1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

SỰ HÌNH THÀNH NHÀ NƯỚC ĐẦU TIÊN TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

56 562 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 147,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đứng đầu là vua Hùng Vương;  Dưới vua là Lạc hầu, là một quan văn có nhiệm vụ thay mặt cho nhà vua giải quyết những công việc trong cả nước.  Đất nước được chia làm 15 Bộ, đứng đầu mỗi Bộ là Lạc tướng; Lạc tướng theo chế độ cha truyền con nối, là một quan võ phụ trách giải quyết các công việc chung của bộ, chịu trách nhiệm thu cống phẩm của lạc dân để nộp cho nhà vua, đồng thời là thủ lĩnh về mặt quân sự của Bộ mình đương nhiệm.Đứng đầu là vua Hùng Vương;  Dưới vua là Lạc hầu, là một quan văn có nhiệm vụ thay mặt cho nhà vua giải quyết những công việc trong cả nước.  Đất nước được chia làm 15 Bộ, đứng đầu mỗi Bộ là Lạc tướng; Lạc tướng theo chế độ cha truyền con nối, là một quan võ phụ trách giải quyết các công việc chung của bộ, chịu trách nhiệm thu cống phẩm của lạc dân để nộp cho nhà vua, đồng thời là thủ lĩnh về mặt quân sự của Bộ mình đương nhiệm.  Dưới Bộ là Đứng đầu là vua Hùng Vương;  Dưới vua là Lạc hầu, là một quan văn có nhiệm vụ thay mặt cho nhà vua giải quyết những công việc trong cả nước.  Đất nước được chia làm 15 Bộ, đứng đầu mỗi Bộ là Lạc tướng; Lạc tướng theo chế độ cha truyền con nối, là một quan võ phụ trách giải quyết các công việc chung của bộ, chịu trách nhiệm thu cống phẩm của lạc dân để nộp cho nhà vua, đồng thời là thủ lĩnh về mặt quân sự của Bộ mình đương nhiệm.  Dưới Bộ là các Công xãcác Công xãcác Công xã

Trang 1

CHƯƠNG I

SỰ HÌNH THÀNH NHÀ NƯỚC ĐẦU TIÊN TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM

1.1 Các nhân tố tác động đến sự hình thành nhà nước đầu tiên

1.1.1 Sự chuyển biến về kinh tế và quá trình phân hóa xã hội

Qua các giai đoạn phát triển, xã hội đã có nhiều chuyển biến sâu sắc:

1.1.1.1 Sự chuyển biến về mặt kinh tế

- Kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước vươn lên đóng vai trò chủ đạo, bởi những lý do sau:

 Điều kiện tự nhiên thuận lợi: Với khí hậu, sông ngòi, đồng bằng bằng phẳng, phì nhiêu… rấtphù hợp cho sự phát triển của nghề trồng lúa nước lúc bấy giờ

 Sự tác động của công cụ lao động: Qua 4 giai đoạn công cụ lao động ngày càng phát triển vàhiệu quả hơn (do việc tìm ra được kim loại đồng và sau đó là kim loại sắt) Công cụ bằng đồng đadạng về chủng loại: lưỡi cuốc, lưỡi cày, xẻng, lưỡi rìu… Mỗi loại hình công cụ lại có nhiều kiểu dángkhác nhau, thích ứng với nhiều mục đích sử dụng đã tác động mạnh mẽ vào hoạt động canh tác nôngnghiệp góp phần nâng cao năng suất lao động

Việc kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước vươn lên giữ vai trò chủ đạo đã tác động rất tích cựcđến sự phát triển của nền kinh tế, bởi vì từ đây sản phẩm lao động làm ra nhiều hơn, ổn định và bềnvững hơn chứ không bấp bênh và phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên như trước kia – khi mà kinh tế của

xã hội chủ yếu dựa vào hoạt động săn bắt, hái lượm những sản phẩm từ trong tự nhiên của con người

- Thương nghiệp ra đời cùng với sự phát triển của các ngành nghề khác bởi nhu cầu trao đổi,

mua bán các sản phẩm làm ra ngày càng gia tăng

 Nhìn chung về mặt kinh tế, trải qua 4 giai đoạn phát triển liên tục từ thấp đến cao đã cónhiều bước chuyển biến sâu sắc, sản phẩm lao động làm ra ngày càng nhiều, nhu cầu tư hữu bắt đầuxuất hiện, từ đó làm thay đổi bộ mặt của xã hội

1.1.1.2 Sự chuyển biến về mặt xã hội

- Về hôn nhân – gia đình:

 Các gia đình nhỏ ra đời: Với năng suất lao động ngày càng tăng, sự phân hóa xã hội ngàycàng sâu sắc hơn, thêm vào đó là sự di chuyển thường xuyên của một bộ phận dân cư, làm xuất hiệnnhu cầu tách ra khỏi công xã thị tộc khép kín để hình thành những đơn vị kinh tế độc lập, từ đó cácgia đình nhỏ xuất hiện và chế độ tư hữu cũng đồng thời nảy sinh

- Về tổ chức xã hội: Công xã nông thôn thay thế cho công xã thị tộc Sự tan rã của công xã thị

tộc như là một quy luật tất yếu khi mà những điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của nó không còn Sựxuất hiện của công xã nông thôn với việc thừa nhận quyền tư hữu đối với nhà ở và sản phẩm lao độnglàm ra đã đẩy nhanh quá trình phân hóa xã hội ở nước ta

- Về sự phân hóa xã hội:

 Xã hội phân chia thành 3 tầng lớp khác nhau:

Tầng lớp quý tộc: phần lớn là những người xuất thân từ các thủ lĩnh, tù trưởng, những ngườigiàu có trong xã hội; họ đã lợi dụng địa vị và uy tín của mình để biến một phần sự đóng góp tựnguyện của dân chúng thành tài sản riêng, theo thời gian tích luỹ ngày càng nhiều sản phẩm thặng dư,

Trang 2

đồng thời thực hiện việc quản lý xã hội, tổ chức lao động và phân công sản phẩm lao động xã hội Tầng lớp nông dân tự do: đây là tầng lớp chiếm số đông trong xã hội và là lực lượng sản xuấtchính.

Họ là thành viên của các công xã nông thôn, xuất thân chủ yếu là từ nông dân, ngư dân, nhữngngười săn bắt… họ là những người tự do về thân phận, nhưng thực tế thì bị lệ thuộc và bị bóc lột tậpthể về kinh tế - có nhiệm vụ cống nạp cho tầng lớp bóc lột, phải có nghĩa vụ về quân sự khi xảy rachiến tranh đồng thời thực hiện các công việc chung trước đòi hỏi của xã hội như tham gia vào cáccông trình công cộng

Tầng lớp nô tì: có thân phận thấp kém và bị lệ thuộc vào người chủ Tầng lớp này xuất thân chủyếu là từ những tù binh trong các cuộc chiến tranh thôn tính giữa các bộ lạc, do nợ nần không trảđược, hoặc do mua bán, trao đổi… số lượng tầng lớp này không nhiều, chủ yếu phục vụ trong các giađình quý tộc

 Qua bốn giai đoạn phát triển, sự phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc hơn, tuy nhiên quá trình

đó diễn ra một cách chậm chạp, mâu thuẫn đã có nhưng không quá gay gắt, chưa đến mức không thểđiều hoà được

1.1.2 Nhân tố trị thủy - thủy lợi và chống chiến tranh xâm lược

1.1.2.1 Nhân tố trị thủy - thủy lợi

1.1.2.2 Nhân tố chống chiến tranh

Nhu cầu trị thủy - thủy lợi và chống chiến tranh không thể chỉ dùng đến sức mạnh của cá nhân,

mà phải là sức mạnh chung của tập thể, được tạo nên bằng sự tập hợp của nhiều gia đình nhỏ trongmột công xã nông thôn và sự liên kết nhiều công xã nông thôn trong một cộng đồng lớn hơn, tạothành một tổ chức mới rộng lớn, có khả năng thống nhất, quản lý toàn bộ xã hội Chính vì thế, sự hợpnhất cộng đồng đã diễn ra một cách nhanh chóng hơn trước sự tác động của những yếu tố này (trịthủy - thủy lợi và chống chiến tranh), trên cơ sở đó tình trạng phân tán, rời rạc cũng như những mâuthuẫn giữa các cộng đồng cũng nhanh chóng được giải quyết để hình thành một mô hình tổ chức mới

Và dĩ nhiên khi tổ chức ấy ra đời cần có sự quản lý và chỉ huy thống nhất của một số người giữ vaitrò thủ lĩnh - họ là những người có uy tín, có địa vị trong xã hội, được sự tín nhiệm và bầu lên từngười dân Lúc ban đầu tổ chức này chỉ mang tính chất xã hội, xuất phát từ lợi ích của cả cộng đồng,nhưng dần dần với thời gian nó trở thành công cụ của những người được giao phó chức năng quản lý,trở thành bộ máy mang tính quyền lực, được đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế và nhà nước ra đời

 Trị thủy - thủy lợi và chống chiến tranh là những yếu tố thúc đẩy cho sự ra đời sớm hơn củanhà nước Tuy nhiên phải khẳng định rằng, đó không phải là những nhân tố đóng vai trò quyết định,bản thân chúng không làm sản sinh ra một nhà nước mà nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự ra đời củanhà nước vẫn thuộc về những nhân tố nội tại là sự phát triển kinh tế làm xuất hiện chế độ tư hữu vàcùng với đó là sự xuất hiện các giai cấp đối kháng về mặt lợi ích

1.2 Quá trình hình thành nhà nước đầu tiên

1.2.1 Nhà nước trong trạng thái đang hình thành – Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc

- Vào giai đoạn đầu thời đại Hùng Vương, các Liên minh bộ lạc bắt đầu hình thành trước yêu

cầu xã hội cần có một tổ chức mới rộng lớn hơn để giải quyết các vấn đề sau:

Trang 3

Một là: Mâu thuẫn giữa các thị tộc, bộ lạc ngày càng gia tăng Đây là một xu thế tất yếu của xãhội khi mà nền kinh tế phát triển ngày càng lớn mạnh

Hai là: Tập trung sức mạnh tập thể để tự vệ, chống thiên tai, bảo vệ sản xuất

Sự hình thành các liên minh bộ lạc làm cho địa vị của các quý tộc thị tộc ngày càng cao, vớiquyền lực ngày càng lớn và họ dần trở thành những con người đứng lên trên xã hội, quản lý xã hội; Bằng địa vị và uy tín của mình, họ chiếm đoạt ngày càng nhiều của cải trong tay;

Quyền lực xã hội trước đó được trao cho các quý tộc thị tộc nhằm thực hiện các chức năng xãhội vì cộng đồng dần biến thành quyền lực nhà nước, có khả năng cưỡng chế và họ trở thành nhữngquan chức nhà nước

 Đứng đầu là vua Hùng Vương;

 Dưới vua là Lạc hầu, là một quan văn có nhiệm vụ thay mặt cho nhà vua giải quyết nhữngcông việc trong cả nước

 Đất nước được chia làm 15 Bộ, đứng đầu mỗi Bộ là Lạc tướng; Lạc tướng theo chế độ chatruyền con nối, là một quan võ phụ trách giải quyết các công việc chung của bộ, chịu trách nhiệm thucống phẩm của lạc dân để nộp cho nhà vua, đồng thời là thủ lĩnh về mặt quân sự của Bộ mình đươngnhiệm

 Dưới Bộ là các Công xã nông thôn, đứng đầu là Bồ chính

1.2.2 Nhà nước Âu Lạc

- Sự hình thành nhà nước Âu Lạc:

Nhà nước Âu Lạc là sự kế thừa liên tục từ nhà nước Văn Lang: trên cơ sở kết quả khảo cổ họcphân bố ở địa bàn Văn Lang, Âu Lạc, các nhà khảo cổ học thấy rằng có một nền văn hóa chung, liêntục phát triển từ thời Hùng Vương cho mãi tới thời khởi nghĩa Hai Bà Trưng, sau đó mới ngừng pháttriển như một nền văn hóa độc lập

CHƯƠNG III NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM GIAI ĐOẠN NGÔ – ĐINH – TIỀN LÊ (939 – 1009) 3.1 Tổ chức bộ máy nhà nước

3.1.1 Nhà Ngô (939 – 965)

3.1.1.1 Tổ chức bộ máy nhà nước ở trung ương

Năm 939 sau khi đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, Ngô Quyền bỏ chức Tiết độ sứcủa triều đình phong kiến phương Bắc trước đó và tự xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa (huyện ĐôngAnh – Hà Nội ngày nay)

Đứng đầu tổ chức bộ máy nhà nước là Vua, dưới Vua là đội ngũ quan lại Tuy nhiên, tổ chức cụthể như thế nào thì không rõ, chỉ biết rằng vào thời kỳ này về mặt tổ chức bộ máy nhà nước đã “đặttrăm quan, chế định triều nghi, phẩm phục”

3.1.1.2 Tổ chức bộ máy nhà nước ở địa phương

Trang 4

Vẫn giữ nguyên cách thức tổ chức các cấp chính quyền theo mô hình của họ Khúc trước đó, tức

là chia cả nước ra làm 5 cấp: Lộ - Phủ - Châu – Giáp – Xã

3.1.2 Nhà Đinh (968 – 980)

3.1.2.1 Tổ chức bộ máy nhà nước ở trung ương

Năm 968 sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, Đinh Tiên Hoàng lên ngôi Hoàng đế đặt tên nước Đại

Cồ Việt, lấy niên hiệu là Thái Bình,

đóng đô ở Hoa Lư1 Kinh đô đặt ở Hoa Lư với vị thế hiểm trở, có đồi núi bao quanh cho thấy sự chútrọng của nước nhà ở giai đoạn này đối với việc phòng thủ quốc gia nhằm tăng cường sức mạnh vềmặt quân sự bảo vệ nền độc lập trước sự xâm lược của kẻ thù

Việc không dùng niên hiệu của nhà Tống, đặt quốc hiệu riêng, xưng “đế” đã khẳng định về mộtquốc gia hoàn toàn độc lập, khẳng định tính dân tộc tự quyết của nước nhà

Tổ chức bộ máy đã hoàn thiện và phát triển hơn nhà Ngô, tuy nhiên thiết chế vẫn còn đơn giản,thể hiện:

- Hoàng đế: là người đứng đầu bộ máy nhà nước.

