Nâng cao năng lực, quản trị rủi ro tín dụng ,tại Ngân hàng Nông nghiệp, và Phát triển nông thôn, Việt Nam
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận án là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Tạ Đình Long
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ iv
DANH MỤC TỪ VIÊT TẮT vi
DANH MỤC PHỤ LỤC vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 14
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 14
VÀ NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 14
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 14
1.1 QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 14
1.1.1 Rủi ro tín dụng 14
1.1.2 Quản trị rủi ro tín dụng ở ngân hàng thương mại 17
1.2 NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 35
1.2.1 Khái niệm về năng lực quản trị rủi ro tín dụng 35
1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng 37
1.2.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực quản trị rủi ro tín dụng 39
1.3 KINH NGHIỆM VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA MỘT SỐ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM VÀ BÀI HỌC CHO NHNo&PTNT VIỆT NAM 54
1.3.1 Kinh nghiệm của Citibank 54
1.3.2 Kinh nghiệm của Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam 55
1.3.3 Kinh nghiệm của Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam 58
1.3.4 Bài học kinh nghiệm rút ra cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 60
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 62
Chương 2 63
THỰC TRẠNG NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN 63
VIỆT NAM 63
2.1.1 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 63
2.1.2 Kết quả một số hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay 65
2.2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM 71
2.2.1 Tình hình hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 71
Trang 32.2.2 Thực trạng năng lực quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn Việt Nam 89
2.3 ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM 104
2.3.1 Những kết quả đạt được 104
2.3.2 Những hạn chế 108
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 113
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 117
Chương 3 118
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM 118
3.1 CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 118
3.1.1 Phân tích cơ hội, thách thức, điểm mạnh, điểm yếu (SWOT) của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 118
3.1.2 Mục tiêu và định hướng phát triển của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 121
3.1.3 Nguyên tắc đề ra các giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 126
3.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM 128
3.2.1 Hoàn thiện mô hình tổ chức quản lý 128
3.2.2 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nhân viên của toàn hệ thống 131
3.2.3 Hoàn thiện cơ chế, chính sách và các quy trình tín dụng 134
3.2.4 Thực hiện mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng 135
3.2.5 Xây dựng mô hình phân loại nợ sử dụng kết quả của việc xếp hạng tín dụng nội bộ
144
3.2.6 Sử dụng các công cụ phái sinh để xử lý rủi ro tín dụng 147
3.2.7 Nâng cao năng lực tài chính 149
3.3 KIẾN NGHỊ ĐỂ THỰC HIỆN GIẢI PHÁP 156
3.3.1 Về phía Chính phủ 156
3.3.2 Về phía ngân hàng nhà nước 160
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 162
KẾT LUẬN 163 DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ I DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO II
Trang 4DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
1 Bảng 1.1 Năng lực tài chính của Ngân hàng TMCP Công thương
4 Bảng 2.2 Tổng dư nợ của toàn hệ thống ngân hàng NNo&PTNT
Việt Nam (Đvt: Tỷ đồng)
5 Bảng 2.3 Tỷ nợ nợ xấu phân theo loại tiền tệ
6 Bảng 2.4 Tỷ lệ nợ xấu theo ngành, lĩnh vực kinh tế chủ yếu
7 Bảng 2.5 Tỷ lệ nợ xấu phân theo thành phần kinh tế
8 Bảng 2.6 Tỷ lệ nợ xấu phân theo khu vực kinh tế
9 Bảng 2.7 Quy đổi xếp hạng khách hàng
10 Bảng 2.8 Nguyên tắc phân loại khoản vay
11 Bảng 2.9
Ứng dụng kết quả chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng trong việc ra quyết định cấp tín dụng và giám sát sau khi cho vay
12 Bảng 2.10
Cơ cấu và chất lượng tín dụng của Ngân hàng NNo&PTNT Việt Nam từ năm 2011 – 2014 (Đvt: Tỷ đồng)
13 Bảng 2.11 Số lượng nhân viên của Ngân hàng NNo&PTNT Việt
Nam
14 Bảng 2.12 Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của một số ngân hàng
Trang 5(Đvt: %)
15 Bảng 2.13 Một số chỉ tiêu phản ánh qui mô và chất lƣợng tài sản
của Ngân hàng NNo&PTNT Việt Nam
16 Bảng 2.14 Tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng NNo&PTNT Việt Nam
17 Bảng 2.15 Tỷ trọng cấp tín dụng của Ngân hàng NNo&PTNT Việt
Nam theo ngành kinh doanh (Đvt: Tỷ đồng)
18 Bảng 2.16 Các chỉ tiêu khả năng thanh toán của Ngân hàng
NNo&PTNT Việt Nam qua các năm
19 Bảng 3.1 Chỉ tiêu đánh giá các yếu tố trong chính sách khách
hàng
20 Bảng 3.2 Các chỉ tiêu đánh giá đặc điểm nhóm khách hàng
21 Bảng 3.3 Chỉ tiêu đánh giá năng lực phi tài chính của khách hàng
22 Bảng 3.4 Chỉ tiêu đánh giá năng lực tài chính
23 Bảng 3.5 Chỉ tiêu đánh giá tài sản đảm bảo
24 Bảng 3.6 Phân loại nợ dựa vào hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ
25 Bảng 3.7 Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo nhóm nợ
26 Sơ đồ 2.1 Quy trình quản lý và xử lý nợ có vấn đề
27 Sơ đồ 2.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tín dụng tại hội sở
28 Sơ đồ 2.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tín dụng tại chi nhánh
các cấp
29 Sơ đồ 3.1 Mô hình tổ chức quản lý tại hội sở chính
30 Sơ đồ 3.2 Mô hình dự báo rủi ro tín dụng
Trang 6NNo&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
PD Xác suất không trả đƣợc nợ của khách hàng ROA Tỷ suất sinh lời trên tài sản
ROE Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
Trang 7DANH MỤC PHỤ LỤC
1 Phụ lục 2.1 Một số chính sách tín dụng chủ yếu của Ngân hàng
NN0&PTNT Việt Nam trong những năm gần đây
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hội nhập Kinh tế quốc tế và xu hướng toàn cầu hóa sâu sắc không chỉ mang lại nhiều cơ hội thuận lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh mà bên cạnh đó cũng tạo ra không ít những khó khăn, thách thức Đặc biệt là sức
ép cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt và rủi ro tiềm ẩn trong nền kinh tế Kinh doanh ngân hàng là hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng cũng không nằm ngoài xu thế tất yếu đó Trong nền kinh tế thị trường, Tín dụng là hoạt động chính của các ngân hàng thương mại và diễn ra rất phức tạp, dưới nhiều hình thức và phạm vi rộng lớn Đây là hoạt động hết sức nhạy cảm với sự biến động của nền kinh tế Trong những năm qua, dưới sức
ép của cạnh tranh và hội nhập quốc tế, hoạt động kinh doanh của ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng của ngân hàng nói riêng đã và đang phải đối mặt với nhiều rủi ro, thách thức và có thể gây ra tổn thất to lớn không chỉ đối với các ngân hàng thương mại mà còn cho cả nền kinh tế Chính vì vậy, để tồn tại và phát triển các ngân hàng thương mại cần không ngừng nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng
Tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Ngân hàng NNo&PTNT Việt Nam) – một trong những ngân hàng thương mại lớn nhất ở Việt Nam, hàng năm cung cấp một khối lượng lớn tín dụng và dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế và có những ảnh hưởng quan trọng đối với sự phát triển của ngành Ngân hàng trong nước Là một ngân hàng lâu năm, có nguồn vốn lớn, số lượng nhân viên đông đảo và mạng lưới chi nhánh phủ khắp các tỉnh thành cả nước, Ngân hàng NNo&PTNT Việt Nam ngày càng khẳng định được lợi thế của mình trước các đối thủ trong và ngoài nước, song bên cạnh
đó vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng
Trang 9Kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO, sau hàng loạt các biện pháp nhằm
mở rộng hoạt động tín dụng, dịch vụ ngân hàng trước sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt để chạy theo cuộc đua giành giật địa bàn, khách hàng, thị phần, thì nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững cho ngân hàng thương mại Bởi lẽ, gia tăng khối lượng tín dụng nhanh
