1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH TRONG Y HỌC CỔ TRUYỀN

17 260 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A GIỚI THIỆU CHUNGY học cổ truyền(hay còn gọi là đông y) là nền y học có từ xa xưa. Dựa trên lý luận phương đông và nền tảng triết học cơ sở: Âm Dương ngũ hành cân bằng thì cơ thể khỏe mạnh.Xác định được nguyên nhân gây bệnh trong y học cổ truyền là một việc rất phức tạp, vì có nhiều yếu tố, nguyên nhân gây bệnh. Dựa vào các nhân tố chính gây nên bệnh, Y học cổ truyền đã chia ra làm những loại sau:Hoàn cảnh thiên nhiên (khí hậu, địa lý…) ảnh hưởng đến con người và thường gom vào 6 loại gọi chung là 6 khí: Phong (gió), Hàn (lạnh), Thử (nóng), Thấp (ẩm ướt), Táo (khô ráo), Hỏa (nhiệt) tức lục dâm gọi là nguyên nhân bên ngoài.Hoàn cảnh gây ra những rối loạn Tâm sinh lý do 7 thứ tình (vui, buồn, giận, lo, nghĩ, kinh, sợ) gọi là nguyên nhân bên trong.Các nguyên nhân khác như: đàm ẩm, chấn thương, rắn cắn…B. NHỮNG NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNHI.NGUYÊN NHÂN BÊN NGOÀI

Trang 1

Đà Nẵng, 8/2017

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA HÓA

================

BÁO CÁO CÁC NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH

TRONG Y HỌC CỔ TRUYỀN

Sinh viên thưc hi n ê

Nhóm học phần :

Trang 2

A- GIỚI THIỆU CHUNG

-Y học cổ truyền(hay còn gọi là đông y) là nền y học có từ xa xưa Dựa trên lý luận phương đông và nền tảng triết học cơ sở: Âm Dương ngũ hành cân bằng thì cơ thể khỏe mạnh

Xác định được nguyên nhân gây bệnh trong y học cổ truyền là một việc rất phức tạp, vì có nhiều yếu tố, nguyên nhân gây bệnh Dựa vào các nhân tố chính gây nên bệnh, Y học cổ truyền đã chia ra làm những loại sau:

-Hoàn cảnh thiên nhiên (khí hậu, địa lý…) ảnh hưởng đến con người và thường gom vào 6 loại gọi chung là 6 khí: Phong (gió), Hàn (lạnh), Thử (nóng), Thấp (ẩm ướt), Táo (khô ráo), Hỏa (nhiệt) tức lục dâm gọi là nguyên nhân bên ngoài

-Hoàn cảnh gây ra những rối loạn Tâm sinh lý do 7 thứ tình (vui, buồn, giận, lo, nghĩ, kinh, sợ) gọi là nguyên nhân bên trong

-Các nguyên nhân khác như: đàm ẩm, chấn thương, rắn cắn…

B NHỮNG NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH

I.NGUYÊN NHÂN BÊN NGOÀI

Trang 3

Sáu khí(Phong, Hàn, Thử, Thấp,Táo, Hỏa) của khí hậu, khi biến đổi bình thường thì cơ thể thích nghi dễ dàng Tuy nhiên khi khí hậu biến đổi bất thường hay còn gọi là trái gió, trở trời thì lại là nguyên nhân gây bệnh gọi là lục dâm, lục tà Các tà khí này , nhân cơ hội cơ thể bị suy yếu(chính khí hư) liền xâm nhập vào

cơ thể gây bệnh(tà khí thịnh)

Tà khí luôn quan hệ với thời tiết, gây bệnh vào một mùa thích hợp như: mùa xuân hay gặp phong tà, mùa hè hay gặp bệnh do hỏa tà và thử tà,…

Mỗi tà khí, khi cảm nhiễm, thường dễ làm tổn thương tạng có quan hệ với ngũ hành như: Phong tà hay làm hại can, hàn tà hay làm hại Thận,…

Mỗi bệnh có thể do nhiều tà khí nhiễm vào và phối hợp với nhau: Phong- Hàn, Phong-Thấp…

Cần phân biệt các trường hợp bệnh do ngoại cảm: Phong , Hàn, Thử , Thấp,… với trường hợp cũng do Phong Hàn,… bên trong cơ thể gây ra: Nội phong, nội nhiệt,… tuy nhiên, mỗi loại tà khí đều có hội chứng riêng, cần phân tích kĩ chứng trạng bệnh để tìm ra nguyên nhân

