1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU TẠI VIỆT NAM

173 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 173
Dung lượng 2,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG, MUA BÁN NỢ XẤU ,TẠI VIỆT NAM

Trang 1

- -

NGUYỄN THU HƯƠNG

PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU TẠI VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

- -

NGUYỄN THU HƯƠNG

PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS HOÀNG TRẦN HẬU

2 TS NGUYỄN NGỌC SỰ

HÀ NỘI - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu kết quả nêu trong luận án

là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

Tác giả luận án

Nguyễn Thu Hương

Trang 4

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng, biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU 10

1.1 THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU 10

1.1.1 Nợ và nợ xấu 10

1.1.2 Thị trường mua bán nợ xấu 21

1.2 PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU 29

1.2.1 Khái niệm phát triển thị trường mua bán nợ xấu 29

1.2.2 Điều kiện cần thiết để phát triển thị trường mua bán nợ xấu 30

1.2.3 Nguyên tắc hoạt động để phát triển thị trường mua bán nợ xấu 32

1.2.4 Nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thị trường mua bán nợ xấu 33

1.2.5 Tiêu chí đo lường sự phát triển của thị trường mua bán nợ xấu 36

1.3 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU Ở MỘT SỐ NƯỚC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI VIỆT NAM 41

1.3.1 Kinh nghiệm phát triển thị trường mua bán nợ xấu ở một số nước 41

1.3.2 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam về phát triển thị trường mua bán nợ xấu 51

Kết luận Chương 1 57

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU TẠI VIỆT NAM 58

2.1 THỰC TRẠNG NỢ XẤU VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY MUA BÁN NỢ TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011 - 2015 58

2.1.1 Bối cảnh kinh tế gắn với phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam giai đoạn 2011-2015 58

2.1.2 Thực trạng nợ xấu của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015 64

2.1.3 Hoạt động của các công ty mua bán nợ 74

Trang 5

2.2.1 Thực trạng phát triển thị trường mua bán nợ xấu theo chiều rộng 85

2.2.2 Thực trạng phát triển thị trường mua bán nợ xấu theo chiều sâu 92

2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU TẠI VIỆT NAM 98

2.3.1 Những kết quả đạt được 98

2.3.2 Những vấn đề tồn tại 100

2.3.3 Nguyên nhân tồn tại 106

Kết luận Chương 2 115

Chương 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU TẠI VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2025 116

3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU TẠI VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2025 116

3.1.1 Cơ sở đề xuất 116

3.1.2 Quan điểm phát triển thị trường mua bán nợ xấu 117

3.1.3 Mục tiêu phát triển thị trường mua bán nợ xấu 118

3.1.4 Định hướng phát triển thị trường mua bán nợ xấu đến năm 2025 120

3.2 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU TẠI VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2025 121

3.2.1 Nhóm giải pháp chung 121

3.2.2 Nhóm giải pháp phía “cung” của thị trường mua bán nợ xấu 135

3.2.3 Nhóm giải pháp khuyến khích “cầu” của thị trường mua bán nợ xấu 140

3.3 XÂY DỰNG LỘ TRÌNH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU TẠI VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2025 149

3.3.1 Giai đoạn năm 2016- 2018 149

3.3.2 Giai đoạn sau năm 2018 150

3.4 KIẾN NGHỊ 151

3.4.1 Đối với Quốc hội 151

3.4.2 Đối với Chính phủ 151

3.4.3 Đối với các Bộ, Ngành 153

Kết luận Chương 3 156

KẾT LUẬN 157

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 159

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 160

Trang 6

AMC : Công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản

M&A : Mua bán và sáp nhập

Trang 7

Số hiệu Nội dung Trang

Bảng 1.1: Đặc thù và thời hạn các khoản vay 12

Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản giai đoạn 2011-2015 58

Bảng 2.2: FDI giai đoạn 2011-2015 60

Bảng 2.3: Các chỉ tiêu chính sách tiền tệ giai đoạn 2011-2015 63

Bảng 2.4: Nợ xấu của hệ thống ngân hàng giai đoạn 2011-2015 68

Bảng 2.5: Tình hình trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của các TCTD giai đoạn 2011-2015 72

Bảng 2.6: Kết quả kinh doanh của DATC giai đoạn từ 2011-2015 79

Bảng 2.7: Kết quả hoạt động của một vài công ty sau khi mua bán nợ thành công 80

Bảng 2.8: Tình hình mua nợ xấu và thu hồi nợ của VAMC giai đoạn 2013-2015 84

Bảng 2.9: Kết quả hoạt động của VAMC giai đoạn 2013-2015 84

Bảng 2.10: Số lượng doanh nghiệp được DATC mua nợ, hỗ trợ xử lý nợ giai đoạn 2011-2015 90

Bảng 2.11: Tỷ lệ nợ xấu TCTD đã bán cho DATC, VAMC giai đoạn 2011-2015 92

Bảng 2.12: Tình hình mua nợ xấu và thu hồi nợ của DATC, VAMC giai đoạn 2011-2015 95

Bảng 2.13: Doanh thu của DATC giai đoạn 2011-2015 96

Bảng 2.14: Doanh thu, chi phí của VAMC giai đoạn 2013-2015 97

Trang 8

Số hiệu Nội dung Trang

Biểu đồ 1.1: Nguyên nhân của nợ xấu 15

Biểu đồ 2.1: Đánh giá của một số tổ chức tài chính quốc tế về tỷ lệ nợ xấu của Việt Nam 70

Biểu đồ 2.2: Cơ cấu nợ xấu của các TCTD tại một số thời điểm 71

Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ nợ xấu của 8 ngân hàng niêm yết đến 30/9/2015 73

Biểu đồ 2.4: Tổng nợ xấu theo nhóm của 8 ngân hàng niêm yết đến 30/9/2015 73

Biểu đồ 2.5: Quy mô vốn của một số AMC thuộc NHTM 74

Biểu đồ 2.6: Cơ cấu tổ chức của DATC 78

Biểu đồ 2.7: Cơ cấu tổ chức của VAMC 83

Biểu đồ 2.8: Số lượng khách hàng được DATC, VAMC mua nợ và hỗ trợ xử lý nợ xấu giai đoạn 2011-2015 90

Biểu đồ 2.9: Nợ xấu của hệ thống ngân hàng giai đoạn 2011-2015 93

Biểu đồ 2.10: Tình hình mua nợ xấu và thu hồi nợ của DATC giai đoạn 2011-2015 93

Biểu đồ 2.11: Tình hình mua nợ xấu và thu hồi nợ của VAMC giai đoạn 2013-2015 95

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận án

Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và mở rộng hợp tác giao lưu hàng hóa, nhu cầu vốn của các chủ thể kinh tế ngày càng tăng, việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn để mở rộng và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng trở nên cấp bách Theo đó việc mua bán nợ, đặc biệt là các khoản nợ xấu nhằm huy động và sử dụng tối đa nguồn lực phục vụ kinh doanh đang là một trong các vấn đề quan tâm hàng đầu của các tổ chức tín dụng

Thực tế cho thấy, trên thế giới, việc mua bán nợ xấu đã ra đời từ thập niên 1980-1990 và ngày càng phát triển do tác động của các cuộc khủng hoảng nợ ở Mỹ

và Hy Lạp Ở Việt Nam, mua bán nợ xấu mới bắt đầu hình thành từ năm 1999 theo Quyết định số 140/1999/QĐ-NHNN14 ngày 19/4/1999 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc ban hành Quy chế mua bán nợ của các tổ chức tín dụng Qua quá trình phát triển, cơ chế mua bán nợ xấu ngày càng được hoàn thiện, mua bán nợ xấu ngày càng thể hiện rõ vai trò của mình trong quá trình hoạt động kinh doanh của các

tổ chức tín dụng, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng cơ cấu lại nợ, sử dụng vốn

an toàn, hiệu quả, góp phần khơi thông dòng vốn tín dụng phục vụ phát triển kinh tế

- xã hội Tuy nhiên, vì nhiều lý do, thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam chưa phát triển, các tổ chức tín dụng chưa có nhiều lựa chọn trong việc mua bán nợ xấu, tính chất thị trường trong hoạt động mua bán nợ xấu chưa thể hiện rõ nét, lợi ích đem lại từ việc mua bán nợ xấu còn nhiều hạn chế, chưa theo thông lệ quốc tế Vì vậy, phát triển thị trường mua bán nợ xấu là đòi hỏi tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế thị trường trên thế giới cũng như nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Thực tế cho thấy, khi thị trường này phát triển sẽ giúp cho tình hình tài chính của các doanh nghiệp và cả các ngân hàng thương mại được lành mạnh, minh bạch, giảm rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh Về lý thuyết cũng như thực tiễn cho thấy, hoạt động mua bán nợ xấu đang được xem là một lối thoát cho các doanh nghiệp đang gặp phải nhiều khó khăn về tài chính trong sản xuất kinh doanh hiện nay

Trang 10

Xuất phát từ thực trạng trên, việc triển khai nghiên cứu đề tài “Phát triển thị

trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam” là cần thiết cả về lý luận và thực tế, đáp ứng

được yêu cầu phát triển của thị trường tài chính nói chung và của ngành Ngân hàng nói riêng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

2 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu của luận án

Mục đích nghiên cứu của luận án là nhằm đề xuất một hệ thống các giải pháp đồng bộ, khả thi, có căn cứ khoa học và thực tiễn nhằm phát triển thị trường mua bán

nợ xấu tại Việt Nam, từ đó thúc đẩy để thị trường này phát triển

Để thực hiện được mục đích nghiên cứu đã đề ra, đề tài tập trung vào thực hiện những mục tiêu cụ thể sau đây:

- Hệ thống hóa và xây dựng khung lý luận cơ bản về thị trường mua bán nợ xấu và phát triển thị trường mua bán nợ xấu; đưa ra những luận cứ về kinh nghiệm của các nước trong phát triển thị trường mua bán nợ xấu, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm để phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam

- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam trong thời gian qua, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân

- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài:

Nợ xấu của các TCTD, hoạt động của công ty mua bán nợ, thị trường mua bán

nợ xấu và phát triển thị trường mua bán nợ xấu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu hoạt động mua, bán của thị trường nợ

xấu Các nội dung nghiên cứu cụ thể gồm: Lý luận về thị trường mua bán nợ xấu, phát triển thị trường mua bán nợ xấu; thực trạng về phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam, được nghiên cứu tại Công ty Mua bán nợ Việt Nam (DATC), Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) và giải pháp thúc đẩy sự phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam

Trang 11

- Về không gian: Luận án tập trung đánh giá thực trạng phát triển thị trường

mua bán nợ xấu ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015 Đồng thời, đề xuất một hệ thống các giải pháp đồng bộ, khả thi, có căn cứ khoa học và thực tiễn nhằm phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam đến năm 2025

- Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng giai đoạn 2011-2015, đề xuất

các giải pháp phát triển thị trường mua bán nợ xấu đến năm 2025

4 Phương pháp nghiên cứu của luận án

Để giải quyết những nhiệm vụ đặt ra, trong quá trình thực hiện luận án, tác giả

đã sử dụng phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và phương pháp hệ thống: Việc nghiên cứu thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam

