MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk có diện tích tự nhiên 35.609 ha. Dân số: 18.748 hộ, 86.815 khẩu. Đồng bào dân tộc có 3.740 hộ 19.718 khẩu, gồm 07 xã, 01 thị trấn, 73 thôn, buôn, tổ dân phố, 8/8 xã, thị trấn thuộc vùng II, có 13 buôn thuộc vùng đặc biệt khó khăn. Tỷ lệ lao động trong độ tuổi 52.945/86.815 người, chiếm 61,8% dân số, trong đó dân tộc thiểu số 12.422 người, chiếm 21% lao động trong độ tuổi. Tỉ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 21- 25% (Dân tộc thiểu số chỉ đạt từ 5-10%). Số thành phần dân tộc: 23 dân tộc, 4.221 hộ, 19.718 khẩu, chiếm tỷ lệ 23% tổng số khẩu toàn huyện, lao động trong độ tuổi là 9.906 khẩu. Thực trạng chất lượng lao động nông thôn trên địa bàn huyện còn hạn chế về nhiều mặt, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ: thiếu kiến thức nghề nghiệp, thiếu tự tin, kỹ năng tự tổ chức sản xuất, kinh doanh hạn chế, chưa tích cực tham gia thị trường lao động ngoại tỉnh, ngoài ra còn thiếu đất, thiếu vốn sản xuất và đông người ăn theo. Thực hiện nhiệm vụ đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1334/QĐ-UBND ngày 19/3/2010 của UBND tỉnh Đắk Lắk về việc ban hành Kế hoạch triển khai Quyết định 1956 trên địa bàn tỉnh, chính quyền huyện Krông Ana tăng cường tuyên truyền để nâng cao nhận thức cho cán bộ và nhân dân về vai trò, ý nghĩa của công tác dạy nghề, học nghề nhiều đơn vị huyện Đoàn, Phòng LĐTBXH, NHCSXH huyện, Đảng uỷ, UBND một số xã, thị trấn, các Trung tâm học tập cộng đồng đã quan tâm sâu sắc đến công tác dạy nghề, quan tâm tư vấn cho thanh niên tham gia học nghề để lập nghiệp tại chỗ và xuất khẩu lao động, tỉ lệ thanh niên học nghề hàng năm từ 64-78%, sau học nghề nhiều thanh niên tự tạo việc làm, xây dựng các mô hình: Trồng Nấm, Chăn nuôi – Thú y, sửa chữa xe máy, xây dựng dân dụng đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện chính sách đào tạo nghề tại chính quyền huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cả về khách quan và chủ quan như: Cơ sở vật chất, chất lượng đào tạo một số nghề chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường; điều kiện gắn kết giữa doanh nghiệp với cơ sở dạy nghề hạn chế. Tỉ lệ qua đào tạo nghề chưa cao, giải quyết việc làm sau đào tạo còn khó khăn (người học thiếu vốn hành nghề, năng lực tổ chức sản xuất hạn chế). Một số xã còn lúng túng trong việc xác định ngành nghề đào tạo, chưa quan tâm tư vấn, khuyến khích lao động tham gia học nghề có việc làm, tăng thu nhập phù hợp. Đời sống đa số lao động nông thôn còn khó khăn, sản xuất phụ thuộc vào mùa vụ, thu nhập không ổn định, phải lo mưu sinh hàng ngày.. tham gia học nghề chưa cao. Sự quan tâm của các cấp, các ngành chưa đồng bộ, các chính sách nhiều song phân tán, dàn trải gây lãng phí hoặc hiệu quả không cao. Tiền lương, tiền công của thị trường lao động thấp; nếp sống còn ảnh hưởng tập quán tiểu nông của nhiều thanh niên nông thôn chưa đáp ứng được những đòi hỏi của tác phong công nghiệp… ảnh hưởng đến hiệu quả đào tạo. Chưa có chính sách cụ thể khích lệ số thanh niên có ý chí vươn lên thoát nghèo bền vững. Công tác hướng nghiệp ở bậc phổ thông và trung học cơ sở còn hạn chế, giáo viên hướng nghiệp ở các cấp học ít có thông tin về trường nghề. Biên chế của Trung tâm dạy nghề quá thiếu, chế độ chính sách đối với cán bộ, giáo viên của Trung tâm chưa đầy đủ. Các mô hình sản xuất tính bền vững chưa cao, đầu vào, đầu ra sản phẩm chưa được quan tâm từ các doanh nghiệp (sản phẩm Nấm, Chăn nuôi). Khả năng hình thành, phát triển gia trại, trang trại hạn chế (do năng lực của học viên, do chưa có sự quan tâm đồng bộ ở nhiều ngành). Địa bàn rộng nhưng các chính sách đầu tư theo Quyết định 1956 thực hiện chưa đầy đủ do đó khó khăn và tốn kém trong công tác đào tạo. Một số học viên sau khi đào tạo không chịu khó hành nghề hoặc không có điều kiện để hành nghề vì thiếu vốn gây lãng phí trong công tác đào tạo (Năm 2010 – 2013, trên 100 lao động đi làm tại các Công ty May sau 2 - 3 tháng bỏ về...). Các ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ ở vùng Tây Nguyên chưa phát triển, chưa có môi trường công nghiệp để lao động hành nghề thuận lợi Những tồn tại, yếu kém, khó khăn trên cần phải nghiên cứu, tìm ra các biện pháp, giải pháp để tháo gỡ; vì vậy tôi mạnh dạn chọn đề tài “Tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn của chính quyền huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk” là đề tài luận văn thạc sĩ của mình nhằm tìm ra các giải pháp thực hiện có hiệu quả chính sách về đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn được lựa chọn, đồng thời áp dụng cho các địa phương khác trong tỉnh. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Trong những năm gần đây, quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ nhanh trên một số vùng của đất nước khiến số lượng lao động bình quân trên một diện tích canh tác tăng lên; tình trạng mất cân đối về cung, cầu lao động giữa nông thôn và thành thị diễn ra khắp nơi. Mặt khác, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội và quá trình đô thị hóa ở nước ta diễn ra nhanh, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch mạnh mẽ. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều hộ nông nghiệp bị mất đất sản xuất, phải tìm cách chuyển đổi lao động sang lĩnh vực phi nông nghiệp nên rất cần được hưởng chính sách ưu đãi về đào tạo nghề. Bên cạnh đó, chất lượng lao động ở nông thôn nước ta còn quá thấp. Chất lượng lao động nông thôn thấp đã làm cho thu nhập của người lao động không thể tăng nhanh; gây ra chênh lệch khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn ngày càng tăng. Chính vì vậy, đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở Việt Nam đang là một yêu cầu cấp bách. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Trong quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả có tham khảo một số công trình nghiên cứu có liên quan, cụ thể là: Tiến sỹ Phạm Bảo Dương (2011) có bài nghiên cứu “Định hướng chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn” đăng trên Tạp chí Khoa học và Phát triển số 4/2011, trang 672 – 679, tác giả đã đề xuất chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 đã nêu ra thực trạng tình hình đạo tạo nghề cho lao động ở nông thôn hiện nay và đánh giá việc đào tạo nghề cho khu vực nông thôn là một thất bại của thị trường, khu vực tư nhân không mặn mà trong việc tham gia vào thị trường này. Vì vậy, cần có sự can thiệp của nhà nước tập trung vào ba khía cạnh chính, bao gồm: 1. Hỗ trợ người muốn đi học nghề. 2. Hỗ trợ phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo. 3. Hỗ trợ phát triển và hoàn thiện mạng lưới kết nối. Luận án Tiến sĩ Nguyễn Văn Đại (2012), Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã nghiên cứu về “Đào tạo nghề cho người lao động nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, tại Luận án này, tác giả đã đã đề xuất: đẩy mạnh tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn; xây dựng và hoàn thiện chiến lược đào tạo nghề cho lao động nông thôn đồng bộ với chiến lược phát triển công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; đổi mới và phát triển chương trình dạy nghề cho lao động nông thôn nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong điều kiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa; huy động các nguồn lực xã hội để phát triển mạng lưới đào tạo nghề cho lao động nông thôn cũng như đa dạng hóa hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn Tác giả Lương Trung Hậu (2011), Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, có luận văn thạc sỹ về “Một số giải pháp phát triển công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh”. Các nội dung nghiên cứu chủ yếu tại Luận án này: phát triển đạo tạo nghề cho lao động nông thôn là việc mở rộng, đa dạng hoá hình thức, phương pháp, mô hình đào tạo cho đối tượng; nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề nhằm tạo việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn; ưu tiên dạy nghề cho nhóm đối tượng thuộc diện chính sách ưu đãi, gia đình có công với cách mạng, hộ cận nghèo, hộ nghèo, người tàn tật và hộ thuộc diện thu hồi đất; đào tạo phải hươớg đến đội ngũ lao động trực tiếp sản xuất, kinh doanh v.v… Tác giả Lê Quang Hảo (2011), Trường Đại học Đà Nẵng có luận văn thạc sỹ kinh tế về “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam”, nội dung nghiên cứu chủ yếu: xây dựng mục tiêu đào tạo nghề cho thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam; đánh giá phương thức đào tạo nghề; định hướng và giải pháp đào tạo nghề cho lao động nông thôn .. . . Tác giả Lê Thanh Hải “2013”, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân có luận văn thạc sỹ về “Tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn cho tỉnh Lai Châu”, nội dung nghiên cứu chủ yếu: Phân tích thực trạng tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT của chính quyền tỉnh Lai Châu và đưa ra giải pháp hoàn thiện tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT của chính quyền tỉnh Lai Châu đến năm 2015. Qua tham khảo, chưa có đề tài, bài viết nghiên cứu nào về tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn của chính quyền huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk. 3. Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của luận văn là: - Xây dựng được khung nghiên cứu về tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn của chính quyền cấp huyện. - Phản ảnh được thực trạng tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn của chính quyền huyện Krông Ana, từ đó xác định được những điểm mạnh, điểm yếu việc tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn của chính quyền huyện Krông Ana và nguyên nhân của điểm yếu. - Đề xuất được các giải pháp hoàn thiện tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn của chính quyền huyện Krông Ana đến năm 2020. 4. Phạm vi nghiên cứu - Về đối tượng: Nghiên cứu tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn của chính quyền huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk. - Về nội dung luận văn: Luận văn tập trung nghiên cứu tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn của chính quyền huyện Krông Ana theo 3 giai đoạn đó là: chuẩn bị triển khai chính sách, chỉ đạo triển khai chính sách, kiểm tra sự thực hiện chính sách. - Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Krông Ana. - Về thời gian: Số liệu thứ cấp thu thập từ năm 2011- 2014, ước thực hiện 2015 và các giải pháp đề xuất cho giai đoạn đến năm 2020.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG YẾN
TỔ CHỨC THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN CỦA CHÍNH QUYỀN
HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ VÀ CHÍNH SÁCH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS BÙI THỊ HỒNG VIỆT
HÀ NỘI - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân và đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại Luật sở hữu trí tuệ Những số liệu, tư liệu đưa ra trong luận án là trung thực
và nội dung của Luận án chưa từng được ai công bố trong các công trình nghiên cứu khoa học khác.
