CÂU HỎI ĐỀ CƯƠNG, XÂY DỰNG ĐẢNG, CÓ ĐÁP ÁN
Trang 1cơ bản, bao trùm, có tính nguyên tắc đối với các Đảng cộng sản Đối với Đảng cộng sản Việt Nam trong suốt 85 năm lịch sử kể
từ khi ra đời cho đến nay Đảng ta luôn khẳng định: Đảng mang bản chất của giai cấp công nhân, là đại biểu trung thành củanhân dân lao động và cả dân tộc
1 Bản chất giai cấp của Đảng ta theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta ngay từ ngày đầu thành lập đã xác định bản chất giai cấp công nhân là vấn đề cơ bảncủa học thuyết Mác-Lênin về đảng cộng sản, nó là vấn đề cốt lõi trong xây dựng đảng Theo kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin về đảng cộng sản, thì đảng cộng sản là đảng của giai cấp vô sản, đấu tranh cho quyền lợi của giai cấp nước mình và toàn
bộ giai cấp vô sản thế giới Đảng cộng sản là đội tiên phong của giai cấp vô sản đấu tranh lật đổ sự thống trị của giai cấp tưsản, giành lấy chính quyền về tay giai cấp vô sản Vận dụng sáng tạo luận điểm đó, Hồ Chí Minh đã kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước cùng với những tiền đề khác để hình thành Đảng cộng sản Việt Nam.Người còn đi đến kết luận: Đảng cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là đảng của dân tộc Việt Nam.Trong bản báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (tháng 2 năm 1951) Người tiếp tục khẳng định:
"Trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của dân tộc là một Chính vì Đảng Lao độngViệt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam.” Năm 1961luận điểm sáng tạo đó được Người nhắc lại: “Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư, thiên
vị ” Luận điểm đó đã định hướng việc xây dựng Đảng của giai cấp công nhân gắn bó máu thịt với nhân dân lao động và toànthể dân tộc trong mọi giai đoạn, mọi thời kỳ của cách mạng Việt Nam
2 Bản chất giai cấp của Đảng, cách thức nhìn nhận trong quá trình lịch sử
Đảng ta ra đời từ một nước nông nghiệp lạc hậu, trong thời kỳ đầu giai công nhân còn nhỏ bé do đó việc xây dựngĐảng theo bản chất của giai cấp công nhân là cực kỳ quan trọng Ngày nay khi giai cấp công nhân đã đông đảo và lớn mạnh,đất nước đang tiến hành xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, mở cửa với thế giớibên ngoài Mặt trái của cơ chế thị trường với những nhân tố tiêu cực đang từng ngày, từng giờ tác động lên các cán bộ, đảngviên Đi kèm với đó là hoạt động tuyên truyền, kích động chống phá Đảng, Nhà nước, chống lại sự nghiệp cách mạng của nhândân ta Điều đó đang hối thúc việc giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao giờhết Trước đây trong nhận thức không ít người đã đồng nhất vấn đề bản chất giai cấp của Đảng với việc trả lời câu hỏi Đảngcủa ai? Do đó nảy sinh không ít ý kiến khác nhau Có người cho rằng Đảng cộng sản dứt khoát phải là đảng của giai cấp côngnhân, mang bản chất của giai cấp công nhân Tuy nhiên nhiều người lại có suy nghĩ khác họ cho rằng ở Việt Nam giai cấpcông nhân còn ít ỏi, thành phần xuất thân của đảng viên là công nhân chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong tổng số đảng viên củaĐảng Hơn nữa kể từ khi thành lập đến nay Đảng luôn được nhân dân lao động và toàn dân tộc thừa nhận là lực lượng lãnhđạo, là đại diện cho nhân dân cả nước, nếu nói Đảng ta chỉ là Đảng của giai cấp công nhân xem ra không đúng, không phù hợpvới thực tế Việt Nam Điều này sẽ dẫn đến một thực trạng đó là sự chia rẽ, cô lập khó tập hợp lực lượng của cả nước trong thời
kỳ chiến tranh cũng như công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Về vấn đề này Đảng ta khẳng định: về bản chất thì Đảng tamang bản chất của giai cấp công nhân, song về mặt lợi ích với tư cách là lực lượng lãnh đạo cách mạng thì Đảng ta là của nhândân lao động và cả dân tộc chứ không phải của riêng giai cấp công nhân Cho nên Điều lệ Đảng (đã được thông qua tại Đại hộiVIII) ghi rõ: “Đảng cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành cho lợi ích củagiai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc” Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là lãnh tụ chính trị của giai cấp côngnhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Đảng là sản phẩm kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân vàphong trào yêu nước Đây là nét đặc thù của Đảng ta Nhưng dù có thế nào đi chăng nữa thì nó cũng không nằm ngoài nguyênlý: một giai cấp có thể có nhiều đảng, song mỗi chính đảng bao giờ cũng mang bản chất của một giai cấp nhất định Tức làphải đứng trên lập trường của một giai cấp, quan điểm của một giai cấp để thực hiện lý tưởng của giai cấp, theo hệ tư tưởngcủa một giai cấp Tại Đại hội II (1951) Đảng ta đổi tên thành Đảng Lao động Việt Nam nhưng bản chất vẫn không hề thay đổi.Đảng vẫn phấn đấu, rèn luyện theo lập trường, quan điểm của giai cấp công nhân, thực hiện lý tưởng xã hội chủ nghĩa, lấy chủnghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động Khi nói Đảng ta là đảng của giai cấp đồng thời làđảng của dân tộc không có nghĩa là không thấy rõ bản chất giai cấp của Đảng Đảng cộng sản Việt Nam mang bản chất củagiai cấp công nhân, giai cấp đã sớm nhận thức được sứ mệnh lịch sử của mình đó là lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng đi tớithắng lợi cuối cùng Không chỉ dừng lại ở việc đấu tranh lật đổ bọn đế quốc, thực dân, phong kiến giành chính quyền về taynhân dân mà còn phải tiến hành sự nghiệp xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội đó là mục tiêu tương lai, lâu dài cho giai cấpcông nhân trong sứ mệnh của mình Ở nước ta tuy rằng giai cấp nông dân là giai cấp chiếm số đông trong dân cư và họ có mộttinh thần cách mạng rất cao, song do tính phân tán của một nền sản xuất nhỏ lẻ, tư tưởng tư hữu làm cho giai cấp nông dânkhông thể là lực lượng lãnh đạo được Vì vậy chỉ có giai cấp công nhân đại diện cho một nền sản xuất tiến bộ, nền sản xuấtcông nghiệp và được vũ trang bằng hệ tư tưởng sắc bén của chủ nghĩa Mác-Lênin mới có thể đảm đương được vai trò lãnh đạo.Đối với các giai tầng xã hội khác càng không thể đảm đương được, điều này đã được nhận thấy từ rất sớm và được thực tiễnđất nước kiểm nghiệm
Trang 2Với tư cách một chính đảng thực sự thì không thể mang bản chất của nhiều giai cấp được Còn khi đã là một chínhđảng mà lại cho rằng đảng của nhân dân lao động và dân tộc cả về bản chất giai cấp sẽ làm biến mất chất đảng, đảng khôngcòn là lãnh tụ chính trị nữa, không còn là đội tiên phong nữa Nhưng xét từ khía cạnh khác về mặt lợi ích với tư cách là ngườiđại diện, Đảng cộng sản Việt Nam đã và đang đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc.Dưới sự lãnh đạo của Đảng lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc là thống nhất Đảng là đại diện cholợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc không chỉ trước mắt mà cả tương lai lâu dài Đó không phải chỉriêng là sách lược mà còn là mục đích là lý tưởng của Đảng Phải phân tích đầy đủ cả hai khía cạnh trên chúng ta mới tránhđược nhận thức mơ hồ, lẫn lộn bản chất giai cấp của Đảng Phê phán những quan điểm sai lầm không thấy rõ vai trò và sứmệnh lịch sử của giai cấp công nhân hoặc chỉ thiên về liên minh công nông mà không thấy được vai trò của các tầng lớp, giaicấp khác cùng với liên minh công nông tạo thành sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Chúng ta cần phải hiểumột cách thống nhất rằng bản chất của giai cấp công nhân không phải là do số lượng đảng viên xuất thân từ công nhân quyếtđịnh, mà cái quyết định ở đây là nền tảng tư tưởng của Đảng Đảng có nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác-Lênin, mục tiêuđường lối của Đảng là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giảiphóng con người
3 Vấn đề giữ vững bản chất giai cấp của Đảng trong công tác xây dựng Đảng hiện nay
Tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV(năm 1976) của Đảng, Đảng ta đã khẳng định bài học quan trọng nhất về xâydựng đảng là bài học về tính giai cấp của Đảng, và tính tiên phong của Đảng Mặc dù ra đời từ một nước lạc hậu, đảng viênxuất thân từ thành phần công nhân còn ít ỏi, nhưng nhờ phát huy được bản chất của giai cấp công nhân nên đảng ta đã trởthành đội ngũ kiên cường trong phong trào cộng sản quốc tế Từ khi hòa bình thống đến nay Đảng ta đã lãnh đạo nhân dânvượt qua nhiều khó khăn, thử thách trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đặc biệt là bản chất giai cấp công nhân củaĐảng được thể hiện rất rõ ở những bước ngoặt của cách mạng ở những thời điểm khó khăn phức tạp Việc Đảng ta khởi xướng
và lãnh đạo thành cuộc đổi mới là một ví dụ điển hình Thực tiễn đổi mới hơn hai mươi năm qua đã thể hiện rõ bản chất giaicấp công nhân của Đảng ta, bộc lộ những ưu điểm và cả những tồn tại, hạn chế
Hiện nay nước ta đang trong quá trình đổi mới và xây dựng nền kinh tế thị trường, số đông đảng viên vẫn phát huyđược bản chất của giai cấp công nhân, bên cạnh đó đã có một bộ phận cán bộ đảng viên chạy theo lợi ích cá nhân, lấy đồngtiền làm lẽ sống, phai nhạt lý tưởng, tham nhũng suy đồi đạo đức lối sống Từ khi Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền cho đếnnay, đã có nhiều đảng viên được Đảng giới thiệu và được nhân dân bầu hoặc bổ nhiệm để nắm quyền lực nhà nước Trong khi
số đông đảng viên vẫn nêu cao ý thức trách nhiệm trước dân, trước Đảng thì một phần nhỏ cán bộ đảng viên có ý thức xâydựng Đảng rất kém, muốn thoát li khỏi sự lãnh đạo của Đảng, coi thường sự lãnh đạo của tổ chức Đảng,quan liêu xa dân, sáchnhiễu dân Các biểu hiện suy thoái về đạo đức, tác phong, lối sống làm mất bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong,gương mẫu của một bộ phận đảng viên trong những năm gần đây có dấu hiệu nặng nề hơn Mặc dù chúng ta đã nói nhiều đếnđiều này song phân tích mổ xẻ nguyên nhân của tình trạng đó chưa sâu và chưa thống nhất, còn nhiều quan điểm trái ngượcnhau Có nhiều ý kiến cho rằng thế hệ đảng viên đầu tiên là thế hệ đánh Pháp,đánh Mỹ thể hiện rõ nhất bản chất của giai cấpcông nhân Nhưng thế hệ Đảng viên mới có biểu hiện suy thoái, không có bản chất của giai cấp công nhân, điều đó có đúnghay không? Vì sao bản chất giai cấp công nhân của một bộ phận đảng viên sau chiến tranh, nhất là trong công cuộc đổi mới lạitrở nên sa sút đến vậy? Ở đây có những nguyên nhân chủ quan và khách quan tác động qua lại rất phức tạp Tuy nhiên đứngtrước những nguy cơ và thách thức từ bên trong lẫn bên ngoài đã và đang đòi hỏi Đảng ta phải phấn đấu hơn nữa, nâng cao bảnlĩnh và sức chiến đấu của Đảng Quán triệt tốt cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, để giữ vững và phát huy hơn nữabản chất giai cấp công nhân của Đảng
Mặc dù mang bản chất của giai cấp công nhân, nhưng Đảng ta nguyện phấn đấu suốt đời cho lợi ích không phải chỉriêng cho giai cấp công nhân mà cho toàn bộ nhân dân lao động và cả dân tộc Đảng viên của Đảng là những người con ưu túcủa đất nước này không phân biệt thành phần, địa vị miễn là họ phải chung một mục đích, một lý tưởng của Đảng, đem hết sứcmình ra để dựng xây Tổ Quốc Họ phải giác ngộ lý tưởng của Đảng, phấn đấu, rèn luyện để mang bản chất của giai cấp côngnhân Vấn đề bản chất giai cấp của Đảng là vấn đề phức tạp và rất bức thiết nhất là trong giai đoạn hiện nay Vì vậy nó cầnđược nhận thức đúng đắn để cho Đảng ta tiếp tục vững bước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam xã hộichủ nghĩa
Câu 2 (4 điểm): Đồng chí hãy làm rõ vai trò, ý nghĩa của các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay?
Là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã xây dựng và rèn luyện Đảng Cộng sản thành một đảngcách mạng chân chính, bộ tham mưu sáng suốt và kiên cường của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam, để lãnh đạo nhândân tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội Trongnhững di sản tư tưởng mà Người để lại, những luận điểm của Người về Đảng Cộng sản, về xây dựng Đảng, đặc biệt là nhữngnguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam là một phần vô cùng quan trọng Chính nhờ những luận điểm rõràng, sáng rõ của Hồ Chí Minh về vấn đề này đã góp phần xây dựng và củng cố Đảng, làm cho Đảng thật sự trong sạch vữngmạnh, xứng đáng là lực lượng chính trị lãnh đạo toàn xã hội Thấy được vai trò lớn lao đó, trong bài tập này nhóm em xin đượctrình bày vấn đề: “Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh”
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, có 5 nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam, bao gồm:
- Nguyên tắc tập trung dân chủ
- Nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách
- Nguyên tắc tự phê bình và phê bình
- Nguyên tắc kỉ luật nghiêm minh và tự giác
- Đoàn kết thống nhất trong Đảng
1 Tập trung dân chủ.
Trang 3Đây là nguyên tắc tổ chức của Đảng, nguyên tắc cơ bản nhất để xây dựng Đảng Cộng sản thành một tổ chức chiến
đấu chặt chẽ, vừa phát huy sức mạnh của mỗi người lại vừa phát huy sức mạnh của cả tổ chức Đảng
Trong nguyên tắc này, dân chủ và tập trung là hai mặt có quan hệ gắn bó và thống nhất với nhau Dân chủ để đi đếntập trung, là cơ sở của tập trung, chứ không phải là dân chủ tuỳ tiện, phân tán, vô tổ chức Tập trung là tập trung trên cơ sở dânchủ, chứ không phải tập trung quan liêu theo kiểu độc đoán chuyên quyền Trong đó:
Về tập trung, Người nhấn mạnh phải thống nhất về tư tưởng, tổ chức, hành động Do đó, thiểu số phải phục tùng đa số,cấp dưới phục tùng cấp trên, mọi đảng viên phải chấp hành vô điều kiện nghị quyết của Đảng Từ đó làm cho “Đảng ta tuynhiều người, nhưng khi tiến hành thì chỉ như một người”
Còn dân chủ, như Người đã phân tích, đó là “của quý báu nhất của nhân dân”, là thành quả của cách mạng Người đãviết: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ýkiến của mình, góp phần tìm ra chân lí Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người.” Khi mọi người đã phátbiểu ý kiến, đã tìm thấy chân lí, lúc đó quyền tự do tư tưởng hoá ra quyền tự do phục tùng chân lí Đồng thời, Người luôn nhấnmạnh sự cần thiết phải thực hiện và phát huy dân chủ trong nội bộ Đảng và trong nội bộ các tổ chức chính trị xã hội
2 Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.
Theo Hồ Chí Minh, đây là nguyên tắc lãnh đạo của Đảng.
Vì sao cần phải có tập thể lãnh đạo?
Vì một người dù khôn ngoan, tài giỏi đến mấy, dù có nhiều kinh nghiệm đến đâu cũng chỉ trông thấy, chỉ xem xétđược một hoặc nhiều mặt của một vấn đề, không thể trông thấy và xem xét tất cả mọi mặt của một vấn đề Do đó, cần phải cónhiều người Nhiều người sẽ có nhiều kinh nghiệm, người thấy rõ mặt này, người thấy rõ mặt kia của vấn đề đó Nhờ đó, mọimặt của vấn đề đều được xem xét, vấn đề mới được giải quyết chu đáo, khỏi sai lầm
Từ đó, có thể thấy vai trò lãnh đạo tập thể là rất lớn Chỉ có lãnh đạo tập thể mới huy động được toàn bộ trí tuệ của độitiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động chiến đấu vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủnghĩa xã hội ở Việt Nam Đồng thời, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đưa đến các tệ bao biện, độcđoán, chủ quan kết quả là hỏng việc”
Tuy nhiên, tập thể lãnh đạo mới chỉ là một vế của nguyên tắc Người cho rằng: “Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ tráchcần phải luôn đi đôi với nhau”
Vì sao cần phải cá nhân phụ trách?
