1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những vấn đề pháp lý về người đại diện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn tại việt nam

98 94 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 2,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công ty TNHH với tư cách là một pháp nhân thực hiện các quyền và nghĩa vụ b i những hành động của người đại diện của mình.Vì vậy, pháp luật về doanh nghiệp của các quốc gia trên thế giới

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

NH NG V N ĐỀ PHÁP L VỀ NGƯỜI ĐẠI DI N THEO PHÁP LUẬT CỦ C NG TY TRÁCH NHI M

H U HẠN TẠI VI T N M

Đ MINH TU N

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

NH NG V N ĐỀ PHÁP L VỀ NGƯỜI ĐẠI DI N THEO PHÁP LUẬT CỦ C NG TY TRÁCH NHI M

Trang 3

LỜI C M ĐO N

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo độ chính xác, tin cậy và trung thực Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Đ M T

Trang 4

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

` Đ M T

Trang 5

D NH MỤC CÁC CH VIẾT TẮT

BLDS: Bộ luật dân sự CTCP: Công ty cổ phần HĐTV: Hội đ ng thành viên TNHH: Trách nhiệm hữu hạn

Trang 6

MỤC LỤC

M ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ L LUẬN VỀ NG I ĐẠI DI N THEO PHÁP LUẬT CỦ C NG TY TNHH 6

1.1 Khái niệm người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH 6

1.1.1 Khái niệm công ty TNHH 6

1.1.2 Khái niệm người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH 8

1.2 V tr , vai trò của người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH 13

1.3 Mối quan hệ giữa người chủ s hữu và người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH 16

1.4 Quy đ nh về người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH trong pháp luật một số nước trên thế giới 18

1.4.1 Pháp luật của Trung Quốc 19

1.4.2 Pháp luật của 21

1.4.3 Pháp luật của T i n 22

KẾT LUẬN CH NG 1 23

Chương 2: TH C TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ NG I ĐẠI DI N THEO PHÁP LUẬT CỦ C NG TY TNHH TẠI VI T N M VÀ TH C TI N THI HÀNH 24

2.1 Thực trạng pháp luật về người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH 24

2.1.1 Khái quát sự hình thành và phát triển quy định về người đại diện t o p p luật của công ty TNHH 24

2.1.2 uy địn ủ uật o n ng iệp năm 2014 về người đại iện t o p p uật ủ ng ty TNHH 27

2.2 Thực ti n thi hành pháp luật về người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH và một số bất cập 40

2.2.1 i qu t t ự ti n t i n uật o n ng iệp năm 2014 40

Trang 7

2.2.2 ự ti n p ng quy địn về người đại iện t o p p uật ủ

ng ty v một số t ập 47

KẾT LUẬN CH NG 2 62

Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGH HOÀN THI N PHÁP LUẬT VỀ NG I ĐẠI DI N THEO PHÁP LUẬT CỦ C NG TY TNHH 63

3.1 Sự cần thiết và phương hướng hoàn thiện pháp luật về người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH 63

3.1.1 Sự cần thiết o n t iện p p uật 63

3 1 2 P ương ướng hoàn thiện pháp luật 68

3.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về ngươi đại diện theo pháp luật của công ty TNHH 70

3 2 1 i i p p o n t iện p p uật 70

3 2 2 gi i p p t t ự iện p p uật 77

KẾT LUẬN 84

D NH MỤC TÀI LI U TH M KHẢO 86

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 Số doanh nghiệp, vốn đăng ký thành lập mới năm 2017 41 Bảng 2: T lệ h sơ được chấp thuận ngay lần đầu tiên t lệ h sơ được trả kết quả đúng hẹn 43

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Tính c p thiết của đề tài

Đại diện là một chế đ nh truyền thống và là trung tâm của pháp luật dân sự

và doanh nghiệp, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội và trong cơ cấu pháp lý Công ty TNHH với tư cách là một pháp nhân thực hiện các quyền và nghĩa vụ b i những hành động của người đại diện của mình.Vì vậy, pháp luật về doanh nghiệp của các quốc gia trên thế giới đều quy đ nh rõ về hoạt động của người đại diện phải tuân thủ phạm vi thẩm quyền được quy đ nh tại điều lệ và pháp luật Trong đời sống hiện nay, cùng với sự phát tri n của kinh tế xã hội thì việc hoàn thiện chế đ nh đại diện là một xu thế tất yếu, phù hợp với sự phát tri n của cuộc sống

Ngh quyết số 35 NQ-CP của Ch nh phủ về hỗ trợ và phát tri n doanh nghiệp đến năm 2020 đã ch r : Doanh nghiệp là động lực của sự phát tri n, ch nh phủ vai trò kiến tạo, kh i nghiệp là sự nhiệp của nhân dân Cũng theo Ngh quyết, mục tiêu: Đến năm 2020, xây dựng doanh nghiệp Việt Nam có năng lực cạnh tranh, phát tri n bền vững, cả nước có t nhất một triệu doanh nghiệp hoạt động, trong đó có các doanh nghiệp có quy mô lớn, ngu n lực mạnh Trong bối cảnh đó, Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Bộ luật Dân sự năm 2015 ra đời đã trao quyền tự chủ cho doanh nghiệp nói chung và các công ty TNHH nói riêng, trong đó đ c biệt

đề cao các quy đ nh về người đại diện theo pháp luật Theo đó, Luật Doanh nghiệp năm 2014 ra đời đã th chế hóa đầy đủ quyền tự do kinh doanh theo Hiến pháp năm

2013, đáp ứng phần nào phù hợp với chủ trương của Nhà nước trong việc phát tri n nền kinh tế của đất nước với sự tham gia của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, đ c biệt là các loại hình công ty Luật Doanh nghiệp 2014 đã có nhiều thay đổi quan trọng, một trong những đi m mới đáng chú ý là quy đ nh về người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH, đây là một trong những nội dung thay đổi

cơ bản so với Luật Doanh nghiệp năm 2005, tạo điều kiện cho các công ty TNHH

có th hội nhập nhanh hơn, mạnh hơn vào nền kinh tế quốc tế, tận dụng được các cơ

Trang 10

2

hội kinh doanh thông qua các đại diện theo pháp luật M c dù vậy, các quy đ nh về người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH vẫn chưa thực sự r ràng, đầy đủ, gây ra những khó khăn nhất đ nh trong việc áp dụng

Thực ti n hiện nay cho thấy có nhiều trường hợp người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH thiếu trách nhiệm đ xảy ra những hậu quả nghiêm trọng, gây thất thoát cho công ty ho c ảnh hư ng đến lợi ch của công ty Việt Nam đang trong quá trình phát tri n và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới Trong quá trình hội nhập và phát tri n đó có sự đóng góp rất t ch cực của các doanh nghiệp nói chung, đ c biệt là các công ty TNHH tại Việt Nam Các nhà hoạch đ nh chính sách đang dần gỡ bỏ các rào cản của quy đ nh pháp luật, thủ tục hành chính, thuế quan nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất đ thu hút cho các nhà đầu tư nước ngoài phát tri n kinh tế Trước những làn sóng đầu tư mạnh mẽ của các nhà đầu tư nước ngoài như hiện nay, thì các doanh nghiệp trong nước mà chủ yếu là các công

ty TNHH hiện nay đang phải đối m t với sự cạnh tranh ngày càng lớn, nhất là khi Việt Nam đang là thành viên c ủa tổ chức thương mại quốc tế WTO và tham gia Hiệp đ nh đối tác Xuyên Thái Bình Dương TPP Nhiệm vụ đ t ra là nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đ c biệt là các quy đ nh

về doanh nghiệp sẽ là một điều kiện then chốt, một đòi hỏi bắt buộc đ phát tri n nền kinh tế hiện nay

Vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Những vấn đề pháp lý về người đại

diện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn tại Việt Nam” làm đề tài

luận văn nhằm làm r hơn các quy đ nh người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH trên cơ s nền tảng lý luận và hoạt động áp dụng trong thực ti n đời sống đ nêu ra những bất cập, t n tại làm cơ s cho các đ nh hướng hoàn thiện chế đ nh quan trọng của pháp luật doanh nghiệp nước ta hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu

Trên thế giới, học thuyết về đại diện đã được nghiên cứu từ rất sớm Trong các tác phẩm như The Wealth of Nations của Adam Smith; The Modern Corporation and Private Property của Adolf A Berle và Gardiner C Means;

Trang 11

3

Agency Law and Contract Formation của Eric Rasmusen; Corporate Governane:

Ki m soát quản tr của Bob Tricker…các nhà nghiên cứu đã dự đoán rằng, xu hướng phát tri n của các công ty hiện đại cần có sự phân tách giữa quyền s hữu và quản lý, ki m soát công ty

trong nước, dưới những phạm vi và góc độ khác nhau, đã có những công trình nghiên cứu, bài viết đề cập đến chế đ nh người đại diện của doanh nghiệp

