TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC MẦM NON ====== TRƯƠNG THỊ THANH THÚY SỬ DỤNG TRÒ CHƠI NÉM BÓNG PHÁT TRIỂN SỨC MẠNH TAY CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON ĐẠI THỊNH – M
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======
TRƯƠNG THỊ THANH THÚY
SỬ DỤNG TRÒ CHƠI NÉM BÓNG PHÁT TRIỂN SỨC MẠNH TAY CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON ĐẠI THỊNH – MÊ LINH –
HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
HÀ NỘI, 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======
TRƯƠNG THỊ THANH THÚY
SỬ DỤNG TRÒ CHƠI NÉM BÓNG PHÁT TRIỂN SỨC MẠNH TAY CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON ĐẠI THỊNH – MÊ LINH –
HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
Người hướng dẫn khoa học
ThS NGUYỄN THỊ HÀ
HÀ NỘI, 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
“Trước tiên tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến Th.S Nguyễn Thị Hà Giảng viên khoa Giáo dục thể chất, trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Mầm non, cũng như các cô giáo ở trường Mầm non Đại Thịnh – Mê Linh – Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.”
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Sinh viên
Trương Thị Thanh Thúy
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Trương Thị Thanh Thúy
Sinh viên lớp: K41C – GDMN Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
“Tôi xin cam đoan đề tài này là của riêng tôi, kết quả nghiên cứu của đề tài không trùng với bất cứ đề tài nào nghiên cứu về vấn đề này tại trường Mầm non Đại Thịnh – Mê Linh – Hà Nội Toàn bộ những vấn đề được đưa ra bàn luận, nghiên cứu là những vấn đề mang tính thời sự, cấp bách và đúng thực tế của trường Mầm non Đại Thịnh – Mê Linh – Hà Nội.”
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Sinh viên
Trương Thị Thanh Thúy
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Giải thích từ viết tắt
GDMN Giáo dục mầm non GDTC Giáo dục thể chất
GD &ĐT GVMN
Giáo dục và đào tạo Giáo viên mầm non TCVĐ Trò chơi vận động TDTT Thể dục thể thao STT Số thứ tự
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu: 2
3 Giả thuyết khoa học 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Cơ sở lí luận xác định hướng nghiên cứu đề tài 4
1.1.1 Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác Giáo dục thể chất cho trẻ mầm non 4
1.1.2 Sự quan tâm của xã hội đối với Giáo dục thể chất cho trẻ mầm non 5
1.2 Vị trí, vai trò và mục tiêu của Giáo dục mầm non 6
1.2.1 Vị trí và vai trò của Giáo dục mầm non 6
1.2.2 Mục tiêu và nhiệm vụ của Giáo dục mầm non 7
1.2.3 Chương trình giáo dục thể chất ở trường mầm non 10
1.3 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 5 – 6 tuổi 16
1.3.1 Đặc điểm tâm lý 16
1.3.2 Đặc điểm sinh lý 19
1.4 Trò chơi ném bóng trong quá trình phát triển thể chất cho trẻ mầm non 22 1.4.1 Đặc điểm về trò chơi ném bóng 22
1.4.2 Vai trò và ý nghĩa của trò chơi ném bóng 22
1.5 Cơ sở giáo dục sức mạnh 23
1.5.1 Khái niệm và phân loại sức mạnh 23
1.5.1.1 Khái niệm sức mạnh 23
1.5.1.2 Phân loại sức mạnh 23
1.5.2 Cơ chế sinh lý điều hòa sức mạnh 24
1.5.3 Nhiệm vụ và phương tiện giáo dục sức mạnh 24
CHƯƠNG 2: NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 26
Trang 72.1 Nhiệm vụ nghiên cứu 26
2.2 Phương pháp nghiên cứu 26
2.2.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 26
2.2.2 Phương pháp phỏng vấn 26
2.2.3 Phương pháp quan sát sư phạm 26
2.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 27
2.2.5 Phương pháp kiểm tra sư phạm 27
2.2.6 Phương pháp toán học 27
2.3 Tổ chức nghiên cứu 28
2.3.1 Thời gian nghiên cứu 28
2.3.2 Đối tượng nghiên cứu 29
2.3.3 Địa điểm nghiên cứu 29
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1 Thực trạng công tác Giáo dục thể chất và sử dụng trò chơi ném bóng phát triển sức mạnh tay cho trẻ 5 – 6 tuổi trường mầm non Đại Thịnh – Mê Linh – Hà Nội 30
3.1.1 Thực trạng công tác Giáo dục thể chất trong trường mầm non Đại Thịnh – Mê Linh – Hà Nội 30
3.1.2 Thực trạng về cơ sở, vật chất của nhà trường 31
3.1.3 Thực trạng về đội ngũ giáo viên 32
3.1.4 Thực trạng sử dụng trò chơi ném bóng phát triển sức mạnh tay cho trẻ 5 – 6 tuổi trường mầm non Đại Thịnh – Mê Linh – Hà Nội 32
3.1.4.1 Thực trạng giảng dạy và sử dụng trò chơi ném bóng trường mầm non Đại Thịnh – Mê Linh – Hà Nội trong giờ học chính khóa 32
3.1.4.2 Thực trạng quá trình sử dụng trò chơi ném bóng phát triển sức mạnh tay cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trường mầm non Đại Thịnh – Mê Linh – Hà Nội 33
Trang 83.1.4.3 Thực trạng sử dụng trò chơi ném bóng phát triển sức mạnh tay cho trẻ
34
3.2 Lựa chọn một số trò chơi ném bóng nhằm phát triển sức mạnh tay cho trẻ 5 – 6 tuổi trường mầm non Đại Thịnh – Mê Linh – Hà Nội 35
3.2.1 Cơ sở lựa chọn một số trò chơi ném bóng nhằm phát triển sức mạnh tay cho trẻ 5 – 6 tuổi trường mầm non Đại Thịnh – Mê Linh – Hà Nội 35
3.2.2 Lựa chọn test đánh giá sức mạnh tay cho trẻ 5 – 6 tuổi trường mầm non Đại Thịnh – Mê Linh – Hà Nội 40
3.3 Đánh giá việc sử dụng trò chơi ném bóng để phát triển sức mạnh tay cho trẻ 5 – 6 tuổi trường mầm non Đại Thịnh – Mê Linh – Hà Nội 42
3.3.1 Tổ chức thực nghiệm 42
3.3.2 Xây dựng tiến trình thực nghiệm 42
3.3.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm 43
3.3.3.1 Kết quả kiểm tra trước thực nghiệm 43
3.3.3.2 Kết quả kiểm tra sau thực nghiệm 44
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 3.1 Thực trạng đội ngũ giáo viên trong trường mầm non
Bảng 3.2 Kết quả phỏng vấn giáo viên về việc sử dụng trò chơi
ném bóng nhằm phát triển sức mạnh tay cho trẻ 5 – 6 tuổi trường mầm non Đại Thịnh
35
Bảng 3.3 Kết quả phỏng vấn các giáo viên về lựa chọn một số trò
chơi ném bóng nhằm phát triển sức mạnh tay cho trẻ 5 – 6 tuổi trường mầm non Đại Thịnh – Mê Linh – Hà Nội
37
Bảng 3.4 Kết quả phỏng vấn lựa chọn test đánh giá sức mạnh tay
cho trẻ 5 – 6 tuổi trường mầm non Đại Thịnh – Mê Linh – Hà Nội
42
Bảng 3.5 Tiến trình giảng dạy trò chơi ném bóng nhằm phát triển
sức mạnh tay cho trẻ 5 – 6 tuổi trường mầm non Đại Thịnh – Mê Linh – Hà Nội
Biểu đồ 2 Thành tích ai ném xa nhất của 2 nhóm ĐC và TN trước
Trang 10“ Trẻ em như búp trên cành Biết ăn, biết ngủ, biết học hành là ngoan”
“Đúng vậy trẻ em sinh ra có quyền được chăm sóc và bảo vệ, được tồn tại và được chấp nhận trong gia đình và cộng đồng.Vì thế, giáo dục con người
ở lứa tuổi mầm non vừa là quyền lợi vừa là nghĩa vụ của mỗi người đối với
xã hội, đối với cộng đồng.”
