Lợi dụng chính sách vốn Ngoài việc sử dụng doanh thu ảo, các công ty có thể gia tăng lợi nhuận bằng cách giảm chi phí.Ví dụ như kéo dài thời gian sử dụng của tài sản cố định hoặc vốn hoá
Trang 1PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA KẾ TOÁN SÁNG TẠO TỚI BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Chương I: Kế toán sáng tạo là gì ?
1.1 Các khái niệm chính của kế toán sáng tạo
Kế toán cứng (Aggressive Accounting) : Những sự lựa chọn có chủ ý các hoạt động kế toán dựa trên các nguyên lý kế toán nhằm mục đích đạt được kết quả mong muốn, dựa trên GAAP Quản lý lợi nhuận( Earning Management ) : Những thao túng lợi nhuận để hướng tới một mục tiêu đã được trước được thực hiện bởi các cấp quản lý và các nhà phân tích của công ty, hoặc để làm lợi nhuận trở nên đẹp hơn Làm mềm lợi nhuận( Income Smoothing): Một dạng của Earrning Management được tạo ra để tránh những lên xuống bất thường của thu nhập nói cách khác là làm đẹp thu nhập, hoặc làm giảm thu nhập những năm thu nhập cao nhằm dự trữ cho những năm thu nhập kém Gian lận báo cáo ( Fraudunt Reporting) : Cố ý sai sót trọng yếu hoặc thiếu sót trong các báo cáo tài chính nhằm đánh lừa người sử dụng báo cáo Kế toán sáng tạo(Creative Accounting) : Tất cả các thủ thuật
từ Aggressive Accounting, Earning Mannagement, Income Smoothing
1.2 Kế toán sáng tạo (Creative Accounting): Cách nhìn chuyên gia
1.2.1 Khảo sát về hành vi kế toán sáng tạo Việc quản lý lợi nhuận để tạo ra một số mục đích được định trước nhưng lạm dụng việc sử dụng những thủ thuật này một các thái quá gây sai lầm cho những phân tích báo cáo tài chính điều này sẽ trở nên là gian lận Vậy như thế nào là gian lận, vượt quá giới hạn của GAAP( Genaral Accounting Accepted Principle ) thì được cho là gian lận kế toán Hai chuyên gia về Kế toán là Charles W Mulford và Eugene E Comiskey năm 2000 ( The Financial Number Games) đã làm một nghiên cứu về kế toán sáng tạo và đưa ra 20 hành vi kế toán sáng tạo, hỏi ý kiến 159 chuyên gia trong đó 59 người là học giả về kế toán, 30 người là giám đốc tài chính, 24 người làm phân tích
thạc sĩ quản trị kinh doanh.Mục đích là phân loại những hành vi nào chỉ nằm trong giới hạn của kế toán chưa vượt ra ngoài khuôn khổ của GAAP
Hành vi 1 : Hợp đồng được ký, hàng được chuyển tới cho khách hàng được ghi nhận nhưng hoàn toàn chưa có sự ghi nhận dự phòng hàng bán trả lại Hành vi này có số điểm là 2.62/4 vượt ra ngoài ranh giới của GAAP
Hành vi 2 : Một công ty hàng không đánh giá “dài hơi” cho việc khấu hao tài sản trên máy bay Hành vi này có điểm là 1.65/4 hành vi được hầu hết các chuyên gia đánh giá là một hành động nằm trong giới hạn của GAAP và cho rằng hành vi này có thể chấp nhận được
Hành vi 3 : Một công ty ô tô thêm vào khoản cho chi phí bảo hành một khoản lớn trong khi thực tế khoản chi phí quá nhỏ Hành vi này được coi là gian lận với số điểm 3.48/4
Hành vi 4 : Công ty đã đánh giá quá mức khoản chi phí dành cho tái cấu trúc để có thể “ dự trữ” và chia nó cho các kỳ trong tương lai nhằm mục đích lợi nhuận dự kiến của công ty Hành vi này được cho là một hành vi gian lận với số điểm là 3.21/4
Hành vi 5 : Công ty đẩy nhanh chi phí quảng cáo cho quý cuối cùng của năm nhằm mục địch không vượt quá giới hạn của lợi nhuận mục tiêu và để tăng lợi nhuận cho quý đầu tiên của năm sau Hành
vi này được các chuyên gia đánh giá chỉ có tác dụng ngắn hạn Mặt khác chi phí quảng cáo chiếm
Trang 2một phần nhỏ trong tổng chi phí do đó hành vi này được 1.5/4 và nằm trong giới hạn cho phép của GAAP
Hành vi 6 : Nhà sản xuất mở rộng sản xuất , tăng thiết bị để vốn hoá chi phí hoạt động trong hàng tồn kho Hành vi này được chấm 1.97/4 Trong đó một chuyên gia nhận định hành vi này tuy không ảnh hưởng tới GAAP nhưng có thể gây nhầm lẫn và có thể dẫn tới lỗi trong báo cáo tài chính Hành vi 7 : Bán chịu nhiều vào cuối năm để có thể tăng doanh thu bán Tất nhiên hành vi này là hành vi chấp nhận được nếu có các khoản dự phòng phải thu được ghi nhận Hành vi này có điểm 1.59/4
Hành vi 8: Kế hoạch tăng giá được sắp xếp cho năm sau nhưng được thông báo cho năm nay Hành động chấm điểm 1.13/4 Tất nhiên đây là chiến thuật kinh doanh và hầu như không thể ngăn cản và
nó hoàn toàn không trái ngược với GAAP
Hành vi 9 : Nhận đặt hàng của khách hàng sau khi kết thúc năm nhưng vẫn ghi vào trong năm để tăng doanh số bán Hành vi này có điểm 3.66 các chuyên gia cho rằng đây là hành vi không phù hợp
và chắc chắn vượt qua giới hạn GAAP trở thành một hành vi gian lận