và ồ ạt, đồng thời mở rộng thị phần, hướng tới nhiều đối tượng khách hàng và
đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ cũng có nghĩa là đẩy tỷ lệ rủi ro mà ngân hàng gặp phải lên cao Muốn tồn tại và phát triển ổn định, các ngân hàng phải tự xem việc nâng cao năng lực quản trị rủi ro của mình là xu thế tất yếu trong thời kỳ mới
Trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập có nhiều bất ổn, đặc biệt là sau hàng loạt những sự việc giải thể và sáp nhập các ngân hàng thua lỗ, có năng lực điều hành kinh doanh yếu kém, đi kèm theo đó là những bài học kinh nghiệm quý giá của ngành ngân hàng từ các nền kinh tế thế giới, việc nghiên cứu hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng NNo&PTNT Việt Nam nói chung, tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng, đưa ra các giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng NNo&PTNT Việt Nam nói riêng là thật sự cần thiết, có ý nghĩa thực tiễn
Từ những phân tích trên, việc lựa chọn đề tài: “Nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam” là cần thiết, cấp bách đồng thời mang tính thời sự, vừa có ý
nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn
2 Tổng quan nghiên cứu
Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Hoạt động tín dụng, ngân hàng trên thế giới đã phát triển từ rất sớm so với tại Việt Nam Do đó, các công trình nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn cũng như các mô hình thực nghiệm liên quan đến mô hình quản lý rủi ro tín
Trang 10dụng cũng có nhiều thành tựu lớn và đem lại lợi ích cho các ngân hàng trong việc tăng cường năng lực và hoạt động quản trị rủi ro tín dụng Đồng thời, hoạt động tín dụng của các Ngân hàng trên thế giới nói chung mà đặc biệt là các ngân hàng, tổ chức tín dụng tại các nước phát triển trên thế giới đã có nhiều thành tựu cũng như năng lực và hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng, tổ chức tín dụng này đã được chuẩn hóa chuyên nghiệp, hiệu lực hiệu quả, góp phần đảm bảo an toàn tín dụng cho ngân hàng cũng như khẳng định vị thế trên trường quốc tế Đồng thời, các quy định về quản trị rủi
ro tín dụng đối với các ngân hàng này cũng được kiểm soát chặt chẽ Điển hình là các hiệp ước vốn Basel I, Basel II, Basel III lần lượt ra đời bởi Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá, đo lường năng lực và hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng, tổ chức tín dụng trên thế giới nói chung
Tính tới thời điểm hiện nay đã có nhiều ngân hàng đã ứng dụng khá toàn diện hiệp ước vốn Basel II vào hoạt động của mình và đã xây dựng lộ trình ứng dụng hiệp ước vốn Basel III Như vậy, với sự hình thành và ứng dụng của các hiệp ước vốn Basel đã không ngừng nâng cao công tác quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng, tổ chức tín dụng nói chung
Ngoài những nội dung trên, các công trình nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng đã đạt được những thành tựu nhất định, nổi bật là những nghiên cứu
về các vấn đề như:
- Trong cuốn “Quản trị rủi ro trong ngân hàng” của Joel Basis đã nêu
bật lên các khái niệm, lý luận chung về rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng nói chung đồng thời cũng đưa ra các mô hình đánh giá rủi ro nói chung đồng thời đưa ra các khái niệm trong công tác quản trị rủi ro tín dụng như rủi ro danh mục tín dụng; quản trị danh mục tín dụng; và hệ thống hóa các phương pháp quản trị rủi ro tín dụng, lượng hóa rủi ro tín dụng như
Trang 11hệ thống xếp hạng; mô hình thống kê và chấm điểm; Dữ liệu rủi ro tín dụng;
…[54];
- Trong cuốn “Các nguyên tắc trong quản trị rủi ro tín dụng” do Ủy ban
giám sát Ngân hàng Basel thực hiện đã cung cấp khá đầy đủ bộ nguyên tắc cần tuân thủ trong quản trị rủi ro tín dụng – đây cũng là một tài liệu có phần
đề cập tới năng lực quản trị rủi ro tín dụng thông qua việc đưa ra các nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng [48];
- Trong tài liệu “Mô hình rủi ro tín dụng - Ứng dụng và thực hành hiện nay” (“Credit risk modelling – Current pratices and applications”) [47] xuất
bản năm 1999 đã đưa ra những lý luận chung về rủi ro tín dụng nhằm phục vụ cho việc đưa ra mô hình định lượng rủi ro tín dụng Thêm vào đó, trong tài liệu này cũng đưa ra nhiều phương pháp khác nhau phục vụ cho việc định lượng rủi ro tín dụng như các mẫu hình: Mô hình chế độ mặc định (Default Mode Paradigm) trong đó tổn thất tín dụng phát sinh chỉ khi người vay bị vỡ
nợ trong khoảng thời gian kế hoạch, Mô hình dấu hiệu thị trường Market paradigm) trong đó tổn thất tín dụng phát sinh để phản ứng lại sự giảm giá của tài sản có mà không căn cứ vào sự vỡ nợ Đồng thời cũng chỉ ra các phương pháp, mô hình để xác định xác xuất vỡ nợ của khách hàng,…
(Mark-to Trong cuốn “VaR và các thiếu hụt dự kiến trong danh mục các rủi ro tín dụng phụ thuộc: lý luận và thực hiện” của tác giả Frey, R., and A McNeil
năm 2002 đã trình bày rõ nét các khái niệm về rủi ro tín dụng, mô hình về rủi
ro tín dụng , các nhân tố và ước tính trong mô hình rủi ro tín dụng cũng như việc xây dựng, ứng dụng mô hình rủi ro tín dụng trong hoạt động quản lý rủi
ro tín dụng của Ngân hàng [50];
- Trong cuốn “Ngân hàng hiện đại” của tác giả Shelagh Heffernan xuất
bản năm 2005 có chỉ rõ các nội dung về rủi ro tín dụng và kỹ thuật quản lý
Trang 12rủi ro tín dụng, các quy định quốc tế về quản trị rủi ro tín dụng (Basel 1 và Basel 2) [57];
- Trong cuốn “Quản trị ngân hàng thương mại” của Peter S.Rose xuất
bản năm 2002 có đề cập rất cụ thể tới các khái niệm về rủi ro của ngân hàng nói chung bao gồm cả rủi ro tín dụng và các biện pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro nói chung [55];
Tình hình nghiên cứu trong nước
Tính đến thời điểm hiện nay đã có khá nhiều Luận án, công trình nghiên cứu về năng lực quản trị rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại
Trong các Luận án, công trình và đề tài nghiên cứu đã được nghiên cứu trước đây đã không ngừng hoàn thiện lý luận chung về quản trị rủi ro tín dụng trong hệ thống Ngân hàng Việt Nam qua các giai đoạn phát triển khác nhau Đồng thời cũng đã mô tả được phần nào về thực trạng hoạt động quản trị rủi
ro tín dụng các các ngân hàng trong hệ thống Ngân hàng Việt Nam qua các thời kỳ Để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động quản trị rủi
ro tín dụng của các ngân hàng này trong những thời kỳ đó
Luận văn Thạc sỹ kinh tế, “Giải pháp phòng ngừa, hạn chế rủi
ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng Công thương 2 – Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Phan Thị Mai Hoa (2007) đã nêu được một vài khía cạnh
cơ bản về rủi ro tín dụng, với các mô hình định lượng rủi ro đề tài mới chỉ tập trung tới mô hình điểm số Z mà chưa nghiên cứu mở rộng ở các mô hình định lượng khác Đề tài thực hiện nghiên cứu thực trạng về quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng Công thương Chi nhánh 2 – Tp Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ 2003 tới 2007 Trên cơ sở những nghiên cứu về thực trạng tại ngân hàng, tác giả đã đề ra một số giải pháp phù hợp với tình hình kinh tế và mức
độ phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam trong những năm đó Tuy nhiên, là một công trình nghiên cứu khá lâu, một số thông tin dần trở nên lỗi
Trang 13thời, không phù hợp với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế và đặc biệt
là lĩnh vực tài chính ngân hàng với sự ra đời của các hiệp ước vốn Basel III [12]
Luận văn thạc sỹ kinh tế, “Các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Nam Sài Gòn” của
tác giả Ngô Thị Thanh Trà (2010) trong đó luận văn đã trình bày cụ thể một
số nội dung về rủi ro tín dụng, các chỉ số đánh giá rủi ro tín dụng Thực hiện nghiên cứu thực trạng về quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Nam Sài Gòn trong đó tập trung các tiêu chí về
cơ cấu nợ, phân loại nợ và các công cụ mà ngân hàng sử dụng trong công tác quản lý rủi ro tín dụng của mình Trên cơ sở đó, luận văn cũng đã đưa ra một
số giải pháp cơ bản nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng, như nâng cao
hệ thống thông tin, nâng cao chất lượng công tác thẩm định, thực hiện nghiêm túc việc phân loại nợ,… [28]
