỏ không đủ nguồn lực để tài trợ cho chiến lược này Thứ hai, chưa có cơ sở đảm bảo sự tài trợ đó thì mọi người LĐ được tham gia đầy đủ vào hệ thống KT Thứ ba, về cơ bản chỉ là chương trình hành động XH, không phải là cơ chế tương tác thực sự giữa TTKT và công bằng XH
đảm bảo các dịch vụ công, gắn liền với tăng năng lực SX và sức mua của dân chúng
Để thực hiện được hướng đi này, NH thế giới (WB), đề xuất 07 công cụ chính sách có thể được áp dụng là “(1) Các giải pháp tạo ra sự biến đổi cả LĐ và vốn, khuyến khích
sử dụng LĐ lành nghề, (2) Phân phối lại một cách năng động tài sản bằng cách định hướng đầu tư vào các lĩnh vực mà những người nghèo có thể là sở hữu tài sản như đất đai hoặc cửa hiệu nhỏ, (3) Mở rộng giáo dục để cải thiện kĩ năng lành nghề, cách tiếp cận với nền kinh tế hiện đại, (4) Chế độ thuế tiến bộ, (5) Cung cấp rộng rãi các mặt hàng tiêu dùng như lương thực, thực phẩm thiết yếu cho người nghèo, (6) Can thiệp vào thị trường hàng hoá để giúp đỡ người SX và tiêu thụ nghèo, (7) Phát triển công nghiệp nhằm giúp cho những người có thu nhập thấp có được năng lực SX cao hơn” Chính sách phân phối lại tài sản nhằm khắc phục sự bất bình đẳng trong vấn đề sở hữu tài sản như: “chính sách cải cách ruộng đất ở Hàn Quốc, Đài Loan Chính sách phân
phối lại từ tăng trưởng như chính sách tăng cường cơ hội giáo dục cho nhiều người”
Tóm lại, mô hình “Tăng trưởng đi đôi với Công bằng” là mô hình có tính khả thi Theo mô hình này, các quốc gia đã thực hiện chính sách thúc đẩy PTKT nhanh, gắn liền với đảm bảo công bằng XH, nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư dựa trên
cơ sở PTKT tư nhân, khuyến khích dân cư làm giàu
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 322.1.2 Phát triển kinh tế - xã hội địa phương
2.1.2.1 Một số khái niệm
Địa phương. Nguyễn Thành Trung và cộng sự (2013, tr.29), định nghĩa: “Địa phương là một đơn vị lãnh thổ, được chia theo quản lý hành chính và trực thuộc một bang hoặc một quốc gia Địa phương (tỉnh) có thể là một đơn vị riêng biệt của Chính phủ như ở Philippines, Hà Lan, Bỉ, Tây Ban Nha, Italia; có thể là một khu vực tự trị rộng lớn ở Canada, Congo, và Argentina; có thể là một đơn vị hành chính trực thuộc Chính phủ như Pháp, Trung Quốc, và Việt Nam Theo quy định của nước CHXHCN Việt Nam, tỉnh là đơn vị hành chính cấp cơ sở trực thuộc Trung ương, theo đó, một số tỉnh đặc biệt Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ được gọi là thành phố trực thuộc Trung ương, mỗi tỉnh, thành phố đều có những chính sách riêng để phát triển KTXH phù hợp với định hướng chiến lược của quốc gia”
Phát triển kinh tế địa phương Ngân hàng Thế giới (WB, 2002) (trích từ
https://vi.wikipedia.org/wiki/Tiếp_thị_địa_phương), cho rằng “PTKT địa phương là quá trình trong đó các cơ quan nhà nước, đơn vị kinh doanh và các tổ chức phi chính phủ cùng nhau phối hợp để tạo ra điều kiện tốt hơn cho quá trình TTKT và tạo việc làm Mục tiêu của PTKT địa phương là nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho tất cả người dân trong cộng đồng” Tổ chức Di trú quốc tế (UN-HAIBITAT, 2004), cho rằng “PTKT địa phương là quá trình tham gia của nhiều đối tượng, trong đó người địa phương từ mọi lĩnh vực cùng cộng tác để thúc đẩy hoạt động TM của địa phương, tạo ra nền kinh tế có sức bật bền vững” Bộ KH&ĐT (2007, tr.23) định nghĩa: “PTKT địa phương là một quá trình có sự tham gia của mọi thành viên, trên mọi lĩnh vực hoạt động, nhằm tạo ra sự phát triển một cách có hiệu quả trên mọi lĩnh vực đời sống KTXH của địa phương”