được thực hiện một cách đồng bộ gắn với hoàn cảnh, điều kiện và các giai đoạn cụ thể Nội dung phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam được xem xét trong mối liên hệ chặt chẽ với nhau cả về không gian và thời gian

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng là phương pháp định tính,

cụ thể gồm các phương pháp sau:

- Phương pháp thống kê: Tác giả sử dụng số liệu thống kê thích hợp để phục

vụ cho việc phân tích thực trạng phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam

- Phương pháp phân tích tổng hợp: Trên cơ sở phân tích từng nội dung cụ thể,

tác giả đưa ra những đánh giá chung về thực trạng phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Nội hàm việc phát triển thị trường mua bán

nợ xấu ở Việt Nam được xem xét trên cơ sở có sự so sánh đối chiếu giữa các giai đoạn, cũng như so sánh với thực trạng phát triển thị trường mua bán nợ xấu ở các nước trên thế giới

Các nguồn số liệu phục vụ việc nghiên cứu:

- Các nguồn tài liệu thứ cấp bao gồm: Các số liệu thống kê, các văn bản của

các cơ quan Chính phủ, NHNN, Bộ Tài chính, Tổng cục Thống kê…, các công trình nghiên cứu, luận án, các ấn phẩm xuất bản, các bài báo có liên quan đến đề tài Thu thập và hệ thống tài liệu của các tác giả trong và ngoài nước

Trang 12

- Các số liệu và tư liệu sơ cấp: Các số liệu thu thập trên các nguồn có tính

chính xác, có sự đối chiếu, có tính đầy đủ, kịp thời, hoàn toàn phù hợp với đề tài nghiên cứu

Phân tích số liệu:

- Đối với dữ liệu thứ cấp: Tiến hành phân tích, so sánh, tổng hợp và đánh giá

- Đối với dữ liệu sơ cấp: Xử lý kết quả trên Excel hoặc phần mềm Microsoft

SQL data management studio

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Ý nghĩa khoa học: Trên cơ sở sưu tầm, tổng hợp, chắt lọc và kế thừa, luận

án đã hệ thống hóa và làm rõ hơn một số vấn đề lý luận và thực tiễn về nợ xấu, xây dựng khung lý luận cơ bản về thị trường mua bán nợ xấu và phát triển thị trường mua bán nợ xấu Bên cạnh đó, luận án cũng đã sưu tầm kinh nghiệm về phát triển thị trường mua bán nợ xấu của một số quốc gia trên thế giới, từ đó rút ra những kinh nghiệm có thể tham khảo, vận dụng cho việc phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam

Ý nghĩa thực tiễn: Luận án đã tổng hợp và phân tích một cách hệ thống về

thực trạng phát triển thị trường mua bán nợ xấu của Việt Nam trong giai đoạn 2011-

2015 Trên cơ sở phân tích những kết quả đạt được, những hạn chế, luận án cũng đã chỉ ra nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam Kết hợp với kinh nghiệm quốc tế, luận án đã đề xuất một hệ thống các giải pháp đồng bộ, khả thi, có căn cứ khoa học và thực tiễn nhằm phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam trong thời gian tới

6 Tổng quan về tình hình nghiên cứu

6.1 Những nghiên cứu trên thế giới

Sau cuộc khủng hoảng nợ ở nhiều nước thập niên 1980 và 1990, cùng với đó

là cuộc khủng hoảng nợ của Mỹ năm 2007 - 2008 và khủng hoảng nợ ở Hy Lạp, các nhà nghiên cứu và các nhà làm chính sách ở một số nước ngày càng quan tâm nghiên cứu về thị trường mua bán nợ xấu và xử lý nợ xấu, mô hình công ty mua bán

nợ quốc gia, các giải pháp tái cơ cấu hệ thống ngân hàng tài chính, cụ thể như:

Trang 13

Theo nghiên cứu của tác giả Claessens, S.; S Djankov và D Klingebiel

(1999) về “Tái cấu trúc tài chính ở Đông Á: Nửa đường?” ("Financial Restructuring

in East Asia: Halfway there?”), để tái cấu trúc doanh nghiệp sau khủng hoảng tài

chính tiền tệ Đông Á 1997-1998 cũng như phát triển thị trường mua bán nợ thì nhiều quốc gia đã sử dụng công ty mua bán nợ quốc gia như Hàn Quốc, Malaysia Đây cũng là cách thức được một số nhà nghiên cứu đề xuất như nghiên cứu của tác giả Dziobek, C.H và C Pazarbaşioğlu (1997) về “Bài học từ tái cơ cấu hệ thống

ngân hàng” ("Lessons from Systemic Bank Restructuring: A Survey of 24 Countries"),

tuy nhiên, không phải trường hợp nào công ty mua bán nợ cũng được sử dụng để tái cơ cấu doanh nghiệp, trong một số trường hợp, công ty mua bán nợ chỉ được sử dụng như một công cụ quản lý nợ xấu trong giai đoạn khủng hoảng

Bên cạnh đó, nghiên cứu của tác giả Dziobek, C.H (1998) về “Các công cụ

chính sách thị trường đối với tái cơ cấu hệ thống ngân hàng” ("Market-Based Policy Instruments for Systemic Bank Restructuring") chỉ ra rằng mô hình thị trường mua

bán nợ và giải pháp tái cơ cấu hệ thống ngân hàng tài chính phụ thuộc vào từng quốc gia và từng thời kỳ, khó có công thức chung cho tất cả các nước Nghiên cứu của tác giả Ingves, S.; S.A Seelig và D.He (2004) về “Các vấn đề trong thiết lập

Công ty quản lý tài sản, Quỹ tiền tệ quốc tế” (“Issues in the Établishment of Asset Management Companies, International Moneytary Fund”) cho kết quả tương tự

Các tác giả còn chỉ ra rằng để thực hiện thành công việc tái cơ cấu các doanh nghiệp thông qua công ty mua bán nợ thì cần có môi trường pháp lý phù hợp, tính sáng tạo, độc lập trong hoạt động của các công ty mua bán nợ và hoạt động theo nguyên tắc thị trường

Nghiên cứu của tác giả De Luna - Martinez, J (2000) về “Quản lý và giải

quyết khủng hoảng ngân hàng” (“Management and Resolution of Banking Crises”)

có nêu kinh nghiệm của Hàn quốc và Mêhicô cho thấy giải pháp phát triển thị trường mua bán nợ và các công cụ xử lý nợ xấu lại không giống nhau giữa các quốc gia Tương tự, nghiên cứu của tác giả Klingebiel, D (2000) về “Việc sử dụng các Công ty Quản lý tài sản trong việc giải quyết khủng hoảng ngân hàng: Kinh

Trang 14

nghiệm qua nhiều quốc gia” (“The Use of Asset Management Companies in the Resolution of Banking Crises: Cross-Country Experience”) tổng kết ưu nhược điểm

của từng mô hình công ty mua bán nợ, tác giả cho rằng việc lựa chọn cách thức xử

lý nợ phụ thuộc vào bối cảnh từng quốc gia

6.2 Những nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, mua bán nợ là chủ đề được đề cập đến từ cuối những năm 1990 khi thưc hiện quá trình sắp xếp lại hệ thống các doanh nghiệp nhà nước Từ đó đến nay đã có không ít công trình nghiên cứu về thị trường mua bán nợ xấu trên các phương diện khác nhau Dưới đây là một số công trình tiêu biểu liên quan đến nội dung của luận án

Đề tài cấp Bộ (2014) của PGS.TS Hoàng Trần Hậu về “Phát triển thị trường mua bán nợ ở Việt Nam phục vụ tái cơ cấu doanh nghiệp” Đề tài đã tập

trung vào việc hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận về thị trường mua bán nợ Trên cơ sở phân tích thực trạng về thị trường mua bán nợ ở Việt Nam hiện nay, đề tài đã đưa ra các giải pháp hoàn thiện chính sách cho phát triển thị trường mua bán nợ, tuy nhiên các giải pháp này chỉ tập trung vào mục đích phục vụ tái cấu trúc doanh nghiệp

Đề tài cấp Bộ (2014) “Hoàn thiện cơ chế tài chính trong xử lý nợ xấu ngân hàng thúc đẩy tái cấu trúc doanh nghiệp” của ThS Phạm Mạnh Thường cho thấy:

thực trạng về thị trường mua bán nợ kể cả thị trường mua bán nợ trong chuẩn (thị trường trái phiếu doanh nghiệp) và thị trường mua bán nợ xấu đều còn chưa thực sự phát triển ở Việt Nam, công tác xử lý nợ xấu còn nhiều hạn chế, tồn tại Các phân tích và đánh giá của tác giả đã mang lại một cái nhìn tổng quát về tình hình nợ xấu của các ngân hàng, từ đó đề xuất các giải pháp để thúc đẩy xử lý nợ xấu, một số các giải pháp đề xuất đã đề cập một phần đến việc thúc đẩy phát triển thị trường mua bán nợ ở Việt Nam, tuy nhiên mới chỉ là một trong các giải pháp mang tính chất khơi gợi mà chưa đưa ra các bước đi cụ thể

Tác giả Quách Mạnh Hào (2012), “Thực trạng bài toán nợ xấu” khẳng định

thị trường mua bán nợ xấu hiện nay rất thiếu người mua nợ xấu chuyên nghiệp Nếu như phạm vi hoạt động của Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh

Trang 15

nghiệp (DATC) trực thuộc Bộ Tài chính chủ yếu là mua bán nợ tại các DNNN và hầu hết theo sự chỉ định của chính phủ để xử lý thì các công ty Quản lý nợ và khai thác tài sản (AMC) trực thuộc các TCTD cũng giới hạn tiếp nhận và xử lý nợ xấu cho các ngân hàng mẹ Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp này hầu như không tham gia mua bán nợ trên thị trường và do đó các khoản nợ xấu về bản chất chỉ chạy lòng vòng trong các TCTD hoặc các DNNN chứ không thực sự được đưa ra thị trường Nghiên cứu cũng đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện thị trường mua bán nợ tại các ngân hàng thương mại, tuy nhiên các giải pháp mới chỉ tập trung giải quyết ở lĩnh vực ngân hàng thương mại

Nghiên cứu của tác giả Đào Duy Huân (2013) về “Hiện trạng thị trường mua bán nợ ở Việt Nam và giải pháp phát triển” cho thấy thị trường mua bán nợ

của Việt Nam, bên cạnh sự giống nhau, thì cũng có những nét khác biệt so với thị trường mua bán nợ ở các nước khác trên thế giới Bởi vì hàng hóa của thị trường này đang hầu hết là của doanh nghiệp nhà nước, chưa có sự tham gia của các thành phần kinh tế khác Vì vậy, các chính sách để phát triển thị trường mua bán nợ cũng

có nét riêng biệt ở Việt Nam Tác giả cũng nêu một số vấn đề cần phải giải quyết nếu hình thành thị trường mua bán nợ chỉ thông qua việc thành lập các công ty mua bán nợ trực thuộc Ngân hàng Nhà nước nhằm giải quyết các khoản nợ mà doanh nghiệp vay ngân hàng không có khả năng trả Từ đó, tác giả đề xuất một số chính sách nhằm phát triển thị trường này