“Ở lứa tuổi này trẻ đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ về tất cả các mặt, trong đó các hệ thần kinh, các cơ xương hình thành nhanh, bộ máy hô hấp ngày càng được hoàn thiện Cơ thể trẻ còn non yếu dễ bị phát triển lệch lạc, mất cân đối Vì vậy chúng ta cần phải giáo dục một cách đúng đắn và tích cực giúp trẻ có sức khỏe tốt, phát triển cân đối, hài hòa về thể chất cũng như trí tuệ, đảm bảo sự phát triển toàn diện.”
“ Giáo dục thể chất cho trẻ mầm non là một bộ phận quan trọng của giáo dục toàn diện Là một trong những hoạt động mang tính tích cực giúp trẻ phát triển khỏe mạnh, nhanh nhẹn, hồn nhiên Hoạt động giáo dục thể chất (GDTC) trong trường mầm non đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành
và phát triển các phẩm chất đạo đức, nhân cách và phẩm chất cho cuộc sống, học tập và lao động và con người GDTC cho trẻ em trước tuổi đi học đặt cơ
sở cho sự phát triển toàn diện, rèn luyện cơ thể, tinh thần sảng khoái, rèn
Trang 11luyện các kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen vận động cần thiết trong cuộc sống.”
Ở lứa tuổi mẫu giáo hoạt động chủ đạo là hoạt động vui chơi, học mà chơi chơi mà học Để thực hiện tốt GDTC trong trường mầm non cần có các phương tiện để giải quyết các nhiệm vụ vận động, trong đó trò chơi vận động
là phương tiện giúp trẻ phát triển các tố chất thể lực
“Trong chương trình giáo dục của trường mầm non Đại Thịnh có nhiều hoạt động GDTC hướng tới phát triển sức mạnh cho trẻ mầm non, trong đó có trò chơi ném bóng Trò chơi ném bóng giúp trẻ được hoạt động linh hoạt, được giao tiếp và tương tác cùng chơi với nhau Từ đó tạo động cơ và hứng thú cho trẻ tham gia vận động, hình thành và phát triển các yếu tố thể lực Tuy nhiên trong quá trình tìm hiểu thực trạng và đánh giá về hiệu quả của trò chơi trong các hoạt động GDTC cho thấy việc giáo viên sử dụng trò chơi ném bóng để giải quyết nhiệm vụ giáo dưỡng cho trẻ mầm non chưa được chú trọng nhiều, trò chơi còn sơ sài và đơn giản, điều đó sẽ hạn chế hiệu quả của giờ học GDTC cho trẻ ở nhà trường mầm non.”
“Đây là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tuy nhiên chưa có tác giả nào nghiên cứu về sử dụng trò chơi ném bóng phát triển sức mạnh tay cho trẻ 5 –6 tuổi trường Mầm non Đại Thịnh – Mê Linh – Hà Nội.”
Xuất phát từ lí những do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Sử dụng
trò chơi ném bóng phát triến sức mạnh tay cho trẻ 5–6 tuổi trường Mầm non Đại Thịnh– Mê Linh– Hà Nội”
2 Mục đích nghiên cứu:
Việc sử dụng trò chơi ném bóng làm phương tiện để giải quyết nhiệm
vụ giáo dưỡng cho trẻ sẽ giúp giáo viên có thể tổ chức đa dạng các hoạt động GDTC nhằm phát triển sức mạnh tay cho trẻ 5–6 tuổi trường mầm non Đại Thịnh – Mê Linh – Hà Nội
Trang 123 Giả thuyết khoa học
“Thực tế cho thấy hiệu quả giờ học GDTC của trẻ tại các nhà trường mầm non hiện nay vẫn chưa được quan tâm và chú trọng Vấn đề thể lực của trẻ chưa được đánh giá cao, điều đó hạn chế rất nhiều khả năng vận động và sự phát triển về hình thái và chức năng của trẻ Nếu đề tài thiết kế được các trò chơi ném bóng phù hợp và hiệu quả sẽ giúp giáo viên nâng cao khả năng lựa chọn và sử dụng trò chơi ném bóng để phát triển sức mạnh tay cho trẻ 5 – 6 tuổi, nâng cao trình độ thể lực và phát triển toàn diện cho trẻ mầm non trường mầm non Đại Thịnh – Mê Linh – Hà Nội, góp phần đổi mới GDMN hiện nay.”
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở lí luận xác định hướng nghiên cứu đề tài
1.1.1 Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác Giáo dục thể chất cho trẻ mầm non
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành cho các cháu tình thương yêu và quan tâm đặc biệt Với Bác, trẻ em là những mầm non, những chủ nhân tương
lai của đất nước Bác nói: “Cái mầm có xanh thì cây mới vững, cái búp có xanh
thì lá mới tươi quả mới tốt, con trẻ có được nuôi dưỡng giáo dục hẳn hoi thì dân tộc mới tự cường tự lập” Nhận thức được vai trò quan trọng của GDMN, Đảng
và Nhà nước ta luôn quan tâm tới việc chăm sóc và giáo dục trẻ trước tuổi học đường.”
Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 149/2006/QĐ ngày 23/6/2006 phê duyệt Đề án phát triển GDMN giai đoạn 2006 - 2015: “Nhà nước có trách nhiệm quản lý, đầu tư giáo dục mầm non, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi về
cơ chế, chính sách, đẩy mạnh công tác xã hội hóa, nhà nước có chính sách ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục mầm non các vùng có điều kiện kinh tế khó khăn” “Việc chăm sóc giáo dục mầm non cần phải thực hiện gắn kết chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội Coi trọng công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức chăm sóc, giáo dục cho các bậc phụ huynh cha mẹ của trẻ nhằm thực hiện đa dạng hóa phương thức chăm sóc giáo dục trẻ em”[2] Vì
vậy việc chăm sóc trẻ ngay từ những năm đầu tiên của cuộc sống là một việc làm hết sức quan trọng có ý nghĩa to lớn trong việc bồi dưỡng, đào tạo thế hệ trẻ trở thành chủ nhân của đất nước
“ Đất nước ta đang chuyển sang một giai đoạn mới, giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa, làm cho dân giàu, nước mạnh, xây dựng một xã hội công bằng và văn minh Nghị quyết Hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung
ương Đảng khóa VII đã nêu: “Con người phát triển cao về trí tuệ, cường
tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực của sự nghiệp xây dựng xã hội mới, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội”[2] Do đó, GDTC cho trẻ ở nước ta cần được tiến hành một cách mạnh
mẽ toàn diện, cần được sự quan tâm của toàn xã hội, tạo điều kiện cho trẻ phát
Trang 14triển tốt nhất.”
“Giáo dục nói chung và GDTC nói riêng cho trẻ trước tuổi đi học có ý nghĩa vô cùng đặc biệt Việc chăm sóc sức khỏe và GDTC cho trẻ một cách khoa học từ khi trẻ còn nhỏ sẽ đảm bảo phát triển toàn diện, đúng hướng, làm
cơ sở cho sự phát triển trong những giai đoạn tiếp theo của con người.”
Trong Nghị quyết số 14 NQ/TW ngày 11/01/1997 của Bộ Chính trị về
cải cách giáo dục đã chỉ rõ:“ kết hợp các biện pháp thể dục, khoa học và
những biện pháp y học hiện đại để bảo vệ sức khỏe và rèn luyện các cháu, làm cho thể chất của các cháu ngay từ bé đã được nuôi dưỡng và phát triển tốt”[4]
Quan điểm chiến lược về GD&ĐT đến năm 2020 là thực hiện mục tiêu hiện đại hóa đất nước Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã khẳng định:
“Ở bậc học, cấp học, ngành học nhất thiết không thể coi nhẹ việc chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho học sinh, tạo mọi điều kiện cho các em được rèn luyện thông qua các hoạt động, đặc biệt là hoạt động thể dục thể thao, để bản thân các em được thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội”[I.3]
1.1.2 Sự quan tâm của xã hội đối với Giáo dục thể chất cho trẻ mầm non
“ Các chương trình nghiên cứu giáo dục trẻ em (từ 0 – 6 tuổi) trên thế giới đều cho rằng: sự phát triển những năm đầu đời quyết định tương lai của cả cuộc đời, đặc biệt là giai đoạn từ 0 đến 3 tuổi là “Giai đoạn vàng”, “Cửa sổ cơ hội” để não bộ được hoàn thiện Đây cũng là thời kỳ chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ tình trạng dinh dưỡng, sức khỏe, môi trường sống, nội dung giáo dục “Giáo dục mầm non là giai đoạn giáo dục đầu đời của con người, có ý nghĩa vô cùng quan trọng giúp trẻ phát triển toàn diện và hình thành các yếu
tố đầu tiên của nhân cách, là tiền đề để hình thành một cá nhân toàn diện Giáo dục mầm non là bước khởi đầu để các em làm quen với thế giới xung quanh.Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng từng dặn: “Giáo dục phải đảm bảo
tính toàn diện trong đó GDTC là một mặt không thể thiếu được Nếu các đồng chí được Đảng và Nhà nước giao trọng trách giáo dục mà coi nhẹ GDTC là một điều không đúng mà còn là một sai lầm”[3] GDTC không chỉ
tác động tích cực tới quá trình phát triển và hoàn thiện thể chất mà còn là cơ
Trang 15sở cho sự phát triển toàn diện, tôi luyện cơ thể, rèn luyện tinh thần sảng khoái, rèn luyện kỹ năng vận động cơ bản, hình thành thói quen vận động cần thiết trong cuộc sống.”
“ Nhận thức được sự quan trọng của GDMN, hiện nay xã hội và các gia đình đều rất quan tâm, đầu tư cho thế hệ trẻ Có rất nhiều các phương pháp giáo dục mới cho trẻ được xã hội quan tâm như phương pháp giáo dục sớm Montessori, phương pháp giáo dục sớm Glann Doman, phương pháp giáo dục sớm của mẹ Nhật Các lớp học tìm kiếm, xác định tài năng cho trẻ, phát triển năng khiếu cho trẻ ngày được mở ra Trong đó các lớp học phát triển năng khiếu về vận động, thể chất cho trẻ ngày càng được trú trọng Cung cấp những dịch vụ chăm sóc và giáo dục chất lượng cao cho trẻ mầm non là nhiêm vụ cấp thiết để thực hiện quyền cơ bản của trẻ em, đảm bảo công bằng
xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tương lai góp phần đào tạo cho đất nước.”
“Trong những năm đầu đời, đặc biệt là trong 3 năm đầu nếu trẻ được sống trong môi trường, chăm sóc, giáo dục, đúng đắn và đa dạng, được kích hoạt não sớm ngay từ giai đoạn này sẽ giúp trẻ đạt được những tiềm năng, trí lực tối đa cho cả cuộc đời.”
1.2 Vị trí, vai trò và mục tiêu của Giáo dục mầm non
1.2.1 Vị trí và vai trò của Giáo dục mầm non
“ Giáo dục đào tạo là cốt lõi, là trọng tâm của chiến lược trồng người Phát triển giáo dục là nền tảng để tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao, là động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Bởi vậy tại Đại hội Đảng khóa IX đã khẳng định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, trong đó GDMN là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân và là nền tảng cho sự phát triển sau này của trẻ
Theo nhà giáo dục người Ý Maria Montessori: “Thời kì quan trọng nhất của cuộc đời không phải ở tuổi đại học, mà là thời kì đầu tiên, giai đoạn từ khi sinh ra cho đến khi 6 tuổi”
“Sinh thời chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành những tình cảm đặc biệt, sự
quan tâm chăm lo tới sự nghiệp GDMN Người từng căn dặn: “ Làm mẫu
Trang 16giáo tức là thay mẹ dạy trẻ, dạy trẻ cũng như trồng cây non, trồng cây non tốt thì sau này cây lên tốt, dạy trẻ tốt thì sau này các cháu thành người tốt”[11.15] Lời dạy của Người vẫn luôn được cán bộ, giáo viên ngành
GDMN khắc ghi và biến thành phương châm hành động.”