1. Phong

1.1 Phân loại

Có hai loại phong là ngoại Phong và nội Phong

-Ngoại Phong thường gặp nhất ở mùa xuân Thường gây bệnh với tạng Can, sách Nội Kinh: Can ố Phong

Trang 4

-Nội Phong: do rối loạn chức năng của can gây nên, thường gọi là “Can Phong Nội Động”

1.2 Đặc tính

-Phong mang đặc tính dương mà dương thì động nên hay gây co rút, kinh giật -Phong là gió, gió nhẹ nên gây bệnh phần trên cơ thể như đầu hay mặt bịmiệng giật, miệng méo, mắt xếch,…và đi ra ngoài trời thì sợ gió, gai rét…

-Phong khí gắn với mộc khí, chỉ sự chuyển động do đó hay di chuyển chổ này chổ khác, gọi là “ Phong động”, thường gặp trong các chứng đau nhức xương khớp Ngoài ra, phong di động mau lẹ nên gây bệnh cũng nhanh và rút đi cũng nhanh -Sách “ Y Tông Kim Giám”: trên trời là Phong, dưới đất là Mộc, ở người là Can…

do đó, Can khí và Phong khí có liên hệ với nhau Các bệnh về Phong khí đều thuộc

về can

1.3.Bệnh chứng của Phong

Phong có thể kết hợp với các tà khí khác để gây ra bệnh, chủ yếu kết hợp với Hàn Tà, Nhiệt tà và Thấp tà

-Phong hàn do Phong tà và Hàn tà kết hợp với nhau, tuy nhiên trên thực tế lâm sàng chứng này cho Hàn tà nhiều hơn

+ Cảm lạnh: chảy nước mũi, sợ lạnh(biểu hiện của hàn) sợ gió, mạch phù(biểu hiện của Phong)

+ Thời tiết lạnh(Hàn tà) làm đau dây thần kinh ngoại biên (Phong)

+ Dị ứng lạnh(hắt xì, ban chẩn) và đau khớp do lạnh

-Phong nhiệt: kết hợp Phong tà và nhiệt tà, chủ yếu do nhiệt tà ảnh hưởng đến phong tà:

+ Cảm sốt: sốt, họng viêm, nước tiểu vàng, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng(là dấu hiệu của Hỏa vượng), mạch phù, sợ gió(dấu hiệu của Mộc)

+ Mắt(dấu hiệu của Can Mộc): viêm, đau, đỏ(dấu hiệu của Hỏa Vượng)

-Phong thấp: kết hợp giữa Phong tà và Thấp tà, do Thấp tà gây ra nhiều hơn:

+ Viêm khớp dạng thấp(do máu huyết không thông bị ứ trệ, Tỳ ố thấp, Thấp khí làm cho tỳ suy, không thông được huyết, huyết bị đình trệ gây ra tê mỏi, đau nhức các phần thần kinh ngoại biên)

-Nội Phong: do Can bị rối loạn gây ra:

Trang 5

+ Can chủ cân, Can khí vượng lên, gây ra co giật.

+ Can dương vượng lên, gây ra nhức đầu, chóng mặt, huyết áp cao,…

+ Can huyết hư không nuôi dưỡng được gân cơ, sinh ra liệt, chân tay co quắp,…

2 Hàn

2.1 Phân loại: Hàn có hai loại:

- Ngoại hàn: Khí lạnh , hơi lạnh, thường gặp vào mùa đông, trời mưa, về khuya Hàn khí xâm nhập vào cơ thể bằng 2 cách:

+ Thương hàn: Hàn tà phạm vào phần biểu bên ngoài

+ Trúng Hàn: Hàn tà nhập thẳng vào tạng phủ

- Nội Hàn: do dương khí trong cơ thể suy, không chống nổi Hàn(dương hư sinh ngoại Hàn)

2.2 Đặc tính

- Hàn là âm tà, do đó, thường làm hại dương(trong cơ thể phần Biểu, ngoài da, Liên hệ đến Dương), do đó, Hàn tà dễ xâm nhập vào da, cơ, vệ, khí của cơ thể Hàn

tà xâm nhập vào Tỳ làm Tỳ dương hư, không vận hóa được thức ăn gây ra tiêu chảy, chân tay lạnh