Nghiên cứu của TS Nguyễn Quốc Hùng (2014) về “Đánh giá sự phù hợp trong lộ trình, cách thức và hoàn thiện cơ cấu cho VAMC”, nghiên cứu của TS Lê Thị Thùy Vân và Ths Vương Duy Lâm (2015) về “VAMC và vấn đề xử lý nợ xấu”

cũng đã chỉ ra các vấn đề về hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các TCTD Việt nam (VAMC), những khó khăn thách thức, các giải pháp để công ty VAMC phát triển, từ đó hỗ trợ việc xử lý nợ xấu trên thị trường mua bán nợ đạt hiệu quả

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước có liên quan đến thị trường mua bán nợ xấu cho thấy mỗi công trình nghiên cứu xem xét ở những góc độ nghiên cứu, gắn với vùng, lãnh thổ, quốc gia khác nhau, cộng với sự biến động của tình hình phát triển kinh tế - xã hội, các công trình nghiên cứu mới

Trang 16

chỉ đề cập và giải quyết được một phần liên quan đến thị trường mua bán nợ xấu

Có thể thấy chưa có công trình nghiên cứu nào tập trung trực tiếp, toàn diện và có

hệ thống về việc phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam, chưa đề xuất được một hệ thống các giải pháp nhằm phát triển thị trường mua bán nợ xấu đến năm 2025 Trước mắt, trong giai đoạn 2016-2020, Việt Nam sẽ đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa để trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nhà nước thực hiện quá trình tái cấu trúc nền kinh tế Việt Nam để điều chỉnh mô hình tăng trưởng Trong hoàn cảnh này, thị trường mua bán nợ xấu của Việt Nam cần phát triển để phù hợp với yêu cầu tái cấu trúc nền kinh tế

Với những lý do trên đây và yêu cầu thực tiễn, tác giả đã chọn đề tài “Phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam” làm đề tài Luận án tiến sĩ, bảo đảm tính thời sự, bức thiết và không trùng lặp với các công trình đã công bố cho đến thời điểm hiện nay

6.3 Câu hỏi và khoảng trống cần nghiên cứu

Các câu hỏi lớn liên quan đến thị trường mua bán nợ xấu và phát triển thị trường mua bán nợ xấu, bao gồm: (i) Thế nào là thị trường mua bán nợ xấu, phát triển thị trường mua bán nợ xấu? (ii) Tiêu chí nào để đo lường mức độ phát triển thị trường mua bán nợ xấu? (iii) Nhân tố nào ảnh hưởng (tích cực và tiêu cực) đến phát triển thị trường mua bán nợ xấu? (iv) Thực trạng phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam như thế nào? (v) Giải pháp nào để phát triển thị trường mua bán

nợ xấu trong điều kiện hội nhập quốc tế? Đây là các câu hỏi nghiên cứu cần có lời giải đáp Ở khía cạnh khác, việc phát triển thị trường mua bán nợ xấu ở Việt Nam với những đặc điểm và diễn biến kinh tế vĩ mô trong thời gian qua đã có được những kết quả nhất định nhưng khoảng cách với thế giới vẫn còn khá xa và làm thế nào để thu hẹp, rút ngắn khoảng cách này cũng là một vấn đề cần có những giải pháp cụ thể và chi tiết

7 Những đóng góp mới của Luận án

- Thứ nhất: Luận án đã hệ thống hóa và xây dựng khung lý luận cơ bản về thị

trường mua bán nợ xấu, phát triển thị trường mua bán nợ xấu

Trang 17

- Thứ hai: Luận án đã đưa ra hệ thống tiêu chí đo lường sự phát triển thị

trường mua bán nợ xấu

- Thứ ba: Luận án đã trình bày khái quát kinh nghiệm nghiên cứu thị trường

mua bán nợ xấu ở một số nước, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm để phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam

- Thứ tư: Luận án đã đánh giá khái quát tình hình nợ xấu của hệ thống ngân

hàng Việt Nam, hoạt động của các công ty mua bán nợ giai đoạn 2011-2015, áp dụng

hệ thống các tiêu chí định tính và định lượng để từ đó có những nhận xét, đánh giá sát thực tế việc phát triển thị trường mua bán nợ xấu cả về chiều rộng và chiều sâu, chỉ rõ những kết quả đạt được, tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại về phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015

- Thứ năm: Trên cơ sở định hướng phát triển thị trường mua bán nợ xấu ở

Việt Nam đến năm 2025, luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ, khả thi, có

cơ sở khoa học và thực tiễn, đồng thời đề xuất các kiến nghị đối với Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, Ngành, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhóm giải pháp được triển khai một cách hiệu quả nhằm phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam đến năm

2025

8 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình của tác giả đã công bố liên quan đến luận án và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận án gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển thị trường mua bán nợ xấu

Chương 2: Thực trạng phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam Chương 3: Giải pháp phát triển thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam đến

năm 2025

Trang 18

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU

1.1 THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU

1.1.1 Nợ và nợ xấu

1.1.1.1 Nợ

a Khái niệm nợ

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì “Nợ là một thuật ngữ thường

được sử dụng trong trường hợp nợ về tài sản Tuy nhiên, nợ cũng có thể được

sử dụng để chỉ các nghĩa vụ khác Trong trường hợp nợ tài sản thì nợ là một cách sử dụng sức mua trước khi kiếm đủ tổng số tiền để trả cho sức mua đó Các công ty cũng có thể sử dụng nợ như là một phần trong chiến lược tài chính tổng thể của mình”

Nợ, theo cách hiểu thông thường, được hình thành khi một người cho vay đồng ý cho người vay vay một lượng tài sản nhất định Trong xã hội hiện đại, nợ thường được đi kèm với nguyên tắc hoàn trả, sự đảm bảo khả năng thanh toán với một mức lãi suất nhất định tính theo thời điểm

Với các tổ chức tín dụng, thì nợ bao gồm: Các khoản cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, các khoản bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các hình thức tín dụng khác Như vậy, đối với các TCTD, hoạt động tín dụng là rộng hơn hoạt động cho vay Theo đó, cấp tín dụng được định nghĩa là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác Còn cho vay được định nghĩa là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào một mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Tuy nhiên, trong hoạt động tín dụng, thì cho vay là hoạt động quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất tại các TCTD Vì vậy, thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nghĩa rộng khái quát ở trên hoặc theo nghĩa hẹp là cho vay [49] Do hoạt động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cấp tín dụng còn gọi là chủ nợ, bên được cấp tín dụng gọi là khách nợ Do đó, tín dụng phản ánh mối quan hệ giữa hai bên - bên cấp tín dụng và bên được cấp tín dụng Quan

hệ giữa hai bên ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, thỏa thuận thời gian cấp tín dụng, lãi

Trang 19

suất phải trả Trước khi có nợ thì cả hai bên (bên cấp tín dụng và bên được cấp tín dụng) phải cùng nhau thống nhất phương thức trả nợ (thanh toán) Thông thường, người ta thanh toán bằng tổng số tiền tính theo một đơn vị tiền tệ nào đó, tuy nhiên cũng có trường hợp thanh toán bằng hàng hoá Thanh toán có thể được thực hiện theo phương thức trả lãi trong một khoảng thời gian hoặc trả một lúc khi kết thúc hợp đồng tín dụng Nợ về cơ bản đã là một hàng hóa được mua bán giữa bên cấp tín dụng và bên được cấp tín dụng, sau khi hợp đồng tín dụng đó có hiệu lực, thì nợ - lúc này được hiểu

là quyền của chủ nợ cũng có thể trở thành một loại hàng hóa

Trong khuôn khổ Luận án, hàng hóa nợ được hiểu là quyền của chủ nợ, quyền này là kết quả của hoạt động kinh doanh cốt lõi đầu tiên - cho vay nợ Chi tiết của “quyền chủ nợ” được quy định rõ trong hợp đồng tín dụng và các luật có liên quan - được xem như là “mô tả về quy cách chất lượng hàng hóa” khi nợ trở thành hàng hóa trên thị trường thứ cấp - thị trường của những người mua đi bán lại các khoản nợ

Đặc biệt hơn, quyền của chủ nợ là một hàng hóa gắn liền và không thể tách rời với một hoặc nhiều tài sản - thường được xem là đảm bảo cho khả năng thực hiện nghĩa vụ của khách nợ (nếu có và có thể vô hình hoặc hữu hình)

Như vậy:

Hàng hóa nợ = Quyền chủ nợ + Tài sản bảo đảm cho khoản nợ

Từ những nghiên cứu trên đây, có thể kết luận: Nợ là nghĩa vụ phải trả bằng tiền hoặc tài sản của cá nhân hoặc tổ chức này (gọi là khách nợ) đối với cá nhân hoặc

tổ chức khác (chủ nợ) Nợ có thể có tài sản bảo đảm hoặc không có tài sản bảo đảm

Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB), thì khoản vay

nợ được chia làm 5 nhóm:

Trang 20

Bảng 1.1: Đặc thù và thời hạn các khoản vay

Khoản vay Đặc thù và thời hạn

1.Đạt tiêu chuẩn

- Không nghi ngờ gì về khả năng trả nợ

- Tài sản được đảm bảo bằng tiền hoặc tương đương

- Quá hạn dưới 90 ngày

2 Cần theo dõi

- Những điểm yếu tiềm tàng có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ

- Các điều kiện kinh tế hoặc viễn cảnh tài chính khó khăn

- Quá hạn dưới 90 ngày

3 Dưới tiêu chuẩn

- Các nhược điểm rõ rệt về tín dụng có thể ảnh hưởng tới khả năng trả nợ

- Những khoản nợ đã được thỏa thuận lại

- Các khoản vay không thu hồi được

- Luôn có khả năng thu hồi lại một phần

- Quá hạn hơn 360 ngày

Nguồn: [71]

Bản chất của cách phân chia này là dựa vào hai yếu tố định tính và định lượng Trên cơ sở phân loại của IMF và WB, các nước đã tiến hành phân loại nợ của các NHTM theo 5 nhóm như: Ý, Nhật Bản, Mỹ, Úc, Trung Quốc, Singapore, Việt Nam Tuy nhiên cũng có một số nước phân loại nợ thành 04 nhóm như Nga, Ấn Độ, Đức hoặc Tây Ban Nha 6 nhóm, Mexico 7 nhóm, Brazil 9 nhóm

1.1.1.2 Nợ xấu

Nợ xấu hay nợ khó đòi thường được nhắc đến với các thuật ngữ “bad debt”,

“non-performing loan” (NPL), “doubtful debt” Thuật ngữ “bad debt” là một thuật ngữ được dùng khá phổ biến trên báo chí còn trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, các chuyên gia thường sử dụng thuật ngữ “non-performing loans” (NPL), trong khi kế toán quốc tế lại hay dùng thuật ngữ “non-accrual loans” (theo hệ thống chuẩn mực kế toán của Mỹ US GAAP) hay “impaired loans” (theo Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 39) Tuy nhiên, hiện nay đang tồn tại khá nhiều khái niệm nợ xấu khác nhau Có thể nhắc tới một số khái niệm nợ xấu như sau:

a Khái niệm nợ xấu

- Khái niệm nợ xấu của Ngân hàng Thế giới

Theo khái niệm của Ngân hàng Thế giới thì nợ xấu là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn

Trang 21

của chủ nợ, điều này thường xảy ra khi các con nợ đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản

Nợ xấu gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và/hoặc gốc thường quá ba tháng căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạch toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp

- Khái niệm của nhóm chuyên gia tư vấn Advisory Expert Group (AEG)

Nhóm chuyên gia tư vấn AEG của Liên Hợp Quốc cho rằng định nghĩa về nợ xấu không nên mang tính chất mô tả mà chỉ nên được sử dụng như hướng dẫn cho các ngân hàng AEG thống nhất định nghĩa như sau: “Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ” Nói cách khác, nợ xấu được xác định trên 2 yếu tố: quá hạn trên 90 ngày và khả năng trả nợ bị nghi ngờ

- Khái niệm nợ xấu của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS)

BCBS không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu Tuy nhiên, trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: Ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày [60] Dựa trên hướng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản nợ đã quá hạn trên 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ

BCBS cũng đề cập tới các khoản vay bị giảm giá trị sẽ xảy ra khi khả năng thu hồi các khoản thanh toán từ khoản vay là không thể Giá trị tổn thất sẽ được ghi nhận bằng cách giảm trừ giá trị khoản vay thông qua một khoản dự phòng và sẽ được phản ánh trên báo cáo thu nhập của ngân hàng Như vậy, lãi suất của các khoản vay này sẽ không được cộng dồn và sẽ chỉ xuất hiện dưới dạng tiền mặt thực tế nhận được

- Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS)

Chuẩn mực kế toán quốc tế về ngân hàng thường đề cập các khoản nợ bị giảm giá trị (impaired) thay vì sử dụng thuật ngữ nợ xấu (non-performing) Chuẩn mực kế toán IAS 39 được khuyến cáo áp dụng ở một số nước phát triển vào đầu năm 2005

Trang 22

chỉ ra rằng cần có bằng chứng khách quan để xếp một khoản vay có dấu hiệu bị giảm giá trị Trong trường hợp nợ bị giảm giá trị thì tài sản được ghi nhận sẽ bị giảm xuống

vì những tổn thất do chất lượng nợ xấu gây ra

Về cơ bản IAS 39 chú trọng tới khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn Phương pháp đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thường là phương pháp phân tích dòng tiền tương lai chiết khấu hoặc xếp hạng khoản vay của khách hàng Hệ thống này được coi là chính xác

về mặt lý thuyết, nhưng việc áp dụng thực tế gặp nhiều khó khăn Vì vậy, nó vẫn đang được Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế chỉnh sửa lại trong Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS 9

- Khái niệm nợ xấu của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)

Trong Hướng dẫn tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia, IMF đưa ra định nghĩa về nợ xấu như sau: “một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn

90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (người vay phá sản) Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi được khoản vay thay thế [68]

Từ những định nghĩa trên có thể thấy được sự tương đồng trong cách nhận thức về nợ xấu giữa các định chế tài chính trên thế giới Theo đó, một khoản nợ được coi là nợ xấu khi xuất hiện 1 hoặc cả 2 dấu hiệu sau: (1) Quá hạn trả nợ gốc và lãi; (2) Khi khách hàng vay vốn bị tổ chức tín dụng (TCTD) hoặc ngân hàng coi là không có khả năng trả nợ Bản chất của nợ xấu là một khoản tiền cho vay mà chủ

nợ xác định không thể thu hồi lại được và bị xóa sổ khỏi danh sách các khoản nợ phải thu của chủ nợ Đối với các ngân hàng, nợ xấu tức là các khoản tiền cho khách hàng vay, thường là các doanh nghiệp, mà không thể thu hồi lại được do doanh nghiệp đó làm ăn thua lỗ hoặc phá sản Nhìn chung, một doanh nghiệp luôn phải ước tính trước những khoản nợ xấu trong chu kỳ kinh doanh hiện tại dựa vào những

số liệu nợ xấu ở kì trước

Trang 23

Nợ xấu là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng của các tổ chức tín dụng, từ đó có thể thấy được sức khỏe tài chính, kỹ năng quản trị rủi ro của TCTD đó Nợ xấu tăng cao có thể dẫn đến TCTD bị thua lỗ và giảm lòng tin của người gửi tiền, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của TCTD Tình trạng này kéo dài sẽ làm TCTD bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung

và hệ thống tài chính nói riêng Chính vì vậy, việc nhận diện nợ xấu và xử lý nợ xấu

là một trong những vấn đề quan trọng trong tái cấu trúc hệ thống tài chính

Từ những nghiên cứu trên, có thể thấy: Nợ xấu là những khoản nợ quá hạn trả nợ trên 90 ngày và/hoặc được đánh giá là khó có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi

b Nguyên nhân của nợ xấu

Các nguyên nhân phát sinh nợ xấu trong nền kinh tế có nhiều nguyên nhân, tuy nhiên từ thực tiễn quốc tế, các nguyên nhân phổ biến dẫn tới tình trạng nợ xấu cao

có thể chia thành 4 nhóm nguyên nhân chính:

Biểu đồ 1.1: Nguyên nhân của nợ xấu

- Nhóm nguyên nhân khách quan

+ Các yếu tố về kinh tế - chính trị: Các yếu tố vĩ mô như tốc độ tăng trưởng

GDP, sự mở rộng tín dụng, lãi suất thực, lạm phát, cung tiền (M2), tỷ lệ thất nghiệp, đặc biệt là những “cú sốc” bên ngoài về kinh tế như khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng tài chính, nợ công hay các yếu tố chính trị - xã hội như nạn tham nhũng, bất ổn

Trang 24

định chính trị là những nhân tố có thể gây nên tình trạng nợ xấu của các ngân hàng hay của doanh nghiệp

+ Các yếu tố về tự nhiên: Những biến động bất lợi về thời tiết, thiên tai, địch

họa gây ảnh hưởng lớn đến đời sống, sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, cũng làm cho tình trạng nợ xấu tăng do các khách nợ hay doanh nghiệp không có khả năng trả nợ

- Nhóm nguyên nhân từ phía các tổ chức tín dụng (TCTD)

+ Tình trạng tăng trưởng tín dụng quá mức và tập trung quá nhiều vào một số

ngành, đặc biệt là những ngành phi sản xuất như chứng khoán, bất động sản

+ Chất lượng thẩm định khoản vay yếu kém, giám sát bị buông lỏng Tại một số

nền kinh tế theo đuổi chính sách tự do hóa khu vực tài chính, việc dễ dàng tiếp cận các dòng vốn nước ngoài đã khuyến khích các ngân hàng vay tự do từ nước ngoài trong khi thiếu các biện pháp giám sát hiệu quả khiến tình trạng nợ xấu tăng cao, góp phần dẫn đến khủng hoảng tiền tệ

+ Quản lý ngân hàng và quản trị rủi ro yếu kém Trong đó, có thể kể đến các

nguyên nhân như trình độ yếu kém của đội ngũ cán bộ ngân hàng, nạn tham nhũng, hối lộ trong hoạt động ngân hàng, cơ chế trích lập quỹ dự phòng rủi ro không hợp lý, đặc biệt là khâu định hướng khách hàng mục tiêu, công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ

bị buông lỏng cũng ảnh hưởng đến nợ xấu phát sinh

Trong các nguyên nhân nêu trên, tình trạng tăng trưởng tín dụng quá mức và hạn chế trong công tác thẩm định, giám sát các khoản vay được coi là nguyên nhân trực tiếp gây ra tình trạng nợ xấu của hệ thống ngân hàng Tình trạng này cộng

hưởng với tác động từ các “cú sốc” bên ngoài rất có thể dẫn tới những trục trặc của hệ

thống ngân hàng, hoặc thậm chí là nguy cơ đổ vỡ hàng loạt

- Nhóm nguyên nhân từ phía doanh nghiệp

+ Phụ thuộc quá nhiều vào vốn vay: Có doanh nghiệp tỷ lệ vay lên đến 80

-90% tổng tài sản dẫn đến khi lãi suất cho vay biến động tăng ngoài dự kiến, kinh doanh thua lỗ, không đủ trả lãi vay và vốn vay, dẫn đến tình trạng không trả được nợ ngân hàng

+ Đầu tư dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm dẫn đến phân tán nguồn lực đặc

biệt là vốn dẫn đến thiếu hụt vốn, sản xuất ngưng trệ dẫn đến phá sản, làm tăng nợ xấu của các ngân hàng

Trang 25

+ Năng lực quản trị doanh nghiệp yếu kém: Thiếu phương án kinh doanh khả

thi, khả năng lập kế hoạch và dự báo kém, thiếu công khai, minh bạch, quản lý nội bộ yếu kém, sử dụng vốn không đúng mục đích

- Nhóm nguyên nhân từ tài sản bảo đảm

+ Tài sản bảo đảm bị giảm giá trị quá nhanh trong một thời gian ngắn như bất

động sản (BĐS), hàng tồn kho một số khu vực và một số loại hàng hóa

+ Vướng mắc trong quá trình xử lý tài sản thế chấp, dẫn đến khó khăn cho

các chủ nợ do thời gian xử lý kéo dài,…

c Ảnh hưởng của nợ xấu

- Ảnh hưởng đối với doanh nghiệp có nợ tồn đọng

Áp lực của một doanh nghiệp có nợ tồn đọng là vô cùng to lớn do các khoản

nợ sẽ tạo ra những chi phí không mong đợi và sẽ ăn mòn dần vốn của doanh nghiệp Trên thực tế lãi suất đối với khoản vay được gia hạn thường gấp 1,5 lần lãi suất cho vay làm cho chi phí đối với khoản vay của doanh nghiệp tăng lên, trong khi doanh nghiệp đã không trả được khoản lãi vay bình thường thì để trả khoản lãi phạt này dường như càng khó khăn hơn

Bên cạnh đó, doanh nghiệp không chỉ vay vốn ở ngân hàng mà còn vay ở rất nhiều nơi khác, do đó khi một khoản vay được coi là khó trả thì dẫn đến hậu quả là các khoản vay còn lại cũng đều được coi là khó trả và lúc này doanh nghiệp không chỉ bận tâm về chủ nợ là ngân hàng mà phải đối mặt với tất cả các chủ nợ khác, mọi quyết định, mọi hoạt động của doanh nghiệp đều bị tác động Trên danh nghĩa thì chủ

nợ không có quyền trong quyết định của doanh nghiệp, song đứng trước khả năng khoản nợ của mình không được trả chủ nợ cũng tìm mọi cách để giảm thiểu rủi ro này, bằng cách này hay cách khác, các chủ nợ không nhân nhượng trong việc thu hồi

nợ, thậm chí có thể đẩy doanh nghiệp đến phá sản để thu hồi nợ

Trong trường hợp này theo Luật Phá sản, khi một doanh nghiệp mất khả năng chi trả, doanh nghiệp đó bị tuyên bố phá sản, vì vậy khả năng này hoàn toàn có thể xẩy ra Dưới sức ép của ngân hàng, của các chủ nợ khác, doanh nghiệp buộc bị tuyên

bố phá sản vì khi đó, họ được trả nợ trước, đó là biện pháp tốt đối với các chủ nợ để thu hồi nợ, nhưng hậu quả của việc phá sản doanh nghiệp là rất lớn Chủ doanh nghiệp phá sản sẽ khó để có thể làm lại từ đầu khi mà các đối tác biết rằng người ấy

là chủ một doanh nghiệp bị phá sản, toàn bộ công nhân viên của doanh nghiệp thất nghiệp, tạo gánh nặng cho gia đình và cho cả xã hội