Người viết cam đoan
Nguyễn Thị Phương Yến
M ỤC LỤC C L ỤC LỤC C
Trang 3LỜI CẢM ƠN
1.1 CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 15
1.1.1 Lao động nông thôn và đào tạo nghề cho lao động nông thôn 15 1.1.2 Khái niệm chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn 16 1.1.3 Mục tiêu chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn 16 1.1.4 Nội dung của chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn 16
1.2 TỔ CHỨC THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN 18
1.2.1 Khái niệm tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động
1.2.2 Mục tiêu và tiêu chí đánh giá của tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn của chính quyền cấp huyện 18 1.2.3 Quá trình tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông
1.2.4 Các điều kiện để tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn của chính quyền cấp huyện thành công 29
1.3 KINH NGHIỆM MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG VÀ BÀI HỌC CHO HUYỆN 31
Trang 42.2 CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN ĐƯỢC TRIỂN KHAI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KRÔNG ANA GIAI
2.3 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN CỦA CHÍNH QUYỀN HUYỆN
2.3.1 Về thực trạng chuẩn bị triển khai chính sách 45 2.3.2 Về thực trạng chỉ đạo triển khai chính sách 56 2.3.3 Về thực trạng kiểm soát thực hiện chính sách 66
2.4 ĐÁNH GIÁ TỔ CHỨC THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO
NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN CỦA CHÍNH QUYỀN HUYỆN
2.4.2 Điểm mạnh tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động
2.4.3 Điểm yếu tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông
Trang 53.1.1 Mục tiêu của tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn của chính quyền huyện Krông Ana đến năm 2020 773.1.2 Phương hướng hoàn thiện tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn của chính quyền huyện Krông Ana đến năm 2020 79
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC THỰC THI
CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN CỦA CHÍNH QUYỀN HUYỆN KRÔNG ANA ĐẾN NĂM 2020 82
3.2.1 Hoàn thiện chuẩn bị triển khai chính sách 82 3.2.2 Hoàn thiện chỉ đạo và tổ chức triển khai chính sách 83 3.2.3 Hoàn thiện kiểm soát sự thực hiện chính sách 87
3.3 KIẾN NGHỊ MỘT SỐ ĐIỀU KIỆN ĐỂ THỰC HIỆN GIẢI PHÁP 89
3.3.1 Kiến nghị với chính quyền huyện Krông Ana 89 3.3.2 Kiến nghị với chính quyền tỉnh Đắk Lắk 90
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HĐND: Hội đồng nhân dân
UBND: Uỷ ban nhân dân
NSNN: Ngân sách Nhà nước
TTDN>VL: Trung tâm dạy nghề và giới thiệu việc làm
TTDN: Trung tâm dạy nghề
NHCSXH Ngân hàng Chính sách Xã hội
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ
BẢNG
MỞ ĐẦU
Trang 81 Tính cấp thiết của đề tài
Huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk có diện tích tự nhiên 35.609 ha Dân số:18.748 hộ, 86.815 khẩu Đồng bào dân tộc có 3.740 hộ 19.718 khẩu, gồm 07 xã, 01thị trấn, 73 thôn, buôn, tổ dân phố, 8/8 xã, thị trấn thuộc vùng II, có 13 buôn thuộcvùng đặc biệt khó khăn Tỷ lệ lao động trong độ tuổi 52.945/86.815 người, chiếm61,8% dân số, trong đó dân tộc thiểu số 12.422 người, chiếm 21% lao động trong độtuổi Tỉ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 21- 25% (Dân tộc thiểu số chỉ đạt từ 5-10%) Số thành phần dân tộc: 23 dân tộc, 4.221 hộ, 19.718 khẩu, chiếm tỷ lệ 23%tổng số khẩu toàn huyện, lao động trong độ tuổi là 9.906 khẩu
Thực trạng chất lượng lao động nông thôn trên địa bàn huyện còn hạn chế vềnhiều mặt, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ: thiếu kiến thức nghề nghiệp,thiếu tự tin, kỹ năng tự tổ chức sản xuất, kinh doanh hạn chế, chưa tích cực tham giathị trường lao động ngoại tỉnh, ngoài ra còn thiếu đất, thiếu vốn sản xuất và đôngngười ăn theo
Thực hiện nhiệm vụ đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định số1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1334/QĐ-UBND ngày19/3/2010 của UBND tỉnh Đắk Lắk về việc ban hành Kế hoạch triển khai Quyếtđịnh 1956 trên địa bàn tỉnh, chính quyền huyện Krông Ana tăng cường tuyên truyền
để nâng cao nhận thức cho cán bộ và nhân dân về vai trò, ý nghĩa của công tác dạynghề, học nghề nhiều đơn vị huyện Đoàn, Phòng LĐTBXH, NHCSXH huyện,Đảng uỷ, UBND một số xã, thị trấn, các Trung tâm học tập cộng đồng đã quan tâmsâu sắc đến công tác dạy nghề, quan tâm tư vấn cho thanh niên tham gia học nghề
để lập nghiệp tại chỗ và xuất khẩu lao động, tỉ lệ thanh niên học nghề hàng năm từ64-78%, sau học nghề nhiều thanh niên tự tạo việc làm, xây dựng các mô hình:Trồng Nấm, Chăn nuôi – Thú y, sửa chữa xe máy, xây dựng dân dụng đạt hiệu quảcao
Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện chính sách đào tạo nghề tại chính quyềnhuyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cả về khách quan
và chủ quan như: Cơ sở vật chất, chất lượng đào tạo một số nghề chưa đáp ứng
Trang 9được nhu cầu thị trường; điều kiện gắn kết giữa doanh nghiệp với cơ sở dạy nghềhạn chế Tỉ lệ qua đào tạo nghề chưa cao, giải quyết việc làm sau đào tạo còn khókhăn (người học thiếu vốn hành nghề, năng lực tổ chức sản xuất hạn chế) Một số
xã còn lúng túng trong việc xác định ngành nghề đào tạo, chưa quan tâm tư vấn,khuyến khích lao động tham gia học nghề có việc làm, tăng thu nhập phù hợp Đờisống đa số lao động nông thôn còn khó khăn, sản xuất phụ thuộc vào mùa vụ, thunhập không ổn định, phải lo mưu sinh hàng ngày tham gia học nghề chưa cao Sựquan tâm của các cấp, các ngành chưa đồng bộ, các chính sách nhiều song phân tán,dàn trải gây lãng phí hoặc hiệu quả không cao Tiền lương, tiền công của thị trườnglao động thấp; nếp sống còn ảnh hưởng tập quán tiểu nông của nhiều thanh niênnông thôn chưa đáp ứng được những đòi hỏi của tác phong công nghiệp… ảnhhưởng đến hiệu quả đào tạo Chưa có chính sách cụ thể khích lệ số thanh niên có ýchí vươn lên thoát nghèo bền vững Công tác hướng nghiệp ở bậc phổ thông vàtrung học cơ sở còn hạn chế, giáo viên hướng nghiệp ở các cấp học ít có thông tin
về trường nghề Biên chế của Trung tâm dạy nghề quá thiếu, chế độ chính sách đốivới cán bộ, giáo viên của Trung tâm chưa đầy đủ Các mô hình sản xuất tính bềnvững chưa cao, đầu vào, đầu ra sản phẩm chưa được quan tâm từ các doanh nghiệp(sản phẩm Nấm, Chăn nuôi) Khả năng hình thành, phát triển gia trại, trang trại hạnchế (do năng lực của học viên, do chưa có sự quan tâm đồng bộ ở nhiều ngành) Địabàn rộng nhưng các chính sách đầu tư theo Quyết định 1956 thực hiện chưa đầy đủ
do đó khó khăn và tốn kém trong công tác đào tạo Một số học viên sau khi đào tạokhông chịu khó hành nghề hoặc không có điều kiện để hành nghề vì thiếu vốn gâylãng phí trong công tác đào tạo (Năm 2010 – 2013, trên 100 lao động đi làm tại cácCông ty May sau 2 - 3 tháng bỏ về ) Các ngành công nghiệp, thương mại, dịch vụ
ở vùng Tây Nguyên chưa phát triển, chưa có môi trường công nghiệp để lao độnghành nghề thuận lợi
Những tồn tại, yếu kém, khó khăn trên cần phải nghiên cứu, tìm ra các biện
pháp, giải pháp để tháo gỡ; vì vậy tôi mạnh dạn chọn đề tài “Tổ chức thực thi
chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn của chính quyền huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk” là đề tài luận văn thạc sĩ của mình nhằm tìm ra các giải pháp
Trang 10thực hiện có hiệu quả chính sách về đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địabàn được lựa chọn, đồng thời áp dụng cho các địa phương khác trong tỉnh.
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, củacác cấp, các ngành và xã hội nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứngyêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Trong những nămgần đây, quá trình đô thị hóa diễn ra với tốc độ nhanh trên một số vùng của đất nướckhiến số lượng lao động bình quân trên một diện tích canh tác tăng lên; tình trạng mấtcân đối về cung, cầu lao động giữa nông thôn và thành thị diễn ra khắp nơi Mặt khác,
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội vàquá trình đô thị hóa ở nước ta diễn ra nhanh, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch mạnh
mẽ Tuy nhiên, ngày càng có nhiều hộ nông nghiệp bị mất đất sản xuất, phải tìm cáchchuyển đổi lao động sang lĩnh vực phi nông nghiệp nên rất cần được hưởng chínhsách ưu đãi về đào tạo nghề Bên cạnh đó, chất lượng lao động ở nông thôn nước tacòn quá thấp Chất lượng lao động nông thôn thấp đã làm cho thu nhập của người laođộng không thể tăng nhanh; gây ra chênh lệch khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị
và nông thôn ngày càng tăng Chính vì vậy, đào tạo nghề cho lao động nông thôn ởViệt Nam đang là một yêu cầu cấp bách
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả có tham khảo một số công trìnhnghiên cứu có liên quan, cụ thể là:
Tiến sỹ Phạm Bảo Dương (2011) có bài nghiên cứu “Định hướng chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn” đăng trên Tạp chí Khoa học và Phát triển số
4/2011, trang 672 – 679, tác giả đã đề xuất chính sách đào tạo nghề cho lao độngnông thôn đến năm 2020 đã nêu ra thực trạng tình hình đạo tạo nghề cho lao động ởnông thôn hiện nay và đánh giá việc đào tạo nghề cho khu vực nông thôn là mộtthất bại của thị trường, khu vực tư nhân không mặn mà trong việc tham gia vào thịtrường này Vì vậy, cần có sự can thiệp của nhà nước tập trung vào ba khía cạnhchính, bao gồm: 1 Hỗ trợ người muốn đi học nghề 2 Hỗ trợ phát triển mạng lưới
cơ sở đào tạo 3 Hỗ trợ phát triển và hoàn thiện mạng lưới kết nối
Luận án Tiến sĩ Nguyễn Văn Đại (2012), Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Trang 11đã nghiên cứu về “Đào tạo nghề cho người lao động nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, tại Luận án này, tác giả đã
đã đề xuất: đẩy mạnh tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước
về đào tạo nghề cho lao động nông thôn; xây dựng và hoàn thiện chiến lược đào tạonghề cho lao động nông thôn đồng bộ với chiến lược phát triển công nghiệp hóa -hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; đổi mới và phát triển chương trình dạy nghềcho lao động nông thôn nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động trong điềukiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa; huy động các nguồn lực xã hội để phát triểnmạng lưới đào tạo nghề cho lao động nông thôn cũng như đa dạng hóa hoạt độngđào tạo nghề cho lao động nông thôn
Tác giả Lương Trung Hậu (2011), Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, có
luận văn thạc sỹ về “Một số giải pháp phát triển công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh” Các nội dung nghiên cứu chủ yếu
tại Luận án này: phát triển đạo tạo nghề cho lao động nông thôn là việc mở rộng, đadạng hoá hình thức, phương pháp, mô hình đào tạo cho đối tượng; nâng cao chấtlượng và hiệu quả đào tạo nghề nhằm tạo việc làm và tăng thu nhập cho lao độngnông thôn; ưu tiên dạy nghề cho nhóm đối tượng thuộc diện chính sách ưu đãi, giađình có công với cách mạng, hộ cận nghèo, hộ nghèo, người tàn tật và hộ thuộc diệnthu hồi đất; đào tạo phải hươớg đến đội ngũ lao động trực tiếp sản xuất, kinh doanhv.v…
Tác giả Lê Quang Hảo (2011), Trường Đại học Đà Nẵng có luận văn thạc sỹ
kinh tế về “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam”, nội dung nghiên cứu chủ yếu: xây dựng mục tiêu đào tạo nghề cho thành
phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam; đánh giá phương thức đào tạo nghề; định hướng vàgiải pháp đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Tác giả Lê Thanh Hải “2013”, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân có luận vănthạc sỹ về “Tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn chotỉnh Lai Châu”, nội dung nghiên cứu chủ yếu: Phân tích thực trạng tổ chức thực thichính sách đào tạo nghề cho LĐNT của chính quyền tỉnh Lai Châu và đưa ra giảipháp hoàn thiện tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho LĐNT của chính
Trang 12quyền tỉnh Lai Châu đến năm 2015.