Trong công tác xây dựng Đảng, trách nhiệm của cá nhân được đề cao Tập thể là do nhiều cá nhân hợp thành trong một
tổ chức nhất định Mỗi người cộng sản là một chiến sĩ đấu tranh cho mục tiêu chính trị của Đảng, do vậy không thể nấp saubình phong của “chủ nghĩa tập thể dựa dẫm ỷ lại” Việc gì đã được đông đảo người bàn bạc kĩ lưỡng rồi, kế hoạch định rõ rồithì cần phải giao cho người hoặc một nhóm ít người phụ trách theo kế hoạch đó mà thi hành Nếu không cho cá nhân phụ trách,thì sẽ sinh ra tệ người này ỷ lại người kia, kết quả là không ai thi hành.Vì thế, Hồ Chí Minh đã nhận định: “Phụ trách không do
cá nhân, thì sẽ đi đến cái tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ Kết quả cũng là hỏng việc”
Đó cũng là vũ khí để nâng cao trình độ lãnh đạo của Đảng, để Đảng làm tròn sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, làm tròn tráchnhiệm trước giai cấp và dân tộc…
Người đã thẳng thắn vạch rõ: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng Một Đảng có ganthừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu là có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó,rồi tìm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”
Tự phê bình và phê bình vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật, muốn thực hiện tốt nguyên tắc này, đòi hỏi mỗi ngườiphải trung thực, chân thành với bản thân mình cũng như với người khác, “phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau” Người
đã phê phán những thái độ lệch lạc, sai trái thường xảy ra trong tự phê bình và phê bình như thiếu trung thực, che giấu khuyếtđiểm của bản thân, sợ phê bình, không dám phê bình, dĩ hoà vi quý, hoặc ngược lại lợi dụng phê bình để nói xấu, bôi nhọ, đảkích người khác…
4 Nguyên tắc kỉ luật nghiêm minh và tự giác.
Cùng với nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc kỉ luật nghiêm minh và tự giác làm cho Đảng thực sự là một tổchức chiến đấu chặt chẽ để giành thắng lợi cho sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Người đặc biệt coi trọng việc xây dựng một kỉ luật nghiêm minh và tự giác trong Đảng để tạo nên sức mạnh to lớn củaĐảng Trước hết, nghiêm minh là nguyên tắc thuộc về tổ chức Đảng, vì đó là kỉ luật đối với mọi cán bộ, Đảng viên, khôngphân biệt cán bộ lãnh đạo cao hay thấp, là cán bộ lãnh đạo hay đảng viên thường, mọi cán bộ, Đảng viên đều bình đẳng trước
kỉ luật của Đảng Tự giác thuộc về mỗi cá nhân cán bộ, đảng viên đối với Đảng, một tổ chức của những người tự nguyện đứngtrong hàng ngũ để cùng chiến đấu cho độc lập dân tộc và cho chủ nghĩa xã hội Nếu việc vào Đảng không phải là việc ép buộcđối với bất cứ đảng viên nào, thì việc tuân thủ kỉ luật của Đảng cũng như vậy, đúng như Hồ Chí Minh đã nói: “kỉ luật này là dolòng tự giác của đảng viên về nhiệm vụ của họ đối với Đảng”
Yêu cầu cao nhất của kỷ luật Đảng là chấp hành các chủ trương, Nghị quyết của Đảng và tuân thủ các nguyên tắc tổchức, lãnh đạo và sinh hoạt đảng, các nguyên tắc xây dựng Đảng Từ việc phải tuân thủ kỉ luật của Đảng, mỗi đảng viên dù ởcương vị nào, mỗi cấp ủy dù ở cấp bộ nào cũng phải nghiêm túc chấp hành kỷ luật của các đoàn thể và pháp luật của nhà nước,tuyệt đối không ai được cho phép mình coi thường, thậm chí đứng trên tất cả Ý thức kỉ luật đó là ý thức Đảng của giai cấpcông nhân Việc đề cao ý thức kỉ luật đó đối với mọi cán bộ, đảng viên từ trên xuống dưới làm tăng thêm uy tín của Đảng;
Trang 4ngược lại ý thức kỉ luật xuống thấp, nếu cán bộ, đảng viên có nhiều vi phạm kỉ cương phép nước, tự cho mình là người lãnhđạo, coi thường kỉ luật của các đoàn thể nhân dân, thì uy tín của Đảng giảm thấp, càng dẫn tới nhiều nguy cơ cho Đảng.
5 Nguyên tắc đoàn kết thống nhất trong Đảng.
Có thể nói đây là nguyên tắc quan trọng của Đảng kiểu mới của Lênin Trong cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài giankhổ, toàn Đảng phải đoàn kết thành một khối vững chắc, toàn Đảng phải đoàn kết thành một khối vững chắc, phải thống nhất ýchí và hành động trong toàn Đảng, mọi Đảng viên phải bảo vệ sự đoàn kết thống nhất của Đảng như bảo vệ con ngươi củachính mắt mình
Việc xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong Đảng cũng như khối đại đoàn kết toàn dân luôn được Hồ Chí Minh đặcbiệt quan tâm Bởi lẽ, việc xây dựng khối đoàn kết trong Đảng làm nòng cốt cho việc xây dựng sự đoàn kết thống nhất trongnhân dân Tư tưởng đoàn kết toàn dân là tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh Quán triệt tư tưởng này, suốt tiến trình cách mạngViệt Nam, Đảng và nhân dân ta đã xây dựng nên khối đoàn kết vững chắc, đảm bảo cho việc giành được những thắng lợi ngàycàng to lớn hơn
Cơ sở để xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong Đảng chính là đường lối, quan điểm và Điều lệ Đảng Ngày nay, tìnhhình thế giới và trong nước phát triển phức tạp, nhiệm vụ của Đảng ngày càng nặng nề, thực tế này đòi hỏi Đảng phải củng cố
và tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong toàn Đảng, nhất là đối với cán bộ lãnh đạo có ảnh hưởng đến sự thống nhất củanhiều cán bộ đảng viên, đến toàn đảng
Để xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, Người thường nêu những yêu cầu như: phải thực hiện và mở rộngdân chủ nội bộ cán bộ đảng viên có thể tham gia bàn bạc đến nơi đến chốn những vấn đề hệ trọng của Đảng, phải thườngxuyên thực hiện tự phê bình và phê bình với tinh thần trung thực, chân thành, thẳng thắn, tự nghiêm khắc với mình và có tìnhyêu thương đồng chí…
Không chỉ trong giai đoạn đấu tranh giành độc lập đất nước, mà cho đến ngày nay, khi đất nước đã bước qua muônvàn khó khăn và đang đứng trước những thách thức mới của nhân loại, năm nguyên tắc trên vẫn giữ nguyên vị trí của nó trongquá trình tổ chức và hoạt động của Đảng
Tuy nhiên, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, mỗi nguyên tắc lại giữ vai trò khác nhau trong quá trình hoạt động và tổ chức
Đảng Giữ vai trò quan trọng và cơ bản nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ Như trên đã đề cập, đây được coi là nguyên tắc
tổ chức của Đảng Sở dĩ nó được đánh giá là nguyên tắc cơ bản vì: nó là nguyên tắc làm nên tổ chức có tính kỉ luật chặt chẽ, nóloại trừ được sự chia rẽ bè phái, đảm bảo được tập trung thống nhất tạo nên sức mạnh của Đảng Nếu nguyên tắc này khôngđược đảm bảo thì Đảng sẽ không thể trở thành tổ chức đoàn kết thống nhất, rất dễ dẫn đến tình trạng lỏng lẻo, vô tổ chức, hoặctình trạng độc đoán, chuyên quyền Có thể thấy, thực tế này đã xảy ra ở Trung Quốc, dưới thời Chủ tịch Mao Trạch Đông,trong quá trình xây dựng đất nước, Trung Quốc phải trả giá khá đắt bằng tính mạng của gần 60 triệu người dân Trung Quốc,bắt đầu từ sai lầm, chia rẽ trong nội bộ Đảng và đường lối lãnh đạo Đồng thời nguyên tắc này thể hiện tinh thần chuyên chínhcủa Đảng, phản ánh đúng bản chất của giai cấp công nhân Kết hợp đồng bộ với các nguyên tắc khác, nguyên tắc tập trung dânchủ giúp cho Đảng ngày một hoàn thiện và giữ vững vị trí lãnh đạo đất nước trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Các nguyên tắc này có mối liên hệ mật thiết với nhau trong một hệ thống nhất định, khi nghiên cứu các nguyên tắc cầnphải có cái nhìn tổng thể và khái quát, ví dụ: khi liên hệ giữa vấn đề dân chủ tập trung với tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách,Người đã có một sự giải thích rất mới mẻ: “Tập thể lãnh đạo là dân chủ Cá nhân phụ trách là tập trung Tập thể lãnh đạo, cánhân phụ trách, tức là dân chủ tập trung” Hoặc, để nhấn mạnh vai trò của nguyên tắc tự phê bình và phê bình, Người đã nhấnmạnh: “Muốn đoàn kết chặt chẽ trong Đảng, ắt phải thống nhất tư tưởng, mở rộng dân chủ nội bộ, mở rộng tự phê bình và phê
bình”… Như vậy, nguyên tắc phê bình và tự phê bình là nguyên tắc sinh hoạt của Đảng, nó là cơ sở để có thể thực hiện các
nguyên tắc khác như: nguyên tắc đoàn kết thống nhất trong Đảng, kỉ luật nghiêm minh và tự giác…
Thực tế lịch sử đã chứng minh, từ khi ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam được trang bị lí luận khoa học, cách mạng củaChủ nghĩa Mác - Lênin và đặc biệt được xây dựng theo những nguyên tắc Đảng kiểu mới của giai cấp vô sản, theo tư tưởng HồChí Minh, Đảng đã có đủ khả năng phân tích đúng đắn những đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội, các giai cấp, tầng lớp… từ đó
có thể trở thành nhân tố quyết định hàng đầu đưa Việt Nam đến thắng lợi cuối cùng trong sự nghiệp xây dựng mới Nói cáchkhác, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có đủ khả năng để đề ra đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, đoàn kết, tập hợpcác tầng lớp nhân dân tham gia bảo vệ, xây dựng đất nước Không phải chỉ trong quá trình làm cách mạng giải phóng dân tộc,
mà cho đến ngày nay, đất nước hoàn toàn thống nhất, trải qua 85 năm hoàn thiện và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam chưakhi nào rời xa các nguyên tắc hoạt động và tổ chức Đảng Có thể nói khi nào còn chủ nghĩa xã hội, còn Đảng Cộng sản lãnhđạo thì khi đó năm nguyên tắc trên vẫn là kim chỉ nam dẫn dắt quá trình hoạt động và tổ chức của Đảng
Câu 3 (4 điểm): Đồng chí hãy nêu tính cấp thiết phải tăng cường công tác tư tưởng trong giai đoạn hiện nay?
Xây dựng Đảng là hoạt động xây dựng Đảng về mặt trí tuệ, tư tưởng và chính trị, là công tác cách mạng trên lĩnh vực ýthức của con người, là làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh thấm nhuần trong Đảng và giữ vị trí chủ đạotrong đời sống tinh thần xã hội
Công tác xây dựng Đảng về tư tưởng có ý nghĩa, vai trò to lớn, là một bộ phận cấu thành đặc biệt trong toàn bộ hoạtđộng của Đảng Thực tiễn lịch sử 80 năm qua đã chứng minh được điều này Từ khi Đảng ra đời cho đến nay công tác tư tưởng
đã góp phần quan trọng trong sự thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đi lên xây dựngXHCN
Trong tình hình hiện nay, công tác tư tưởng của Đảng có vai trò đặc biệt quan trọng:
+ Tăng cường sự nhất trí tư tưởng trong Đảng, sự thống nhất về chính trị và tinh thần trong nhân dân, nâng cao
ý chí phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, đấu tranh chống diễn biến hoà bình, giữ vững trận địa tư tưởng XHCN,bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác- lênin và tư tưởng HCM, thúc đẩy mạnh mẽ phong trào cách mạng của nhân dân
+ Cung cấp luận cứ khoa học cho việc cụ thể hoá và phát triển đường lối chính sách của Đảng và nhà nước trong thời
kỳ mới phù hợp với đặc điểm nước ta và thế giới ngày nay
Trang 5Thành tựu đáng quý nhất của công tác tư tưởng trong giai đoạn này là trực tiếp góp phần hình thành, xác định và pháttriển đường lối đổi mới, chú trọng tổng kết các sáng kiến của nhân dân để khẳng định, cổ vũ và đưa vào cuộc sống, củng cốniềm tin, lý tưởng ngay cả khi cách mạng gặp nhiều khó khăn, khơi dậy sức mạnh sáng tạo của nhân dân, tạo nên sức mạnhtổng hợp đưa đất nước vượt qua nhiều thử thách, lập được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.
Công tác xây dựng Đảng về tư tưởng có ý nghĩa, vai trò to lớn, là một bộ phận cấu thành đặc biệt trong toàn bộ hoạtđộng của Đảng, thực tiễn lịch sử 85 năm qua đã chứng minh được điều này Từ khi Đảng ra đời cho đến nay, công tác tư tưởng
đã góp phần quan trọng trong sự thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đi lên xây dựngCNXH Trong tình hình hiện nay, công tác tư tưởng của Đảng có vai trò đặc biệt quan trọng:
Nghị quyết Trung ương 5 khóa X về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí chỉ rõ: Công tác tư tưởng là một bộ phận cấuthành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng; là lĩnh vực trọng yêu để xây dựng, bồi đắp nền tảng chính trị củachế độ; có vai trò đi trước, mở đường trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN; đóng vai trò quan trọng trong việcbảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng; làm cho hệ tư tưởngcủa Đảng, những giá trị tốt đẹp truyền thống, những tin hoa văn hóa thế giới chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xãhội Cụ thể:
- Xác lập, truyền bá và phát triển hệ tư tưởng của Đảng, góp phần hình thành bản chất giai cấp công nhân, tính tiênphong của Đảng Bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong của Đảng không tự nhiên mà có, do đó phải tiến hành tốtcông tác tư tưởng Hệ tư tưởng là căn cứ lý luận, giúp Đảng có cơ sở khoa học để hoạch định đường lối, chính sách đúng đắntrong thời kỳ mới, phù hợp với đặc điểm nước ta và thế giới ngày nay Hệ tư tưởng thẩm thấu, góp phần giáo dục, nâng cao lậptrường quan điểm, giai cấp công nhân cho đảng viên
- Góp phần xây dựng và hoàn thiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước
- Góp phần hình thành con người mới, con người XHCN Đó là con người có tư tưởng đúng, tình cảm đẹp, biết làmchủ bản thân, tự nhiên và xã hội, có ý thức bản lĩnh
- Nâng cao kiến thức, trình độ trí tuệ, bồi dưỡng ý chí, tình cảm, lối sống tốt đẹp cho con người Việt Nam
- Công tác tư tưởng là một phương thức thực hiện dân chủ XHCN, là vũ khí sắc bén tấn công lại sự phá hoại của cácthế lực thù địch trên trận địa tư tưởng, lý luận và văn hóa
- Công tác tư tưởng góp phần trực tiếp vào việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, giáo dục, rènluyện đội ngũ cán bộ, Đảng viên của Đảng và là phương thức quan trọng để thiết lập và tăng cường mối quan hệ máu thịt giữađảng và nhân dân
- Cung cấp luận cứ khoa học cho việc cụ thể hóa và phát triển chính sách của Đảng và nhà nước
Tuy nhiên, thành tựu đáng quý nhất của công tác tư tưởng trong giai đoạn hiện nay là trực tiếp góp phần hình thành,xác định và phát triển đường lối đổi mới, chú trọng tổng kết các sáng kiến của nhân dân để khẳng định, cổ vũ và đưa vào cuộcsống, củng cố niềm tin, lý tưởng ngay cả khi cách mạng gặp nhiều khó khăn Khơi dậy sức mạnh sáng tạo của nhân dân, tạonên sức mạnh tổng hợp, đưa đất nước vượt qua nhiều thử thách, lập được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử
Trong tình hình hiện nay, với một số đặc điểm mới nổi bật tác động rất lớn đến hoạt động tư tưởng đó là: sự phát triểnmạnh xu hướng toàn cầu hóa kinh tế, tác động sâu rộng đến giao lưu hợp tác văn hóa, sự bùng nổ của cách mạng khoa họccông nghệ, nhất là sự phát triển nhảy vọt của công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ thông tin, công nghệ giảitrí… Cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, nhất là sự cạnh tranh gay gắt thị trườngkinh tế cũng như cuộc đấu tranh giải quyết những vấn đề toàn cầu… Với Việt Nam còn phải đối mặt với những âm mưu “diễnbiến hòa bình” của các thế lực thù địch
Đánh giá những thành tựu của công tác tư tưởng, lý luận thời gian qua, Đại hội XI của Đảng khẳng định: “…Công táctuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng có đổi mới Coi trọng hơn nhiệm vụ xây dựng đạo đức trong cán bộ, đảng viên vànhân dân; tập trung chỉ đạo có kết quả bước đầu Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, gắnvới nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chủ động hơn trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, bác bỏ các quan điểm saitrái, luận điệu tuyên truyền của các thế lực thù địch”
Theo đó, công tác tư tưởng của Đảng ta đã hình thành hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, xây dựngCNXH Đó là hệ thống lý luận về công tác tư tưởng, định hướng XHCN; lý luận về Đảng cầm quyền và phương thức lãnh đạocủa Đảng; Xây dựng Nhà nước pháp quyền trong điều kiện Đảng cầm quyền; tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội Hìnhthành hệ thống lý luận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, tư duy chúng ta về CNXH thực sự khoa học, thực tế hơn rấtnhiều Công tác tổng kết thực tiễn, đặc biệt thực tiễn 25 năm đổi mới, mang tính tổng kết sâu sắc Nghị quyết TW 5 khóa X chỉ
ra rằng: “Nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ngày càng sáng tỏ hơn, hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới đã hình thành trên những nét cơ bản”
Mặt khác, Đại hội XI của Đảng cũng chỉ rõ: “Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn chưa làm sáng tỏ đượcmột số vấn đề về đảng cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Tính chiến đấu, tínhthuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng còn hạn chế; thiếu sắc bén trong đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòabình” Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tìnhtrạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biếnphức tạp, cùng với sự phân hóa giàu nghèo và sự yếu kém trong quản lý, điều hành của nhiều cấp, nhiều ngành làm giảm lòngtin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, đe dọa sự ổn định, phát triển của đất nước Cuộc vận động “Học tập và làm theotấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” chưa thực sự đi vào chiều sâu, ở một số nơi còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao,làm theo chưa đạt yêu cầu”
Sau gần 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế, tình hình kinh tế - chính trị thế giới đã đổi khác; đời sống kinh tế - xã hộiđất nước đã thay đổi một cách căn bản; tâm tư, tình cảm, suy nghĩ của các tầng lớp nhân dân hiện nay không còn như trướcđây; những vấn đề tư tưởng cũng như đối tượng của công tác tư tưởng có nhiều nét mới; bản thân đội ngũ làm công tác tưtưởng của Đảng được củng cố và phát triển Trong bối cảnh đó, trên cơ sở quan điểm cơ bản của Nghị quyết Hội nghị Trung
Trang 6ương 5 khóa X “Về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới”, của Đại hội XI của Đảng về công tác tư tưởng,
lý luận trong tình hình mới, công tác tư tưởng, lý luận cần có sự đổi mới quyết liệt, nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tìnhhình mới
Một số nguyên tắc công tác tư tưởng
Nguyên tắc tính Đảng
- Đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, đường lối chính sách của Đảng
- Lấy chủ nghĩa Mác- lênin, tư tưởng HCM làm nền tảng tư tưởng , lý luận và phương pháp công tác
- Bảo vệ ý thức hệ giai cấp công nhân, bảo về những vấn đề cốt tử của cách mạng (vai trò lãnh đạo của Đảng,Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, con đường đi lên XHCN, nguyên tắc tập trung dân chủ,…)
Tính khoa học trong công tác Đảng
- Phải đảm bảo nọi dung chính xác, chân thực
- Phân tích các quá trình hiện tượng xã hội một cách khách quan, toàn diện, có quan điểm lịch sử cụ thể
- Khi tiến hành công tác tư tưởng phải dựa trên các quy luật: quy luật tư tưởg, tâm lý, sư phạm
- Phải lấy thuyết phục làm chính, không áp đặt
- Phát huy trí tuệ, độc lập suy nghĩ một cách có căn cứ, lắng nghe những ý kiến về sự thống nhất, thảo luận dânchủ không quy kết
Nguyên tắc về sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, nói và làm
- Hướng vào giải quyết những vấn đề bức xúc về kinh tế, xã hội, và tư tưởng đặt ra
- Lý giải những vấn đề vướng mắc trong hiện tại, thuyết phục mọi người cùng tháo gỡ vướng mắc khó khăn
- Bám sát đối tượng, phù hợp với hoàn cảnh thực tế, không động viên chung chung
Nội dung công tác tư tưởng của Đảng
Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn
- Là một mặt quan trọng của cuộc đất tranh giai cấp( là một trong 3 hình thức đấu tranh cơ bản: chính trị, kinh tế, lýluận)
- Là con đường cơ bản để giải quyết mọi vấn đề cách mạng Việt Nam, nhất là về mô hình, giải pháp đi lên XHCN
Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng
- Giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng HCM, đường lối quan điểm của Đảng cho cán bộ, đảng viên, nhân dân
- Trang bị thế giới quan, phương pháp luận khoa học
Xây dựng niềm tin để hành động tự giác
Sự lãnh đạo của Đảng đối với các phương tiện thông tin đại chúng, làm tốt công tác tuyên truyền.