Trang 26

Đặc biệt đối với các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), nợ xấu là một trong những cản trở trong tiến trình cổ phần hóa các DNNN, làm ảnh hưởng đến quá trình sắp xếp, cải tổ hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của khu vực này, từ đó làm ảnh hưởng đến quá trình tái cơ cấu nền kinh tế nói chung

- Ảnh hưởng đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng

Ảnh hưởng của các khoản nợ xấu đến các TCTD là rất lớn, một tác động lớn đối với TCTD khi có nợ xấu là làm giảm hiệu quả tín dụng và làm tăng chi phí cho TCTD Tỉ lệ nợ xấu là một trong những con số được đưa vào để tính hàng loạt chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng của ngân hàng như: Nợ xấu và tỉ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, tỉ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu, tỉ lệ nợ xấu trên quỹ dự phòng tổn thất Hoạt động tín dụng kém hiệu quả cũng sẽ làm ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng Không những thế các chi phí phát sinh do nợ xấu gây ra là rất lớn, nó bao gồm cả chi phí trả lãi tiền gửi, chi phí quản lí nợ xấu và các chi phí khác liên quan Những chi phí này làm giảm thiểu đáng kể, thậm chí gây lỗ cho các ngân hàng khi hạch toán kết quả kinh doanh

Nợ xấu tăng cao có thể dẫn đến tình trạng thua lỗ và giảm lòng tin của người gửi tiền, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của TCTD Tình trạng nợ xấu cao và kéo dài có thể dẫn đến nguy cơ phá sản của TCTD, gây hậu quả không chỉ đối với bản thân TCTD đó mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế nói chung và hệ thống tài chính - ngân hàng nói riêng

Một tác động khác của nợ xấu không thể không nói đến, đặc biệt là trong tình hình hiện nay là nợ xấu gây cản trở cho quá trình cổ phần hóa của các ngân hàng thương mại Nợ xấu gây khó khăn trong quá trình định giá giá trị của ngân hàng, một khâu quan trọng để tham gia cổ phần hóa và điều này cũng làm giảm sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư Thể chế thị trường đặt ra vấn đề cổ phần hóa các DNNN để có thể thúc đẩy hoạt động của các doanh nghiệp cũng như tạo ra một nền kinh tế phát triển vững mạnh, tuy nhiên vấn đề cổ phần hoá hiện đang gặp khó khăn lớn do khâu định giá doanh nghiệp còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết Thực tế cho thấy đối với các ngân hàng thương mại, tình trạng nợ xấu quá lớn chưa giải quyết được để loại trừ

ra khỏi giá trị doanh nghiệp Những ngân hàng này nếu không xử lí được khoản nợ khi cổ phần hoá sẽ làm nhà đầu tư e ngại do khi nắm giữ cổ phần Điều đó cho thấy,

nợ xấu là tiêu chí quan trọng trong việc đánh giá chất lượng tín dụng của các ngân

Trang 27

hàng, từ đó có thể đánh giá được năng lực tài chính và hiệu quả quản trị doanh nghiệp, quản trị rủi ro của các ngân hàng đó

Nếu các khoản nợ xấu này lớn, tức là khả năng thu hồi các khoản nợ khách hàng của ngân hàng thấp Do đó, ngân hàng phải dùng vốn để trang trải cho các khoản thất thoát này thì đến một chừng mực nào đó sẽ không thể thực hiện việc "xóa sổ" những khoản thất thoát này, ngân hàng có thể bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán cho người gửi tiền Ngân hàng là ngành kinh tế nhạy cảm, phụ thuộc vào lòng tin của khách hàng nên khi thông tin khả năng trả nợ ngân hàng là không chắc chắn, người gửi tiền sẽ đổ xô đi rút tiền làm ngân hàng lâm vào tình trạng phá sản Ngoài ra ngân hàng Trung ương của bất kì quốc gia nào cũng đều có nhiệm vụ bảo đảm hệ thống ngân hàng hoạt động một cách an toàn và ổn định Vì nếu có sự thất thoát trong hoạt động tín dụng dù chỉ ở một ngân hàng và ở một mức độ nhất định nào đó cũng sẽ đe doạ tới sự an toàn và ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng

- Ảnh hưởng đối với nền kinh tế

Mối quan hệ giữa ngân hàng - khách hàng - nền kinh tế là hết sức chặt chẽ Theo đó, nợ xấu ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh ngân hàng, và ảnh hưởng đến

sự phát triển của nền kinh tế bởi khả năng khai thác và đáp ứng vốn, dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế bị hạn chế khi nợ xấu phát sinh và tồn đọng Mặt khác nợ xấu phát sinh do khách hàng, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh (SXKD) kém hiệu quả sẽ tác động đến toàn bộ nền kinh tế, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế do vốn ứ đọng, SXKD đình trệ Sự phá sản của doanh nghiệp, đặc biệt là hệ thống ngân hàng sẽ tạo ra một cú sốc lớn đối với cả nền kinh tế Thất nghiệp, bất ổn

về an ninh, mất nguồn thu từ thuế hay thiếu sản phẩm đều là các yếu tố làm giảm GDP, làm giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế so với các nước khác Nợ xấu ảnh hưởng đến quá trình tái cơ cấu lại doanh nghiệp, cản trở việc cổ phần hóa, sắp xếp lại các DNNN trong quá trình cải cách kinh tế ở Việt Nam

Ngoài ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, nợ xấu còn gây tác động gián tiếp đến thu ngân sách, làm tăng rủi ro thâm hụt ngân sách Nhà nước và trầm trọng hơn các khoản nợ công

Tóm lại, nợ xấu không chỉ ảnh hưởng đến doanh nghiệp, các ngân hàng mà nợ xấu còn ảnh hưởng đến các yếu tố vĩ mô như ngân sách Nhà nước và tăng trưởng nền kinh tế Nợ xấu là một trong những yếu tố lớn cản trở dòng luân chuyển vốn, tác động đến sự ổn định tài chính và sự lành mạnh của hệ thống ngân hàng Vì vậy, khi

Trang 28

nợ xấu đủ lớn gây ách tắc trong hệ thống tài chính và nền kinh tế thì xử lý nợ xấu là yêu cầu cấp bách để trả lại sự chu chuyển bình thường của dòng vốn trong hệ thống tài chính ngân hàng, cũng như tạo ra sự luân chuyển luồng vốn trong hệ thống nền kinh tế, tác động đến tăng trưởng và yếu tố xã hội Xu thế hội nhập hiện nay cho thấy cần thiết phải nghiên cứu tỉ mỉ và cẩn thận vấn đề xử lý nợ xấu Vấn đề nợ xấu lớn trong các Ngân hàng thương mại Việt Nam là một thách thức trên con đường hội nhập Có xử lí được vấn đề này, năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại mới được cải thiện Nhất là từ sau năm 2010, các hạn chế, phân biệt giữa ngân hàng trong và ngoài nước bị xoá bỏ, chấm dứt sự bảo hộ ở nhà nước, các Ngân hàng thương mại đã thực sự đứng trước sự cạnh tranh khốc liệt Do đó, giải quyết những tồn tại, hạn chế trong hệ thống Ngân hàng thương mại là vô cùng cần thiết, đặc biệt là vấn đề xử lý nợ xấu cần được quan tâm, chú ý hơn

d Hình thức xử lý nợ xấu

Xử lý nợ xấu có một số hình thức như sau:

- Thu hồi nợ xấu trực tiếp từ khách hàng vay/bên bảo lãnh của khách hàng

vay trên cơ sở thực hiện các quyền của chủ nợ, tổ chức đôn đốc, yêu cầu khách hàng trả nợ

- Thực hiện cơ cấu khoản nợ xấu bằng các biện pháp như: Điều chỉnh kỳ hạn

trả nợ, thời hạn trả nợ phù hợp với điều kiện sản xuất kinh doanh của khách hàng vay; điều chỉnh lãi suất cho phù hợp với khả năng trả nợ của khách hàng vay và điều kiện thị trường; giảm một phần lãi hoặc miễn toàn bộ số lãi đã quá hạn thanh toán mà khách hàng vay chưa có khả năng trả nợ

- Xử lý phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ xấu theo quy định của pháp

luật Việc xử lý tài sản bảo đảm có thể được thực hiện theo thoả thuận của các bên Trường hợp không có thoả thuận của các bên về xử lý tài sản bảo đảm, việc xử lý tài sản bảo đảm được bán đấu giá qua tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp hoặc các công

ty có chức năng đấu giá

- Sử dụng quỹ dự phòng để xử lý rủi ro nợ xấu: Quỹ dự phòng rủi ro được

trích lập dùng để bù đắp những tổn thất, thiệt hại trong quá trình cho vay Dự phòng rủi ro được tính vào chi phí hoạt động tín dụng hàng năm của TCTD TCTD sử dụng quỹ dự phòng rủi ro bằng cách hạch toán chuyển khoản nợ được xử lý rủi ro ra hạch toán ngoại bảng và tiếp tục theo dõi, có biện pháp để thu hồi nợ đầy đủ theo hợp đồng

đã ký, cam kết đã thỏa thuận với khách hàng

Trang 29

- Hoán đổi nợ xấu lấy tài sản hoặc hoán đổi nợ xấu với bên thứ ba: Đây là

việc các bên tham gia giao dịch thỏa thuận và cam kết đổi nợ xấu lấy tài sản hoặc chuyển nợ xấu từ chủ nợ này sang chủ nợ khác mà không kèm theo việc phải chi trả bất cứ một khoản tiền nào

- Bán nợ xấu trực tiếp cho nhà đầu tư, thường được thực hiện dưới ba hình

thức: Bán nhóm, bán riêng lẻ và liên doanh hợp tác thông qua thoả thuận hoặc bán đấu giá Các tài sản được bán bao gồm các khoản nợ xấu, cổ phần (chuyển từ các khoản nợ xấu), các tài sản thế chấp và cổ phần

- Khởi kiện khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm/bảo lãnh ra

Toà án: Đây là việc TCTD nộp đơn yêu cầu Toà án tiến hành các thủ tục theo quy

định của pháp luật nhằm đạt được kết quả thu hồi được nợ xấu đối với khách hàng vay không có khả năng trả nợ và đối với bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm không

có khả năng thực hiện nghĩa vụ

- Bán nợ xấu cho công ty mua bán nợ: Việc xử lý nợ xấu thông qua công ty

mua bán nợ là một cơ chế rất phổ biến trong các nền kinh tế thị trường - nơi mà Nhà nước, tư nhân hay bất kỳ thành phần kinh tế nào khác đều bình đẳng trước pháp luật Trong luận án này, mua bán nợ xấu giữa các TCTD (chủ nợ) với các công ty mua bán nợ là hình thức xử lý nợ xấu mà luận án sẽ nghiên cứu

