1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT, ĐỀ BÀI SỐ 09

12 87 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 32,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tiễn giải quyết việc làm đối với người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay :...6 Những kết quả đạt được :...6 Những bất cập còn tồn tại trong vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam hiện n

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

ĐỀ BÀI 2 BÀI LÀM 2 Câu 1 Quy định của pháp luật và thực tiễn giải quyết việc làm đối với người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay? 2

a Pháp luật giải quyết việc làm cho người lao động khuyết tật bao

gồm một số quy định cơ bản sau: 2

b Thực tiễn giải quyết việc làm đối với người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay : 6 Những kết quả đạt được : 6

Những bất cập còn tồn tại trong vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam hiện nay: 7 Câu 2: Quyền được chăm sóc sức khỏe ban đầu tại nơi cư trú của người khuyết tật? 10 LỜI CẢM ƠN TỚI CÁC THẦY CÔ TRONG TỔ BỘ MÔN 12

Trang 2

ĐỀ BÀI SỐ 09

1 Quy định của pháp luật và thực tiễn giải quyết việc làm đối với người khuyết tật

ở Việt Nam hiện nay?

2 Quyền được chăm sóc sức khỏe ban đầu tại nơi cư trú của người khuyết tật?

BÀI LÀM

Câu 1 Quy định của pháp luật và thực tiễn giải quyết việc làm đối với người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay?

a Pháp luật giải quyết việc làm cho người lao động khuyết tật bao gồm một số quy định cơ bản sau:

Thứ nhất, quy định về quyền được có việc làm việc của người lao động khuyết tật.

Việc làm cho người khuyết tật được cả Liên hợp quốc (UN) và Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đặc biệt quan tâm.UN quy định: các quốc gia phải công nhận quyền được làm việc của người khuyết tật, bằng cách thực thi những bước phù hợp, bao gồm cả các biện pháp luật pháp ,… ILO hướng dẫn thúc đẩy cơ hội việc làm bình đẳng cho người khuyết tật không bao gồm việc ngăn cấm phân biệt đối xử vì lý do khuyết tật Ngày 22/10/2007, Việt Nam đã ký Công ước Liên Hợp Quốc về quyền của người khuyết tật

Bộ luật Lao động của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi, bổ sung năm 2012 khẳng định: “Nhà nước bảo trợ quyền lao động, tự tạo việc làm của lao động là người khuyết tật, có chính sách khuyến khích và ưu đãi người sử dụng lao động tạo việc làm và nhận lao động là người khuyết tật vào làm việc, theo quy định

Trang 3

của Luật Người khuyết tật” (Khoản 1 Điều 176) Quyền làm việc của lao động khuyết tật là tiền đề tạo ra cơ hội và động lực cho người khuyết tật tìm kiếm việc làm, có cơ hội khẳng định bản thân, tự lập trong cuộc sống, tạo ra thu nhập để không phải dựa dẫm vào gia đình, người thân

Thứ hai, quy định về chính sách học nghề và việc làm cho người khuyết tật

Luật Người khuyết tật năm 2010 và Nghị định số 28/2012/NĐ - CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật đã có những quy định chi tiết về dạy nghề và việc làm đối với người khuyết tật Theo đó, Nhà nước đảm bảo, tạo điều kiện tối đa cho người khuyết tật được lựa chọn, tư vấn và học nghề, làm việc theo khả năng, sức khỏe của mình; cơ sở dạy nghề, tổ chức dạy nghề phải đảm bảo điều kiện dạy nghề; cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân, không được

từ chối tuyển dụng những người lao động khuyết tật có đủ tiêu chuẩn…

Thứ ba, quy định về cơ sở dạy nghề, cơ sở sản xuất kinh doanh

Học nghề và việc làm cho người khuyết tật luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước

ta quan tâm Bộ luật Lao động tại khoản 2 Điều 176 quy định: “Chính phủ quy định chính sách cho vay vốn ưu đãi từ Quỹ quốc gia về việc làm đối với người sử dụng lao động sử dụng lao động là người khuyết tật” Đối với cơ sở dạy nghề, tổ chức dạy nghề cho người khuyết tật thì phải bảo đảm điều kiện dạy nghề cho người khuyết tật và được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật ; cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật được

hỗ trợ cải tạo điều kiện, môi trường làm việc phù hợp cho người khuyết tật; được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp; được vay vốn với lãi suất ưu đãi theo dự án phát triển sản xuất kinh doanh; được ưu tiên cho thuê đất, mặt bằng, mặt nước và miễn, giảm tiền thuê đất, mặt bằng, mặt nước phục vụ sản xuất, kinh doanh theo tỷ lệ lao động là người khuyết tật, mức độ khuyết tật của người lao động và quy mô doanh