Nghiên cứu trong một số luận văn, luận án như: Luận án tiến sĩ Đại diện cho thương nhân theo pháp luật thương mại Việt Nam hiện nay của tác giả H Ngọc Hi n 2012 ; Luận văn thạc sĩ Chế đ nh người đại diện của doanh nghiệp theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam của tác giả Phạm Lâm Hải Nguyên (2014); Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguy n Văn Thắng Người đại diện theo pháp luật trong Luật doanh nghiệp 2005 2007 ; Luận văn thạc sĩ Đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp từ thực ti n tổng công ty thuốc lá Việt Nam của tác giả B i Th Tâm (2017); Luận văn thạc sĩ Đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần Việt Nam của tác giả Vũ Th B ch Thủy (2014); Luận văn thạc sĩ Quy chế pháp lý về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và thực ti n áp dụng của tác giả Trần Th Thu Thảo 2017)… đã làm r khái niệm, thẩm quyền và vai trò của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp nói chung Tuy nhiên, khía cạnh lý luận

và thực ti n, thì tác giả chưa đi nghiên cứu sâu sắc một cách thỏa đáng

Nghiên cứu trong các bài viết, tạp ch như: Bùi Xuân Hải,"Học thuyết về đại diện và mấy vấn đề của pháp luật công ty Việt Nam ", Tạp chí Khoa học pháp lý

2007, số 4 41 ; TS Ngô Huy Cương, Chế đ nh đại diện theo quy đ nh của pháp luật Việt Nam – nhìn từ góc độ luật so sánh, Tạp chí nhà nước và pháp luật số 4/2009; Bài viết Bình luận chế đ nh pháp nhân và đại diện pháp nhân trong Bộ luật dân sự năm 2005 của Luật sư Trương Thanh Đức; Lê Văn Thiệp, Một số vấn đề

lý luận và thực ti n về đại diện theo pháp luật, Tạp chí Ki m sát, Số Tân Xuân, 2012; Chế đ nh đại diện trong pháp luật Việt Nam và vấn đề đ t ra trong thực ti n

áp dụng của TS Nguy n Vũ Hoàng đăng trên Tạp ch Luật học số 2 năm 2013

Trang 12

4

Các công trình nghiên cứu này, phần nào đã làm r những vấn đề cơ bản của chế đ nh đại diện và những bất cập của Bộ luật dân sự và Luật Doanh nghiệp trong các quy đ nh về đại diện Đ ng thời các tác giả cũng đưa ra các phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về đại diện

Tuy nhiên, các công trình trên chủ yếu tiế cận vấn đề đại diện dưới một góc

độ nhất đ nh, cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào tiếp cận một cách

cụ th , sâu sắc, mang tính hệ thống liên quan đến các quy đ nh của pháp luật về đại diện theo pháp luật của công ty TNHH tại Việt Nam theo quy đ nh của Bộ luật Dân

sự năm 2015 và Luât Doanh nghiệp năm 2014 Vì vậy, tác giả mong muốn luận văn

sẽ đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống góp phần làm r hơn vấn đề này và bổ sung vào những nghiên cứu đã có

4 Mụ đ ụ ứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH; tổng hợp, phân t ch, đánh giá những quy đ nh của pháp luật Việt Nam về người đại diện theo pháp luật của công

ty TNHH và thực ti n áp dụng các quy đ nh này; từ đó đề xuất những giải pháp nhằmhoàn thiện các quy đ nh của pháp luật về vấn đề này

Từ những mục đ ch trên, tác giả đưa ra các nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn như sau:

- Làm sáng tỏ khái niệm, v tr , vai trò của người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH

Trang 14

1.1.1 Khái niệm đại diện

Đ hi u về khái niệm người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH, trước hết, cần phải hi u về khái niệm đại diện

Đại diện là chế đ nh quan trọng được ghi nhận trong pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới, bao g m cả các quốc gia theo hệ thống Civil Law và Common Law Theo truyền thống Common law, đại diện có vai trò trong mọi m t đời sống xã hội nói chung và trong hoạt động kinh doanh thương mại nói riêng Đại diện thúc đẩy sự phân công lao động xã hội với ảnh hư ng vô cùng rộng lớn và được những học thuyết riêng ghi nhận Sự phát tri n của chế đ nh đại diện dựa trên nền tảng tư tư ng của trường phái luật tự nhiên trong bối cảnh thương mại và công nghiệp đang phát tri n mạnh [18, tr.2] Có quan niệm cho rằng pháp luật về đại diện trong Common Law bắt ngu n từ một châm ngôn La tinh: Đại diện là hành động của một người thông qua một chủ th khác được pháp luật coi là hành động của

ch nh người đó [48, p.166] Có quan niệm cho rằng vấn đề đại diện lúc này như giao một con tàu cho thuyền trư ng điều khi n và quản lý hay hoạt động kinh doanh thông qua sự điều hành của người khác [10, tr.26-28] Quan hệ đại diện là một dạng quan hệ phức hợp được tạo b i quan hệ giữa người ủy quyền (principal), người đại diện agent và người thứ ba (third party) [17, tr.57] Đối với pháp luật công ty, các nước có nền kinh tế th trường phát tri n đều quan tâm điều ch nh vấn

đề đại diện Theo lý thuyết về đại diện của mình, Jensen và Mecklin cho rằng: Lý thuyết đại diện liên quan đến một hợp đ ng theo đó một ho c vài người (cổ đông giao cho người khác thay m t họ thực hiện một số d ch vụ, trong đó có việc ủy quyền ra quyết đ nh cho đại diện Nếu cả hai bên trong mối quan hệ này là những người muốn tối đa hóa lợi ch, chúng ta có lý do đ tin rằng đại diện sẽ không luôn

Trang 15

g m cả việc trao thẩm quyền đ ra quyết đ nh đ nh đoạt tài sản của công ty Còn theo quan đi m của Konrad Zweigert và Hein Koetz thì phương thức đại diện là một

sự cần thiết không th b vô hiệu trong bất kỳ chế độ phát tri n nào mà dựa trên sự phân công lao động đối với sản xuất và phân phối hàng hóa, d ch vụ [13, tr.11-18] Theo Từ đi n Black’s Law Dictionary bản thứ 9 thì thuật ngữ đại diện được dùng

đ bi u đạt quan hệ một chủ th nhân danh và vì lợi ích của một chủ th khác đ giao kết, thực hiện một giao d ch [49, p.1058]

Tại Việt Nam, khái niệm về đại diện được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Theo từ đi n Tiếng Việt, đại diện là: Thay m t cho cá nhân ho c tổ chức làm việc gì [47, tr.325] Theo từ đi n Luật học, đại diện là: Việc một người, một cơ quan, tổ chức nhân danh người, cơ quan, tổ chức khác xác lập, thực hiện hành vi pháp lý trong phạm vi thẩm quyền đại diện [44, tr.225]

Điều 134 BLDS 2015 có đ nh nghĩa về đại diện như sau: "Đại diện là việc

cá nhân, pháp nhân nhân danh và vì lợi ích của cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao d ch dân sự M c dù mới hình thành và phát tri n chưa lâu nhưng pháp luật dân sự Việt Nam đã có tiếp thu tương đối đầy đủ những học thuyết về đại diện Pháp luật Việt Nam tiếp cận khái niệm đại diện theo quan đi m tương đối hài hòa với các hệ thống pháp luật trên thế giới Điều này có lẽ xuất phát từ việc vấn đề đại diện của pháp luật VIệt Nam có ngu n gốc từ trường phái luật tự nhiên giống với BLDS Pháp [10, tr.29]

Từ những quan đi m nói trên, có th đưa ra khái niệm về đại diện như sau: Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân, pháp nhân khác sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao d ch dân sự

Trang 16

8

1.1.2 Khái niệm người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH

Việt Nam, công ty TNHH m c d ra đời muộn nhưng là loại hình doanh nghiệp được các nhà đầu tư ưa chuộng b i sự kết hợp hoàn hảo những ưu đi m của công ty hợp danh và công ty cổ phần, phù hợp với các nhà đầu tư có quy mô nhỏ và vừa Theo đó, công ty TNHH g m hai thành viên tr lên và công ty TNHH một thành viên Công ty TNHH hai thành viên tr lên được xác đ nh là doanh nghiệp, trong đó thành viên có th là tổ chức, cá nhân và số lượng thành viên không vượt quá 50; các thành viên ch u trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp theo quy

đ nh của pháp luật Còn công ty TNHH một thành viên được xác đ nh là doanh nghiệp do một tổ chức ho c một cá nhân làm chủ s hữu (gọi là chủ s hữu công ty); chủ s hữu công ty ch u trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty Như vậy, về bản chất, công ty TNHH hai thành viên tr lên hay công ty TNHH một thành viên đều được xác đ nh

là doanh nghiệp trong đó thành viên ch u trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp Phần vốn góp ch được chuy n nhượng một phần hay toàn bộ cho người khác theo quy

đ nh của pháp luật Thành viên có th là tổ chức, cá nhân, số lượng thành viên không vượt quá năm mươi Công ty TNHH có tư cách pháp nhân k từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và không được quyền phát hành cổ phần

Công ty với tư cách là một tổ chức có tư cách pháp nhân - một thực th pháp lý độc lập, tự bản thân nó không th hành động cho chính mình mà ch có th hành động thông qua con người cụ th - những người quản lý công ty Cũng vì thế, công ty luôn cần có người đại diện trong giao d ch đ xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình Người đại diện của công ty là người được thay m t công ty thực hiện các giao d ch vì lợi ch của công ty với các đối tác, khách hàng và với cơ quan nhà nước [13, tr.41 Vậy, có th hi u người đại diện của công ty là người được chủ s hữu công ty trao một số quyền quản lý nhất đ nh đối với ngu n lực của chủ s hữu nhằm phục vụ lợi ích của chủ s hữu