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29 – NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào
tạo đã nêu rõ mục tiêu cụ thể của từng cấp học như sau: “Đối với giáo dục
mầm non, giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ vào lớp 1” và
“Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh”[II.2] Nhận thức được sự quan trọng của
GDMN những năm gần đây Đảng và nhà nước ta có những chính sách cụ thể nhằm phát triển GDMN như: Đầu tư xây dựng trường lớp, cơ sở vật chất, đổi mới phương pháp giảng dạy, cải tiến chế độ đối với GVMN qua đó GDMN phát triển mạnh mẽ về cả số lượng và chất lượng để khẳng định chỗ đứng của mình trong xã hội
“ Giáo dục mầm non là giai đoạn đầu tiên cho việc hình thành và phát triển nhân cách con người, đây được gọi là thời kì vàng của cuộc đời Theo Luật trẻ em thì trẻ em có quyền được chăm sóc và nuôi dưỡng, trẻ em có quyền được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân Như vậy chăm sóc và giáo dục trẻ ngay từ những năm đầu tiên của cuộc sống là việc làm hết sức cần thiết có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp chăm lo và bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những con người tương lai của đất nước Việt Nam, một quốc gia có bước chuyển mạnh mẽ trên con đường xây dựng một xã hội ấm no, văn minh hạnh phúc.””
1.2.2 Mục tiêu và nhiệm vụ của Giáo dục mầm non
“ GDMN thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi
GDMN gồm hai giai đoạn: Trẻ từ 3 tháng tuổi đến 3 tuổi (nhà trẻ)
Trẻ từ 3 tuổi đến 6 tuổi (mẫu giáo)
Trang 17“Quyết định 55 của Bộ Giáo dục quy định mục tiêu, kế hoạch của nhà trẻ
- mẫu giáo, trang số 6 ghi rõ mục tiêu giáo dục mầm non: “ hình thành ở trẻ những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người mới XHCN Việt Nam” [4]:”
- Khỏe mạnh, nhanh nhẹn, cở thể phát triển hài hòa cân đối;
- Giàu lòng yêu thương, biết quan tâm, nhường nhịn giúp đỡ những người
gần gũi (bố, mẹ, bạn bè, cô giáo ) thật thà, lễ phép, mạnh dạn, hồn nhiên;
- Yêu thích cái đẹp, biết giữ gìn cái đẹp và mong muốn tạo ra cái đẹp ở
xung quanh;
- Thông minh, ham hiểu biết, thích tìm tòi khám phá, có một số kỹ năng sơ đẳng (quan sát, phân tích, tổng hợp, suy luận ) cần thiết để vào
trường phổ thông, thích đi học;
“Thực hiện mục tiêu GDMN là chuẩn bị những tiền đề quan trọng, đảm bảo những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện các mục tiêu giáo dục Để thực hiện mục tiêu GDMN thì GDTC trong trường mầm non cần thực hiện các nhiệm vụ sau:”
Bảo vệ và tăng cường sức khỏe, đảm bảo sự tăng trưởng hài hòa của trẻ:
- Rèn luyện cơ thể, nâng cao tính miễn dịch đối với các loại bệnh mà trẻ thường mắc phải, đảm bảo sự tăng trưởng, phát triển đúng lúc và hoàn chỉnh trẻ Giúp trẻ có trạng thái hoạt động cân bằng, có trạng thái tâm lý vui tươi, ngăn ngừa mọi sự mệt mỏi cho hệ thần kinh
- “ Cần đảm bảo chế độ ăn uống, chế độ sinh hoạt (ăn uống, ngủ nghỉ, học tập, vui chơi và lao động) hợp lý, phù hợp với từng độ tuổi, từng đối tượng trẻ Bên cạnh đó, cần tích cực phòng bệnh cho trẻ, tiêm cho trẻ đúng và đầy đủ các loại vắc-xin theo quy định của Bộ Y tế Cần làm tốt công tác vệ sinh môi trường, vệ sinh quần áo, vệ sinh thân thể sạch sẽ, đảm bảo sự luân phiên giữa hoạt động và nghỉ ngơi hợp lý, đảm bảo trạng thái cân bằng của hệ thần kinh, giúp cơ thể trẻ phát triển tốt.”
Trang 18- “Tổ chức cho trẻ vận động, rèn luyện sức khỏe một cách hợp lý nhằm nâng cao sức đề kháng giúp cho cơ thể trẻ phát triển một cách cân đối hoàn chỉnh, tăng cường khả năng vận động, sự định hướng trong không gian và sự thích ứng của trẻ với sự thay đổi của khí hậu, tăng cường khả năng miễn dịch của trẻ.”
Rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản và những phẩm chất vận động;
- “Cùng với việc bảo vệ tính mạng và tăng cường sức khỏe, đảm bảo sự tăng trưởng hài hòa của trẻ thì chúng ta cần hình thành và phát triển, hoàn thiện các ký năng, kỹ xảo vận động cơ bản như đi, chạy, nhảy, ném, leo trèo,
bò, trườn Rèn luyện kỹ năng phối hợp cảm giác vận động, phối hợp các vận động trong không gian như trái, phải, trước, sau giúp trẻ thực hiện được nhanh nhẹn, chính xác hơn.”
- “Tiếp tục rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo vận động, đồng thời rèn luyện những phẩm chất vận động cho trẻ, dần hoàn thiện các động tác để các động tác trở nên nhanh nhạy, chính xác, linh hoạt, dẻo dai, không còn các động tác như lệch cổ, thè lưỡi, xô người về phía trước hay phía sau khi không cần thiết Trẻ thực hiện các bài tập vận động một cách hợp lý trong các điều kiện khác nhau và biết kết hợp các bài tập vận động đã học.”
Giáo dục nếp sống có giờ giấc, hình thành thói quen vệ sinh;
- Thói quen thường để chỉ những hành động của cá nhân được diễn ra trong những điều kiện ổn định và thường gắn với nhu cầu cá nhân Khi đã trở
thành thói quen, mọi hoạt động tâm lý trở nên ổn định, cân bằng và khó loại bỏ
- Giáo dục cho trẻ nếp sống có giờ giấc, rèn luyện thói quen ăn, ngủ, thức đúng giờ và dễ dàng thích nghi khi chuyển từ hoạt động này sang hoạt động khác Thói quen này giúp trẻ vào nề nếp, thúc đẩy quá trình tiêu hóa, có khả năng làm việc cao hơn, tạo điều kiện cho sự phát triển thể chất diễn ra
bình thường và sức khỏe của trẻ được củng cố
Trang 19-“Rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo vệ sinh có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với việc bảo vệ sức khẻo và tăng cường thể lực Bởi khi trẻ biết vệ sinh thân thể, vệ sinh ăn uống, giúp tăng ngăn chặn những ảnh hưởng xấu từ môi trường xung quanh Tuy nhiên khả năng nhận thức cũng như vận động của trẻ còn hạn chế nên chúng ta cần hình thành, rèn luyện những thói quen đó một cách tỉ mỉ, kiên trì trong thời gian dài để thói quen đó được củng cố, ổn định.”