Hành vi 10 : Sự chuyển hàng vào cuối năm bị làm trễ nhằm mục đích tăng doanh số bán cho năm sau Đây là hành vi được chấm 1.73/4 Thực ra đây là hành vi báo cáo dưới mức của năm nay và báo cáo lên hoạt động của năm sau nhưng hành vi này được cho phép trong khuôn khổ của GAAP Hành vi 11 : Một khoản đầu tư được bán và ghi nhận như một khoản tiền đặc biệt và làm giảm tài sản Hành vi này được cho điểm 1.27/4 với chú thích miễn là khoản tiền này được công khai Hành vi 12 : Hàng được chuyển cho khách hàng chưa đặt hàng nhưng gần như chắc chắn sẽ đặt hàng trong kỳ tới Hành vi này được chấm điểm là 3.67 và được nhận xét là một hành vi mơ hồ, không rõ ràng vượt quá xa GAAP và trở thành hình thức gian lận
Hành vi 13: Hàng được bán và chuyển cho khách hàng có nguy cơ rất cao Hành vi này nhận được ít
sự phản đối hơn hành vi 12 Theo các chuyên gia việc ghi nhận doanh thu theo GAAP yêu cầu đó là khoản có thể thu được nên đây là hành vi vượt ngoài khuôn khổ, một số khác lại cho rằng hành vi này được cho phép nếu đi kèm với một khoản dự phòng Điểm cho hành vi này là 2.58/4 là mức vượt qua giới hạn và gần với gian lận
Hành vi 14 : Doanh thu được ghi nhận khi vẫn còn xảy ra tranh chấp với khách hàng về các điều khoản chiết khấu hay hàng trả lại Hành động này liên quan tới quy định của GAAP được cho phép nếu như chắc chắn sẽ nhận được doanh thu có thể đo lường được Hành vi này được cho 2.87/4 và
là một hành vi có thể gây ra những sai lầm cho người sử dụng báo cáo tài chính
Hành vi 15 : Hàng tồn kho cuối kỳ được báo cáo dưới mức thực tế vào cuối kỳ để tránh những trách nhiệm về thuế Tất nhiên đây là hành vi gian lận rõ ràng với số 5 PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA KẾ TOÁN SÁNG TẠO TỚI BÁO CÁO TÀI CHÍNH điểm 3,87/4 Khi đánh giá dưới mức hàng tồn kho dẫn tới giá vốn hàng bán cao hơn , lợi nhuận giảm và trách nhiệm thuế tất nhiên cũng giảm
Hành vi 16 : Ghi nhận doanh thu khi mới có một phần của hàng hoá được giao nhận Hành vi 3.57/4 được đánh giá là vượt ngoài khuân khổ GAAP trở thành hành vi gian lận
Trang 3Hành vi 17 : Ghi nhận doanh thu khi không có cơ sở chắc chắn về việc chấp nhận hàng trả lại và có khả năng thanh toán của khách hàng, không có điều khoản rõ trên hợp đồng Hành vi có điểm 3.12 các chuyên gia cho rằng đây là hành vi vượt khuôn khổ GAAP
Hành vi 18 : Ghi nhận doanh thu khi chuyển hàng cho đại diện của công ty Các chuyên gia cho rằng chưa đủ cơ sở chắc chắn để ghi nhận doanh thu trong trường hợp này Nếu cố tình sẽ trở thành một hành vi gian lận, số điểm được đánh giá là 3.52/4
Hành vi 19 : Ghi nhận doanh thu khi quyền trả lại của khách hàng được thoả thuận bằng “ mặt” Hành vi có điểm 3.2/4 đây là hành vi vượt qua GAAP và chạm tới gian lận
Hành vi 20 : Ghi nhận doanh thu cho hàng ký gửi trước khi chuyển hàng Hành vi được cho là gian lận với số điểm 3,61/4 Hành vi này được cho là có thể gây ra sai sót và chưa thể ghi nhận doanh thu khi chưa chuyển hàng xong
Kết luận : Nhìn vào khảo sát trên cho thấy ranh giới của GAAP, kế toán sáng tạo cho phép và gian lận
có những điểm khác nhau nhưng lại có một ranh giới khó xác định cụ thể Điều này tuỳ thuộc rất nhiều vào người đánh giá Các trường hợp có điểm cao trên 3 tất nhiên là những trường hợp gian lận rõ ràng nhưng những hành vi kế toán sáng tạo có điểm 2.5 rất khó có thể xác định chính xác Việc làm rõ các hành vi này sẽ được trình bày trong các trang kế tiếp Mặt khác số điểm như trên chỉ
là số điểm trung bình cho từng hành động Có những hành như trên chỉ là số điểm trung bình cho từng hành động Có những hành động chuyên gia này cho rằng nó là kế toán sáng tạo, nhưng chuyên gia khác lại cho rằng đây chỉ là hành động bình thường dựa trên GAAP để có thể làm tăng lợi nhuận Để đánh giá được thực tế và khách quan có lẽ nên tìm hiểu xem những hành vi đó có thể gây nguy hiểm như thế nào trên báo cáo tài chính
1.2 Phân loại gian lận
Ghi nhận doanh thu trả trước hoặc doanh thu ảo Doanh thu ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận nên việc sử dụng kế toán sáng tạo thường bắt đầu với sự ghi nhận doanh thu Ít nhất trong ngắn hạn việc ghi nhận này làm cho công ty có bộ mặt đẹp với khả năng kiếm tiền rất cao Trong trường hợp này doanh thu được ghi nhận khi hàng chưa xuất xưởng Một hành động như vậy được coi là hành động ghi nhận trước doanh thu Một hành động mạnh bạo hơn đó là ghi nhận doanh thu trong tương lai với một đơn hàng kỳ vọng Hành động như vậy do thiếu sự đặt hàng nên được xem như một sự ghi nhận doanh thu hư cấu Trong nhiều trường hợp xác định doanh thu đó là sớm hay doanh thu hư cấu không quan trọng bằng việc donh thu đó ảnh hưởng bao nhiêu phần trong bảng báo cáo lợi nhuận Trong bản báo cáo thường niên của Midisoft.Corp 1994 công ty đã áp dụng một chính sách ghi nhận doanh thu như sau : “Doanh thu bán cho các nhà phân phối hoặc đại lý được tính khi hàng được chuyển” Lúc chuyển hàng không chắc hàng hoá sẽ được chấp nhận và rút cuộc hàng hoá đó đã trở lại công ty như một khoản hàng bán trả lại, không có điều kiện về hàng bán trả lại trong hợp đồng, mặt khác không có khoản dự phòng nợ Bằng cách đó năm 1994 công ty đã báo cáo vượt quá gần $811.000 Lợi dụng chính sách vốn Ngoài việc sử dụng doanh thu ảo, các công ty