Qua tham khảo, chưa có đề tài, bài viết nghiên cứu nào về tổ chức thực thichính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn của chính quyền huyện KrôngAna, tỉnh Đắk Lắk
3 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là:
- Xây dựng được khung nghiên cứu về tổ chức thực thi chính sách đào tạonghề cho lao động nông thôn của chính quyền cấp huyện
- Phản ảnh được thực trạng tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho laođộng nông thôn của chính quyền huyện Krông Ana, từ đó xác định được nhữngđiểm mạnh, điểm yếu việc tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao độngnông thôn của chính quyền huyện Krông Ana và nguyên nhân của điểm yếu
- Đề xuất được các giải pháp hoàn thiện tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghềcho lao động nông thôn của chính quyền huyện Krông Ana đến năm 2020
- Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Krông Ana
- Về thời gian: Số liệu thứ cấp thu thập từ năm 2011- 2014, ước thực hiện
2015 và các giải pháp đề xuất cho giai đoạn đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 135.1 Khung lý thuyết
5.2 Quy trình nghiên cứu:
Bước 1: Nghiên cứu lý thuyết, các công trình nghiên cứu có liên quan
để xác định khung nghiên cứu về tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn của chính quyền cấp huyện.
Bước 2: Thu thập số liệu thứ cấp về kết quả thực hiện chính sách đào
tạo nghề cho lao động nông thôn của chính quyền huyện Kr ông Ana, thu thập dữ liệu về chính sách và các hoạt động tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn của chính quyền huyện Krông Ana.
Bước 3: Từ các dữ liệu thu thập được tiến hành phân tích thực trạng tổ
chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn của chính quyền huyện Krông Ana, tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân dẫn đến những điểm yếu về tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn của chính quyền huyện Krông Ana.
Bước 4: Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện tổ chức thực thi chính
sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn của chính quyền huyện Krông Ana.
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Các điều kiện cần thiết
để tổ chức thực thi chính
sách đào tạo nghề cho lao
động nông thôn của
chính quyền cấp huyện
- Sự ủng hộ của người dân
nói chung và lao động
nông thôn nói riêng
- Chuẩn bị triển khaichính sách đào tạonghề
- Chỉ đạo triển khaichính sách đào tạonghề
- Kiểm soát thựchiện chính sách đàotạo nghề
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Thực hiện được mục tiêu tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn của chính quyền cấp huyện
- Số lượng, chất lượng và cơ cấu ngành nghề đào tạo
- Mạng lưới cơ sở đào tạo nghề
- Chương trình và phương pháp đào tạo nghề
Trang 14Chương 1 – Cơ sở lý luận về tổ chức thực thi chánh sách đào tạo nghề
cho lao động nông thôn của chính quyền huyện Krông Ana
Chương 2 – Phân tích thực trạng tổ chức thực thi chính sách đào tạo
nghề cho lao động nông thôn của chính quyền huyện Krông Ana
Chương 3 - Giải pháp hoàn thiện tổ chức thực thi chính sách đào tạo
nghề cho lao động nông thôn của chính quyền huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020
CHƯƠNG 1
Trang 15CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC THI CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP HUYỆN
1.1 Chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
1.1.1 Lao động nông thôn và đào tạo nghề cho lao động nông thôn
1.1.1.1 Lao động nông thôn
Lao động nông thôn (LĐNT) là lao động ở khu vực nông thôn và lao độngnông nghiệp có hộ khẩu thường trú tại huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk, kể cả ngườitàn tật có khả năng lao động có độ tuổi từ 16-55 đối với nữ và từ 16-60 tuổi đối vớinam, gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, đang có việclàm và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm
Đặc điểm của nguồn lao động nông thôn
- Lao động nông thôn mang tính thời vụ Sản xuất nông nghiệp luôn chịu tácđộng và bị chi phối mạnh mẽ bởi các quy luật sinh học và điều kiện tự nhiên củavùng (khí hậu, đất đai …) Do đó, quá trình sản xuất mang tính chất thời vụ cao, thuhút lao động không đồng đều Chính vì tính chất này đã làm cho việc sử dụng laođộng ở các vùng nông thôn trở nên phức tạp
- Lao động nông thôn rất dồi dào và đa dang về độ tuổi và có tính thích ứnglớn Do đó, việc huy động và sử dụng đầy đủ nguồn lực lao động có ý nghĩ rất quantrọng và phức tạp, đòi hỏi phải có biện pháp quản lý tổ chức lao động tốt để tăngcường lực lượng lao động cho sản xuất nông nghiệp
- Lao động nông thôn đa dạng, ít chuyên sâu, trình độ thấp Sản xuất nôngnghiệp có nhiều việc gồm các khâu với tính chất khác nhau Mức độ áp dụng máymóc, thiết bị vào sản xuất còn thấp vì thế mà sản xuất nông nghiệp đòi hỏi về sứckhoẻ, sự lành nghề và kinh nghiệm Mỗi lao động có thể đảm nhiệm nhiều côngviệc khác nhau nên lao động nông thôn ít chuyên sâu hơn các lao động trong cácngành công nghiệp và một số ngành đặc thù khác Bên cạnh đó, phần lớn lao độngnông nghiệp mang tính phổ thông, ít được đào tạo nên hiệu suất lao động thấp, khókhăn trong việc tiếp thu tiến bộ khoa học và công nghệ
Trang 16Từ những đặc điểm trên đây có thể thấy vấn đề đào tạo nghề cho lao độngnông thôn là một trong những biện pháp cấp bách hiện nay nhằm khắc phục nhữngyếu điểm, hạn chế của lao động nông thôn, phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế
và góp phần xoá đói, giảm nghèo
1.1.1.2 Đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn chính là: (i) trang bị các kiến thức lýthuyết cho học viên một cách có hệ thống; (ii) rèn luyện các kỹ năng thực hànhnghề nghiệp; (iii) rèn luyện thái độ, tác phong làm việc cho học viên trong phạm vingành nghề họ theo học nhằm giúp họ có thể làm một nghề nhất định Đào tạo nghềkhông chỉ gắn với lý thuyết mà cần đảm bảo cho lao động có đầy đủ kỹ năng để tìmđược một việc làm gắn liền với nghề nghiệp
Đào tạo nghề cho lao động nông thôn không chỉ liên quan đến dạy nghề màliên quan cả đến sự phát triển của đội ngũ giáo viên giảng viên và mạng lưới các cơ
sở đào tạo nghề Vì vậy, chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn không chỉbao gồm chính sách đối với người học mà cả chính sách đối với giáo viên và đối vớicác cơ sở đào tạo nghề
1.1.2 Khái niệm chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn là một trong những chínhsách xã hội do Nhà nước ban hành, bao gồm tổng thể các quan điểm, tư tưởng, cácmục tiêu, giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên hoạt động đàotạo nghề cho lao động nông thôn nhằm thúc đẩy toàn diện công tác dạy nghề và họcnghề cho lao động nông thôn, nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêucầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
1.1.3 Mục tiêu chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề, nhằm tạo việc làm, tăng thunhập của lao động nông thôn; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh
tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn
1.1.4 Các bộ phận của chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
1.1.4.1 Chính sách đối với người học
- Mục tiêu: đảm bảo cho lao động nông thôn được đào tạo nghề và được hỗtrợ để đào tạo nghề
Trang 17- Giải pháp:
+ Hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ chi phí học nghề ngắn hạn cho lao độngnông thôn thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi, như: người có công với cáchmạng, hộ nghèo, hộ cận nghèo, người tàn tật, đồng bào dân tộc thiểu số, người bịthu hồi đất canh tác và các lao động nông thôn khác
+ Hỗ trợ tiền ăn và tiền đi lại cho học viên học nghề ngắn hạn thuộc diệnđược hưởng chính sách ưu đãi, như: người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộcận nghèo, người tàn tật, đồng bào dân tộc thiểu số, người bị thu hồi đất canh tác vàcác lao động nông thôn khác
+ Hỗ trợ lãi suất cho vay học nghề đối với lao động nông thôn
+ Hỗ trợ cho vay lao động nông thôn sau học nghề để tạo việc làm
1.1.4.2 Chính sách phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên
- Mục tiêu: phát triển và xây dựng đội ngũ giáo viên, giảng viên và cán bộquản lý dạy nghề đáp ứng về số lượng, chất lượng và cơ cấu đào tạo nghề
+ Có kế hoạch tuyển dụng và đào tạo đội ngũ giáo viên, giảng viên và cán bộquản lý dạy nghề;
+ Huy động các nghệ nhân, cán bộ kỹ thuật, kỹ sư, người lao động có taynghề cao tại các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh, các trung tâm khuyếnnông - lâm - ngư, nông dân sản xuất giỏi tham gia dạy nghề cho lao động nôngthôn
+ Đào tạo nghiệp vụ sư phạm và bồi dưỡng nâng cao kỹ năng dạy nghề để bổsung giáo viên cho các trung tâm dạy nghề chưa đủ giáo viên cơ hữu
Trang 18+ Bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ quản lý và cán bộ tư vấn chọn nghề, tìm
và tạo việc làm cho lao động nông thôn
1.1.4.3 Chính sách phát triển cơ sở đào tạo nghề cho lao động nông thôn
- Mục tiêu: phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề
- Giải pháp:
+ Thành lập mới các trung tâm dạy nghề tại các huyện chưa có trung tâm dạynghề
+ Hỗ trợ đầu tư phát triển các nghề thủ công mỹ nghệ
+ Hỗ trợ kinh phí mua sắm thiết bị dạy nghề cho trung tâm giáo dục thườngxuyên ở những huyện chưa có trung tâm dạy nghề
+ Đẩy mạnh xã hội hóa dạy nghề theo hướng khuyến khích các tổ chức, cánhân đầu tư thành lập cơ sở dạy nghề cho lao động nông thôn; thu hút các cơ sở dạynghề tư thục, các cơ sở giáo dục, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ tham gia hoạt động dạy nghề cho lao động nông thôn
+ Phát triển chương trình, giáo trình, học liệu dạy nghề trình độ sơ cấp nghề
và dạy nghề thường xuyên; xây dựng danh mục thiết bị dạy nghề
1.2 Tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn của chính quyền cấp huyện
1.2.1 Khái niệm tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn của chính quyền cấp huyện
Tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn của chínhquyền cấp huyện là quá trình triển khai chính sách đào tạo nghề cho lao động nôngthôn thông qua các hoạt động có tổ chức trong bộ máy chính quyền cấp huyện đểnâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập củalao động nông thôn
1.2.2 Mục tiêu và tiêu chí đánh giá của tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn của chính quyền cấp huyện