1.1.2 Thị trường mua bán nợ xấu

1.1.2.1 Khái niệm, phân loại thị trường mua bán nợ xấu

a Khái niệm thị trường mua bán nợ xấu

Mua bán nợ xấu là một loại hình dịch vụ thông qua việc sử dụng các công cụ tài chính để mua bán một loại sản phẩm đặc biệt - nợ xấu, theo đó bên bán nợ chuyển giao quyền sở hữu khoản nợ cho bên mua nợ và nhận thanh toán từ bên mua nợ

Việc mua bán nợ xấu được tiến hành với sự tham gia của các đối tượng sau: Trung gian mua bán, chủ nợ, khách nợ (công ty mua bán nợ và tài sản, doanh nghiệp, ngân hàng…) nhằm xử lý các khoản nợ xấu và tài sản tồn đọng, làm cho nguồn vốn xoay vòng nhanh chóng và lành mạnh hóa tình hình tài chính Nói một cách khác, mua bán nợ xấu là hoạt động kinh tế để trao đổi và chuyển giao phần tài sản đặc biệt là các "khoản nợ phải thu" đã quá hạn từ đối tượng này sang đối tượng khác Đối với TCTD, “khoản nợ phải thu” này được phân loại là nợ xấu Thực chất, đó là việc chuyển nhượng lại "quyền thu hồi nợ"

Trang 30

từ một "khoản nợ phải thu" của bên Bán nợ (chủ nợ) đối với Khách nợ sang cho bên Mua nợ để bên Mua nợ trở thành chủ nợ mới của bên Khách nợ Như vậy, hoạt động mua bán nợ xấu được thực hiện đối với các khoản nợ phải thu (của bên chủ nợ) mà không phải là nợ phải trả (của bên khách nợ)

Như vậy: Thị trường mua bán nợ xấu là nơi mua bán các khoản nợ xấu, hàng hóa giao dịch trên thị trường mua bán nợ xấu là các khoản nợ xấu dưới dạng tài sản nợ hoặc các khoản nợ xấu được chứng khoán hóa Trong đó chứng khoán

hóa là quá trình biến những tài sản có tính thanh khoản thấp thành những chứng khoán có thanh khoản [54]

b Phân loại thị trường mua bán nợ xấu

- Thị trường mua bán nợ xấu, xét theo quá trình luân chuyển vốn có thể được phân loại như sau:

+ Thị trường mua bán nợ xấu sơ cấp

+ Thị trường mua bán nợ xấu thứ cấp

Trong đó:

Thị trường mua bán nợ xấu sơ cấp là nơi khoản nợ xấu đầu tiên được giao dịch Thị trường mua bán nợ xấu thứ cấp là nơi mua bán lại các khoản nợ xấu đã

được trao đổi

Có thể thấy thị trường nợ xấu sơ cấp và thị trường nợ xấu thứ cấp có quan hệ mật thiết, biện chứng với nhau Nếu không có thị trường nợ xấu sơ cấp thì sẽ không

có hàng hóa để lưu thông trên thị trường nợ xấu thứ cấp, còn nếu không có thị trường

nợ xấu thứ cấp thì không chuyển đổi các khoản nợ xấu thành tiền hoặc các quyền sở hữu khác (góp vốn cổ phần,…) Như vậy, chính thị trường nợ xấu thứ cấp góp phần quan trọng tạo điều kiện để thị trường nợ xấu sơ cấp phát triển

- Thị trường mua bán nợ xấu, xét theo phương hướng phát triển có thể được phân loại như sau:

+ Thị trường mua bán nợ xấu theo chiều rộng

+ Thị trường mua bán nợ xấu theo chiều sâu

Trong đó:

Thị trường mua bán nợ xấu theo chiều rộng là thị trường được xem xét ở phạm

vi và quy mô hoạt động, thể hiện ở số lượng chủ thể tham gia thị trường, khối lượng nợ xấu được TCTD giao dịch,…

Trang 31

Thị trường mua bán nợ xấu theo chiều sâu là thị trường được xem xét ở chất

lượng mua bán nợ xấu, hiệu quả hoạt động của công ty mua bán nợ,…

Thị trường mua bán nợ xấu muốn phát triển có thể diễn ra theo hai hướng chính là phát triển thị trường mua bán nợ xấu theo chiều rộng, phát triển thị trường mua bán nợ xấu theo chiều sâu hoặc kết hợp cả hai Phương hướng phát triển thị trường mua bán nợ xấu theo chiều rộng thông thường là để đánh giá sơ bộ về số lượng các chủ thể tham gia thị trường, khối lượng, giá trị nợ xấu được TCTD giao dịch trên thị trường Còn sau đó, để đánh giá việc mua bán nợ xấu có hiệu quả, được xử lý triệt để và có giúp cho quá trình luân chuyển vốn nhanh hay không cần phải phát triển thị trường mua bán nợ xấu theo chiều sâu, tìm cách giải quyết nợ xấu được công ty mua bán nợ mua về, nâng cao hiệu quả hoạt động của các công

ty mua bán nợ Nếu không quan tâm đến phát triển thị trường theo chiều sâu thì việc bán nợ xấu của TCTD cho các công ty mua bán nợ chỉ mang tính chất tạm thời, không bền vững Chính vì vậy phát triển thị trường mua bán nợ xấu theo chiều rộng cần phải kết hợp chặt chẽ với phát triển thị trường mua bán nợ xấu theo chiều sâu để nợ xấu được giải quyết thật sự, góp phần lành mạnh hóa tài chính cho doanh nghiệp và các TCTD, từ đó giúp ổn định kinh tế vĩ mô của đất nước

1.1.2.2 Đặc trưng của hoạt động mua bán nợ xấu trên thị trường mua bán

nợ xấu

Hàng hóa nợ xấu là loại hàng hóa đặc biệt nên hoạt động mua bán nợ nói chung và nợ xấu nói riêng có những đặc trưng khác với các loại hàng hóa thông thường như sau:

- Mua bán nợ xấu luôn gắn với những khả năng thu lợi

Khi mua nợ xấu người đầu tư đã bỏ ra một khoản vốn của mình vào đầu tư, vì vậy, họ chỉ đầu tư khi nhìn thấy có thể thu được những khoản lợi nhuận nhất định Mỗi loại nợ xấu đưa lại một khả năng thu lợi khác nhau

- Hoạt động mua bán nợ xấu luôn gắn với rủi ro

Đầu tư luôn gắn với rủi ro, đầu tư vào mua bán nợ xấu cũng có những rủi ro nhất định Có những rủi ro chung cho tất cả các loại nợ xấu và cũng có những rủi ro riêng gắn liền với từng loại nợ xấu nhất định Các loại nợ xấu khác nhau có mức độ

Trang 32

rủi ro khác nhau Rủi ro mà nhà đầu tư gánh chịu bao gồm: Rủi ro mang tính chính sách, pháp luật, rủi ro đạo đức, rủi ro thông tin, rủi ro tài chính

- Nợ xấu là hàng hóa có khả năng thanh khoản không cao

Sau khi mua lại nợ xấu thì khoản nợ xấu có thể được mua đi bán lại nhiều lần trên thị trường nợ xấu Mỗi loại nợ xấu có đặc trưng khác nhau về khả năng đưa lại thu nhập hay nói khác đi là mức lợi nhuận, mức độ rủi ro và mức độ thanh khoản Nợ xấu được chứng khoán hóa (trái phiếu doanh nghiệp) thường có khả năng thanh khoản cao hơn nợ xấu chưa được chứng khoán hóa Tuy nhiên, nhìn chung khả năng thanh khoản của nợ xấu là thấp hơn so với các sản phẩm tài chính khác trên thị trường Hoạt động mua bán nợ xấu cũng đòi hòi thời gian dài hơn so với các nghiệp

vụ mua bán vốn thông thường

Khi mua bán nợ xấu thường có tình trạng phổ biến là thông tin không rõ ràng giữa người mua và người bán Vì vậy, cần thời gian đàm phán để thực hiện mua bán dài hơn mua bán nợ thông thường và cần có cơ quan độc lập trong cung cấp thông tin (thường là các tổ chức xếp hạng tín nhiệm)

Hàng hóa mua bán nợ xấu gồm nhiều khoản nợ (kể cả nợ xấu có tài sản bảo đảm) rất khó định giá chính xác nên thông thường giai đoạn xác định giá mua cần nhiều thời gian và chi phí cho các bên liên quan

1.1.2.3 Chủ thể tham gia thị trường mua bán nợ xấu

Chủ thể tham gia thị trường mua bán nợ xấu chia làm 3 nhóm:

a Nhóm các chủ thể tham gia mua nợ xấu: Các công ty mua bán nợ chuyên

nghiệp (như công ty quản lý tài sản, công ty mua bán nợ tồn đọng của doanh nghiệp), các công ty quản lý và khai thác tài sản AMC, các tổ chức tín dụng, các quỹ đầu tư mạo hiểm, các tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau, hoặc có thể là nhà đầu tư tư nhân, cá nhân có đầy đủ năng lực pháp lý

Trong đó Công ty mua bán nợ vừa là tổ chức tài chính trung gian vừa là doanh

nghiệp kinh doanh, ngoài việc mua bán, đấu giá, cơ cấu lại các khoản nợ và tài sản không cần dùng, công ty này sẽ tổ chức môi giới cho các hoạt động này và góp phần giải quyết những tồn tại về mặt tài chính trong quá trình sắp xếp, chuyển đổi cơ cấu

sở hữu doanh nghiệp như việc tiếp nhận tài sản và các khoản nợ được loại trừ khi xác định giá trị doanh nghiệp Công ty mua bán nợ và tài sản chờ thanh lý của các DNNN

Trang 33

thực hiện chuyển đổi hình thức sở hữu sẽ là giải pháp quan trọng cho các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay

Việc các chủ thể có đủ điều kiện tham gia thị trường này cần được quy định rõ bởi pháp luật và sẽ ảnh hưởng lớn tới hoạt động của thị trường mua bán nợ xấu, theo

đó, thu hút hoặc ngăn cản sự tham gia của 2 đối tượng trọng yếu là:

- Các nhà đầu tư nước ngoài

- Sự tham gia của khối tư nhân

Đây là những đối tượng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của nền kinh tế và có đầy đủ năng lực cũng như hướng tới tính hiệu quả bền vững trong hoạt động đầu tư

b Nhóm các doanh nghiệp tham gia bán nợ xấu gồm: Các ngân hàng, các tổ

chức tín dụng, các doanh nghiệp có khoản nợ xấu tại TCTD cần bán

c Nhóm các đơn vị tham gia tư vấn, trung gian tạo lập thị trường, doanh nghiệp thực hiện định mức tín nhiệm…