có thể gia tăng lợi nhuận bằng cách giảm chi phí.Ví dụ như kéo dài thời gian sử dụng của tài sản cố định hoặc vốn hoá các khoản chi phí như chi phí quảng cáo, chi phí thuê kho bãi các khoản chi phí này nếu phân bổ theo các năm thì sẽ làm giảm chi phí trong kỳ dẫn tới tăng lợi nhuận American Software Inc đã vốn hoá các khoản chi phí phát triển phần mềm bao gồm chi phí test, chi phí code sau khi đạt được tính khả thi cao Tuy nhiên các khoản chi phí này được phân bổ trong nhiều năm
Trang 4Ghi nhận sai tài sản và nợ Trong phần này, khác với bên trên, công ty không sử dụng các loại tài sản
có chu kỳ mà sử dụng các tài sản như khoản phải thu, hàng tồn kho Chi phí và lỗ có thể giảm thiểu bằng cách định giá quá cao tài sản đó Ví dụ bằng cách định giá quá cao khả năng thu hồi của các khoản phải thu dẫn tới tài khoản dự phòng các khoản phải thu giảm xuống, chi phí hoạt động sẽ giảm xuống Trong trường hợp của Micro Warehouse thì công ty đã đánh giá sai giá hàng tồn kho và tài khoản phải trả, giá vốn hàng bán dẫn tới đánh giá sai lợi nhuận hoạt động một khoản 47,3 triệu USD
Gian lận với báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Thay vì sử dụng cách quản lý giao dịch được ghi nhận thì công ty lại sử dụng một thủ thuật dựa trên kết cấu của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, biến các khoản doanh thu không định kỳ trở thành “ thu nhập khác “, một khoản doanh thu định kỳ, hay một khoản phí định kỳ được dán mác một khoản phí không không định kỳ Gian lận với báo cáo lưu chuyển tiền tệ Một công ty truyền tải khả năng kiếm tiền của mình không chỉ thông qua bảng cân đối kế toán hay báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh mà còn qua báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ chia thành 3 phần: dòng tiền hoạt động , dòng tiền đầu tư và dòng tiền
từ hoạt động tài chính Bằng cách nâng cao dòng tiền hoạt động công ty sẽ làm đẹp khả năng kiếm tiền từ hoạt động chính của mình Để nâng cao khả năng dòng tiền hoạt động công ty có thể phân loại một số chi phí hoạt động thành chi phí đầu tư hoặc chi phí tài chính
1.4 Chính sách kế toán Vấn đề cực kỳ quan trọng Thông qua các chính sách về kế toán của công ty
có thể đạt được lợi nhuận mục tiêu Các chính sách về doanh thu, vốn hoá, ghi nhận tài sản nợ có thể làm thay đổi hoàn toàn những con số trên báo cáo tài chính Trong phần này giới thiệu một số điểm trong chính sách kế toán từ đó công ty có thể thực hiện được hành vi kế toán sáng tạo 1.4.1 Chính sách tính giá hàng tồn kho Việc đưa ra chính sách về tính giá hàng tồn khó LIFO hay FIFO hay bình quân gia quyền ảnh hưởng lớn tới việc tính giá cũng như những chính sách về thuế Điều này là không phải bàn cãi đối với bất kỳ công ty nào
1.4.2 Chính sách ghi nhận doanh thu Các công ty có chính sách ghi nhận doanh thu khác nhau có thể dẫn tới việc trong kỳ đó họ nhận được doanh thu khác nhau Phân tích chính sách ghi nhận và bào cáo doanh thu của công ty cùng ngành 1991: BMC Software (thuyết minh BCTC 1991) : Doanh thu được ghi nhận dựa trên hoá đơn hoặc hợp đồng đã ký American Software, Inc ( thuyết mình BCTC 1999) : Doanh thu được ghi nhận 80% doanh thu dựa trên việc chuyển phần mềm tới hệ thống, 10% sau khi chuyển phần mềm tới cái tính và 10% sau khi đối tác cài đặt Autodesk ( thuyết mình BCTC 1991) : Doanh thu được ghi nhân sau khi chuyển hàng tới cho khách hàng Computer Associates International, Inc ( thuyết minh báo cáo 1991) : Doanh thu được ghi nhận trên sau khi khách hàng
ký hợp đồng và hàng được chuyển tới Dựa trên GAAP, doanh thu được ghi nhận khi chắc chắn có lợi ích về kinh tế, nhưng việc vận dụng một cách mềm mại dẫn tới khác biệt đáng kể trong chính sách kế toán của các công ty BMC ghi nhận doanh thu khi hàng chưa được chuyển, công ty không tính tới việc đặt hàng bị huỷ bỏ điều này làm cho doanh thu trong kỳ tăng, ngược lại Computer Associates International lại ghi nhận sau khi hàng được chuyển tới, nhưng lại chưa ghi rõ khoản đánh giá về rủi ro nếu khách hàng trả lại hàng
1.5 Tại sao lại tồn tại sự lắt léo Câu hỏi đặt ra là tại sao lại tồn tại sự lắt léo dựa trên GAAP của các công ty trong việc áp dụng chính sách kế toán Câu trả lời không chỉ đơn giản là tại sao SEC và FASB