Trang 4

Đây là những quy định ưu đãi góp phần hỗ trợ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh có điều kiện mở rộng hoạt động sản xuất, cải thiện môi trường làm việc để người khuyết tật tiếp cận với công việc

Thứ tư, quy định về quỹ việc làm cho người khuyết tật

Với mục đích giúp đỡ người khuyết tật học nghề, tạo việc làm, hỗ trợ cơ sở dạy nghề, cơ sở sản xuất kinh doanh dành riêng cho người khuyết tật; hỗ trợ các doanh nghiệp khác thuộc mọi thành phần kinh tế nhân người khuyết tật vào học nghề và làm việc đạt tỷ lệ cao thì quy định về thành lập và sử dụng quỹ việc làm cho NKT

là một vấn đề quan trọng và cần thiết Luật Người khuyết tật năm 2010, tại Điều 10 quy định về quỹ trợ giúp người khuyết tật Theo đó, quỹ này là quỹ xã hội từ thiện nhằm huy động nguồn lực trợ giúp NKT và quỹ này được hình thành từ các nguồn như: đóng góp tự nguyện, tài trợ của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài;

hỗ trợ từ ngân sách nhà nước; các khoản thu hợp pháp khác Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện nguồn quỹ này vẫn đang còn nhiều bất cập

Thứ năm, quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi

Trước đây, Bộ luật Lao động quy định về thời gian làm việc của người khuyết tật không quá 7 giờ một ngày hoặc 42 giờ một tuần với mục đích tạo điều kiện cho người khuyết tật làm việc trong giới hạn phù hợp với khả năng và sức khoẻ của mình, giúp họ phục hồi sức khoẻ một cách nhanh chóng, có khả năng làm việc lâu dài và đạt năng suất Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện, quy định đã thể hiện

sự bất cập, tạo ra sự phân biệt giữa lao động khuyết tật và lao động không khuyết tật Người sử dụng lao động dựa vào quy định này để từ chối nhận NKT vào làm việc vì họ không đáp ứng được thời gian làm việc như các lao động khác Tuy nhiên, NKT lại khẳng định, họ có thể làm tốt công việc như những người lao động không khuyết tật Chính vì vây, Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung năm 2012

Trang 5

không quy định về thời giờ làm việc của người khuyết tật như trước để góp phần tạo ra môi trường làm việc công bằng giữa NKT và người không khuyết tật

Thứ sáu, quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với người khuyết tật

Điều 177 Bộ luật lao động 2012 quy định, người sử dụng lao động phải có trách nhiệm trong việc bảo đảm về điều kiện lao động, vệ sinh lao động phù hợp với người khuyết tật và thường xuyên chăm sóc sức khỏe cho họ Pháp luật nhấn mạnh đến việc đảm bảo các điều kiện an toàn lao động, vệ sinh lao động cho người tàn tật; cấm làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm đối với lao động khuyết tật bị suy giảm khả năng lao động từ 51% ; cấm sử dụng người lao động khuyết tật làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành Như vậy, người sử dụng lao động không được vì lợi ích trước mắt của mình để thỏa thuận làm thêm giờ, làm việc ban đêm, hoặc trường hợp chủ sử dụng lao động lợi dụng người lao động khuyết tật vào làm những công việc nặng nhọc độc hại cho sức khỏe của họ