1.2.3 Chương trình giáo dục thể chất ở trường mầm non
“ Nội dung chương trình giáo dục phát triển thể chất ở trường mầm non bao gồm: Phát triển vận động và giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe
a Phát triển vận động
- Tập luyện các kĩ năng vận động cơ bản và phát triển các tố chất trong vận động
+Co và duỗi tay, bắt chéo 2 tay trước ngực
- Tay:
+ Đưa 2 tay lên cao, ra phía trước, sang 2 bên (kết hợp với vẫy bàn tay, nắm, mở bàn tay)
+ Co và duỗi tay,
vỗ 2 tay vào nhau (phía trước, phía sau, trên đầu)
- Tay:
+ Đưa 2 tay lên cao, ra phía trước, sang 2 bên (kết hợp với vẫy bàn tay, quay cổ tay, kiễng chân)
+ Co và duỗi từng tay, kết hợp kiễng chân Hai tay đánh xoay tròn trước ngực, đưa lên cao
Trang 20- Lưng, bụng, lườn:
+Cúi về phía trước
+ Quay sang trái, sang phải
+ Nghiêng người sangtrái, sang phải
- Lưng, bụng, lườn:
+ Cúi về phía trước, ngửa người
ra sau
+ Quay sang trái, sang phải
+ Nghiêng người sang trái, sang phải
- Lưng, bụng, lườn:
+Ngửa người ra sau kết hợp tay giơ lên cao, chân bước sang phải, sang trái
+ Quay sang trái, sang phải kết hợp tay chống hông hoặc hai tay dang ngang, chân bước sang phải, sang trái
+ Nghiêng người sang hai bên, kết hợp tay chống hông, chân bước sang phải, sang trái
- Chân:
+Bước lên phía trước, bước sang ngang; ngồi xổm;
đứng lên; bật tại chỗ
+ Co duỗi chân
Chân:
+ Nhún chân
+ Ngồi xổm, đứng lên, bật tại chỗ
+ Đứng, lần lượt từng chân co cao đầu gối
- Chân:
+ Đưa ra phía trước, đưa sang ngang, đưa về phía sau
+ Nhảy lên, đưa 2 chân sang ngang; nhảy lên đưa một chân về phía trước, một chân
Trang 21+ Đi, chạy thay đổi hướng theo đường dích dắc.
+ Đi trong đường hẹp
- Đi và chạy:
+ Đi bằng gót chân, đi khuỵu gối, đi lùi
+ Đi trên ghế thể dục, đi trên vạch
kẻ thẳng trên sàn
+ Đi, chạy thay đổi tốc độ theo hiệu lệnh, dích dắc (đổi hướng) theo vật chuẩn
+ Chạy 15m trong khoảng 10 giây
+ Chạy chậm 80m
60 Đi và chạy:+ Đi bằng mép ngoài bàn chân,
đi khuỵu gối.+ Đi trên dây (dây đặt trên sàn),
đi trên ván kê dốc
+ Đi nối bàn chân tiến, lùi
+ Đi, chạy thay đổi tốc độ, hướng, dích dắc theo hiệu lệnh.+ Chạy 18m trong khoảng 10 giây
+ Chạy chậm khoảng 100-120m
- Bò, trườn, trèo:
+ Bò, trườn theo hướng thẳng, dích dắc
+ Bò chui qua cổng
+ Trườn về phía
- Bò, trườn, trèo:
+ Bò bằng bàn tay và bàn chân 3-4m
+ Bò dích dắc qua 5 điểm
+ Bò chui qua
- Bò, trườn, trèo:+ Bò bằng bàn tay và bàn chân 4m-5m
+ Bò dích dắc qua
7 điểm
+ Bò chui qua
Trang 22+Bước lên, xuống bục cao (cao 30cm)
cổng, ống dài 1,2m x 0,6m
+ Trườn theo hướng thẳng
+ Trèo qua ghế dài1,5m x 30cm
+ Trèo lên, xuống
5 gióng thang
ống dài 1,5m x 0,6m
+Trườn kết hợp trèo qua ghế dài1,5m x 30cm.+ Trèo lên xuống
7 gióng thang
- Tung, ném, bắt:
+ Lăn, đập, tung bắt bóng với cô
+ Ném xa bằng 1 tay
+ Ném trúng đích bằng 1 tay
+ Chuyền bắt bóng 2 bên theo hàng ngang, hàng dọc
- Tung, ném, bắt:
+ Tung bóng lên cao và bắt
+ Tung bắt bóng với người đối diện
+ Đập và bắt bóng tại chỗ
+ Ném xa bằng 1 tay, 2 tay
+ Ném trúng đích bằng 1 tay
+ Chuyền, bắt bóng qua đầu, qua chân
- Tung, ném, bắt:+ Tung bóng lên cao và bắt
+ Tung, đập bắt bóng tại chỗ.+ Đi và đập bắt bóng
+ Ném xa bằng 1 tay, 2 tay
+ Ném trúng đích bằng 1 tay, 2 tay.+ Chuyền, bắt bóng qua đầu, qua chân
- Bật - nhảy:
+ Bật tại chỗ
+ Bật về phía trước
+ Bật xa 20 - 25
- Bật - nhảy:
+ Bật liên tục về phía trước
+ Bật xa 35 - 40cm
- Bật - nhảy:+ Bật liên tục vào vòng
+ Bật xa 40 - 50cm
Trang 23cm + Bật - nhảy từ
trên cao xuống (cao 30 - 35cm)
+ Bật tách chân, khép chân qua 5 ô
+ Bật qua vật cản cao10 - 15cm
+ Nhảy lò cò 3m
+ Bật - nhảy từ trên cao xuống (40 - 45cm)
+ Bật tách chân, khép chân qua 7 ô
cổ tay
- Đan, tết
- Xếp chồng các hình khối khác nhau
- Xé, dán giấy
- Sử dụng kéo, bút
- Tô vẽ nguệch ngoạc
- Cài, cởi cúc
- Vo, xoáy, xoắn, vặn, búng ngón tay, vê, véo, vuốt, miết, ấn bàn tay, ngón tay, gắn, nối
- Gập giấy
- Lắp ghép hình
- Xé, cắt đường thẳng
- Tô, vẽ hình
- Cài, cởi cúc, xâu, buộc dây
- Các loại cử động bàn tay, ngón tay và cổ tay
- Bẻ, nắn
- Lắp ráp
- Xé, cắt đường vòng cung
- Tô, đồ theo nét
- Cài,cởi cúc, kéo khoá (phéc mơ tuya), xâu, luồn, buộc dây
b Giáo dục dinh dưỡng và sức khoẻ
- Nhận biết một số món ăn, thực phẩm thông thường và ích lợi của chúng đối với sứckhỏe
Trang 24- Tập làm một số việc tự phục vụ trong sinh hoạt.