Tăng cường lãnh đạo công tác báo chí, xuất bản, văn học, văn nghệ, báo đài, sách, băng hình Đảm bảo:
+ Phản ánh đúng quan điểm của Đảng, pháp luật Nhà nước
+ Tăng cường sức hấp dẫn, đáp ứng nhu cầu đa dngj của nhân dân, của cán bộ đảng viên cả vùng sâu vùng xa xôi hẻolánh…
+ Quản lý chặt chẽ những văn hoá phẩm từ nước ngoài đưa về
+ Kiện toàn lãnh đạ cơ quan báo chí, xuất bản
Giáo dục phẩm chất đạo đức trong điều kiện thị trường, mở rộng giao lưu quốc tế:
- Nêu cao tinh thần yêu nước, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc, tinh thần tự lực tự cường, gương mẫu hoàn thànhnhiệm vụ lao động, sản xuất, công tác, học tập
- Chống chủ nghĩa cá nhân, thụ động, ỷ lại, chống lối sống thực dụng
Dự báo xu hướng phát triển của tình hình, diễn biến tư tưởgn từng thời kỳ
- Kịp thời phát hiện và giải quyết nhanh, đúng những vấn đề nảy sinh
- Dự báo tâm trạng từng đối tượng nhân dân để có biện pháp công tác tư tưởng hiệu quả
Câu 4 (4 điểm): Theo đồng chí nội dung và phạm vi công tác tổ chức của Đảng bao gồm những yếu tố nào? Vì sao?
I Khái niệm, vị trí và vai trò công tác tổ chức
Tổ chức có vai trò quan trọng như vậy nên trong suốt quá trình lãnh đạo Cách mạng, Đảng ta luôn luôn coi trọng côngtác tổ chức và xây dựng các tổ chức Cách mạng ngày càng vững mạnh
Công tác tổ chức của Đảng là sự xây dựmg, kiện toàn các mối quan hệ trong tổ chức Đảng (từ cơ sở đến toàn Đảng),hình thành hệ thống tổ chức, tạo nên một chỉnh thể thống nhất, có tính ổn định và bền vững Công tác tổ chức của Đảng baogồm những quy định, những nguyên tắc tổ chức và hoạt động buộc tất cả mọi tổ chức Đảng, đội ngũ Đảng viên của Đảng phảichấp hành để tạo nên sự thống nhất ý chí và hành động, bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo và sứcchiến đấu của Đảng
2 Vị trí, vai trò của công tác tổ chức.
Trang 7Công tác tổ chức là một trong những mặt cơ bản trong công tác xây dựng Đảng Bằng công tác tổ chức, Đảng tiến hànhquản lý, sắp xếp, phân công lực lượng một cách khoa học, phối hợp một cách đồng bộ, nhịp nhàng hoạt động của các Đảngviên, các tổ chức Đảng và toàn Đảng, thiết lập những mối quan hệ đúng đắn, phù hợp gắn bó giữa cấp trên và cấp dưới, giữaĐảng viên với tổ chức Đảng, giữa các tổ chức của Đảng và giữa tổ chức Đảng với các tổ chức khác trong xã hội.
Công tác tổ chức được tiến hành một cách khoa học là điều kiện quyết định việc thực hiện thắng lợi đường lối, chủtrương của Đảng, góp phần tăng cường kỷ luật trong Đảng, làm cho Đảng đoàn kết, thống nhất, giữ gìn Đảng luôn trong sạch,vững mạnh, chống lại mọi âm mưu phá hoại, chia rẽ của các thế lực thù địch, cơ hội
Công tác tổ chức luôn là nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết, Đảng ta luôn yêu cầu mọi cấp, mọi ngành, mọi cán bộ, Đảngviên mà trứơc hết là cơ quan lãnh đạo và người phụ trách phải chăm lo đến sự vững mạnh của tổ chức và làm tốt công tác tổchức
II Phạm vi, nội dung công tác tổ chức
1 Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và sinh hoạt đảng.
Tập trung dân chủ là nguyên tắc bảo đảm cho sự thống nhất ý chí và hành động, tạo nên sức mạnh của Đảng, bảo đảm sựtồn tại và phát triển bền vững của Đảng Sau đây là một số quy định thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ ở chi bộ, đảng bộ
cơ sở
a Về Quy chế làm việc của tổ chức đảng;
Việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và sinh hoạt đảng được thể hiện ở việc tổ chức đảng phải xâydựng và thực hiện nghiêm chỉnh quy chế làm việc Căn cứ vào quy định của Điều lệ Đảng, Quy định của Ban Bí thư (Quy định
số 97-QĐ/TW, ngày 22-3-2004 của Ban Bí thư quy định chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong các đơn vị sự nghiệp, Quy định số 98-QĐ/TW chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ ở cơ quan); Quy chế làm việc của cấp ủy cấp trên và
và hướng dẫn của Ban Tổ chức cấp ủy cấp trên, tổ chức đảng các cấp xây dựng quy chế làm việc đảm bảo nguyên tắc tập trungdân chủ và thực hiện đúng trách nhiệm, quyền hạn được giao Quy chế làm việc của tổ chức đảng phải báo cáo với tổ chứcđảng cấp trên và thông báo cho tổ chức đảng cấp dưới biết Quy chế làm việc của mình
b Về chế độ tự phê bình và phê bình;
Tự phê bình và phê bình là nguyên tắc phải được thực hiện thường xuyên trong sinh hoạt đảng Hàng năm, gắn với tổngkết công tác, các cấp ủy đảng, cấp ủy viên các cấp và đảng viên phải tự phê bình và phê bình, thông qua tư phê bình và phêbình, từng tập thể, từng cá nhân có kế hoạch và chương trình hành động để phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm
Cuối nhiệm kỳ đại hội, cấp ủy, tổ chức đảng và cấp ủy viên các cấp phải tiến hành tự phê bình và phê bình gắn với kiểmđiểm đánh giá kết quả thực hiện nghị quyết đại hội Để thực hiện tổt tự phê bình và phê bình ở chi bộ, đảng bộ cơ sở, cần thựchiện nghiêm túc các quy định sau:
- Báo cáo kiểm điểm của cấp ủy phải lấy ý kiến đóng góp của cấp ủy cấp dưới trực tiếp, của lãnh đạo ban, ngành, đoànthể cùng cấp, phải có ý kiến của cấp ủy cấp trên trực tiếp
- Báo cáo kiểm điểm của lãnh đạo ban, ngành, đoàn thể phải lấy ý kiến đóng góp của cơ quan chuyên môn và của cấp ủycùng cấp
- Cấp ủy cấp trên gợi ý cho cá nhân và tập thể cấp ủy của cơ quan, tổ chức đảng cấp dưới trực tiếp những nội dung cầnlàm rõ khi kiểm điểm tự phê bình và phê bình như sau:
+ Đối với cá nhân cấp ủy viên, đi sâu kiểm điểm về trách nhiệm chính trị, mức độ phấn đấu hoàn thành công việc đượcgiao và những vấn đề khác có liên quan đến trách nhiệm cá nhân: về giữ gìn phẩm chất cá nhân (tư tưởng chính trị, đạo đức,lối sống, chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, chóng tham nhũng, lãng phí, quan liêu)
+ Đối với tập thể cấp ủy, kiểm điểm việc chấp hành nghị quyết, chủ trương của cấp trên; việc đề ra và kết quả thực hiệncác nghị quyết, chủ trương của cấp mình; về xây dựng và thực hiện quy chế làm việc; về xây dựng nội bộ đoàn kết, xây dựng
tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh; lãnh đạo cơ quan, đơn vị thực hiện nhiệm vụ chính trị về quản lý tài chính, ngân sách,quản lý đất đai…
Thường trực cấp ủy cấp trên có trách nhiệm tổng hợp, phân tích, chọn lọc các vấn đề nổi cộm, bức xúc để giới thiệuxuống các tổ chức đảng, cấp ủy cấp dưới, gợi ý cho tập thể và cá nhân có liên quan tự phê bình và phê bình
- Tổ chức lấy ý kiến đóng góp của các tổ chức đoàn thể quần chúng; phát huy vai trò giám sát góp ý xây dựng đảng củacác tổ chức đoàn thể, của cán bộ công chức trong cơ quan, đơn vị
c Về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong việc ra Nghị quyết
Trong việc ra nghị quyết lãnh đạo, nghị quyết thi hành kỷ luật đảng viên, và tổ chức đảng, Điều lệ Đảng quy định “Nghịquyết của cơ quan lãnh đạo của đảng chỉ có giá trị thi hành khi có hơn một nữa thành viên trong cơ quan đó tán thành”; quyđịnh này được cụ thể hóa như sau:
- Đối với đại hội, hội nghị đảng viên: số thành viên của đại hội đại biểu là Đại biểu chính thức được triệu tập có đủ tưcách dự đại hội; số thành viên của đại hội đảng viên, hội nghị đảng viên là tổng số đảng viên chính thức trong đảng bộ, chi bộtrừ số đảng viên đã giới thiệu sinh hoạt tạm thời ở đảng bộ khác và đảng viên đã được miến sinh hoạt và công tác không có mặt
ở đại hội (nếu đảng viên đó có mặt tham gia bầu cử, biểu quyết thì vẫn tính) trừ số đảng viên bị đình chí sinh hoạt đảng, bịkhởi tố, truy tố, tạm giam “Nghị quyết có giá trị thi hành khi có hơn một nữa thành viên trong cơ quan đó tán thành”
Đối với BCH đảng bộ, Ban thường vụ cấp ủy, Ủy ban kiểm tra số thành viên được tỉnh là: Tổng số cấp ủy viên, Banthường vụ cấp ủy, Ủy ban kiểm tra đương nhiệm
- Trường hợp kết nạp đảng viên, công nhận đảng viên chính thức, xóa tên trong danh sách đảng viên, khai trừ đảng viênthì phải được ít nhất hai phần ba số thành viên của tổ chức đảng nhất trí đề nghị và được cấp ủy cấp trên có thẩm quyền quyếtđịnh với sự nhất trí của trên một nữa số thành viên
- Trường hợp giải tán tổ chức đảng thì phải được ít nhất hai phần ba số thành viên của cấp ủy cấp trên trực tiếp đề nghị,cấp ủy cấp trên cách một cấp quyết định với sự nhất trí của trên một nữa số thành viên
2 Công tác đảng viên:
Trang 8Về trình độ năng lực: có hiểu biết cơ bản về chủ nghĩa Mãc – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm củaĐảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để đủ sức hoàn thành nhiệm vụ Có năng lựcvận động và lãnh đạo quần chúng tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng
Về phẩm chất đạo đức, lối sống, có tinh thần trách nhiệm cao, gương mẫu đi đấu trong mọi công tác; xử lý hài hòa cáclợi ích, đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc lên trên hết Liên hệ mật thiết với nhân dân, tôn trọng và bảo về quyến làm chủ củanhân dân Có lối sống trong sạch lành mạnh, có kỷ cương, kỷ luật Không quan liêu, tham nhũng, lãng phí và kiên quyết đấutranh chóng tham nhũng, lãng phí và các hiện tượng tiêu cự khác”
Việc tổ chức giáo dục, bồi dưỡng đảng viên ở chi bộ, đảng bộ cơ sở, cần vận dụng những hình thức và phương pháp phùhợp với đặc điểm của từng chi bộ, đảng bộ, sao cho có hiệu quả nhất, cụ thể:
- Theo dõi, quản lý chặt chẽ việc tham gia học tập các chương trình giáo dục lý luận chnhs trị của đảng viên
- Tổ chức, phổ biến, quán triệt, triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng; gắn việc phổ biến, quán triệt nghị quyết vớiviệc kiểm điểm, đánh giá tình hình chi bộ, đảng bộ, chỉ ra những biểu hiện lệch lạc, sai trái về nhận thức và hành động, nhất lànhững hành vi tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, đơn vị, địa phương; xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện nghị quyếtmột cách cụ thể, thiết thực trong đó xác định những công việc trọng tâm, những vấn đề bức xúc mà quần chúng ở địa phương,
ở cơ quan, đơn vị đang quan tâm để tập trung giải quyết kịp thời, hiệu quả
- Ngoài ra còn tổ chức cho đảng viên học tập về chuyên môn, nghiệp vụ, quản lý…, để nâng cao trình độ về mọi mặt,thực hiện tốt mọi nhiệm vụ được giao, đáp ứng với yêu cầu thời kỳ phát triển mới của đất nước
2.2 Về công tác quản lý đảng viên:
Chi bộ, đảng bộ cơ sở có nhiệm vụ quản lý chặt chẽ đội ngũ đảng viên; đồng thời đòi hỏi mỗi đảng viên phải tự đặt mìnhtrong sự quản lý của chi bộ, đảng bộ Đây là một nguyên tắc tổ chức cần phải được thực hiện một cách hết sức nghiêm túc,không để một đảng viên nào đứng ngoài sự quản lý của tổ chức đảng
Hiện nay hàng ngày, hàng giờ mỗi đảng viên luôn phải đối mặt với những tiêu cực, mặt trái của kinh tế thị trường vànhững âm mưu thủ đoạn “diến biến hòa bình” của các thế lực thù địch Vì vậy, công tác quản lý đảng viên phải được tiến hànhthường xuyên, chặt chẽ với những nội dung, hình thức đa dạng và phong phú, có tính khoa hoc; phải được tiến hành thận trộng,
tỷ mỹ và chu đáo, toàn diện
- Quản lý về chính trị tư tưởng:
Là sự quản lý về quan điểm, lập trường chính trị của tổ chức đối với cán bộ, đảng viên Tổ chức đảng yêu cầu đảng viênphải nói và làm theo chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nêu cao tính tiền phong gương mẫu trong lao động, học tập, công tác…đồng thời thông qua sự quản lý này mà phát hiện ra những tư tưởng lệch lạc, những mơ hồ về chính trị để kịp thời có biện phápgiáo dục, giúp đỡ, tạo điều kiện cho đảng viên khắc phục những tư tưởng lệch lạc, sai trái; không để những tư tưởng sai trái,
mơ hồ phát triển làm ảnh hưởng đến nhận thức tư tưởng chung của chi bộ, đảng bộ
Trong thời kỳ mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều vấn đềmới về lý luận và thực tiễn luôn nảy sinh, đòi hỏi phải thống nhất cao về quan điểm, nhận thức trong đảng và xã hội Bên cạnh
đó, các thế lực cơ hội, thù địch luôn tăng cường phá hoại về chính trị tư tưởng, với những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt.Yêu cầu chi bộ, đảng bộ cơ sở phải thường xuyên coi trọng việc quản lý về chính trị, tư tưởng đối với cán bộ, đảng viên; thựchiện nghiêm túc quy định: mọi đảng viên nói và làm theo nghị quyết, quy định của Đảng
(Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 01/11/2011 của Ban Chấp hành khóa XI quy định những điều đảng viên không được làm)
- Quản lý về trình độ, năng lực công tác:
Tổ chức đảng, trước hết là cấp ủy, phải nắm vững trình độ, năng lực công tác của đảng viên Đánh giá trình độ, năng lựccủa đảng viên không chỉ nhìn vào bằng cấp mà cần nhìn nhận đúng năng lực thực tế và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ Tổ chứcđảng phải quản lý chặt chẽ, nắm vững những mặt mạnh và những hạn chế của đảng viên để giao nhiệm vụ và có kế hoạch bồidưỡng, tạo điều kiện cho đảng viên không ngừng nâng cao trình độ, năng lực hoạt động thực tiễn, hoàn thành nhiệm vụ đượcgiao
- Quản lý sinh hoạt và quan hệ xã hội
Quản lý các quan hệ xã hội của đảng viên trước hết là quản lý về phẩm chất đạo đức, lối sống của đảng viên; giúp cho tổchức đảng đánh giá đầy đủ, chính xác về tư cách đảng viên Giáo dục, nhắc nhỡ đảng viên nêu cao tinh thần tự giác, ý thứctrách nhiệm để tự quản lý mình ở mọi nơi, mọi lúc, chủ động phòng ngừa những tác động tiêu cực, giúp cho đảng viên luôn giữđược tư cách đảng viên
- Quản lý đội ngũ đảng viên:
Quản lý đội ngũ đảng viên trên hai mặt: quản lý số lượng và quản lý chất lượng Quản lý số lượng đảng viên cần chútrọng nắm chắc về cơ cấu giới, dân tộc, tôn giáo, thành phần xã hội, tuổi đời, tuổi đảng … Quản lý chất lượng đội ngũ đảngviên là sự quản lý về phẩm chất, trình độ, năng lực và mức độ hoàn thành nhiệm vụ của đảng viên Phải thường xuyên theo dõi,nắm bắt về chất lượng, mức độ hoàn thành nhiệm vụ của đảng viên để giúp cho cấp ủy, chi bộ, đảng bộ có kế hoạch, biện phápkịp thời giúp đảng viên khắc phục những điểm yếu, phấn đấu vượt qua hạn chế, yếu kém để vươn lên hoàn thành nhiệm vụ vớichất lượng, hiệu quả cao Định kỳ hàng năm, cấp ủy tiến hành đánh giá phân tích chất lượng đảng viên theo quy định
Trang 9Hàng tháng chi bộ cần giữ vững nền nếp sinh hoạt đảng theo quy định Trong sinh hoạt kết hợp tự phê bình và phê bình,trên cơ sở chất lượng, hiệu quả hoàn thành hiệm vụ được giao và ý kiến đóng góp của quần chúng, các đoàn thể nơi đảng viênsinh hoạt hoặc có quan hệ công tác, để phân tích, đánh giá chất lượng đảng viên sát, đúng.