Như vậy, theo tác giả, “PTKT địa phương là một quá trình có sự tham gia đồng
thời của tất cả người dân, cơ quan nhà nước và các tổ chức KT, XH trong và ngoài địa phương cùng nhau hợp tác trên mọi lĩnh vực hoạt động KTXH của địa phương, nhằm thúc đẩy sự TTKT, tạo công ăn việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi người
Phát triển KT - XH địa phương, phải xuất phát từ lợi thế về vị trí địa lý của
mỗi địa phương theo đó, những yếu tố sẽ được nghiên cứu và phân tích không gian như dòng nguyên liệu, dòng hàng hóa, dòng dân số, dòng thông tin đến từ các bộ phận khác nhau của hệ thống hoạt động KT của địa phương (Ron, M., & Peter, S 1996) Từ đó cũng giải thích tại sao địa phương này được lựa chọn là đích đến của DN và người dân hơn địa phương khác? Đối với DN, là nguyên liệu đầu vào, thị trường hiện tại và thị trường tiềm năng, giao thông vận tải, nhân công, lợi thế KT theo quy mô, vốn, cơ sở hạ
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 33tầng và phong tục tập quán, đất đai, môi trường, chính quyền và tính kinh tế động - tĩnh (Hayter, R 1997) Đối với cá nhân, việc di cư từ nơi này đến nơi khác xuất phát từ rất nhiều lý do như môi trường tự nhiên, khí hậu, kinh tế, chính trị, đoàn tụ gia đình hoặc có thể là muốn có một cuộc sống có chất lượng cao hơn tại nơi đến với các cơ hội mới Trong đó, nguyên do về KT và chính trị có tỷ lệ người chọn nhiều nhất khi quyết định di
chuyển khỏi vùng đất đang sinh sống (Clifton, J 2012) Phát triển KTXH địa phương,
được quyết định bởi quá trình phát triển nội sinh của mỗi địa phương, là những thay đổi của địa phương bắt nguồn từ trong chính cộng đồng, huy động và sử dụng các nguồn lực của địa phương để giữ lại các nguồn lợi ở tại địa phương, là một tập hợp các năng lực có tính tập thể để thực hiện các sáng kiến địa phương để mang lại cuộc sống hạnh phúc hơn Phát triển nội sinh không chỉ dựa vào sự phát triển của người dân địa phương mà còn đưa vào đó sự phát triển của vật chất, XH, VH và tinh thần của các nhóm người khác Đó là lý do tại sao địa phương này lại có thể sử dụng và khai thác các nguồn lực
của mình tốt hơn địa phương khác trong giả thiết các điều kiện tương đương
Từ các quan điểm trên, theo tác giả, «Phát triển KTXH địa phương là năng lực khai thác và thu hút các nguồn lực của chính quyền, người dân và các tổ chức trong và ngoài địa phương trên cơ sở lợi thế về vị trí địa lý để thu hút dòng dịch chuyển thương mại, đầu tư, văn hóa, con người, tri thức, để địa phương trở thành đơn vị trung chuyển hoặc đích đến nhằm lưu giữ lợi ích cho địa phương Hay đó là cách thức sắp xếp các nguồn lực hiện tại để thu hút các nguồn lực từ bên ngoài hoặc phát triển các nguồn lực
2.1.2.2 Các chỉ tiêu đo lường sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương
Phần mở đầu, tác giả lựa chọn cách tiếp cận có tính phổ biến phản ánh trình độ phát triển KTXH của mỗi quốc gia cũng như mỗi địa phương và thường được sử dụng