- Hàn tà có tính ngưng trệ , do đó khi xâm nhập vào cơ thể làm cho máu huyết đình trệ, đau nhức

- Hàn có tính co rút do đó thường gây ra chứng co rút các cơ, chuột rút, cổ vẹo khó xoay trở Sách “Y Tông Kinh Giám”: Trên trời là Hàn, dưới đất là Thủy, ở người là Thận, vì thế, Thận khí thông với Hàn khí, các bệnh liên quan đến Hàn khí đều có liên hệ đến Thận

2.3 Bệnh chứng của Hàn

Hàn thường kết hợp với Phong và Thấp, gây ra Phong hàn và Hàn thấp, Hàn thấp thường biểu hiện: tiêu chảy, nôn do lạnh, bụng đau âm ỉ

Cần chú ý: Hàn tà vào tạng phủ thì nôn ra nước trong, tiêu lỏng, bụng đau, thích chườm nóng, chân tay lạnh, mạch Trầm Trì

2.4 Chứng nội Hàn

Chứng nội Hàn hầu hết do dương hư (dương hư sinh ngoại Hàn), người dương

hư, rất dễ bị cảm lạnh

Trên lâm sàng thường gặp các loại sau:

Trang 6

+ Tỳ vị hư Hàn: Tỳ dương suy kém, không vận hóa được thức ăn, gây nên: đi ngoài lỏng, đầy bụng, ăn kém, bụng đau âm ỉ

+ Thận dương hư: Thận ố hàn, Thận dương hư sinh ra sợ lạnh , tay chân lạnh, tiểu tiện nhiều

+ Tâm dương hư: Tâm chủ huyết, tâm dương hư, không chuyển được huyết, gây ứ trệ, làm tắc động mạch vành

+ Phế dương hư: Phế chủ khí, Phế dương hư, không thông được khí, gây khí nghịch làm khó thở, hen suyễn

3.Thử

Thử là nắng thường gặp vào mùa hè

3.1 Đặc tính

+ Thử là dương tà, nên mang đặc tính sốt viêm nhiệt

+ Tính hay thăng tán do đó dễ làm tiêu hao tân dịch… vào mùa hè, những ngày nắng trời, người ta thường mất nhiều mồ hôi, khát nóng sốt

+ Thường phối hợp với Thấp, nhất là từ hè sang thu, gây ra chứng lị, tiêu chảy

3.2 Chứng bệnh của Thử

Sốt cao, nhức đầu, khát nước, người buồn bực khó chịu, có mồ hôi, mạch hồng sát, chia làm 3 loại:

-Dương Thử hay còn gọi là trúng Thử: do ở lâu ngoài nắng, bỗng lăn ra mê man, không biết gì, bản chất là nhiệt

Trang 7

-Âm Thử, còn gọi là Thương Thử: do mùa hè, chỉ ở trong mát, ăn nhiều thức ăn sống lạnh làm âm khí lấn át dương khí gây ra: sốt cao, sợ lạnh, đầu đau, bụng đau, thổ tả, bản chất của Hàn

-Thử thấp: do mùa hè lội nước, dầm mưa ở nơi ẩm thấp làm cho Thử hợp với Thấp xâm nhập vào ruột gây ra lị hoặc thổ tả

4 Thấp

4.1 Phân loại: có 2 loại Thấp:

+ Ngoại Thấp: khí ẩm thấp, thường gặp vào mùa hè, thường gặp ở những nơi có độ

ẩm thấp, đầm lầy…

+ Nội Thấp: do Tỳ dương hư, không vận hóa được thủy dịch, làm thủy dịch ứ đọng lại gây bệnh

4.2 Đặc tính của Thấp

+ Thấp chỉ sự nặng nề, đình trệ, do đó các chứng có kèm thêm Thấp thường thấy tay chân nặng nề

+ Thấp hay gây dính, nhớt: miệng dính nhớt, tiểu khó

+ Thấp bài tiết chất đục (trọc khí): đại tiện lỏng, nước tiểu đục, huyết trắng…

+ Thấp là âm tà, thường làm hại dương khí gây trở ngại cho vận hành Thí dụ: Thấp làm dương khí của Tỳ giảm sút, ảnh hưởng đến sự vận hóa thủy dịch, gây phù thũng, tiêu hóa kém…