Thực hiện tốt công tác đảng viên, nhất là công tác quản lý đội ngũ đảng viên sẽ góp phần quan trọng để làm tốt công táccán bộ, cũng như công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ đảng ngay từ cơ sở
2.3 Về phân công công tác cho đảng viên;
Để tạo điều kiện cho đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ, cần có sự phân công công tác cụ thể, phù hợp với yêu cầu,nhiệm vụ của từng tố chức cơ sở; phù hợp với năng lực, sức khỏe và điều kiện cụ thể của từng đảng viên Nội dung phân côngcho đảng viên gồm các mặt công tác sau:
- Công tác vận động quần chúng
Tổ chức đảng giao nhiệm vụ cho mỗi đảng viên thường xuyên nắm và phản ảnh tình hình tư tưởng của quần chúng tạinơi công tác và nơi cư trú Trực tiếp tiến hành giải thích cho quần chúng nhân dân hiểu rõ chủ trương, đường lối của đảng,chính sách, pháp luật của Nhà nước; kịp thời phản ánh với tổ chức đảng hoặc cơ quan có trách nhiệm giải quyết và đáp ứngyêu cầu, nguyện vọng chính đáng của quần chúng
Bản thân và gia đình đảng viên phải gương mẫu chấp hành và vận động quần chúng, nhân dân thực hiện nghiêm chỉnhmọi chủ trương, đường lối của đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước với tinh thần trách nhiệm công dân Có đạo đức, lốisống trong sạch, lành mạnh để nêu gương và vận động mọi người tích cực tham gia phong trào xây dựng gia đình văn hóa,phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc và các phong trào khác
- Công tác chính quyền, công tác trong các tổ chức chính trị - xã hội
Tùy theo khả năng, trình độ, tín nhiệm của đảng viên trước quần chúng, tổ chức đảng giới thiệu, phân công đảng viêntham gia công tác của chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội
Đảng luôn yêu cầu đảng viên, dù ở cương vị công tác nào cũng phải phát huy vai trò lãnh đạo, phấn đấu hoàn thành tốtnhiệm vụ; đồng thời tổ chức đảng luôn theo dõi, động viên, tạo điều kiện để đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
- Công tác đảng
Tham gia công tác đảng là trách nhiệm của đảng viên; tùy theo điều kiện cụ thể mà chi bộ, chi ủy, đảng ủy có thể phâncông cho đảng viên thực hiện những công việc sau:
+ Giúp đỡ đảng viên dự bị phấn đấu trở thành đảnh viên chính thức;
+ Theo dõi, bồi dưỡng, giúp đỡ quần chúng, đề xuất ý kiến nhận xét để chi bộ lựa chọn đưa vào nguồn và chuẩn bịnhững điều kiện cần thiết để phát triển đảng
+ Tham gia chuẩn bị nội dung các cuộc họp có tính cất chuyên đề khi được phân công để cấp ủy, chi bộ thảo luận, ranghị quyết
+ Tích cực tham gia thực hiện nhiệm vụ chính trị của chi bộ, đảng bộ; đóng góp tích cực vào công tác xây dựng chi bộ,đảng bộ trong sạch vững mạnh
2.4 Tiến hành sàng lọc đội ngũ đảng viên; đưa những người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi đảng.
Công tác sàng lọc đảng viên cần được thực hiện với tinh thần kiên quyết nhưng thận trọng, khách quan, đúng thủ tục, cóbước đi thích hợp, đảm bảo đạt mục đích, yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn đảng Chi bộ, đảng bộ cơ sở phải kiểmtra, phân tích, đánh giá đúng chất lượng đảng viên của mình Cần tổ chức cho mọi đảng viên tự phê bình, tự đánh giá kết hợpvới sự nhận xét, đánh giá của chi bộ, phê bình, góp ý của quần chúng và kiểm tra của cấp trên, trên cơ sở đó có biện pháp xâydựng đội ngũ đảng viên cho phù hợp
- Đối với những đảng viên giữ được tư cách đảng viên, có phẩm chất chính trị và đạo đức tốt, có trình độ, năng lựchoàn thành nhiệm vụ, được quần chúng tín nhiệm thì tiếp tục bồi dưỡng, phát huy để ngày càng tiến bộ
- Đối với những đảng viên hạn chế về kiến thức, năng lực hoặc hoàn cảnh khó khăn, hoặc không có khả năng vươn lênhoàn thành nhiệm vụ thì bản thân tự xem xét hoặc chi bộ động viên các đồng chí đó tự nguyện xin ra khỏi đảng Đối với nhữngđảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí phấn đấu, không làm tròn nhiệm vụ đảng viên, đã được tổ chức đảng giúp đỡ màkhông tiến bộ hoặc lạc hậu về chính trị, không còn tha thiết với đảng, không còn tác dụng với quần chúng thì vận động xin rakhỏi đảng hoặc xóa tên khỏi danh sách đảng viên
- Đối với những đảng viên vi phạm tư cách, vi phạm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, không hoàn thành nhiệm
vụ được giao thì giáo dục, xử lý kỷ luật hoặc định thời gian phấn đấu, nếu có chuyển biến thì đưa ra khỏi đảng
- Đối với những người cơ hội về chính trị, nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng, suy thoái về đạo đức, lốisống, tham nhũng, lãng phí quan liêu, có tình vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật của nhà nước thì khai trừ ra khỏi đảng
2.5 Về công tác phát triển đảng viên:
Phát triển đảng viên là việc làm thường xuyên của toàn đảng nhưng được thực hiện chủ yếu ở chi bộ, đảng bộ cơ sở
Vì vậy, chi bộ, đảng bộ cơ sở phải nâng cao nhận thức và thường xuyên chăm lo công tác phát triển đảng viên
Về công tác phát triển đảng viên, văn kiện Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh “Đổi mới, tăng cường công tác quản lý,phát triển đảng viên, bảo đảm về chất lượng đảng viên theo quy định của Điều lệ Đảng Xây dựng các tiêu chí, yêu cầu cụ thể
về tư tưởng chính trị, trình độ năng lực, phẩm chất đạo đức, lối sống của đảng viên đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạngmới; phát huy tính tiền phong gương mẫu, chủ động, sáng tạo của đội ngũ đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ được giao Kiênquyết đưa ra khỏi đảng những người không đủ tư cách đảng viên…”
Thực hiện nhiệm vụ trên, chi bộ, đảng bộ cơ sở cần phải xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể, có sự lãnh đạo, chỉđạo chặt chẽ để đảm bảo chất lượng của công tác phát triển đảng Phải coi trọng chất lượng, đảm bảo tiêu chuẩn, không chạytheo số lượng
Để làm tốt công tác phát triển đảng cần nắm vững và làm tốt một số khâu cơ bản sau:
- Thông qua phong trào của tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, kết hợp với sự giới thiệu của tổ chức quần chúng, tập thểcấp ủy lựa chọn những quần chúng tích cực để có kế hoạch bồi dưỡng
Trang 10- Cử quần chúng tích cực đi dự các lớp bồi dưỡng nhận thức về đảng cho các đối tượng kết nạp đảng để họ có nhữnghiểu biết nhất định về đảng, về quyền và nghĩa vụ của đảng viên, xác định động cơ phấn đấu vào đảng đúng đắn.
- Phân công đảng viên bồi dưỡng, giúp đỡ, theo dõi quá trình rèn luyện, phấn đấu, trưởng thành của quần chúng tíchcực Hàng tháng, hàng quý, đảng viên được phân công phải báo cáo kết quả phấn đấu của quần chúng Nếu đảm bảo đủ tiêuchuẩn, được tổ chức, đoàn thể quần chúng thừa nhận, sẽ gợi ý để quần chúng làm hồ sơ, viết đơn xin gia nhập vào đảng
Lễ kết nạp đảng viên phải được tổ chức trang nghiêm theo quy định Trong thời gian dự bị chi bộ tiếp tục giáo dục, thửthách, rèn luyện, phân công đảng viên chính thức trực tiếp giúp đỡ đảng viên dự bị để họ phấn đấu trở thành đảng viên chínhthức đúng thời hạn quy định của Điều lệ Đảng
3 Công tác cán bộ:
Công tác cán bộ có ví trí rất quan trọng trong hoạt động lãnh đạo của Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: Cán bộ là gốccủa mọi công việc, công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém Vì vậy, chi bộ, đảng bộ cơ sở phải làm tốtcông tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ theo chức năng, niệm vụ được quy định
Cần tập trung làm tốt những việc cơ bản sau:
Mục tiêu chung là xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống lành mạnh, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí; có tư duy đổi mới, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, có năng lực thực tiễn đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; có tinh thần đoàn kết, hợp tác, ý thức tổ chức kỷ luật cao và phong cách làm việc khoa học, tôn trọng tập thể gắn bó với nhân dân, dám nghỉ, dám làm, dám chịu trách nhiệm Đội ngũ cán bộ phải đồng bộ, có tính kế thừa và phát triển, có số lượng và cơ cấu hợp lý.
Hai là, đánh giá, nhận xét cán bộ
Việc đánh giá, nhận xét cán bộ giữ vai trò quan trọng, có tác dụng phát huy những ưu điểm khắc phục những điểm yếu,hạn chế, thiếu sót của cán bộ, để tiếp tục bồi dưỡng, bố trí sử dụng cán bộ hợp lý nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trịcủa cơ quan, đơn vị, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của cách mạng Vì vậy Nghị quyết Đại hội XI chỉ rõ:
‘Đánh giá và sử dụng cán bộ trên cơ sở những tiêu chuẩn, quy trình đã được bổ sung, hoàn thiện, lấy hiệu quả công tác thực tế
và sự tín nhiệm của quần chúng nhân dân làm thước đo chủ yếu Không bổ nhiệm cán bộ không đủ tài, đủ đức, cơ hội chũnghĩa Thực hiện nghiêm quy chế thôi chức, miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ lãnh đạo quản lý Kịp thời thay thế cán bộ yếu
kém về phẩm chất, năng lực, không hoàn thành nhiệm vụ, uy tín giảm sút Có chế tài xử lý nghiêm những trường hợp chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy tội, chạy tuổi, chạy bằng cấp, chạy Huân chương Thực hiện luân chuyển cán bộ lãnh
đạo và quản lý theo quy hoạch ở các ngành, các cấp; khắc phục tư tưởng cục bộ, khép kín”
Để đánh giá đúng cán bộ, chi bộ, đảng bộ cơ sở cần nắm vững và thực hiện các quy trình cơ bản sau:
+ Trên tiêu chuẩn cán bộ, cụ thể hóa cho phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, lấy đó làm căn
Ba là: Quản lý, giáo dục rèn luyện cán bộ;
Thường xuyên chăm lo giáo dục đội ngũ cán bộ tự giác rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng Xây dựng và tổ chứcthực hiện nghiêm túc tiêu chuẩn, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong cơ quan, đơn vị; có biệnpháp giáo dục, khắc phục kịp thời những khuyết điểm, thiếu sót về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên
Đại hội XI chỉ rõ: ‘Tăng cường công tác giáo dục, quản lý cán bộ Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lỷcác cấp, đội ngũ chuyên gia đầu ngành Đổi mới, trẻ hóa đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý, kết hợp các độ tuổi đảm bảo tínhliên tục, kế thừa và phát triển”
Định kỳ tổ chức tốt việc sơ kết rút kinh nghiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, trên cơ sở đó có chủ trương,biện pháp bồi dưỡng nâng cao trình độ năng lực đội ngũ cán bộ, đáp ứng kịp thời yêu cầu nhiệm vụ
Trên đây là một số nội dung cơ bản về công tác cán bộ ở cơ sở, khi áp dụng vào thực tiễn mỗi chi bộ, đảng bộ cơ sở cầnnghiên cứu, vận dụng sáng tạo, phù hợp với từng điều kiện cụ thể của từng cơ quan, đơn vị
4 Một số vấn đề về bảo về chính trị nội bộ.
Công tác bảo vệ chính trị nội bộ có quan hệ đến sự sống còn của Đảng và chế độ, là một bộ phận quan trọng trong toàn
bộ công tác xây dựng đảng, bảo đảm sự trong sạch về đội ngũ cán bộ, đảng viên, ngăn chặn kịp thời những âm mưu, thủ đoạncủa các thế lực thù địch đánh phá vào nội bộ ta
Trang 11Về công tác bảo vệ chính trị nội bộ văn kiện Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh “Nhiên cứu, ban hành và thực hiện tốtchính sách sử dụng và quản lý cán bộ, đảng viên có vấn đề lịch sử chính trị Chú trọng và giải quyết vấn đề chính trị hiện nay”.
Để thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chi bộ, đảng bộ cơ sở cần nắm vững và thực hiện những mặt công tácchủ yếu sau:
- Làm cho mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc về nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình hiện nay: Mỗicán bộ, đảng viên phải trung thành, trung thực với đảng, không dấu diếm, khai man lịch sử chính trị bản thân và gia đình
Các cấp ủy, tổ chức đảng nhất là cấp ủy cơ sở phải nắm chắc và quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên cả về phẩm chấtchính trị và đạo đức lối sống Chi bộ, đảng bộ cơ sở phải có chủ trương, biện pháp, kế hoạch cụ thể trong việc triển khai thựchiện nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ Không ngừng nâng cao cảnh giác, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của cácthế lực thù địch, bảo vệ tổ chức đảng, bảo vệ cán bộ, đảng viên, bảo vệ đường lối, quan điểm của đảng, giữ gìn bí mật nội bộ
và bí mật quốc gia
- Căn cứ vào nội dung, yêu cầu của công tác bảo vệ chính trị nội bộ và sự hướng dẫn của tổ chức đảng cấp trên, chi bộ,đảng bộ cơ sở xây dựng và thực hiện quy định về bảo vệ chính trị nội bộ, nhằm đảm bảo cho tổ chức đảng trong sạch, vữngmạnh, ngăn ngừa không để cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống; Không để lọt cácphần tử cơ hội thoái hóa, biến chất, nội gián vào cơ quan đảng, cơ quan Nhà nước và các đoàn thể quần chúng Nội dung cácquy định về bảo vệ chính trị nội bộ của chi bộ, đảng bộ cơ sở không được trái với quy định của Điều lệ Đảng, Pháp luật củaNhà nước
- Thực hiện nghiêm ngặt các chế độ, thủ tục, quy chế quản lỷ cán bộ, đảng viên, bao gồm các mặt công tác như: tuyểndụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, kết nạp đảng viên, lựa chon đảng viên bầu vào cấp ủy, cử đi công tác nước ngoài, tiếp xúc vớingười nước ngoài, bố trí vào cơ quan trọng yếu, cơ mật của Đảng
- Trong sinh hoạt đảng, cần nghiêm túc xem xét tình hình tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên Khi thấy có nhữngbiểu hiện chưa phù hợp với quan điểm của đảng, cần trao đổi thẳng thắn trong sinh hoạt, cần nâng cao nhận thức chung củacán bộ đảng viên; kịp thời báo cáo lên cấp trên xem xét, chỉ đạo giải quyết
- Cần khắc phục nhận thức lệch lạc cho rằng: Bảo vệ chính trị nội bộ chỉ là nhiệm vụ của lãnh đạo, quản lý và các cơquan chuyên trách; đồng thời tránh khuynh hướng sa vào những vấn đề cụ thể thuộc nhiệm vụ, chức năng của cơ quan chuyênmôn nghiệp vụ
- Tất cả mọi đảng viên đều phải có trách nhiệm tham gia công tác bảo vệ chính trị nội bộ Bí thư hoặc phó bí thư cấp
ủy phụ trách công tác bảo vệ chính trị nội bộ
- Công tác bảo vệ chính trị nội bộ phải được tiến hành thường xuyên, theo phương châm: Lấy việc xây dựng nội bộtrong sạch vững mạnh, chủ động phòng ngừa là chính; đồng thời coi việc rà soát, thẩm tra nội bộ một cách chặt chẽ, có trọngđiểm; kết hợp lắng nghe ý kiến của quần chúng nhân dân với công tác nghiên cứu điều tra của cơ quan có trách nhiêm
Câu 5 (4 điểm): Đồng chí hãy làm rõ sự cần thiết phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng giai đoạn hiện nay?