Luận án tiến sỹ kinh tế, “Luận cứ khoa học về xác định mô hình quản lý rủi ro tín dụng tại hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam” của tác
giả Lê Thị Huyền Diệu (2010) đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về quản trị rủi ro tín dụng, mô hình quản lý rủi ro tín dụng và kinh nghiệm ứng dụng các mô hình quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại của một số nước Đề tài đã tập trung nghiên cứu thực trạng rủi ro tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong hai giai đoạn trước và sau năm 2000 cũng như nghiên cứu về thực trạng mô hình quản lý rủi ro tín dụng tại hệ thống ngân hàng Việt Nam Trên cơ sở đó đề xuất một số mô hình quản lý rủi
ro tín dụng tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam và giải pháp cho việc vận hành mô hình quản lý rủi ro tín dụng Trong đó, tác giả nhấn mạnh tới việc xác định mô hình đo lương định lượng như xây dựng mô hình chấm điểm xếp hạng tín dụng nội bộ gắn với việc tính toán ba cấu phần PD, LGD
Trang 14và EAD Luận án đã nghiên cứu chi tiết về mô hình quản lý rủi ro tín dụng, điều kiện áp dụng và thực tiễn áp dụng tại một số ngân hàng trên thế giới, trên
cơ sở đó đã đưa ra lộ trình cho việc vận hành hệ thống quản lý rủi ro tín dụng tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung [5]
Bài nghiên cứu, “Phân tích rủi ro tín dụng doanh nghiệp bằng
mô hình logistic” của tác giả Hoàng Tùng đăng trên tạp chí Khoa học và
Công nghệ, Đại học Đà Nẵng số 2(43) 2011 bài nghiên cứu này đã đưa ra mô hình phân tích định lượng rủi ro tín dụng doanh nghiệp thông qua các chỉ số tài chính được tính toán từ Báo cáo tài chính và cá chỉ số được niêm yết, công
bố trên thị trường chứng khoán của các doanh nghiệp niêm yết để xây dựng, nghiên cứu và kiểm nghiệm mô hình của mình Công trình đã gợi mở những hướng nghiên cứu định lượng rủi ro tín dụng cho các công trình tiếp sau Tuy nhiên công trình trên mới chỉ tập trung nghiên cứu, đánh giá các chỉ tiêu tài chính mà chưa dựa trên các chỉ tiêu phi tài chính – đây là một trong những chỉ tiêu đánh giá hữu hiệu khả năng hoạt động, thanh toán nợ của doanh nghiệp [33]
Luận án tiến sỹ kinh tế, “Quản trị rủi ro trong kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Việt Nam theo hiệp ước Basel” của tác giả Nguyễn
Anh Tuấn (2012) đã hệ thống hóa những lý luận chung về rủi ro tín dụng và các quy định về quản trị rủi ro tín dụng theo hiệp ước Basel tại Việt Nam Đặc biệt, Luận án cũng đã đưa ra được các nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng theo Hiệp ước vốn Basel II Luận án cũng đã đưa ra những giải pháp thiết thực và sâu sát nhằm hoàn thiện, nâng cao hoạt động quản trị rủi ro tín dụng trong kinh doanh của Ngân hàng Thương Mại Việt Nam cũng như các giải pháp nhằm tăng cường việc ứng dụng hiệp ước Basel trong hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam hiện nay [31]
Trang 15 Luận án tiến sỹ kinh tế, “Quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam” của tác giả Nguyễn Đức Tú
(2012) đã thực hiện nghiên cứu các lý luận chung về rủi ro tín dụng và quản
lý rủi ro tín dụng Đồng thời nghiên cứu thực trạng hoạt động quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam Trên cơ
sở đó, tác giả đã đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam Trong các giải pháp đó, tác giả có nhấn mạnh tới giải pháp về thiết lập mô hình đo lường rủi ro tín dụng [32]
Luận án tiến sỹ kinh tế, “Quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam” của tác giả Nguyễn Tuấn
Anh (2012) đã hệ thống hóa được những điểm cơ bản về lý luận chung về rủi
ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng Đồng thời nghiên cứu thực trạng hoạt động quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam Trên cơ sở đó, tác giả đã đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam Trong các giải pháp đó, tác giả có nhấn mạnh tới giải pháp về thiết lập mô hình đo lường rủi ro tín dụng, đo lường rủi ro và đặc biệt
là sử dụng các công cụ tài chính phái sinh trong việc quản trị rủi ro tín dụng [1]
Luận án tiến sỹ kinh tế, “Quản lý rủi ro tín dụng đầu tư phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam” của tác giả Nguyễn Cảnh Hiệp
(2014) đã đưa ra những nét khái quát về quản lý rủi ro tín dụng đầu tư phát triển của ngân hàng Phát triển cũng như tìm hiểu những kinh nghiệp về quản
lý rủi ro tín dụng của một số nước trên thế giới Đề tài cũng đã thực hiện tìm hiểu thực trạng quản lý rủi ro tín dụng đầu tư phát triển của Ngân hàng Phát
Trang 16triển Việt Nam, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp quản lý rủi ro tín dụng đầu
tư phát triển của ngân hàng Phát triển Việt nam [11]
Qua các phân tích trên cho thấy, tuy các luận án, đề tài và các công trình nghiên cứu đó đã đạt được những thành công nhất định nhưng vẫn chủ yếu xem xét những rủi ro cơ bản và đã tồn tại từ lâu trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng Tuy đã đạt được nhiều mục đích như trên, nhưng các công trình nghiên cứu trước còn bỏ ngỏ những vấn đề sau:
- Lĩnh vực ngân hàng luôn vận động, các sản phẩm dịch vụ mới ngày càng mở rộng và phát triển do đó phần nào các công trình nghiên cứu trên đã bộc lộ những điểm chưa phù hợp với xu thế phát triển của lĩnh vực ngân hàng ngày nay;
- Cùng với sự phát triển không ngừng của Hệ thống ngân hàng hiện đại trên thế giới cùng với các yêu cầu đặt ra của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng với sự ra đời của các hiệp ước vốn Basel lần lượt là Basel I, Basel II và Basel III Chính vì vậy, những nghiên cứu trước đây đã dần có những điểm lỗi thời, không phù hợp với yêu cầu quản trị rủi ro tín dụng hiện đại
- Các công trình phần lớn mới tập trung tới hoạt động quản trị rủi ro tín dụng mà chưa đề cập tới một khía cạnh hết sức quan trọng trong quản trị rủi
ro tín dụng đó là “Năng lực quản trị rủi ro tín dụng” của các ngân hàng vì thế
mà chưa đưa ra được những lý luận chung về năng lực quản trị rủi ro tín dụng, chưa có những tổng hợp và phân tích về các tiêu chí đánh giá năng lực quản trị rủi ro tín dụng, cũng như nghiên cứu thực tiễn về vấn đề này trong hệ thống ngân hàng Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng;
Từ những kết quả nghiên cứu, khảo sát như trên, tác giả thầy rằng mặc
dù một số vấn đề lý luận về rủi ro tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng đã được
đề cập ít nhiều trong các luận văn, luận án nói trên Do đó, tác giả cho rằng
Trang 17“Nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng” là một đề tài mới, không trùng
lắp với các đề tài đã được nghiên cứu trước đây
3 Khoảng trống và câu hỏi nghiên cứu
Qua nghiên cứu, tìm hiểu những công trình, đề tài nghiên cứu có liên quan tới vấn đề nghiên cứu về rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng có thể thấy rằng các nghiên cứu trên đã nghiên cứu khá sâu sắc và chi tiết về rủi ro tín dụng cũng như quản trị rủi ro tín dụng Tuy nhiên các nghiên cứu trên vẫn còn bỏ ngỏ những khoảng trống cần giải quyết, cụ thể:
Thứ nhất, các nghiên cứu phần lớn mới đề cập tới rủi ro tín dụng và
quản trị rủi ro tín dụng nhưng chưa đề cập tới năng lực quản trị rủi ro tín dụng của các Ngân hàng thương mại nói chung Do đó, đề tài sẽ tập trung tìm hiểu, nghiên cứu về năng lực quản trị rủi ro tín dụng cũng như các giải pháp nhằm tăng cường năng lực quản trị rủi ro tín dụng của các NHTM nói chung – đây chính là điểm sáng của đề tài được nghiên cứu
Thứ hai, Hiệp ước vốn Basel chính là một trong những lý luận cũng như
công cụ nhằm quản trị rủi ro tín dụng hữu hiệu đối với các Ngân hàng thương mại thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng do đó cần được nghiên cứu sâu sắc, cụ thể;
Thứ ba, trong giai đoạn nền kinh tế thị trường không ngừng đổi mới
cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ do đó các công trình nghiên cứu trước đây đã dần bộc lộ những điểm không còn phù hợp với xu hướng mới của nền kinh tế cũng như lĩnh vực ngân hàng Do đó, khi nghiên cứu cần tập trung các rủi ro gắn với những lĩnh vực, sản phẩm dịch vụ mới phù hợp
với xu thế phát triển hiện đại
Để giải quyết được các khoảng trống nghiên cứu trên, luận án cần giải đáp được các câu hỏi nghiên cứu sau:
Trang 18Thứ nhất, năng lực quản trị rủi ro là gì và các tiêu chí để đánh giá năng
lực quản trị rủi ro?