- Giữ gìn sức khoẻ và an toàn
Nội dung 3-4 tuổi 4-5 tuổi 5-6 tuổi
ăn quen thuộc
- Nhận biết một
số thực phẩm thông thường trong các nhóm thực phẩm (trên tháp dinh dưỡng)
- Nhận biết dạng chế biến đơn giản của một số thực phẩm, món ăn
- Nhận biết, phân loại một số thực phẩm thông thường theo 4 nhóm thực phẩm
- Làm quen với một số thao tác đơn giản trong chế biến một số món ăn, thức uống
- Nhận biết các bữa ăn trong ngày và ích lợi của ăn uống
- Tập rửa tay bằng
xà phòng
- Thể hiện bằng lời nói về nhu cầu
ăn, ngủ, vệ sinh
- Tập đánh răng, lau mặt
- Rèn luyện thao tác rửa tay bằng
xà phòng
- Đi vệ sinh đúng nơi quy định
- Tập luyện kĩ năng: đánh răng, lau mặt, rửa tay bằng xà phòng
- Đi vệ sinh đúng nơi quy định, sử dụng đồ dùng vệ sinh đúng cách
Trang 253 Giữ gìn sức
khoẻ và an
toàn
- Tập luyện một số thói quen tốt về giữ gìn sức khỏe
- Lợi ích của việc giữ gìn vệ sinh thân thể, vệ sinh môi trường đối với sức khoẻ con người
- Nhận biết trang phục theo thời tiết
- Nhận biết một số biểu hiện khi ốm
- Lựa chọn trang phục phù hợp với thời tiết
- Ích lợi của mặc trang phục phù hợp với thời tiết
- Nhận biết một
số biểu hiện khi
ốm và cách phòng tránh đơn giản
- Lựa chọn và sử dụng trang phục phù hợp với thời tiết
- Ích lợi của mặc trang phục phù hợp với thời tiết
- Nhận biết một
số biểu hiện khi
ốm, nguyên nhân và cách phòng tránh
- Nhận biết và phòng tránh những hành động nguy hiểm, những nơi không an toàn, những vật dụng nguy hiểm đến tính mạng
- Nhận biết một số trường hợp khẩn cấp và gọi người giúp đỡ
1.3 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 5 – 6 tuổi
1.3.1 Đặc điểm tâm lý
“ Theo A.X.Macarenco, một nhà giáo dục nổi tiếng người Nga, ông cho rằng: “Nền tảng của giáo dục chủ yếu được xây dựng từ khi trước tuổi lên 5,
nó chiếm 90% chất lượng giáo dục”.”
“Trẻ 5 – 6 tuổi là giai đoạn cuối cùng của trẻ em ở lứa tuổi “mầm non” tức là lứa tuổi trước khi đến trường phổ thông Ở giai đoạn này những cấu tạo tâm lý đặc trưng của con người đã được hình thành trước đây, đặc biệt là
Trang 26trong độ tuổi mẫu giáo nhỡ vẫn tiếp tục phát triển mạnh Với sự giáo dục của người lớn, những chức năng tâm lý đó sẽ được hoàn thiện về mọi phương diện của hoạt động tâm lý để hoàn thành việc xây dựng những cơ sở ban đầu
về nhân cách của con người.”
“ “- Một trong những thành tựu lớn lao nhất của GDMN là làm cho trẻ sử dụng được một cách thành thạo tiếng mẹ đẻ trong cuộc sống hằng ngày Tiếng
mẹ đẻ là phương diện quan trọng nhất để lĩnh hội nền văn hóa dân tộc, để giao lưu với những người xung quanh, để tư duy, để tiếp thu khoa học Một nhà thơ nổi tiếng của Đaghextan là Ganzalop đã nói: “ Khi chết, người cha đã
để lại cho con cái của mình nhà cửa, ruộng vườn, thanh kiếm và cây đàn pandua Nhưng một thế hệ mất đi thì để lại cho thế hệ tiếp theo là tiếng nói
Ai có tiếng nói người đó sẽ xây dựng nhà mình, sẽ cày được ruộng, đúc được kiếm, lên được dây đàn pandua và gẩy được nó”.”
“ “- Trẻ nắm vững ngữ âm ngữ điệu khi sử dụng tiếng mẹ đẻ, biết sử dụng ngữ điệu một cách phù hợp với nội dung giao tiếp hay nội dung câu chuyện trẻ kể cho người khác nghe.”
“- Vốn từ của trẻ 5 – 6 tuổi tích lũy được khá phong phú không những chỉ
về danh từ mà cả về động từ, tính từ, liên từ Trẻ nắm được ý nghĩa của các từ vựng thông dụng, phát âm đúng và sử dụng ngôn ngữ mạch lạc Trẻ có nhu cầu giải thích những điều trẻ cần cho người khác hiểu.”
“- Bởi lứa tuổi mẫu giáo vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ.”
“ - Trẻ rất thích chơi những trò chơi bắt chước người lớn như: nấu ăn, bán hàng, xây dựng ghép hình, các trò chơi đóng vai theo chủ đề và các trò chơi vận động như: đá bóng, cướp cờ…”
Sự phát triển chú ý của trẻ:
“ - Sự chú ý của trẻ tập trung hơn, bền vững hơn Điều đó được thể hiện ở thời gian vui chơi, “tiết học” được kéo dài hơn, trẻ chú ý vào 2,3 đối tượng một lúc.”
Trang 27“ - Ở giai đoạn này ý nghĩa của âm thanh làm cho trẻ đã chú ý nhiều Từ
âm thanh bên ngoài, trẻ biết chú ý tập trung vào sự suy nghĩ, cảm xúc bên trong óc trẻ.”
“- Ở độ tuổi này thì độ nhạy cảm của các giác quan được tinh nhạy hơn, khả năng kiềm chế các phản ứng tâm lý được phát triển.Ý thức rõ về những ý nghĩ, tình cảm của mình, trách nhiệm đối với hành vi.”
- Ở trẻ 5 - 6 tuổi phát triển cả 3 loại tư duy, tư duy hành động trực quan vẫn chiếm ưu thế.”