Chúng ta biết rằng, hoạt động của tổ chức và con người trong xã hội là hoạt động có ý thức, Do vậy mà trước khi hànhđộng, các tổ chức và con người đều phải suy nghĩ, xác định rõ ý định, chủ trương, kế hoạch tiến hành và tổ chức thực hiện nótrong thực tiển Song thực tiển không phải là vĩnh hằng bất biến ma no luôn vận động và phát triển nên ý định chủ trương, kếhoạch dù đã xác định và chuẩn bị kỹ đến đâu cũng phải có sơ hở, thậm chí sai lầm Do đó ma tổ chức, cá nhân dù có tài hoa,khoa học và công nghệ phát triển cao cũng không thể hiểu hết lường hết được mọi việc Vì lẽ đó ma muốn đạt được kết quảtrong thực tiển phải xem xét tình hình thực tế để nhận xét, đánh giá nghĩa là phi kiểm tra Trong thời kỳ xây dựng CNXH, nhất
là trong công cuộc đổi mới hiện nay, đã và đang có rất nhiều vấn đề mới nảy sinh, tình trạng thế giới và trong nước có nhiềuphức tạp và đồng thời xuất hiện những thời cơ thuận lợi cũng vừa có khó khăn, thách thức, đòi hỏi Đảng phải thường xuyêntiếp cận, nắm bắt và xử lý đối tượng, nội dung và nhiệm vụ lãnh đạo cần đa dạng, phong phú sinh động…
Công tác kiểm tra trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong hoạt động của mỗi tổ chức và từng đảng viên Thực tiễnlãnh đạo của Đảng ta từ khi thành lập đến nay đã khẳng định kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng, lãnhđạo phải có kiểm tra “Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không có lãnh đạo”, công tác kiểm tra có vị trí cực kỳ quantrọng trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng
Vậy công tác kiểm tra Đảng là gì? Công tác kiểm tra Đảng là hoạt động của Đảng tác động vào tổ chức và cá nhânngười đảng viên Căn cứ vào tiêu chuẩn, văn bản qui định hiện hành đ1nh giá, nhận xét ưu khuyết điểm, khắc phục khuyếtđiểm nhằm thực hiện quyết định đưa ra nhằm đem lại hiện quả
Vì sao công tác kiểm tra có vị trí cực kỳ quan trong trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng
Theo quan điểm của CN Mác-lênin thì công tác kiểm tra như là một phương thức hành động để thực hiện mục đích,trong điều kiện Đảng lãnh đạo toàn xã hội Kiểm tra Đảng có tầm quan trọng đặc biệt, nó là một trong hai yếu tố quyết định sựthành bại của các quyết định Lênin nêu rõ: “Khi đường lối chính sách đã được xác định, phương hướng đã được thông qua thìnhiệm vụ tổ chức thực hiện phải đặt lên hàng đầu và sự lãnh đạo phải chuyển trọng tâm từ việc soạn thảo các sắc lệnh và mệnhlệnh sang việc lựa chọn người và kiểm tra sự thực hiện” (Lênin toàn tập, bản tiếng Việt, tập 44, nxb tiến bộ 1978, trang 450)
Với Đảng ta trong hoạt động lãnh đạo luôn luôn coi trọng công tác kiểm tra, coi đó là một nguyên tắc, một khâu quantrọng trong quá trình lãnh đạo và công tác xây dựng Đảng Đồng thời xác định kiểm tra là một chức năng lãnh đạo chủ yếu củaĐảng Bác Hồ đã chỉ rõ “Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hay thất bại của chính sách đó là do nơi tổ chức côngviệc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra Nếu ba điều ấy sơ sài thì chính sách đúng cũng vô ích”
Đến Đại hội 9 của Đảng 4/2001 tiếp tục nhấn mạnh Đảng phải “tăng cường công tác kiểm tra của các cấp ủy, của ủyban kiểm tra các cấp” (Đại hội 9, trang 146)
Công tác kiểm tra gắn liền một cách tất yếu với sự lãnh đạo của Đảng, vì lãnh đạo không chỉ là việc xây dựng đườnglối, chính sách, Nghị quyết, chỉ thị của Đảng, là việc tổ chức thực hiện và bố trí cán bộ mà lãnh đạo còn là kiểm tra, khôngnhững kiểm tra việc thực hiện đường lối, cương lĩnh chính trị, chủ trương chính sách, mà còn kiểm tra bản thân cương lĩnh
Trang 12chính trị, đường lối chính sách đó và kiểm tra cả các tổ chức tiến hành, kiểm tra nhằm đảm bảo đường lối chính sách được xácđịnh đúng, được quán triệt và tổ chức thực hiện thắng lợi trong thực tiễn Đây là một vấn đề có tính nguyên tắc, vừa là chứcnăng lãnh đạo, vừa là trách nhiệm, phương pháp, qui trình lãnh đạo của Đảng.
Mặt khác, sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo cách mạng của Đảng bắt nguồn từ sự đòan kết, thống nhất về chính trị,
tư tưởng, được bảo đảm bằng sự thống nhất vật chất về tổ chức, mà muốn đạt được điều đó và hoàn thành sứ mệnh lịch sử củamình Đảng phải coi trọng và làm tốt công tác kiểm tra Có tiến hành công tác kiểm tra mới góp phần thiết thực và có hiệu quảvào việc phòng ngừa và khắc phục những nguy cơ có thể nảy sinh của Đảng cầm quyền, như Hồ Chí Minh đã dạy: "Kiểm tra
có tác dụng thúc đẩy và giáo dục Đảng viên và cán bộ làm tròn nhiệm vụ đối với Đảng, đối với Nhà nước, làm gương mẫu tốtcho nhân dân Do đó, mà góp phần vào việc củng cố Đảng về tư tưởng, về tổ chức” và qua thực tiễn cách mạng Việt NamĐảng ta đã kết luận: Công tác kiểm tra là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng “là một khâu quantrọng của tổ chức thực hiện” "là biện pháp hiệu nghiệm để khắc phục bệnh quan liêu" (Văn kiện Đại hội Đảng XI, nxb sự thật,
1987, trang 137)
Từ những vấn đề trên, ta thấy công tác kiểm tra có một vị trí cực kỳ quan trọng, bảo đảm cho Đảng vững mạnh vềchính trị, tư tưởng và tổ chức Trong sạch về phẩm chất đạo đức Nhìn lại công tác kiểm tra trong thời gian qua, theo nội dungvăn kiện Đại hội VIII, công tác kiểm tra của Đảng trong 5 năm qua có tiến bộ trên các mặt Kiểm tra việc chấp hành nguyêntắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, việc giữ gìn phẩm chất, đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên Đã kiểm tra 2,5 triệu lượccán bộ đảng viên và trên 60 ngàn tổ chức Đảng và việc xử lý kỷ luật đảng viên trên 180.000 đảng viên (chiếm 8,5% tổng sốđảng viên) Trong đó đã khai trừ 28.000 đảng viên (chiếm 15,5%) Công tác kiểm tra đã góp phần tính cực vào công tác xâydựng Đảng và thực hiện nhiệm vụ chính trị… giải quyết 25.000 thư tố cáo, giải quyết khiếu nại, kỷ luật 4.500 trường hợp.Trong đó có 200 trường hợp phải thay đổi quyết định Riêng năm 1999 kiểm tra đảng viên có dấu hiệu vi phạm: kiểm tra36.847 đảng viên trong đó có 9.170 cấp ủy viên, qua kiểm tra đã kết luận có 18.054 đảng viên vi phạm; kiểm tra tổ chức Đảng
có 3.541 tổ chức Đảng qua kiểm tra đã kết luận có 1.771 tổ chức Đảng vi phạm Giải quyết tố cáo đảng viên và tổ chức Đảnglà: 9.884/11.434 trường hợp đạt 86,4%; trong đó tố cáo đúng 2,4%; có dụng ý xấu là 4,38%; tố cáo không có cơ sở 9,71% Đốivới tổ chức Đảng đã giải quyết 135/219 đạt 61,64% Thi hành kỷ luật trong Đảng 20.174 đảng viên, trong đó 1.577 cấp ủy viêncác cấp; kỷ luật tổ chức Đảng 330 tổ chức, giải quyết thư khiếu nại trong năm 1999 có 750/947 trường hợp, trong đó có 131trường hợp phải thay đổi quyết định, kiểm tra tài chính Đảng 26.331 tổ chức Đảng đã kết luận có 2.047 tổ chức Đảng sử dụngtài chính sai nguyên tắc
Hiện nay, trong tình hình đất nước thực hiện nền kinh tế thị trường cũng như trong các mối quan hệ quốc tế ngày càng
mở rộng Bên cạnh những mặt tích cực thuận lợi, cũng còn nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp đòi hỏi chúng ta phải xử lý tích cực
và chủ động Đó là, đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là sự nghiệp rất to lớn, phức tạp trong giai đoạn cáchmạng hiện nay do Đảng ta đề xướng và lãnh đạo, Đảng ta là Đảng cầm quyền nên những thuận lợi và thành tựu, những thấtbại và tổn thất của cách mạng đều gắn liền với trách nhiệm lãnh đạo của Đảng Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết địnhthắng lợi của cách mạng Trong điều kiện cơ chế thị trường, kinh tế nhiều thành phần, mở cửa với bên ngòai, cán bộ, Đảngviên hàng ngày, hàng giờ phải chịu sự tác động của nhiều nhân tố phức tạp, kể cả những hành động chống phá Đảng, vấn đềgiữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng đang đứng trước thách thức mới, một bộ phận không nhỏ cán bộ, Đảng viênthiếu tu dưỡng bản thân, phải nhạt lý tưởng, mất cảm giác, giảm sút ý chí, kém ý thức tổ chức kỷ luật sa đọa về đạo đức và lốisống Một số thoái hóa về chính trị, tuy rất ít nhưng hoạt động của họ gây hậu quả hết sức xấu
Một số tổ chức Đảng ở các cấp chưa được chỉnh đốn; dân chủ bị vi phạm , kỷ luật, kỹ cương lỏng lẻo, nội bộ khôngđòan kết, chất lượng sinh hoạt Đảng giảm sút Một số cán bộ và cấp ủy chưa tôn trọng và thực hiện đúng nguyên tắc tập trungdân chủ; bệnh quan liêu, độc đoán, cục bộ, địa phương, kèn cựa, địa vị, cá nhân chủ nghĩa nặng Không ít nơi mất đòan kếtnghiêm trọng
Trước thực trạng ấy, để nâng cao chất lượng kiểm tra trong điều kiện mới, đặc biệt trong thời kỳ chuyển sang cơ chếthị trường cần quán triết một số điểm mấu chất sau đây:
Thực hiện nghiêm túc chế độ lãnh đạo có kiểm tra chương trình, kế hoạch “mọi cấp ủy cần nhận thức rõ, nâng cao chấtlượng kiểm tra Đảng có ý nghĩa là nâng cao chất lượng lãnh đạo của cấp ủy Trước hết đổi mới tư duy kiểm tra, khắc phụcnhững nhận thức không đúng, những định kiến sai lầm đối với kiểm tra và kỷ luật Đảng Từ bước xây dựng phong cách kiểmtra mới, phù hợp với hoàn cảnh mới hiện nay của Đảng và mang tính khoa học, chủ động tiến công Kiểm tra phải trở thànhcông việc hằng ngày của cấp ủy, cán bộ chủ chốt phải trực tiếp kiểm tra, chứ không phải để những người ở địa vị thứ yếu hoặcgiao khoán cho cơ quan kiểm tra Xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra thật cụ thể, nắm vững những yêu cầu chủ yếu, giảiquyết dứt điểm từng vụ việc
Dân chủ hóa trong công tác kiểm tra, hoạt động kiểm tra phải được tiến hành công khai, thống nhất từ trong cấp ủy đếntừng đảng viên, kiểm tra, đánh giá Kết luận phải dự trên những chứng cứ rõ ràng, không áp đặt, truy chụp Kết quả xử lý phảiđược thông báo cụ thể Rộng rãi, không vì lý do nào đó mà chỉ thông báo nội bộ, không nên bó hẹp Đảng trong phạm vi nội bộĐảng, mà phải kết hợp kiểm tra Đảng với thanh tra Nhà nước, thanh tra các đoàn thể nhân dân… có kết hợp được sức mạnhtổng hợp của cả hệ thống kiểm tra thì hoạt động kiểm tra mới tiến hành thuận lợi; đối tượng không thể không thừa nhận sự sailầm khuyết điểm Kết luận cuối cùng sẽ đạt được độ chính xác
Hoàn thiện bộ máy kiểm tra các cấp từ Trung ương đến cơ sở Tăng thêm quyền hạn cho cơ quan kiểm tra, sao cho cơquan này có thẩm quyền để kiểm tra đảng viên (kể cả cấp ủy viên cũng cấp) Giám sát việc chấp hành quy chế làm việc củacấp ủy cấp dưới Các cấp ủy phải thường xuyên quan tâm tạo điều kiện để Uy ban kiểm tra hoạt động thuận lợi Giúp đỡ việcxây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bố trí cán bộ và cử những cán bộ có phẩm chất, năng lực tốt, có quy tín, có nghiệp vụchuyên môn giỏi, thuần thục công tác Đảng và có khà năng thực hiện hoàn toàn theo tinh thần của Đảng, đảm nhiệm cương vịphụ trách trong cơ quan quan trọng này
Trang 13Kiện toàn các ban theo hướng “thà ít mà tốt” xứng đáng là “tay mắt, bộ óc” của cấp ủy Vừa có trách nhiệm nghiêncứu giúp cấp ủy đề ra được các quyết định đúng đắn, vừa có trách nhiệm kiểm tra, vừa thực hiện các quyết định ấy trong phạm
vi công tác của mình phụ trách
Thực hiện tư tưởng chỉ đạo hành động khi tiến hành hoạt động kiểm tra chủ động chiến đấu, giáo dục
Nâng cao chất lượng của các quyết định, hoàn thiện hệ thống pháp luật… lấy nó làm phương hướng, chuẩn mực đểkiểm tra, đánh gái Thực tiễn cho thấy, chất lượng của các quyết định ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng kiểm tra Quyết địnhđúng tạo cơ sở kiểm tra đi đúng hướng, tiến hành thuận lợi Quyết định sai khiến cho kiểm tra vốn phức tạp càng phức tạp hơn,thậm chí có khi đi chệch hướng Cơ chế quản lý hệ thống pháp luật và các văn bản dưới luật càng ảnh hưởng không nhỏ đếnchất lượng kiểm tra Đảng, nhất là trong công cuộc đổi mới hiện nay Đã có không ít trường hợp kiểm tra, kết luận sai gây oan
ức cho cán bộ đảng viên tốt và cơ chế quản lý không rõ ràng, hệ thống chính sách và pháp luật khập khiễng
Về phương pháp kiểm tra thì cần vận dụng, kết hợp linh hoạt các hình thức kiểm tra như kiểm tra thường xuyên, độtxuất, định kỳ và phương pháp kiểm tra trực tiếp, gián tiếp
Kiểm tra thường xuyên là rất quan trọng nó giúp cho chủ thể nắm chắc tình hình mọi mặt và có hệ thống Còn kiểmtra đột xuất giúp chủ thể đánh giá, kết luận sự vật, hiện tượng một cách nhanh chống, chính xác và khách quan, đối tượng đượckiểm tra khó che giấu, xuyên tạc, bóp méo sự thật Với kiểm tra định kỳ giúp chủ thể nắm chắc tình hình đều đặng trong từngthời kỳ nhất định để có biện pháp chỉ đạo kịp thời
Phương pháp kiểm tra trực tiếp là quan trọng nhất và đạt hiệu quả cao nhất, vì vừa bảo đảm tính tập trung cao độ vừaphát huy tính dân chủ tập thể, nó giúp cho chủ thể, nắm bắt sự việc đúng đắn, chính xác nhất Còn phương pháp kiểm trakhông thể thiếu nhưng muốn đạt được kết quả cao cần phải xử lý nghiêm ngặt các nguồn thông tin, nếu không sẽ dẫn đến kếtluận sai lệch
Công tác kiểm tra không chỉ là việc của ủy ban kiểm tra mà còn là việc của toàn Đảng Trước hết là của các cấp ủyĐảng Công tác kiểm tra của Đảng là phải kết hợp với công việc tổ chức trong việc đánh gái cán bộ, đảng viên một cách chínhxác, kịp thời Đích cuối cùng của công tác kiểm tra cần đạt tới là qua mỗi vụ việc được kiểm tra xong là tổ chức Đảng càngthêm vững mạnh Đội ngũ đảng viên cần đoàn kết trưởng thành hơn chứ không phải là ngược lại Có vậy công tác kiểm tra mớixứng đáng là vị trí quan trọng trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng
Nhằm đạt được vấn đề trên, một số biện pháp cần thực hiện để nâng cao chất lượng công tác kiểm tra của Đảng.Phải tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với công tác kiểm tra, muốn vậy, cần giải quyết nhận thức trong cấp
ủy, để chăm lo công tác này; do đó từng địa phương phải đánh đúng thực trạng của công tác kiểm tra, để từ đó chủ động góp
ý, phê bình, giáo dục một cách có hiệu quả
Quan tâm đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất cho cơ quan kiểm tra từ Trung ương đến cơ sở
Sử dụng đồng bộ vận dụng linh hoạt các hình thức, phương pháp kiểm tra như kiểm tra thường xuyên mang tính chấtbao trùm, kiểm tra chuyên đề, kiểm tra đột xuất
Xây dựng ủy ban kiểm tra các cấp vững mạnh, thể hiện ngoài bộ máy đã quy định là đội ngũ làm công tác kiểm tra,cần nâng cao trình độ lý luận, hiểu rõ thực tiễn Nắm vững đường lối, quan điểm của Đảng, có phẩm chất, năng lực nghiệp vụ
mà đặc biệt là công tác chuyên môn, kiểm tra để kiểm tra
Chính sách đãi ngộ thỏa đáng đối với đội ngũ cán bộ kiểm tra Đồng thời tạo hành lang an toàn cho cán bộ kiểm tra.Đổi mới cơ chế chính sách, hoàn thiện hệ thống pháp luật, bãi bỏ những quyết định không còn phù hợp với yêu cầunhiệm vụ mới
Qua sự phân tích trên để soi gọi lại công tác xây dựng Đảng ở huyện Đảng bộ địa phương về công tác kiểm tra chưađược tiến hành thường xuyên, tính Đảng và ý thức chấp hành tổ chức kỷ luật trong số cán bộ, đảng viên không nghiêm, vẫncòn hiện tượng quan liêu, thiếu dân chủ, thiếu sâu sát cơ sở
Trên cơ sở đó, huyện Đảng bộ đã đề ra phương hướng đến hết năm 2020: giữ nghiêm chế độ và nâng cao chất lượngsinh hoạt chi bộ, quản lý chặt chẽ, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên Gắn với kiểm tra, động viên chấphành điều lệ Đảng, đảm bảo hàng năm có 85% đảng viên trở lên phát huy tốt tác dụng
Tăng cường công tác kiểm tra việc tổ chức thực hiện nghị quyết, quy chế làm việc của từng chi, Đảng bộ cơ sở và trựcthuộc Có định kỳ, có sơ tổng kết và khen thưởng kịp thời
Đây cũng là những điểm góp phần làm trong sạch, nâng cao chất lượng tổ chức và đội ngũ đảng viên, đáp ứng yêu cầucấp thiết của nhiệm vụ then chốt trong thời kỳ mới
Tóm lại: công tác kiểm tra là nhu cầu không thể thiếu đối với tổ chức Đảng và đảng viên Trong thời kỳ đổi mới sôiđộng hiện nay, Đảng ta đang đứng trước thời cơ và thách thức mới, 4 nguy cơ ma Đảng ta xác định là: Tụt hậu xa hơn về kinhtế; chệch hướng xã hội chủ nghĩa; bệnh quyết liệt tham nhũng; diễn biến hòa bình, đã và đang đe dọa tới sự tồn vong của Đảng
và chế độ xã hội chủ nghĩa Do vậy, để thực hiện thắng lợi sự ngiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảngphải tiếp tục tự đổi mới , tự chỉnh đốn, nâng cao hiệu quả sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo Muốn vậy, bên cạnh việc giữvững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất và năng lực cán bộ, Đảngviên, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, thì phải đổi mới vàtăng cường công tác kiểm tra của Đảng, đặc biệt là kiểm tra chấp hành cương lĩnh chính trị, điều lệ Đảng, Nghị quyết, chỉ thị,quyết định, quyết định của Đảng và kiểm tra tổ chức Đảng và Đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm./
Câu 6 (4 điểm): Đồng chí hãy làm rõ sự cần thiết phải tăng cường công tác dân vận của Đảng trong giai đoạn hiện nay?