Thứ hai, năng lực quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng hiện nay như
thế nào? Các tiêu chí đánh giá có đáp ứng được yêu cuaafu của quản trị rủi ro tín dụng hay không?
Thứ ba, từ thực trạng đó, Ngân hàng cần đưa ra các biện pháp gì để nâng
cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: năng lực quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam;
Phạm vi nghiên cứu: rủi ro tín dụng và quản trị và năng lực quản trị rủi
ro tín dụng tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Thời gian nghiên cứu: tập trung từ thời điểm sau khi Việt Nam gia nhập
WTO đến nay, năm 2007
5 Mục tiêu nghiên cứu
Với đặc điểm vừa mang tính lý luận, vừa mang tính ứng dụng vào hoạt động thực tiễn của xã hội nên mục đích nghiên cứu của luận án là:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận có liên quan đến năng lực quản trị rủi
ro tín dụng trong các ngân hàng thương mại;
- Khái quát và đánh giá thực trạng hoạt động và năng lực quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ở Việt Nam hiện nay;
- Lấy lý luận soi xét thực trạng đưa ra các giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ở Việt Nam hiện nay
6 Phương pháp nghiên cứu
Trang 19Để hoàn hành mục tiêu nghiên cứu đặt ra, Luận án sử dụng hệ thống đa dạng các phương pháp nghiên cứu khác nhau bao gồm hai nhóm phương pháp
là phương pháp luận và phương pháp cụ thể Theo đó,
Phương pháp luận: là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử
Phương pháp cụ thể: luận án sử dụng hệ thống các phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích, trình bầy để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu Trong đó:
- Phương pháp tổng hợp được sử dụng trong việc hệ thống hóa các vấn
đề lý luận làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài cũng như tổng kết thực tiễn hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam từ đó tổng kết, rút kinh nghiệm làm tiền đề, cơ sở để đưa ra các giải pháp nâng cao Năng lực quản trị rủi ro tín dụng trong Ngân hàng;
- Phương pháp so sánh được sử dụng nhằm đối sánh để đánh giá những đóng góp, những thay đổi trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng qua các năm;
- Phương pháp phân tích được sử dụng trong việc luận giải, chứng minh nhằm làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, trong việc đánh giá năng lực quản trị rủi
ro tín dụng của Ngân hàng trong thời gian qua cũng như đánh giá và lựa chọn giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng
7 Ý nghĩa luận án
Việc hoàn thành luận án trên có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sau:
- Việc hoàn thành mục tiêu nghiên cứu của đề tài sẽ là tư liệu nghiên cứu
lý luận sử dụng trong giảng dạy và nghiên cứu nói chung và tại các trường đại học, học viện nói riêng;
- Đề tài sẽ là tư liệu tham khảo có giá trị trong điều hành thực tiễn trong các Ngân hàng thương mại nói chung và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
Trang 20triển nông thôn nói riêng, đặc biệt trong việc nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng
Trang 21Chương 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
VÀ NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
1.1.1 Rủi ro tín dụng
1.1.1.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng
Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro, theo đuổi lợi nhuận với rủi
ro chấp nhận là bản chất của ngân hàng Rủi ro tín dụng là một trong những loại rủi chiếm tỷ trọng cao nhất trong các loại rủi ro của hoạt động ngân hàng thương mại; đồng thời là nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng kinh doanh ngân hàng Có nhiều khái niệm khác nhau về rủi ro tín dụng Theo tài liệu Quản trị ngân hàng (Bank Management) xuất bản năm 1995 của Đại học Nam Carolina có đưa ra khái niệm như sau:
“Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn” [58]
Theo khái niệm này thì rủi ro tín dụng là khả năng ngân hàng phải chịu tổn thất về tài sản do khách hàng không thanh toán hay suy giảm về thu nhập
do thanh toán muộn hơn so với thời hạn quy định
Trong tài liệu Quản trị các tổ chức tài chính – Một cách nhìn hiện đại (Financial Institutions Management – a Modern Perspective) xuất bản năm
1994 của A Saunders đưa ra khái niệm như sau:
“Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể thực hiện được đầy đủ về mặt số lượng và thời hạn.” [44]
Trang 22Theo từ điển thuật ngữ ngân hàng của Thomas P.Fisch (“Dictionary of
banking terms”) xuất bản năm 2000 đưa ra khái niệm:
“Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn tới sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ Rủi
ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng.” [58]
Khái niệm này đã cụ thể hóa việc khách hàng không thanh toán hoặc thanh toán trễ hẹn là việc khách hàng không thanh toán theo các điều khoản trong hợp đồng được ký kết giữa hai bên
Qua các phân tích trên đây, có thể khái quát rủi ro tín dụng như sau:
“Rủi ro tín dụng là sự biến động giữa thu nhập thực tế và thu nhập dự kiến thu được do sự thay đổi hành vi của khách hàng đối với khoản tín dụng của ngân hàng Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp và xuất phát từ sự sai hẹn của khách hàng trong việc thực hiện nghĩa vụ như đã cam kết Rủi ro tín dụng mang tính tất yếu, khách quan, bất kỳ một khoản tín dụng nào cũng tiềm ẩn rủi ro.”