- Các quan lại trong triều: gồm có một số chức quan sau đây:

Định quốc công: là quan đầu triều, có vai trò như Tể tướng sau này (ví dụ: vào thời nhà Đinh

có Nguyễn Bặc là Định quốc công)

Đô hộ phủ Sĩ Sư: đây là chức quan trông coi việc hình án ở Đô hộ phủ Phủ đô hộ được đặt

ra từ thời Bắc thuộc, nay nhà Đinh vẫn giữ danh hiệu này, để chỉ quan giữ việc hình án ở kinh đô, tứcchức danh đứng đầu việc tư pháp trong cả nước (ví dụ thời nhà Đinh có Lưu Cơ giữ chức này)

Thập đạo tướng quân: chức quan giữ vai trò là tổng chỉ huy quân đội cả nước bao gồm 10

đạo, thời nhà Đinh chức võ tướng Thập đạo tướng quân do Lê Hoàn giữ

Đô uý: trông coi việc quân sự;

Chi hậu nội nhân: là chức quan phụ trách coi việc tuần phòng ở cung cấm, ví dụ thời nhà

Đinh có Đỗ Thích là Chi hậu nội nhân.2

Tăng thống: là quan đứng đầu các tăng đạo - đứng đầu Phật giáo trong cả nước, ví dụ: thời

nhà Đinh có Ngô Chân Lưu làm Tăng thống hiệu là Khuông Việt đại sư

Tăng lục: là quan phụ trách Phật giáo cùng với Tăng thống;

Sùng chân uy nghi: quan phụ trách về Đạo giáo, thời nhà Đinh có Đặng Huyền Quang giữ

chức này 3

1 “Khi ấy mười hai sứ quân đều tự làm hùng trưởng, cắt giữ đất đai;… vua đánh dẹp được cả… chọn chỗ đất phẳng ở Đàm Thôn,

muốn dựng làm kinh đô, nhưng vì thế đất chật hẹp, lại không có lợi về sự đặt hiểm, nên lại đóng đô ở Hoa Lư ” – Ngô Sĩ Liên (2006),

Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, NXB Văn hóa thông tin, tr 193

2 Tháng 10 năm Kỷ Mão (979) Chi hậu nội nhân Đỗ Thích giết vua Đinh Tiên Hoàng ở sân cung đình – Đại Việt sử ký

Trang 5

- Về quân đội: giành được sự thống nhất cho nước nhà trên cơ sở đập tan các lực lượng cát cứ

vì thế mối đe dọa từ các thế lực này vẫn là vấn đề thường trực, ngoài ra việc chống xâm lược từ bênngoài vẫn luôn là nguy cơ thường trực; chính vì thế vua Đinh Tiên Hoàng đã tổ chức ra một đội quânhùng mạnh với quy chế rất chặt chẽ bao gồm đạo, quân, lữ, tốt, ngũ Mỗi đạo gồm có mười quân, mỗiquân gồm có mười lữ, mỗi lữ gồm có mười tốt, mỗi tốt có mười ngũ và mỗi ngũ có mười người.4

3.1.2.2 Tổ chức bộ máy nhà nước ở địa phương

Trong thời kỳ này xuất hiện đơn vị hành chính đạo Năm 974 Đinh Tiên Hoàng chia cả nước ralàm 5 đạo – đạo là cấp hành chính địa phương cũng đồng thời là đơn vị quân sự.5

Dưới cấp đạo là cấp hành chính cơ sở giáp (đứng đầu là Quản Giáp và Phó Tri Giáp) – Xã(đứng đầu có Chánh Lệnh trưởng và Tá Lệnh trưởng)

3.1.3 Nhà Tiền Lê (980 – 1009)

3.1.3.1 Tổ chức bộ máy nhà nước ở trung ương

Vào thời kỳ này, đứng đầu nhà nước vẫn là vua, tuy nhiên triều đình trung ương xuất hiện nhiềuchức quan mới:

Tổng quản tri quân dân sự: là viên quan đầu triều, phụ trách quản lý cả về việc dân – quân sự.6

Thái sư: là quan đại thần, có chức năng cố vấn cao cấp cho nhà vua

Thái úy: Là quan võ thuộc một trong số các đại thần của triều đình.7

Nha nội đô chỉ huy sứ: cũng là một quan võ

Về quân đội: việc củng cố và phát triển đội ngũ quân đội rất được sự chú trọng của triều đình,đặc biệt là vào đời vua Lê Đại Hành Nhà nước đặt ra ngạch thân binh và tổ chức lính túc vệ đóng ởkinh thành bảo vệ cho vua và hoàng tộc vào năm 968 Ngoài ra đến năm 1002, nhà nước còn chiatướng hiệu ra làm hai ban.8

3.1.3.2 Tổ chức bộ máy nhà nước ở địa phương

Đổi 10 đạo thành lộ và khôi phục lại các phủ, châu như trước, cho nên vào thời kỳ này, cả nướcchia thành: lộ - phủ - châu – giáp – xã.9

3.2 Pháp luật

3.2.1 Tình hình xây dựng pháp luật

- Đây là giai đoạn đầu sau khi giành được độc lập, đất nước phải đối mặt với nhiều mối đe dọa

từ bên trong (tình trạng phân tán, cát cứ) lẫn bên ngoài (chống giặc ngoại xâm) Do đó là thời kỳ khôi

4 Giáp Tuất năm thứ 5 (974)… Mùa xuân, tháng 2, định mười đạo quân, mỗi đạo quân 10 quân, mỗi quân là 10 lữ, mỗi lữ

là 10 tốt, mỗi tốt là 10 ngũ, mỗi ngũ là 10 người.” - Đại Việt sử ký toàn thư, sđd tr 197

5 Điều này cho thấy sự chú trọng về mặt quân sự trong tổ chức bộ máy nhà nước đồng thời cũng là sự thể hiện của tính chất tổ chức bộ máy nhà nước mang nặng tính quân sự

6 Năm 986 đời vua Lê Đại Hành phong “Từ Mục làm Tổng quản tri quân dân sự, phong tước hầu” - Đại Việt sử ký toàn

thư, sđd, tr 214.

7 Năm 986, đời vua Lê Đại Hành có Phạm Cự Lạng làm Thái Úy - Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr 214.

8 “Mùa xuân, tháng 3, định luật lệnh, chọn quan lính, chia tướng hiệu làm hai ban…” - Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, tr.

223.

9 “Năm thứ 9 (1002)… Mùa xuân, tháng 3, định luật lệnh,… đổi mười đạo làm lộ, phủ, châu.” - Đại Việt sử ký toàn thư,

sđd, tr 223.

Trang 6

phục lại nền kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, củng cố và bảo vệ nền độc lập nước nhà Chính

vì thế, hoạt động xây dựng pháp luật còn chưa thực sự phát triển

- Về hình thức pháp luật có: tập quán pháp, văn bản pháp luật

Tập quán pháp tiếp tục được xem là nguồn quan trọng và phổ biến Phổ biến nhất là các tậpquán dùng để điều chỉnh mối quan hệ về hôn nhân gia đình, ruộng đất, sở hữu… Đây là những tậpquán của các làng xã cổ truyền được lưu giữ lại và được nhà nước thừa nhận

Văn bản pháp luật: Pháp luật thành văn đã xuất hiện (năm 1002 Lê Đại Hành cho “định luậtlệnh”) tuy nhiên chưa có nhiều công trình quan trọng, đặt ra “luật lệnh” nhưng đó là luật lệnh gì thìkhông thể biết rõ nội dung.10

3.2.2 Nội dung pháp luật

Với tình hình bất ổn định về mặt chính trị, xã hội sau khi giành độc lập nên các biện pháp màpháp luật đưa ra áp dụng là rất tàn bạo, nghiêm khắc, mang tính nhục hình nhằm để răn đe, trừng trịđối với những ai vi phạm pháp luật, chống đối triều đình trung ương, phá hoại trật tự xã hội…

Nhà Đinh: Đinh Tiên Hoàng đã dùng oai để cai trị các tội phạm như đặt vạc dầu ở trước điện,nuôi hổ ở trong vườn để bắt người phạm tội cho vào vạc dầu hoặc cho hổ ăn thịt hoặc đóng vào cũingâm dưới nước.11

Đến thời nhà Tiền Lê, đặc biệt là dưới triều vua Lê Long Đĩnh các hình phạt cũng không kémphần dã man, tàn bạo, đồng thời còn thể hiện tính chất tùy tiện khi xét xử, với các hình thức như đốtngười, lấy dao ngắn, dao cùn xẻo từng miếng thịt, dìm người xuống sông, cho rắn cắn chết…

Nhìn chung, đây là giai đoạn mới vừa giành được độc lập, nên còn nhiều bất ổn định về tìnhhình chính trị, xã hội với sự đe dọa thường xuyên của tình trạng phân tán, cát cứ từ bên trong và tìnhtrạng giặc giã ngoại xâm từ bên ngoài cho nên nhà nước còn tổ chức đơn giản, pháp luật còn chưathực sự phát triển vì nhiệm vụ hàng đầu lúc này là giải quyết các vấn đề trên Mặc dù vậy, đây là giaiđoạn của nhà nước và pháp luật độc lập tự chủ, tuy chưa đạt được nhiều thành tựu nhưng đánh dấumột bước tiến quan trọng, mở ra một giai đoạn phát triển mới cả về nhà nước và pháp luật của nướcnhà, đặt nền tảng vững chắc cho các giai đoạn tiếp theo

10 “Năm thứ 9 (1002)… Mùa xuân, tháng 3, định luật lệnh…” - Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, tr 223.

11 “Vua lấy uy để chế ngự thiên hạ, mới đặt vạc lớn ở sân triều, nuôi hổ dữ ở trong cũi, hạ lệnh rằng: Người nào trái phép sẽ phải

chịu tội bỏ vào vạc nấu hay cho hổ ăn Mọi người sợ phục không ai dám trái.” - Đại Việt sử ký toàn thư, sđd tr 193.

Trang 7

CHƯƠNG IV

BỘ MÁY NHÀ NƯỚC CÁC TRIỀU ĐẠI LÝ - TRẦN - HỒ (1010 –1407)

4.1 Tổ chức bộ máy nhà nước

4.1.1 Nhà Lý (1010 – 1225)

Năm 1010, Lý Công Uẩn – giữ chức Điện tiền chỉ huy sứ được suy tôn lên làm vua, lập ra triều

Lý, niên hiệu là Thuận Thiên Tháng 2, năm 1010 Vua dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La, sau đó đổi

là thành Thăng Long Việc dời đô từ “Hoa Lư thấp chật hẹp, không đủ làm chỗ ở của đế vương” vềthành Đại La “ở giữa khu vực trời đất, có thế rồng cuộn hổ ngồi, ở giữa Nam – Bắc – Đông – Tây,tiện hình núi sông sau trước, đất rộng mà bằng phẳng, chỗ cao mà sáng sủa, dân cư không khổ vềngập lụt, muôn vật rất thịnh mà phồn vinh, xem khắp nước Việt, chỗ ấy là nơi hơn cả Thực sự là chỗhội họp của bốn phương, là nơi thượng đô của kinh sư muôn đời.”12 đánh dấu một sự phát triển lớnmạnh, ổn định, bền vững của nước nhà, nhân dân có điều kiện để xây dựng một cuộc sống mới phồnvinh, an tâm lao động, tăng gia sản xuất, bởi sự kiện này cũng đã cho thấy sự chú trọng của nhà nướcđối với việc phát triển nền kinh tế của quốc gia Giai đoạn này nhà nước và pháp luật đạt nhiều thànhtựu đáng kể

4.1.1.1 Tổ chức chính quyền ở trung ương

Thời kỳ nhà Lý đã thiết lập một nhà nước phong kiến theo hình thức chính thể quân chủ trungương tập quyền mang tính quý tộc 13, với tổ chức bộ máy như sau:

- Vua: là người đứng đầu, nắm trong tay toàn bộ quyền lực nhà nước: chủ thể duy nhất có

quyền ban hành pháp luật; quyết định việc bổ nhiệm, phong cấp, bãi nhiệm hệ thống quan lại trongtriều; nắm quyền xét xử tối cao, đích thân xét xử và ra quyết định cuối cùng đối với các vụ án quantrọng; là tổng chi huy quân đội; chủ sở hữu tối cao đối với toàn bộ đất đai; ban hành các thứ thuế…

- Các quan đại thần:

Vị trí: là những người đứng đầu đội ngũ quan lại trong triều đình, được chia làm 2 ngạch: ngạchquan văn và ngạch quan võ 14, bao gồm:

Tam thái gồm: thái sư, thái phó, thái bảo; ví dụ: Lương Nhậm Văn làm thái sư, Ngô Thượng

Đinh làm thái phó, Đào Xử Trung làm thái bảo vào đời vua Lý Thái Tổ

Tam thiếu gồm: thiếu sư, thiếu phó, thiếu bảo;

12 Ngô Sĩ Liên (2006), Đại Việt sử ký toàn thư, NXB Văn hóa thông tin, tr 241

13 Vào thời nhà Lý đã tạo ra một hoàng tộc lớn mạnh bằng nhiều biện pháp khác nhau nhằm tăng cường việc quý tộc hóa dòng họ, các chức vụ chủ chốt của triều đình theo đó đa phần là do những người trong dòng tộc nhà Lý nắm giữ

14 “Quan chế triều Lý đại lược văn võ đều có 9 phẩm Lấy 3 chức thái, ba chức thiếu, cùng thái úy, thiếu úy…” – Phan

Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chương loại chí, Tập I, NXB Khoa học xã hội, tr 443

Trang 8

Tông có Lý Thường Kiệt làm Phụ quốc thái uý, hay có Tô Hiến Thành làm Nhập nội kiểm hiệu tháiphó bình chương quân quốc trọng sự vào đời vua Lý Anh Tông

- Các cơ quan chuyên môn:

Chức năng: là những cơ quan giúp vua quản lý công việc thuộc lĩnh vực chuyên môn khácnhau, chịu trách nhiệm trực tiếp trước nhà vua

Các cơ quan chuyên môn gồm:

 Hàn lâm viện:

Chức năng: soạn thảo chiếu, biểu cho nhà vua;