+ Sách “Y Tông Kim Giám” : trên trời là Thấp, dưới đất là Thổ, ở người là Tỳ, Thấp khí thông với Tỳ khí, vì vậy các bệnh gây nên bởi Thấp khí đều thuộc về Tỳ

4.3 Chứng bệnh của Thấp

Thấp khí kết hợp với các tà khí khác gây ra bệnh như: Phong thấp, Hàn thấp, Thử thấp, Thấp nhiệt

+ Thấp nhiệt là sự kết hợp giữa nhiệt và Thấp, chủ yếu do Nhiệt: kiết lị, nhiễm khuẩn ở bộ phận sinh dục, tiết niêu…

4.4 Chứng nội Thấp

Do Tỳ hư không vận hóa được Thủy thấp

+ Ở Thượng tiêu: gây ra đau đầu nặng, mắt hoa, ngực sườn đầy tức

+ Ở Trung tiêu: gây ra bụng đầy trướng, kém ăn, chậm tiêu, miệng dính, chân tay nặng nề

Trang 8

+ Ở Hạ tiêu: gây phù chân, nước tiểu ít, huyết trắng.

5 Táo

5.1 Phân loại: Có 2 loại Táo:

+ Ngoại Táo: là độ khô ráo, hay gặp vào mùa thu, chia làm 2 loại: Ôn Táo và Lương Táo, thường xâm phạm từ mũi, miệng, phế và vệ khí vào bên trong cơ thể +Nội Táo: do tân dịch, khí huyết suy giảm gây nên

5.2 Đặc tính

Táo có tính cách khô ráo, do đó, hay làm tổn thương tân dịch và thủy dịch trong

cơ thể gây ra: mũi khô, họng khô, da khô, đại tiện táo, nước tiểu ít, ho khan, ít đờm -Sách ‘Y Tông Kim Giám’: trên trời là Táo, dưới đất là Kim, ở người là Phế, Táo khí thông với Phế khí, vì thế các bệnh gây ra bởi Táo khí đều thuộc về Phế

5.3 Bệnh chứng của Táo

- Lương Táo: Cảm phải gió heo may hiu hắt của mùa Thu (còn gọi là Phong Táo) gây ra: sốt, sợ lạnh Đầu đau, ho khan, họng khô, mũi nghẹt, không có mồ hôi…

- Ôn Táo: cảm phải khí mùa Thu, lạnh lâu không mưa gây nên ( còn gọi là Nhiệt Táo) gây nên: sốt cao, ít sợ lạnh, đầu đau, ngực đau, mũi khô, miệng khát, trong người bứt rứt, lưỡi đỏ… Hay gặp trong các bệnh truyền nhiễm về mùa Thu như: sốt xuất huyết, viêm não…

- Ôn Táo hay làm khô tân dịch, do đó dễ gây mất điện giải sinh ra nhiễm độc hệ thần kinh hay vận mạch: hôn mê, vật vã, xuất huyết…

5.4 Chứng nội Táo

Do tân dịch khô kiệt, âm hư, dùng thuốc cay đắng và thuốc hạ lâu ngày làm da nhăn nheo, môi nứt nẻ, móng tay chân khô, khát nhiều, táo kết…

6.Hỏa

Trang 9

6.1 Phân loại

Hỏa hay nhiệt, thường có 2 loại:

-Hư Hỏa: do âm hư, không kiềm chế nổi Hỏa, khiến Hỏa vượng lên, thường gặp trong các chứng Âm hư hỏa vượng

-Thực nhiệt: do Hỏa khí và nhiệt khí bên ngoài gây nên Thí dụ: đi nắng hoặc đứng gần lửa cháy, Hỏa khí trong người bị bùng theo lên gây ra nóng

6.2 Đặc tính

-Thiên ‘ Âm Dương Ứng Tượng Đại Luận’ (TVấn 5) ghi: ‘Phương Nam sinh nhiệt’, do đó Hỏa khí thường gây sốt: sốt cao, họng đỏ, mặt đỏ…

- Hỏa hay bốc lên (như hình dáng ngọn lửa bốc cháy) vì thế hay gây ra viêm nhiệt ở phần trên Thí dụ: Hỏa của Vị vượng, gây lở loét môi miệng, lợi răng… (Tỳ khai khiếu ở miệng)