1.1.1.2 Phân loại rủi ro tín dụng
Tuy rủi ro tín dụng vô cùng phong phú, phức tạp, song người ta có thể phân loại rủi ro tín dụng theo các yêu cầu, tiêu chí thành các loại khác nhau:
Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại như:
+ Rủi ro danh mục: là rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do
những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành 02 loại: Rủi ro nội tại và rủi ro tập trung;
+ Rủi ro giao dịch: là hình thức rủi ro tín dụng có nguyên nhân phát sinh
là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá
Trang 23khách hàng Rủi ro giao dịch có 03 bộ phận chính là: Rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ
Nếu căn cứ vào thời gian phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng có thể được chia thành 3 nhóm:
+ Rủi ro trước khi cho vay: là rủi ro xảy ra do ngân hàng có những phân
tích, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng chưa hợp lý, dẫn đến cho vay các ngân hàng không đủ điều kiện đảm bảo khả năng trả nợ trong tương lai
+ Rủi ro trong khi cho vay: là loại rủi ro xẩy ra trong quá trình chuyển
vốn cho khách hàng
+ Rủi ro sau khi cho vay: là loại rủi ro do ngân hàng thương mại không
nắm bắt được tình hình sử dụng vốn và khả năng tài chính của khách hàng
trong quá trình sử dụng vốn vay
Nếu phân loại theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân rủi ro thì rủi ro tín dụng được phân ra thành rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan
+ Rủi ro khách quan: là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên
tai, địch họa, người vay bị chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác làm thất thoát vốn vay trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc chế độ tài chính
+ Rủi ro chủ quan: là do nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay
và người cho vay vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý
do chủ quan khác
Ngoài ra, còn có một số cách phân loại khác như: Căn cứ theo các loại hình rủi ro, phân theo nguồn gốc hình thành, theo đối tượng sử dụng vốn vay
Trang 241.1.2 Quản trị rủi ro tín dụng ở ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Khái niệm về quản trị rủi ro tín dụng
Khái niệm về quản trị rủi ro tín dụng là một khái niệm rộng và có nhiều cách hiểu:
Theo quan điểm của các nhà thống kê học hiện đại thì quản trị rủi ro tín dụng là quá trình ngăn ngừa tiềm năng xuất hiện của việc không thanh toán được nợ của khách hàng sẽ có thể xẩy ra trong tương lai
Theo cuốn “Quản trị ngân hàng thương mại” (Commercial bank management) của Peter S Rose xuất bản năm 2002 thì:
“Quản trị rủi ro tín dụng là việc các nhà quản trị rủi ro tín dụng bằng các nghiệp vụ của ngân hàng để hạn chế khả năng xẩy ra tổn thất trong hoạt động tín dụng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết” [55]
Theo định nghĩa này, quản trị rủi ro tín dụng chính là việc các cán bộ, chuyên viên quản trị rủi ro của ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ của mình trong việc kiểm tra, giám sát các hoạt động cấp tín dụng nhằm giảm thiểu khả năng không thu hồi được nợ hoặc thu hồi không đầy đủ số nợ của khách hàng Đây cũng là một trong những nội dung hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận ở mức rủi ro có thể chấp nhận được Trong mọi hoạt động của đời sống
xã hội nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng đều không thể tránh khỏi các rủi ro có thể xảy ra, đối với hoạt động ngân hàng rủi ro tín dụng là điều khó tránh khỏi Do đó, mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng chính là việc hạn chế hoặc giảm thiểu rủi ro tới mức có thể chấp nhận được thay vì triệt tiêu hoàn toàn rủi ro
Qua phân tích trên cho thấy, một trong những yếu tố quan trọng trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng chính là việc xây dựng khẩu vị rủi ro của ngân hàng Nghĩa là, ngân hàng cần phải xây dựng mức độ rủi ro có thể chấp
Trang 25nhận được trong hoạt động tín dụng của mình Trên cơ sở đó xây dựng các cơ chế, chính sách về quản trị rủi ro cho phù hợp
Trong luận án tiến sỹ “Quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn” của tác giả Nguyễn Tuấn Anh có đưa ra
quan điểm:
“Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, chính sách, biện pháp có liên quan đến hoạt động tín dụng nhằm ngăn ngừa, hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng” [1]
Trong khái niệm nêu trên đây, tác giả đã đưa ra quản trị rủi ro tín dụng là
cả một quá trình từ xây dựng tới thực thi các cơ chế, chính sách và biện pháp tác động tới hoạt động tín dụng để ngăn ngừa, hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng Tuy nhiên, các khái niệm trên đây đều chỉ nêu khái quát về việc ngăn ngừa, hạn chế hoặc giảm thiểu rủi ro tín dụng nhưng chưa đưa ra thước đo cụ thể về mức độ ngăn ngừa, hạn chế hay giảm thiểu rủi ro tín dụng như thế nào
Qua các phân tích trên đây, có thể khái quát như sau:
“Quản trị rủi ro tín dụng trong Ngân hàng thương mại là tổng hòa các biện pháp, chính sách của ngân hàng thương mại tác động tới hoạt động tín dụng nhằm ngăn ngừa, hạn chế rủi ro tín dụng cho ngân hàng tới mức có thể chấp nhận được.”
Ở đây, để hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng đạt được hiệu quả cao Ngân hàng cần xây dựng chiến lược quản trị rủi ro tín dụng của mình, trong đó có nội dung hết sức quan trọng về khẩu vị rủi ro hay nói cách khác là mức độ rủi ro có thể chấp nhận được của ngân hàng Trên cơ sở chiến lược quản trị rủi ro đã xây dựng, ngân hàng tiếp tục xây dựng chính sách, biện pháp, các quy trình và thủ tục thực thi hoạt động quản trị rủi ro tín dụng trên
Trang 26cơ sở tuân thủ, nhất quán với chiến lược quản trị rủi ro tín dụng đã xây dựng trước đó
Quản trị rủi ro tín dụng không có nghĩa là né tránh rủi ro mà phải đối diện với nó và tìm cách xử lý nó một cách hiệu quả nhất
1.1.2.2 Nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng
Để xây dựng một hệ thống quản trị rủi ro tín dụng tốt, các ngân hàng cần tuân thủ các nhóm yêu cầu, nguyên tắc sau:
a Thiết lập môi trường rủi ro tín dụng phù hợp
Thứ nhất, Ban Giám đốc cần có trách nhiệm trong việc phê chuẩn và
định kỳ (ít nhất là hàng năm) phải xem xét chiến lược rủi ro tín dụng và các chính sách rủi ro tín dụng trọng yếu của ngân hàng Chiến lược có thể ảnh hưởng tới khả năng ghánh chịu rủi ro của ngân hàng và mức độ sinh lời mà
ngân hàng mong đợi để có thể gánh chịu những rủi ro tín dụng đa dạng
Thứ hai, các nhà quản lý cấp cao cần có trách nhiệm cho việc thực hiện
chiến lược rủi ro tín dụng đã được phê chuẩn bởi Ban Giám đốc và việc hoàn thiện chính sách, thủ tục cho việc nhận diên, tianhs toán, giám sát và kiểm soát rủi ro tín dụng Các chính sách, thủ tục cần chỉ ra rủi ro tín dụng trong tất
cả các hoạt động của ngân hàng kể cả tín dụng cá nhân và các cấp độ danh mục tín dụng
Thứ ba, ngân hàng cần nhận diện và quản lý rủi ro tín dụng tiềm tàng
trong tất cả các sản phẩm, hoạt động của mình Các ngân hàng phải đảm bảo rằng rủi ro của các sản phẩm, hoạt động mới với họ đã được đảm bảo một cách đầy đủ bởi các thủ tục, các bước kiểm soát rủi ro trước khi được giới thiệu, thực hiện hoặc phê duyệt trước bởi ban giám đốc hoặc các ban ngành
có thẩm quyền
Trang 27b Hoạt động dưới quy trình cấp tín dụng hoàn chỉnh
Thứ nhất, ngân hàng phải hoạt động với các tiêu chuẩn cấp tín dụng
hoàn chỉnh, rõ ràng Các tiêu chuẩn này thường bao gồm các chỉ dẫn rõ ràng