Mục tiêu của tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nôngthôn của chính quyền cấp huyện là nhằm đạt được các mục tiêu của chính sách đào
Trang 19tạo nghề cho lao động nông thôn được triển khai trên địa bàn huyện và được thểhiện thông qua các chỉ số sau:
+ Số lượng lao động nông thôn được đào tạo nghề;
+ Số lượng lao động nông thôn được hỗ trợ chi phí đào tạo nghề;
+ Số lượng lao động nông thôn được hỗ trợ cho lao động nông thôn tiền ăn
và tiền đi lại khi học nghề;
+ Số lượng lao động nông thôn được hỗ trợ lãi suất vay học nghề;
+ Số lượng lao động nông thôn tìm được việc làm sau đào tạo;
+ Số lượng lao động nông thôn được vay sau học nghề để tạo việc làm;+ Số lượng giáo viên tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn;
+ Số lượng các nhà khoa học, nghệ nhân, cán bộ kỹ thuật, kỹ sư, người laođộng có tay nghề cao tại các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh, các trungtâm khuyến nông – lâm nghiệp, cơ sở sản xuất giỏi tham gia dạy nghề cho lao độngnông thôn;
+ Số lượng giáo viên được đào tạo nghiệp vụ sư phạm và bồi dưỡng nângcao kỹ năng dạy nghề;
+ Số lượng cán bộ quản lý và cán bộ tư vấn dạy nghề, tìm và tạo việc làmcho lao động nông thôn được bồi dưỡng nghiệp vụ;
+ Số lượng cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn huyện;
+ Số cơ sở đào tạo nghề được đầu tư hoặc hỗ trợ kinh phí mua sắm trangthiết bị dạy nghề;
+ Số chương trình đào tạo nghề được xây dựng và sử dụng
1.2.3 Quá trình tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn của chính quyền cấp huyện
Quá trình tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôncủa chính quyền cấp huyện là một quá trình liên tục bao gồm các giai đoạn, được
mô phỏng qua sơ đồ sau:
Giai đoạn 1 Chuẩn bị triển khai chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Trang 201 Xây dựng bộ máy thực thi chính sách
2 Lập kế hoạch triển khai chính sách
3 Ban hành các văn bản pháp quy và văn bản hướng dẫn
4 Tổ chức tập huấn
Giai đoạn 2 Chỉ đạo triển khai chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
1 Truyền thông chính sách
2 Tổ chức thực hiện các kế hoạch
3 Vận hành ngân sách
4 Phối hợp các bên liên quan
5 Đàm phán và giải quyết xung đột
6 Xây dựng và vận hành hệ thống dịch vụ hỗ trợ
Giai đoạn 3 Kiểm soát sự thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
1 Xây dựng hệ thống thông tin phản hồi
2 Kiểm tra, giám sát, đánh giá quá trình tổ chức thực hiện
3 Đưa ra các sáng kiến hoàn thiện, đìâu chỉnh và đổi mới chính sách
Sơ đồ 1.2 Các giai đoạn của quá trình tổ chức thực thi chính sách
Nguồn: Tác giả tổng hợp dựa vào giáo trình chính sách kinh tế - xã hội
1.2.3.1.Chuẩn bị triển khai chính sách
(a) Xây dựng bộ máy tổ chức thực thi chính sách
Bộ máy tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn baogồm các cơ quan sau:
- Hội đồng nhân dân huyện
Ban hành Nghị quyết chuyên đề về chính sách đào tạo nghề cho lao độngnông thôn để cụ thể hoá chính sách của tỉnh Thường trực HĐND huyện, các BanHĐND huyện và các đại biểu có trách nhiệm tổ chức kiểm tra, giám sát UBNDcùng cấp và các cơ quan có liên quan tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cholao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Tiến hành tiếp xúc cử tri, lắng nghe tâm tư,nguyện vọng, phản ánh, đề xuất của cử tri về vấn đề này
Trang 21- Uỷ ban nhân dân huyện
Ban hành Kế hoạch để triển khai Nghị quyết của HĐND huyện về chính sách
đào tạo nghề cho lao động nông thôn; chỉ đạo các phòng, ban liên quan của huyện
phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội trong huyện đẩy mạnh công tác thông tin
tuyên truyền, vận động học nghề theo Nghị quyết của HĐND huyện Chỉ đạo
UBND xã, hàng năm tổ chức điều tra, khảo sát nhu cầu học nghề của lao động nôngthôn; nhu cầu sử dụng lao động qua đào tạo nghề của các cơ sở sản xuất, kinhdoanh, dịch vụ và thị trường lao động trên địa bàn, gửi về UBND huyện để tổnghợp báo cáo kết quả về Sở Lao động, Thương binh và Xã hội Huy động các cơ sởdạy nghề trên địa bàn tham gia dạy nghề cho lao động nông thôn; theo dõi, tổnghợp, đôn đốc, tổ chức kiểm tra, giám sát thường xuyên và đột xuất việc thực hiện kếhoạch triển khai chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở địa bàn; kiệntoàn và tăng cường công tác quản lý nhà nước về dạy nghề lao động nông thôn ởcấp huyện; định kỳ 6 tháng, hàng năm và 5 năm xây dựng báo cáo tìnhhình thựchiện trách nhiệm của UBND cấp huyện theo các nội dung hướng dẫn và đề xuấtkhen thưởng tập thể, cá nhân có nhiều thành tích, gửi Sở Lao động, Thương binh và
Xã hội để tổng hợp, trình UBND tỉnh
- Phòng lao động, thương binh và xã hội
Chủ trì, phối hợp với các cơ quan chuyên môn có liên quan của huyện xâydựng kế hoạch, dự toán nhu cầu kinh phí thực hiện hàng năm, 5 năm trình UBNDhuyện; Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xác định danh mục nghề đào tạo
và nhu cầu nghề phi nông nghiệp của lao động nông thôn trên địa bàn huyện; Tổnghợp danh mục nghề nông nghiệp, nghề phi nông nghiệp; nhu cầu học nghề nôngnghiệp, phi nông nghiệp và kế hoạch dạy nghề nông nghiệp, nghề phi nông nghiệpcho lao động nông thôn, trình UBND huyện; Thông báo công khai cho các cơ sởtrên địa bàn huyện về việc tham gia dạy nghề cho lao động nông thôn; Chủ trì, phốihợp với Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn lựa chọn các cơ sở có đủ điềukiện dạy nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện, trình UBND huyện; Xâydựng, trình UBND huyện phê duyệt và tôổchức thực hiện thanh tra, kiểm tra, giámsát, đánh giá tình hình đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện
- Phòng nội vụ
Trang 22Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng kế hoạch, dự toán nhucầu kinh phí hàng năm, 5 năm về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã, gửiPhòng lao động, thương binh và xã hội để tổng hợp trình UBND huyện; Xác địnhnhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã, xây dựng quy hoạch đào tạo, bồidưỡng cán bộ trên địa bàn huyện; Phối hợp với Phòng lao động, thương binh và xãhội và các cơ quan liên quan kiểm tra, giám sát, đánh giá tình hình thực hiện đàođạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện.
- Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Xây dựng kế hoạch, dự toán nhu cầu kinh phí thực hiện dạy nghề nôngnghiệp hàng năm, 5 năm trên địa bàn huyện theo phân công, phân cấp quản lý, gửiPhòng lao động, thương binh và xã gội để tổng hợp trình UBND huyện; Trực tiếpchỉ đạo và chịu trách nhiệm về việc dạy nghề nông nghiệp cho lao động nông thôntrên địa bàn huyện; Cung cấp thông tin về định hướng, các quy hoạch sản xuất, quyhoạch nông thôn mới của huyện và định hướng cấp xã xác định danh mục nghề đàotạo, nhu cầu học nghề nông nghiệp của lao động nông thôn trên địa bàn xã; Chủ trì,xác định danh mục nghề đào tạo và nhu cầu học nghề nông nghiệp của lao độngnông thôn trên địa bàn huyện, gửi Phòng lao động, thương binh và xã hội để tổnghợp, trình UBND tỉnh; Đề xuất các cơ sở có đủ điều kiện tham gia dạy nghề nôngnghiệp cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện, gửi Phòng lao động, thươngbinh và xã hội tổng hợp, trình UBND huyện; Phối hợp với Phòng lao động, thươngbinh và xã hội và các cơ quan liên quan kiểm tra, giám sát, đánh giá tình hình thựchiện đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện
- Phòng tài chính - kế hoạch
Chủ trì, phối hợp với Phòng lao động, thương binh và xã hội, Phòng nội vụ,Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn thẩm định kế hoạch và dự toán kinh phíhàng năm, 5 năm để thực hiện các hoạt động dạy nghề cho lao động nông thôn vàđào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã trên địa bàn, trình UBND cấp huyện; Phốihợp với Phòng lao động, thương binh và xã hội và các cơ quan liên quan kiểm tra,giám sát, đánh giá tình hình thực hiện đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địabàn huyện
- Phòng văn hoá – thông tin
Trang 23Chủ trì, phối hợp với Phòng lao động, thương binh và xã hội, Phòng nôngnghiệp và phát triển nông thôn tổ chức thực hiện chuyên mục tuyên truyền về đàotạo nghề cho lao động nông thôn trên các phương tiện thông tin ở địa phương; Cungcấp thông tin về các cơ sở dạy nghề có đủ đìâu kiện, các nghề đào tạo, các mô hìnhdạy nghề gắn với việc làm có hiệu quả để lao động nông thôn biết và lựa chọn; Chỉđạo Đài phát thanh cấp huyện và truyền thanh cơ sở thực hiện công tác thông tin vàtình hình thực hiện các hoạt động đào tạo nghề
- Phòng công thương
Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị có liên quan khảo sát nhu cầu sửdụng lao động trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ của cácdoanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn huyện, gửi Phònglao động, thương binh và xã hội để tổng hợp, trình UBND huyện; hướng dẫn các xãkhai thác thông tin thị trường hàng hoá của lao động nông thôn trên các kênh thôngtin về tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá; hỗ trợ việc tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp v.v…
- Các tổ chức chính trị - xã hội của huyện
+ Uỷ ban mặt trận tổ quốc huyện tham gia hoạt động tuyên truyền, vận động
để các tổ chức chính trị xã hội thành viên và đoàn viên, hội viên tích cực, chủ động thamgia các hoạt động tuyên truyền, giám sát thực hiện chính sách
+ Hội Nông dân chủ trì, tổ chức các hoạt động tuyên truyền, tư vấn, vậnđộng nông dân học nghề; phối hợp với các cơ sở dạy nghề, các trang trại và các cơ
sở sản xuất kinh doanh tổ chức dạy nghề cho nông dân; đồng thời phối hợp với cácngành chức năng tham gia giám sát tình hình thực hiện chính sách trên địa bànhuyện
+ Đoàn Thanh niên tổ chức lồng ghép các hoạt động tuyên truyền, tư vấn học
nghề và tạo việc làm cho lao động nông thôn, đặc biệt tập trung vào các hoạt độngphù hợp với Đề án “Hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm” trên địa bàn huyện
(b) Lập kế hoạch triển khai chính sách
Để triển khai thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn, chínhquyền huyện phải lập các loại kế hoạch sau:
- Kế hoạch xây dựng các danh mục ngành, nghề đào tạo trên địa bàn huyện;
Trang 24- Kế hoạch đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện cả giai đoạn vàhàng năm.