Sự phát triển cảm xúc và tình cảm:
- Ở lứa tuổi này trẻ xuất hiện tình cảm bạn bè
“- Tình cảm đã bắt đầu phức tạp và phân hóa, từ quan hệ gắn bó mẹ - con, trẻ bắt đầu có nhu cầu giao lưu tình cảm với những người xung quanh Trẻ đòi hỏi sự quan tâm cuộc sống một cách cụ thể và đa dạng hơn, vì vậy đã xuất hiện ở trẻ những biểu hiện tình cảm rõ ràng cũng như những phản ứng chống đối dưới nhiều hình thức khác nhau.”
“- Tình cảm trí tuệ: tình cảm trí tuệ của trẻ phát triển, mỗi nhận thức mới đều kích thích niềm vui, hứng thú, sự say mê thích thú của trẻ; tính tò mò ham hiểu biết, làm nảy sinh nhiều xúc cảm tích cực.”
“- Tình cảm đạo đức: trẻ ý thức được nhiều hành vi tốt đẹp cần thực hiện
để vui lòng mọi người Vì đã lĩnh hội được ý nghĩa các chuẩn mực hành vi tốt, xấu qua vui chơi giao tiếp với mọi người; do các thói quen nếp sống tốt được gia đình, các lớp mẫu giáo xây dựng cho trẻ ””
“ - Tình cảm thẩm mỹ: trẻ ý thức rõ nét về cái đẹp cái xấu theo chuẩn mực, xúc cảm thẩm mỹ, óc thẩm mỹ phát triển thông qua các tiết học nghệ thuật như tạo hình, âm nhạc, tìm hiểu về môi trường xung quanh ”
Sự phát triển ý chí:
“ - Trẻ đã dần dần xác định rõ được mục đích của hành động.”
Trang 28“- Trẻ dần dần tách động cơ ra khỏi mục đích với sự cố gắng hoàn thành nhiệm vụ.”
“ - Tính mục đích càng ngày càng được trẻ ý thức và cố gắng hoàn thành công việc.”
“ - Trẻ biết sắp xếp "công việc" vui chơi và biết giúp mẹ làm những công việc phù hợp với độ tuổi và sức của mình.”
“ - Tinh thần trách nhiệm bản thân dần dần được hình thành ở trẻ.”
“ - Sự phát triển ý chí mạnh hay yếu tuỳ thuộc phần lớn vào sự giáo dục, các biện pháp giáo dục của cha mẹ, cô giáo và những người lớn xung quanh.”
Sự xác định về ý thức bản ngã:
đánh giá về bản thân mình, biết thể hiện cái tôi của mình.”
“- Trẻ bắt đầu phân biệt một cách rõ ràng giữa bản thân và những người xung quanh Trẻ có ý thức về tính sở hữu, biết cái gì là của mình, cái gì là của người khác Từ đó đưa ra thái độ so sánh, ganh tị hay tự tin hơn và thường có những suy nghĩ nhận định độc lập, thích tự làm chứ không nhờ người khác.”
“- Trẻ biết chăm sóc, tự phục vụ những nhu cầu sinh hoạt hằng ngày.”
“- Trẻ đã ý thức được về giới tính, trẻ biết được mình là trai hay gái và biết thể hiện hành vi phù hợp với giới tính của mình.”
“- Ý thức bản ngã giúp trẻ có ý thức chan hòa với bạn cùng chơi Biết tuân thủ luật chơi, biết mượn, chia sẻ đồ chơi với bạn biết thiết lập mối quan
hệ rộng rãi và phong phú với bạn cùng chơi.”
“ - Ý thức bản ngã được xác định rõ ràng còn cho phép trẻ thực hiện các hành động một cách chủ tâm hơn, nhờ đó các quá trình tâm lý mang tính chủ định rõ rệt.”
“ - Trẻ giai đoạn này cũng rất dễ xúc động, dễ cười, dễ khóc Tâm tư của trẻ tuổi này cũng được bộc lộ ra ngoài Tính tình tương đối ổn định Đời sống tình cảm của trẻ phong phú và sâu sắc hơn rất nhiều so với tuổi trước.”
1.3.2 Đặc điểm sinh lý
Trang 29“Về cơ thể ở trẻ mẫu giáo lớn sự phát triển diễn ra chậm hơn so với giai đoạn trước Về số lượng, chiều cao tăng trung bình từ 4 – 6cm, đạt từ 105,5 – 125,2cm Về cân nặng tăng khoảng từ 1- 1,25kg, đạt khoảng 25,7g.”
Hệ thần kinh:
“ - Sự phát triển của hệ thần kinh ở trẻ mẫu giáo đã ở mức độ cao hơn so với trẻ em lứa tuổi nhà trẻ Cường độ và tính linh hoạt của hệ thần kinh tăng lên rõ rệt Trẻ có thể tập trung chú ý vào một đối tượng nhất định trong khoảng thời gian 15 – 20 phút Ở trẻ em quá trình hưng phấn và ức chế chưa cân bằng, sự hưng phấn mạnh hơn sự ức chế Do đó, phải đối xử thận trọng đối với trẻ, tránh để trẻ phải thực hiện một khối lượng vận động quá sức hoặc kéo dài thời gian vận động vì sẽ làm trẻ mệt mỏi.”
“ - Quá trình ức chế tích cực dần phát triển, trẻ đã có khả năng phân tích, đánh giá, hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động và phân biệt được hiện tượng xung quanh.”
“ - Hệ thần kinh có tác dụng chi phối và điều tiết đối với vận động cơ thể
vì vậy hoạt động vận động của trẻ có hai tác dụng: thúc đẩy sự phát triển của công năng của tổ chức cơ bắp và thúc đẩy sự phát triển của công năng của hệ thần kinh Vận động cơ thể trẻ có thể cảu thiện tính không cân bằng của quá trình thần kinh của chúng Song cần chú ý tới sự luân phiên giữa vận động và nghỉ ngơi, tình trạng quá trình vận động của trẻ.”
Hệ vận động: Bao gồm hệ xương, hệ cơ và khớp
“- Hệ xương: bộ xương của trẻ còn mềm, dẻo chưa hoàn toàn cốt hóa, thành phần hóa học xương của trẻ có chứa nhiều nước và chất hữu cơ hơn vô
cơ so với người lớn, nên có nhiều sụn xương, xương mềm, dễ bị cong gãy Ở mẫu giáo lớn cột sống có hai đoạn uốn cong vĩnh viễn ở cổ và ngực, lồng ngực đã dẹp hơn, đường kính ngang lớn hơn đường kính trước sau, xương sườn chếch theo hướng dốc nghiêng.”