+ Hỏa của Can vượng gây nên mắt sưng, mắt đau, mắt đỏ… (Can khai khiếu ở mắt) + Hỏa của Tâm vượng gây nên lưỡi lở loét sưng dộp… (Tâm khai khiếu ở lưỡi) -Tâm chủ huyết do đó, Hỏa dễ gây chảy máu: chảy máu cam (Hỏa của Phế vượng), tiểu ra máu (Hỏa của Thận vượng), ói ra máu (Hỏa của vị vượng)…

Trang 10

-Hỏa vượng lên, phản khắc lại Thủy, do đó thường làm hao đốt tân dịch (thủy khí), gây ra khát nước, miệng khô, táo bón…

-Sách ‘Y Tông Kim Giám’: trên trời là Hỏa, dưới đất là nhiệt, ở người là Tâm… Hỏa khí thông với Tâm khí, do đó, các bệnh gây nên bởi Hỏa khí đều thuộc về Tâm

6.3 Chứng bệnh của Hỏa

- Hỏa sinh Nhiệt, nhiệt có thể kết hợp với các khí khác gây nên bệnh như: Phong Nhiệt, Thấp Nhiệt, Thử Nhiệt, Táo Nhiệt…

- Vào mùa hè (Hỏa khí vượng), hay gây nên các bệnh nhiễm khuẩn: mụn nhọt, phổi viêm, họng viêm… Nếu nhiệt quá độ, thanh Hỏa, gây sốt rất cao, có khi mê sảng, phát cuồng…

- Gây các chứng bệnh truyền nhiễm ở thời kỳ toàn phát, có hoặc không có biến chứng mất nước, nhiễm độc thần kinh, chảy máu: mặt đỏ, mắt đỏ, sợ nóng, khát, tiểu ít, đỏ, chảy máu cam, đại tiện ra máu…

6.4 Chứng hư nhiệt

Do Âm hư sinh nội nhiệt: gò má đỏ, trong lòng phiền nhiệt, ra mồ hôi trộm… Cũng do thất tình gây nên: giận quá, làm Can hỏa bốc lên, Phòng dục quá độ làm Tường hỏa động, buồn thương quá làm Hỏa bốc lên Phế…

7 Dịch lệ

Cũng 1 loại bệnh do tà khí lục dâm cảm nhiễm vào cơ thể gây nên, nhưng có tính chất lây lan thành những vụ dịch lớn, nhỏ như: cúm, sởi, quai bị…

II NGUYÊN NHÂN BÊN TRONG (nội nhân)

1.Thất tình

Trang 11

Nguyên nhân bên trong chủ yếu do thất tình gây nên: vui(hỷ), giận (nộ), buồn (ai), thương (ái), ghét (ố), sợ (cụ), muốn (dục) Bảy tình này kích thích quá độ hoặc kéo dài, sẽ ảnh hưởng đến sự tuần hoàn của khí huyết làm rối loạn chức năng của tạng phủ gây nên bệnh: huyết áp cao, bao tử loét, thần kinh suy nhược…

2 Thất tình và tạng phủ

-Tình chí bị kích động, tạng phủ sẽ biến hóa ra thất tình: can sinh ra giận dữ, tâm sinh ra vui mừng, tỳ sinh ra nghĩ, phế sinh ra lo, thận sinh ra sợ…

-Thất tình gây tổn thương tinh, khí, huyết của cơ thể: giận quá hại can(nộ thương can), mừng quá hại tâm (hỷ thương tâm), lo quá hại tỳ (ưu thương tỳ), buồn quá hại phế (bi thương phế), sợ quá hại thận (khủng thương thận)

-Thất tình làm ảnh hưởng đến sự thăng giáng khí của tạng phủ: sách Nội Kinh:

‘Giận làm khí bốc lên, mừng làm khí hãm, buồn làm khí tiêu, sợ làm khí hạ, kinh làm khí loạn, nghĩ làm khí kết…’

Triệu chứng chung là: tính tình thay đổi, mừng giận buồn vui thất thường, mất ngủ, mộng nhiều, ăn kém, không biết đói, đầu đau, ngực tức, hay ngáp vặt, thở dài, mệt mỏi, nặng hơn thì tinh thần hốt hoảng, dễ kinh sợ, nói năng sai lạc, điên dại, ngẩn ngơ… Kèm theo những hội chứng rối loạn của tạng phủ như : tiểu nhiều (thận), thở mệt (phế)…