Trang 5lại cho phép các công ty có thể lắt léo trong chính sách của mình Chính những quy đinh trong GAAP cũng cho phép chọn lưa để tạo ra lợi nhuận mục tiêu Ví dụ GAAP đưa ra 2 phương pháp ghi nhận giá vốn hàng bán FIFO và LIFO trong đó LIFO sẽ gần với thật và có ý nghĩa hơn lợi thế thuế khiến những công ty cân nhắc thực hiện theo LIFO, nhưng nếu lựa chọn FIFO sẽ làm tăng lợi nhuận thuần Hay trong việc ghi nhận hàng hoá đã được bán hay chưa, lấy ví dụ về Sybase,Inc trong báo cáo thường niên 1998 : “Công ty có nói rằng sẽ ghi nhận doanh thu hàng hoá trong điều kiện đơn hàng không bị huỷ và hàng được điều này hoàn toàn có cơ sở để ghi nhận doanh thu Nhưng nếu khách hàng trả lại hàng vào kì kế toán sau thì các công ty sẽ làm như thế nào? điều này vượt quá khả năng GAAP GAAP cho phép ghi nhận doanh thu khi có cơ sở chắc chắn đạt được lợi ích kinh tế từ doanh thu, cụm từ “ chắc chắn đạt được” lại được các công ty hiểu theo nghĩ khác nhau điều này phụ thuộc cả vào ngành nghề kinh doanh
1.6 Quản lý chặt chẽ nguyên lý kế toán những trường hợp đặc biệt Áp dụng kế toán sáng tạo không chỉ dừng lại ở việc sử dụng GAAP một cách khéo léo Trong dài hạn việc quản lý lợi nhuận và các chính sách kế toán được sử dụng như một số trường hợp đặc biệt sau đây
1.6.1 Dự trữ tiền kiếm được cho các kỳ sau ( Cookie jar reserve ) Một công ty có tỷ lệ tăng trưởng hằng năm là những con số ổn định thì sẽ gây ấn tượng hơn rất nhiều so với những bản báo cáo mà
ở đó là sự lên xuống thất thường Trong một năm kinh doanh khó khăn, nợ xấu bị giảm xuống hoặc thời gian sử dụng tài sản cố định được tăng lên để giảm chi phí và tăng lợi nhuận, lấy một ví dụ là công ty SunTrust Banks, Inc Công ty có những con số tăng trưởng đáng lãi gần 12,5% trong năm
1994, 1995, 1996 Năm 1998, theo yêu cầu của SEC( Securities and Exchange Commission) công ty phải báo cáo lại số liệu trong 3 năm Trong báo cáo thường niên 1998, chi phí dự phòng nợ xấu đã bị đánh giá dưới mức trong 3 năm 1996,1995,1994 lần lượt là 40 triệu , 35 triệu , 25 triệu Ảnh hưởng của hành động này là lợi nhuận kỳ tương ứng tăng những khoản 24.4 , 21.4 , 15,3 triệu Mặt khác đều có những kỳ lợi nhuận tăng công ty buộc phải có những kỳ báo lợi nhuận dưới mức thực tế để đảm bảo cân bằng điều này có thể thực hiện được nếu công việc kinh doanh thuận lợi mặt khác sẽ hoàn toàn bất lợi nếu công việc kinh doanh khó khăn Đây chính là lý do quản lý lợi nhuận còn được gọi là làm mềm lợi nhuận
1.6.2 Big bath Trường hợp với “big bath” cũng là một dạng đặc biệt quản lý thu nhập một năm làm
ăn không mong muốn, lợi nhuận kém, công ty chỉ muốn lợi nhuận trong kỳ đó giảm và cắt đứt đà giảm trong các năm sau Công ty sẽ làm cho năm tài chính này trở nên tồi tệ hơn nữa để giảm dần chi phí cho các năm sau, và vì vậy chi phí sẽ giảm dần vào các năm sau, lấy ví dụ như có thể tăng những chi phí đầu tư và phân bổ chỉ trong một kỳ Những năm sau nhờ khoản chi phí này công ty sẽ làm giảm chi phí và tăng lợi nhuận các kỳ sau
1.6.3 “Làm mềm” chi phí khó đo đếm Trong báo cáo của Cisco Systems năm 1999( The financial Number Games) : “Việc đánh giá chi phí R&D của công ty phụ thuộc vào sự ứng dụng của công nghệ đang nghiên cứu trong tương lai, và lợi nhuận kiếm được thông qua mua bán công nghệ này” Cisco Systems sử dụng những ước tính kế toán trong việc đánh giá chi phí R&D Việc sử dụng các ước tính
kế toán này trong kế toán là một thủ thuật làm thay đổi lợi nhuận khi mà các ước tính kế toán được
sử dụng một cách lạm dụng sẽ dẫn tới lợi nhuận có thể thoải mái biến đổi theo mục đích của công
ty Chi phí R&D là chi phí khó đo đếm và có thể đem ra làm biến đổi lợi nhuận thông qua những ước tính kế toán Kết luận : Việc Quản lý lợi nhuận có thể thực hiện thông qua nhiều hình thức, tất cả các
Trang 6hình thức quan lý lợi nhuận đều dẫn tới những biến đổi làm sai khác báo cáo tài chính ciệc này cần được xem xét kỹ càng
2.1 Các trường hợp khác nhau Hầu như các gian lận trong kế toán có thể phân loại vào 5 trường hợp: Ghi nhận doanh thu ảo và trả trước, Ghi nhận sai tài sản và nợ, Phân bổ sai vốn và chi phí, Gian lận khoản tiền trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Gian lận luồng tiền trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ Một hành vi gian lận có thể thuộc cùng lúc 2 trường hợp
2.2 Ghi nhận doanh thu trả trước và doanh thu ảo