để so sánh trình độ phát triển KTXH giữa các quốc gia cũng như địa phương trong một quốc gia trong một thời kỳ nhất định và các chỉ tiêu lựa chọn là: TTKT, hiệu quả VĐT
xã hội, CCKT, độ mở TM, CNSX, việc làm, ĐTH, phát triển con người và môi trường
tiêu tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng thu nhập quốc dân (GNP) Đối với TTKT địa phương, theo quy định của Tổng cục thống kê được đo lường bằng mức gia tăng GRDP (Tổng sản phẩm trong tỉnh), là: ”Toàn bộ kết quả cuối cùng của các hoạt động SX của tất cả các đơn vị thường trú trong nền kinh tế của tỉnh trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm)”; phản ánh các mối quan hệ trong quá trình SX, phân phối thu
nhập, sử dụng cuối cùng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế địa phương
TTKT là mục tiêu thường xuyên của các quốc gia/địa phương phản ánh trình độ phát
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 34triển, là cơ sở để khắc phục sự lạc hậu, tăng thu nhập của dân cư, phúc lợi XH và chất
lượng cuộc sống, giải quyết việc làm, củng cố an ninh quốc phòng, chế độ chính trị
so sánh giữa chỉ tiêu đầu vào là VĐT thực hiện (hoặc tích lũy tài sản) và chỉ tiêu đầu ra
là kết quả SX đạt được Như vậy ICOR có trị số càng thấp thì hiệu quả càng cao và ngược lại” ICOR có thể được tính theo số tương đối hoặc số tuyệt đối, phạm vi nghiên cứu tác giả áp dụng phương pháp tính ICOR theo số tuyệt đối, theo công thức sau:
cứu; Gt-1: GDP của năm trước năm nghiên cứu; ∆t: Mức tăng GDP giữa năm nghiên cứu (t) và năm trước (t-1)” ICOR tính theo phương pháp này thể hiện: ”Để tăng thêm một đơn vị GDP, đòi hỏi phải tăng thêm bao nhiêu đơn vị VĐT thực hiện Các chỉ tiêu VĐT thực hiện năm nghiên cứu và GDP năm nghiên cứu cũng như năm trước đều phải tính với cùng một loại giá, hoặc là giá cố định hoặc là giá thực tế của năm nào đó” Hiệu quả VĐT không chỉ tác động đến TTKT về số lượng, mà còn nâng cao chất lượng tăng trưởng, như đổi mới mô hình tăng trưởng nâng cao hiệu quả VĐT, kiềm chế lạm phát, giảm bội chi ngân sách, giảm nợ công, giảm nhập siêu…
vậy, một cách tổng quát “CCKT là một phạm trù kinh tế, là tổng thể của nhiều bộ phận phức hợp và yếu tố hợp thành nền kinh tế quốc dân, tạo nên một tập hợp các mối quan
hệ hữu cơ, sự tác động qua lại giữa chúng trong những điều kiện KTXH và không gian, môi trường cụ thể, luôn luôn vận động, thay đổi thể hiện đặc điểm cơ chế của
nền kinh tế và tính chất của chế độ xã hội” Khái niệm chuyển dịch CCKT có nhiều
quan điểm khác nhau, song có thể hiểu là: “Chuyển dịch CCKT gắn liền với sự thay đổi có tính dài hạn về quan hệ giữa các bộ phận cấu thành nền KT, liên quan đến sự suy giảm hay gia tăng của mỗi bộ phận trong nền kinh tế, do sự thay đổi của các yếu tố của SX gồm: công nghệ, nhân lực, sự xuất hiện của các nghề mới, sự suy giảm hay
mất đi của nghề cũ và dẫn đến sự phân bổ lại của các yếu tố SX trong dài hạn”
Chuyển dịch CCKT là hệ quả tất yếu của TTKT, bởi vì khi TTKT sẽ thay đổi
cơ cấu của cầu về hàng hóa, tăng tích lũy vốn, để phát triển công nghệ, do đó dẫn đến chuyển dịch CCKT Ngược lại, sự chuyển dịch CCKT hợp lý sẽ tạo sự gia tăng hiệu quả sử dụng yếu tố SX, từ đó thúc đẩy TTKT, chuyển dịch CCKT phản ánh chất lượng tăng trưởng Về mặt lý thuyết, việc chuyển dịch CCKT của một quốc gia/địa phương vừa là chỉ tiêu đánh giá chất lượng TTKT vừa phản ánh bản chất