Nhằm đánh giá chính xác hơn các khoản nợ xấu thì thị trường mua bán nợ xấu cũng đòi hỏi sự tham gia của các đơn vị thực hiện hoạt động xếp hạng tín nhiệm Đây

là các doanh nghiệp cung cấp thông tin cho phép người mua và bán nợ có thể định giá các khoản nợ xấu Ngoài ra còn có sự tham gia của các công ty hay chuyên gia tư vấn môi giới, định giá tài sản…

1.1.2.4 Hàng hóa trên thị trường mua bán nợ xấu

- Phân loại theo khả năng chứng khoán hóa thì hàng hóa trên thị trường mua bán nợ xấu có thể chia thành 2 loại:

+ Loại thứ nhất: Các khoản nợ xấu được chứng khoán hóa như trái phiếu, cổ phiếu, các loại giấy tờ xác nhận nợ khác

+ Loại thứ hai: Các khoản nợ xấu chưa được chứng khoán hóa

- Phân loại theo tài sản bảo đảm thì nợ xấu có thể chia thành các loại:

+ Nợ xấu có tài sản bảo đảm: Là các khoản nợ xấu có tài sản bảo đảm kèm theo Mức độ rủi ro của loại nợ này thấp hơn so với loại nợ không có tài sản bảo đảm

+ Nợ xấu không có tài sản bảo đảm: Là loại nợ xấu của doanh nghiệp được vay nhưng không có tài sản bảo đảm trực tiếp kèm theo

Một số loại hàng hóa trên thị trường mua bán nợ xấu

Nợ xấu của tổ chức tín dụng tồn tại dưới các khoản nợ xấu từ nghiệp vụ cho vay, khoản trả thay trong nghiệp vụ bảo lãnh,… (thường là hàng hóa trên thị trường

sơ cấp)

Trang 34

Nợ xấu được chứng khoán hóa (thường là hàng hóa trên thị trường thứ cấp):

Việc mua bán nợ xấu đôi khi cũng được thực hiện qua hình thức chuyển nợ thành cổ phần hoặc chứng khoán hóa các khoản nợ dưới dạng cổ phần Công ty mua lại nợ xấu tham gia góp vốn vào công ty cổ phần được thực hiện dưới hình thức mua cổ phiếu Người nắm giữ cổ phiếu là người chủ sở hữu của công ty cổ phần và được gọi

là cổ đông Cổ phiếu là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của cổ đông đối với công ty

cổ phần Quyền sở hữu của cổ đông trong công ty tương ứng với số lượng cổ phiếu

mà cổ đông nắm giữ Ngoài ra, ở các thị trường tài chính phát triển còn có thể tồn tại các dạng chứng khoán phái sinh có nguồn gốc từ nợ xấu của doanh nghiệp

1.1.2.5 Vai trò của thị trường mua bán nợ xấu

Thị trường mua bán nợ xấu thực hiện các vai trò chủ yếu sau đây:

a Vai trò góp phần lành mạnh hóa tài chính cho doanh nghiệp, tạo thêm một nguồn lực vốn hỗ trợ tái cấu trúc, từ đó tạo công ăn việc làm và sự ổn định kinh tế, tạo niềm tin cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh

Thị trường mua bán nợ xấu góp phần quan trọng vào đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa, sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp nhà nước (DNNN) Về lý thuyết cũng như thực tiễn cho thấy, hoạt động mua bán nợ xấu đang được xem là một lối thoát của các doanh nghiệp (gồm cả DNNN) đang gặp phải nhiều khó khăn về tài chính trong sản xuất kinh doanh hiện nay Nếu không có công ty nào tham gia vào việc mua các khoản nợ xấu đó thì các công ty sẽ lâm vào sản xuất kinh doanh cầm chừng, hoặc thu hẹp sản xuất kinh doanh, thậm chí chờ phá sản

Mối liên hệ vay - cho vay đã hình thành sợi dây công nợ giữa doanh nghiệp và ngân hàng nên khi nợ xấu xảy ra, ngay lập tức nó tác động tiêu cực cho cả doanh nghiệp vay, ngân hàng cho vay và khi tích tụ tới quy mô lớn và mang tính hệ thống,

nó tàn phá cả hệ thống tài chính ngân hàng và nền kinh tế Có nhiều giải pháp cho xử

lý nợ xấu, ở cả tầm quy mô quốc gia hay ở cấp độ đơn lẻ từng đơn vị, như xử lý tài sản bảo đảm, bán nợ, cơ cấu lại nợ, chứng khoán hóa nợ Trong đó, tái cấu trúc doanh nghiệp (DN) để xử lý nợ xấu là một biện pháp thường được áp dụng và mang lại nhiều điểm tích cực

Vì vậy, thị trường mua bán nợ xấu sẽ giúp khai thông dòng vốn, hỗ trợ các doanh nghiệp vượt qua khó khăn Giải quyết nợ xấu cũng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể tiếp cận các nguồn lực tài chính mới phục vụ cho việc tái cơ cấu

Trang 35

hoạt động, thay đổi mô hình quản trị doanh nghiệp, từng bước cải thiện hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Sự tham gia của các nhà đầu tư mới cũng cho phép doanh nghiệp có thể tiếp cận các mô hình quản trị mới, thay đổi cách thức tổ chức sản xuất,

cơ cấu sản phẩm, tạo cơ hội cho việc tham gia vào các thị trường mới thay vì các thị trường cũ

b Vai trò huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế

Sự hoạt động của thị trường mua bán nợ xấu tạo ra một cơ chế chuyển các nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu Thị trường cung cấp phương tiện huy động

số vốn nhàn rỗi trong dân cư cho các doanh nghiệp sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như đầu tư phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất mới Chức năng này được thực hiện khi công ty bán nợ xấu và doanh nghiệp khác mua nợ xấu Nhờ vào sự hoạt động của thị trường mà doanh nghiệp có thể tiếp tục huy động được một số lượng lớn vốn cho hoạt động SXKD thay vì việc tạm dừng sản xuất do thiếu vốn Khi mua lại nợ xấu, số tiền nhàn rỗi của các nhà đầu tư đã được đưa vào hoạt động SXKD và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội Trong quá trình này, thị trường mua bán nợ xấu đã có những tác động quan trọng trong việc đẩy mạnh việc phát triển nền kinh tế quốc dân bằng cách hỗ trợ các hoạt động đầu tư dài hạn của các doanh nghiệp

c Vai trò cung cấp khả năng thanh khoản

Thị trường nợ xấu là nơi các khoản nợ xấu được mua bán, trao đổi, bởi vậy nhờ vào thị trường mua bán nợ xấu các nhà đầu tư có thể dễ dàng chuyển đổi các khoản nợ xấu thành tiền hoặc các loại chứng khoán khác có mức thanh khoản tốt hơn Khi các tổ chức tín dụng bán lại được khoản nợ được coi là xấu thì họ có điều kiện tiếp tục thực hiện chức năng trung gian tài chính cho nền kinh tế, tránh được việc đóng băng tín dụng Các doanh nghiệp thuộc diện có nợ xấu cũng có cơ hội được cung cấp dòng vốn mới nhằm tiếp tục thực hiện hoạt động SXKD của mình Chức năng cung cấp khả năng thanh khoản cho các doanh nghiệp, nhất là các ngân hàng là chức năng quan trọng đảm bảo cho thị trường mua bán nợ xấu hoạt động một cách năng động và có hiệu quả

Ngoài chức năng như thị trường nợ thông thường thì thị trường nợ xấu có thể coi như là phương tiện giúp cho việc xử lý sản phẩm xấu tạo điều kiện cho môi trường kinh doanh trở nên trong sạch, thông thoáng hơn

Trang 36

d Vai trò giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô

Thông qua thị trường mua bán nợ xấu, Chính phủ có thể mua và bán các khoản nợ xấu của các DNNN (khách nợ của TCTD) để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách, phục vụ cho các mục tiêu quản lý kinh tế Ngoài ra, Chính phủ cũng

có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào thị trường mua bán nợ xấu nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối với nền kinh tế Tổ chức tốt tạo điều kiện cho thị trường mua bán nợ xấu phát huy được chức năng của nó sẽ làm cho thị trường hoạt động có hiệu quả, từ đó tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng thị trường mua bán nợ xấu cũng

ẩn chứa những khuyết tật, nó mang tính chất rủi ro rất cao Vì thế, nếu như thị trường không được tổ chức tốt, sự vận hành của nó không được bảo đảm bằng một khung pháp lý đủ hiệu lực và một bộ máy điều hành có năng lực thì thị trường mua bán nợ xấu có thể rơi vào tình trạng trục trặc, rối loạn, từ đó gây ra những tác động tiêu cực không nhỏ đe doạ sự ổn định, phát triển của nền kinh tế

1.1.2.6 Hình thức mua bán nợ xấu

Mua bán nợ xấu có các hình thức sau:

- Mua bán nợ xấu thông qua đấu giá theo quy định của pháp luật về bán đấu

giá tài sản.Việc bán đấu giá được thực hiện thông qua tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp hoặc do công ty mua bán nợ có chức năng đấu giá thực hiện Thông tin về việc bán đấu giá phải được niêm yết, thông báo công khai Giá mua bán nợ thành công là mức giá mua cao nhất và tối thiểu phải bằng mức giá khởi điểm

- Mua bán nợ xấu bằng cách thương lượng, đàm phán trực tiếp giữa bên mua

nợ và bên bán nợ xấu Giá mua bán nợ do hai bên thỏa thuận trên cơ sở đánh giá khả năng thu hồi nợ của khoản vay và tài sản bảo đảm của khoản vay

- Mua bán nợ xấu bằng trái phiếu đặc biệt: đây là hình thức TCTD bán nợ xấu

cho công ty mua bán nợ và công ty mua bán nợ trả cho các TCTD bằng trái phiếu đặc biệt do công ty mua bán nợ là chủ thể phát hành Trái phiếu đặc biệt được phát hành dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, mệnh giá trái phiếu đặc biệt có giá trị bằng giá mua của khoản nợ xấu theo quy định của nhà nước Hình thức mua bán nợ xấu bằng trái phiếu đặc biệt thường được các công ty mua bán nợ của Nhà nước áp dụng, vì vậy khi mua bán nợ xấu bằng hình thức này, khoản nợ xấu

Trang 37

phải đáp ứng một số điều kiện theo quy định (có tài sản bảo đảm; khoản nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu phải hợp pháp, có hồ sơ, giấy tờ hợp lệ) Trái phiếu đặc biệt thường được sử dụng để vay tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước

- Mua bán nợ xấu theo giá trị thị trường: Đây là hình thức mua bán nợ xấu mà

giá mua nợ xấu được xác định trên cơ sở thỏa thuận và giá trị khoản nợ xấu được đánh giá lại theo giá thị trường Khi mua nợ xấu theo giá trị thị trường, công ty mua bán nợ phải định giá hoặc thuê tổ chức có chức năng định giá độc lập xác định giá trị khoản nợ xấu Thông thường khi mua nợ xấu theo giá trị thị trường, khoản nợ đó khi mua phải được đánh giá có khả năng thu hồi đầy đủ số tiền mua nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu có khả năng phát mại