Quan đứng đầu là Hàn lâm viện học sĩ Ví dụ: thời Lý có Mạc Hiển Tích giữ chức Hàn lâmviện học sĩ

 Quốc tử giám:

Cơ quan này được thành lập năm 1076 vào đời vua Lý Nhân Tông, là quốc học đầu tiên củanước nhà Sự xuất hiện của cơ quan này đánh dấu một sự phát triển mới của nền giáo dục thi cử nước

ta

Chức năng của cơ quan này là đào tạo Nho sĩ và trông coi Văn miếu;

Quan đứng đầu là Tư nghiệp

 Khu mật sứ:

Đây là cơ quan được thành lập vào tháng 11 năm 1082, đời vua Lý Thái Tông

Chức năng: bàn bạc việc triều chính thuộc lĩnh vực dân sự với vua;

Quan đứng đầu là Tả sứ, giúp việc có Hữu sứ Đời Lý Thái Tông có Lý Đạo Kỷ làm Tả sứ,Xung Tân làm Hữu sứ.15

- Một số chức quan khác

Quan văn: Tả hữu tham tri, Tả hữu Gián nghị đại phu, Viên ngoại lang…;

Quan võ: Đô thống, Nguyên soái, Đại tướng, Thống tướng, Thượng tướng…;

Chức quan về tôn giáo: Quốc sư, Tăng thống, Tăng lục, Tăng chính…

4.1.1.2 Tổ chức chính quyền địa phương

Lý Thái Tổ đã tiến hành chia đặt lại các đơn vị hành chính sau khi lên ngôi, theo đó đã đổi 10đạo thời kỳ nhà Đinh – Lê thành 24 lộ và trại 16

Việc phân chia lại các đơn vị hành chính của Lý Thái Tổ đã góp phần rất quan trọng tạo ra sựquản lý thống nhất, toàn diện từ trung ương xuống địa phương Sau cuộc cải cách này, chính quyềnđịa phương được chia ra làm 3 cấp

- Cấp lộ - trại: Cả nước chia làm 24 lộ và 2 trại (châu Hoan và châu Ái), đứng đầu lộ là

Thông phán, đứng đầu trại là Chủ trại

15 Đỗ Văn Ninh (2006), Từ điển chức quan Việt Nam, NXB Thanh niên, năm 2006, tr 423

16 Mùa dông, tháng 12, năm 1010 “…

đổi 10 đạo làm 24 lộ, châu Hoan, châu Ái làm trại.” – Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, sđd, tr 243

Trang 9

- Cấp phủ - châu: là cấp hành chính dưới cấp lộ - trại, tuỳ thuộc vào khu vực địa lý mà có tên

gọi khác nhau: phủ đặt ở vùng đồng bằng, trại đặt ở miền núi Đứng đầu phủ là Tri phủ, đứng đầuchâu là Tri châu;

- Cấp hương – xã – sách: là cấp hành chính cơ sở dưới cấp phủ - châu

4.1.2 Nhà Trần - Hồ giai đoạn từ 1225 – 1407

Năm 1225 nhà Trần lên thay nhà Lý, cai trị nước ta đến 1400 với 12 đời vua, sau đó bị nhà Hồcướp ngôi Nhà Hồ chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, lại đối phó với âm mưu xâm lược của kẻ thù vàđến năm 1407 thì bị thất bại trước nhà Minh (Trung Quốc) vì thế tổ chức bộ máy nhà nước ở trungương cũng như ở địa phương cơ bản vẫn tiếp tục duy trì mô hình của nhà Trần, hơn thế nữa thời giantồn tại khoảng 7 năm của nhà Hồ là sự phát triển liên tục từ nhà Trần trước đó

4.1.2.1 Tổ chức bộ máy nhà nước ở trung ương

- Vua:

“Chính thể lưỡng đầu” tồn tại một cách phổ biến dưới các triều vua nhà Trần và cả nhà Hồ.Theo đó, có hai người cùng nhau trị vì đất nước gồm Thái Thượng Hoàng và Vua Trong chính thểnày, Vua là người nguyên thủ thực sự trị vì thiên hạ, còn Thái Thượng Hoàng là vị nguyên thủ tốicao, có uy quyền ngay cả đối với Vua, có chức năng tư vấn tối cao cho Nhà Vua

- Các quan đại thần:

Ngoài những chức quan đã có từ thời nhà Lý, các quan đại thần thời nhà Trần còn có thêm một

số chức quan mới Bao gồm:

Đứng đầu hàng ngũ quan lại trong triều là Tể tướng17;

Quan đại thần chia thành hai ngạch: ngạch quan văn và ngạch quan võ 18, gồm:

Tam thái gồm: thái sư, thái phó, thái bảo;

Tam thiếu gồm: thiếu sư, thiếu phó, thiếu bảo;

Thái uý;

Thiếu uý;

Tam tư gồm: Tư đồ (phụ trách việc ngoại giao, văn hóa, lễ nghi), Tư mã (phụ trách công việc

chinh phạt như quốc phòng, an ninh, tư pháp), Tư không (phụ trách các công việc khác)

- Các cơ quan chuyên môn: bao gồm

Ngự sử đài: là cơ quan có chức năng giúp vua kiểm tra hoạt động của đội ngũ quan lại, gồm

có 3 viện nhỏ: Đài viện, Sát viện và Điện viện Theo Đỗ Văn Ninh19 thì chức năng của 3 viện nhưsau:

Đài viện có các Thị ngự sử đài đàn hặc bá quan, kiểm soát ngục tụng

Điện viện có Điện trung thị ngự sử kiểm soát nghi thức

17 “Chức Tể tướng thì chọn trong tôn thất người nào tài giỏi, có đạo đức nghệ thuật, thông hiểu thi thư thì cho làm.” – Đại

Việt sử ký toàn thư, tập I, sđd tr 419

18 “Quan chế đời Trần đại yếu lấy ba chức thái, ba chức thiếu, thái úy, tư đồ, tư mã, tư không làm trọng chức của đại thần văn võ Chức tể tướng thì thêm danh hiệu tả hữu tướng quốc bình chương sự.” – Lịch triều hiến chương loại chí, sđd, tr.

445

19 Từ điển chức quan Việt Nam, sđd, tr 521.

Trang 10

Sát viện có Giám sát ngự sử kiểm soát quận huyện

Đứng đầu là Ngự sử đại phu (đời vua Trần Thái Tông, tháng 12, năm 1246 cho Trương Mônglàm Ngự sử đại phu)

Sách Lịch triều hiến chương loại chí cũng cho biết thêm là “Chức Ngự sử, đời Lý về trước chưađặt Đời Trần mới đặt Ngự sử đài, có những chức Thị ngự sử, Giám sát ngự sử, Ngự sử trung tán,Ngự sử trung thừa, Ngự sử đại phu, Chủ thư ngự sử.”20

Bình Bạc ty: là cơ quan xét xử việc kiện tụng ở kinh thành, được thành lập năm 1230

Thẩm hình viện: là cơ quan có chức năng định tội

Tôn chính phủ: có chức năng coi giữ việc sổ họ hàng tôn thất – soạn thảo gia phả cho nhà

vua, đứng đầu là quan Đại tôn chính, do người trong tôn thất phụ trách

Giảng võ đường: là cơ quan có chức năng đào tạo quan võ, được thành lập năm 1253 đời vua

Trần Thái Tông.21

Tư thiên giám: phụ trách việc làm lịch, xem thiên văn, dự báo thời tiết, suy việc lành dữ

Tam ty viện: được thành lập vào tháng 3, năm 1250 đời vua Trần Thái Tông, có chức năng

trông coi việc hình ngục, giam giữ phạm nhân Tam ty viện gồm các viện: Phụng Tuyên, Thanh Túc,Hiến Chính, chức năng của các viện cụ thể như thế nào thì không rõ

Khu mật viện: được đổi từ Khu mật sứ thời nhà Lý, có chức năng tham dự, bàn bạc việc triều

chính Đứng đầu có Đại sứ, giúp việc có Phó sứ

Quốc học viện: Được thành lập tháng 6, năm 1253 đời Trần Thánh Tông22 (đổi từ cơ quanQuốc tử giám nhà Lý trước đó), có chức năng chuyên đào tạo sĩ tử và quan lại

Quốc sử viện: có chức năng biên chép sử cho triều đình Đứng đầu là Quốc sử viện giám tu.

(Đời vua Trần Thánh Tông có Lê Văn Hưu là Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc sử viện giám tu vângchỉ soạn thảo xong bộ Đại Việt sử ký 23)

Thái y viện: là cơ quan có chức năng chăm sóc sức khoẻ cho nhà vua, hoàng tộc và triều

đình

4.1.2.2 Tổ chức bộ máy nhà nước ở địa phương

- Giai đoạn từ năm 1226 đến năm 1396

Năm 1242, vào đời Vua Trần Thái Tông, đã tiến hành cải cách về mô hình các cấp chính quyềnđịa phương24, theo đó chính quyền địa phương được chia làm các cấp sau đây:

Cấp lộ: cấp hành chính cao nhất ở địa phương, cả nước chia thành 12 lộ, đứng đầu lộ là An

phủ chánh sứ, có An phủ phó sứ giúp việc

20 Sđd, tập I, tr 467

21 Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, sđd, tr 424.

22 “Tháng 6, lập Quốc học viện, tô tượng Khổng Tử, Chu Công, Á Thánh, vẽ tượng 72 người hiền để thờ”, Ngô Sĩ Liên,

Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, tập I,

tr 424

23 Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, sđd, tập I, tr 444.

24 “Nhâm Dần, năm thứ 11 (1242)…mùa xuân, tháng 2, chia cả nước ra làm 12 lộ đặt chức An phủ hoặc Trấn phủ chánh phó hai viên để cai trị Các xã, sách thì đặt chức Đại, Tiểu tư xã, từ ngũ phẩm trở lên là Đại tư xã, từ lục phẩm trở xuống

là là Tiểu tư xã hoặc có người kiêm 2, 3, 4 xã, cùng xã chính, xã sử, xã giám, gọi là xã quan.”, Ngô Sĩ Liên, Đại Việt sử

ký toàn thư, tập I, Sđd, tr 416

Trang 11

Cấp phủ - châu: dưới cấp lộ ở miền xuôi chia thành phủ, đứng đầu là quan Tri phủ, ở miền

núi chia thành châu đứng đầu có Tàu vận sứ

Cấp xã: đứng đầu là xã chính, giúp việc có Xã giám, Xã sử.

- Giai đoạn từ 1397 đến 1400

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, thì năm 1397 đời vua Trần Thuận Tông đã tiến hành phân chialại các đơn vị hành chính thành 5 cấp sau đây25:

Cấp lộ: đứng đầu là quan An phủ sứ, giúp việc có Phó phủ sứ;

Cấp phủ: đứng đầu là quan Trấn phủ sứ, giúp việc có Trấn phủ phó sứ;

Cấp châu: đứng đầu là quan Thông phán, giúp việc có Thiêm phán Ở miền núi gọi là châu

Kimi do các tộc trưởng, tù trưởng đứng đầu

Cấp huyện: đứng đầu là Lệnh uý, giúp việc có Chủ bạ

Cấp xã: gồm có các xã quan: xã chính, xã sử, xã giám Đứng đầu xã lớn gọi là Đại tư xã,

đứng đầu xã nhỏ gọi là Tiểu tư xã

25 “Định quy chế quan ngoài Lộ đặt An phủ sứ và Phó sứ, phủ đặt Trấn phủ sứ và Phó sứ, châu đặt Thông phán, Thiêm phán, huyện đặt Lệnh úy, chủ bạ, để cai trị Lộ coi phủ, phủ coi châu, châu coi huyện.”

Trang 12

CHƯƠNG V: TỔ CHỨC BỘ MÁY NHÀ NƯỚC THỜI LÊ SƠ

5.1 Khái quát trạng thái xã hội thời Lê sơ (1428 – 1527)

Hầu hết các nhà nghiên cứu lịch sử đều khẳng định đây là giai đoạn phát triển rực rỡ, hưng thịnhnhất trong suốt hơn 1000 năm tồn tại và phát triển của nhà nước phong kiến với chính thể quân chủ ởViệt Nam trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế, chính trị, pháp luật, quân sự, văn hoá, xã hội…Chúng ta biết rằng, sau khi vương triều nhà Hồ (1400 – 1407) sụp đổ vào năm 1407, quân xâmlược Minh đặt ách đô hộ lên nước ta sau gần 500 năm độc lập tự chủ Sự hiện diện và chính sách nôdịch trong vòng 20 năm (1407 – 1427) của nhà Minh đã tàn phá nghiêm trọng nền kinh tế - xã hội màcác triều đại Lý - Trần gây dựng nên Cuộc kháng chiến chống Minh do Lê Lợi khởi xướng đã đemlại độc lập dân tộc cho nước nhà vào năm 1428 và bắt tay khôi phục lại trạng thái kinh tế, chính trị,

xã hội vốn điêu tàn, mà trước hết là khôi phục các thiết chế chính trị và nền kinh tế nông nghiệp

- Về chính trị - pháp lý: sau khi đánh tan quân Minh, uy tín và vị thế của nhà Lê có sự chuyển

biến rõ rệt, dân chúng ủng hộ nhà Lê; các công thần mưu lược ra sức cùng vua Lê khôi phục và pháttriển mạnh mẽ thể chế quân chủ trung ương tập quyền Nhà Lê sơ (thế kỷ XV) tồn tại được 100 năm(1428 – 1527) trải qua 10 đời vua Trong thời gian này, đựơc chia làm ba mốc quan trọng trong đờisống chính trị Từ năm 1428 đến năm 1460 là thời kỳ hậu chiến nên nền chính trị cũng như các thiếtchế về tổ chức bộ máy chưa thực sự phát triển mạnh; giai đoạn 1460 -1497, (thời vua Lê ThánhTông), được coi là thời kỳ cực thịnh trên tất cả các lĩnh vực không chỉ của nhà Lê mà của hơn 1000năm phong kiến Việt Nam; và giai đoạn 1498 – 1527 là giai đoạn nhà Lê rơi vào trạng thái suy vong Riêng về tổ chức bộ máy nhà nước thời Lê Sơ được chia làm hai giai đoạn: (giai đoạn: 1428 -