- Kế hoạch hỗ trợ người học cả giai đoạn và hàng năm
- Kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên cả giai đoạn và hàng năm
- Kế hoạch phát triển mạng lưới chính sách đào tạo nghề cả giai đoạn và hàng năm
- Kế hoạch phân bổ kinh phí 5 năm và hàng năm
- Kế hoạch tập huấn cho cán bộ tổ chức thực hiện chương trình;
- Kế hoạch tuyên truyền cho các đối tượng thụ hưởng chính sách
(c) Ban hành các văn bản hướng dẫn
Để tổ chức thực thi các chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thônchính quyền huyện cần phải ban hành một số loại văn bản hướng dẫn sau: (i) Nghịquyết của Hội đồng nhân dân huyện: Nhằm xác định sự cần thiết phải tổ chức thựchiện đào đạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện và cụ thể hoá chínhsách của tỉnh Quyết định các chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp và chính sách (ii) Quyếtđịnh của UBND huyện triển khai Nghị quyết của HĐND huyện (iii) Các văn bảnhướng dẫn của các phòng chuyên môn trực thuộc UBND huyện về cơ chế tổ chứctriển khai thực hiện chính sách
(d) Tổ chức tập huấn, triển khai chính sách:
Tổ chức tập huấn, triển khai chính sách là tập huấn cho các cán bộ chịu tráchnhiệm tổ chức thực thi chính sách, bao gồm: các cán bộ của các phòng chuyên môntrực thuộc UBND huyện, các cán bộ của các xã trên địa bàn huyện Nội dung tậphuấn bao gồm:
- Quán triệt các văn bản liên quan đến chính sách đào tạo nghề như: Nghịquyết của HĐND huyện và Kế hoạch triển khai của UBND huyện;
- Tập huấn về các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp; về đối tượng; vềchính sách cụ thể đối với người học; về hỗ trợ cơ sở dạy nghề, chính sách đối với giáoviên; về nguồn kinh phí, hướng dẫn thanh quyết toán kinh phí; về chế độ báo cáo; vềcông tác thanh tra, kiểm tra; phân công nhiệm vụ, tổ chức thực hiện;
Trang 25- Tập huấn về nội dung của các chính sách bộ phận, như: chính sách đối vớingười học, chính sách đối với đội ngũ giáo viên, chính sách phát triển cơ sở đào tạonghề cho lao động nông thôn;
- Tập huấn về nguồn kinh phí, hoạt động thanh, quyết toán kinh phí;
- Tập huấn về chế độ báo cáo, kiểm tra, giám sát, đánh giá;
- Tập huấn về phân công nhiệm vụ tổ chức thực hiện
Ngoài việc tổ chức tập huấn, chính quyền cấp huyện cần tổ chức các đợt khảosát, tham quan học tập kinh nghiệm của các địa phương trong tỉnh và các địa phươngngoài tỉnh đã có những mô hình điển hình, vượt bậc trong tổ chức thực thi chính sáchđào tạo nghề cho lao động nông thôn nhằm trao đổi và học hỏi kinh nghiệm
1.2.3.2 Chỉ đạo triển khai chính sách
(a) Truyền thông và tư vấn chính sách
Truyền thông và tư vấn chính sách về chính sách là quá trình phổ biến chínhsách đến các đối tượng có liên quan, như: lao động nông thôn, các giáo viên dạynghề, các cơ sở đào tạo nghề biết về chính sách và chấp nhận chính sách, từ đó ủng
hộ và tham gia thực hiện chính sách một cách tự nguyện
Công tác truyền thông có thể được thực hiện thông qua việc vận hành hệ thốngtruyền thông đại chúng hoặc thông qua việc tập huấn trực tiếp Các nội dung cầntruyền thông là:
- Truyền thông về mục tiêu của chính sách, đối tượng của chính sách, các giảipháp và nguồn lực thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
- Truyền thông về các tiêu chí để lao động nông thôn, giáo viên, các cơ sở dạynghề được hưởng hỗ trợ từ chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn, mức hỗtrợ, kinh phí hỗ trợ, quá trình cần thực hiện để được hỗ trợ
(b) Tổ chức thực hiện các kế hoạch
Chính quyền cấp huyện phân công cho các cơ quan liên quan, như: Phònglao động, thương binh và xã hội, Phòng nội vụ, Phòng tài chính - kế hoạch, Phòngnông nghiệp và phát triển nông thôn v.v… triển khai các kế hoạch đã được lập, như:
Kế hoạch đào tạo nghề cho lao động nông thôn hàng năm và 5 năm; kế hoạch pháttriển đội ngũ giáo viên; kế hoạch phát triển các cơ sở đào tạo nghề; kế hoạch hỗ trợ
Trang 26người học cả giai đoạn và hàng năm; kế hoạch phát triển mạng lưới chính sách đào tạonghề cả giai đoạn và hàng năm; kế hoạch phân bổ kinh phí 5 năm và hàng năm; kế hoạchtập huấn cho cán bộ tổ chức thực hiện chương trình; kế hoạch tuyên truyền cho các đốitượng thụ hưởng chính sách… ; Đồng thời, thường xuyên chỉ đạo, đôn đốc các đơn vịthực hiện kế hoạch
Chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn chủ yếu sử dụng ngân sáchnhà nước, bao gồm: ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương Vì vậy, việcquản lý và sử dụng kinh phí cho tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho laođộng nông thôn cần tuân theo Luật ngân sách và các văn bản hướng dẫn thực thiLuật ngân sách hiện hành
Bên cạnh nguồn kinh phí từ ngân sách, chính sách đào tạo nghề cho lao độngnông thôn cần huy động sự tham gia đóng góp của người học, các doanh nghiệp sửdụng lao động, vốn tín dụng …
(d) Phối hợp với các bên liên quan
Chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn được triển khai trên địa bànhuyện do ban chỉ đạo của huyện làm đầu mối thực hiện Cơ quan này là đầu mối chỉđạo và cần phối hợp với các phòng, các cơ quan, đơn vị, các ban, ngành, đoàn thểcủa huyện, như: Phòng lao động, thương binh và xã hội, Phòng nội vụ, Phòng nôngnghiệp và phát triển nông thôn, Phòng tài chính - kế hoạch, Phòng văn hoá – thôngtin, Phòng công thương, Hội nông dân, Hội phụ nữ, Huyện đoàn, Liên Đoàn laođộng huyện, UBND cấp xã, các cơ sở đào tạo nghề đóng trên địa bàn huyện
(e) Đàm phán và giải quyết xung đột
Trang 27Quá trình thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn sẽ tácđộng tới lợi ích của rất nhiều bên có liên quan Do đó, có thể sẽ xẩy ra xung độtgiữa các chủ thể như:
- Ban chỉ đạo cấp xã với ban chỉ đạo cấp huyện: ban chỉ đạo cấp xã sẽ thắcmắc về việc ban chỉ đạo cấp huyện phân chia, giao chỉ tiêu đào tạo không côngbằng hoặc chỉ tiêu ngành nghề đào tạo không phù hợp với nhu cầu đào tạo
- Các cơ sở dạy nghề với ban chỉ đạo: các cơ sở dạy nghề thắc mắc về việcgiao chỉ tiêu đào tạo không công bằng giữa các cơ sở dạy nghề hay kinh phí chi trảkhông kịp thời, quá trình thanh quyết toán chậm, thủ tục rườm rà
- Người lao động với Ban Chỉ đạo cấp xã: người lao động thắc mắc về việcduyệt hồ sơ đối tượng được hỗ trợ
- Người học với cơ sở dạy nghề: người học thắc mắc về nội dung chươngtrình dạy nghề chưa phù hợp
Chính vì những xung đột kể trên có thể làm cho việc tổ chức thực thi chínhsách đào tạo nghề cho lao động nông thôn không đạt được mục tiêu đề ra Do đó,chính quyền cấp huyện phải tiến hành đàm phán, giải quyết tốt để đảm bảo quyền
và lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan
(f) Xây dựng và vận hành hệ thống dịch vụ hỗ trợ:
Tổ chức hệ thống dịch vụ hỗ trợ là một khâu không thể thiếu trong quá trìnhchỉ đạo triển khai chính sách Hệ thống các dịch vụ hỗ trợ cho công tác đào tạo nghềcho lao động nông thôn, gồm: (1) dịch vụ hỗ trợ khảo sát và dự báo nhu cầu dạynghề cho lao động nông thôn; (2) dịch vụ hỗ trợ tư vấn học nghề; (3) dịch vụ hỗ trợtìm kiếm việc làm; (4) dịch vụ hỗ trợ xây dựng các trung tâm dạy nghề
1.2.3.3 Kiểm soát sự thực hiện chính sách
(a) Xây dựng hệ thống thông tin phản hồi và thu thập thông tin về sự thực hiện chính sách
Tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn là vấn đềphức tạp, nhạy cảm do đó cơ quan chính quyền cấp huyện cần có hệ thống thông tinphản hồi để nắm bắt việc thực thi chính sách cũng như các bất cập, vướng mắctrong quá trình triển khai chính sách Những thông tin này có thể thu thập qua việcđôn đốc, kiểm tra của Uỷ ban nhân dân huyện; qua báo cáo hàng năm, hàng quý,
Trang 28hàng tháng của trung tâm đạo tạo nghề và Phòng lao động, thương binh và xã hội;thông báo tổng hợp kiến nghị của nhân dân của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và cácđoàn thể vấp huyện Ngoài ra, nguồn thông tin phản hồi còn được thu thập quaphiếu thăm dò ý kiến của cơ quan chuyên môn, qua các phương tiện thông tin đạichúng, qua kiến nghị, khiếu nại – tố cáo của công dân tại UBND huyện.
