1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BA THÁCH THỨC đối với PHÁT TRIỂN bền VỮNG ĐỒNG BẰNG SÔNG cửu LONG KIẾN NGHỊ CHIẾN lược ỨNG PHÓ và PHÁT TRIỂN

66 103 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 2,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với Công nghiệp Vì, i Ô nhiễm nguồn nước mặt dẫn đến khai thác nước ngầm quá mức làm đồng bằng chìm xuống nhanh hơn, ii Muốn tăng giá trị nông nghiệp, cần công nghiệp chế biến hỗ tr

Trang 1

BA THÁCH THỨC ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG - KIẾN NGHỊ CHIẾN LƯỢC ỨNG PHÓ VÀ PHÁT TRIỂN

Nguyễn Hữu Thiện Chuyên gia độc lập về sinh thái ĐBSCL

TÓM TẮT 6 KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP VÌ SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

1 Giới thiệu:

ĐBSCL hiện đối diện với 3 thách thức chính, gồm:

 Biến đổi khí hậu Sự thay đổi về nhiệt độ, mưa, gió, bão, nước biển dâng, và

những hiện tượng cực đoan như El Nino gây hạn mặn mùa khô năm 2016

 Những vấn đề phát triển chưa bền vững ở ĐBSCL, trong đó gồm (i) Sụt lún

với tốc độ trung bình 18cm trong 25 năm qua (1991-2116) do sử dụng nước ngầm quá mức, do khai thác nước ngầm ven biển và do ô nhiễm nước mặt sông rạch ở vùng nội địa, (ii) Sạt lở diễn ra trong 25 năm gần đây từ sau 1992, càng về sau càng dữ dội Hiện nay hơn một nửa chiều dài bờ biển ĐBSCL đang sạt lở Tổng sạt lở bờ sông, bờ biển đến 891km Nguyên nhân chính là thiếu phù sa mịn và thiếu cát, (iii) Ô nhiễm nước và không khí do (a) canh tác thâm canh ba vụ lúa liên tục, dinh dưỡng đất cạn kiệt, sử dụng nhiều phân bón, nông dược; (b) công nghiệp gây ô nhiễm như nhiệt điện than, (c) thủy sản thâm canh, (d) nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý

Tác động của thủy điện Mekong Hiện nay lượng phù sa mịn đã giảm 50% từ

160 triệu tấn còn 83 triệu tấn Dự báo sau khi 11 đập ở Hạ lưu vực hoàn thành, phù sa

mịn sẽ giảm 50% một lần nữa và 100% cát, sỏi sẽ bị chặn lại

2 Những đặc điểm cần lưu ý của ĐBSCL

Giải pháp cho ĐBSCL cần dựa vào đặc điểm và quy luật tự nhiên của ĐBSCL Những đặc điểm chính cần lưu ý ở ĐBSCL gồm:

1 ĐBSCL do quá trình bồi đắp phù sa, cát, sỏi của sông Mekong tạo nên, là một phần của lưu vực Mekong, tiếp giáp với biển, chịu ảnh hưởng từ thượng nguồn, từ biển, và từ khí hậu toàn cầu Giải pháp cho ĐBSCL phải được đặt trong tổng thể, có thượng nguồn, có biển

2 ĐBSCL được thiên nhiên ban tặng hệ điều hòa nước tự nhiên gồm 3 túi nước, hồ Tonle Sap ở Campuchia, vùng Đồng Tháp Mười và vùng Tứ Giác Long Xuyên hàng năm nhận nước lũ vào, tạm trữ làm giảm ngập cho hạ lưu và cân bằng mặn-ngọt vùng ven biển vào mùa khô

3 ĐBSCL là hệ thống mở, ăn thông ra biển bằng hàng chục, hàng trăm cửa sông rạch lớn nhỏ, chịu ảnh hưởng của thủy triều Biển Đông và Biển Tây tạo nên chế

độ nước độc đáo, có nước ròng, nước lớn mỗi ngày, nước rong nước kém hàng tháng theo tháng âm lịch Chế độ thủy văn này tạo nên lối sống, văn hóa, sinh thái, sinh kế của người dân Sinh thái biển phụ thuộc vào sự trao đổi với đất liền qua hệ thống sông ngòi