1460 (trước cải cách của vua Lê Thánh Tông) và giai đoạn: 1460 - 1527 (cải cách của vua Lê ThánhTông)

- Giai đoạn 1428 – 1460: đây là thời kỳ hậu chiến, tình trạng “thù trong giặc ngoài” đang tiếp tục đe

dọa chính quyền non trẻ nhà Lê Chức năng và nhiệm vụ chính yếu nhất của lực lượng cầm quyềnnhà Lê là bảo đảm toàn vẹn lãnh thổ, độc lập dân tộc nên tổ chức bộ máy nhà nước mang tính quân

sự với nền hành chính quân quản; đồng thời kế thừa tổ chức bộ máy nhà nước thời Lý – Trần

- Giai đoạn: 1460 - 1527 (cải cách của vua Lê Thánh Tông) Sau 32 năm độc lập tự chủ, xã hội thời

Lê thanh bình, thịnh vượng; đời sống vật chất và tinh thần trong dân chúng chuyển biến rõ rệt theochiều hướng tích cực Vì vậy vua Lê Thánh Tông chủ trương xóa bỏ tổ chức bộ máy nhà nước theo

mô hình “quân quản” và tiến hành cuộc cải cách rộng khắp từ trung ương xuống địa phương; đồngthời nâng cao vị thế tuyệt đối của hoàng đế

So với các triều đại trước, thời nhà Lê, tổ chức bộ máy nhà nước cũng như các thiết chế kháctrong việc thực hiện quyền lực chính trị đã thực sự có nhiều bước phát triển, ổn định hơn; hoạt độngxây dựng pháp luật được chú trọng hơn bao giờ hết, nhất là dưới thời vua Lê Thánh Tông (1460 –1497) Với gia tài pháp luật của mình, nhà Lê sơ đã để lại những dấu ấn tích cực (cả về số lượng vàchất lượng) trong tiến trình lập pháp của dân tộc Việt Nam, nổi bật nhất là Bộ Luật Hồng Đức với

722 điều (còn gọi là Quốc triều hay Lê triều Hình luật) được hoàn chỉnh thời vua Lê Thánh Tôngdưới niên hiệu Hồng Đức – 1470

- Về kinh tế: nhà Lê tiếp tục phát huy sản xuất nông nghiệp, xóa bỏ chế độ điền trang thái ấp của

các thời kỳ trước, nhất là chế độ tư hữu phát triển thực chất hơn nhằm khuyến khích nền sản xuất vàtích lũy tài sản Chính sách hạn điền đã thu hẹp quyền tư hữu của tầng lớp quan lại phong kiến và tạođiều kiện, cơ hội tích lũy ruộng đất cho tất cả mọi người không phân biệt giai cấp Chính điều nàykéo theo sự phát triển của các định chế pháp lý về quyền tư hữu, khung pháp luật cho các giao dịchdân sự, thừa kế về ruộng đất ngày càng hoàn thiện hơn Nhìn chung, với chính sách ruộng đất mới đã

Trang 13

phát huy hiệu quả, nền kinh tế nông nghiệp có nhiều bước phát triển vượt bậc, đời sống vật chất củangười dân được cải thiện rất nhiều Có thể khái quát sự thịnh vượng của nền kinh tế thời nhà Lê (thế

kỷ XV) bằng hai câu ca dao:

“Đời vua (Lê) Thái Tổ, Thái TôngLúa mọc đầy đồng trâu chẳng buồn ăn”

Bên cạnh nền kinh tế nông nghiệp, nhà Lê từng bước thừa nhận nền kinh tế hàng hóa, trao đổi Vìvậy pháp luật về quyền tư hữu, hợp đồng dân sự (đoạn mại, điển mại,…) rất phát triển, tạo hành langpháp lý an toàn cho hoạt động trao đổi, mua bán

- Về tư tưởng: từ cuối thời Trần, Nho giáo đã dần dần lấn át Phật giáo Đến thời Lê sơ, vua Lê

Lợi (tức Lê Thái Tổ) đã khẳng định Nho giáo là ý thức hệ chủ đạo trong đời sống tư tưởng của toàn

bộ xã hội Tuy nhiên, cho đến thời vua Lê Thánh Tông, Nho giáo được đưa lên địa vị độc tôn và trởthành hệ tư tưởng lý luận chính thống để cụ thể hóa thành các thiết chế chính trị, định chế pháp lý vàtrên cở sở đó, củng cố, thống nhất chính thể quân chủ trung ương tập quyền phù hợp với nền kinh tếnông nghiệp

Giáo lý Nho giáo trở thành “bệ đỡ” tinh thần, là ngọn đuốc lý luận để soi đường cho chính thểquân chủ nhà Lê vững bước đi lên Nho giáo có mặt khắp nơi và được sử dụng vào nhiều mục đíchkhác nhau, được biến tấu dưới nhiều hình thức: Nho giáo được chuyển thể thành ca dao, tục ngữ haykhúc hát ru để răn dạy người đời (ví dụ bài Nhị thập tư hiếu – hai mươi tư điều hiếu nghĩa của con cáidối với cha mẹ do vua Lê Thánh Tông biên soạn); Nho giáo được sử dụng trong việc giáo dục, họchành và thi cử của sĩ tử; các chuẩn mực của Nho giáo được cụ hể hóa thành các quy phạm pháp luật,các giá trị kinh điển của Nho giáo quy định nội dung của hệ thống pháp luật nhà Lê,…Thậm chí, cácvua nhà Lê còn dùng các chủ thuyết chính trị của Nho giáo để bài xích, chống lại nạn các thói hư, tậtxấu mà trước hết là của đội ngũ quan quyền

Bên cạnh Nho giáo, một số nội dung của hệ tư tưởng Pháp gia (Pháp trị) được vận dụng một cáchlinh hoạt và ảnh hưởng rất lớn đến pháp luật nhà Lê Nói cách khác, pháp luật nhà Lê là sự kết hợpcủa nhiều yếu tố, trong đó, nổi bật là sự dung hòa giữa hai hệ tư tưởng lớn: Nho gia và Pháp gia.Tóm lại, bức tranh xã hội nhà Lê thế kỷ XV (1428 – 1527) đã đạt đến mức hoàn mỹ trên tất cảcác lĩnh vực kinh tế - chính trị, pháp lý – xã hội; chính thể quân chủ nhà Lê trở thành tấm gương sángngời và để lại cho chúng ta nhiều bài học quý giá, nhiều giá trị kinh điển trong tiến trình xây dựngnhà nước pháp quyền hiện nay cũng như ở một số định chế pháp lý cụ thể, nổi bật nhất là trong cuộcchiến chống tham nhũng

5.2 Tổ chức bộ máy nhà nước giai đoạn đầu Lê sơ (1428 – 1460)

5.2.1 Chính quyền trung ương

5.2.1.1 Vua

Tất cả quyền hành tối cao của bộ máy nhà nước khi đó đều tập trung vào triều đình Đứng đầutriều đình là Nhà Vua, theo nhà sử học Phan Huy Chú thì dưới Vua có những chức quan trọng yếu

như sau: “quan chế nhà Lê lúc đầu đại yếu lấy tả hữu tướng quốc kiểm hiệu bình chương quân quốc

trọng sự, đại tư đồ, tư không, đại tư mã, tư khấu, thái phó, thái bảo, thái uý, thiếu phó, thiếu bảo, thiếu uý, tả hữu bộc xạ, hữu bật, thượng thư lệnh, đặc tiến khai phủ nghi đồng tam ty, tham dự triều chính, làm trọng chức của các đại thần văn võ, trao cho các thân thuộc của nhà vua và bày tôi có công Lại có Chính sự viện để giữ then chốt, dùng cả văn võ (có những chức Tham tri chính sự, Tham nghị, đồng Tham nghị, sau lại đặt Chính sự viện thượng thư) 26

26 Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, nxb KHXH, Hà Nội, 1992, tập I, tr 448

Trang 14

5.2.1.2 Tả, Hữu Tướng quốc và các quan đại thần

Trong lịch sử quan chế Việt Nam, các triều đại từ nhà Tiền Lê đã xuất hiện chức quan thực hiệngiống như công việc của Tể tướng bên Trung Quốc, nhưng không gọi bằng cái tên Tể tướng mà đượcgọi bằng những cái tên khác nhau tùy từng thời kỳ Ở thời kỳ đầu của thời Lê sơ, chức việc thực hànhgiống như Tể tướng được gọi là Tướng quốc, bao gồm: Tả Tướng quốc và Hữu Tướng quốc Tả, HữuTướng quốc là chức quan quan trọng trong triều, thường được gia thêm “kiểm hiệu bình chương quânquốc trọng sự” đứng đầu về mặt hành chính, giúp Vua quản lý toàn bộ đội ngũ quan lại trong nước.Khi Lê Lợi mới lên ngôi đã phong cho Trần Nguyên Hãn giữ chức Tả tướng quốc, thái tử Tư Tề chức

Hữu tướng quốc Lê Quý Đôn đã cho biết: “Đồng Hanh Phát tâu vua Nhân Tông rằng: Bản triều

trọng dụng duy ở Tể tướng và Hành khiển Bởi vì chức Tể tướng giữ cả trách nhiệm hữu nạp ngôn trong Môn hạ sảnh và đồng tham nghị trong Chính sự viện…”27

Cũng như các triều đại trước, triều Lê sơ thời kỳ đầu cũng gồm các quan đại thần như Đại tư

đồ, Đại tư mã, Tư không, Tư khấu, Tam Thái, Tam thiếu… các chức quan này thường được trao chonhững đại công thần, tiếng nói của họ rất quan trọng trong triều, họ là những người có công lao rấtlớn với triều đình, mặc dù năng lực quản lý của họ đôi khi rất hạn chế 28, đặc biệt thời kỳ này vẫn theoquan chế của nhà Trần là đối với các quan đại thần này, Nhà Vua thường cho họ kiêm nhiệm chứcviệc của Tể tướng nên quyền lực của họ rất lớn

5.2.1.3 Các cơ quan có chức năng cố vấn cho Vua trong việc chính sự:

- Tam sảnh, thời kỳ đầu thời Lê sơ, vua Lê Thái Tông đã học tập quan chế của nhà Trần để lập

ra Tam sảnh Tam sảnh bao gồm Thượng thư sảnh, Trung thư sảnh, Môn hạ sảnh Lê Quý Đôn cho

biết: “nhà Trần phỏng theo chế độ nhà Tống đặt ba sảnh, Thượng thư sảnh giữ công việc về quan

chức; Trung thư sảnh bàn luận việc lớn; Môn hạ sảnh xét kỹ lại rồi giao cho Trung thư sảnh thi hành…” 29

- Thượng thư sảnh, thời Trần học tập xây dựng bộ máy nhà nước theo mô hình Trung Quốc

thời kỳ nhà Tống (mô hình Tam sảnh của Trung Quốc đã có từ thời Tùy Đường30), nhà Trần đã thànhlập Tam sảnh, trong đó có Thượng thư sảnh, lúc đó quan đứng đầu sảnh này gọi là Hành khiển, đếnthời kỳ đầu Lê sơ, viên quan đứng đầu sảnh này được đổi tên gọi là Thượng thư lệnh Nhiệm vụ củaThượng thư sảnh là thực hiện công việc sự vụ của các quan chức 31

- Trung thư sảnh là cơ quan thuộc Tam sảnh, cũng có từ thời Trần, Trung thư sảnh có chức

năng giữ việc thương lượng, giúp lời khuyên về các việc trọng đại của quốc gia32, Trung thư sảnh cócác chức quan như Trung thư lệnh (đứng đầu), rồi đến Thị lang, Xá nhân, Trước tác, cuối cùng làSảnh thuộc Trung thư sảnh là cơ quan nắm giữ quyền lực rất lớn, trong thực tế Vua thường giao cho

Tể tướng kiêm giữ quyền Trung thư lệnh

- Môn hạ sảnh cũng nằm trong Tam sảnh Môn hạ sảnh giữ quyền thẩm tra, kiểm duyệt mọi

việc, sau đó mới cho ban bố thi hành33 Môn hạ sảnh có các chức quan như chức quan phụ trách sảnh

là quan Tri ty sự, rồi đến Thị lang, Lang trung

27 Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục, NXB Văn hóa thông tin, 2007, tr.132

28 Ví dụ như Đại tư đồ Lê Sát, Tư khấu Lê Ngân chuyên quyền về sau đều bị giết.

29 Lê Quý Đôn, sđd, tr 132

30 Một số nhà nghiên cứu dịch sảnh l tỉnh Theo mô hình thời Tuỳ Đường thì Trung thư tỉnh đề xuất chủ trương, Môn hạ tỉnh thẩm duyệt biện bác, Thượng thư tỉnh chấp hành.