(b) Giám sát và đánh giá sự thực hiện chính sách
- Giám sát việc tổ chức thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nôngthôn, gồm:
+ Giám sát tình hình phân bổ và sử sựng kinh phí thực hiện chính sách đàotạo nghề cho lao động nông thôn;
+ Giám sát việc thực hiện các kế hoạch triển khai chính sách đào tạo nghềcho lao động nông thôn;
+ Giám sát kết quả thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nôngthôn
- Đánh giá sự thực hiện chính sách: Bên cạnhviệc giám sát thường xuyên vàliên tục thì định kỳ hoặc kết thúc giai đoạn thực hiện chính sách, cần tiến hành đánhgiá sự thực hiện chính sách trên vì tiêu chí như tính hiệu lực, hiệu quả và bền vững.Trong đó quan trọng nhất là đánh giá tính hiệu lực và xam việc thực hiện chính sách
có đạt được các mục tiêu đã đề ra hay không?
(c) Điều chỉnh, hoàn thiện, đổi mới chính sách
Qua quá trình giám sát việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao độngnông thôn có thể phát hiện vấn đề từ các giai đoạn của chính sách hoặc từ quá trình
tổ chức thực thi, khi đó chính quyền cấp huyện sẽ tiến hành điều chỉnh chính sáchđào tạo nghề cho lao động nông thôn triển khai trên địa bàn huyện hoặc điều chỉnhviệc tổ chức thực thi chính sách một cách kịp thời và hợp lý
(d) Điều chỉnh tổ chức thực hiện chính sách
Quá trình tổ chức thực thi, khi đó chính quyền huyện đề nghị tỉnh điều chỉnhchính sách có thể là:
- Điều chỉnh mục tiêu, giải pháp, công cụ chính sách
- Điều chỉnh bộ máy triển khai chính sách
- Điều chỉnh các kế hoạch triển khai chính sách
Trang 29- Điều chỉnh văn bản hướng dẫn triển khai chính sách
- Điều chỉnh quản lý ngân sách
Việc điều chỉnh chính sách đào tạo nghề chỉ nên thực hiện khi cần thiết vàcần phổ biến phương án điều chỉnh tới các đối tượng thực hiện
Qua quá trình đánh giá việc thực hiện chính sách nếu phát sinh, nếu phát sinhnhững khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện hoặc phát hiện những sai lệchtrong quá trình tổ chức thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
có thể do một số nội dung của chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thônkhông còn phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương, chính quyền cấp huyện cóthể đề xuất với chính quyền cấp tỉnh để chính quyền cấp tỉnh kiến nghị, đề xuất vớiTrung ương xem xét và điều chỉnh phù hợp với thực tế của địa phương
Đây là bước cuối cùng của giai đoạn tổ chức thực thi chính sách nhằm hoànthiện hoặc đổi mới chính sách Việc đưa ra sáng kiến hoàn thiện hoặc đổi mới chínhsách chỉ thực hiện được khi làm tốt công tác tổng kết thực tiễn Cụ thể, việc tổng kếtthực tiễn phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Đánh giá trên tất cả các phương diện về kết quả đạt được của chính sách
- Đánh giá những hạn chế, tiêu cực khi áp dụng chính sách
- Đưa ra các kết luận sau chính sách một cách khách quan, toàn diện, cụ thể
- Đề xuất những thay đổi để chính sách có hiệu quả hơn trong tương lai
1.2.4 Các điều kiện để tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn của chính quyền cấp huyện thành công
Có thể nói, quá trình tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao độngnông thôn không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước, mà là trách nhiệm của các cấp,các ngành, các tổ chức, các gia đình bản thân người lao động và của toàn xã hội Dovậy, để thực thi thành công chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn, cần tậptrung một số điều kiện sau:
(a) Chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn phải được hoạch định sát với nhu cầu thực tế
Điều này có nghĩa là việc hoạch định chính sách phải xuất phát thu nhu cầuthực tế của địa phương, phải gắn với nhu cầu của người lao động và phải có sự vàocuộc của các cấp chính quyền Nếu hoạch định tốt chính sách sẽ tạo ra được một
Trang 30chính sách hợp lý để thực thi một cách hiệu quả Ngược lại, hoạch định chính sáchsai dẫn đến chính sách sai, gây khó khăn, tốn kém và xung đột giữa các bên có liênquan.
(b) Những quy định pháp lý của chính quyền Trung ươngliên quan đến tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề phải đến được với người dân
Tổ chức thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn của
chính quyền cấp huyện luôn bị ràng buột bởi những quy định của Trung ương vàcủa tỉnh Những quy định này dù rất cụ thể, rõ ràng nhưng đôi khi lại bị chồng chéogiữa các chính sách nên việc triển khai thực hiện ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến kết quảthực hiện Do đó, những quy định pháp lý của chính quyền tỉnh, Trung ương liênquan đến tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề phải đầy đủ, chặt chẽ, hợp lý, kịpthời và sát với điều kiện thực tế của địa phương Tạo ra một hành lang pháp lý đảmbảo cho việc thực thi chính sách đào tạo nghề được thực hiện thông suốt, tránhchồng chéo và hướng dẫn không rõ ràng, gây khó khăn trong quá trình thực thichính sách
(c) Sự ủng hộ của người dân
Bất cứ một chính sách nào để đạt được đến sự thành công và hiệu quả đềuphải được thực thi dưới sự ủng hộ và tin tưởng của người dân Để chính sách đếnđược với người dân và lan toả sâu rộng trong nhân dân, chính quyền cấp huyện cầnphải làm tốt:
- Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến, hướng dẫn chínhsách đầy đủ, kịp thời bằng nhiều hình thức phù hợp;
- Thực hiện cơ chế “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”;
- Coi trọng vấn đề giải quyết việc làm sau đào tạo cho người lao động nông thôn
(d) Sự quan tâm và hỗ trợ của chính quyền địa phương
Chính sách được ban hành là dựa trên nhu cầu và điều kiện phát sinh do
thực tế đòi hỏi Một chính sách chung của Nhà nước sẽ được áp dụng phổ biến đếntất cả các địa phương trên toàn quốc Tuy nhiên, việc triển khai và cụ thể hoá chínhsách đó sao cho phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương và đến được với ngườidân lại là vấn đề của chính quyến địa phương đó Vì vậy, để nhân dân được thụhưởng chính sách thì trước hết chính quyền huyện phải cụ thể hoá chính sách đó sao
Trang 31cho chính sách đó có thể tiếp cận và đến được với nhân dân; phải ưu tiên bố trí ngânsách (hoặc lồng ghép các nguồn lực) để thực thi chính sách; phải đầu tư và trang bị
cơ sở vật chất, trang thiết bị, học liệu, học cụ, giáo viên cho cơ sở dạy nghề nhưng quantrọng hơn hết là phải có sự “vào cuộc” của cấp chính quyền trong việc quyết tâm thựchiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn
(f) Năng lực của bộ máy chính quyền cấp huyện
Nâng cao tinh thần trách nhiệm trong thực thi công vụ đối với cán bộ, công
chức, viên chức; Xác định đào tạo nghề cho lao động nông thôn là vấn đề nan giải,không thể thực hiện một sớm một chiều mà đòi hỏi cần có một lộ trình cụ thể, hội tụnhiều yếu tố khách quan, chủ quan Mức độ chuyên nghiệp, tính chuyên sâu, kỹnăng hành chính và tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức trong việc thực thichính sách đòi hỏi phải minh bạch, rõ ràng; cần chọn mô hình mới, cách làm phùhợp theo đặc điểm của từng địa phương, có kế hoạch nhân rộng những mô hình hoạtđộng hiệu quả
Như vậy, từ những điều kiện nêu trên có thể nhận thấy quá trình thực thichính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn có liên quan đến nhiều cơ quan,nhiều chủ thể khác nhau Để tổ chức thực thi thành công chính sách đào tạo nghềcho lao động nông thôn của chính quyền cấp huyện cần có sự hỗ trợ từ tỉnh, phốihợp giữa các đơn vị, các chủ thể và phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả hệthống chính trị và đồng thuận, nhất trí của người dân nói chung, của lao động nôngthôn nói riêng thì mới đạt được các mục tiêu đề ra
1.3 Kinh nghiệm của một số địa phương trong tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn và bài học rút ra cho huyện Krông Ana
1.3.1 Kinh nghiệm của một số địa phương
1.3.1.1 Kinh nghiệm của huyện Cư M’gar
Huyện Cư M’gar có vị trí địa lý, chính trị quan trọng của tỉnh Đắk Lắk, phíaBắc giáp huyện Ea H’leo, phía Đông giáp huyện Krông Buk và thị xã Buôn Hồ,phía Tây giáp huyện Buôn Đôn và huyện Ea Súp, phía Nam giáp thành phố Buôn
Ma Thuột
Huyện Cư M’gar có 17 đơn vị hành chính (15 xã và 02 thị trấn); có 189 thôn,buôn, tổ dân phố (trong đó: 71 thôn, buôn đồng bào dân tộc tại chỗ), với tổng diện
Trang 32tích tự nhiên là 824,43 km2, dân số 178.636 người Đồng bào dân tộc thiểu số:85.484 người, chiếm 47,85% dân số toàn huyện, đồng bào dân tộc tại chỗ chiếm39,11% Tỷ lệ lao động qua đào tạo khoảng 35,23%, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạokhoảng 64,77% Là địa phương có tỷ lệ dân theo các tôn giáo khá lớn, với số lượng
là trên 50.000 người Theo số liệu thống kê, toàn huyện có 04 tôn giáo là: Cônggiáo, Tin Lành, Phật giáo, Cao đài
Trong 5 năm thực hiện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn, huyện
đã đào tạo 40 lớp nghề (trong đó có 01 lớp thu phí), số người tham gia học nghề là1.263 người, trong đó có 4 lớp dạy nghề cho người nghèo, với số người tham giahọc nghề là 103 người Các nghề đào tạo, gồm: Sửa chữa xe máy; tin học ứng dụng;sửa chữa máy nông nghiệp; dệt thổ cẩm; trồng chăm sóc cà phê; trồng chăm sóc cây
hồ tiêu; kỹ thuật chăn nuôi heo; may công nghiệp; trồng chăm sóc cây bông vải; xâydựng dân dụng; kỹ thuật nấu ăn
Sau 5 năm thực hiện đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Quyếtđịnh số 1956/QĐ-TTg trên địa bàn huyện bước đầu đã đạt được một số kết qủa đólà: Nhận thức của người dân đối với việc học nghề để lập nghiệp đã được quan tâm,