Thất tình thường gây nhiều bệnh ở 3 tạng chính là tâm, tỳ và can

+Tâm: ngực đau tức, mất ngủ, hay quên, tinh thần không ổn định, cười nói huyên thuyên, điên cuồng…

+ Can: hay cáu gắt, hông sườn đầy tức, kinh nguyệt không đều…

+Tỳ: ăn uống kém, biếng ăn, rối loạn tiêu hóa…

Có thể hiểu: thất tình, biểu hiện của âm chứng: buồn, lo… Âm sinh âm, do đó, thường làm cho phần âm của cơ thể bị tổn hại, phần âm của cơ thể giữa gặp nhất chính là huyết Ba tạng Tâm, Can, Tỳ liên hệ trực tiếp đến huyết (Tâm chủ huyết, Can tàng huyết và Tỳ thông huyết), do đó 3 tạng này thường chịu ảnh hưởng nhiều của thất tình

III NHỮNG NGUYÊN NHÂN KHÁC

1.Ăn uống

Trang 12

- Ăn uống không điều độ: ăn quá đói làm cho nguồn sinh huyết không đầy đủ làm cho cơ thể mệt mỏi Ăn quá no làm tổn thương tỳ vị, tiêu hóa rối loạn, gây bội thực, trẻ em thành chứng cam tích, người lớn phát sinh bệnh tỳ vị

- Ăn uống không sạch: gây bệnh ở vị trường hoặc bệnh kí sinh trùng đường ruột, ăn chất ôi thiu sinh đau bụng, nôn, thậm chí hôn mê, tử vong

- Ăn uống thiên lệch: chỉ thích ăn một thứ nào đó, thức ăn không cung cấp đủ lượng sinh tố cần thiết cho cơ thể gây suy dinh dưỡng sinh bệnh tật Ăn quá nhiều chất hàn lương làm tổn thương tỳ vị dương khí, gây nên hàn thấp nội sinh, ăn quá nhiều chất cay làm cho vị trường tích nhiệt gây táo bón, ăn quá mặn làm cho mạch ngưng sáp, mặt mất sang nhuận…

- Thức ăn chế biến không đúng quy cách: như luộc rau quá nhừ làm mất sinh tố, chiên xào với quá nhiều mỡ dễ gây ra chứng xơ vữa động mạch, rán nướng quá cháy dễ gây ung thư…

2 Lao lực quá độ

- Lao động quá sức: lâu ngày tích lao thành tật, làm tạng khí hư thiếu, xuất hiện thiếu khí, vô lực, tứ chi mỏi, tinh thần uể oải, hình thể tiều tụy…

Trang 13

- Lao thần quá độ: lo lắng buồn phiền quá độ làm hao thương tâm khí, tổn thương

tỳ khí sinh ra tâm quý, mất ngủ, hay mê, ăn ít, bụng đầy, tiện lỏng

- Phòng lao quá độ: làm hao thương thận tinh, gây nên đau lưng mỏi gối, chóng mặt

ù tai, nam giới thì di tinh hoạt tiết, nặng thì liệt dương

- Không lao động, không hoạt động làm ảnh hưởng khí huyết vận hành, gân cốt mềm

3 Ứ huyết: là sự vận hành khí huyết không thông, xung huyết hoặc xuất huyết cục

bộ Thường do khí hư, khí trệ khiến cho huyết ngưng trệ hoặc xuất huyết trong cơ thể

* Đặc điểm gây bệnh: ảnh hưởng đến toàn thân, vận hành huyết ở toàn thân hay cục

bộ, sinh ra đau nhức, chảy máu, ứ tắc kinh mạch

*Những biểu hiện của ứ huyết:

- Đau: do xung huyết gây chèn ép, thường đau cố định một chỗ, đau dữ dội, bệnh kéo dài

- Sưng: thành khối hay gặp trong các bệnh ngoại khoa như gãy xương, ngã, bong gân,… hoặc ứ huyết ở các tạng phủ

- Xuất huyết nội: như đại tiện ra máu, rong huyết,… hoặc xuất huyết dưới da như trong trường hợp sốt xuất huyết, ngộ độc…

4 Đàm ẩm

Đàm là chất đặc, ẩm là chất trong loãng Đàm ẩm sau khi sinh ra sẽ gây ra những chứng bệnh mới, phạm vi gây bệnh rất rộng không chỉ trong bệnh phế quản ho khạc đờm

Ngày đăng: 13/09/2019, 18:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w