về thị trường mục tiêu của ngân hàng và những hiểu biết thấu đáo về người vay cũng như mục đích và kết cấu của khoản tín dụng, nguồn trả nợ của nó
Thứ hai, ngân hàng cần thiết lập các hạn mức tín dụng chung cho các đối
tượng vay cá nhân và các đối tác, các tổ chức của các đối tác có liên quan
Thứ ba, ngân hàng cần thiết lập quy trình rõ ràng trong việc phê duyệt
khỏan tín dụng mới như các sửa đổi bổ sung, gia hạn hoặc tái cấp vốn các khoản tín dụng hiện hữu
Thứ tư, tất cả các việc mở rộng tín dụng phải được thực hiện dựa trên cơ
sở bình thường Thông thường, các khoản tín dụng liên quan tới doanh nghiệp
và cá nhân phải được ủy quyền dựa trên các cơ sở ngoại lệ, được giám sát bởi các bước thích hợp nhằm kiểm soát hoặc giảm thiểu rủi rỏ của các khoản vay bất thường
c Duy trì việc quản lý tín dụng phù hợp, đánh giá và giám sát quy trình Thứ nhất, ngân hàng cần có sẵn một hệ thống quản lý liên tục các danh
mục tín dụng mang các rủi ro khác nhau
Thứ hai, ngân hàng cần có hệ thống sẵn sàng cho việc giám sát tình hình
các khoản tín dụng cá nhân, bao gổm cả việc xác định đầy đủ các khoản dự phòng
Thứ ba, các ngân hàng được khuyến khích để phát triển và tận dung hệ
thống xếp hạng tín dụng nội bộ trong quản trị rủi ro tín dụng Hệ thống chỉ số cần phải phù hợp với bản chất, quy mô và mức độ phức tạp của các hoạt động của ngân hàng
Thứ tư, ngân hàng phải có hệ thống thông tin và các kỹ thuật phân tích
cho phép nhà quản lý tính toán được các rủi ro tiềm tàng của các hoạt động
Trang 28trong và ngoài bảng cân đối kế toán Hệ thống thông tin quản lý phải cung cấp đầy đủ thông tin về cấu trúc của danh mục tín dụng, kể cả việc nhận diện bất
kỳ sự tập trung rủi ro nào
Thứ năm, ngân hàng cần có sẵn một hệ thống nhằm giám sát chung về cơ
cấu và chất lượng của danh mục tín dụng
Thứ sáu, ngân hàng cần xem xét các thay đổi tiềm tàng trong tương lai
về điều kiện kinh tế khi đánh giá các khoản tín dụng cá nhân và các danh mục tín dụng của mình Đồng thời cũng cần đánh giá các rủi ro tín dụng trong tình hình căng thẳng
d Đảm bảo đầy đủ các kiểm soát đối với rủi ro tín dụng
Thứ nhất, ngân hàng cần thiết lập một hệ thống độc lập, thường xuyên
đánh giá các quy trình quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng và kết quả của việc rà xoát có thể được thông báo trực tiếp lên hội đồng quản trị hoặc nhà quản lý cấp cao
Thứ hai, ngân hàng cần đảm bảo rằng các chức năng cấp tín dụng được
quản lý một cách thích hợp và rủi ro tín dung với các mức độ phù hợp với nguyên tắc thận trọng và giới hạn nội bộ Ngân hàng cần thiết lập và thực thi
hệ thống kiểm soát nội bộ và các hoạt động khác để đảm bảo rằng các ngoại
lệ về chính sách, thủ tục và các giới hạn được báo cáo một cách kịp thời tới các cấp quản lý có thẩm quyền cho việc ra quyết định
Thứ ba, ngân hàng phải có sẵn một hệ thống cho các hành động sớm
nhằm khắc phục rủi ro tín dụng, quản trị các vấn đề tín dụng và các tình huống tương tự
e Vai trò của người giám sát
Vai trò của các giám sát viên nhằm đảm bảo cho các ngân hàng có được một hệ thống hiệu quả sẵn có để nhận diện, đo lường, giám sát và kiểm soát rủi ro tín dụng, đóng vai trò nhưu là một phần của phương pháp kiểm soát rủi
Trang 29ro Các giám sát viên thực hiện các đánh giá độc lập về chiến lược, chính sách, thủ tục và các hoạt động của ngân hàng liên quan tới việc cấp tính dụng
và việc quản lý liên tục các danh mục tính dụng Các giám sát viên cần cân nhắc việc thiết lập giới hạn thận trọng để hạn chế rủi ro ngân hàng cho các đối tượng vay cá nhân hoặc tổ chức
1.1.2.3 Nội dung quản trị rủi ro tín dụng
a Nhận dạng và phân tích rủi ro
Khái niệm rủi ro tín dụng chỉ ra rằng ngân hàng có nguy cơ xẩy ra tổn thất khi khách hàng không thực được các nghĩa vụ như đã cam kết Ngân hàng thương mại cần phải nắm bắt được tình trạng của hoạt động tín dụng để
từ đó có những biện pháp hạn chế tới mức thấp nhất những rủi ro có thể xẩy
ra
Các ngân hàng thường nhận dạng rủi ro tín dụng thông qua các dấu hiệu sau:
Các dấu hiệu tài chính:
Các dấu hiệu phi tài chính;
Các dấu hiệu về các vấn đề kỹ thuật và thương mại;
Các dấu hiệu về xử lý thông tin tài chính;
Các dấu hiệu khác
Thứ nhất, các dấu hiệu tài chính:
- Các chỉ số thanh khoản cho thấy dấu hiệu suy yếu: các chỉ số thanh
khoản phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ của đơn vị Các chỉ số thanh khoản cao cho thấy đơn vị có khả năng thanh toán các khoản nợ tốt, tuy nhiên nếu các chỉ số thanh khoản quá cao lại cho thấy đơn vị đang lãng phí nguồn lực của mình Để xem xét khả năng thanh khoản của khách hàng, thường xem xét tới các chỉ số sau: tỷ số thanh toán hiện hành; tỷ số thanh toán nhanh; tỷ số thanh toán tiền mặt
Trang 30- Các chỉ số khả năng sinh lời là các chỉ số phản ánh hiệu quả hoạt động
của đơn vị Thông qua các chỉ số này có thể thấy được đơn vị đang hoạt động
có hiệu quả, có đạt được lợi nhuận tốt hay không Các chỉ số khả năng sinh lời của đơn vị có thể được tính toán dựa trên các chỉ số sau: tỷ suất sinh lời trên tài sản; tỷ suất lợi nhuận thuần; tỷ suất lợi nhuận gộp; tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE); lợi nhuận biên từ hoạt động kinh doanh
- Các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu vốn như tỷ suất tự tài trợ; tỷ suất tự tài trợ
TSCĐ và các chỉ tiêu khác
- Các chỉ số vòng quay hoạt động thường được sử dụng bao gồm: hệ số
vòng quay hàng tồn kho; hệ số vòng quay các khoản phải thu; hệ số vòng quay các khoản phải trả; hệ số vòng quay TSCĐ; hệ số vòng quay tổng tài sản
Thứ hai, các dấu hiệu phi tài chính
Ngoài các thông tin tài chính, các thông tin phi tài chính cũng là dấu hiệu cảnh báo về rủi ro tín dụng cho các ngân hàng Khi xem xét rủi ro tín dụng có khả năng xảy ra, ngân hàng cần xem xét các dấu hiệu sau: giảm sút mạnh số
dư tiền gửi; công nợ gia tăng; mức độ vay thường xuyên; yêu cầu khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến; chấp nhận sử dụng nguồn tài trợ lái suất cao; chấp nhận thanh toán nợ gốc và lãi cho ngân hàng; có sự thay đổi về cơ cấu ngân sách trong hệ thống quản trị; xuất hiện sự bất đồng trong hệ thống điều hành;
ít kinh nghiệm, xuất hiện nhiều hành động nhất thời; thuyên chuyển nhân viên quá thường xuyên; tranh chấp trong quá trình quản lý; chi phí quản lý bất hợp pháp; quản lý có tính gia đình
Thứ ba, các dấu hiệu về vấn đề kỹ thuật và thương mại
Các dấu hiệu về mặt kỹ thuật và thương mại thường được sử dụng, xem xét để nhận diện rủi ro tín dụng bao gồm: khó khăn trong phát triển các sản phẩm mới hoặc không có sản phẩm thay thế; những thay đổi chính sách của
Trang 31nhà nước; sản phẩm có tính thời vụ cao; có biểu hiện cắt giảm chi phí; thay đổi trên thị trường về lãi suất, tỷ giá, mất khách hàng lớn, vấn đề thị hiếu
Thứ tư, các vấn đề về xử lý thông tin phi tài chính
Các vấn đề về xử lý thông tin phi tài chính được sử dụng trong xét đoán
về rủi ro tín dụng bao gồm: sự gia tăng tỷ lệ không cân đối nợ; chuẩn bị số liệu tài chính không đủ, trì hoãn nộp báo cáo; khả năng tiền mặt giảm hoặc cố tình làm đẹp bằng TSCĐ vô hình; phải thu tăng nhanh và thời hạn thanh toán kéo dài; kết quả kinh doanh lỗ
Thứ năm, các dấu hiệu khác
Các dấu hiệu khác có thể được sử dụng bao gồm: sự xuống cấp của đơn
vị kinh doanh; hàng tồn kho tăng do không bán được, hư hỏng, lạc hậu; có sự
kỷ luật với cán bộ chủ chốt
b Đo lường rủi ro tín dụng
Mô hình định tính được xem là mô hình cổ diển để đánh giá rủi ro tín dụng Hiện nay, hầu hết các ngân hàng đều tiếp cận phương pháp đánh giá rủi