Trang 17

9

Theo quy đ nh tại khoản 1 Điều 134 BLDS 2015 thì: "Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân nhân danh và vì lợi ích của cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao d ch dân sự Theo đó, đại diện theo pháp luật là việc quyền đại diện được xác lập theo quyết đ nh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân ho c theo quy đ nh của pháp luật Điều 135 BLDS 2015)

Người đại diện cho công ty g m đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền Khi đề cập người đại diện theo pháp luật của công ty là đ người bên ngoài

có th biết được ai là người có th ràng buộc công ty vào trách nhiệm của nó, bi u hiện cụ th đây là người sẽ phát bi u và cam kết thay cho công ty, ký văn kiện ràng buộc công ty, và người thứ ba ch cần biết ai là người đại diện theo pháp luật của công ty đ bắt công ty ch u trách nhiệm mà không cần biết trong nội bộ công ty

ai có quyền hơn ai [36, tr.9]

Đối với vấn đề nội bộ công ty, nhân viên công ty được cho biết khi vào làm

là họ thuộc quyền của ai và ai có quyền gì đối với họ Những người có quyền đối với nhân viên thường không phải là người đại diện pháp luật Bên trong công ty không cần người đại diện pháp luật mà là ai có quyền hành gì cụ th , mà cụ th hơn

ai là người điều hành họ Quan trọng hơn, họ ch cần biết ai là người đại diện theo pháp luật của công ty khi họ có tranh chấp với công ty về hợp đ ng lao động (chẳng hạn b sa thải trái pháp luật ho c về một vấn đề nào đó về hợp đ ng lao động đ kiện công ty ra tòa và đ tòa triệu tập người đại diện theo pháp luật của công ty đ có th quy trách nhiệm cho công ty Trong một phương diện nào đó,

có th hi u rằng người đại diện theo pháp luật và hành vi của người này là cơ s ,

là điều kiện cơ bản khi đề cập đến vấn đề trách nhiệm của công ty, tức là ràng buộc công ty với bên ngoài Người đại diện pháp luật là người thay m t công ty chuy n tải những thống nhất, thỏa thuận trong nội bộ doanh nghiệp đó với bên ngoài và tiếp nhận thông tin chính thức từ bên ngoài vì lợi ích của doanh nghiệp theo thẩm quyền được quy đ nh trong Luật doanh nghiệp và điều lệ doanh nghiệp

Trang 18

10

Khoản 1 Điều 95 của BLDS 2015 quy đ nh:“ gười đại iện t o p p uật

quyền n n n p p n n ập t ự iện mọi n vi p p t uộ p ạm

vi quyền ng v ủ m n

Luật Doanh nghiệp 2014 cũng đã đưa ra một đ nh nghĩa thống nhất về người đại diện theo pháp luật dựa trên vai trò, chức năng của người đại diện theo

pháp luật trong doanh nghiệp tại Điều 13 như sau: “ gười đại iện t o p p uật

ủ o n ng iệp n n đại iện o o n ng iệp t ự iện quyền v

ng v p t sin t gi o ị ủ o n ng iệp đại iện o o n ng iệp với tư nguy n đơn ị đơn người quyền ợi ng v i n qu n trướ rọng t i

n v quyền v ng v t o quy địn ủ p p uật [36, tr.9]

Từ khái niệm trên, có th đưa ra khái niệm về người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH như sau:

gười đại iện t o p p uật ủ ng ty n n quyền n n

n ng ty ập t ự iện mọi gi o ị trong p ạm vi đại iện; đại iện o ng ty với tư nguy n đơn ị đơn người quyền ợi ng

v i n qu n trướ rọng t i n v quyền v ng v t o quy địn

ủ p p uật

Trên cơ s phân t ch đ nh nghĩa người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH, có th nhận thấy một số đ c đi m cơ bản về người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH như sau:

Thứ nhất, người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH phải là cá nhân,

có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ Người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH thay m t công ty TNHH đ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty TNHH nhằm mang lại lợi ích cho công ty TNHH, do đó họ phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Đây là điều kiện bắt buộc và tiên quyết đ tr thành người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH Nếu người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH không đáp ứng được yêu cầu này, b mất ho c b hạn chế năng lực hành vi dân sự thì sẽ b thay thế người đại diện theo pháp luật của công ty

Trang 19

11

Thứ hai, người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH phải thường trú tại Việt Nam Người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH là người thay m t công ty trong việc tổ chức nội bộ công ty TNHH và giao d ch với bên ngoài Do đó, người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH phải thường xuyên có m t tại công

ty TNHH Đ thực hiện tốt nghĩa vụ của mình, pháp luật bắt buộc người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH phải thường trú Việt Nam; trường hợp vắng

m t trên ba mươi ngày Việt Nam thì phải u quyền bằng văn bản cho người khác theo quy đ nh tại Điều lệ doanh nghiệp đ thực hiện các quyền và nhiệm vụ của người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH

Thứ ba, người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH nhân danh công

ty TNHH và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty TNHH Người đại diện của công ty TNHH là người có thẩm quyền nhân danh công ty TNHH tham gia, xác lập và thực hiện các giao d ch vì lợi ch của công ty Trong quản lý công ty TNHH, người đại diện theo pháp luật hành động nhân danh công ty TNHH - đại diện đương nhiên - và thay m t các chủ s hữu công ty TNHH - đại diện ủy quyền

đ thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của công ty TNHH Người đại diện ch được nhân danh công ty TNHH xác lập, thực hiện giao d ch trong phạm vi đại diện Giao d ch do người đại diện theo pháp luật thực hiện ch có hiệu lực pháp lý đối với người được đ diện khi và ch khi giao d ch đó ph hợp với phạm vi đại diện Đ c

đi m này có ý nghĩa quan trọng và tác động đến hầu hết mọi vấn đề liên quan đến quan hệ đại diện Quyền và nghĩa vu, trách nhiệm của công ty TNHH, của người đại diện và của người thứ ba có phát sinh hay không, được thực hiện như thế nào phụ thuộc vào người đại diện theo pháp luật có thực hiện đúng phạm vi đại diện của mình không Do đó, đ i hỏi người đại diện theo pháp luật phải minh bạch trong việc cung cấp thông tin về phạm vi đại diện trước khi xác lập các giao d ch

Thứ tư, quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH được xác đ nh theo BLDS, Luật Doanh nghiệp, các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, Điều lệ của công ty, văn bản thỏa thuận giữa chủ s hữu công ty TNHH với người đại diện Quyền đại diện của người đại diện theo pháp luật của

Trang 20

12

công ty TNHH có th được xác lập theo điều lệ doanh nghiệp, theo pháp luật ho c theo quyết đ nh của Tòa án Nếu công ty TNHH là nguyên đơn, b đơn dân sự trong các vụ kiện tại Tòa án, trọng tài thì người đại diện đương nhiên của doanh nghiệp tham gia các thủ tục tố tụng phải là người đại diện theo pháp luật Nếu người này không tham gia được thì có th ủy quyền cho người khác, những người không có quyền đương nhiên như người đại diện theo pháp luật Ngoài ra, nười đại diện theo pháp luật của công ty TNHH có th thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác và thực hiện vì lợi ch của công ty TNHH

Thứ năm, công ty TNHH có th có một ho c nhiều người đại diện theo pháp luật Số lượng người đại diện theo pháp luật do công ty TNHH tự quyết đ nh

Số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đ a diện theo pháp luật của công ty TNHH được quy đ nh cụ th tại điều lệ công ty Đây là đ c đi m mới

về người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH Nếu như trước đây, mỗi công

ty TNHH ch có một người đại diện theo pháp luật, tất cả những người khác muốn thực hiện các giao d ch nhân danh công ty đều phải có ủy quyền của người đại diện theo pháp luật thì hiện nay tất cả những người được điều lệ quy đ nh là đại diện theo pháp luật của công ty đều có quyền nhân danh công ty thực hiện các giao d ch mà không cần bất cứ ủy quyền nào

Khác với đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật quy đ nh ho c cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết đ nh đôi khi người được đại diện không cần

ho c không th th hiện ý ch đối với người đại diện , đại diện theo ủy quyền là trường hợp quan hệ đại diện được xác lập theo ý ch của hai bên Do vậy, cả người đại diện và người được đại diện đều phải có năng lực hành vi dân sự Hai bên bi u hiện tự do ý ch thông qua một hợp đ ng ủy quyền ho c một giấy ủy quyền Ủy quyền là phương tiện pháp lý cần thiết tạo điều kiện cho cá nhân, pháp nhân và các chủ th khác của quan hệ dân sự, bằng nhiều hình thức khác nhau có th tham gia vào các giao d ch dân sự một cách thuận lợi nhất, bảo đảm thỏa mãn nhanh chóng các lợi ch vật chất, tinh thần mà chủ th quan tâm Giữa người đại diện theo pháp

Trang 21

13

luật của công ty và người đại diện theo ủy quyền của công ty có một số đi m khác biệt như:

Một là, quyền nhân danh công ty

Người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH được pháp luật trao quyền quản lý con dấu, quản lý tài khoản và tài sản của công ty, được nhân danh công ty

đ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty Còn người đại diện theo ủy quyền của công ty TNHH là người được người đại diện theo pháp luật của công ty ủy quyền đ thực hiện một ho c một số quyền và nghĩa vụ nhất đ nh Người đại diện theo ủy quyền của công ty TNHH không có quyền đương nhiên nhân danh công ty