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 35của quá trình CNH Trong điều kiện HNKT, chuyển dịch CCKT phản ánh khả năng thích nghi và mức độ hội nhập quốc tế về kinh tế
mại quốc tế của một quốc gia/địa phương Chỉ tiêu độ mở thương mại được tính bằng cách lấy giá trị tổng kim ngạch XNK (Export and Import) của một thời kỳ chia cho giá trị của tổng sản phẩm trong nước cũng trong thời kỳ đó (Openness = (Export + Import)/GDP) Độ mở thương mại làm tăng NK và XK hàng hóa, dịch vụ và gián tiếp khuyến khích sự phát triển thông qua các kênh khác như chuyển giao công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm, gia tăng quy mô nền kinh tế, phân phối và phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả trong nền kinh tế và tương tác với các đối tác thương mại Tuy nhiên cũng có nhiều quan điểm ngược lại, Rodriguez và Rodrik (1999) cho rằng, mối tương quan đồng biến giữa độ mở cửa thương mại và tăng trưởng không vững chắc do phương pháp đo lường độ mở cửa thương mại và vấn đề thiếu các biến kiểm soát thích hợp Theo Alessandro (2004), tự do hóa thương mại đặt ra những ràng buộc ngoại sinh để TTKT, sẽ gây bất lợi cho nền kinh tế đang phát triển, vì nó góp phần phụ thuộc vào nhu cầu quốc tế và làm gia tăng điểm bất lợi của các quốc gia khi tồn tại các biến động của thị trường quốc tế, Levine và Renelt (1992) cho rằng, mức độ mở cửa thương mại cao sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến các khoản đầu tư nội địa Batra và Slottje (1993) cho rằng, tự do hóa thương mại hàm ý là chấp nhận mức thuế thấp hơn, làm hàng nhập khẩu trở nên hấp dẫn hơn so với hàng hóa nội địa làm cho nền kinh tế nội địa có thể bị suy thoái
Bình Dương Liên Hiệp Quốc (ESCAP) ”CN là kiến thức có hệ thống về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin Nó bao gồm kiến thức, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ” Như vậy
CN gồm bốn yếu tố: công cụ, con người, thông tin và tổ chức, tác động qua lại lẫn nhau
và cùng thực hiện quá trình SX, nói đến CN tức là đề cập đến “làm như thế nào?”
Thông tư 04/2014/TT-BKHCN ngày 08/4/2014 của Bộ KH&CN, định nghĩa trình độ CNSX, “là mức đạt được của CNSX và được đánh giá theo 04 mức: tiên tiến, trung bình tiên tiến, trung bình và lạc hậu CNSX gồm bốn thành phần cơ bản: “Nhóm thiết bị công nghệ thể hiện trong máy móc, công cụ, phương tiện viết tắt là T; nhóm nhân lực thể hiện trong năng lực tiếp thu kỹ thuật công nghệ phục vụ SX viết tắt là H; nhóm thông tin thể hiện trong các tài liệu, dữ liệu thông tin viết tắt là I; nhóm tổ chức, quản lý thể hiện trong công tác tổ chức, quản lý viết tắt là O Việc đánh giá trình độ CNSX của DN hay ngành, của địa phương được thực hiện trên cơ sở mức đạt được của các tiêu chí thuộc bốn nhóm thành phần cơ bản T, H, I, O” Trình độ CNSX là chỉ
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 36tiêu đánh giá trình độ phát triển KTXH của mỗi quốc gia cũng như địa phương, bởi vì