31 Nguyễn Công Việt, Ấn chương Việt Nam từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX, NXB KHXH, Hà Nội, 2005, tr 118

32 Nguyễn Công Việt, sđd, tr 118

33 Nguyễn Công Việt, sđd, tr 118

Trang 15

- Chính sự viện, đây là cơ quan khá quan trọng, được đặt vào thời đầu Lê sơ, thành viên của

Chính sự viện bao gồm các quan văn võ đại thần trong triều cùng tham dự Quan đứng đầu Chính sựviện lúc đầu là Tham tri chính sự sau đổi gọi làm Chính sự viện thượng thư Chức năng của Chính sựviện theo như Phan Huy Chú là giữ then chốt về chính trị34

- Nội mật viện (tức Khu mật viện) Sử cũ cho biết: “nhà Lê buổi đầu theo quan chế của nhà

Trần, đặt Nội mật viện, có chức Viện sứ, Phó tri viện sự, Đồng tri, Thiêm tri viện sự” 35 Như vậy,đứng đầu Nội mật viện là quan Nội mật viện sứ Không thấy sử sách nói về nhiệm vụ cụ thể của Nộimật viện Theo Đỗ Văn Ninh thì Nội mật viện cùng với Tam sảnh, ba Bộ dưới quyền của Tả, HữuTướng quốc chia nhau giữ việc nước36 Cũng theo một số nhà nghiên cứu khác thì cho rằng nếu nhưthành viên Chính sự viện bao gồm rộng rãi các quan đại thần văn võ thì Nội mật viện chỉ gồm cácthành viên thân tín của Nhà Vua37, với chức năng cố vấn những việc quân cơ, đại sự cho Nhà Vua.Đây là cơ quan cố vấn cho Nhà Vua cũng có quyền lực rất lớn

5.2.1.4 Các bộ

Bộ là cơ quan chuyên môn quan trọng giúp Nhà Vua trong việc quản lý đất nước Theo môhình của nhà nước phong kiến Trung Hoa, tổ chức bộ điển hình và hoàn chỉnh là bao gồm Lục bộ

Tuy nhiên, theo như ghi chép của Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí, phần Quan

chức chí thì cho thấy Lê Thái Tổ lúc lên ngôi mới chỉ đặt ra hai bộ là bộ Lại và bộ Lễ, còn trong sách

Dư địa chí của Nguyễn Trãi thì cho thấy bấy giờ đã có thêm bộ Dân (bộ Hộ) Như vậy, thời kỳ này đã

có 3 bộ là bộ Lại, bộ Lễ và bộ Hộ, đứng đầu mỗi bộ, cũng như ở các triều đại khác, vẫn là Thượngthư và chức phó là Tả, Hữu Thị lang Bộ Lại với chức năng phong quan chức cho các công thần, bộ

Lễ quy định những nghi thức, lễ nghi, bang giao, học hành thi cử Bộ Hộ trông coi việc thu chi tàichính trong cả nước, đồng thời quản lý về ruộng đất Năm 1460, sau khi cướp ngôi, Nghi Dân trongquá trình củng cố triều đình mới lập đủ Lục bộ và thành lập Lục khoa để giám sát Lục bộ

5.2.1.5 Các cơ quan có chức năng văn phòng:

- Hàn lâm viện, Hàn lâm viện có chức năng giúp Vua soạn thảo các chiếu, chế, biểu… Hàn

lâm viện đã được thành lập từ thời Lý, thời Lý quan đứng đầu Hàn lâm viện là quan Học sĩ, thời Trầnđổi lại là Phụng chỉ Thời kỳ đầu Lê sơ lúc đầu theo quan chế nhà Trần cũng đặt chức Phụng chỉ(Nguyễn Trãi từng giữ chức này) sau lại đổi là Hàn lâm đại học sĩ Dưới đó có các chức Thừa chỉ,Học sĩ, Thị giảng, Thị độc, Trực học sĩ, Tri chế cáo, Đãi chế, Hiệu khám

- Hoàng môn sảnh chỉ có chức Thị lang phụ trách Đây là cơ quan giữ bảo ấn của Vua và phụ

giúp công việc cho Môn hạ sảnh

- Nôi thị sảnh có các chức Đô tri, Chánh giám, Phó giám, Xá nhân các cục thân tuỳ.

- Ngự tiền tam cục (tức ba cục Cận thị, Chi hậu, Học sĩ), mỗi cục đều có Cục trưởng, Cục phó.

- Tam quán (tức Nho lâm quán, Sùng văn quán, Tú lâm cục) có các chức Tri quán sự, Tư

huấn, Điển nghĩa Tam quán chắc có lẽ là các trường giảng dạy cho các Nho sĩ

5.2.1.6 Các cơ quan có chức năng tư pháp, giám sát:

34 Phan Huy Chú, sđd, tr 448

35 Phan Huy Chú, sđd, tr 467

36 Đỗ Văn Ninh, Từ điển chức quan Việt Nam, NXB Thanh niên, HN, 2006, tr 548

37 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, NXB Công an nhân dân, 2003, tr 160

Trang 16

- Ngũ hình viện, theo ghi chép của Phan Huy Chú, bấy giờ trong triều có một cơ quan trông

coi việc hình án tức là cơ quan phụ trách công việc xét xử, đó là Ngũ hình viện Ngũ hình viện gồm 5viện là Thẩm hình, Tả hình, Hữu hình, Tường hình và Tư hình Có các chức quan như Lang trung,Đại phu, Viện sứ, Trị viên sự, Thiêm tri viện sự cùng Giám sát ngũ hình Không thấy tài liệu cổ ghichép cụ thể về công việc của mỗi viện trong Ngũ hình viện như thế nào

- Ngự sử đài, cơ quan này được đặt ra đầu tiên dưới thời Trần, có các chức Thị ngự sử, Trung

thừa, Phó trung thừa, Giám sát ngự sử, Chủ bạ Lê Quý Đôn cho biết: “hồi quốc sơ, theo chế độ nhà

Trần, đặt Ngự sử đài giữ việc xem xét, chấn chỉnh kỷ cương trong triều, gọi là ngôn quan; nếu có việc ngục tụng lớn, thì đặc chỉ giao cho tra hỏi, còn việc ngục tụng nào cần phải xét lại thì không giao qua Ngự sử đài…”38 Như vậy, Ngự sử đài là cơ quan giữ phong hiến, pháp độ (tức là giám sátcác chức quan và các cơ quan khác trong triều, can gián nhà vua)

5.2.1.7 Các cơ quan chuyên môn khác

- Quốc sử viện, đây là cơ quan từ thời Trần đã thành lập Việc ghi chép sử là một công việc rất

quan trọng đối với các hoàng đế Đại Việt, cho nên Quốc sử viện có nhiệm vụ ghi chép, biên soạn

những bộ chính sử của triều đình Thời kỳ này, quan phụ trách Quốc sử viện là Tu soạn

- Quốc tử giám đã xuất hiện lần đầu vào năm 1076 từ thời Lý, năm 1253 đổi làm Quốc học

viện Thời kỳ đầu Lê sơ lại cho gọi là Quốc tử giám, chức quan cao nhất của cơ quan này là Quốc tửgiám Tế tửu, dưới đó là các chức Trực giảng, Bác sĩ, Giáo thụ Quốc tử giám là trường chuyên đàotạo Nho học cho tất cả các Nho sĩ trong nước

- Thái sử viện, đứng đầu là Thái sử lệnh, dưới đó là Thái sử thừa, Linh đài lang, Thái chúc và

Chưởng lịch Thái sử viện có lẽ chỉ chức năng trông coi, xếp đặt các bài vị trong việc cúng tế trongtriều39

Nhìn chung, tổ chức chính quyền trung ương thời kỳ đầu Lê sơ vẫn còn chịu ảnh hưởng của bộmáy nhà nước thời Trần rất đậm nét, nguyên do là vì lúc đó nhà Lê mới giành được đất nước nênchưa có đủ thời gian để thực hiện những bước thay đổi lớn

5.2.2 Chính quyền địa phương

Chính quyền địa phương thời kỳ đầu Lê sơ gồm các cấp: đạo; lộ (trấn, phủ); châu; huyện và xã

5.2.2.1 Cấp đạo

Theo Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép lại vào tháng 3/1428, Lê Thái Tổ đã: “chia cả nước làm

5 đạo… Lại đặt chức Hành khiển các đạo để chia giữ sổ sách về quân, dân” 40 Như vậy, nước Đại

Việt lúc đó được chia làm 5 đạo, cụ thể: Đông đạo, Bắc đạo, Tây đạo, Nam đạo, và Trung đạo Đứngđầu đạo có quan Hành khiển phụ trách quân đội, quản lý hành chính, thu thuế, xét xử…

5.2.2.2 Cấp lộ - trấn - phủ :

Sử cũ đã nhắc đến dưới cấp đạo có các cấp như lộ, trấn, phủ Tuy nhiên, chúng ta không biết

một cách chính xác mối liên hệ giữa các cấp lộ, trấn, phủ diễn ra cụ thể như thế nào Chỉ thấy Đại

Việt sử ký toàn thư có ghi chép: “Ấn công thì do chánh quan giữ Ở các lộ thì Tri phủ giữ ấn, không

38 Lê Quý Đôn, sđd, tr 130

39 Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội,

2003, tr 160

40 Ngô Sĩ Liên, trang 293

Trang 17

có Tri phủ thì Trấn phủ giữ ấn” 41 Lịch triều hiến chương loại chí thì chép: “Triều nhà Lê đặt quan

các lộ, đặt chức Tri phủ, Đồng tri phủ, ở lộ đặt chức Tri phủ trưởng ấn Bấy giờ việc coi lộ coi phủ

có lẽ cũng như nhau”42 Theo các tác giả của giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam của

Đại học Luật Hà Nội cho rằng có lẽ lộ và phủ là cấp hành chính tương đương nhau, nên Phan HuyChú mới có nhận xét trên và tháng 6 năm 1466 Lê Thánh Tông mới đổi lộ thành phủ43

5.2.2.3 Cấp châu :

Lịch triều hiến chương loại chí có chép: “Nhà Lê lúc mới dựng nước, đặt các chức Thiêm phán, Tào vận, lại đặt các chức Phòng ngự sứ và Chiêu thảo sứ ở các châu Lại có chức Tri châu, Đại tri châu để bổ cho các tù trưởng ở ngoại phiên… Vì bấy giờ theo lệ nhà Trần, chức coi châu còn thống

cả huyện nên chức việc rất nhiều” 44

Như vậy, theo suy đoán của các tác giả Trường đại học Luật Hà Nội45 có lẽ châu là một đơn vịhành chính trên cấp huyện và dưới cấp lộ – trấn – phủ, các chức quan phụ trách ở châu là Thiêmphán, Tào vận, Phòng ngự sứ và Chiêu thảo sứ, nhưng vì hạn chế của sử liệu nên chưa biết thứ tự cácchức quan cao thấp ra sao, thống thuộc nhau thế nào, ngoài ra, các châu ở vùng xa có thêm các chứcTri châu, Đại tri châu

5.2.2.4 Cấp huyện:

Theo ghi chép của sử cũ thì thời này cấp huyện có các chức quan phụ trách như Tuần sát,Chuyển vận sứ và Chuyển vận phó sứ

5.2.2.5 Cấp xã:

Theo ghi chép trong sử cũ, vua Lê Thái Tổ đã cho “đặt xã quan, xã lớn 100 người trở lên thì

đặt 3 người, xã vừa 50 người trở lên đặt 2 người, xã nhỏ 10 người trở lên đặt 1 người” 46 Như vậy,

phụ trách xã là xã quan, việc số xã quan nhiều hay ít trong một xã sẽ tuỳ thuộc vào số lượng dân đinhtrong xã đó

5.3 Tổ chức bộ máy nhà nước giai đoạn từ Lê Thánh Tông trở về sau

Giai đoạn này bắt đầu từ khi Lê Tư Thành lên ngôi (tức Lê Thánh Tông: 1460 – 1497) và kếtthúc năm 1527 Cuộc cải cách chính quyền của Lê Thánh Tông như trong sắc dụ hiệu định quan chế,chủ yếu để tập trung tăng cường quyền lực của nhà vua và khiến cho bộ máy nhà nước hoạt độnghiệu quả hơn Đây là mục tiêu quan trọng nhất trong khâu cải cách hành chính vì chính quyền trungương là cơ quan đầu não của đất nước, có xây dựng một chính quyền trung ương vững mạnh, thể hiệnquyền lực nằm trong tay nhà vua và triều đình trung ương mới có thể thực hiện được các công việccủa triều đình, của đất nước, tạo cơ sở để triển khai các công việc xuống các địa phương Cuộc cảicách trên lĩnh vực này đã được Lê Thánh Tông tiến hành như sau:

- Trước hết, Vua trực tiếp nắm quyền chỉ đạo mọi công việc quan trọng của nhà nước cũng

như mối liên hệ với các cơ quan thừa hành, các quan chức (Tướng quốc, Đại hành khiển, Tả Hữu bộcxạ…) và các cơ quan trung gian giữa Vua và các cơ quan thừa hành (Thượng thư sảnh, Trung thưsảnh, Môn hạ sảnh, Khu mật viện) bị bãi bỏ Trường hợp cần thiết, Vua mời một số đại thần có hàm

Trang 18

Tam Thái, Tam Thiếu đến bàn bạc hoặc thay Vua giải quyết công việc.

- Khi bãi bỏ những chức quan, cơ quan làm nhiệm vụ trung gian giữa Nhà Vua với triều đình

thì Lê Thánh Tông đã phải thực hiện nguyên tắc tản quyền đó là không để tập trung quá nhiều quyềnhành vào một hay một số cơ quan mà được trao cho nhiều cơ quan, để ngăn chặn sự lạm quyền Đểthực hiện điều này Lê Thánh Tông đã tách 6 bộ (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công) ra khỏi Thượng thưsảnh để lập 6 cơ quan riêng cai quản các mặt hoạt động khác nhau của nhà nước Mỗi bộ có mộtThượng thư phụ trách, chịu trách nhiệm trước Nhà Vua Ngoài ra, Vua còn đặt 6 tự (Thượng bảo, Đại

lý, Quang lộc, Hồng lô…) phụ trách công việc phụ của 6 bộ Vua làm việc trực tiếp với 6 bộ, 6 tự và

6 khoa Một số thự, cục cấp dưới không còn nữa Bộ máy nhà nước trung ương trở nên đơn giản hơn.Mọi công việc trong triều đình phải được báo cáo trực tiếp với Vua và phải được bản thân Vua raquyết định

- Đề cao và tăng cường công tác thanh tra, giám sát quan lại bằng cách lập 6 khoa tương ứng

với 6 bộ (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công) để mỗi khoa cùng với Ngự sử đài giám sát hoạt động của bộtương ứng, đàn hặc quan lại của bộ mắc lỗi Ngay cả bộ Lại – bộ đứng đầu nhà nước và chịu tráchnhiệm thăng bổ, bãi miễn quan lại – nếu làm sai nguyên tắc cũng bị Lại khoa bắt bẻ, tố giác Lê

Thánh Tông nói: “Như thế khiến cho quan to chức lớn đều ràng buộc lấy nhau, chức trọng chức

khinh cùng kiềm chế lẫn nhau Uy quyền không bị lợi dụng, thế nước vậy là khó lay” 47

- Bỏ chế độ chỉ bổ dụng các vương hầu quý tộc vào trọng trách của triều đình Những người

được giao các trọng trách ấy phải là người đỗ đạt các kỳ thi nghiêm ngặt, dù họ thuộc bất cứ thànhphần nào trong xã hội (trừ người thuộc diện cấm thi) Các thân vương, công hầu… được ban cấpbổng lộc rất hậu, nhiều khi quyền lợi của họ lớn hơn các quan chức đại thần trong triều nhưng nếukhông có tài năng, đỗ đạt qua khoa cử Nho học thì cũng không được cử làm quan

Với các biện pháp trên, Lê Thánh Tông đã xây dựng được một thiết chế quân chủ tập trungquyền lực vào tay Nhà Vua, hạn chế sự tham chính của quý tộc hoàng tộc, loại bỏ khả năng lộngquyền của triều thần

Bộ máy nhà nước dưới thời Lê Thánh Tông được tổ chức như sau:

5.3.1 Chính quyền trung ương

Chính quyền trung ương dưới thời Lê Thánh Tông cũng giống như tất cả các triều đại phongkiến ở nước ta, nói tới chính quyền trung ương tức là nói tới triều đình Trước đó, do sự can dự quánhiều của các đại thần, khiến cho quyền lực của Vua bị sút giảm Để nắm trực tiếp quyền hành, tăngcường việc tập trung quyền lực vào tay mình, Lê Thánh Tông đã tiến hành cải tổ đối với toàn bộ bộmáy nhà nước

Các quan đại thần và Tể tướng Bỏ chức danh tể tướng; giảm số lượng quan đại thần còn 6

người Hạn chế sự tham chính của Quan đại thần Quan đại thần ít có quyền lực và giảm thiểu sự ảnhhưởng của họ trong đời sống chính trị nhà Lê

Các cơ quan có chức năng văn phòng cho nhà vua.