cụ thể là số lao động nông thôn đăng ký tham gia học nghề cao hơn hẳn so với cácnăm trước đó (năm 2008 mở 3 lớp có 104 người học, năm 2009 mở 5 lớp có 207người học, năm 2010 đến nay mở 40 lớp có 1.263 người học) Số nghề học đăng kýcũng rất đa dạng, phong phú nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của xã hội.Công tác tuyên truyền bước đầu được chú trọng quan tâm, nhiều hộ dân đã nắm bắtđược chủ trương của Đảng, Nhà nước về các chính sách đào tạo nghề cho lao độngnông thôn và đã đăng ký cho con em mình tham gia học nghề UBND các xã, thịtrấn đã quan tâm phối hợp tốt với các cơ quan chuyên môn của huyện trong việcxây dựng kế hoạch và triển khai các hoạt động dạy nghề trong thời gian qua, gópphần từng bước nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo tại địa bàn nông thôn, giảiquyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động
Để đạt được những thành tích trên là do có sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát củaUBND tỉnh, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh, Huyện ủy, HĐND huyện;
sự quan tâm chỉ đạo, triển khai thực hiện của UBND huyện và sự tham mưu, hướngdẫn, triển khai kịp thời của các cơ quan, ban, ngành của huyện và UBND các xã, thị
Trang 33trấn, đồng thời có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các ngành trong hệ thốngchính trị của huyện, bên cạnh đó là sự nỗ lực không ngừng trong công tác để hoànthành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Tổ chức tuyên truyền có hiệu qủa tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức đốivới lao động nông thôn để họ tự nguyện tham gia chọn nghề học phù hợp với điềukiện, hoàn cảnh và khả năng Những cơ quan, đơn vị có quản lý lực lượng lao động(UBND xã, thị trấn, các Trường THCS, PTTH) đều phải có trách nhiệm tham giatuyên truyền về ý nghĩa, quan điểm, mục tiêu và các chính sách qui định tại Quyếtđịnh 1956/QĐ-TTg để người lao động biết lựa chọn đăng ký tham gia học nghề
Cơ quan thường trực của Ban chỉ đạo thực hiện đề án đào tạo nghề cho laođộng nông thôn thường xuyên tham mưu cho UBND huyện kiện toàn lại Ban chỉđạo cấp huyện, phân công các thành viên (có thay đổi, bổ sung) phụ trách địa bàn.Ban chỉ đạo thực hiện Quyết định 1956/QĐ-TTg các xã, thị trấn tổ chức triển khaicác hoạt động tuyên truyền, thống kê lao động trong độ tuổi để quản lý, phối hợpvới Phòng lao động – TB&XH và Trung tâm Dạy nghề huyện tổ chức tư vấn chọnnghề cho lao động nông thôn
1.3.1.2 Kinh nghiệm của huyện Ea Kar
Huyện Ea Kar nằm ở phía đông của tỉnh Đắk Lắk, diện tích đất tự nhiên là103.747 ha; có 16 đơn vị hành chính, gồm 14 xã và 02 thị trấn, dân số hiện nay154.012 người, gồm 18 dân tộc cùng sinh sống; lực lượng lao động từ 15 tuổi trởlên trên 97.000 người, tỷ lệ lao động qua đào tạo 35% Trên cơ sở kết quả điều tranhu cầu học nghề của lao động nông thôn, tình hình cơ sở vật chất của Trung tâmdạy nghề, điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương mà hàng năm Ủy ban Nhân dânhuyện ban hành kế hoạch đào tạo nghề cho lao động nông thôn; Thành lập Ban chỉđạo và phân công nhiệm vụ từng thành viên; Tổ chức tuyên truyền, vận động đểnhân dân biết được tầm quan trọng của Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn,biết được quyền lợi khi tham gia học nghề; Bình quân hàng năm đào tạo nghề chokhoảng 300-400 lao động nông thôn Giải quyết việc làm cho lao động sau học nghềđạt trên 70% Cụ thể:
Năm 2014, đào tạo nghề cho lao động nông thôn dưới 03 tháng và sơ cấpnghề khoảng 1.045 người, trong đó nghề nông nghiệp 800 người, phi nông nghiệp
Trang 34245 người; đối tượng I có 460 người, các đối tượng còn lại 585 người, kinh phíhuyện bố trí 200 triệu đồng.
- Tổng số lao động nông thôn được học nghề tại Trung tâm dạy nghề huyện
có 273 người, trong đó nghề nông nghiệp có 133 người học, phi nông nghiệp có 140người học, so với năm 2013 có 260 người học thì năm 2014 lao động nông thôntham gia học hơn 13 người, tăng thêm 5%;
- Số lao động nông thôn có việc làm sau học nghề nông nghiệp đạt trên 70%,
nghề phi nông nghiệp đạt 40%.
- Đã mở 38 lớp được tổ chức tại thôn, buôn và tại Trung tâm dạy nghề với1.108 người lao động tham gia học, trong đó nghề đào tạo nông nghiệp có 655người học chiếm 59,1%, nghề phi nông nghiệp có 453 người học chiếm 40,9%
- Số giáo viên được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy nghề trong 5năm 2010- 2014 có 4 người
- Số người tham gia dạy nghề được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạmdạy nghề trong 5 năm 2010- 2014 có 18 người
- Số giáo viên, người dạy nghề tham gia dạy nghề cho lao động nông thôn là
22 người đã thực hiện tốt công tác truyền đạt kiến thức cho người lao động trên địabàn huyện trong thời gian qua, đã góp phần nâng cao kỹ năng kiến thức trong côngviệc tự tạo việc làm chăn nuôi, trồng trọt và kiếm việc làm tại các cơ sở, doanhnghiệp
Kinh phí đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề giai đoạn 2010-2014 là2.454.730.000đ (100% kinh phí TW) Nhờ nguồn vốn đầu tư của Nhà nước mà cơ
sở vật chất của các trung tâm dạy nghề tổng hợp được xây dựng, sửa chữa khangtrang hơn, to đẹp hơn, mua sắm được nhiều trang thiết bị quan trọng phục vụ nhiệm
vụ đào tạo nghề
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động đào tạo nghề ởhuyện Ea Kar trong những năm qua vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập Đó là sựthiếu quan tâm trong công tác điều tra, đánh giá thực trạng tình hình lao động ở cấp
xã, ngành nên chưa xây dựng được quy hoạch, kế hoạch cũng như nhu cầu sử dụnglao động có nghề và chưa định hướng được nghề cần phát triển tại huyện nên chưagắn kết được công tác đào tạo nghề với phát triển kinh tế - xã hội Số người lao
Trang 35động là người đồng bào dân tộc thiểu số còn thụ động, chưa tham gia học nghề đểnâng cao kiến thức, trình độ, tay nghề qua đó tìm kiếm việc làm cũng như áp dụngvào sản xuất, chăn nuôi tại nhà Chất lượng dạy nghề cho lao động nông thôn một
số nghề còn chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động nên một bộ phậnhọc viên sau khi học nghề xong nhưng không tìm được việc làm Người lao độngchưa nhận thức được việc đào tạo nghề là một nhu cầu, một yếu tố cần thiết để đảmbảo cuộc sống cho bản thân, cho gia đình nên chưa quan tâm đến việc học nghề.Đội ngũ giáo viên dạy nghề cho lao động nông thôn còn thiếu về số lượng, cơ cấungành nghề đào tạo chưa phù hợp Vì lẽ đó, đổi mới công tác đào tạo nghề theohướng nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo và tạo điều kiện thuận lợi để bà contham gia học nghề phù hợp với trình độ học vấn, điều kiện kinh tế và nhu cầu họcnghề để giải quyết việc làm, tăng thu nhập, thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấukinh tế, cơ cấu lao động, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nôngnghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới là vấn đề cấp bách hiện nay
1.3.2 Bài học cho huyện Krông Ana
Qua kinh nghiệm của 02 huyện cùng thực thi chính sách đào tạo nghề cholao động nông thôn, trong thời gian tới, để tổ chức thực thi chính sách đào tạo nghềcho lao động nông thôn, huyện Krông Ana cần chú trọng một số vấn đề sau:
- Xây dựng bộ máy thực thi chính sách cần phân công, bố trí những cán bộphụ trách lĩnh vực đào tạo nghề cho lao động nông thôn vào trong bộ máy thựchiện Tránh trường hợp cán bộ làm thực tế thì không phân công, cán bộ không làmthì phân công, bố trí
- Làm tốt công tác lập kế hoạch triển khai chính sách, việc lập kế hoạch phảibám sát nhu cầu và điều kiện thực tế tại địa phương
- Kịp thời ban hành những văn bản chỉ đạo và hướng dẫn cụ thể công tác đàotạo nghề cho lao động nông thôn
- Thường xuyên tổ chức tập huấn và bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý vàdạy nghề cho đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên Tập huấn về nội dung của cácchính sách, các mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, nguồn kinh phí, chế độ báocáo v.v
Trang 36- Làm tốt công tác tuyên truyền để người dân hiểu rõ tầm quan trọng của việchọc nghề, để từ đó có ý thức chủ động, tự giác trong việc tham gia học nghề, chấpnhận chính sách và ủng hộ chính sách;
- Công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn gắn kết cụ thể với tiêu chícủa chương trình xây dựng nông thôn mới, chương trình tái cơ cấu ngành;
- Đảm bảo kịp thời phân bổ kinh phí cho việc thực hiện công tác đào tạonghề cho lao động thôn thôn tại địa phương;
- Tăng cường công tác phối kết hợp giữa các bên có liên quan nhằm nâng caohiệu lực, hiểu quả về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn;
- Kịp thời tháo gỡ và giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trìnhtriển khai thực hiện chính sách trên địa bàn;
- Các cơ sở dạy nghề cần đặc biệt quan tâm trong việc nâng cao chất lượngdạy nghề, thắt chặt công tác tuyển sinh nhằm xác định đúng đối tượng có nhu cầuhọc nghề, có điều kiện để phát triển nghề sau khi học Có như vậy hiệu quả dạynghề mới được đảm bảo;
-Cần có giải pháp gắn các doanh nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp, trang trại,
… với cơ sở dạy nghề tốt hơn nữa để giải quyết việc làm cho học viên sau học nghề;
- Để việc dạy nghề đạt hiệu quả cao cần tăng cường công tác kiểm tra, giámsát của các ngành chuyên môn, cấp huyện, xã trong quá trình thực hiện đào tạonghề; các đơn vị dạy nghề cũng nâng cao công tác kiểm tra, giám sát, không đượckhoán trắng việc quản lý lớp cho giáo viên;
- Ở địa phương nào có sự quan tâm hay “vào cuộc” của Cấp ủy, chính quyềnthì huy động được sự tham gia của cả hệ thống chính trị, các cơ quan được phâncông trách nhiệm cụ thể và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức, đoàn thể, các
cơ sở dạy nghề trong việc triển khai thực hiện thì địa phương đó các chính sách hoạtđộng được triển khai nhanh, hiệu quả.