”(1) Phản ánh khả năng mở rộng SX của nền kinh tế, trình độ công nghệ cao đến đâu thì khả năng SX của nền kinh tế sẽ tăng đến đó, (2) Sự phát triển của công nghệ sẽ thúc đẩy sự hình thành và chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH, sử dụng có hiệu quả các NL trong XH, (3) Sự phát triển của công nghệ làm tăng NLCT của hàng hóa, PTKT thị trường và (4) Phát triển công nghệ sẽ thúc đẩy tăng trưởng và PTKT”
Vậy sự phát triển công nghệ tác động lớn đến sự phát triển mọi mặt của nền kinh tế, có cả sự tăng về quy mô và tiến bộ về cơ cấu KTXH Trình độ CNSX là thước
đo đánh giá trình độ PTKT là công cụ làm biến đổi sâu sắc bộ mặt VH, giáo dục, y tế
và bảo vệ môi trường sinh thái của một quốc gia, một địa phương
có việc làm là những người làm việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuân hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật” Theo Bộ luật lao động: “Mọi hoạt động LĐ tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” Như vậy, dưới góc độ pháp lý, việc làm được cấu thành bởi 3 yếu tố: ”(1) Là hoạt động LĐ ở đó sức LĐ tác động vào TLSX để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ LĐ trong việc làm phải có tính hệ thống, thường xuyên và nghề nghiệp Vì vậy người có việc làm phải là những người có các hoạt động LĐ thuộc ngành nghề nhất định và trong thời gian tương đối ổn định, (2) Có thu nhập và khả năng tạo ra thu nhập và (3) Hoạt động này phải hợp pháp, hoạt động LĐ tạo ra thu nhập nhưng không được pháp luật thừa nhận thì không được coi là việc làm” Tùy theo điều kiện KTXH, tập quán, quan niệm về đạo đức của từng nước mà pháp luật có quy định khác
nhau về tính pháp lý của các hoạt động LĐ được coi là việc làm
Việc làm của người LĐ đánh giá trình độ PT KTXH của quốc gia cũng như mỗi địa phương, bởi vì ”(1) Về mặt kinh tế, việc làm luôn gắn liền với vấn đề SX Hiệu quả của việc giải quyết tốt vấn đề việc làm cũng chính là hiệu quả của SX Kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện để giải quyết tốt việc làm và ngược lại, là yếu tố kìm hãm sự TTKT, (2) Về mặt XH, bảo đảm việc làm là chính sách XH có hiệu quả to lớn trong vấn đề phòng, chống, hạn chế các tiêu cực XH, giữ vững được kỷ cương, nề nếp XH,
và (3) Thất nghiệp, thiếu việc làm không những ảnh hưởng tới KTXH mà còn mất ổn định an ninh chính trị của mỗi quốc gia cũng như mỗi địa phương”
khách quan và tất yếu trong lịch sử phát triển XH loài người” Quá trình ĐTH sẽ thúc đẩy tốc độ TTKT, chuyển dịch CCKT và CCLĐ, thay đổi sự phân bố dân cư Các đô thị
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 37là nơi sử dụng LLLĐ có chất lượng cao, thu hút đầu tư trong và ngoài nước Tuy nhiên ĐTH không tương xứng với quá trình CNH thì việc di cư ồ ạt từ nông thôn ra thành thị
sẽ làm cho nông thôn bị đình trệ do thiếu lao động, khi đó ở đô thị hóa thì thiếu việc làm, nghèo nàn, điều kiện sinh hoạt thiếu thốn, môi trường bị ô nhiễm, dẫn đến nhiều
hiện tượng tiêu cực trong đời sống KTXH Có một số quan điểm về đô thị hóa đó là:
trình diễn thế về kinh tế - xã hội - văn hóa - không gian gắn liền với những tiến bộ khoa học kĩ thuật trong đó diễn ra sự phát triển nghề nghiệp mới, sự chuyển dịch cơ cấu lao động, sự phát triển đời sống văn hóa, sự chuyển đổi lối sống và sự mở rộng phát triển không gian thành hệ thống đô thị, song song với tổ chức bộ máy hành chính, quân sự” Như vậy ĐTH là quá trình chuyển đổi tất cả các lĩnh vực, từ KT-XH-VH đến KHKT và cả không gian sinh sống của con người
quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm dân
cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống… Quá trình đô thị hóa cũng là quá trình biến đổi sâu sắc về cơ cấu sản xuất, nghề nghiệp, cơ cấu tổ chức sinh hoạt xã hội,
cơ cấu tổ chức không gian kiến trúc xây dựng từ nông thôn sang thành thị”
học và địa lý kinh tế, đô thị hóa được hiểu là sự di cư từ nông thôn tới đô thị, là sự tập trung ngày càng nhiều dân cư sống trong những vùng lãnh thổ đô thị Mức độ đô thị hóa của một quốc gia được đo lường bằng tỷ lệ dân cư đô thị trong tổng số dân Về mặt xã hội, đô thị hóa được hiểu là quá trình tổ chức lại môi trường cư trú của con người Đô thị hóa không chỉ thay đổi sự phân bố dân cư và những yếu tố vật chất, mà còn làm chuyển hóa những khuôn mẫu của đời sống KTXH, phổ biến lối sống đô thị tới các vùng nông thôn và toàn bộ xã hội” Như vậy, ”quá trình ĐTH không chỉ diễn ra về mặt số lượng như tăng trưởng dân số, mở rộng lãnh thổ, tăng trưởng về SX, mà còn thể hiện cả về mặt chất lượng, nâng cao mức sống, làm phong phú hơn các khuôn mẫu và nhu cầu VH”
Tuy còn có các cách hiểu khác nhau, nhưng có điểm chung ĐTH là sự thay đổi toàn diện tất cả các lĩnh vực KTXH, là sự chuyển hóa từ nông thôn sang thành thị, từ nền SX nông nghiệp sang SXCN và dịch vụ với sự tập trung dân cư cao Phạm Đỗ Trung và Huỳnh Phẩm Dũng Phát (2012), đánh giá tốc độ ĐTH bằng công thức sau:
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 38năm đầu; Ut: điểm tổng hợp quá trình ĐTH địa bàn nghiên cứu năm cuối; i: năm đầu; t: năm cuối r ≤ 9: quá trình ĐTH rất chậm; 9 < r ≤ 11 quá trình ĐTH chậm; 11<r ≤ 15 quá
trình ĐTH trung bình; 15<r ≤ 22 quá trình ĐTH nhanh; r>22 quá trình ĐTH rất nhanh
một nước hay một địa phương, hiểu theo cách khác là đích cuối cùng của sự phát triển KTXH, theo Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) (2011, tr.8):
"Con người là của cải thực sự của một quốc gia Mục tiêu cơ bản của phát triển là tạo
ra một môi trường thuận lợi để con người có cuộc sống dài, mạnh khỏe và sáng tạo Điều này có vẻ như một sự thực đơn giản Song nó thường bị lãng quên trước mối quan tâm trước mắt nhằm tich lũy hàng hóa và của cải tài chinh"
Phát triển con người là sự mở rộng các chọn lựa của con người Trên nguyên tắc, những chọn lựa này có thể là vô hạn và thay đổi theo thời gian Nhưng ở mọi trình
độ phát triển, ba chọn lựa thiết yếu là để con người có được một cuộc sống mạnh khoẻ
và trường thọ, thu thập tri thức và tiếp cận những nguồn lực cần thiết cho một mức sống tử tế Nếu không có được ba lựa chọn này, con người không thể tiếp cận được các cơ hội khác Sự phát triển con người không kết thúc ở đó Còn có những chọn lựa
bổ sung khác nữa mà nhiều người đánh giá cao, từ tự do chính trị, kinh tế và XH cho đến các cơ hội để trở nên sáng tạo và có năng suất, và tận hưởng lòng tự trọng cá nhân
và nhân quyền được bảo đảm Sự phát triển nhân lực có hai mặt: sự hình thành các năng lực con người - như sức khoẻ, tri thức và kỹ năng được cải thiện - và sự sử dụng các năng lực tiếp thu được của con người - để cho các mục đích giải trí, để hoạt động