đ thực hiện quyền và nghĩa vụ mà ch được nhân danh công ty trong phạm vi ủy quyền và có nghĩa vụ nói r việc ủy quyền đó trong các giao d ch

Hai là, quyền ủy quyền cho người khác

Người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH được quyền ủy quyền cho người khác đ thực hiện quyền và nghĩa vụ của công ty do mình làm đại diện theo pháp luật Chẳng hạn như Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật của công

ty có th ủy quyền cho các Phó tổng giám đốc, các giám đốc chi nhánh thực hiện một số quyền và nghĩa vụ nhất đ nh của công ty; ho c trường hợp người đại diện theo pháp luật của công ty vắng m t khỏi Việt Nam quá 30 ngày thì phải ủy quyền cho người khác đại diện đ thực hiện quyền và nghĩa vụ của công ty Trong khi đó, người đại diện theo ủy quyền của công ty TNHH không đương nhiên được ủy quyền lại cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ đại diện cho công ty mà mình đã được ủy quyền, trừ trường hợp được người ủy quyền đ ng ý

Ba là, về th lao đại diện Người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH không hư ng th lao đại diện

Trang 22

14

hành quy đ nh ngay từ khi thành lập và đăng ký doanh nghiệp thì phải đăng ký chức danh người đại diện theo pháp luật trừ công ty hợp danh thì tất cả thành viên hợp danh đều là người đại diện theo pháp luật Trừ những việc do chủ s hữu công ty

ho c HĐQT, HĐTV quyết đ nh, các quyền và nghĩa vụ còn lại của doanh nghiệp sẽ

do người đại diện theo pháp luật trực tiếp ho c ủy quyền cho người khác thực hiện

Do đó, pháp luật quy đ nh trường hợp người đại diện theo pháp luật vắng m t khỏi Việt Nam quá 30 ngày thì phải ủy quyền cho người khác đại diện; ho c trường hợp người đại diện chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, từ chức ho c b bãi mi n thì công ty phải cử người đại diện khác Nói cách khác, người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH là v trí bắt buộc mà thiếu nó thì công ty không th hoạt động

Hai là, người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH thay m t doanh nghiệp duy trì mối quan hệ với các chủ s hữu công ty, với Nhà nước, khách hàng, đối tác, người lao động… Công ty TNHH là một thực th được hình thành từ ngu n vốn của chủ s hữu (công ty TNHH một thành viên) ho c các chủ s hữu (công ty TNHH hai thành viên tr lên) Quá trình hoạt động của công ty TNHH không t n tại đơn lẻ mà có sự liên kết và quan hệ mật thiết với các chủ th khác như: quan hệ với chủ s hữu ki m soát hoạt động của doanh nghiệp, phân phối lợi nhuận, quyết

đ nh phương án kinh doanh, phương án phân chia lỗ… ; quan hệ với Nhà nước quan hệ đăng ký kinh doanh, đóng thuế, tố tụng, nộp phạt… ; quan hệ với khách hàng, với các đối tác, với người lao động, với chủ nợ và các con nợ của doanh nghiệp Mối quan hệ này hết sức phức tạp Chẳng hạn, trong mối quan hệ với Nhà nước, thông qua hành vi của người đại diện theo pháp luật của công ty, các cơ quan quản lý nhà nước có th ki m soát, đánh giá ý thức chấp hành pháp luật của doanh nghiệp đ có những biện pháp xử lý, can thiệp k p thời nhằm đảm bảo doanh nghiệp phát tri n lành mạnh theo khuôn khổ pháp luật Trong mối quan hệ với khách hàng, hành vi của người đại diện theo pháp luật chính là chứng cứ pháp lý đ ràng buộc trách nhiệm của công ty TNHH đ thiết lập và giữ mối liên hệ này thông suốt, công

ty TNHH phải hình thành một bộ máy tổ chức ch t chẽ Chẳng hạn như HĐTV, chủ

t ch, giám đốc, kế toán, nhân sự, kinh doanh, pháp lý, quan hệ khách hàng… Các bộ

Trang 23

15

phận này hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, đ ng thời thông qua điều lệ nhằm thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của công ty với cácđối tượng có liên quan Những người được người đại diện theo pháp luật ủy quyền phải thực hiện nghĩa vụ của mình trong phạm vi ủy quyền, ch u trách nhiệm trước người đại diện theo pháp luật và trước công ty về việc thực hiện các công việc được ủy quyền

Ba là, người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH nhân danh công ty TNHH đ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty như: ký kết các hợp đ ng, là người đại diện cho công ty TNHH tham gia tố tụng Công ty TNHH là một thực th pháp lý có các quyền và nghĩa vụ trước pháp luật, có quyền tham gia quan hệ pháp luật Tuy nhiên, công ty TNHH không th tự mình thực hiện được quyền và nghĩa

vụ của mình, do vậy người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH có vai trò thay m t công ty, nhân danh công ty đ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty TNHH Bên cạnh đó, pháp luật cũng đ t ra cơ chế ủy quyền Người đại diện theo pháp luật có th ủy quyền thường xuyên cho cấp phó, người đứng đầu chi nhánh của công ty thực hiện một ho c một số quyền và nghĩa vụ của công ty TNHH Người đại diện theo pháp luật cũng có th ủy quyền cho người khác theo vụ việc trong một thời hạn nhất đ nh Nhưng d có ủy quyền thì trước pháp luật, trước công

ty và chủ s hữu công ty, người đại diện theo pháp luật vẫn phải ch u trách nhiệm

cá nhân về nghĩa vụ đại diện theo pháp luật Như vậy, nếu một hợp đ ng được ký kết giữa công ty TNHH với đốitác hay người lao động thì cần phải ghi r chủ th là công ty TNHH và do người đại diện theo pháp luật ho c người được người đại diện theo pháp luật ủy quyền làm đại diện Tương tự như vậy, nếu tòa án triệu tập công ty TNHH ra tòa thì người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH phải có m t Trường hợp người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH vì lý do nào đó không

th ho c không muốn xuất hiện tại tòa án thì phải làm giấy ủy quyền cho người khác

Bốn là, ch u trách nhiệm trước pháp luật về các hoạt động của công ty TNHH Khi người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH hành động trái với thẩm quyền gây tổn thất cho doanh nghiệp thì người đại diện theo pháp luật phải

ch u trách nhiệm cá nhân trước công ty và trước pháp luật trong phạm vi thẩm

Trang 24

16

quyền được pháp luật, điều lệ công ty và bản hợp đ ng lao động nếu có mà người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH đã ký kết với chủ s hữu công ty TNHH quy đ nh Khi một doanh nghiệp trong quá trình hoạt động có các hành vi vi phạm pháp luật do hành vi của người đại diện theo pháp luật ho c của những người khác trong doanh nghiệp gây ra chẳng hạn như gây ô nhi m môi trường, vi phạm của doanh nghiệp Người đại diện theo pháp luật có nghĩa vụ tổ chức thực hiện quyết

đ nh xử phạt của cơ quan có thẩm quyền đối với công ty mình và quy trách nhiệm

cá nhân đối với người có hành vi đ xảy ra vi phạm đó

M a ữa ƣờ ủ ở ữ ƣờ đ á

ậ ủa TNHH

Theo học thuyết về đại diện, mối quan hệ giữa các thành viên và người quản lý công ty được hi u như là quan hệ đại diện – hay quan hệ ủy thác [12, tr.11-18] Mà trong đó, chủ s hữu bổ nhiệm, ch đ nh người đại diện thực hiện việc quản

lý công ty, trao cho họ một số thẩm quyền, bao g m cả quyền đ nh đoạt tài sản đ phục vụ lợi ích của chủ s hữu Nếu cả hai bên trong mối quan hệ này (thành viên

và người quản lý công ty đều muốn tối đa hóa lợi tích của mình, thì có cơ s đ tin rằng người quản lý công ty sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ, tức các thành viên và công ty Làm thế nào đ đảm bảo rằng người đại diện ch hành động duy nhất vì lợi ch người chủ (principal) là một thách thức lớn lao Nguyên nhân của hiện tượng trên là, trong mỗi công ty đều có những mối quan

hệ ẩn chứa sự xung đột lợi ích những mức độ khác nhau, giữa một bên là thành viên với tư cách là người s hữu vốn với một bên là những người quản lý điều hành công ty với tư cách là người trực tiếp quản lý, sử dụng vốn, tài sản của công ty

Trên cả phương diện lý luận và thực ti n, tất cả các thành viên công ty nói chung – bất k là thành viên góp nhiều vốn hay ít vốn – đều có th phải đối m t với việc b bóc lột b i những người quản lý điều hành công ty [14, tr.147] Các đ c tính của tự nhiên của quan hệ đại diện dẫn đến giả thiết rằng, các thành viên thường xuyên giám sát hoạt động của người quản lý công ty nhằm đảm bảo lợi ích của mình, bằng cách thiết lập những cơ chế đãi ngộ thích hợp cho nhà quản tr , và thiết