2.2.1 Hành vi ghi nhận doanh thu ảo Trong phần ghi nhận doanh thu sẽ có 3 trường hợp của kế toán sáng tạo bao gồm: ghi nhận doanh thu khi chưa chuyển hàng, ghi nhận doanh thu khi không có đơn đặt hàng và thứ 3 là ghi nhận phóng đại mức doanh thu Trường hợp 1 : Ghi nhận doanh doanh thu nhưng chưa chuyển hàng Ghi nhận doanh thu khi chưa chuyển hàng là trường hợp có hợp đồng nhưng hàng chưa chuyển, doanh thu được ghi nhận vào thời kỳ trước khi chuyển hàng , Twinlab Corp đã phải làm lại báo cáo năm 1997 và 1998 với lý do một vài đơn đặt hàng của họ đã ghi nhận doanh thu nhưng hàng hoàn toàn chưa chuyển tới người mua Một ví dụ khác cho trường hợp này: Peritus Software Services đã có hợp đồng trong 71997 công ty ghi nhận doanh thu trong 91997 nhưng tận tới tháng 111997 hàng vẫn chưa được chuyển Trong nhiều trường hợp công ty sẽ ghi nhận doanh thu trong kỳ kế toán và chuyển hàng sau khi kỳ kết thúc Trường hợp nổi tiếng nhất trong việc ghi nhận doanh thu chưa chuyển hàng là Enrron Corp Trường hợp của Enrron tập hợp quá nhiều hành vi kế toán sáng tạo và gian lận nên sẽ được phân tích riêng Trường hợp 2 : Hàng được chuyển khi không có đơn đặt hàng Digital Lightwave, Inc đã thực hiện ghi nhận doanh thu khi chuyển hàng tới một nơi không có đơn đặt hàng Trên thực tế không có công ty đặt hàng, hàng đã trở lại và lợi nhuận đảo ngược Cuối năm 1998, Telxon Corp đã sát nhập với một đối thủ truyền kiếp của mình là tập đoàn Symbol Technologies, Inc Một cách nhanh chóng, Telxon đã đưa ra một hợp đồng bắt Symbol mua lại toàn bộ công ty trước khi được quản lý về sổ sách Tình hình tài chính trong quý 3 có vẻ ổn khi mà doanh thu tăng 47% và lợi nhuận tăng 13% Symbol đã ngần ngại và đưa ra quyết định được phép đánh giá đầy đủ về tình hình tài chính của Telxon trước khi mua Điều này làm Telxon chùn bước Symbol đã nhìn thấy một khoản doanh thu $14 triệu đã được bán cho nhà phân phối mà trong đó không xuất hiện người mua cuối cùng, nếu không có con số doanh thu này có lẽ lợi nhuận của Telxon đã nhỏ hơn rất nhiều Sau khi có sự đánh giá này của Symbol, Telxon
đã phải loại bỏ con số $14 triệu ra khỏi báo cáo của mình Trường hợp 3 : Hành động phóng đại Trong 2 trường hợp trên doanh thu được ghi trước thời hạn nhưng đều có một căn cứ nào đó Trường hợp sau đây ghi nhận doanh thu ảo không có cả hợp đông lẫn sự chuyển hàng Ví dụ, trong năm 1997 và 1998, quản lý bán hàng tại Boston Scientific Corp., công ty đã ghi nhận doanh thu bán cho những khác hàng ảo Nhằm che dấu hành vi này công ty đã cho thuê kho, những khoản hàng hoá ghi nhận ảo sau đó đã được “mua lại” bởi các khách hàng khác nhau Một số trường hợp khác các công ty ghi nhận doanh thu khi chuyển hàng cho các nhà cung cấp không đặt hàng và hàng sẽ trở lại một thời gian sau đó khi mà doanh thu đã được ghi nhận
2.2.2 Làm sao phát hiện doanh thu ảo
2.2.2.1 Hiều rõ chính sách công ty Cần đọc kỹ và rõ ràng thuyết minh báo cáo của các công ty Trong các trường hợp đã nêu trên việc công ty ghi nhận doanh thu như thế nào được ghi rõ trong các bản thuyết minh Quan trọng nhất là việc xem doanh thu của công ty ghi nhận là khi nào, đã cung cấp sản phẩm hay chưa, nó được công nhận tại thời điểm giao hàng hay kết thúc hợp đồng Mặt khác
Trang 7việc ghi nhận doanh thu của công ty có kèm theo các khoản dự phòng, chi phí đào tạo, lắp đặt chưa, các khoản về giảm giá khi khách trả lại hàng Tất cả các điểm này cần được làm rõ trong báo cáo tài chính
2.2.2.2 Xem các khoản phải thu Doanh thu được ghi nhận trước hay doanh thu ảo thì hầu như là các khoản chưa thu được điều này làm ảnh hưởng tới tài khoản phải thu và các chỉ số liên quan Nếu đem báo cáo tài chính ra phân tích điều này được thấy rõ nhất qua chỉ số vòng quay khoản phải thu (Account Receivable Turnover Ratio) = Doanh thu / Bình quân khoản phải thu Chỉ số này càng thấp thì thì các khoản chưa thu được càng cao, nếu một công ty có vấn đề về doanh thu thì khoản phải thu là vấn đề đáng để xem xét, một chỉ số nữa là kỳ A/R days cho biết mất bao nhiêu ngày cho một khoản phải thu, các công ty ghi nhận doanh thu trước hay doanh thu ảo khoản này sẽ cao hơn bình thường Sunbeam Corp sử dụng chính sách cứng trong kế toán( Agressive Accounting), doanh thu bán tăng 18,7% trong năm 1997 kéo theo tăng 38,5% các khoản phải thu và kỳ thu tiền tăng tới 92,3 ngày so với 79 ngày năm 1997
2.2.2.3 Phải thật kỹ lưỡng Việc phân tích báo cáo tài chính qua các năm cũng khó có thể chỉ rõ được hành vi kế toán sáng tạo Khi một công ty cố tình gian lận với việc ghi nhận doanh thu, tài khoản phải thu chưa chắc đã tăng lên, thay vào đó là “các khoản khác” thay vào đó được tăng lên Việc tăng khoản phải thu được thay bằng việc tăng “các khoản khác” chắc chắn không phải là tiền hay đầu tư vì các khoản này dễ dàng để xác minh chính xác Tài khoản có thể loại bỏ tiếp theo là hàng tồn kho Thay đổi hàng tồn kho dẫn tới thay đổi nhiều tài khoản khác nên có thể loại bỏ Các tài khoản khả dụng là máy móc, thiết bị, các khoản khó kiểm tra hơn Để phát hiện các trường hợp này cần theo dõi sự thay đổi bất thường trong các khoản tài sản Nhà đầu tư không những chỉ xem xét báo cáo của riêng một công ty đó mà cần xem xét của tất cả công ty trong ngành để xem được những biến động trong chỉ số, trong doanh thu có phải là biến động chung của ngành hay chỉ là biến động của một công ty riêng biệt Mọi điểm tăng giảm bất thường hoặc những điểm tăng quá đều hoặc giảm quá đều đều phải được xem xét kỹ lưỡng không được bỏ sót