có năng suất, hay để chủ động trong các hoạt động văn hoá, xã hội và chính trị Nếu cán cân phát triển con người không cân bằng được hai mặt này thì có thể dẫn đến sự thất vọng đáng kể về con người Phát triển con người được đánh giá qua 3 chỉ số là
“chỉ phát triển con người (HDI), chỉ số phát triển giới (GDI) và chỉ số nghèo khổ con người (HPI)” Phạm vi nghiên cứu luận án đề cập chỉ số phát triển con người (HDI) là
”thước đo tổng hợp về y tế, giáo dục và thu nhập để đánh gía mức độ và tiến bộ về phát triển con người”, được tính theo công thức: HDI = (Ithu nhập x Igiáo dục x Ituổi thọ)1/3 Trong đó: Ithu nhập chỉ số thu nhập, Igiáo dục chỉ số giáo dục, Ituổi thọ chỉ số tuổi thọ
bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình và vô hình (tập quán, niềm tin…), trong đó con người sống và LĐ, họ khai thác TNTN và
nhân tạo nhằm thỏa mãn nhau cầu của mình” Luật môi trường quy định “Môi trường
bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người có ảnh hưởng đến đời sống, SX, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” Từ điển Bách khoa
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 39VN (2003, tập 2, tr.940) viết: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và các yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và thiên nhiên” Quá trình phát triển KTXH không thể tách rời môi trường tự nhiên và ngược lại, môi trường cũng chịu tác động của sự phát triển KTXH, đó là thông qua việc luân chuyển các thành phần tự nhiên trở thành đầu vào cho quá trình phát triển KTXH, và ngược lại quá trình phát triển KTXH cũng bổ sung vào môi trường tự nhiên các nguồn nguyên liệu, năng lượng nhân tạo mới hoặc sản phẩm phế thải Tuy nhiên, nếu PTKT không hợp lý sẽ tác động xấu đến môi trường tự nhiên như suy thoái TNTN, biến đổi khí hậu, gây ra những thảm họa,
thiên tai, đe dọa các hoạt động KTXH và chất lượng cuộc sống của con người
Do vậy, sự phát triển KTXH phải bảo đảm nguyên tắc PT bền vững, sự PT phải xem xét trong sự tương tác với môi trường, bảo đảm PT đáp ứng được các nhu cầu hiện tại nhưng không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó trong tương lai Phát triển bền vững là mục tiêu, định hướng của các quốc gia trên thế giới
2.1.2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến phát triển KTXH địa phương
triển KTXH của địa phương Địa phương là cầu nối bên trong với bên ngoài quốc gia, giữa các vùng kinh tế là nơi trung chuyển hàng hóa và con người Vị trí địa lý tự nhiên của mỗi địa phương thể hiện các tiềm năng về phát triển thương mại, du lịch, liên kết với trong nước và quốc tế Vai trò của vị trí địa lý đến phát triển KTXH của địa
phương, cần được đánh giá vào kết quả hiện tại và sự thay đổi trong tương lai
không khí, nước, năng lượng, và những khoáng sản trong lòng đất…tồn tại dưới dạng
tự nhiên, không phụ thuộc vào ý chí của con người” TNTN là cơ sở để phát triển nông nghiệp và CN, phát triển một số ngành CN khai thác, CN chế biến và cung cấp nguyên liệu cho nhiều ngành kinh tế khác, Ở mỗi thời kỳ phát triển, thường khai thác các tài nguyên có lợi thế, trữ lượng lớn, giá trị kinh tế cao, nhu cầu thị trường lớn và ổn định Do đó, sự đa dạng và phong phú của TNTN của mỗi địa phương có ảnh hưởng đến xu hướng và đặc trưng phát triển về KTXH của địa phương