- Hàn lâm viện: soạn thảo văn bản cho vua và triều đình.

- Đông các viện: thẩm tra, rà soát, sửa chữa các văn bản của triều đình do Hàn lâm viện

chuyển qua, đồng thời phụ trách việc bầu cử của triều đình

47 Ngô Sĩ Liên, sđd, tr 454

Trang 19

- Hoàng môn sảnh: giữ ấn cho Nhà Vua

- Bộ Lễ: phụ trách việc lễ nghi, tế tự, thết tiệc các quan và tân khách, thi cử, học hành, đúc các

ấn tín, trông coi Tư thiên giám, Thái y viện…

- Bộ Binh: coi giữ hết các việc thuộc về binh chính, đặt quan trấn thủ nơi biên ải, tổ chức gìn

giữ các nơi hiểm yếu và ứng phó các việc khẩn cấp

- Bộ Hình: trông coi về luật lệnh, hình pháp, xét lại các việc tù đày, kiện cáo cùng các việc

nghiêm cấm

- Bộ Công: có nhiệm vụ trông coi về việc sửa chữa, xây dựng (như xây dựng cầu cống, xây

cất thành trì, cung điện…) và quản đốc thợ thuyền

5.3.1.1 Lục tự

Triều vua Lê Thánh Tông là thời kỳ đầu tiên trong bộ máy chính quyền trung ương xuất hiệnnhững cơ quan mới đảm trách những công việc cụ thể, thể hiện tính chất chuyên môn hóa, trong đóvai trò giải quyết các công việc hành chính của triều đình được chủ yếu giao cho Lục bộ, chắc chắnlúc đó công việc của Lục bộ rất nhiều, có nhiều công việc không thể đảm trách hết được Đã lườngtrước và để giải quyết vấn đề này, Nhà Vua đã cho thành lập Lục tự, Lục tự là những cơ quan thựchiện những công việc mà Lục bộ không đảm trách hết được Điều đáng lưu ý là các tự này khôngphải là những cơ quan cấp dưới trực tiếp của Lục bộ mà là cơ quan độc lập chịu sự chỉ đạo trực tiếpcủa triều đình Nói cách khác, Lục Tự là đơn vị sự nghiệp của triều đình

5.3.1.2 Các cơ quan có chức năng kiểm tra, giám sát

Bộ máy nhà nước dưới thời vua Lê Thánh Tông được đánh giá là thể hiện rất rõ tư tưởng pháptrị, đặc biệt với sự xuất hiện và thi hành một cách hiệu quả của các cơ quan giám sát trong triều cũngnhư bên ngoài, trong đó, các cơ quan kiểm tra, giám sát trong triều đình bao gồm Lục khoa và Ngự sửđài

- Lục khoa

Khi Nghi Dân tổ chức cuộc binh biến để sát hại em trai mình là Lê Nhân Tông năm 1459, nămsau Lê Nghi Dân muốn thực hiện một cuộc cải cách để thu phục nhân tâm, vì vậy, Lê Nghi Dân đãhọc tập mô hình của nhà Minh khi đó cho thành lập Lục bộ và tương ứng với Lục bộ là Lục khoa,Lục khoa khi đó gồm: Trung thư khoa, Hải khoa, Tây khoa, Đông khoa, Nam khoa, Bắc khoa Tuynhiên cuộc cải cách của Nghi Dân mới chỉ dừng lại với những tên gọi mới mà thôi

Sau khi lên ngôi vua năm 1460, Lê Thánh Tông đã tiến hành cuộc cải cách chính quyền củamình một cách mạnh mẽ, năm 1465, Lê Thánh Tông cho đổi tên gọi của Lục khoa như sau: Trungthư khoa làm Lại khoa, Hải khoa làm Hộ khoa, Đông khoa làm Lễ khoa, Nam khoa làm Binh khoa,

Trang 20

Tây khoa làm Hình khoa, Bắc khoa làm Công khoa48 Như vậy tên gọi của mỗi khoa cũng như chứcnăng giám sát của mỗi khoa tương ứng với một bộ.

Phụ trách công việc giám sát mỗi bộ là một khoa tương ứng, quan phụ trách cao nhất mỗi khoa

là quan Đô cấp sự trung với trật Chánh thất phẩm, dưới đó là quan Cấp sự trung trật Chánh bát phẩm.Lục khoa không phải là cơ quan cấp dưới trực tiếp của Lục bộ mà là cơ quan giám sát Lục bộ, báocáo trực tiếp lên Vua cho nên mặc dù quan phụ trách ở khoa tuy phẩm trật không lớn, nhưng rất cóthực quyền

- Ngự sử đài:

Ngự sử đài là cơ quan kiểm tra, giám sát tối cao với toàn bộ các chức quan, cơ quan trong triềucũng như ngoài triều Ngự sử đài dưới các triều đại phong kiến Trung Hoa là cơ quan đứng đầunhánh kiểm tra, giám sát49 các cơ quan khác trong và ngoài triều đình Ngự sử đài là ngôn quan, là taimắt của nhà vua Ngự sử đài ở Việt Nam bắt đầu có từ thời Trần Tuy vậy đến thời Lê Thánh Tôngcũng có những khác biệt nhất định, nếu như Ngự sử đài ở thời Trần do quan Ngự sử đại phu nắm giữ,thì thời kỳ này Ngự sử đài với chức quan đứng đầu là Đô ngự sử với trật Chánh tam phẩm, dưới còn

có các chức quan như Phó đô ngự sử, Thiêm đô ngự sử Ngự sử đài là cơ quan có trọng trách rất lớntrong triều Các quan trong Ngự sử đài và các quan Giám sát ngự sử đều được tuyển lựa rất kỹ càng,

ít nhất phải được thử thách ở các công việc cụ thể từ 12 năm trở lên mới được trao chức vụ

5.3.1.3 Các cơ quan chuyên môn khác:

- Thông chính sứ ty:

Tên Thông chính sứ ty có ý nghĩa mong muốn việc giải quyết công việc hành chính như nướcphải lưu thông thường xuyên Thông chính sứ ty phụ trách việc chuyển đạt công văn, giấy tờ, chỉ dụcủa Vua tới các nơi và chuyển đệ công văn từ dưới lên trên, chuyển đơn từ của dân chúng lên triềuđình50 Quan phụ trách Thông chính ty là Thông chính sứ, trật Tòng tứ phẩm Dưới đó có các chứcquan như Thông chính phó sứ, Thừa sự, Điển sự Sử học bị khảo của Đặng Xuân Bảng cho biết Lụckhoa thuộc sự quản lý của Thông chính sứ ty51

- Quốc tử giám: Là cơ quan giáo dục cao nhất nước, trường đại học của nước ta khi đó Quốc

tử giám có nhiệm vụ là trông coi Văn miếu, tổ chức, quản lý các công việc giáo dục và đào tạo sĩ tửthành những người Nho sĩ tài giỏi, có đức độ để làm quan, giúp Vua cai trị đất nước

- Quốc sử viện:

Các vua Việt Nam cũng như Trung Quốc đều rất coi trọng việc chép sử Các bộ chính sử lànhững tài liệu quan trọng lưu truyền lại cho hậu thế Hầu hết các triều đại phong kiến ở Việt Nam đềucho thành lập Quốc sử viện để soạn ra những bộ thông sử ghi chép lại hoạt động của quốc gia, củatriều đình Thời kỳ này, quan phụ trách Quốc sử viện là Tu soạn, trật Chánh bát phẩm và chức phó là

Sử quán Biên tu lục, trật Tòng bát phẩm Thời Hồng Đức, giữ chức Tu soạn chính là Ngô Sĩ Liên, tácgiả chính của Đại Việt sử ký toàn thư

- Tư thiên giám:

Trang 21

Nền nông nghiệp của nước ta lúc đó phải dựa vào âm lịch, âm lịch là loại lịch dựa theo những

kỳ trăng Ở thời kỳ này xuất hiện một cơ quan có nhiệm vụ giữ việc liệu đoán khí hậu, suy tính độmặt trời, mặt trăng và các vì tinh tú, nghiên cứu, xây dựng lịch kiêm luôn việc thiên văn, dự báo thờitiết, cơ quan đó là Tư thiên giám Quan đứng đầu Tư thiên giám là Tư thiên lệnh trật Chánh lụcphẩm, dưới đó là Tư thiên giám phó bậc Chánh thất phẩm, rồi đến Tư thiên giám ngũ quan, Tư thiêngiám tư thần lang52

- Sở đồn điền53: Đây là cơ quan có chức năng giống như Đồn điền sứ dưới thời Trần với chứcnăng phụ trách việc thành lập và quản lý các đồn điền, các làng mạc mới, góp phần tăng diện tíchcanh tác nông nghiệp Phụ trách cơ quan này là quan Đồn điền Sở sứ với trật Tòng bát phẩm và phụgiúp có quan Đồn điền Phó sứ trật Chánh cửu phẩm

- Sở tầm tang: Nghề dệt vải đóng một vai trò quan trọng khi đó, liên quan trực tiếp đến nghề

dệt là nghề trồng dâu nuôi tằm Chính vì thế Lê Thánh Tông đã cho thành lập Sở tầm tang để phụtrách việc trông coi các công việc liên quan tới trồng dâu nuôi tằm Đứng đầu cơ quan này là quanTầm tang Sở sứ trật Tòng bát phẩm và dưới đó là quan Tầm tang Phó sứ trật Chánh cửu phẩm

- Sở thực thái54: Để quản lý việc trồng rau, phát triển các loại cây lương thực, thời kỳ này còn

có Sở thực thái Đây là cơ quan giữ nhiệm vụ phụ trách việc trồng và nhân giống các loại rau và cáccây lương thực khác Phụ trách Sở thực thái là chức quan Thực thái Sở sứ, trật Chánh cửu phẩm

- Sở điền mục: Bên cạnh việc phát triển các loại cây lương thực, và phát triển việc dệt lụa tơ

tằm, Lê Thánh Tông còn cho thành lập Sở điền mục với nhiệm vụ chuyên trông coi và phát triển việcchăn nuôi các loại gia súc, gia cầm Phụ trách cơ quan này là quan Điền mục Sở sứ, trật Chánh cửuphẩm

- Ty Tinh mễ: Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư cho biết thời kỳ này có một cơ quan

là ty Tinh mễ, nhiệm vụ là trông coi việc trồng lúa.55

- Hà đê ty: theo Văn Tạo thời kỳ này còn có cơ quan là Hà đê ty với chức năng là lo việc đê

điều, trị thủy, thủy lợi trong sản xuất nông nghiệp56

5.3.2 Chính quyền địa phương

Ở địa phương, năm 1465, cùng với sự thay đổi tên gọi của Lục khoa có từ đời Nghi Dân, cácHành khiển ở 5 đạo được đổi thành ty Tuyên chính sứ, đứng đầu là Tuyên chính sứ

Trang 22

Năm 1466, Lê Thánh Tông thực hiện cải cách, xóa bỏ 5 đạo và 24 lộ có từ thời Trần, chia lạiđơn vị hành chính thành 12 đạo thừa tuyên và 1 phủ Trung đô (khu vực kinh đô Thăng Long); đếnnăm 1471 lập thêm đạo thừa tuyên thứ 13 là Quảng Nam Các thừa tuyên tương đối đồng đều nhau vềquy mô diện tích và dân số

Đứng đầu mỗi thừa tuyên đạo lúc đó gồm có hai cơ quan là Đô Tổng binh sứ ty phụ trách việccai quản quân đội và Thừa chính sứ ty phụ trách việc hành chính và tư pháp Đô tổng binh sứ ty cócác chức quan Tổng binh, Phó Tổng binh phụ trách Trước đây, đứng đầu một thừa tuyên là một viênquan Hành khiển, tới năm 1460 được đổi thành Tuyên phủ chính sứ, sau đó lại được đổi thành Thừachính sứ Phụ giúp cho Tuyên phủ chính sứ là Chức Tuyên phủ phó sứ cũng được đổi thành Thừachính phó, cùng với Thừa chính sứ quản lý và điều hành Thừa ty

Dưới đạo có phủ, rồi đến châu, huyện và xã Việc chia lại các đơn vị hành chính này chứng tỏ

sự củng cố chính quyền trung ương tập quyền, năm đạo trước kia nay chia nhỏ thành 12 đạo để thuhẹp bớt quyền hành của chính quyền địa phương Một số đơn vị trung gian như trấn và lộ bị bãi bỏ đểđơn giản hệ thống tổ chức chính quyền và đồng thời tăng sự lệ thuộc vào chính quyền trung ương.Cho tới năm 1490, cả nước bao gồm: 13 thừa tuyên đạo dưới đó có 52 phủ, 178 huyện, 50 châu,

6851 xã 57 Các cấp hành chính địa phương được sắp xếp theo vị trí lớn nhỏ như sau:

5.3.2.1 Cấp đạo

Thời kỳ đầu Lê sơ, cả nước chia thành 5 đạo, ở mỗi đạo, phụ trách mọi mặt ở đạo là quan Hànhkhiển Điều này đã khiến một số quan đã chiêu mộ binh lính riêng, quyền hành không khác gì mộtlãnh chúa Chính vì vậy, Lê Thánh Tông đã cho thực hiện việc phân chia từ 5 đạo thành 12 thừatuyên đạo, việc chia nhỏ không gì khác là để dễ quản lý và ngăn ngừa sự cát cứ, và sau năm 1471, vớichiến thắng trước quân Chăm pa, Lê Thánh Tông đã mở rộng cương vực đất nước tới tận chân đèo

Cù Mông, ông lấy vùng đất mới lập thành thừa tuyên đạo thứ 13 với tên gọi Quảng Nam Như vậy,lúc này cả nước gồm 13 thừa tuyên

Đối với các cơ quan ở cấp đạo thì Ty Tuyên chính sứ (đứng đầu là Tuyên chính sứ) được lập ra

ở các đạo từ năm 1464 để thay thế cho Hành khiển Sự kiện này đánh dấu quá trình chuyển hình thứccai quản địa phương bởi một cá nhân, hơn nữa chỉ thiên về quản lãnh quân sự sang hình thức cai quảnbằng một cơ quan có một quan chức đứng đầu và có sự phân công chức trách giữa các bộ phận trong

ty Từ năm 1467 trở về trước, mỗi thừa tuyên chỉ có hai ty: Đô ty với các chức Tổng binh sứ, Tổngbinh đồng tri, Tổng binh thiêm sự; Thừa ty với các chức Thừa chính sứ, Tham chính, Tham nghị,nhưng chức Thừa chính sứ phần nhiều do các Tổng binh kiêm giữ Đến đây, Trấn điện tướng quân LêVăn tâu rằng, Tổng binh xuất thân từ hàng võ, không hiểu chữ nghĩa mà kiêm giữ hai chức sẽ trởngại cho việc quân ngũ và việc chính trị, vậy xin từ nay chức Tổng binh chỉ nên chuyên về việc binh,còn chức Thừa chính sứ thì chọn người có văn học để sung bổ Lê Thánh Tông đã thuận theo lời tâuhợp lý đó58 Như vậy, cùng với việc xóa bỏ vai trò của các thân vương, quý tộc hoàng tộc trong việcnắm chính quyền ở Trung ương, chủ trương bỏ chế độ “độc quan” và nhất là chỉ có quan võ nắmquyền hành chính ở các địa phương chứng tỏ Lê Thánh Tông không chỉ đã thực sự coi trọng vai tròcủa quan văn mà còn nhằm xóa bỏ tình trạng “lộng quyền” dẫn đến xu hướng cát cứ, ly tâm của quanlại địa phương, đồng thời tạo ra sự thống nhất chỉ đạo từ trên xuống, gắn địa phương với trung ương

để thống nhất các mặt hoạt động của đất nước

57 Ngô Sĩ Liên, sđd, tr 507

58 Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr 503

Trang 23

Từ năm 1467, Lê Thánh Tông đã cho cải tổ việc quản lý địa phương bằng cách không chỉ traoquyền cho một cơ quan phụ trách ở một đạo, mà quyền hành được chia đều cho 3 cơ quan (sử sáchthường gọi là Tam ty) Tam ty bao gồm:

- Thừa ty phụ trách các công việc thuộc lĩnh vực hành chính, tài chính, dân sự Chức quan

đứng đầu Thừa ty là Thừa chính sứ với trật Tòng tam phẩm, chức phó là Thừa phó sứ trật Tòng tứphẩm

- Đô ty phụ trách quân sự, đứng đầu là quan Đô Tổng binh sứ trật Chánh tứ phẩm, thứ đến là

quan Phó Tổng binh trật Tòng tứ phẩm

- Hiến ty có chức năng giám sát mọi công việc trong đạo để tâu lên Vua và triều đình Lê Quý

Đôn cho biết “Thánh Tôn… đặt ty Hiến sát ở các đạo bên ngoài, trách nhiệm ty này là xét những sự

gian tà của quan, hiểu rõ nỗi u uẩn của dân, cũng không giữ việc phúc khám từ tụng”59 Đứng đầuHiến ty là quan Hiến sát sứ với trật Chánh lục phẩm, thứ đến quan Hiến sát phó sứ trật Chánh thấtphẩm

Công tác thanh tra giám sát ở các địa phương cũng được chú trọng như ở trung ương NămHồng Đức thứ 2 (1471), vua Lê Thánh Tông cho đặt chức Hiến sát sứ ở các đạo, sau lại đặt chứcGiám sát ngự sử ở 13 đạo trực thuộc Ngự sử đài làm nhiệm vụ theo dõi, giúp đỡ các Hiến ty, giám sátđàn hặc các hành vi sai trái của quan lại các thừa tuyên, phủ, huyện Giám sát ngự sử đứng đầu cơquan giám sát cấp đạo là ty Ngự sử, các ty Ngự sử không phải là cơ quan trực thuộc ở địa phương mà

nó là cơ quan trực thuộc Ngự sử đài ở triều đình Mỗi ty Ngự sử giám sát hai hoặc ba đạo

5.3.2.2 Cấp phủ

Phủ là cấp hành chính trung gian giữa cấp đạo với châu, huyện Về phạm vi thì phủ nhỏ hơntỉnh nhưng lại lớn hơn huyện thời nay60 Chức quan cao nhất trong một phủ là quan Tri phủ với trậtTòng lục phẩm, chức phó là Đồng tri phủ trật Chánh thất phẩm Chức năng chủ yếu của quan lại cấpphủ là truyền lệnh từ trên xuống cho các huyện – châu, đốc thúc và kiểm tra việc thi hành, thu nộpcác loại thuế, các lao dịch, binh dịch61

5.3.2.3 Cấp huyện – châu

Dưới cấp phủ là một cấp hành chính mà ở miền xuôi được gọi là huyện, còn ở vùng miền núiđược gọi là châu, trước thời Lê Thánh Tông ở huyện có các chức quan Tuần sát chưởng ấn, Chuyểnvận sứ, Chuyển vận phó sứ Đến thời Lê Thánh Tông đổi Chuyển vận sứ làm Tri huyện tức là ngườiđứng đầu ở huyện trật Chánh lục phẩm, chức Tuần sát đổi làm Huyện thừa Ở cấp châu chỉ có chứcTri châu, mang trật Tòng thất phẩm Chức năng của Tri huyện và Tri châu là giúp Vua cai trị và quản

lý toàn bộ nhân dân trong địa bàn của mình, khiến cho người dân ở khắp nơi đều thấm nhuần ơn mưa

móc của triều đình, như Lê Thánh Tông đã nói “đi xét trong hạt, bờ biển, chỗ nào có thể làm ruộng

được, các đê bồi ngòi cừ, chỗ nào có thể đào đắp được, cũng là chỗ nào có giống hổ lang làm hại, có

kẻ cường hào xui giục kiện tụng, phong tục điêu bạc, nhân dân đau khổ, hết thảy các việc tiện lợi nên làm, những mối tệ hại nên bỏ” 62

5.3.2.4 Cấp xã

59 Lê Quý Đôn, sđd, tr 131

60 Đào Trí Úc, Nghiên cứu hệ thống pháp luật Việt Nam thế kỷ XV- XVIII, nxb KHXH, HN, 1994, tr 127

61 Nguyễn Minh Tuấn, Tổ chức chính quyền thời kỳ phong kiến ở Việt Nam, nxb Tư pháp, HN, 2006, tr 69

62 Ngô Sĩ Liên, sđd, tr 457

Trang 24

Trong lịch sử Việt Nam kể từ khi dựng nước, vấn đề nông nghiệp – nông thôn và nông dân –tựu trung lại là vấn đề “làng xã”, luôn nổi lên hàng đầu và đóng vai trò hết sức quan trọng trên tất cảcác lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa của đất nước Đó còn là sức mạnh truyền thống vừa

có tính quốc gia, lại vừa có tính địa phương được sản sinh từ làng xã

Làng là đơn vị cư trú chính yếu của nông dân, được nhà nước phong kiến lắp ghép thành đơn vịhành chính cấp cơ sở theo kiểu “nhất xã nhất thôn” hoặc “nhất xã nhị, tam thôn”… nhằm đảm bảođược các yêu cầu về phu thuế, binh dịch Nhà nước ở tất cả các thời kỳ trước đó đều quan tâm sâu sátđến việc quản lý làng xã Đến Lê Thánh Tông, ông tiếp tục những cải cách quan trọng Mở đầu là vàonăm 1466, ông bỏ chế độ xã quan, đổi chức xã quan thành xã trưởng Đại xã dùng 5 người làm xãtrưởng, trung xã 4 người, xã nhỏ 100 hộ trở lên 2 người, xã nhỏ dưới 60 hộ một người Năm 1488,ông xuống lệnh không cho phép những người là anh em ruột, anh em con chú bác, cô cậu, dì già cùnglàm xã trưởng Đến năm 1496, quy định này được mở rộng ra những đối tượng là cháu chú cháu bác,cháu cô cháu cậu và thông gia với nhau Mục đích của việc này là nhằm ngăn chặn hiện tượng lợidụng quan hệ họ hàng, thông gia để kết bè kéo cánh, nắm giữ các chức vụ quan trọng ở làng xã, tạothành những thế lực chính trị để khống chế nông thôn

Ngoài ra, Lê Thánh Tông cũng quan tâm đến việc ngăn chặn sự thoái hóa biến chất của cácviên chức trong bộ máy làng xã, trong 24 điều giáo huấn năm 1470, trong các chỉ dụ năm 1471, 1483ông đều nhắc tới việc dùng luật pháp làm công cụ để chống lại nạn cường hào ở nông thôn, bằngviệc sẽ bị pháp luật trừng trị nếu vi phạm

Bộ máy hành chính ở xã gồm các chức: xã trưởng (xã chính), xã sử, xã tư (xã phó)

Xã trưởng là người đứng đầu bộ máy hành chính làng xã – đơn vị cấp cơ sở trong hệ thốngchính quyền nhà nước, lại cũng vừa là người đại diện cho quyền lợi và nghĩa vụ cho toàn thể dân làngtrước nhà nước, là cầu nối giữa dân làng với nhà nước

Xã trưởng có chức năng, nhiệm vụ cụ thể là thu thuế ở địa phương mình, tổ chức và chọn cácđinh tráng ở địa phương để tham gia vào đội ngũ binh lính của nhà nước, chọn thí sinh đi dự các kỳthi, giữ gìn an ninh trật tự tại địa phương, giải quyết các vụ kiện trong xã…

Việc bầu chức xã trưởng cụ thể như thế nào thì sử sách không chép rõ, chỉ biết tiêu chuẩn đểbầu chọn xã trưởng cụ thể như: phải là con nhà lương thiện, đứng tuổi từ 30 trở lên; là Giám sinh(đều theo học tại Quốc tử giám), Sinh đồ ở làng Những người có họ hàng thân thích với nhau thì chỉđược bầu một người trong số đó vào chức xã trưởng mà thôi Theo nhiều nhà nghiên cứu cho rằng,việc bầu xã trưởng dưới thời Hồng Đức thể hiện tính chất dân chủ làng xã, tuy nhiên theo lệnh nămHồng Đức thứ 25 (1494)63, và theo đạo dụ được ban hành vào năm Hồng Đức thứ 27 (1496)64 chothấy mặc dù có nhắc tới việc xã trưởng là do dân bầu ra, nhưng thực chất xã trưởng chủ yếu được cắtđặt bởi các quan phủ, huyện, đây cũng là quan điểm của Insun Yu65, có lẽ quan điểm này chính xáchơn Điều đó cho thấy với những biện pháp tăng cường kiểm soát cũng như cải tổ cấp xã như vậy,vua Lê Thánh Tông đã can thiệp sâu hơn tới cấp xã - cấp hành chính cơ sở của nhà nước Đại Việt,qua đó nhằm mục đích củng cố quyền lực tập trung của Nhà Vua, hạn chế nạn cường hào cũng nhưtình trạng cát cứ địa phương (đã khiến quyền lực nhà nước trung ương suy yếu các đời vua trước)

5.4 Kết luận

63 Viện nghiên cứu Hán nôm, sđd, tr 448

64 Viện nghiên cứu Hán nôm, sđd, tr 301

65 Insun Yu, Cấu trúc của làng xã Việt Nam ở đồng bằng Bắc bộ và mối quan hệ của nó với nhà nước thời Lê, Nghiên cứu lịch sử, số 4 năm 2000, tr 70

Trang 25

Công cuộc cải cách hành chính của Lê Thánh Tông là cuộc cải cách tương đối toàn diện từ triều

đình trung ương xuống đến làng xã Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: “Với mô hình tổ chức bộ máy

nhà nước mà Lê Thánh Tông đặt ra sau cuộc cải cách, mô hình này là mô hình tiên tiến nhất của chế

độ quân chủ phong kiến đương thời, thể hiện khá hoàn chỉnh tư tưởng chỉ đạo của Lê Thánh Tông: lớn nhỏ cùng ràng buộc nhau, nặng nhẹ cùng kiềm chế nhau, địa phương gắn với trung ương” 66

Hệ thống hành chính này phù hợp và phản ánh rõ nét trình độ phát triển kinh tế – xã hội, trình

độ dân trí của nước Đại Việt khi đó Ở thế kỷ XV, chế độ quân chủ trung ương tập quyền Đại Việt đãđạt tới một trình độ phát triển cao, điều đáng chú ý về mặt tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nướcthời kỳ này là việc tổ chức và thực hiện sự giám sát lẫn nhau giữa một số cơ quan nhà nước Như lời

nhận xét của một nhà nghiên cứu nước ngoài về bộ máy nhà nước thời Lê sơ: “Có trình độ chuyên

môn hóa cao hơn hẳn các nước khác ở vùng Đông Nam Á và thậm chí ở phương Tây thời Trung cổ cũng không biết tới một chính quyền với các cơ quan hoàn chỉnh đến như vậy”67