Như vậy, giải quyết việc làm cho người khuyết tật không chỉ trông chờ vào tinh thần nhân đạo của các tổ chức, doanh nghiệp hoặc theo chương trình hợp tác dự án với các tổ chức nhân đạo ngước ngoài Về phía người khuyết tật cũng phải tự trang

bị cho mình những kiến thức, kỹ năng chuyên môn, sẵn sàng đảm đương được công việc của nhà tuyển dụng để khẳng định được mình là những người “tàn mà không phế” Đã đến lúc, cần phải có hành lang pháp lý chặt chẽ hơn về trách nhiệm của người quản lý Có như vậy, người khuyết tật mới được hưởng đầy đủ quyền và nghĩa vụ pháp lý như những người lao động bình thường khác, góp phần đưa ước nguyện “hãy đưa chúng tôi hòa nhập với cộng đồng” của người khuyết tật trở thành hiện thực

Trang 6

b Thực tiễn giải quyết việc làm đối với người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay :

Theo số liệu của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, cả nước hiện có khoảng 6,7 triệu người khuyết tật (NKT), trong đó 60% NKT trong độ tuổi lao động và tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn.Thế nhưng, chỉ có khoảng 50% số này có việc làm.Giải quyết việc làm cho NKT đã, đang là vấn đề quan tâm của toàn xã hội

Những kết quả đạt được:

Được biết, để giúp NKT hòa nhập với cộng đồng và có động lực vươn lên trong cuộc sống, những năm qua, công tác dạy nghề, giải quyết việc làm cho NKT được các cấp, các ngành, các địa phương đặc biệt quan tâm.Cụ thể là đã tạo điều kiện thuận lợi từ phát triển hạ tầng cơ sở cho đến chính sách hỗ trợ đối tượng tham gia học nghề cũng như giáo viên dạy nghề Nhờ vậy, số cơ sở dạy nghề ở nước ta đã tăng lên cả về số lượng, quy mô và chất lượng đào tạo, đồng thời công tác dạy nghề cho NKT từng bước được xã hội hóa với sự tham gia ngày càng nhiều của khu vực tư nhân Tính đến nay, cả nước có 256 cơ sở dạy nghề tham gia dạy nghề cho NKT, trong đó có 55 cơ sở dạy nghề chuyên biệt Các cơ sở dạy nghề dành riêng cho NKT được ưu tiên cấp địa điểm thuận lợi, hỗ trợ vốn, cấp kinh phí đào tạo, miễn giảm thuế, được vay vốn với lãi suất ưu đãi Đối với các cơ sở dạy nghề khác, khi nhận NKT vào học nghề sẽ được ưu tiên đầu tư, bảo đảm định mức kinh phí đào tạo Còn với NKT trong thời gian học nghề sẽ được cấp học bổng và trợ cấp xã hội, được miễn hoặc giảm học phí căn cứ vào mức độ khuyết tật và suy giảm khả năng lao động

Những bất cập còn tồn tại trong vấn đề giải quyết việc làm ở Việt Nam hiện nay:

Thứ nhất, tỷ lệ người khuyết tật có việc làm rất thấp:

Trang 7

Trong số 5,3 triệu người khuyêt tật thì có khoảng 60% trong độ tuổi lao động, số còn khả năng lao động chiếm 40%, số đang tham gia lao động chỉ có 30%, khoảng

3 % chưa đào tạo nghề Người có việc làm phù hợp và ổn định chỉ chiếm 15% là một con số quá ít

Hơn 80% NKT sống ở nông thôn, phần lớn họ sống cùng gia đình.Số có việc làm thì đại bộ phận là lao động thủ công như: làm tă tre, đan lát, trồng trọt, làm hương, chăn nuôi,…họ cùng nhau làm việc trong cùng một nhóm, một tổ trong một thôn, bản, làng, xóm, … nhưng học cũng có thể làm việc theo đơn lẻ tại gia đình Hiện

cả nước có hơn 400 cơ sở này, với khoảng hơn 20.000 llao động người khuyết tật đang làm việc với quy mô vừa và nhỏ khác nhau

Thứ hai, các quy định của pháp luật về vấn đề việc làm cho người khuyết tật chưa thực sự tác động đến các doanh nghiệp