2.3 Sử dụng chính sách vốn hoá
2.3.1 Gian lận khi vốn hoá Việc sử dụng chính sách vốn hoá nhằm việc cắt giảm chi phí là việc rất nhiều công ty đã làm Nhưng việc thực hiện kế toán sáng tạo là khi những chi phí “không được vốn hoá” được đem vốn hoá Khi một chi phí được vốn hoá, việc hạch toán giao dịch này sẽ được đưa vào bảng cân đối kế toán như một loại tài sản không phải là một loại chi phí trên bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, điều này làm cho chi phí trong kỳ giảm xuống và lợi nhuận tăng lên Việc
sử dụng chính sách vốn hoá còn làm thay đổi báo cáo lưu chuyển tiền tệ, khoản tiền được vốn hoá
sẽ thuộc dòng tiền ra của hoạt động đầu tư không phải dòng tiền ra của hoạt động sản xuất kinh doanh Điều này làm biến đổi những phân tích của người sử dụng Vì lý do này, việc vốn hoá đem lại những lợi ích trong việc làm đẹp báo cáo tài chính Sulcus Computer Corp đã thực hiện vốn hoá chi phí trong các năm 19911992 Công ty đã vốn hoá chi phí khi mua lại một công ty khác và phân bổ thành nhiều kì Nhiều chi phí khác cũng được vốn hoá như chi phí quản lý doanh nghiệp hay chi phí trả trước, đây là điều mà Corrpro Companies, Inc đã làm GAAP cho phép những chi phí được vốn hoá là những chi phí liên quan tới xây dựng dở dang hoặc đầu tư tài sản cố định Các công ty thường vốn hoá những chi phí không liên quan để làm đẹp báo cáo tài chính Trong các chuẩn mực kế toán Việt Nam việc vốn hoá chi phí được quy định tại chuẩn mực số 16
Trang 82.3.2 Phát hiện vốn hoá sai Việc phát hiện sai phạm trong chính sách vốn hoá phụ thuộc vào nhiều yêu tố và đặc trưng của ngành Vốn hoá chi phí trong những công ty liên quan tới phần mềm, quảng cáo, marketing là những chi phí như nghiên cứu, test, Nhưng những chi phí trong những công ty xây dựng chế tạo máy móc bắt buộc là những chi phí xây dựng căn bản, máy móc dở dang Việc vốn hoá chi phí phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhất là những yếu tố ngành, từ đó chỉ có những lời khuyên chung cho các nhà đầu tư như sau: Những lời khuyên cho người sử dụng báo cáo tài chính bao gồm : • • • Hiểu rõ chính sách vốn hoá của công ty Kiểm tra chi phí vốn hoá Kiểm tra khoản mục được vốn hoá Các khoản mục được kiểm tra vốn hoá phụ thuộc rất nhiều vào kiểm toán Kiểm toán viên đóng vai trò lớn trong việc phát hiện sai phạm
2.4 Ghi nhận sai tài sản và nợ 2.4.1 Ghi nhận sai tài sản
2.4.1.1Ghi nhận sai khoản phải thu Khoản phải thu(Accounts receivable) là phần quan trong khi phát hiện một doanh thu ảo Ghi nhận không theo luật dẫn tới một khoản không thể thu trong tài khoản này Tài khoản này sẽ phát triển hơn cả doanh thu và đương nhiên A/R sẽ nhiều hơn trung bình của ngành và các đối thủ cạnh tranh Nếu ghi nhận tài khoản phải thu thì một khoản dự phòng
nợ xấu sẽ được trích lập Khi mà có một phần hoặc cả tài khoản phải thu không thể thu được thì khoản này được tính như một chi phí và làm giảm lợi nhuận Doanh nghiệp muốn làm tăng lợi nhuận có thể báo cáo giảm khoản dự phòng phải thu, nói cách khác báo cáo không chính xác giá trị ròng của khoản phải thu Một thời gian sau khi những khoản thực sự không thể thu xuất hiện thì bắt buộc một khoản dự phòng phải thêm vào hoặc chi phí phải được ghi nhận Ví dụ trong năm 1999 Addvocat Inc đã báo cáo trong bản báo cáo thường niên của họ như sau : “Khoản dự phòng phải thu khó đòi năm 2009 là 7 triệu tăng 4,6 triệu so với năm 1998 vì phải tăng cho các khoản nợ không đòi được và tăng dự trữ cho các khoản nợ trong tương lai” Một ví dụ của Việt Nam là công ty thép Tiến Lên Công ty cổ phần Tập đoàn Thép Tiến Lên (TLH) gây hoang mang cho nhà đầu tư với việc công bố lợi nhuận ròng sau kiểm toán giảm gần 30% So với kết quả trước kiểm toán, chi phí tài chính của TLH tăng thêm 30,3 tỷ đồng do phải trích thêm dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán dẫn đến lợi nhuận trước thuế giảm một lượng tương ứng Dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán ban đầu là 27,74 tỷ đồng đã tăng lên thành hơn 58 tỷ đồng Lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty
mẹ đạt 55,97 tỷ đồng, giảm 22,8 tỷ (29%) so với kết quả ban đầu là 78,8 tỷ đồng Thực ra nếu tìm cách làm tăng giá trị ròng của khoản phải thu thì việc luôn tồn tại trong đó một khoản không đòi được và điều này vẫn làm tăng khoản phải thu và làm cho kỳ thu tiền bình quân tăng lên vì vậy muốn phát hiện gian lận này nên chú ý nhiều tới kỳ thu tiền bình quân như đã nói