Dưới triều Lê, đặc biệt từ thời Lê Thánh Tông, vai trò quyền lực của nhà nước trung ương đốivới các địa phương rất to lớn Hồng Đức bản đồ – bộ bản đồ đầu tiên của nước ta được hoàn thànhdưới thời Lê Thánh Tông đã đánh dấu bước tiến to lớn trong quản lý của nhà nước trung ương Cảnước được chia thành 13 thừa tuyên đạo, có 52 phủ, 178 huyện, 50 châu, 20 hương, 36 phường, 6851

xã, 322 thôn, 637 trang, 40 sách, 40 động, 30 nguyên, 30 trường Các vùng xa như Thanh Nghệ,Thuận Hóa, Yên Bang, Tuyên Quang, Hưng Hóa đều đặt ty và thủ ngự Nhà nước trực tiếp quản lýcác địa phương thông qua hệ thống quan lại

66 Nguyễn Hoài Văn, Tư tưởng chính trị Nho giáo từ Lê Thánh Tông đến Minh Mệnh, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2002, tr 121

67 Dẫn lại theo Lê Đức Tiết, sđd, tr 105

Trang 26

CHƯƠNG VI: PHÁP LUẬT NHÀ LÊ THẾ KỶ XV - XVIII

6.1 Khái quát hoạt động xây dựng pháp luật nhà Lê

Khác với tổ chức bộ máy nhà nước, hoạt động ban hành pháp luật của nhà Lê không chỉ giớihạn trong giai đoạn Lê sơ (1428 – 1527) mà còn kéo dài suốt thời kỳ Lê trung hưng (Lê mạt) cho đếncuối thế kỷ XVIII Bởi có rất nhiều văn bản được ban hành dưới thời Lê sơ nhưng tiếp tục được hiệuđính, sửa chữa bổ sung hoặc hệ thống hóa pháp luật trên nền tảng những văn bản pháp luật đã đượcban hành dưới thời Lê sơ Nhìn chung, pháp luật nhà Lê tồn tại dưới hai hình thức cơ bản là tập quánpháp và văn bản quy phạm pháp luật Riêng hình thức tiền lệ pháp (án lệ) chưa đủ tư liệu để đi đếnkết luận có hay không hình thức tiền lệ pháp đã tồn tại hay được thừa nhận trong giai đoạn này

6.1.1 Tập quán pháp

Rất nhiều tập quán pháp được thừa nhận trong các quan hệ chính trị - xã hội hay trong đời sốngdân sự Có những tập quán pháp tiếp tục được tồn tại ở dạng bất thành văn nhưng cũng có những tậpquán pháp được pháp điển hóa và ghi nhận trong các văn bản pháp luật Trong các sinh hoạt chính trịcủa nhà Lê, các tập pháp được thừa nhận như: tập quán truyền ngôi vua (truyền tử theo dòng trưởngnam), tập quán vua Lê chúa Trịnh cùng trị vì (sử cũ gọi là chế độ cai trị lưỡng đầu), tập quán thế tập(tập ấm – cha làm quan con cái được học hành để cùng làm quan)… Trong đời sống dân sự và hônnhân – gia đình, rất nhiều tập quán phổ biến trong dân gian được thừa nhận là tập quán pháp, như tậpquán canh tác của người Việt được sử dụng trong các quan hệ vay mượn tài sản; tập quán phân biệtđẳng cấp hay trọng nam khinh nữ ít nhiều được thừa nhận trong quan hệ hôn nhân và gia đình; tậpquán phân chia và sở hữu ruộng đất hay phát canh thu tô trong quan hệ sở hữu về ruộng đất,…

6.1.2 Văn bản quy phạm pháp luật

Đây là hình thức pháp luật được sử dụng phổ biến nhất Hệ thống văn bản pháp luật thời kỳ nàykhông những nhiều về số lượng mà còn đa dạng về tên gọi cũng như phong phú về nội dung Tuynhiên, về phương diện kỹ thuật lập pháp, pháp luật nhà Lê chưa có sự phân ngành một cách rõ ràngnhư pháp luật hiện đại nhưng bước đầu đã đặt những nền tảng cơ bản cho sự phân biệt khác nhau vềmặt nội dung trong các văn bản pháp luật Cho đến nay, một số văn bản pháp luật trong thời kỳ nàycòn được lưu lại cũng đủ để minh chứng cho sự phát triển rực rỡ trong hoạt động lập pháp của nhà

Lê Cụ thể còn những văn bản sau đây:

- Lê triều hội điển: (không rõ năm ban hành) gồm hai nội dung cơ bản: quy định về các sắc

thuế và phân định thẩm quyền, vai trò của Lục bộ;

- Thiên nam dư hạ tập: (ban hành vào năm 1460 - thời vua Lê Thánh Tông dưới niên hiệu

Quang Thuận năm thứ nhất) quy định một số hành vi cấm trong quan hệ hôn nhân – gia đình; quan hệtài sản; lệ về bầu chọn xã trưởng…

- Lê triều quan chế (ban hành thời vua Lê Thánh Tông), quy định về những chế độ liên quan

đến đội ngũ quan lại, như: lương bổng, ngạch bậc, phẩm trật, chức năng, vai trò của các cơ quan,chức quan trong bộ máy nhà nước…

- Hồng Đức thiện chính thư: (ban hành dưới thời vua Lê Thánh Tông với niên hiệu Hồng

Đức), quy định một số thể lệ về tang ma, hôn nhân – gia đình,…

- Quốc triều thư khế thể thức (ban hành thời vua Lê Cung Hoàng năm 1522), đưa ra các loại

văn bản mẫu về hợp đồng, di chúc

Trang 27

- Quốc triều chiếu lệnh thiện chính (ban hành thời vua Lê Dụ Tông, năm 1706) sửa đổi, bổ

sung về cơ cấu tổ chức và thẩm quyền của Lục bộ

- Quốc triều khám tụng điều lệ (không rõ năm ban hành) quy định về trình tự thủ tục giải

quyết các vụ án về hình sự và dân sự Lần đầu tiên trong tiến trình lập pháp của đất nước ta, một vănbản luật về thủ tục (hình thức) được tách ra khỏi văn bản luật về nội dung và chỉ để quy định các giaiđoạn, quy trình áp dụng luật nội dung Sự ra đời của văn bản này không chỉ là mốc son chói lọi trongtiến trình lập pháp của nước Đại Việt xưa mà còn là sản phẩm tiêu biểu cho trình độ lập pháp củavùng Á Đông thời trung đại Bởi ngay như đất nước Trung Quốc – cái nôi của nền văn minh nhânloại, đất nước có bề dày về trình độ lập pháp cũng chưa có được sự tiến bộ này

- Lê triều hình luật (còn có tên gọi khác là Quốc triều hình luật hay Luật Hồng Đức), một sản

phẩm tiêu biểu, tiến bộ nhất trong lịch sử pháp chế của Việt Nam Về thời gian ban hành văn bản nàycòn có nhiều ý kiến khác nhau nhưng tựu chung lại nổi lên hai quan điểm:

Một là: Quốc triều hình luật bắt đầu được khởi xướng và biên soạn dưới thời vua Lê Lợi, ngay

sau khi giành lại độc lập dân tộc và sáng lập ra triều đại nhà Lê Sau đó được các vị vua Lê tiếp tụchoàn thiện, sửa đổi và người có công lớn nhất trong việc hiệu đính, bổ sung là vua Lê Thánh Tông

Hai là: vào những năm 1470, chính vua Lê Thánh Tông (dưới niên hiệu Hồng Đức năm thứ

nhất) là người khởi xướng việc biên soạn ra bộ luật này Ông tiến hành hệ thống hóa (tập hợp hóa vàpháp điển hóa) toàn bộ những văn bản pháp luật đơn lẻ đã được ban hành từ thời vua Lê Lợi và cho

ra đời bộ Quốc triều hình luật

Như vậy, mặc dù còn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau nhưng đều thống nhất ở chỗ đánh giá rấtcao vai trò, công lao to lớn của vua Lê Thánh Tông đối với bộ luật này Cũng chính vì thế, để ghinhận công lao đó nên các nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam còn gọi tập văn bản đó là Luật Hồng Đức

Về mặt bố cục, bộ Quốc triều hình luật được chia thành 6 quyển – 13 chương – 722 điều, baogồm:

Quyển 1: có hai chương Danh lệ (phần chung) gồm 49 điều; chương Vệ cấm (47 điều) quy định

về việc bảo vệ cung cấm, hoàng thành và những tội phạm liên quan

Quyển 2: có hai chương, gồm chương Vi chế (144 điều) quy định về chế độ làm việc của đội

ngũ quan lại và chương Quân chính (43 điều) quy định về luật lệ trong quân đội và những tội phạm

có liên quan

Quyển 3: gồm 3 chương: chương Hộ hôn (58 điều) quy định về các quan hệ hôn nhân – gia

đình; chương Điền sản (59 điều) quy định về sở hữu và thừa kế ruộng đất; chương Thông gian (10điều) quy định hành vi cấm trong đời sống hôn nhân và những tội phạm có liên quan

Quyển 4: có hai chương: chương Đạo tặc (54 điều) quy định về các loại tội xâm phạm sở hữu;

chương Đấu tụng quy định về các loại tội xâm phạm đến tình mạng, sức khoẻ của con người

Quyển 5: có hai chương: chương Trá nguỵ (38 điều) quy định về các loại tội liên quan đến sự

gian dối trong các quan hệ tài sản; chương Tạp luật (92 điều) quy định về những loại tội mà khôngxếp được vào những chương khác

Quyển 6: có hai chương: chương Bộ vong (13 điều) quy định về việc bắt giữ người phạm tội;

chương Đoán ngục (65 điều) quy định về về việc xử án hình sự và những tội phạm xâm phạm đếnhoạt động tư pháp

Trang 28

Như vậy, Quốc triều hình luật là bộ luật có tính tổng hợp của nhiều ngành luật khác nhau nhưng

rõ nét nhất vẫn là hình luật vì bên cạnh mỗi quy định, nhà làm luật đưa ra các biện pháp chế tài mangtính trừng trị, tức các hình phạt

6.2 Một số nội dung cơ bản của pháp luật (chủ yếu trong bộ Quốc triều hình luật)

6.2.1 Pháp luật về hình sự

6.2.1.1 Các nguyên tắc cơ bản của hình luật

- Nguyên tắc “vô luật bất hình”: (pháp luật không quy định thì không được coi là có tội và

không được áp dụng hình phạt) Điều 683 quy định “Khi luận tội phải dẫn đủ chính văn và cách thứccủa luật lệnh, không được tự ý thêm bớt tội…” Như vậy khi xét xử phải căn cứ vào những văn bảnpháp luật đã được ban hành và coi đó là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để phán quyết Quan xử ánkhông được tuỳ tiện xử án theo ý riêng của mình Điều 685 quy định: “Những sắc chế xử án của nhàvua có tính nhất thời, không phải là sắc lệnh vĩnh viễn thì không được viện dẫn sắc lệnh ấy mà xửđoán việc sau” Điều 722 quy định: “hình quan (quan toà xử án) khi định tội danh, chiểu (viện dẫn)chính điều đã có trong luật, không đựơc tự ý thêm bớt…” Mặc dù pháp luật không dành ra một điềuluật nào để quy định nguyên tắc nhưng tổng hợp các điều luật vừa trích thể hiện rất rõ quan điểm củanhà làm luật là phải lấy các văn bản pháp luật đang có hiệu lực làm cơ sở pháp lý khi xét xử hành viphạm tội Tức là chỉ bị khép vào một tội danh nào đó và khi quyết định hình phạt cho tội danh đóphải theo điều khoản cụ thể mà pháp luật đã quy định Điều 685 chia văn bản pháp luật thành hailoại: sắc lệnh có tính nhất thời (áp dụng một lần) và sắc lệnh vĩnh viễn (văn bản có hiệu lực pháp luậtlâu dài và được áp dụng nhiều lần trong đời sống), theo đó khi định tội và định khung hình phạt phảicăn cứ vào các sắc lệnh vĩnh viễn do vua ban hành Điều này có nhiều điểm giống với sự phân loạivăn bản áp dụng và văn bản quy phạm pháp luật của pháp luật hiện đại Tóm lại, với nguyên tắc “vôluật bất hình” đặt tiền đề cho nguyên tắc trong Bộ luật hình sự hiện hành ở nước ta, “chỉ người nàophạm một tội do Bộ luật này định thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự” (Điều 2 BLHS năm 1999)

- Nguyên tắc nhân đạo: những quy định của pháp luật có tính khoan hồng, nhân văn khi truy

cứu trách nhiệm hình sự Nguyên tắc này thể hiện qua một số quy định sau:

Một là: chiếu cố tức giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ, gồm:

Thứ nhất: chiếu cố theo địa vị xã hội, gồm 8 hạng người (Điều 3): nghị thân (họ hàng tôn thấtnhà vua), nghị cố (các bậc công thần, cố cựu), nghị hiền (người có đức hạnh lớn), nghị năng (người

có tài năng lớn), nghị công (những người có công lớn), nghị quý (người có tước từ nhị phẩm trở lên),nghị cần (người siêng năng, chăm chỉ) và nghị tân (quốc khách hoặc con cháu các triều đại trước), trừkhi phạm vào nhóm tội thập ác

Thứ hai: chiếu cố theo tuổi tác và người tàn tật (Điều 16) Người từ 15 tuổi trở xuống hoặc từ

70 tuổi trở lên cùng những người bị phế tật phạm tội được dùng tiền chuộc tội (trừ khi phạm vàonhóm tội thập ác sẽ do nhà vua quyết định) Theo Điều 17, còn áp dụng hiệu lực hồi tố theo hướng cólợi cho người phạm tội Nếu khi phạm tội chưa đến 15 tuổi nhưng khi quá 15 tuổi mới phát hiện hoặcphạm tội lúc chưa đến 70 tuổi nhưng sau đó (quá 70 tuổi) mới phát hiện thì vẫn cho phép dùng tiền

để chuộc tội Mức tiền chuộc tội được quy định tại Điều 21, 22

Hai là: nguyên tắc nhân đạo còn được thể hiện qua việc miễn, giảm trách nhiệm hình sự trongcác trường hợp: con cháu chịu tội thay cho ông, bà; tội phạm ra đầu thú, tự thú; các dịp ân xá ngườiphạm tội; không thi hành án đối với phụ nữ đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 100 ngày tuổi(Điều 680)…

Ngày đăng: 15/09/2019, 10:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w