Để tăng cơ hội việc làm cho người khuyết tật, pháp luật quy định tỷ lệ bắt buộc nhận người khuyết tật vào làm trong các doanh nghiệp, nếu không nhận đủ thì phải nộp một khoản tiền vào quỹ việc làm cho người khuyết tật Nhưng quy định này chưa thấy được hiệu quả áp dụng trong thực tiễn, mới chỉ có 8 tỉnh, thành phố thành lập Qũy việc làm Nếu các quy định thực hiện nghiêm túc thì sẽ có một khoản tài chính đáng kể, tăng cường cho việc tổ chức dạy nghề, tìm kiếm việc làm của người khuyết tật cao hơn Nhưng thực tế hiện nay thì chưa có sự quan tâm đầy

đủ, đồng thời cũng thiếu giám sát và đôn đốc, cũng như chưa có các biện pháp chế tài hữu hiệu

Thứ ba, người khuyết tật gặp khó khăn trong tìm kiếm việc làm

Trong quá trình tiếp cận cơ hội học nghề, tìm việc làm người khuyết tật gặp rất nhiều khó khăn Nguyên nhân là do NKT gặp khó khăn trong việc đi lại, giao tiếp

Trang 8

và những rào cản vô hình như sự phân biệt, đối xử từ cộng đồng, sự mặc cảm của NKT nên việc hòa nhập cộng đồng của họ gặp khá nhiều khó khăn Mặt khác, cũng

có một bộ phận NKT không tự cố gắng vươn lên mà có thói quen sống ỷ lại, trông chờ vào người thân, sự giúp đỡ của Nhà nước, chính quyền địa phương

Thứ tư, cơ sở vật chất cho người khuyết tật chưa được đảm bảo

Rào cản giao thông cũng là thách thức không nhỏ, quy định cấm xe 3 bánh trở hàng nhừn đồng thời chưa có giải pháp tháo gỡ thỏa đáng khiến một bộ phận người khuyết tật sống bằng nghề trở hàng từ xe ba bánh mất việc, không có thu nhập và cũng khó có thể tìm được việc làm phù hợp

Người khuyết tật đi lại bằng giao thông công cộng thì xe buýt không thể tiếp cận được, thái độ phục vụ cò thờ ơ, đi lại bằng hàng không còn nhiều trường hợp bị từ chối phục vụ Khó khăn trong đi lại cũng dồng nghĩa với việc cản trở tìm kiếm việc làm ( trừ một số trường hợp làm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, làm gia công tại nhà,…)

Rào cản về môi trường xây dựng như trụ sở làm việc, cơ sở học nghề không có lối

đi dành cho người khuyết tật Rào caen về nhận thức khi hầu hết các chủ doanh nghiệp cho rằng tuyển dụng người khuyết tật vào làm việc sẽ thêm nặng trách nhiệm, tốn kém Còn ở địa phương vẫn tồn tại nhận thức : “ Giải quyết việc làm cho người bình thường còn chưa xong thì lấy đâu ra việc cho người khuyết tật” Nhận thức này là hoàn toàn sai lầm, vì tình trạng thất nghiệp là một tồn tại xã hội, không thể giải quyết một cách triệt để được Nếu việc gì cũng chờ lo cho xong người lành, thì người khuyết tật không bao giờ có cơ hội việc làm

Thứ năm, trình độ chuyên môn, kỹ thuật của người khuyết tật còn thấp

Trang 9

Thực tế cho thấy, trình độ chuyên môn kỹ thuật của người khuyết tật còn thấp Có tới 93,4% số người khuyêt tật từ 16 tuổi trở lên không có kỹ thuật, chuyên môn, số người có chứng chỉ nghề chỉ chiếm 6,5%

Thứ sáu, vấn đề đào tạo việc làm và dạy nghề vẫn chưa được thực sự quan tâm

và đúng mức

Cả nước hiện có trên 16000 người tàn tật đang làm việc trong các doanh nghiệp tại các tỉnh thành phố Đối tượng chủ yếu vẫn là các thương binh, bệnh binh, người nhiễm chất dộc hóa học với tỷ lệ thương tật nhẹ đã có sẵn trong các doanh nghiệp

từ trước

Hiện nay chỉ có 2,5 % trong tổng số hơn 5 triệu người tàn tật được qua các lớp đào tạo, nhưng số này lại tập trung chủ yếu ở các đô thị lớn còn khu vực ở nông thôn thì hầu như người khuyết tật không được tiếp cận với các lớp dậy nghề Trình độ học vấn của người tàn tật cũng rất thấp với gần 36% người tàn tật không biết chữ, 25,3% có trình độ tiểu học, và 21,46 có trình độ trung học cơ sở