Trang 25

đã hành động một cách có trách nhiệm với sự độc lập và chính trực Không một người nào, với tư cách là đại diện, lại được phép đ t mình vào v trí mà lợi ích và trách nhiệm của bản thân mâu thuẫn nhau [36, tr.16]

một phía khác, các nhà kinh tế học đánh giá mối quan hệ giữa người chủ

và người đại diện dưới góc độ lợi ch Theo đó, quan hệ đại diện phát sinh khi phúc lợi của một bên (gọi là người chủ, người đại diện – principal) lệ thuộc vào hành vi,

sự tích cực chủ động và thiện chí của một bên khác (gọi là người đại diện, người thừa hành tác nghiệp – agent) Khi lợi ích giữa người chủ và người đại diện không giống nhau, mà điều này hầu như là luôn t n tại, thì công ty sẽ phải gánh ch u các chi phí khác ngoài chi phí sản xuất kinh doanh thông thường như: chi ph giám sát hành vi thông thường của người đại diện; chi phí cho việc đưa ra các ràng buột cho hành động của người đại diện; chi phí ký kết hợp đ ng với người đại diện; chi phí cho những quyết đ nh không tối ưu của họ…Tất cả các chi phí này gọi chung là chi

ph đại diện [15, tr.5] tư ng này xuất phát từ đ nh lý Coase với nội dung cốt lõi là: Trong đời sống xã hội, nếu các chủ th pháp luật không bỏ ra chi phí giao d ch nào, thì tính hiệu quả sẽ đạt được, bất k việc chọn lựa quy phạm pháp luật như thế nào [42, tr.53] Vì thế, các nghiên cứu của kinh tế học xoay quanh vấn đề giải quyết mâu thuẫn lợi ích giữa người chủ principal và người đại diện (agent), thông qua

đó đưa ra các chiến lược pháp lý (agency problem and legal strategies) nhằm hạn

Trang 26

và phát huy tác dụng trong luật thực đ nh Việt Nam

1.4 Q đ nh về ƣờ đ á ậ ủa TNHH trong pháp luật một s ƣớc trên thế giới

1.4.1 Pháp luật của Pháp

Theo pháp luật của Pháp, người đại diện là người được công ty ủy nhiệm,

có nhiệm vụ thay m t công ty trong các giao d ch hay quan hệ với các chủ th bên ngoài công ty Pháp luật của Pháp đưa ra các điều kiện đ tr thành người đại diện theo pháp luật của công ty Các điều kiện này khá ch t chẽ Vấn đề kiệm nhiệm được quy đ nh như sau: mỗi cá nhân không được tham gia điều hành quá nhiều công ty, trong đó chủ yếu là v tr người đại diện theo pháp luật và giới hạn số lượng công ty mà một cá nhân được tham gia quản lý là không quá 8 công ty cùng có trụ

s trên lãnh thổ Pháp Theo các nhà luật học Pháp, nếu một cá nhân tham gia quản

lý quá nhiều công ty thì người đó không th làm việc nghiêm túc và chu đáo: Ngay cả khi nhiệm vụ quản tr viên ch cần sự có m t của ông ta các cuộc họp 3 tháng một kỳ của hội đ ng quản tr , nghĩa là không cần sự có m t thường xuyên trụ s công ty, thì nhà lập pháp cũng thấy rằng nếu tham gia quá 8 hội đ ng quản

tr , thì cũng không th làm việc một cách nghiệm túc được [56, tr.19]

Trong các giao d ch với các chủ th bên ngoài, nếu người đại diện ký hợp

đ ng vượt quá phạm vi quyền hạn theo ủy nhiệm của công ty thì hợp đ ng đó vẫn hợp pháp và được tiến hành bình thường: Đôi khi điều lệ hạn chế quyền hạn của chủ t ch kiêm tổng giám đốc bằng các đòi hỏi phải có sự đ ng ý trước hội đ ng quản tri, nếu giá tr hợp đ ng vượt quá một mức nào đó Nhưng giới hạn này không

có giá tr với người ngoài, người ngoài vẫn có quyền đòi phải thi hành hợp đ ng d chưa có ý kiến của hội đ ng quản tr [56, 19]

Trang 27

19

Điều này khác với pháp luật Việt Nam, các học giả Pháp lý giải vấn đề này theo hướng đối tác của công ty là đối tượng yếu thế trong việc tiếp cận các thông tin nội bộ của công ty Do đó, đ bảo vệ các đối tác này thì các giao d ch đó không b vô hiệu khi người ký không đúng thẩm quyền Khi đó người đại diện theo pháp luật của công ty có th phải ch u trách nhiệm cá nhân theo các quy đ nh nội bộ của công ty

Các nhà làm luật của Việt Nam cho rằng các quy đ nh pháp luật cần phải rõ ràng về trách nhiệm của công ty và người đại diện theo pháp luật của công ty đối với bên thứ ba, các trường hợp công ty được coi là biết đén các giao d ch do người dại diện công ty tham gia, từ đó xem xét trách nhiệm là của công ty hay của cá nhân người đại diện Tuy nhiên, quy đ nh về người đại diện trong pháp luật Pháp lại quy

đ nh: trong quá trình hoạt động, các cơ quan như hội đ ng quản tr buộc phải biết các hoạt động của người đại diện Vì thế, trong mọi trường hợp thì công ty vẫn phải thực hiện trách nhiệm đối với bên thứ ba khi người đại diện theo pháp luật tham gia xác lập

1.4.2 Pháp luật của Trung Quốc

Luật công ty Trung Quốc năm 2005 quy đ nh về người đại diện theo pháp luật trong công ty, về những chức danh đối tượng làm người đại diện theo pháp luật m rộng hơn so với Luật công ty Trung Quốc 1993 và Luật công ty Trung Quốc 2005 đ thấy rõ sự khác biệt Theo Luật công ty 1993 của Trung Quốc, Chủ

t ch Hội đ ng quản tr Đổng sự trư ng là người đại diện theo pháp luật của công

ty và điều này được quy đ nh riêng biệt hai loại hình công ty là công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần Điều 45, Điều 113 Luật công ty Trung Quốc 1993) [37, tr.82] Theo đó Chủ t ch có các quyền liên quan đến người đại diện theo pháp luật, ký chính thức các văn kiện trọng yếu của Hội đ ng quản tr và các văn kiện khác thuộc thẩm quyền ký chính thức của người đại diện theo pháp luật và thực hiện chức quyền của người đại diện theo pháp luật Luật công ty 2005 có sự thay đổi, theo đó người đại diện theo pháp luật công ty không còn ch giới hạn cho chức danh chủ t ch Hội đ ng quản tr (Hội đ ng đổng sự , mà đổng sự điều hành

ho c giám đốc có th làm người đại diện theo pháp luật của công ty được quy đ nh

Trang 28

20

trong điều lệ công ty Điều 13 Luật công ty Trung Quốc 2005) [37, tr.82] Trong đó đổng sự điều hành là người thực hiện chức năng quản lý kinh doanh thường nhật của công ty Như vậy, người đại diện theo pháp luật trong công ty theo Luật công

ty Trung Quốc không nhất thiết là người có quyền cao nhất công ty và chức năng của người đại diện không phải quyết đ nh số phận công ty vì giám đốc có th là người được thuê và mi n nhiệm b i hội đ ng quản tr trong công ty TNHH Điều

50, Điều 114 Luật công ty 2005) [37, tr.83] Quy đ nh trên của Luật công ty 2005 về

cơ bản tương tự như quy đ nh của Luật doanh nghiệp 2014 của Việt Nam, theo đó người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH có th là Chủ t ch hội đ ng thành viên ho c giám đốc ho c tổng giám đốc theo quy đ nh tại Điều lệ công ty

Luật công ty Trung Quốc cũng quy đ nh điều khoản về người đại diện theo pháp luật là một trong những điều cơ bản mà bản điều lệ công ty bắt buộc phải có (khoản 7 Điều 82, khoản 7 Điều 25 Luật công ty 83 Trung Quốc 2005) [37, tr.83] Thẩm quyền của giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần được quy đ nh tại Điều 50 Luật công ty Trung Quốc và được quy đ nh cụ th hơn trong điều lệ Thậm chí nếu điều lệ công ty có quy đ nh khác về thẩm quyền của giám đốc

so với Luật công ty 2005 thì sẽ áp dụng các quy đ nh của điều lệ Điều 50 Luật công ty 2005) Luật công ty Trung Quốc 2005 quy đ nh rất ít về thẩm quyền chi tiết của Chủ t ch Hội đ ng quản tr công ty trách nhiệm hữu hạn, theo đó việc bổ nhiệm Chủ t ch Hội đ ng quản tr công ty trách nhiệm hữu hạn và thẩm quyền do điều lệ công ty quy đ nh Điều 45 Luật công ty Trung Quốc 2005) Chủ t ch Hội đ ng quản

tr được quy đ nh trong Luật công ty Trung Quốc 2005 với thẩm quyền triệu tập và chủ tọa kỳ họp của Đại hội đ ng cổ đông và Hội đ ng quản tr Điều 48, 41 Luật công ty Trung Quốc 2005 Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có quy mô nhỏ

ho c ít cổ đông thì có th không thành lập Hội đ ng quản tr mà thay vào đó là giám đốc điều hành và thẩm quyền của người này do điều lệ công ty quy đ nh Điều 51 Luật công ty 2005) [37, tr.83]

Qua các quy đ nh về người đại diện theo pháp luật trong công ty của Luật công ty Trung Quốc 2005 có th thấy Điều lệ công ty có vai trò rất quan trọng trong