- Mua bán nợ xấu theo chỉ định của cấp có thẩm quyền: Theo hình thức này

giá cả mua bán sẽ do các cơ quan quản lý Nhà nước xem xét và trình cấp có thẩm quyền quyết định

- Mua bán nợ xấu thông qua hoạt động mua bán sáp nhập (M&A): Các chủ

thể khi tham gia mua bán sáp nhập có những mục đích khác nhau Trong trường hợp này, mua bán sáp nhập được diễn ra giữa TCTD có tình hình tài chính lành mạnh với các TCTD yếu kém nhằm mục đích xử lý nợ xấu, lành mạnh hóa tài chính của TCTD yếu kém Về bản chất khi mua lại toàn bộ tài sản của TCTD yếu kém là đã bao gồm việc mua lại các khoản nợ xấu của TCTD đó Sự thành công của mua bán sáp nhập giữa các TCTD trên hết là tạo ra lợi ích của các bên, đồng thời đem lại lợi ích cho nền kinh tế và toàn xã hội

1.2 PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG MUA BÁN NỢ XẤU

1.2.1 Khái niệm phát triển thị trường mua bán nợ xấu

Phát triển là quy luật của mọi hiện tượng kinh tế, xã hội Chỉ có phát triển thì các chủ thể tham gia thị trường mới tồn tại vững chắc, phù hợp với xu hướng chung của nền kinh tế Phát triển thị trường chính là mục tiêu, chỉ tiêu tổng hợp phản ánh sự phát triển của doanh nghiệp

Phát triển thị trường mua bán nợ xấu được hiểu là các hoạt động khai thác triệt

để thị trường mua bán nợ xấu, tổng hợp các cách thức, biện pháp để đưa khối lượng hàng hóa được mua bán trên thị trường mua bán nợ xấu đạt mức tối đa

Trang 38

Phát triển thị trường mua bán nợ xấu bao gồm việc khai thác tốt thị trường trong nước, đưa hàng hóa hiện tại mua bán ở thị trường quốc tế, nghiên cứu dự đoán nhu cầu thị trường, đưa hàng hóa mới đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước và khu vực thị trường quốc tế Phát triển thị trường nợ xấu còn để nhằm tìm kiếm cơ hội hấp dẫn trên thị trường Có rất nhiều loại cơ hội trên thị trường nhưng chỉ những cơ hội phù hợp với tiềm năng và mục tiêu của các chủ thể tham gia thị trường mới được gọi là cơ hội hấp dẫn

Thị trường mua bán nợ xấu là tấm gương phản chiếu hiệu quả hoạt động của các chủ thể tham gia thị trường, phản ảnh việc thực hiện các văn bản quy định, các chính sách, chủ trương của Chính phủ, NHNN, các Bộ Ngành liên quan đến hoạt động mua bán nợ xấu có đạt hiệu quả hay không Vì vậy, thông qua việc phát triển thị trường mua bán nợ xấu có thể đánh giá được hoạt động mua bán nợ xấu, phát huy tiềm năng, hiệu quả đạt được và điều chỉnh những thiếu sót, tồn tại của thị trường mua bán nợ xấu để có các giải pháp thúc đẩy việc phát triển của thị trường này

Như vậy: Phát triển thị trường mua bán nợ xấu là tổng hợp các cách thức, biện pháp nhằm phát triển thị trường mua bán nợ xấu theo cả chiều rộng (số lượng chủ thể tham gia, nợ xấu của TCTD đã bán) và chiều sâu (chất lượng mua bán nợ xấu, hiệu quả hoạt động của công ty mua bán nợ) nhằm khai thác triệt để thị trường mua bán nợ xấu, đáp ứng nhu cầu của các chủ thể tham gia thị trường, từ đó giúp các chủ thể đạt được mục tiêu của mình

1.2.2 Điều kiện cần thiết để phát triển thị trường mua bán nợ xấu

Để thị trường mua bán nợ xấu phát huy đầy đủ các vai trò như đã nêu ở trên, điều cần thiết là những nền tảng phát triển của nó phải được đáp ứng ngay từ ban đầu Những điều kiện như vậy có thể được nhìn nhận dưới ba góc độ: Thể chế - luật pháp, kinh tế - tài chính và hạ tầng kỹ thuật

1.2.2.1 Điều kiện thể chế - luật pháp

- Một là, thể chế kinh tế thị trường là điều kiện tiên quyết cho việc hình thành

nhu cầu giao dịch các khoản nợ xấu khác nhau Thị trường tài chính nói chung và thị trường mua bán nợ xấu nói riêng là thuộc tính của nền kinh tế thị trường Kinh tế thị trường với những hệ giá trị và quy luật kinh tế của nó sẽ là nền tảng quan trọng nhất

để hình thành một cách tự phát hoặc có tổ chức nhu cầu mua bán nợ xấu đi kèm với những đặc trưng vốn có của loại hình thị trường này Ví dụ, cơ chế xác định giá dựa

Trang 39

trên cơ sở cung cầu và sự tự nguyện trao đổi giữa các bên tham gia; hoặc thị trường vốn hình thành tạo điều kiện thuận lợi cho việc tham gia và hiện thực hóa các loại hình hợp đồng mua bán nợ xấu khác nhau Vì thế, việc tiếp tục kiên trì thúc đẩy và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường sẽ tạo ra môi trường sống cho thị trường mua

bán nợ xấu được hình thành

- Hai là, cần có hệ thống văn bản pháp luật, quy định rõ ràng về điều kiện

thành lập, tham gia và hoạt động của thị trường mua bán nợ xấu Hệ thống văn bản pháp quy cần được ban hành trước mở đường cho hoạt động mua bán nợ xấu hình thành Đây là một điều kiện nền tảng quan trọng để phát triển thị trường mua bán nợ xấu Tuy nhiên, khi thị trường đã đi vào hoạt động, cần có hành lang pháp lý khuyến khích và hỗ trợ để thu hút các nhà đầu tư trong việc mua bán nợ xấu Xuyên suốt trong quá trình đó là những nội dung để hoàn thiện khung pháp lý và các rào cản, hệ thống chính sách đảm bảo hoạt động mua bán nợ xấu được thực thi thuận lợi

1.2.2.2 Điều kiện kinh tế - tài chính

- Một là, cần phải tồn tại nhu cầu cao về mua bán nợ xấu và nhu cầu này xuất

phát từ nhiều bên tham gia Nói cách khác, cần phải có nhu cầu thiết thực về việc bán

nợ xấu và nhu cầu này phải có trước khi thị trường được xây dựng Nhu cầu về mua bán nợ xấu nói chung trước hết xuất phát từ phía những đơn vị sở hữu hàng hóa nợ xấu với mong muốn hạn chế thiệt hại khi không có khả năng thu hồi các khoản nợ xấu, đồng thời những đơn vị hoặc cá nhân mua nợ xấu cũng mong muốn tìm kiếm cơ hội đầu tư có chi phí hợp lý, trong khi đó nhu cầu từ bên thứ ba là các tổ chức, cá nhân mong muốn kinh doanh nhằm mục tiêu hưởng lợi nhuận chênh lệch từ các Hợp đồng mua bán nợ xấu Một khi không có nhu cầu cao của các bên nói trên thì không thể có thị trường mua bán nợ xấu Ví dụ, nhu cầu giao dịch không có hoặc có nhưng không thiết thực, cộng với thói quen, tập quán giao dịch sẽ khiến cho thị trường mua bán nợ xấu trở nên èo uột và khó phát triển

- Hai là, một cơ sở nhà đầu tư tài chính đủ rộng và sâu là điều kiện không thể

thiếu Thông thường trong nền kinh tế, hoạt động ngân hàng phát triển trước hoạt động cổ phiếu, tiếp đến mới có sự phát triển công cụ phái sinh Điều đó có ý nghĩa rằng trình độ phát triển thị trường phải đạt đến một mức độ nhất định mới phát sinh nhu cầu mua bán nợ xấu Cụ thể, số lượng và tiềm lực của các thành viên có thể tham gia vào thị trường mua bán nợ xấu sẽ quyết định sự tồn tại như thế nào của thị trường này Thị trường mua bán nợ xấu không đơn thuần chỉ là nơi gặp gỡ của hai bên nắm

Trang 40

giữ hàng hóa và bên mua hàng hóa, mà còn có sự tham gia tích cực của các nhóm đối tượng đầu cơ, kinh doanh chuyên nghiệp (trong nhiều trường hợp một đối tượng có thể đóng nhiều vai trò) và chính nhóm đối tượng này là chất xúc tác tiếp thêm sức sống cho thị trường mua bán nợ xấu với điều kiện họ có đủ năng lực tham gia Hơn nữa, không chỉ có các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp mà nhà đầu tư cá nhân cũng cần được nuôi dưỡng và khuyến khích tham gia, tạo điều kiện cho thị trường mua bán nợ xấu phát triển

1.2.2.3 Điều kiện hạ tầng kỹ thuật

Để thị trường mua bán nợ xấu phát triển cần có cơ sở hạ tầng công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ tin học Trong thời đại hiện nay, việc xây dựng thị trường mua bán nợ xấu cần áp dụng công nghệ tin học hiện đại nhằm kết nối thông tin cho

cả người mua, người bán Liên quan đến vấn đề này, việc áp dụng các chuẩn mực kế toán, kiểm toán cho hoạt động mua bán nợ xấu cần phải thống nhất và phù hợp

1.2.3 Nguyên tắc hoạt động để phát triển thị trường mua bán nợ xấu

Để phát triển thị trường mua bán nợ xấu thì đòi hỏi thị trường mua bán nợ xấu phải hoạt động dựa trên những nguyên tắc nhất định Nhìn chung có một số nguyên tắc hoạt động cơ bản như sau:

1.2.3.1 Nguyên tắc cạnh tranh tự do

Thị trường mua bán nợ xấu phải hoạt động trên cơ sở cạnh tranh tự do Các bên tham gia thị trường được tự do tham gia và rút khỏi thị trường Giá cả trên thị trường phản ánh quan hệ cung cầu về nợ xấu và thể hiện tương quan cạnh tranh giữa các công ty Trên thị trường sơ cấp, các chủ thể bán nợ xấu được lựa chọn để bán lại các khoản nợ của mình cho các chủ thể mua nợ, các chủ thể mua nợ xấu được tự do lựa chọn các khoản nợ xấu mà họ muốn đầu tư vào Trên thị trường thứ cấp, các chủ thể mua nợ xấu cũng cạnh tranh tự do để tìm kiếm cho mình một lợi nhuận cao nhất

1.2.3.2 Nguyên tắc giao dịch công bằng

Có nhiều người tham gia thị trường mua bán nợ xấu với những mục đích khác nhau Để đảm bảo lợi ích cho tất cả những người này, thị trường mua bán nợ xấu phải hoạt động dựa trên nguyên tắc giao dịch công bằng Tất cả mọi giao dịch phải được thực hiện trên cơ sở những quy định chung, những người tham gia thị trường đều bình đẳng trong việc thực hiện những quy định này Các trường hợp giao dịch bất

Ngày đăng: 17/09/2019, 06:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w