“ - Hệ cơ: hệ cơ của trẻ phát triển yếu Khi trẻ mới sinh trọng lượng cơ chiếm 23% trọng lượng cơ thể, sau đó hệ cơ mới phát triển dần Đến 6 tuổi cơ chiếm 27% trọng lượng cơ thể Tổ chức cơ bắp còn ít, các sợi cơ nhỏ mảnh, lực còn yếu nên trẻ làm việc chóng mệt mỏi Trong cơ thể của trẻ nước chiếm
Trang 30nhiều, ít đạm và mỡ Do đó, trẻ ở lứa tuổi này không thích nghi với sự căng thẳng của cơ bắp, cần xen kẽ giữa vận động và nghỉ ngơi thích hợp trong thời gian tập luyện Khi trẻ được tập luyện thường xuyên thì sẽ làm cho sức mạnh
và sức bền của cơ bắp phát triển.”
“- Khớp: Trẻ ở lứa tuổi này cơ khớp còn nông, cơ bắp xung quanh khớp còn yếu, dây chằng lỏng lẻo, tính vững chắc của xương còn tương đối kém Khi trẻ hoạt động phù hợp sẽ giúp khớp được rèn luyện, từ đó giúp cho khớp tăng dần tính vững chắc.”
và mạch cấu tạo thành, còn gọi là hệ tim mạch Vận động của tim mạch chủ yếu dựa vào sự co bóp của cơ tim Sự co bóp cơ tim còn yếu mỗi lần co bóp chỉ được một lượng máu rất ít nhưng mạch đập nhanh hơn người lớn, trẻ càng nhỏ thì đập càng nhanh.”
họng, khí quản, nhánh phế quản và phổi Đường hô hấp của trẻ tương đối hẹp, niêm mạc đường hô hấp mềm mại, mao mạch phong phú, dễ phát sinh nhiễm cảm Lên 6 tuối thế tích hô hấp của phổi là khoảng 215 - 220 ml Trẻ 5-6 tuổi mỗi phút hít thở khoảng 20 - 22 lần Bộ máy hô hấp của trẻ còn nhỏ, không chịu được những vận động quá sức kéo dài liên tục, những vận động đó sẽ làm cho các cơ vận động bị thiếu oxy Vì vậy cần tăng dần lượng vận động trong quá trình tập luyện, việc thở đúng và sâu của trẻ khi tập luyện cũng rất quan trọng.”
lượng tiêu hao và cung cấp các chất tạo hình để kiến tạo các cơ quan và mô
Ở trẻ năng lượng tiêu hao cho sự lớn lên và dự trữ chất nhiều hơn là cho hoạt động cơ bắp Do vậy, khi trẻ hoạt động vận động quá mức, ngay cả khi dinh dưỡng đầy đủ thường dẫn đến tiêu hao năng lượng dự trữ trong các cơ bắp và đọng lại những sản phẩm độc hại ở các cơ quan trong quá trình trao đổi chất Điều này sẽ gây cảm giác mệt mỏi cho trẻ và làm ảnh hưởng không tốt công năng hoạt động của cơ bắp và hệ thần kinh, làm giảm sự nhạy cảm Do đó, cần thường xuyên thay đổi vận động của các cơ, chọn hình thức vận động phù
Trang 31Do vậy, để phát huy tốt khả năng vận động của trẻ thì giáo viên nên lựa chọn những trò chơi phù hợp với đặc điểm tâm – sinh lý và khả năng vận động của trẻ
Ném bóng là một trò chơi đòi hỏi phải có sự phối hợp của quá trình nhận thức và vận động của các nhóm cơ, cần có sự nhanh nhẹn, khéo léo đòi hỏi trẻ phải tập trung Khi tham gia các bài tập về trò chơi ném bóng trẻ rất hứng thú
và tích cực tham gia.”
1.4.2 Vai trò và ý nghĩa của trò chơi ném bóng
“ Ở trẻ mầm non vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ Thông qua các trò chơi trẻ học được rất nhiều điều bổ ích Có rất nhiều các loại trò chơi như: trò chơi đóng vai theo chủ đề, trò chơi xây dựng, trò chơi vận động Tuy nhiên TCVĐ là loại hình được sử dụng nhiều nhất trong các giờ học của trẻ vì khi chơi trẻ hào hứng tham gia nhiệt tình các hoạt động, xua tan những căng thẳng mệt mỏi Kích thích trẻ luôn sáng tạo trong học tập và vui chơi, và các
tố chất thể lực của trẻ được phát triển.”
“ Ném bóng là một nội dung học trong chương trình GDTC cho trẻ em lứa tuổi mầm non không chỉ có tác dụng tới sự phát triển của con người mà còn giúp cho việc hoàn thiện và phát triển nhân cách cũng như đảm bảo, đáp ứng đời sống cho con người, là nhu cầu không thể thiếu của người hâm mộ thể thao.”
“ Ném bóng có ý nghĩa vô cùng trong việc phát triển thể chất, vận động cho trẻ mầm non góp phần tích trong việc phát triển một cách toàn diện các yếu tố thể lực như sức nhanh, sực mạnh, sức bền và khả năng phối hợp vận
Trang 32động của trẻ Khi trẻ chơi trò chơi ném bóng thì sẽ tác động lên nhiều cơ, tăng quá trình trao đổi chất, là phương tiện chống lại sự mệt mỏi, căng thẳng của trẻ trong học tập Trò chơi ném bóng còn tác động vào hệ thần kinh, các quá trình hưng phấn và ức chế được cân bằng Đó là điều kiện tốt để hình thành thói quen vận động của trẻ.”
“ Ném bóng đòi hỏi có sự tham gia hoạt động của toàn bộ cơ thể, vì vậy
sẽ giúp cho cơ thể phát triển toàn diện về hình thái và chức năng sinh lý Tập luyện ném bóng thường xuyên và có hệ thống thì các chỉ số về hô hấp, tuần hoàn và trao đổi chất đều có những chuyển biến tốt, mạch yên tĩnh giảm, thể tích buồng tim tăng Giúp trẻ phát triển nhanh và toàn diện các tố chất thể lực đồng thời còn giúp giáo dục các ý chí, tinh thần đồng đội, tình đoàn kết, tính
kỷ luật quyết đoán.”
“ Ở lứa tuổi mẫu giáo trẻ rất thích chơi với bóng Vì vậy các trò chơi với bóng luôn mang lại sự thích thú cho trẻ Trẻ hứng thú tích cực tham gia cùng
cô, cùng với bạn bè qua đó trẻ nắm được cách thức thực hiện hành động, thao tác, kỹ năng, hình thành được phẩm chất đạo đức tốt, trẻ biết giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ Khi chơi với bóng, các động tác chụp, đá, lăn, ném đòi hỏi sự phối hợp tay và mắt kết hợp cùng các cơ bắp khác của cơ thể để giúp trẻ hoàn thiện các kỹ năng vận động tinh cũng như vận động thô.”