Công tác dân vận là một lĩnh vực rộng lớn, cơ bản, quan trọng trong quan điểm, đường lối cách mạng của Đảng ta, thểhiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và trong hầu hết các văn kiện của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước
* Mối quan hệ giữa triều đại phong kiến và nhân dân theo quan điểm của người Việt Nam
Truyền thống lịch sử của dân tộc Việt Nam đã chỉ ra rằng: mọi thắng lợi của các triều đại phong kiến trong việc bảo vệ, xâydựng đất nước là do các triều đại này đã “lấy dân làm gốc”, biết dựa vào dân và biết phát huy sức mạnh của nhân dân
Trang 14Trước quân Tống xâm lược hùng mạnh, với tài thao lược cùng với tuyên ngôn hợp lòng dân, làm nức lòng dân nên Lý
Thường Kiệt đã lãnh đạo nhân dân ta chiến thắng quân Tống
Triều đại nhà Trần, Trần Quốc Tuấn đã làm rõ hơn tầm quan trọng của việc “lấy dân làm gốc” Ông cho rằng cuộc
kháng chiến chống quân Nguyên - Mông muốn thắng lợi thì phải “Vua tôi đồng tâm, anh em hòa thuận, cả nước góp sức” Saukhi chiến thắng quân Nguyên - Mông, ông lại nghĩ đến thực hành chính sách “khoan thư sức dân để làm kế bền gốc rễ, đó làthượng sách giữ nước”
Triều đại nhà Lê, Nguyễn Trãi khẳng định sự nghiệp cứu nước và xây dựng đất nước là của dân, dân là yếu tố cốt yếu
cho sự thành công, “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” Ngoài ra, ông cũng đã nhận thấy nguy cơ nếu đi ngược lại lợi ích củanhân dân “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân”
Có thể khẳng định, trong lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã giành thắng lợi trong các cuộc kháng chiến quacác triều đại phong kiến chống giặc ngoại xâm đều là thắng lợi của việc đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo thành sức mạnh của mộtnước nhỏ đánh thắng đế quốc lớn
* Mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhân dân
- Chủ nghĩa Mác - Lênin đề cao vai trò của quần chúng nhân dân, coi sức mạnh của quần chúng nhân dân là vô địch;cách mạng là sự nghiệp của quần chúng
Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định: Nhân dân là người sáng tạo ra mọi của cải vật chất và những giá trị tinh thần, nhân
tố quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội
Nghiên cứu về lịch sử đấu tranh giai cấp ở Pháp, Mác và Ănghen đã viết: “Đã qua rồi thời kỳ những cuộc đột kích, thời
kỳ những cuộc cách mạng do những nhóm thiểu số tự giác cầm đầu những quần chúng không tự giác tiến hành Ở nơi nào màvấn đề đặt ra là phải hoàn toàn cải tạo chế độ xã hội thì bản thân quần chúng phải tự mình tham gia vào công cuộc cải tạo ấy,phải tự mình hiểu rõ vì sao phải tiến hành đấu tranh, vì sao phải đổ máu và hy sinh tính mạng” (lời nói đầu tác phẩm “Đấutranh giai cấp ở Pháp 1848 - 1850”)
- Sức mạnh của quần chúng chỉ được phát huy khi họ được tổ chức lại do một đảng chân chính lãnh đạo
Lênin đã chỉ rõ: “Không một phong trào cách mạng nào mà lại vững chắc được, nếu không có một tổ chức ổn định vàduy trì được tính liên tục gồm những người lãnh đạo”
Đảng cộng sản cầm quyền lãnh đạo toàn xã hội không chỉ bằng cương lĩnh chính trị, đường lối chiến lược, sách lược, màcòn phải thông qua vai trò tổ chức hoạt động của bộ máy chính quyền nhà nước và các đoàn thể quần chúng Vì thế, một vấn đềthen chốt về xây dựng đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh được Lênin đặc biệt quan tâm là phải tăng cường xây dựng, củng
cố mối liên hệ mật thiết giữa đảng và nhân dân Người chỉ rõ: “Chủ nghĩa xã hội sinh động, sáng tạo là sự nghiệp của bản thânquần chúng nhân dân” Cho nên, đảng cộng sản cầm quyền phải trở thành người lãnh đạo, người cổ vũ, tổ chức sự sáng tạo đó.Mỗi đảng viên không những phải luôn thực hiện tốt công tác vận động quần chúng nhân dân để tạo nên sức mạnh vô địch chođảng, mà còn phải thường xuyên học tập, rèn luyện để nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ, đạo đức cách mạng, nhằmhướng đích xây dựng đảng trong sạch, vững mạnh
Từ kinh nghiệm thực tiễn lãnh đạo chính quyền Xô-viết, Lênin đưa ra những chỉ huấn rất sâu sắc: mỗi người cộng sảnnếu không tự bôi nhọ đạo đức, thanh danh của mình, thì không kẻ nào có thể hạ thấp được vai trò và uy tín của họ; tuyệt nhiênkhông một thế lực nào có thể phá vỡ được quan hệ gắn bó máu thịt giữa đảng và quần chúng nhân dân
- Phương pháp vận động quần chúng cũng chiếm một vị trí hết sức quan trọng, gồm 3 việc:
Thuyết phục, giáo dục
Nêu gương
Mở rộng dân chủ và công khai
Lênin đã chỉ rõ cần phải “Thuyết phục cho đa số nhân dân thấy được sự đúng đắn của cương lĩnh và sách lược”; “Mộtnước mà khi nào quần chúng biết rõ tất cả mọi cái, quần chúng có thể đoán được về mọi cái và đi vào hành động một cách có ýthức”
Người phê phán những cán bộ và cơ sở đảng “Rất ít dùng những điển hình, những tấm gương cụ thể, sinh động lấy trongmọi lĩnh vực của đời sống để giáo dục quần chúng”
* Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân dân và công tác dân vận
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, kế thừa, phát triển những tinh hoa của triết họcphương Tây, triết học phương Đông cũng như những tư tưởng tiến bộ của ông cha ta về nhân dân, đưa ra những quan điểm vềnhân dân rất độc đáo gồm mấy điểm chính sau đây:
- Muốn giành thắng lợi, Đảng phải dựa vào dân, tôn trọng dân, quý dân
Bác viết: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của
toàn dân” Người luôn căn dặn cán bộ đảng viên phải tin tưởng nhân dân, phải biết dựa vào nhân dân vì “dễ trăm lần không
dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” “Nước phải lấy dân làm gốc… Gốc có vững thì cây mới bền… Dân chúngđồng lòng, việc gì cũng làm được Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”
- Đảng phải tổ chức quần chúng để biến hành động của họ từ tự phát thành tự giác
Trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”, Bác Hồ chỉ ra rằng: “Trước hết phải có Đảng cách mạng” và công việc của Đảng
là “Trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản mọi nơi”
Đánh giá nguyên nhân thành công của Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúngchứ không phải sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào Thành công của Đảng là ở nơi Đảng ta đã tổ chức và phát huy lực lượngcách mạng vô tận của nhân dân”
- Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ thế nào là Dân vận
Trang 15Ngay sau khi giành được chính quyền, ngày 15/10/1949, Bác Hồ đã viết bài báo “Dân vận” đăng trên báo Sự thật Bác
đã chỉ rõ vị trí, tầm quan trọng của công tác dân vận, giải thích dân vận là gì, ai có trách nhiệm làm dân vận và phương pháplàm dân vận như thế nào
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một ngườidân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc của Chính phủ, đoàn thể giaocho”
Từ định nghĩa trên ta thấy:
- Đối tượng công tác dân vận là nhân dân
- Mục tiêu công tác dân vận là mục tiêu chung của cách mạng
+ Trước khi thành lập Đảng, trong tác phẩm Đường Kách mệnh, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã xác định rõ
mục tiêu: “Kách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người Thế mới khỏi hy sinh nhiềulần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”
+ Sau thắng lợi của cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo toàn dân kháng chiến
và kiến quốc Người nêu rõ: “Chính phủ ta đã hứa với dân, sẽ gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc” Mục tiêu cao
cả của cách mạng trở thành tuyên ngôn của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc Chủ tịch HồChí Minh nhấn mạnh: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”
- Nội dung cơ bản của công tác dân vận là vận động nhân dân, tổ chức lực lượng nhân dân, đoàn kết toàn dân để thựchiện những nhiệm vụ của cách mạng, những việc nên làm
- Lực lượng làm công tác dân vận phải là “Tất cả cán bộ chính quyền, cán bộ đoàn thể và tất cả các hội viên của cácđoàn thể nhân dân (Liên Việt, Việt Minh…) đều phải phụ trách dân vận”
Điều này càng làm rõ hơn luận điểm: Công tác dân vận không chỉ của Mặt trận, các đoàn thể nhân dân mà chính quyền,cán bộ chính quyền cũng phải làm công tác dân vận
Từ đó đến nay, công tác dân vận đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, song đối chiếu với lời dạy của Bác Hồ thì công tácdân vận của chúng ta cũng còn nhiều thiếu sót, nhiều lúc, nhiều nơi chưa cụ thể hoá, vận động đến từng người dân
- Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh vai trò của công tác dân vận
Xuất phát từ cơ sở nhận thức khoa học: Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Vấn đề cơ bảncủa mọi cuộc cách mạng là đoàn kết tập hợp được lực lượng nhân dân Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu một mệnh đề như là mộtchân lý: “Lực lượng của dân rất to Việc dân vận rất quan trọng Dân vận kém thì việc gì cũng kém, dân vận khéo thì việc gìcũng thành công”
Người còn nói: “Khuyết điểm to ở nhiều nơi là xem khinh việc dân vận Cử ra một ban hoặc vài người, mà thường cửcán bộ kém rồi bỏ mặc họ Vận được thì tốt, vận không được cũng mặc Những cán bộ khác không trông nom giúp đỡ, tự chomình không có trách nhiệm dân vận Đó là sai lầm rất to, rất có hại”
- Phương thức làm công tác dân vận
“Dân vận không thể chỉ dùng báo chương, sách vở, mít tinh, khẩu hiệu, truyền đơn, chỉ thị mà đủ”
Trước nhất là phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rằng: “Việc đó là lợi ích cho họ, là nhiệm vụ của
họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được”
Điểm thứ hai là, “bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa
phương, rồi động viên tổ chức toàn dân ra thi hành”
Điểm thứ ba là, trong lúc thi hành phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân.
Điểm thứ tư là, khi thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm phê bình khen thưởng”.
Quy trình và phương thức dân vận nêu trên chính là tiền đề của phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”
mà Đảng ta khái quát sau này
- Về phong cách của cán bộ làm công tác dân vận
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong cách của người làm dân vận là phải: “Óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệngnói, tay làm”
Bác chỉ rõ 3 việc: tuyên truyền cho dân, gương mẫu trước dân, quan tâm và giải quyết lợi ích của dân
Tư tưởng của Bác còn được nhấn mạnh:
- Phải gần gũi quần chúng, kiên trì giải thích cho quần chúng hiểu rõ chủ trương chính sách Người còn chỉ rõ: “Muốnthực sự gần gũi quần chúng thì phải cùng ăn cùng ở cùng làm mới biết sinh hoạt của quần chúng thế nào”
- Cán bộ đảng viên phải tự mình làm gương cho quần chúng: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễnvăn tuyên truyền”
- “Cách làm việc, cách tổ chức, nói chuyện tuyên truyền, khẩu hiệu viết báo của chúng ta đều phải lấy câu này làm khuôn
phép: Từ quần chúng mà ra, về sâu quần chúng” Cách tổ chức và làm việc nào không hợp với quần chúng thì ta phải có gan đề
nghị với cấp trên bỏ đi hoặc sửa lại Cách nào hợp với quần chúng, quần chúng cần, thì dù chưa có sẵn, ta phải đề nghị cấp trên
mà đặt ra Nếu cần thì cứ đặt ra, rồi báo cáo sau miễn là được việc”
- Mục đích của cách mạng tước hết là vì quyền lợi của nhân dân “Việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì cóhại cho dân thì phải hết sức tránh”
- Dân chủ, đoàn kết là tư tưởng xuyên suốt trong công tác dân vận
Người nói: “Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân”; “Thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng có thể giải quyếtmọi khó khăn”
Về đoàn kết, Người nói: “Cách mệnh thì phải đoàn kết dân chúng bị áp bức để đánh đổ cả cái giai cấp áp bức mình, chứkhông phải chỉ nhờ 5,7 người giết 2,3 anh vua, 9, 10 anh quan mà được” Người kêu gọi:“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết.Thành công, thành công, đại thành công”
Trang 16Tư tưởng đoàn kết của người thể hiện rất rõ ràng: Đoàn kết góp thành lực lượng Đoàn kết trong tổ chức trong phongtrào cách mạng của quần chúng, ngay trong khi thực hiện một khẩu hiệu cách mạng Muốn vận động nhân dân, thì điều cơ bảnđầu tiên là phải dân chủ, vì vậy, mở đầu bài báo “Dân vận”, Bác viết:
Nước ta là nước dân chủ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân
Công việc đổi mới là trách nhiệm của dân
Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân
Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra
Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên
Nói tóm lại, quyền hành lực lượng đều ở nơi dân
* Quan điểm của Đảng về công tác dân vận
Ngay từ khi thành lập, Đảng ta đã đặc biệt coi trọng công tác dân vận và khẳng định: Sức mạnh của cách mạng ở nơidân Đảng ta phải dựa vào dân để làm cách mạng Đây là điều cốt yếu hằng ngày của Đảng và công tác dân vận của Đảng tađược xác định là một nhiệm vụ trung tâm hàng đầu của toàn Đảng Bác Hồ đã dạy: “Giữ chặt mối liên hệ với dân chúng vàluôn luôn lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi”
Xây dựng Đảng không chỉ là công việc của Đảng mà còn là công việc của nhân dân Nhân dân luôn góp ý, nêu sáng kiếntham gia xây dựng đường lối của Đảng và chính nhân dân là lực lượng thực hiện hăng hái, có hiệu quả đường lối đó; nhân dângiám sát cán bộ, đảng viên, công chức và các tổ chức đảng, chính quyền các cấp trong việc thực hiện chủ trương, chính sách vàpháp luật; nhân dân góp phần phát hiện và đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định:
“Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn
bó mật thiết với nhân dân Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng Công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”.