Vấn đề đào tạo việc làm và dạy nghề đối với người khuyết tật trong thị trường lao động thực tế còn quá nhiều khoảng cách, nan giải và đòi hỏi xã hội nhất là người

sử dụng cần phải thực sự quan tâm và nhìn một cách rộng mở đồng thời tiếp tục hưởng ứng chính sách nhà nước về giải quyết vệc làm cho người khuyết tật Đối với các cơ sở dậy nghề thì việc chú trọng và nâng cao chất lượng đào tạo là vô cùng cần thiết có như vậy mới mang lại hiệu quả cao trong việc giải quyết việc làm cho người khuyết tật hiện nay

Câu 2: Quyền được chăm sóc sức khỏe ban đầu tại nơi cư trú của người

khuyết tật?

Trả lời:

Trang 10

Chăm sóc sức khỏe ban đầu là một trong các lĩnh vực trong hoạt động của hệ thống

y tế của mỗi quốc gia và được coi là chìa khóa để đạt được mục tiêu sức khỏe cho các thành viên trong xã hội, đặc biệt là những người có nhu cầu chăm sóc cao trong đó có người khuyết tật Chăm sóc sức khỏe ban đầu tại nơi cư trú nhấn mạnh đến những biện pháp tăng cường sức khỏe, phòng bệnh, chữa bệnh và phục hồi sức khỏe Việc chăm sóc sức khỏe ban đầu được thực hiện ở địa phương trên tinh thần phù hợp với nhu cầu của người khuyết tật ở địa phương và do hệ thống y tế địa phương đảm nhiệm

Chăm sóc sức khỏe ban đầu có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sức khỏe người khuyết tật, thể hiện quan điểm y học hiện đại coi phòng bệnh hơn chữa bệnh Nếu hoạt động chăm sóc sức khỏe ban đầu thực hiện tốt sẽ giúp ngăn ngừa khuyết tật xảy ra do loại bỏ hoặc hạn chế được các yếu tố có hại cho sức khỏe từ thức ăn, nước uống, môi trường…Ngoài ra việc phát hiện sơm khuyết tật sẽ giúp cơ quan chuyên môn có biện pháp điều trị kịp thời để khắc phục khuyết tật, hạn chế các hậu quả do khuyết tật gây ra

Theo quy định của luật người khuyết tật, chăm sóc sức khỏe ban đầu đối với người khuyết tật gồm những nội dung sau: giáo dục sức khỏe, thực hiện các biện pháp phòng ngừa, quản lí sức khỏe Vấn đề này được quy định cụ thể ở Điều 21 Luật Người khuyết tật quy định về Chăm sóc sức khỏe ban đầu tai nơi cư trú như sau:

1 Trạm y tế xã có trách nhiệm sau đây:

a) Triển khai các hình thức tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến thức phổ thông

về chăm sóc sức khỏe, phòng ngừa, giảm thiểu khuyết tật, hướng dẫn người khuyết tật phương pháp phòng bệnh, tự chăm sóc sức khỏe và phục hồi chức năng.

Việc chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người khuyết tật tại nơi cư trú được giao cho trạm y tế cấp xã, theo đó, trạm y tế có trách nhiệm triển khai các hình thức tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến thức phổ thông về chăm sóc sức khỏe, phòng ngừa, giảm thiểu khuyết tật; hướng dẫn người khuyết tật phương pháp phòng bệnh, tự chăm sóc sức khỏe và phục hồi chức năng Như vậy, bằng các biện pháp tuyên truyền dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm phổ biến giáo dục cho người thân và chính những người khuyết tật, để từ đó mọi cá nhân đều có những kiến thức y khoa

cơ bản, từ đó hỗ trợ, bảo vệ người khuyết tật

b) Lập hồ sơ theo dõi, quản lý sức khỏe người khuyết tật.

Ngày đăng: 15/09/2019, 08:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w