XH, thì VH là nền tảng tinh thần VH vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự PTKT Nghị quyết TW 5 khóa VIII, viết: "Chăm lo văn hóa là chăm lo củng cố nền tảng tinh thần của XH Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh, không quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa PTKT với tiến bộ và công bằng XH thì không thể có sự phát triển
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ
Trang 40KTXH bền vững Xây dựng và PTKT phải nhằm mục tiêu văn hóa, vì XH công bằng, văn minh, con người phát triển toàn diện" Phát triển KTXH của một quốc gia/địa phương, bao hàm TTKT gắn liền với bảo vệ môi trường và công bằng XH Trong đó, văn hóa được coi là nhân tố cơ bản đảm bảo cho ba yếu tố kinh tế, tự nhiên và XH hỗ trợ, tác động lẫn nhau Văn hóa là động lực, nền tảng cho PTKT, bảo vệ môi trường, là mục tiêu và là hệ điều tiết cho sự phát triển XH Tổng giám đốc UNESCO, F Mayo (trích từ Bộ VHTT 1992, tr.24) viết: “Hễ nước nào tự đặt cho mình mục tiêu PTKT mà tách rời môi trường văn hóa thì nhất định sẽ xảy ra những mất cân đối nghiêm trọng cả
về mặt kinh tế lẫn văn hóa và tiềm năng sáng tạo của nước ấy sẽ bị suy yếu rất nhiều, văn hóa cần coi mình như một nguồn cổ súy trực tiếp cho phát triển và ngược lại phát
triển cần thừa nhận văn hóa giữ một vị trí trung tâm, một vai trò điều tiết XH”
của cộng đồng, để điều chỉnh các quan hệ kinh tế, chính trị và XH phục vụ lợi ích của cộng đồng Thể chế biểu hiện qua các mục tiêu phát triển, các nguyên tắc tổ chức quản
lý kinh tế, XH, luật pháp, các chế độ chính sách, các công cụ và bộ máy tổ chức thực hiện” Có thể hiểu “Thể chế là những nguyên tắc xác định mối quan hệ XH, định hình cách thức ứng xử của các thành viên trong những phạm vi, quy mô tổ chức XH và điều chỉnh sự vận hành của tổ chức XH đó Các chủ thể thực hiện và quản lý sự vận hành
XH (gồm nhà nước, cộng đồng cư dân, các tổ chức XH dân sự) trên cơ sở của hệ thống pháp luật, các quy tắc XH điều chỉnh các mối quan hệ và các hành vi được thừa nhận của cộng đồng, quốc gia Cùng với sự thay đổi và phát triển liên tục của các dạng quan
hệ XH, các thế chế cũng thay đổi theo thời gian” Trong tiến trình phát triển KTXH của mỗi nước hoặc từng địa phương chịu sự tác động trực tiếp của yếu tố thể chế nói chung và thể chế kinh tế nói riêng, thậm chí quyết định đến chất lượng phát triển KTXH Sự tác động của yếu tố thể chế đến phát triển KTXH có thể theo các hướng (1) Thể chế hỗ trợ thị trường mở rộng và gia tăng hiệu quả các hoạt động của các chủ thể
trong nền kinh tế, và (2) Thể chế tác động hỗ trợ TTKT và giảm nghèo đói
giá thành sản phẩm, tỷ lệ tiêu hao vật chất, tăng tỷ lệ chất xám trong giá trị sản phẩm,… chủng loại sản phẩm đa dạng, tạo ra những khả năng SX mới, mở rộng ngành nghề Rút ngắn quá trình PTKT, Almanach (1997) cho rằng ”nếu như ở thế kỷ XVIII, một nước muốn CNH thường mất 100 năm Đầu thế kỷ XX còn khoảng 30 năm Vào thập niên 70
- 80 rút xuống 20 năm Thập niên 90 chỉ còn trên dưới 10 năm Thời gian cần thiết để tăng gấp đôi GDP theo đầu người đã được rút ngắn Nếu như Anh mất 58 năm (kể từ 1780), Mỹ 47 năm (từ 1839), Nhật 34 năm (kể từ 1880) thì từ sau chiến tranh thế giới
Viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