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC THI
CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN CỦA CHÍNH QUYỀN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK
Trang 372.1 Lao động nông thôn tại huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Krông Ana
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Huyện Krông Ana có diện tích tự nhiên 35.609 ha Dân số năm 2011 là17.085 hộ, 85.281 khẩu Trong đó: Đồng bào dân tộc có 3.643 hộ, 18.206 khẩu.Toàn huyện có 14 xã, 01 thị trấn với 73 thôn buôn, tổ dân phố, có 07 buôn đặc biệtkhó khăn Huyện Krông Ana nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Đắk Lắk, cách thànhphố Buôn Ma Thuột khoảng 35 km theo hướng Tỉnh lộ 2 Phía Bắp giáp với thànhphố Buôn Ma Thuột, phía Đông giáp với huyện Cư Kuin, Krông Bông và Lắk, phíaTây giáp với tỉnh Đắk Nông, phía Nam giáp với huyện Lắk Địa hình bằng phẳngxem kẽ một số đồi núi thấp ở phía Đông Nam, độ cao trung bình 500m so với mặtnước biển Sông chính chảy qua là sông Krông Ana Thổ nhưỡng chủ yếu là cácnhóm đất: phù xa, xám, đất đỏ và đất nâu thẫm Khí hậu chịu ảnh hưởng chung củachế độ khí hậu nhiệt đới ẩm, mỗi năm có hai mùa rõ rệt (mùa khô từ tháng 1 đếntháng 4, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 12), mùa mưa tập trung trên 94% lượngmưa hàng năm, lượng mưa cao nhất 2.200mm, thấp nhất 1.389mm Mạng lướisông súi phân bố đều khắp, hầu hết thuộc chi lưu và đều gom nước về sông KrôngAna và sông Krông Nô Diện tích đất lâm nghiệp toàn huyện có 5.840ha đất rừng,trong đó diện tích đất rừng tự nhiên sản xuất trên 3.500 ha, diện tích rừng tự nhiênphòng hộ 436ha, diện tích rừng tự nhiên đặc dụng 1.770ha rên địa bàn có nhiềuphong cảnh đẹp, nhiều loài động, thực vật, cảnh quan núi rừng tự nhiên, phong phú
Trang 38các vùng đồi núi, với địa hình lượn sóng chia cắt nhẹ Phần lớn diện tích đất tựnhiên đều phục vụ cho việc phát triển nông nghiệp, đặc biệt là lúa, cây công nghiệplâu năm,… (chiếm 66,81% diện tích đất tự nhiên); kèm theo đó là lực lượng laođộng đông đảo trong ngành nông nghiệp và lâm nghiệp (chiếm 86,01% tổng laođộng trong tất cả các ngành, nghề).
- Về dân số: Dân số trên địa bàn huyện tập trung nhiều nhất là ở thị trấnBuôn Trấp với 25.263 người, mật độ dân số ở đây cũng cao nhất so với các vùngkhác trong tỉnh (829 người/km2) Dân cư trên địa bàn phân bố rất rải rác khắp 15đơn vị hành chính với 166 đơn vị thôn, buôn, tổ dân phố Đồng bào dân tộc ít người
có 9.048 hộ, với 48.903 nhân khẩu, chiếm 24,8% dân số toàn huyện, trong đó dântộc Ê - đê có 6.610 hộ với 38.734 người Do vị trí địa lý, địa hình đất đai và các điềukiện khác thuận lợi làm cho dân số tăng mạnh, trong đó phải tính đến một lượngđáng kể số dân di cư tự do; gây ra những áp lực rất lớn về vấn đề giải quyết việclàm đối với chính quyền địa phương
Công tác định canh định cư, kinh tế mới và ổn định dân di cư tự do luôn luônđược các cấp chính quyền quan tâm chỉ đạo và thực hiện cùng với công tác xóa đógiảm nghèo Qua chương trình định canh định cư, huyện đã triển khai nhiều biệnpháp nhằm ổn định đời sống, hỗ trợ sản xuất bằng các dự án xây dựng cơ sở hạtầng, các công trình thủy lợi, khai hoang đồng ruộng, cho vay vốn sản xuất chănnuôi và lồng ghép với các chương trình khác Công tác định canh định cư đã làmgiảm được tình trạng du canh phát nương rẫy, phá rừng và đã góp phần thay đổi tậpquán sản xuất trong đồng bào dân tộc, xây dựng được một số mô hình sản xuất hànghóa, chuyển dịch cơ cấu cây trồng Đời sống của đồng bào dân tộc ít người đã đượccải thiện, giảm số hộ đói nghèo, nhưng số hộ nghèo người dân tộc thiểu số hiện còncao (4.949 hộ, chiếm 54,7% số hộ và 26.535 khẩu, chiếm 54,26% số khẩu - Theotiêu chí mới) 70 % dân số của huyện thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp, có trên30.000 lao động trong độ tuổi Hộ nghèo giảm bình quân trên 3% năm Cuối năm
2012 tỉ lệ hộ nghèo còn 12,8% với 2.401 hộ Lao động có việc làm mới hàng nămbình quân 2.000 - 2.500 người Tỉ lệ lao động nông thôn qua đào tạo đạt khoảng 20-25%
Trang 39- Về kinh tế: Kết quả thu ngân sách năm 2014, thu cân đối ngân sách được39.330 triệu đồng, đạt 76,67% dự toán cả năm tỉnh giao, đạt 60,79% dự toán cả nămcủa huyện, so năm 2013 bằng 87,44%, trong đó: thu thuế và phí 22.730 triệu đồng,đạt 51,65% dự toán tỉnh giao, đạt 46,96% dự toán của huyện, so với năm 2013 bằng73,83%; thu biện pháp tài chính 16.600 triệu đồng, đạt 227,39% dự toán tỉnh giao,đạt 101,84% dự toán của huyện Năm 2014, giá trị sản xuất công nghiệp theo giáhiện hành đạt 269.987 triệu đồng, theo giá cố định (giá so sánh năm 1994) đạt102.411 triệu đồng, so với năm 2013 bằng 98%.
- Về cơ sở hạ tầng - kỹ thuật: Tính đến năm 2014, tỷ lệ nhựa hóa và bê tông
đường huyện đạt 74,75% (KH là 80,52); Tỷ lệ nhựa hóa và cứng hóa đường xã đạt 30,72% (KH là 40,91%); Tỷ lệ nhựa hóa và cứng hóa đường thôn, buôn đạt 9,19% (KH là 14,2%).
- Về văn hoá – xã hội: Năm 2014: Tổng số hộ điều tra là 19.063 hộ; số hộnghèo đến cuối năm 2014 là 1.539 hộ, chiếm 8,07% tổng số hộ dân, giảm 1,9% sovới cuối năm 2013; số hộ cận nghèo cuối năm 2014 là 2.378 hộ, chiếm 12,48% tổng
số hộ dân, tăng 0,32% so với cuối năm 2013 Duy trì 100% số xã, thị trấn đạt chuẩnphổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cậpgiáo dục trung học cơ sở; tỷ lệ thôn, buôn có lớp mẫu giáo đạt 95% Giảm tỷ lệ suydinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi còn 17,5% (giảm 0,5%) Giảm tỷ suất sinh còn14,17‰ (giảm 0,5‰) Tỷ lệ sinh con thứ 3 giảm còn 12,69% (giảm 0,7%) Tốc độtăng dân số tự nhiên là 1,14% (giảm 0,02% so với cuối năm 2013) Giảm tỷ lệ hộnghèo 3% so với chuẩn nghèo mới (còn 6,97%) Tạo việc làm mới cho trên 3.000lao động, đào tạo nghề miễn phí ngắn hạn cho 360 lao động nông thôn
- Các ngành kinh tế chủ yếu
+ Ngành nông nghiệp: Đất nông nghiệp chiếm 66,81% diện tích tự nhiêntoàn huyện, còn đất lâm nghiệp chiếm 11,8%; trong đó, đất sản xuất nông nghiệpchiếm 84,75% diện tích đất nông nghiệp Lao động trong ngành nông - lâm nghiệpchiếm 86,01% tổng số lao động trên địa bàn, do đó, thu nhập từ ngành sản xuấtnông - lâm nghiệp có vai trò quyết định đến tăng trưởng kinh tế và chiếm tỷ trọngcao trong cơ cấu kinh tế của huyện (69,71%)
Trang 40+ Ngành lâm nghiệp: Diện tích rừng hiện có là 7.671 ha, chiếm 11,56% diệntích tự nhiên Những năm qua, diện tích rừng đã bị giảm mạnh, nguyên nhân chính
là do dân di cư tự do chặt phá rừng làm rẫy Vì vậy, quản lý, bảo vệ rừng trên địabàn góp phần gìn giữ môi trường sinh thái đang là vấn đề cấp thiết trong tình hìnhhiện nay, rất cần sự quan tâm của các ngành các cấp
+ Ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp: ngành công nghiệp và tiểu thủcông nghiệp có nhiều lợi thế hơn hẳn một số huyện khác cả về điều kiện tự nhiên,nguồn lực, nguyên liệu phục vụ cho phát triển công nghiệp chế biến, nhưng ngànhcông nghiệp vẫn có tỷ trọng thấp trong cơ cấu kinh tế (chỉ chiếm 13,4%)
+ Giao thông: mạng lưới giao thông được đầu tư, xây dựng, quy hoạch cótrọng tâm, trọng điểm, nhất là các công trình đường giao thông nông thôn, 100%các tuyến đường từ trung tâm huyện đến các xã đã được bê tông và nhựa hoá một sốtuyến
Huyện Krông Ana không những có lợi thế tiếp giáp với thành phố Buôn MaThuột - trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của tỉnh mà còn có phong cảnh núirừng hùng vĩ, thiên nhiên tươi đẹp với 32 dân tộc cùng sinh sống, do đó có nhiềunét văn hóa đặc thù nên có khả năng thu hút khách du lịch từ Buôn Ma Thuột và cácđịa phương khác tới, tạo ưu thế cho việc phát triển ngành thương mại - dịch vụ,chuyển dịch nền kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp, giảm
tỷ trọng ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế của huyện Nhưng những năm qua,huyện Krông Ana chưa khai thác tốt tiềm năng này, tỷ trọng ngành thương mại dịch
vụ chỉ chiếm 18% trong cơ cấu kinh tế của huyện
2.1.2 Thực trạng lao động nông thôn của huyện Krông Ana năm 2010 (trước thời điểm triển khai chính sách)
Năm 2010, số lao động nông thôn trong độ tuổi lao động trên địa bàn huyệnKrông Ana trên 42.000 người Trong đó: lao động nông thôn làm nông nghiệp:23.520 người (50%); Lao động nông thôn phi nông nghiệp ở nông thôn, đô thị:10.080 người (30%) Xuất khẩu lao động hàng năm đạt rất thấp: Bình quân 10-20người/ năm, chủ yếu do tự phát sang Nga, Hàn Quốc,…
Chất lượng lao động nông thôn chưa qua đào tạo chiếm tỷ lệ khá cao và làvấn đề nan giải cho chính quyền huyện trong việc giải quyết việc làm Không