- Nghị quyết số 08B-NQ/HNTW (khóa VI) ngày 7/3/1990 đã nêu ra 4 quan điểm cơ bản về công tác Dân vận là:
+ Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, vì nhân dân, do nhân dân cần được quán triệt sâu sắc hơn nữa trong thời kỳ đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
+ Động lực thúc đẩy phong trào cách mạng của quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân và kết hợp hài hòagiữa các lợi ích, thống nhất giữa nghĩa vụ và quyền lợi của công dân
+ Các hình thức tập hợp nhân dân phải đa dạng
+ Công tác dân vận là trách nhiệm của Đảng, đoàn thể nhân dân, của mọi cán bộ đảng viên, cán bộ chính quyền côngchức, viên chức của nhà nước
- Quan điểm của Đảng về công tác Dân vận trong tình hình mới:
Nghị quyết Trung ương 7 (khóa XI) ngày 03/6/2013 quán triệt 5 quan điểm sau:
- Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ
- Động lực thúc đẩy phong trào nhân dân là phát huy quyền làm chủ, đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân; kết hợp hàihòa các lợi ích; quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ công dân; chú trọng lợi ích trực tiếp của người dân; huy động sức dân phải
đi đôi với bồi dưỡng sức dân; những gì có lợi cho dân thì hết sức làm, những gì có hại cho dân thì hết sức tránh
- Phương thức lãnh đạo công tác dân vận của Đảng phải gắn liền với công tác xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch,vững mạnh Mọi quan điểm, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước phải phù hợp với lợi ích của nhân dân, do nhândân, vì nhân dân Mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải gương mẫu để nhân dân tin tưởng, noi theo
- Công tác dân vận là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hộiviên các đoàn thể nhân dân, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Trong đó, Đảng lãnh đạo, chính quyền tổ chức thực hiện, Mặttrận, đoàn thể làm tham mưu và nòng cốt
- Nhà nước tiếp tục thể chế hóa cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ" thành quy chế, quy định
để các tổ chức trong hệ thống chính trị; cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang thựchiện công tác dân vận; các hình thức tập hợp nhân dân phải phong phú, đa dạng, khoa học, hiệu quả \
Câu 6 (4 điểm): Đồng chí hãy làm rõ sự cần thiết phải tăng cường công tác dân vận của Đảng trong giai đoạn hiện nay?
Công tác dân vận là một lĩnh vực rộng lớn, cơ bản, quan trọng trong quan điểm, đường lối cách mạng của Đảng ta, thểhiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và trong hầu hết các văn kiện của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước
* Mối quan hệ giữa triều đại phong kiến và nhân dân theo quan điểm của người Việt Nam
Truyền thống lịch sử của dân tộc Việt Nam đã chỉ ra rằng: mọi thắng lợi của các triều đại phong kiến trong việc bảo vệ, xâydựng đất nước là do các triều đại này đã “lấy dân làm gốc”, biết dựa vào dân và biết phát huy sức mạnh của nhân dân
Trước quân Tống xâm lược hùng mạnh, với tài thao lược cùng với tuyên ngôn hợp lòng dân, làm nức lòng dân nên Lý
Thường Kiệt đã lãnh đạo nhân dân ta chiến thắng quân Tống
Triều đại nhà Trần, Trần Quốc Tuấn đã làm rõ hơn tầm quan trọng của việc “lấy dân làm gốc” Ông cho rằng cuộc
kháng chiến chống quân Nguyên - Mông muốn thắng lợi thì phải “Vua tôi đồng tâm, anh em hòa thuận, cả nước góp sức” Saukhi chiến thắng quân Nguyên - Mông, ông lại nghĩ đến thực hành chính sách “khoan thư sức dân để làm kế bền gốc rễ, đó làthượng sách giữ nước”
Trang 17Triều đại nhà Lê, Nguyễn Trãi khẳng định sự nghiệp cứu nước và xây dựng đất nước là của dân, dân là yếu tố cốt yếu
cho sự thành công, “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” Ngoài ra, ông cũng đã nhận thấy nguy cơ nếu đi ngược lại lợi ích củanhân dân “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân”
Có thể khẳng định, trong lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã giành thắng lợi trong các cuộc kháng chiến quacác triều đại phong kiến chống giặc ngoại xâm đều là thắng lợi của việc đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo thành sức mạnh của mộtnước nhỏ đánh thắng đế quốc lớn
* Mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về nhân dân
- Chủ nghĩa Mác - Lênin đề cao vai trò của quần chúng nhân dân, coi sức mạnh của quần chúng nhân dân là vô địch;cách mạng là sự nghiệp của quần chúng
Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định: Nhân dân là người sáng tạo ra mọi của cải vật chất và những giá trị tinh thần, nhân
tố quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội
Nghiên cứu về lịch sử đấu tranh giai cấp ở Pháp, Mác và Ănghen đã viết: “Đã qua rồi thời kỳ những cuộc đột kích, thời
kỳ những cuộc cách mạng do những nhóm thiểu số tự giác cầm đầu những quần chúng không tự giác tiến hành Ở nơi nào màvấn đề đặt ra là phải hoàn toàn cải tạo chế độ xã hội thì bản thân quần chúng phải tự mình tham gia vào công cuộc cải tạo ấy,phải tự mình hiểu rõ vì sao phải tiến hành đấu tranh, vì sao phải đổ máu và hy sinh tính mạng” (lời nói đầu tác phẩm “Đấutranh giai cấp ở Pháp 1848 - 1850”)
- Sức mạnh của quần chúng chỉ được phát huy khi họ được tổ chức lại do một đảng chân chính lãnh đạo
Lênin đã chỉ rõ: “Không một phong trào cách mạng nào mà lại vững chắc được, nếu không có một tổ chức ổn định vàduy trì được tính liên tục gồm những người lãnh đạo”
Đảng cộng sản cầm quyền lãnh đạo toàn xã hội không chỉ bằng cương lĩnh chính trị, đường lối chiến lược, sách lược, màcòn phải thông qua vai trò tổ chức hoạt động của bộ máy chính quyền nhà nước và các đoàn thể quần chúng Vì thế, một vấn đềthen chốt về xây dựng đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh được Lênin đặc biệt quan tâm là phải tăng cường xây dựng, củng
cố mối liên hệ mật thiết giữa đảng và nhân dân Người chỉ rõ: “Chủ nghĩa xã hội sinh động, sáng tạo là sự nghiệp của bản thânquần chúng nhân dân” Cho nên, đảng cộng sản cầm quyền phải trở thành người lãnh đạo, người cổ vũ, tổ chức sự sáng tạo đó.Mỗi đảng viên không những phải luôn thực hiện tốt công tác vận động quần chúng nhân dân để tạo nên sức mạnh vô địch chođảng, mà còn phải thường xuyên học tập, rèn luyện để nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ, đạo đức cách mạng, nhằmhướng đích xây dựng đảng trong sạch, vững mạnh
Từ kinh nghiệm thực tiễn lãnh đạo chính quyền Xô-viết, Lênin đưa ra những chỉ huấn rất sâu sắc: mỗi người cộng sảnnếu không tự bôi nhọ đạo đức, thanh danh của mình, thì không kẻ nào có thể hạ thấp được vai trò và uy tín của họ; tuyệt nhiênkhông một thế lực nào có thể phá vỡ được quan hệ gắn bó máu thịt giữa đảng và quần chúng nhân dân
- Phương pháp vận động quần chúng cũng chiếm một vị trí hết sức quan trọng, gồm 3 việc:
Thuyết phục, giáo dục
Nêu gương
Mở rộng dân chủ và công khai
Lênin đã chỉ rõ cần phải “Thuyết phục cho đa số nhân dân thấy được sự đúng đắn của cương lĩnh và sách lược”; “Mộtnước mà khi nào quần chúng biết rõ tất cả mọi cái, quần chúng có thể đoán được về mọi cái và đi vào hành động một cách có ýthức”
Người phê phán những cán bộ và cơ sở đảng “Rất ít dùng những điển hình, những tấm gương cụ thể, sinh động lấy trongmọi lĩnh vực của đời sống để giáo dục quần chúng”
* Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhân dân và công tác dân vận
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, kế thừa, phát triển những tinh hoa của triết họcphương Tây, triết học phương Đông cũng như những tư tưởng tiến bộ của ông cha ta về nhân dân, đưa ra những quan điểm vềnhân dân rất độc đáo gồm mấy điểm chính sau đây:
- Muốn giành thắng lợi, Đảng phải dựa vào dân, tôn trọng dân, quý dân
Bác viết: “Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của
toàn dân” Người luôn căn dặn cán bộ đảng viên phải tin tưởng nhân dân, phải biết dựa vào nhân dân vì “dễ trăm lần không
dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” “Nước phải lấy dân làm gốc… Gốc có vững thì cây mới bền… Dân chúngđồng lòng, việc gì cũng làm được Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”
- Đảng phải tổ chức quần chúng để biến hành động của họ từ tự phát thành tự giác
Trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”, Bác Hồ chỉ ra rằng: “Trước hết phải có Đảng cách mạng” và công việc của Đảng
là “Trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản mọi nơi”
Đánh giá nguyên nhân thành công của Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúngchứ không phải sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào Thành công của Đảng là ở nơi Đảng ta đã tổ chức và phát huy lực lượngcách mạng vô tận của nhân dân”
- Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ thế nào là Dân vận
Ngay sau khi giành được chính quyền, ngày 15/10/1949, Bác Hồ đã viết bài báo “Dân vận” đăng trên báo Sự thật Bác
đã chỉ rõ vị trí, tầm quan trọng của công tác dân vận, giải thích dân vận là gì, ai có trách nhiệm làm dân vận và phương pháplàm dân vận như thế nào
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một ngườidân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc của Chính phủ, đoàn thể giaocho”
Từ định nghĩa trên ta thấy:
- Đối tượng công tác dân vận là nhân dân
Trang 18- Mục tiêu công tác dân vận là mục tiêu chung của cách mạng.
+ Trước khi thành lập Đảng, trong tác phẩm Đường Kách mệnh, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã xác định rõ
mục tiêu: “Kách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người Thế mới khỏi hy sinh nhiềulần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”
+ Sau thắng lợi của cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo toàn dân kháng chiến
và kiến quốc Người nêu rõ: “Chính phủ ta đã hứa với dân, sẽ gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc” Mục tiêu cao
cả của cách mạng trở thành tuyên ngôn của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc Chủ tịch HồChí Minh nhấn mạnh: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”
- Nội dung cơ bản của công tác dân vận là vận động nhân dân, tổ chức lực lượng nhân dân, đoàn kết toàn dân để thựchiện những nhiệm vụ của cách mạng, những việc nên làm
- Lực lượng làm công tác dân vận phải là “Tất cả cán bộ chính quyền, cán bộ đoàn thể và tất cả các hội viên của cácđoàn thể nhân dân (Liên Việt, Việt Minh…) đều phải phụ trách dân vận”
Điều này càng làm rõ hơn luận điểm: Công tác dân vận không chỉ của Mặt trận, các đoàn thể nhân dân mà chính quyền,cán bộ chính quyền cũng phải làm công tác dân vận
Từ đó đến nay, công tác dân vận đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, song đối chiếu với lời dạy của Bác Hồ thì công tácdân vận của chúng ta cũng còn nhiều thiếu sót, nhiều lúc, nhiều nơi chưa cụ thể hoá, vận động đến từng người dân
- Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh vai trò của công tác dân vận
Xuất phát từ cơ sở nhận thức khoa học: Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Vấn đề cơ bảncủa mọi cuộc cách mạng là đoàn kết tập hợp được lực lượng nhân dân Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu một mệnh đề như là mộtchân lý: “Lực lượng của dân rất to Việc dân vận rất quan trọng Dân vận kém thì việc gì cũng kém, dân vận khéo thì việc gìcũng thành công”
Người còn nói: “Khuyết điểm to ở nhiều nơi là xem khinh việc dân vận Cử ra một ban hoặc vài người, mà thường cửcán bộ kém rồi bỏ mặc họ Vận được thì tốt, vận không được cũng mặc Những cán bộ khác không trông nom giúp đỡ, tự chomình không có trách nhiệm dân vận Đó là sai lầm rất to, rất có hại”
- Phương thức làm công tác dân vận
“Dân vận không thể chỉ dùng báo chương, sách vở, mít tinh, khẩu hiệu, truyền đơn, chỉ thị mà đủ”
Trước nhất là phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rằng: “Việc đó là lợi ích cho họ, là nhiệm vụ của
họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được”
Điểm thứ hai là, “bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa
phương, rồi động viên tổ chức toàn dân ra thi hành”
Điểm thứ ba là, trong lúc thi hành phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích dân.
Điểm thứ tư là, khi thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm phê bình khen thưởng”.
Quy trình và phương thức dân vận nêu trên chính là tiền đề của phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”
mà Đảng ta khái quát sau này
- Về phong cách của cán bộ làm công tác dân vận
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong cách của người làm dân vận là phải: “Óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệngnói, tay làm”
Bác chỉ rõ 3 việc: tuyên truyền cho dân, gương mẫu trước dân, quan tâm và giải quyết lợi ích của dân
Tư tưởng của Bác còn được nhấn mạnh:
- Phải gần gũi quần chúng, kiên trì giải thích cho quần chúng hiểu rõ chủ trương chính sách Người còn chỉ rõ: “Muốnthực sự gần gũi quần chúng thì phải cùng ăn cùng ở cùng làm mới biết sinh hoạt của quần chúng thế nào”
- Cán bộ đảng viên phải tự mình làm gương cho quần chúng: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễnvăn tuyên truyền”
- “Cách làm việc, cách tổ chức, nói chuyện tuyên truyền, khẩu hiệu viết báo của chúng ta đều phải lấy câu này làm khuôn
phép: Từ quần chúng mà ra, về sâu quần chúng” Cách tổ chức và làm việc nào không hợp với quần chúng thì ta phải có gan đề
nghị với cấp trên bỏ đi hoặc sửa lại Cách nào hợp với quần chúng, quần chúng cần, thì dù chưa có sẵn, ta phải đề nghị cấp trên
mà đặt ra Nếu cần thì cứ đặt ra, rồi báo cáo sau miễn là được việc”
- Mục đích của cách mạng tước hết là vì quyền lợi của nhân dân “Việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì cóhại cho dân thì phải hết sức tránh”
- Dân chủ, đoàn kết là tư tưởng xuyên suốt trong công tác dân vận
Người nói: “Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân”; “Thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng có thể giải quyếtmọi khó khăn”
Về đoàn kết, Người nói: “Cách mệnh thì phải đoàn kết dân chúng bị áp bức để đánh đổ cả cái giai cấp áp bức mình, chứkhông phải chỉ nhờ 5,7 người giết 2,3 anh vua, 9, 10 anh quan mà được” Người kêu gọi:“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết.Thành công, thành công, đại thành công”
Tư tưởng đoàn kết của người thể hiện rất rõ ràng: Đoàn kết góp thành lực lượng Đoàn kết trong tổ chức trong phongtrào cách mạng của quần chúng, ngay trong khi thực hiện một khẩu hiệu cách mạng Muốn vận động nhân dân, thì điều cơ bảnđầu tiên là phải dân chủ, vì vậy, mở đầu bài báo “Dân vận”, Bác viết:
Nước ta là nước dân chủ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân
Công việc đổi mới là trách nhiệm của dân
Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân
Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra
Trang 19Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên
Nói tóm lại, quyền hành lực lượng đều ở nơi dân
* Quan điểm của Đảng về công tác dân vận
Ngay từ khi thành lập, Đảng ta đã đặc biệt coi trọng công tác dân vận và khẳng định: Sức mạnh của cách mạng ở nơidân Đảng ta phải dựa vào dân để làm cách mạng Đây là điều cốt yếu hằng ngày của Đảng và công tác dân vận của Đảng tađược xác định là một nhiệm vụ trung tâm hàng đầu của toàn Đảng Bác Hồ đã dạy: “Giữ chặt mối liên hệ với dân chúng vàluôn luôn lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi”
Xây dựng Đảng không chỉ là công việc của Đảng mà còn là công việc của nhân dân Nhân dân luôn góp ý, nêu sáng kiếntham gia xây dựng đường lối của Đảng và chính nhân dân là lực lượng thực hiện hăng hái, có hiệu quả đường lối đó; nhân dângiám sát cán bộ, đảng viên, công chức và các tổ chức đảng, chính quyền các cấp trong việc thực hiện chủ trương, chính sách vàpháp luật; nhân dân góp phần phát hiện và đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định:
“Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn
bó mật thiết với nhân dân Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng Công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”.