ro hiện đại hơn, đó là lượng hóa rủi ro tín dụng Sau đây, là một số mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng thường được sử dụng nhiều nhất:
Thứ nhất, mô hình định tính
Mô hình định tính thường được sử dụng là mô hình 6C (Phân tích tín dụng) kết hợp với việc kiểm tra tín dụng Đối với mô hình 6C, thì với mỗi khoản vay, câu hỏi đầu tiên của ngân hàng là liệu khách hàng có thiện chí và khả năng thanh toán khi khoản vay đến hạn hay không? Điều này liên quan đến việc nghiên cứu chi tiết “6 khía cạnh – 6C” của khách hàng, bao gồm:
Tư cách người vay (Character): cán bộ tính dụng phải chắc chắn rằng
liệu khách hàng có mục đích tín dụng rõ ràng vầ có thiện chí nghiêm chỉnh trả
nợ khi hết hạn
Trang 32Năng lực của người vay (Capacity): Người đi vay phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, người vay phải là đại diện hợp pháp của doanh nghiệp
Thu nhập của người vay (Cashflow): xác định nguồn trả nợ của khách hàng vay nợ
Bảo đảm tiền vay (Collater): là nguồn thu thứ 2 có thể dùng để trả nợ vay cho ngân hàng
Các điều kiện (Conditions): ngân hàng quy định các điều kiện tùy theo chính sách tín dụng từng thời kỳ
Kiểm soát (Control): đánh giá những ảnh hưởng do sự thay đổi của pháp luật, quy chế hoạt động, khả năng khách hàng đáp ứng các tiêu chuẩn của ngân hàng
Thứ hai, mô hình định lượng
Các mô hình định lượng thường được sử dụng trong đo lường rủi ro tín dụng bao gồm: mô hình điểm số Z; mô hình xếp hạng tín dụng của Moody và Standard & Poor; mô hình dựa trên mức tổn thất ước tính được (Expected loss)
Mô hình điểm số Z: mô hình này do E.Ialtman xây dựng và phụ thuộc
vào các yếu tố:
Chỉ số các yếu tố tài chính của người vay – X
Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của người vay trong quá khứ
Mô hình này được mô tả như sau:
Trang 33X3: Tỷ số “Lợi nhuận trước thuế và lãi/tổng tài sản”
X4: Tỷ số “Trị giá cổ phiếu/ giá trị ghi sổ của nợ dài hạn”
X5: Tỷ số “ Doanh thu/tổng tài sản”
Trị số Z càng cao, thì người vay có xác suất với nợ càng thấp Như vậy, khi trị số Z thấp hoặc là một số âm là một căn cứ để xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao
Z < 1,8: Khách hàng có khả năng rủi ro cao
Mô hình xếp hạng của Moody và Standard & Poor
Phương pháp xếp hạng tín nhiệm của Moody tập trung vào bốn lĩnh vực chính là đánh giá môi trường ngành, đánh giá tình hình tài chính, đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh và đánh già khả năng quản trị doanh nghiệp chú trọng vào quản trị rủi ro và kiểm soát nội bộ
Quy trình đánh giá của Moody‟s bao gồm các bước:
- Thu thập thông tin cho đến khi đầy đủ để đánh giá rủi ro của bên nắm
giữ nợ hay mua chứng khoán, bao gồm cả việc thảo luận với bên đi vay;
- Đưa ra kết luận trước hội đồng xếp hạng;
- Theo dõi liên tục để quyết định xem có cần thay đổi mức xếp hạng hay
không;
- Thông báo quan điểm xếp hạng ra thị trường
Trang 34Bảng xếp hạng tín nhiệm của Moody‟s đối với công cụ nợ dài hạn của doanh nghiệp cao nhất từ AAA và thấp dần tới D ứng với mức chất lượng cao
nhất và mức chất lượng kém nhất tương ứng với việc phá sản hoàn toàn
Đo lường rủi ro khoản vay dựa trên mức tổn thất ước tính được (Expected loss): một phương pháp khác được sử dụng trong việc lượng hóa
rủi ro xảy ra là phương pháp đánh giá dựa trên hệ thống xếp hạng nội bộ Để ước lượng mức vốn tối thiểu để đối mặt với rủi ro phương pháp này căn cứ vào các yếu tố định tính và định lượng Theo phương pháp này, các ngân hàng
có thể sử dụng mô hình để ước lượng xác suất không trả được nợ của khách hàng (Probability of Default -PD) dựa trên kết quả của công tác xếp hạng tín dụng nội bộ Phương pháp đánh giá dựa trên xếp hạng tín dụng nội bộ gồm hai phương pháp để các ngân hàng lựa chọn tùy thuộc vào đặc điểm, quy mô,
tổ chức và nguồn lực của mình bao gồm (a) Phương pháp đánh giá dựa trên xếp hạng nội bộ cơ bản và (b) phương pháp đánh giá dựa trên xếp hạng nội bộ cao cấp Đồng thời, phương pháp này còn đưa ra khái niệm tổn thất mất vốn
do khách hàng không trả được nợ Theo hiệp ước Basel II thì tổn thất tín dụng của một danh mục có thể phân chia thành hai loại là Khoản tổn thất dự tính được (Expected loss) và khoản tổn thất không dự tính được (Unexpected loss) Trong đó, Tổn thất dự tính được (EL) là mức tổn thất trung bình được tính toán qua các số liệu thống kê trong quá khứ vì ngân hàng không biết chính xác 100% khách hàng nào là khách hàng xấu và khoản vay nào không thể trả được trong 12 tháng tới Khi áp dụng phương pháp này, các ngân hàng muốn xác định mức tổn thất dự tính được (EL) thì cần phải xác định các nhân
tố sau: PD – Xác suất khách hàng không trả nợ được (Probability of Default);
Tỷ trọng tổn thất ước tính – LGD (Loss Given Default) và tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả nợ được – EAD (Exposure At Default)
Trang 35Tổn thất cho mỗi kỳ hạn có thể ước tính được dựa trên công thức:
EL = PD x EAD x LGD
Trong đó:
(1) PD - xác suất không trả được nợ: cơ sở của xác suất này là các
số liệu về các khoản nợ trong quá khứ của khách hàng, gồm các khoản nợ đã trả, khoản nợ trong hạn và khoản nợ không thu hồi được Theo yêu cầu của Basel II, để tính toán được nợ trong vòng một năm của khách hàng, ngân hàng phải căn cứ vào số liệu dư nợ của khách hàng trong vòng ít nhất là 5 năm trước đó
(2) Tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ (EAD) được xác định tương đối đơn giản đối với các khản vay có kỳ
hạn Tuy nhiên đối với khoản vay không kỳ hạn thì khá phức tạp Theo thống
kê của ủy ban Basel, tại thời điểm không trả được nợ, khách hàng thường có
xu hướng rút vốn vay tới mức gần xấp xỉ hạn mức được cấp Do đó, ủy ban Basel II yêu cầu tính EAD như sau:
EAD = Dư nợ bình quân + LEQ x Hạn mức tín dụng chưa sử dụng bình quân
Trong đó, LEQ (Loan Equivalent Exposure) là tỷ trọng phần vốn chưa sử dụng có nhiều khả năng sẽ được khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ “LEQ x Hạn mức tín dụng chưa sử dụng bình quân” chính là phần
dư nợ khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ ngoài mức dư nợ bình quân
(3) LGD: tỷ trọng tổn thất ước tính - đây là tỷ trọng phần vốn bị tổn
thất trên tổng dư nợ tại thời điểm khách hàng không trả được nợ LGD không chỉ bao gồm tổn thất về khoản vay mà còn bao gồm các tổn thất khác phát sinh khi khách hàng không trả được nợ, đó là lãi suất đến hạn nhưng không
Trang 36được thanh toán và các chi phí hành chính có thể phát sinh như: chi phí xử lý tài sản thế chấp, các chi phí cho dịch vụ pháp lý và một số chi phí liên quan
Tỷ trọng tổng thất ước tính có thể tính toán theo công thức sau đây:
LGD = (EAD - Số tiền có thể thu hồi)/EAD
c Phòng ngừa rủi ro xảy ra
Rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại là một yếu tố tất yếu khách quan,
do vậy quản trị rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại không thể né tránh rủi
ro mà chỉ có thể hạn chế thấp nhất những tổn thất có thể xẩy ra khi các khoản tín dụng xẩy ra rủi ro Từ việc đã lượng hóa được mức độ rủi ro cũng như việc xác định được nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại thực hiện các biện pháp kiểm soát rủi ro thích hợp
Thứ nhất, thực hiện công tác thẩm định và phân tích tín dụng