Trang 29

21

việc xác đ nh rõ những vấn đề quản lý công ty trong đó có người đại diện theo pháp

luật trên cơ s Điều 13 Luật công ty Trung Quốc 2005

1.4.3 uật của Đức

Luật Công ty TNHH của Đức quy đ nh: Công ty TNHH có th do một ho c nhiều giám đốc Ban Giám đốc quản lý Điều 6 Những công ty TNHH có trên hai nghìn lao động thì theo quy đ nh tại Điều 33 của Luật Đ ng quyết năm 1976, phải

có ít nhất hai giám đốc Giám đốc công ty TNHH bắt buộc phải là cá nhân có năng lực pháp luật đầy đủ, có th là công dân Đức ho c người nước ngoài Những cá nhân đang ho c đã b truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ không được làm giám đốc công ty TNHH trong thời hạn 5 năm k từ khi có bản án kết tội của toà án Những

cá nhân b toà án ho c cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấm hành nghề sẽ không được làm giám đốc của công ty TNHH hoạt động trong c ng ngành nghề b cấm Các giám đốc có trách nhiệm phối hợp đ c ng điều hành hoạt động hàng ngày của công ty và là người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH trong các giao d ch với bên thứ ba và trong các quan hệ tố tụng Việc phân chia quyền hạn và nhiệm vụ có th giúp các giám đốc không phải ch u trách nhiệm liên đới về những hậu quả của hoạt động sai trái của người giám đốc khác, nhưng họ vẫn phải ch u trách nhiệm vì đã không thực hiện được nghĩa vụ giám sát với đ ng nghiệp của mình Trong một số trường hợp, thẩm quyền đại diện theo pháp luật của các giám đốc có th b hạn chế theo quy đ nh của điều lệ công ty ho c theo quyết đ nh của Ban Ki m soát của công ty TNHH [1, tr.29-37]

Theo pháp luật Việt Nam, Luật Doanh nghiệp 2014 quy đ nh tại Điều 162

về các Hợp đ ng, giao d ch phải được đại hội đ ng cổ đông ho c hội đ ng quản tr chấp thuận Nếu người đại diện theo pháp luật của công ty thực hiện các giao d ch thuộc Điều 162 mà không có sự chấp nhận của đại hội đ ng cổ đông ho c hội đ ng quản tr thì giao d ch đó b coi là vượt quá thẩm quyền và có th b tuyên vô hiệu Bên thứ ba không th bắt công ty thực hiện nghĩa vụ của mình, mà ch có th yêu cầu người đại diện theo pháp luật ch u trách nhiệm cá nhân mà thôi

Trang 30

22

1.4.4 Pháp luật của Thái Lan

Pháp luật Thái Lan quy đ nh pháp nhân hoạt động không nhất thiết ch thông qua một người đại diện, mà có th nhiều người quản lý trong pháp nhân đều

có thẩm quyền đại diện cho pháp nhân tham gia các giao d ch nhân danh pháp nhân

đó ch của một pháp nhân được bày tỏ thông qua những người đại diện của pháp nhân đó [20, quy n I, khoản 6 Điều 80 Theo quy đ nh này, một pháp nhân

có th có nhiều người đại diện, mỗi người đại diện phụ trách những hoạt động nhất

đ nh của pháp nhân, và có quyền nhân danh pháp nhân trong hoạt động của mình

Đ ng thời pháp luật cũng gắn trách nhiệm của pháp nhân đối với các hoạt động đó: Một pháp nhân buộc phải b i thường về bất cứ thiệt hại nào, do người quản lý ho c những người đại diện khác của pháp nhân gây ra cho những người khác trong khi thi hành nhiệm vụ của mình, đ ng thời dành quyền khiếu nại những người gây ra thiệt hại đó

Pháp luật Thái Lan quy đ nh trách nhiệm của người đại diện như sau: Nếu thiệt hại gây ra cho những người khác là do một hành vi không nằm trong phạm vi mục đ ch hoạt động của pháp nhân, thì những thành viên ho c những người quản lý tán thành hành vi đó, những người quản lý và những người đại diện khác thực thi hành vi đó phải liên đới ch u b i thường Nếu pháp nhân chối bỏ trách nhiệm bằng cách thay đổi các văn bản nội bộ của mình, trong trường hợp này, pháp luật Thái Lan đã quy đ nh cụ th : Bất cứ sự hạn chế ho c sửa đổi nào về quyền hạn đại diện của những người quản lý, không được thiết lập nhằm chống lại những người thứ ba

có thiện ch [20, quy n I, Điều 76 Quy đ nh này rất tiến bộ và có nhiều ưu đi m, sẽ tránh những hành động của những người quản lý trong nội bộ công ty đưa ra những quyết đ nh như sửa đổi điều lệ, các văn bản nội bộ nhằm thay đổi quyền hạn của người đại diện mục đ ch đ gây bất lợi ho c chối bỏ trách nhiệm đối với bên thứ ba

Trang 31

23

KẾT LUẬN CHƯƠNG

Đại diện nói chung và đại diện theo pháp luật của công ty TNHH nói riêng

là một chế đ nh có l ch sử lâu đời và có v tr quan trọng trong pháp luật dân sự và thương mại của bất kỳ quốc gia nào Xuất phát từ yêu cầu thực ti n, khi một cá nhân hay pháp nhân không th tự mình thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp luật quy

đ nh cho mình thì quan hệ đại diện xuất hiện nhằm đáp ứng yêu cầu đó Nếu không

có chế đ nh đại diện thì không th hình thành nên các tổ chức hay doanh nghiệp nói chung hay công ty TNHH nói riêng được vì tổ chức đó không th tự mình thực hiện quyền và nghĩa vụ

Trong bối cảnh nền kinh tế đang hòa nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh

tế thế giới, thì sự tương th ch, đ ng bộ với các quy đ nh pháp luật của các quốc gia

có nền kinh tế phát tri n, đòi hỏi pháp luật Việt Nam cũng phải có những điều

ch nh, sửa đổi ph hợp Do đó, việc nghiên cứu, tìm hi u, phân t ch, so sánh pháp luật về quản tr doanh nghiệp Việt Nam và các nước, tham khảo kinh nghiệm lập pháp của họ và đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật về quản tr công ty TNHH Việt Nam có vai trò thiết thực và ý nghĩa quan trọng nhằm giúp các nhà làm luật, các nhà quản tr , chủ s hữu công ty, nhà quản lý… tham khảo, tiếp thu các kinh nghiêm, pháp luật về quản tr công ty TNHH của các nước đ hướng tới việc hoàn thiện pháp luật về quản tri công ty TNHH Việt Nam, đáp ứng đòi hỏi

của sự phát tri n công ty TNHH trong nền kinh tế thi trường

Trang 32

Ch khi tiến hành đổi mới năm 1986, kinh tế th trường bước đầu được thừa nhận,

hệ thống pháp luật điều ch nh các hoạt động kinh doanh thương mại mới từng bước được hình thành, trong đó có các quy đ nh về đại diện

Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 là văn bản pháp luật đầu tiên góp phần tạo ra khung pháp lý cho việc hình thành nền kinh tế th trường Việt Nam.Tại Điều 12 luật này khi quy đ nh về xí nghiệp liên doanh, khái niệm sơ khai

về người đại diện của doanh nghiệp lần đầu tiên xuất hiện.Theo đó, mỗi bên trong

xí nghiệp liên doanh cử người của mình vào HĐQT, TGĐ và các Phó TGĐ có nhiệm vụ điều hành các hoạt động của xí nghiệp và ch u trách nhiệm trước HĐQT Tuy nhiên, các quy đ nh này không th hiện r tư tư ng đại diện theo pháp luật và đại diện theo u quyền như các văn bản pháp luật sau này

Pháp lệnh Hợp đ ng kinh tế 1989 đã có một số quy đ nh về người đại diện của pháp nhân khi ký kết hợp đ ng kinh tế, đã ghi nhận quan hệ đại diện giữa chủ

th pháp nhân và người đại diện trong việc ký kết hợp đ ng kinh tế với chủ th thứ

ba Nhưng với những quy đ nh mang n ng tính hình thức đã gây những tr ngại, thậm chí là thiệt hại về kinh tế cho các chủ th Đó cũng là đi m hạn chế lớn của Pháp lệnh hợp đ ng kinh tế 1989

Pháp luật công ty Việt Nam đã có bước phát tri n mới khi ban hành Luật Công ty 1990 và Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990 Trong hai đạo luật này đã có

Trang 33

25

những quy đ nh mang đ c trưng cơ bản về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp M c dù có những đi m tiến bộ nhưng do ban hành vào những năm đầu của công cuộc đổi mới nên các quy đ nh về người đại diện của doanh nghiệp mới ch dừng lại những chế đ nh cơ bản nhất, còn mang tính nguyên tắc và chưa được cụ

th hoá

Cùng với việc pháp đi n hoá các quy đ nh của pháp luật dân sự và pháp luật kinh doanh thương mại, các quy đ nh về đại diện đã được ghi nhận trong BLDS

1995 và LDN 1999.Trong thời kỳ này, có sự tách biệt giữa hệ thống pháp luật điều

ch nh quan hệ dân sự và hệ thống pháp luật điều ch nh các hoạt động kinh tế thương mại Song về thực chất, sự phân biệt này trong luật thực đ nh chưa được làm rõ từ luật vật chất cho tới luật hình thức, chưa có một hệ thống lý thuyết rõ ràng của hai ngành luật dân sự và luật kinh tế Vì thế, pháp luật về đại diện vẫn chưa có sự thống nhất với nhiều hạn chế về nội dung và phạm vi điều ch nh