- Nghị quyết số 08B-NQ/HNTW (khóa VI) ngày 7/3/1990 đã nêu ra 4 quan điểm cơ bản về công tác Dân vận là:
+ Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, vì nhân dân, do nhân dân cần được quán triệt sâu sắc hơn nữa trong thời kỳ đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
+ Động lực thúc đẩy phong trào cách mạng của quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân và kết hợp hài hòagiữa các lợi ích, thống nhất giữa nghĩa vụ và quyền lợi của công dân
+ Các hình thức tập hợp nhân dân phải đa dạng
+ Công tác dân vận là trách nhiệm của Đảng, đoàn thể nhân dân, của mọi cán bộ đảng viên, cán bộ chính quyền côngchức, viên chức của nhà nước
- Quan điểm của Đảng về công tác Dân vận trong tình hình mới:
Nghị quyết Trung ương 7 (khóa XI) ngày 03/6/2013 quán triệt 5 quan điểm sau:
- Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ
- Động lực thúc đẩy phong trào nhân dân là phát huy quyền làm chủ, đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân; kết hợp hàihòa các lợi ích; quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ công dân; chú trọng lợi ích trực tiếp của người dân; huy động sức dân phải
đi đôi với bồi dưỡng sức dân; những gì có lợi cho dân thì hết sức làm, những gì có hại cho dân thì hết sức tránh
- Phương thức lãnh đạo công tác dân vận của Đảng phải gắn liền với công tác xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch,vững mạnh Mọi quan điểm, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước phải phù hợp với lợi ích của nhân dân, do nhândân, vì nhân dân Mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải gương mẫu để nhân dân tin tưởng, noi theo
- Công tác dân vận là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hộiviên các đoàn thể nhân dân, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Trong đó, Đảng lãnh đạo, chính quyền tổ chức thực hiện, Mặttrận, đoàn thể làm tham mưu và nòng cốt
- Nhà nước tiếp tục thể chế hóa cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ" thành quy chế, quy định
để các tổ chức trong hệ thống chính trị; cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang thựchiện công tác dân vận; các hình thức tập hợp nhân dân phải phong phú, đa dạng, khoa học, hiệu quả
Câu 7 (4 điểm): Đồng chí hãy làm rõ tính cấp thiết phải nâng cao chất lượng của tổ chức cơ sở đảng trong tình hình hiện nay?
Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, là một đội ngũ thống nhất về chính trị, tưtưởng và có tổ chức chặt chẽ, khoa học Tính tổ chức của Đảng thể hiện trước tiên ở chỗ Đảng là một hệ thống các cấp tổ chức
từ trung ương đến cơ sở, được xây dựng theo nguyên tắc tập trung dân chủ Trong hệ thống đó, các tổ chức cơ sở - chi bộ cơ
sở và Đảng bộ cơ sở - dù được thành lập ở loại hình đơn vị cơ sở nào trong xã hội đều có vai trò là “nền móng” của Đảng, là
hạt nhân chính trị ở cơ sở, là sợi dây chuyền của Đảng liên hệ với quần chúng Các tổ chức cơ sở đảng trực tiếp tiến hành các
hoạt động xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đảm bảo đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật củaNhà nước được thực hiện có hiệu quả và trở thành hiện thực Vì vậy, xây dựng các tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh,
có năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu cao là nhiệm vụ rất quan trọng, cấp thiết góp phần xây dựng Đảng vững mạnhtoàn diện, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ trong mọi tình huống
Khái niệm tổ chức cơ sở Đảng được Đảng ta ghi rõ ở Điều 21 - Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam Tổ chức cơ sở Đảng
là đơn vị cơ sở (xã, phường, thị trấn, cơ quan, hợp tác xã, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, đơn vị cơ sở trong quân đội, công
an và các đơn vị cơ sở khác) có từ 3 đảng viên chính thức trở lên Tổ chức cơ sở Đảng dước 30 đảng viên lập chi bộ cơ sở có
các tổ chức Đảng trực thuộc Tổ chức cơ sở Đảng có từ 30 đảng viên trở lên, lập Đảng bộ cơ sở, có các chi bộ trực thuộc Đảng
ủy Những trường hợp lập Đảng bộ cơ sở trong đơn vị cơ sở chưa đủ 30 đảng viên, lập chi bộ trực thuộc Đảng ủy, cơ sở có hơn
30 đảng viên lập Đảng ủy bộ phận trực thuộc Đảng ủy cơ sở, cấp ủy cấp dưới phải báo cáo và được cấp ủy cấp trên đồng ý mớithực hiện
Theo quy định trên, khái niệm tổ chức cơ sở Đảng được gọi chung cho cả Đảng bộ cơ sở và chi bộ cơ sở tuỳ thuộc vào
số lượng đảng viên và yêu cầu nhiệm vụ cụ thể từng đơn vị cơ sở
Đảng cộng sản Việt Nam và chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xây dựng tổ chức cơ sở Đảng Dù ở bất kỳ giaiđoạn cách mạng nào, Đảng ta luôn khẳng định tổ chức cơ sở Đảng là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở đơn vị cơ sở
Trang 20“mỗi chi bộ của Đảng, phải là hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở, đoàn kết chặt chẽ, liên hệ mật thiết với quần chúng, pháthuy được trí tuệ và lực lượng vĩ đại của quần chúng” (Hồ Chí Minh Toàn Tập, Tập 11, NXB CTQG, HN 2000, Trang 23).
Vị trí, vai trò của tổ chức cơ sở Đảng được khái quát ở những nội dung sau:
Tổ chức cơ sở Đảng là nơi nối liền các cơ quan lãnh đạo cấp trên của quần chúng, là chiếc cầu, là bản lề gắn bó Đảng với dân Mọi tậm tư, nguyện vọng chính đáng cùa dân vì thế được phản ánh kịp thời lên tổ chức Đảng cấp trên thông qua
chi bộ cơ sở, Đảng bộ cơ sở Tổ chức cơ sở Đảng là nơi thể hiện toàn diện, trực tiếp và cụ thể nhất mối quan hệ gắn bó máuthịt giữa Đảng với Dân; là nơi nhân dân thực hiện và phát huy quyền làm chủ của mình trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xãhội ở cơ sở
Tổ chức cơ sở Đảng là nơi trực tiếp đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng vào quần chúng , khơi dậy trí tuệ
và nguồn lực của dân, sở và tổ chức cho quần chúng thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách đó
Tổ chức cơ sở Đảng còn là nơi trực tiếp giáo dục, rèn luyện, kết nạp và sàng lọc đảng viên ; nơi đào tạo cán bộ cho
Đảng; nơi xuất phát để cử ra cơ quan lãnh đạo cấp trên của Đảng; là cửa ngõ quan trọng bảo đảm tính tiên phong, tính trongsạch của Đảng ta
Trong điều kiện đất nước hòa bình thống nhất cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta luôn coi các tổ chức cơ sởĐảng là các tổ chức nền tảng, là những đơn vị chiến đấu cơ bản những tế bào của Đảng, chất lượng các Đảng bộ cơ sở là yếu
tố tạo nên chất lượng lãnh đạo của Đảng đối với quá trình cách mạng, đến uy tín của Đảng trước quần chúng nhân dân Từnhững bài học thành công và chưa thành công của tổ chức cơ sở Đảng, Đảng ta đã nhận định: “những thành tựu đã đạt được,những tiềm năng đã khai thác, những kinh nghiệm có giá trị đều bắt nguồn từ sự nỗ lực phấn đấu của quần chúng ở cơ sở màhạt nhân là tổ chức cơ sở Đảng, nhưng mặt khác, sự yếu kém của nhiều tổ chức cơ sở Đảng đã hạn chế những thành tựu củacách mạng” Sự nhận định đó càng làm sâu sắc thêm nhận định của chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chi bộ là nền móng của Đảng, chi
bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt”
Hiện nay đất nước ta phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có sự quản lý của nhà nước, vai trò của tổ
chức cơ sở Đảng càng trở nên quan trọng Nghị Quyết đại hội lần thứ 5 BCH TW khoá VI đã nêu: “trong điều kiện chuyển sang thực hiện cơ chế quản lý mới, phát huy vai trò chủ động sáng tạo của các đơn vị kinh tế cơ sở, mở rộng dân chủ XHCN, các tổ chức cơ sở Đảng phải thực sự làm hạt nhân lãnh đạo chính trị trong các tập thể lao động”…Với vai trò đó, các Đảng
bộ cơ sở phải nâng cao chất lượng trong hoạt động thực tiễn của mình, bảo đảm cho công cuộc đổi mới được thực hiện trênthực tế ở đơn vị cơ sở, đồng thời, từ thực tiễn cuộc sông đóng góp ý kiến với Đảng, nhà nước hoàn chỉnh đường lối chủ trương,chính sách và pháp luật
Trong tình hình hiện nay, việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng đang là nhiệm vụquan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng Bởi vì:
Thứ nhất, trong những năm qua, thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương về xây dựng tổ chức cơ sở đảng,
cấp ủy đảng các cấp đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng,nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, đạt được những chuyển biến tiến bộ, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới đấtnước Tuy nhiên, so với yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở cửa, hội nhập quốc tế,năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng chưa ngang tầm
Thứ hai, hiện nay nước ta đang chuyển sang thời kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã
hội Chính thời kỳ mới đó đặt ra cho việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng nhiều thuận lợi,thời cơ, vận hội lớn, nhưng cũng phải đối mặt với những thách thức, những nguy cơ không thể xem thường như: tụt hậu xa hơn
về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực; chệch hướng xã hội chủ nghĩa, tham nhũng và tiêu cực; diễn biến hòa bình Khôngnhững vậy, chúng ta chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhànước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng quan hệ quốc tế Trong cơ chế thị trường, bên cạnh mặt tích cực nếu không
có sự quản lý chặt chẽ, kịp thời, không có giải pháp điều tiết hữu hiệu thì nền kinh tế có thể bị chệch hướng, một bộ phận giàulên nhanh chóng, đẩy nhanh sự phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn giữa các giai cấp tầng lớp trong xã hội, xuất hiện khuynhhướng chạy theo đồng tiền Hệ quả của khuynh hướng này đang làm thay đổi quan niệm về sự hóa trong xã hội Tình hình trênđây đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi Đảng ta phải trong sạch, vững mạnh Muốn Đảng ta trong sạch vững mạnh thì Đảng tiếp tụckhông ngừng xây dựng và chỉnh đốn, nâng cao năng lực và sức chiến đấu
Thứ ba, thế kỷ XXI sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi Khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt Kinh tế tri thức
ngày càng có vai trò nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, lôicuốn ngày càng nhiều nước tham gia, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh Các mâuthuẫn cơ bản trên thế giới biểu hiện dưới những hình thức và mức độ khách quan vẫn tồn tại và phát triển, có mặt sâu sắc hơn.Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp tiếp tục diễn ra gay gắt Sự biến đổi của thế giới sẽ tác động vào cán bộ, đảng viên vànhân dân ta cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực Để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực đòi hỏi Đảng phải trong sạch,vững mạnh Muốn vậy, Đảng hiện nay phải xây dựng, chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu
Thứ tư, từ sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ra sức chống phá chủ nghĩa xã hội bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”; mưu toan chuyển hóa từng bước, làm xói mòn
lý tưởng cộng sản, tiến tới phá sập niềm tin vào chủ nghĩa xã hội và sự lãnh đạo của Đảng cộng sản… bằng chính bàn tay củanhững người cộng sản và nhân dân các nước này Chúng coi Việt Nam là một trọng điểm áp dụng chiến lược đó Với mưu đồ
thâm độc, chúng triển khai chiến lược “Diễn biến hòa bình” trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, cả chính trị, kinh tế,
quốc phòng, an ninh, tư tưởng, văn học, nghệ thuật, lối sống, quan hệ quốc tế… Chúng dùng mọi thủ đoạn thâm độc, bằng mọihình thức, biện pháp xâm nhập vào tất cả các lĩnh vực nhằm lật đổ chế độ xã hội
Chiến lược “Diễn biến hòa bình” tập trung vào hướng chính là phá hoại nền tảng tư tưởng và tổ chức của Đảng Thủ
đoạn của chúng thường là xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phủ nhận sự hy sinh và công lao của người cộngsản, thổi phồng sai lầm của Đảng Chúng lợi dụng những kẻ cơ hội, phản bội về chính trị và thoái hóa về phẩm chất đạo đức để
Trang 21chia rẽ, làm suy yếu, phá hoại Đảng từ bên trong Trước những âm mưu và thủ đoạn phá hoại của địch, nếu không cảnh giác,không chăm lo xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức thì tổn thất đối với cách mạng là khôngthể lường hết được.
Câu 8 (4 điểm): Đồng chí hãy phân tích yêu cầu phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện hiện nay?
1 Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị là gì
- Phương thức lãnh đạo của Đảng cầm quyền là hệ thống những phương pháp, hình thức, biện pháp, quy trình, lề lốilàm việc, tác phong công tác mà Đảng vận dụng để tác động vào các lực lượng xã hội, các tổ chức, cá nhân nhằm biến đườnglối, chủ trương, chính sách của Đảng thành nhận thức và hành động của đối tượng lãnh đạo, qua đó thực hiện được các nhiệm
+ Đảng không làm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị
+ Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy Đảng liên hệ mật thiết với nhân dân,chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật
- Ngoài những điểm nêu trên, Đảng lãnh đạo Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân
từ uy tín của Đảng, từ sự đề cao và tôn trọng vai trò của Nhà nước, các tổ chức trong hệ thống chính trị và toàn xã hội Sự lãnhđạo thật sự của Đảng không chỉ thông qua các quyết định, các chỉ thị mà còn bằng uy tín, bằng khả năng thuyết phục trong lờinói, trong hành động, trong phong cách công tác của các tổ chức đảng và của từng cá nhân cán bộ lãnh đạo, đảng viên củaĐảng
- Giống như nội dung sự lãnh đạo của Đảng, phương thức lãnh đạo của Đảng có sự thay đổi phù hợp với yêu cầu,nhiệm vụ cách mạng, với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể Đổi mới phươngthức lãnh đạo của Đảng luôn là một yêu cầu có tính khách quan, một nhiệm vụ quan trọng trong công tác xây dựng Đảng vànâng cao năng lực cầm quyền của Đảng Yêu cầu khách quan này luôn được Đảng ta quán triệt và nhấn mạnh trong các vănkiện Đại hội và Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương
2 Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị
- Trong hệ thống chính trị nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền Đó là sự lựa chọn của dân tộc ta, làmột tất yếu lịch sử, tất yếu khách quan Sự lãnh đạo ấy vừa có cơ sở đạo lý, vừa có cơ sở pháp lý
- Khi trở thành một Đảng duy nhất cầm quyền, sự lãnh đạo của Đảng được thực hiện trong mối quan hệ khá phức tạp
và nhạy cảm với cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước pháp quyền và trong các điều kiện xây dựng, phát huy nền dân chủ xãhội chủ nghĩa Sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước, mà biểu hiện tập trung nhất là bộ máy nhà nước, đòi hỏi phải phân định
sự lãnh đạo của Đảng đối với vai trò quản lý, điều hành của Nhà nước
- Trong tổ chức của hệ thống chính trị, Đảng ta vừa là lực lượng lãnh đạo toàn bộ hệ thống, vừa là thành viên trong hệthống chính trị Điều đó cũng đòi hỏi phải xác định rõ vai trò lãnh đạo của Đảng, tư cách thành viên của Đảng và khả năng độclập của mỗi thành viên thuộc hệ thống chính trị trong các mối quan hệ chính trị và sinh hoạt dân chủ
- Trong thực tiễn, vai trò và sự lãnh đạo của Đảng luôn luôn được xác định trong từng mối quan hệ với từng thiết chế,
tổ chức cụ thể trong hệ thống chính trị Vai trò cầm quyền và sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước khác với sự lãnh đạo củaĐảng đối với Mặt trận Tổ quốc hoặc đối với các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân Sự mơ hồ, thiếu cụ thể nào đó đều cóảnh hưởng tiêu cực đến đời sống chính trị của đất nước, hoặc là Đảng sẽ bao biện, làm thay tất cả, hình thức hóa Nhà nước và
hệ thống chính trị, hoặc là hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, làm cho địa vị cầm quyền của Đảng chỉ tồn tại trên danh nghĩa
- Sự lãnh đạo của Đảng với hệ thống chính trị hiện nay đặt trong điều kiện mới, đó là xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, phát huy mạnh mẽ nền dân chủ trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và hội nhập kinh tế quốc tế Để bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị, Đảng phải tự đổi mới và nâng caosức chiến đấu của các tổ chức đảng Tăng cường mối quan hệ của Đảng với các thành tố của hệ thống chính trị là một nội dungquan trọng của đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
3 Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị
- Vị trí cầm quyền của Đảng thể hiện quyền hạn trách nhiệm chung của Đảng và trách nhiệm của các tổ chức đảngtrong việc quyết định các vấn đề của đất nước, các vấn đề trong từng lĩnh vực cụ thể, từ chính trị, kinh tế đến văn hóa, xã hội ởcác cấp, các ngành, trong các mối quan hệ với Nhà nước Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và toàn thể xã hội
- Sự lãnh đạo của Đảng biểu hiện tập trung nhất lãnh đạo về chính trị và tư tưởng, nhằm mục tiêu tạo ra một khuôn khổchính trị để Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân thực hiện đúng nhiệm vụ, thẩm quyền,chức năng và vai trò của mình theo quy định của pháp luật, theo điều lệ, mục đích, tôn chỉ của mỗi tổ chức
- Nội dung lãnh đạo của Đảng được thể hiện trong cương lĩnh chính trị, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng,bảo đảm tính định hướng chính trị cho sự phát triển đất nước, tạo cơ sở cho tổ chức và hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị
và toàn bộ xã hội định hướng tới mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
4 Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng
Trải qua 85 năm lãnh đạo cách mạng, từ lãnh đạo cách mạng trong điều kiện chưa có chính quyền đến khi trở thànhĐảng cầm quyền; từ cầm quyền khi có nhiều đảng phái tham chính đến khi trở thành một đảng duy nhất cầm quyền; từ cầmquyền một nửa nước đến cầm quyền trong cả nước; từ lãnh đạo chiến tranh là chủ yếu đến lãnh đạo xây dựng đất nước tronghoà bình Mỗi thời kỳ của cách mạng đòi hỏi sự lãnh đạo của Đảng phải thay đổi cho phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ cách