2.4.1.2Ghi nhận sai hàng tồn kho Việc cố tình đếm nhầm hàng tồn kho cũng là một hành vi thực hành kế toán sáng tạo Không ít trường hợp đã xảy ra nhưng những trường hợp này có thể dễ dàng phát hiện Ví dụ Centennial Technologies, Inc đã thay đổi số thẻ hàng tồn kho để có tình nâng cao số lượng hàng tồn kho Nhưng các công ty không cần phải cố tình đếm nhầm để tăng lượng hàng tồn kho của mình, có thể làm giảm giá vốn hàng bán làm cho biên lợi nhuận tăng lên và lợi nhuận giữ lại cũng tăng Comptronix Corp trong năm 1980 đã giảm giá vốn và làm tăng một lượng hàng tồn kho không có trong kho, lượng hàng tồn kho ảo này được chuyển thành tài sản như thiết bị máy móc Doanh nghiệp đã chuẩn bị một số hoá đơn giả của việc mua máy móc này Việc này được phát hiện khi xem xét kỹ lưỡng mối quan hệ giữa tài sản và doanh thu
2.4.2 Ghi nhận sai nợ
Trang 92.4.2.1Ghi nhận sai nợ trả trước(Accrued Expenses Payable) Nợ trả trước là các khoản chi phí được ghi nhận nhưng chưa phải trả, điều này dẫn tới một khoản nợ được ghi nhận trên bảng cân đối kế toán bao gồm những khoản như : nghiên cứu chưa trả ,bảo hiểm chưa trả hay tiện ích,mua chưa trả Khi công ty có một khoản chi phí liên quan tới hoạt động kinh doanh được đánh giá nhỏ hơn dưới dạng phát sinh trước, khi đó lợi nhuận tương lai từ hoạt động kinh doanh sẽ được thúc đẩy Khi một khoản chi phí khác được trả trước thì khoản nợ này sẽ tăng hoặc khoản nợ này được thanh toán thì báo cáo lợi nhuận sẽ giảm xuống Lấy ví dụ về Genaral Electric CO.trong năm 1998 đã đánh giá sai một khoản tiền bảo hành cho “tuabin khí” sử dụng trong nhà máy điện Do lỗi thiết kế tuabin
bị nứt dẫn tới một khoản chi phí thu hồi sản phẩm rất tốn kém Chi phí thu hồi và sửa chữa khoảng hơn 100 triệu USD đã được ghi nhận trước như là một một vấn đề phát sinh được dự báo trước Nó trở nên cần thiết để công ty ghi nhận là chi phí đặc biệt và được tích như một khoản nợ phát sinh trước Khi nợ phát sinh trước bị đánh giá sai thì thì doanh thu có xu hướng tăng nhưng nợ thì lại không tăng cùng một tỷ lệ Lấy ví dụ như chi phí trả trước phải nộp của MiniScribe Corp trong năm
1986 đã bị đánh giá thấp trong khi doanh thu tăng 62% lên tới $184.9 triệu mà khoản bảo hành lại giảm Điều này gây vô lý khi các khoản doanh thu tăng mà bảo hành lại giảm
2.4.2.2Khoản phải trả bị định giá sai ( Account Payable) Khác với phải trả trước, khoản phải trả phổ biến hơn Đó là khoản mà sau khi mua hàng tồn kho công ty phải trả nhà cung cấp Đánh giá sai khoản phải trả trực tiếp ảnh hưởng tới hàng có thể cung cấp được.Nói cách khác đánh giá dưới khoản phải trả dẫn tới đánh giá dưới giá vốn hàng bán điều này làm tăng lợi nhuận của công ty Nó giống như một hệ thống các tài khoản gian lận hơn là chỉ 2 tài khoản Guilford Mills thể hiện liên kết chặt chẽ giữa hệ thống tài khoản này Mỗi tháng đều có những người kiểm soát tới để thực hiện một điều chỉnh phù hợp trong tháng đều có những người kiểm soát tới để thực hiện một điều chỉnh phù hợp trong các khoản phải thu và giá vốn hàng bán bằng việc đơn giản đó là đếm sai số lượng Accounts payable days và Gross Profit margin là 2 chỉ số quan trọng khi đánh giá sai khoản phải trả
và giá vốn Một cải tiến bất thường trong Profit Margin là một dấu hiệu cho sự điều chỉnh sai giá vốn
2.4.2.3Trường hợp đặc biệt Repo là một trường hợp của ghi nhận sai nợ khi mà người bán vay tiền của người mua và dùng tài sản của mình thế chấp bằng cách bán tạm cho người mua và sẽ mua lại sau một thời gian nhất định với mức giá đã thỏa thuận trước Chính vì vậy, các giao dịch repo là giao dịch tài trợ vốn chứ không phải giao dịch bán tài sản thực sự Tuy nhiên, Repo 105 là 1 thủ thuật kế toán trong đó doanh nghiệp coi khoản vay ngắn hạn là một giao dịch bán đứt tài sản Sau đó, doanh nghiệp có thể dùng số tiền mặt thu được để trả nợ và như vậy giảm số thể hiện trên bảng cân đối kế toán Lehman Brothers đã giảm số nợ ngay trước khi công bố báo cáo tài chính quý bằng cách sử dụng thủ thuật này Năm 2008, Lehman Brothers phá sản và thủ thuật Repo 105 bị phát hiện sau khi các cơ quan chức năng giám định sổ sách của hãng Repo chứng tỏ một điều sau năm 2001 thì công nghệ kế toán sáng tạo ở Mỹ đã không còn lúc nào cũng là ghi nhân sai tài sản và nợ thông qua các tài sản mà nó thực hiện tinh vi hơn khó phát hiện hơn Điều này nhà đầu tư hoàn toàn trông cậy vào các kiểm toán viên để phát hiện ra sai sót Tuy các hợp đồng repo này coi khoản vay ngắn hạn là bán đứt nên tới thời điểm buộc phải có những dòng tiền xuất ra ngoài Điều này có thể thể hiện thông qua báo cáo lưu chuyển tiền tệ Nên về lâu dài có thể phát hiện các hợp đồng repo này