BLDS 2005 và LDN 2005 được ban hành đánh dấu một bước cải cách quan trọng trong việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho th chế kinh tế th trường, cùng với đó là một hệ thống pháp luật dân sự - thương mại thống nhất, liên thông được xác lập dựa trên nguyên tắc mối quan hệ luật chung và luật riêng BLDS được xác

đ nh là luật chung, Luật Doanh nghiệp và các đạo luật khác liên quan đến các hành

vi kinh doanh thương mại được xác đ nh là luật chuyên ngành Các quy đ nh về đại diện cũng dựa trên nguyên tắc này Do tầm quan trọng của chế đ nh đại diện nên BLDS 2005 đã dành một chương riêng đ quy đ nh về đại diện trong quan hệ pháp luật dân sự Về nguyên tắc, pháp luật Việt Nam đã tiếp nhận và có sự hài hoà nhất

đ nh với quan niệm chung của các nước về đại diện khi quy đ nh tại điều 139 BLDS

2005 đại diện là việc một người nhân danh và vì lợi ích của người khác xác lập, thực hiện giao d ch dân sự trong phạm vi đại diện Quan hệ đại diện được xác lập theo pháp luật ho c theo ủy quyền Trong đó, đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật quy đ nh ho c cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết đ nh Đối với pháp nhân, người đại diện theo pháp luật là người đứng đầu pháp nhân theo quy đ nh của điều lệ pháp nhân ho c quyết đ nh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Về phạm

Trang 34

26

vi đại diện, người đại diện theo pháp luật có quyền xác lập, thực hiện mọi giao d ch dân sự vì lợi ích của người được đại diện, trừ trường hợp pháp luật có quy đ nh khác

Luật Doanh nghiệp năm 2014 ra đời đã cụ th nhiều quy đ nh trước đây ch

có trong các văn bản hướng dẫn thi hành, từ đó góp phần nâng cao hiệu lực và khả năng áp dụng luật Một trong các quy đ nh mới căn bản của Luật Doanh nghiệp năm

2014 là Điều 13, 14 quy đ nh về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Theo đó, Luật Doanh nghiệp 2014 đưa ra một điều khoản chung quy đ nh về vai trò,

v trí, trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, khác với Luật Doanh nghiệp 2005, các quy đ nh về người đại diện theo pháp luật nằm rải rác trong các điều khoản và tùy vào từng loại hình doanh nghiệp Đ ng thời, Luật Doanh nghiệp 2014 cũng quy đ nh công ty TNHH và Công ty cổ phần có th có một

ho c nhiều người đại diện theo pháp luật, trong khi Luật Doanh nghiệp 2005 quy

đ nh doanh nghiệp ch có một người đại diện theo pháp luật, trừ trường hợp đối với công ty hợp danh các thành viên hợp danh có quyền đại diện theo pháp luật và tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty Quy đ nh này xuất phát từ nhu cầu thực ti n, các doanh nghiệp muốn đ ng thời có nhiều hơn một người đại diện đ thực hiện các nhiệm vụ kinh doanh của mình, nhất là đối với các doanh nghiệp lớn, hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau mà một người không

th đảm nhận vai trò quản lý Đ ng thời quy đ nh này cũng đảm bảo quyền tự do kinh doanh, đ cho doanh nghiệp tự quyết đ nh số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

Tóm lại, do hoàn cảnh l ch sử, sự hình thành và phát tri n chế đ nh về đại diện nói chung và đại diện theo pháp luật của công ty TNHH nói riêng nước ta chủ yếu là được tiếp nhận từ các ngu n bên ngoài, không phải xuất phát từ tập quán, thói quen thương mại Nhìn chung, việc xây dựng những quy đ nh pháp luật về quan hệ đại diện chủ yếu được di n ra trong từng lĩnh vực đơn lẻ, thiếu tính hệ thống đ ng bộ và dường như t lưu tâm đến các học thuyết làm nền tảng cho các

quy đ nh đó vận hành

Trang 35

đ nh về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Theo đó, công ty TNHH có

th có một ho c nhiều người đại diện theo pháp luật Điều lệ công ty quy đ nh cụ

th số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của từng người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp (khoản 2 Điều 13 Luật Doanh nghiệp năm 2014 Đây

là đi m mới so với quy đ nh của Bộ luật Dân sự năm 2005 và Luật Doanh nghiệp năm 2005 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Doanh nghiệp năm 2014 lần đầu tiên trao quyền lựa chọn số lượng người đại diện theo pháp luật cho công ty TNHH, tạo điều kiện cho công ty TNHH có th hội nhập nhanh hơn, tận dụng được mọi cơ hội kinh doanh thông qua các đại diện theo pháp luật Vì quy chế về người đại diện theo pháp luật có mối liên hệ trực tiếp với quyền tự chủ của công ty trong chủ động lựa chọn đ a bàn, hình thức kinh doanh, m rộng quy mô kinh doanh, chủ động tìm kiếm th trường và khách hàng, mà muốn thực hiện được những quyền này, đ c biệt

là đối với các công ty lớn, thì cần phải có nhiều người đại diện cho công ty đó trong giao kết và thực hiện các giao d ch với chủ th khác Đi m sửa đổi này có ý nghĩa rất to lớn, đã giải quyết được những khó khăn, vướng mắc trong thực ti n hoạt động của doanh nghiệp suốt một thời gian dài Cụ th :

Thứ nhất, giảm tải trách nhiệm lên một người đại diện theo pháp luật Có

th thấy rằng mọi giao d ch đối ngoại, đối nội của công ty TNHH đều ch có th thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật Thực tế đòi hỏi, người đại diện theo pháp luật phải có rất nhiều kiến thức cũng như kinh nghiệm thực tế mới có th điều hành doanh nghiệp một cách trơn chu, chuẩn mực Người đại diện theo pháp luật phải biết về quản lý kinh doanh, quản lý nhân sự, quản lý thuế, hợp đ ng Nếu không biết, họ vẫn phải ch u trách nhiệm trước pháp luật đối với toàn bộ các giao

d ch với tư cách là người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH Như vậy, vô

Trang 36

28

hình chung, việc trao cho một cá nhân quá nhiều quyền và nghĩa vụ, đ c biệt là nghĩa vụ sẽ gây khó khăn cho người đó trong việc thực hiện tốt quyền và trách nhiệm của mình

M c dù, pháp luật cũng có những chế đ nh cho phép người đại diện theo pháp luật ủy quyền cho một cá nhân khác, nhưng thực tế áp dụng cho thấy quy đ nh này còn nhiều hạn chế Như trường hợp người đại diện theo pháp luật vắng m t, công ty TNHH ch có th giải quyết công việc khi có sự ủy quyền từ người đại diện theo pháp luật cho một người khác trong doanh nghiệp, nhưng về nguyên tắc người đại diện theo pháp luật vẫn phải ch u trách nhiệm trước công ty, trước pháp luật và bên thứ ba về tất cả những nội dung thuộc thẩm quyền của mình Đ c biệt, đối với các công ty TNHH lớn, khi có rất nhiều các hợp đ ng lớn phải ký kết, các dự án lớn

đ đầu tư, số lượng người lao động thật lớn đ tri n khai thực hiện công việc, thì việc người đại diện có th cho những công việc của những người đã nhận ủy quyền thay m t họ đ giao d ch trong thời gian họ vắng m t là một điều khó khả thi

Các quy đ nh của pháp luật cũng có những hạn chế nhất đ nh đối với người được ủy quyền như ch cho phép người này được ủy quyền lại cho người thứ ba nếu được người đại diện theo pháp luật đ ng ý Điều này đã gây ra những vướng mắc không nhỏ cho công ty TNHH nếu người được nhận ủy quyền g p sự cố bất khả kháng không th tiếp tục thực hiện công việc được ủy quyền, đ c biệt, trong trường hợp người được ủy quyền này nhận ủy quyền ký kết hợp đ ng kinh tế với đối tác Thực ti n xét xử tranh chấp kinh tế cho thấy, rất nhiều vụ án công ty TNHH đã phải thua kiện, vì hợp đ ng b tuyên vô hiệu do công ty TNHH một phần không nắm vững các quy đ nh của pháp luật, người nhận ủy quyền tự ý ủy quyền lại khi chưa

có sự đ ng ý của người đại diện theo pháp luật

Thứ hai, trường hợp công ty TNHH thay đổi người đại diện theo pháp luật Trong khoảng thời gian công ty TNHH thực hiện các thủ tục pháp lý thay đổi tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thì v tr người đại diện theo pháp luật gần như b trống, b i lẽ, lúc này người mới được bổ nhiệm nhưng chưa được ghi nhận trên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Bên thứ ba tiến hành giao d ch sẽ g p khó khăn

Trang 37

29

trong xác đ nh ai là người đại diện theo pháp luật thật sự Ho c trường hợp người đại diện theo pháp luật có vấn đề về sức khỏe ho c b tạm giam, tạm giữ, thì công ty TNHH cũng phải mất một khoảng thời gian lúng túng đ xác đ nh người thay thế, chưa k đến quá trình chọn ra người thay thế trong những thời đi m nhạy cảm của một doanh nghiệp chưa hẳn sẽ di n ra suôn sẻ và nhận được sự hợp tác của những người khác