Các ngân hàng thương mại đều phải xây dựng cho mình quy trình cấp tín dụng chặt chẽ trong đó bao hàm khâu thẩm định và phân tích tín dụng Trước khi cấp tín dụng cho khách hàng, ngân hàng phải tiến hành thẩm định và phân tích khách hàng trên nhiều khía cạnh như khả năng thanh toán, tính hiệu quả của phương án đầu tư,… đồng thời cần phân tích chính sách tín dụng của mình để từ đó đưa ra phương án cấp tín dụng hợp lý, giảm thiểu rủi ro tín dụng có thể xảy ra
Thứ hai, Sử dụng tài sản đảm bảo chắc chắn trong hoạt động cấp tín dụng
Để đảm bảo, hạn chế tổn thất cho ngân hàng khi rủi ro xảy ra, việc sử dụng tài sản đảm bảo trong các giao dịch cho vay giữa ngân hàng và khách hàng đã khá phổ biến Các hình thức cho vay có đảm bảo bao gồm:
- Cho vay đảm bảo bằng tài sản cầm cố;
- Cho vay đảm bảo bằng tài sản thế chấp;
- Đảm bảo tiền vay theo phương thức bảo lãnh;
Trang 37- Đảm bảo tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay
Để đảm bảo mức độ chắc chắn của tài sản đảm bảo; khi thực hiện cho vay có đảm bảo thì ngân hàng phải thực hiện đánh giá tài sản đảm bảo, căn cứ vào đó để xác định hạn mức tín dụng phù hợp
Thứ ba, thực hiện công tác thu thập thông tin
Việc thu thập thông tin cần được thực hiện một cách nghiêm túc từ trước khi ra quyết định cho khách hàng tới khi khách hàng thanh toán hết các khoản vay Các giai đoạn thu thập thông tin có thể chia thành:
Thu thập thông tin nhằm ra quyết định cấp tín dụng: trong giai đoạn này, ngân hàng cần thu thập đầy đủ các thông tin về kinh tế vĩ mô cũng như vi mô
Cụ thể, ngân hàng cần thu thập thông tin về đơn vị như tình hình tài chính, khả năng thanh toán, cũng như hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh; các thông tin về quy mô, kế hoạch sản xuất kinh doanh, lĩnh vực – ngành nghề kinh doanh, uy tín của ban điều hành, chủ sở hữu doanh nghiệp Bên cạnh các thông tin này, các ngân hàng cũng cần thu thập các thông tin kinh tế vĩ mô như tình hình nền kinh tế nói chung và tình hình, đặc điểm và xu hướng phát triển của ngành nghề mà đơn vị hoạt động, các chính sách của nhà nước đối với các ngành nghề này cũng như các quy định pháp lý có liên quan,… Các thông tin trên là căn cứ, cơ sở để ngân hàng đưa ra quyết định có cấp tín dụng hay không? Hạn mức tín dụng và thời hạn tín dụng
Sau khi thực hiện cấp tín dụng, ngân hàng phải thường xuyên theo dõi việc sử dụng và hiệu quả của việc sử dụng vốn vay để có phương án thu hồi vốn vay phù hợp, hạn chế tổn thất xảy ra khi đơn vị gặp phải khó khăn, rủi ro đột xuất
Thứ tư, thực hiện việc giám sát tín dụng và xếp hạng khách hàng
Các ngân hàng thường xuyên tiến hành việc đánh giá, xếp hạng khách hàng cũng như giám sát các khoản tín dụng đã cấp cho khách hàng Việc xếp
Trang 38hạng khách hàng giúp doanh nghiệp đánh giá trước các rủi ro có thể xảy ra nhằm có các biện pháp ngăn ngừa, dự phòng thích hợp Trên cơ sở đó hạn chế tổn thất khi rủi ro xảy ra
Thứ năm, thực hiện các biện pháp nhằm phân tán rủi ro
Phân tán rủi ro tín dụng là việc thực hiện đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng, đa dạng đối tượng khách hàng cũng như các ngành, lĩnh vực nhằm giúp ngân hàng hạn chế được rủi ro tín dụng xảy ra Các phương pháp phân tán rủi
ro cụ thể như sau:
- Đa dạng hóa các hình thức tín dụng;
- Đa dạng hóa các đối tượng khách hàng;
- Đa dạng hóa việc cấp tín dụng cho các ngành, lĩnh vực khác nhau;
- Liên kết đầu tư (Cho vay đồng tài trợ);
Thứ sáu, sử dụng các nghiệp vụ phái sinh
Sử dụng các nghiệp vụ phái sinh thông qua các hợp đồng quyền chọn tín dụng (Credit options) và hợp đồng trao đổi tín dụng (Credit swap) Thực hiện các hợp đồng quyền chọn tín dụng là một công cụ bảo vệ ngân hàng trước những tổn thất trong trị giá tài sản tín dụng, giúp bù đắp mức chi phí vay vốn cao hơn khi chất lượng tín dụng của ngân hàng giảm sút Các hợp đồng này đồng thời giúp ngân hàng giảm thiểu chi phí vay vốn gia tăng do chất lượng tín dụng của ngân hàng giảm sút
d Xử lý rủi ro xảy ra
Sau khi xem xét các dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng có khả năng xảy
ra, ngân hàng cần thực hiện các bước công việc gồm có:
Thứ nhất, kiểm tra hồ sơ khoản vay có vấn đề
Ngay khi phát hiện ra những dấu hiệu rủi ro tín dụng có khả năng xảy ra, Ngân hàng phải lập tức tổ chức thực hiện những bước công việc sau:
Trang 39- Kiểm tra hồ hơ khoản vay để xem xét xem hồ sơ có đầy đủ, có thể đưa
ra như là bằng chứng tại tòa khi phát sinh khiếu kiện hay không? các giấy tờ liên quan tới TSBĐ có đầy đủ, hợp lệ không;…
- Tiến hành định giá lại TSBĐ nhằm xác định giá trị hiện tại của TSBĐ
- Xem xét việc giảm Hạn mức tín dụng/dư nợ được duyệt mà khách hàng
chưa dùng đến nhằm giảm mức độ rủi ro
- Tìm hiểu lại gia đình của người vay (khách hàng cá nhân) để chắc chắn
rằng những người tạo thu nhập chính và chủ sở hữu tài sản đều được ràng buộc trong những hợp đồng bảo đảm tiền vay đã ký với ngân hàng
- Xem xét bổ sung tài sản bảo đảm
Thứ hai, gặp gỡ và thảo luận với khách hàng
Sau khi tiến hành kiểm tra các hồ sơ tín dụng có vấn đề, ngân hàng cần
cử đại diện gặp gỡ, trao đổi với khách hàng, cụ thể:
- Đại diện ngân hàng thông báo cho khách hàng một số vấn đề liên quan như bản chất và nguyên nhân của vấn đề mà ngân hàng đang xem xét có thể ảnh hưởng tới mức độ an toàn về hạn mức rủi ro của ngân hàng; khách hàng cần hợp tác với ngân hàng để khắc phục những phát sinh của khách hàng; đàm phán yêu cầu khách hàng phải có kế hoạch và biện pháp cụ thể bằng văn bản để khắc phục tình hình; đơn vị kinh doanh có thể yêu cầu khách hàng phải thực hiện một số biện pháp cần thiết để thực hiện HĐTD đã ký; yêu cầu giảm nợ tương ứng hoặc yêu cầu khách hàng bổ sung tài sản bảo đảm vốn vay đối với số nợ không có khả năng thanh toán;
- Yêu cầu khách hàng cung cấp bổ sung một số thông tin (nếu cần) nhằm cùng khách hàng tìm ra một kế hoạch hành động phù hợp
Thứ ba, lập kế hoạch hành động
- Chuẩn bị kế hoạch: căn cứ tình hình hiện tại và dấu hiệu cụ thể của
khách hàng, Ngân hàng xây dựng một kế hoạch hành động cụ thể
Trang 40- Nội dung chính của kế hoạch hành động: xác định rõ các vấn đề tồn tại hoặc các phát sinh mới của khoản vay; các giải pháp xử lý vấn đề này; cách thức thực hiện giải pháp này; tiến độ thực hiện các giải pháp; ngân hàng khi trình kế hoạch phải giải trình về tính hợp lý của kế hoạch hành động
- Trình phê duyệt: ngân hàng phải trình kế hoạch để cấp có thẩm quyền phê duyệtvà chỉ đạo thực hiện kế hoạch
Thứ tư, thực hiện kế hoạch
Gặp gỡ khách hàng
- Ngân hàng tiến hành gặp gỡ khách hàng ngay khi kế hoạch được phê duyệt Trong trường hợp này kế hoạch phải được coi như một thỏa ước với khách hàng vay, trong đó ghi rõ các điều khoản và điều kiện liên quan đến việc tiếp tục khoản vay nhằm tránh những hiểu lầm giữa hai bên
- Tùy theo đối tượng, đặc tính của sản phẩm bán ra của khách hàng mà đưa ra cách thức theo dõi và quản lý các điều khoản trong kế hoạch cho phù hợp
- Tại buổi gặp gỡ với khách hàng, Ngân hàng phải chú ý tới mọi mối quan tâm của khách hàng liên quan đến kế hoạch
- Trong trường hợp khách hàng vay bày tỏ không đồng ý với kế hoạch vì
họ cho rằng kế hoạch đó là quá khắt khe, cơ hội đạt được là khó khăn, xa vời, cần phải tìm hiểu xem khách hàng có còn động cơ tiếp tục kinh doanh nữa hay không
Tư vấn khách hàng tháo gỡ khó khăn
Để hỗ trợ cho việc thực hiện kế hoạch, Ngân hàng cần tư vấn cho khách hàng nhằm tháo gỡ khó khăn trong kinh doanh Những khó khăn nói ở đây thuộc dạng nhất thời, chủ yếu do cung cách điều hành, chiến lược kinh doanh bất hợp lý, chậm thích nghi với sự thay đổi của thị trường, mô hình không còn