2.5 Kế toán sáng tạo trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Khi nhìn vào một báo cáo tài chính của một công ty có lợi nhuận hoạt động ( operating income ) lớn thì điều này có lợi cho quyết định đầu tư Công ty có thể cố tình cho lợi nhuận từ những giao dịch không thường xuyên trở thành lợi
Trang 10nhuận hoạt động Những hoạt động này theo quy định quả kế toán quốc tế: Accounting Principles Board Opinion No 30, Reporting the Results of Operations “Những sự kiện doanh thu không thường niên hoặc bất thường nên được báo cáo như một phần riêng biệt của lợi nhuận hoạt động và những ảnh hưởng của những giao dịch này nên được ghi trong thuyết minh báo cáo tài chính” Những khoản lợi từ tái cấu trúc, bán tài sản hay phí đặc biệt có là những loại phổ biến trong lợi nhuận hoạt động nhưng những khoản lợi nhuận liên quan tới đầu tư thì không nằm trong khoản này Những khoản từ kiện tụng, dành được, liên doanh liên kết cũng nằm trong lợi nhuận hoạt động và cả những khoản giảm tài sản khác nữa Thực tế nhiều khoản mục trong lợi nhuận hoạt động là những khoản mục liên quan tới hoạt động nhưng không thường kỳ tức là không xuất phát từ hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường Chính vì điểm này nên thực tế ra con số của lợi nhuận hoạt động có thể ở mức khiêm tốn hơn Biện pháp tốt nhất để xem thực chất lợi nhuận hoạt động của công ty là bao nhiêu là xem các thuyết minh và xem thực chất nó được ghi nhận những khoản nào Doanh thu
từ hoạt động chính là doanh thu chủ yếu của doanh nghiệp bao gồm những khoản có chu kỳ và những khoản không có chu kỳ Nếu chỉ tính những khoản có chu kỳ như doanh thu từ hoạt động bán hàng thì con số lợi nhuận hoạt động sẽ không như doanh nghiệp báo cáo Việc này không ảnh hưởng tới kết quả cuối cùng nhưng sẽ ảnh hưởng tới cách nhìn tổng thể của nhà đầu tư vào doanh nghiệp kể cả khi đưa ra phân tích thì những con số này cũng không thể đạt mục đích tối đa Từ đó nhà đầu tư cần biết được những khoản nào là doanh thu từ hoạt động kinh doanh thuần, những khoản nào mang lại lợi nhuận nhưng lại không được tính là hoạt động kinh doanh 2.6 Gian lận trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ
2.6.1 Hành vi làm đẹp trên báo cáo lưu chuyển Thực ra nhiều nhà đầu tư nhất là những nhà đầu tư nghiệp dư thường không chú ý nhiều tới báo cáo lưu chuyển tiền tệ, nhưng khi phân tích một báo cáo tài chính thì báo cáo lưu chuyển tiền tệ rất quan trọng Khi thực hiện hành vi kế toán sáng tạo với những hành vi gian lận như ghi nhận sai doanh thu, khoản phải trả, phả nộp thì báo lưu chuyển tiền tệ lộ ra những điểm yếu từ đó có thể phát hiện được gian lận, thúc đẩy lợi nhuận ghi nhận doanh thu ảo hay ghi nhận sai giá trị hàng, thúc đẩy lợi nhuận gộp nhưng khó lòng thay đổi dòng tiền Nếu chúng ta nhìn ví dụ nổi tiếng nhất trong lịch sử kế toán là Enron thì từ năm 1997 khi lợi nhuận luôn đạt mức cao trong cả 4 quý thì ngược lại dòng tiền tự do có tới 3 quý âm Những báo cáo lưu chuyển tiền tệ cũng có thể bị làm đẹp điều này là đúng Báo cáo nghiên cứu của Broome [2004, pp.1819] đã chỉ ra rằng, trong hầu hết các vụ bê bối trên, đều thấy sự xuất hiện của ‘lỗi’ phân loại hoạt động trong Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, đặc biệt là tình huống phân loại nhầm dòng tiền
‘ra’ và ‘vào’ với mục đích ‘làm đẹp’ hoạt động kinh doanh và hoạt động đầu tư Ví dụ như đối với trường hợp của Tyco: Thực tế cho thấy năm 2001 và 2002, thu nhập trên cổ phiếu (EPS – Earning per Share) của Tyco giảm mạnh, do đó Ban giám đốc của Tyco đã ‘hướng’ sự chú ý của nhà đầu tư
và các chuyên gia phân tích vào ‘dòng tiền tự do’ vô cùng dồi dào của mình Ban giám đốc đã làm mọi cách để tăng dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, từ đó tạo nên ‘dòng tiền nhàn rỗi’ Theo thống
kê, Tyco đã thực hiện việc mua đi bán lại hợp đồng về ‘chuông bảo vệ’, dòng tiền ra cho hoạt động này (hơn 800 triệu đô la Mỹ) được phân loại vào hoạt động đầu tư, trong khi đó dòng tiền vào cho hoạt động này được phân loại vào hoạt động kinh doanh Bên cạnh đó, Tyco thực hiện vay các cá nhân chủ chốt trong Công ty hàng chục triệu đô la Mỹ, dòng tiền vào được phân loại là dòng tiền vào của hoạt động kinh doanh thông thường Sau đó Tyco dường như ‘quên’ các khoản vay, coi việc trả nợ các khoản vay như một khoản ‘bồi hoàn’ cho từng cá nhân, và dòng tiền ra này được phân loại vào hoạt động đầu tư Trường hợp của “Dynegy và Qwest Communications International”: Nửa đầu năm 2002, Dynegy đã thực hiện lập lại Báo cáo tài chính 2001 với lý do phản ánh tác động của