Thứ ba, quy đ nh cho phép công ty TNHH có nhiều người đại diện theo pháp luật cũng giải quyết được các hạn chế trong giao d ch của công ty TNHH với người đại diện, giảm thi u được các khó khăn của công ty TNHH Đ c biệt, trong trường hợp người đại diện theo pháp luật đi nước ngoài dưới 30 ngày nhưng không muốn ủy quyền cho người khác ho c người đại diện theo pháp luật xung đột với hội

đ ng thành viên, hội đ ng quản tr và không hợp tác trong việc ký kết các văn bản, giao d ch của công ty, đ ng thời không muốn ủy quyền cho người khác

Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng nảy sinh nhiều vấn đề pháp lý về người đại diện theo pháp luật cần được xác đ nh r như: Cơ chế giám sát lẫn nhau giữa những người đại diện theo pháp luật; sự phân đ nh về trách nhiệm liên đới hay riêng lẻ của các đại diện theo pháp luật và phạm vi đại diện của các đại diện theo pháp luật trong việc xác lập giao d ch nhân danh công ty TNHH Có những trường hợp đ t ra trong thực ti n cần được làm r như xác đ nh giao d ch đòi hỏi phải được sự chấp thuận của tất cả các đại diện theo pháp luật hay hiệu lực của hợp đ ng đã được doanh nghiệp ký kết với đối tác và đang thực hiện nhưng xảy ra trường hợp một đại diện theo pháp luật khác phản đối hay không đ ng ý một phần của hợp đ ng này Yêu cầu đ t ra đối với việc xây dựng điều lệ công ty cũng cần ch t chẽ hơn đ tránh

ch ng chéo về thẩm quyền của mỗi người và tăng cường hiệu quả quản lý trong nội

bộ doanh nghiệp

2.1.2.1 Tiêu chuẩn v điều kiện làm đại diện theo pháp luật của công ty TNHH

Người đại diện theo pháp luật là người mà công ty TNHH đăng ký với v tr

là người đại diện theo pháp luật – th hiện trong Giấy đăng ký kinh doanh

Trang 38

30

thường là Giám đốc Tổng Giám đốc được pháp luật ho c cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép, đ đại diện cho công ty TNHH thực hiện các giao d ch hay hành vi dân sự, hành ch nh …vì lợi ch của công ty Luật Doanh nghiệp 2014 không

có quy đ nh cụ th về tiêu chuẩn và điều kiện đối với người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH mà ch có quy đ nh về tiêu chuẩn và điều kiện làm Giám đốc, Tổng giám đốc tại Điều 65 Theo đó, Giám đốc, Tổng giám đốc phải là người có đủ năng lực hành vi dân sự và không thuộc đối tượng không được quản lý doanh nghiệp; có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong quản tr kinh doanh của công ty, nếu Điều lệ công ty không có quy đ nh khác Ngoài ra, đối với công ty con của công

ty có phần vốn góp, cổ phần do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ thì Giám đốc ho c Tổng giám đốc không được là vợ ho c ch ng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, ch ruột, em ruột, anh r , em r , ch dâu, em dâu của người quản lý công ty mẹ và người đại diện phần vốn nhà nước tại công ty đó

2.1.2.2 Xác lập t y đ i, ch m d t tư p p người đại diện theo pháp luật

* Xác lập tư p p người đại diện theo pháp luật

Khoản 1 Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2014 quy đ nh: “ gười đại diện theo

pháp luật của doanh nghiệp n n đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền v ng v phát sinh t giao dịch của doanh nghiệp đại diện cho doanh nghiệp với tư nguy n đơn ị đơn người có quyền lợi ng v liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền v ng v t o quy định của pháp luật Như vậy, Luật Doanh nghiệp 2014 không có quy đ nh cụ th nào về người

đại diện theo pháp luật của công ty TNHH hai thành viên tr lên và công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ s hữu mà ch có quy đ nh về người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH một thành viên do tổ chức làm chủ s hữu, theo

đó: “ rường hợp iều lệ ng ty ng quy định thì Chủ tịch Hội đồng thành viên

hoặc Chủ tị ng ty người đại diện theo pháp luật củ ng ty (khoản 2 Điều

78).Vì vậy, việc xác lập tư cách pháp lý người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH được căn cứ vào các quy đ nh chung của BLDS 2015 về đại diện

Trang 39

31

Theo quy đ nh tại khoản 1 Điều 137 BLDS năm 2015 thì người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH được xác đ nh theo điều lệ doanh nghiệp, theo quy đ nh của pháp luật và theo quyết đ nh của Tòa án

Xác lập người đại diện theo điều lệ: Quy đ nh này đã th hiện sự tôn trọng quyền tự do kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và các công ty TNHH nói riêng Theo đó, khoản 2 Điều 13 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy đ nh điều lệ phải quy đ nh cụ th số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH

Xác lập quyền đại diện theo quy đ nh của pháp luật: Trong trường hợp Luật Doanh nghiệp đã trao quyền tự chủ nhưng công ty TNHH không thực hiện thì pháp luật vẫn có quy đ nh đ xác lập người đại diện theo pháp luật như sau: Đối với công

ty TNHH MTV, pháp luật quy đ nh trường hợp điều lệ công ty không quy đ nh thì Chủ t ch Hội đ ng thành viên ho c Chủ t ch công ty là người đại diện theo pháp luật Đối với công ty TNHH hai thành viên tr lên thì nếu cá nhân là đại diện b tạm giam, b kết án t , trốn khỏi nơi cư trú, b mất ho c hạn chế năng lực hành vi dân sự

ho c b Tòa án tước quyền hành nghề vì phạm tội buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng và tội khác thì thành viên còn lại đương nhiên là người đại diện theo pháp luật đến khi có quyết đ nh mới của Hội

đ ng thành viên Trường hợp người đại diện theo ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH đã hết thời hạn ủy quyền mà người đại diện theo pháp luật chưa về Việt Nam thì pháp luật quy đ nh người này tiếp tục thực hiện cho đến khi người đại diện theo pháp luật tr lại ho c Hội đ ng thành viên ra quyết đ nh cử người thay thế Trường hợp công ty TNHH ch có một người đại diện theo pháp luật

mà không ủy quyền ho c người đại diện theo pháp luật chết, mất t ch, tạm giam, kết

án t , b hạn chế ho c mất năng lực hành vi dân sự thì pháp luật quy đ nh chủ s hữu công ty, Hội đ ng thành viên cử người thay thế

Xác lập quyền đại diện theo quyết đ nh của Tòa án: đi m c khoản 1 Điều 37 BLDS năm 2015 quy đ nh một căn cứ khác đ xác lập quyền đại diện là: Do Tòa

án ch đ nh trong quá trình tố tụng tại Tòa án và khoản 7 Điều 13 Luật Doanh

Trang 40

32

nghiệp năm 2014 quy đ nh: Trong một số trường hợp đ c biệt, Tòa án có thẩm quyền có quyền ch đ nh người đại diện theo pháp luật trong quá trình tố tụng tại Tòa án Các trường hợp đ c biệt này quy đ nh tại Điều 76, 77 BLTTDS năm 2015, Tòa án phải ch đ nh người đại diện đ tham gia tố tụng tại Tòa án trong trường hợp nguyên đơn, b đơn không có người đại diện ho c có người đại diện theo pháp luật nhưng người này rơi vào một trong hai trường hợp sau:

Thứ nhất, là đương sự trong c ng một vụ án với công ty TNHH nhưng quyền và lợi ch hợp pháp của họ đối lập với quyền và lợi ch hợp pháp của công ty TNHH

Thứ hai, đang là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự cho một đương sự khác mà quyền và lợi ch hợp pháp của đương sự đó đối lập với quyền và lợi ch hợp pháp của công ty TNHH mà họ đại diện trong c ng một vụ án

Quy đ nh này nhằm tránh xung đột lợi ch của cá nhân người đại diện và công ty TNHH Trong trường hợp này, không phụ thuộc vào điều lệ công ty TNHH hay ý ch của chủ s hữu công ty TNHH, Tòa án có quyền ch đ nh người đại diện cho công ty TNHH đ bảo vệ quyền và lợi ch hợp pháp của công ty

Một đi m đáng ghi nhận là, trong Luật Doanh nghiệp 2014 không quy đ nh người đại diện theo pháp luật công ty TNHH phải là người đứng đầu doanh nghiệp, tác giả cho rằng đây là quan đi m khá tiến bộ B i vì xét trên phương diện lý luận lẫn thực ti n, giữa quan hệ đại diện và hệ thống thứ bậc chức vụ trong tổ chức là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau Người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH là người nhân danh doanh nghiệp tham gia vào các quan hệ pháp luật và không nhất thiết phải là người đứng đầu công ty Theo đi m g khoản 1 Điều 25 Luật Doanh nghiệp 2014, thì người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH phải được quy

đ nh tại Điều lệ công ty Người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH: Chủ t ch công ty, Chủ t ch HĐTV ho c GĐ TGĐ là người đại diện theo pháp luật của công

ty theo quy đ nh tại Điều lệ công ty (Điều 55; Điều 85; Điều 113)

Theo quy đ nh tại Điều 29 và Điều 33 Luật Doanh nghiệp 2014 thì nội dung phải thông báo công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp về

Ngày đăng: 16/09/2019, 00:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w