4 Phù sa, cát sỏi rất quan trọng đối với nông nghiệp, bồi đắp và duy trì bờ sông, bờ biển ĐBSCL Khi thiếu phù sa, cát sỏi đất đai sẽ bạc màu và sạt lở sẽ gia tăng

dữ dội

Trang 2

5 Vùng nước ven biển là một hợp phần quan trọng của nền kinh tế và hệ sinh thái tổng thể của ĐBSCL Lượng phù sa mang ra ven biển giúp bồi đắp, duy trì bờ biển Phù sa mang theo dinh dưỡng, quyết định năng suất thủy sản Sự trao đổi, liên thông giữa biển với bờ và nội địa thông qua hệ thống sông ngòi là rất quan trọng Khi cắt đứt sự trao đổi, sinh thái biển sẽ suy thoái

3 Kiến nghị giải pháp

#1 Đối với Biến đổi khí hậu

Vì (i) các dự báo vẫn và sẽ luôn luôn có nhiều điều chưa chắc chắn, (ii) vì điều kiện tự nhiên ĐBSCL có những quy luật đặc thù, và (iii) hành động thích ứng có thể đúng nhưng cũng có thể sai Hành động thích ứng sai rất tốn kém, tác động ngược; chúng tôi kiến nghị:

 Áp dụng nguyên tắc “không hối tiếc”, ưu tiên thực hiện trước những hành động ít rủi ro sai lầm khó sửa chữa được

 Cần tôn trọng quy luật tự nhiên và tránh can thiệp thô bạo vào tự nhiên

 Cụ thể, không nên thực hiện những công trình lớn, can thiệp dòng chảy Làm mất ảnh hưởng thủy triều thì sẽ không còn đặc điểm ĐBSCL nữa

#2 Đối với Nông nghiệp:

Vì (i) canh tác thâm canh ba vụ liên tục trong đê bao khép kín làm cạn kiệt đất đai, ảnh hưởng nghiêm trọng an ninh lương thực về sau (ii) Đê bao khép kín làm gia tăng ngập lụt nơi khác vào mùa lũ, gia tăng hạn mặn ven biển vào mùa khô, (iii) Canh tác ba vụ lúa tính đúng tính đủ chi phí không làm cho người dân thoát nghèo, không giúp quốc gia giàu lên, và (iv) Canh tác thâm canh sử dụng nhiều phân bón, nông dược gây ô nhiễm nguồn nước mặt, tăng sử dụng nước ngầm, gây sụt lún đất nhanh hơn, chúng tôi kiến nghị:

 Đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp

 Chuyển hướng dần sanh canh tác bền vững, chú trọng chất lượng hơn số lượng

 Tạo việc làm và thu nhập cho người dân theo hướng đầu tư vào chuỗi giá trị sản phẩm hơn là số lượng

#3 Đối với Công nghiệp

Vì, (i) Ô nhiễm nguồn nước mặt dẫn đến khai thác nước ngầm quá mức làm đồng bằng chìm xuống nhanh hơn, (ii) Muốn tăng giá trị nông nghiệp, cần công nghiệp chế biến hỗ trợ; chúng tôi kiến nghị:

 Cần ưu tiên phát triển công nghiệp hỗ trợ cho nền kinh tế nông nghiệp

 Tránh công nghiệp ô nhiễm nước và không khí và nguồn nước

#4 Đối với sụt lún

Vì, (i) Sụt lún nhanh gấp nhiều lần nước biển dâng, (ii) Sụt lún chủ yếu do khai thác nước ngầm, (iii) Con đường duy nhất để giảm sụt lún là giảm khai thác nước ngầm; kiến nghị:

 Sụt lún phải được xem là vấn đề cấp bách

Trang 3

 Vùng ven biển, áp dụng công nghệ lọc nước biển để cấp nước sinh hoạt (Nano, RO)

 Chuyển đổi canh tác sang hệ thống canh tác mặn, lợ bền vững ít phụ thuộc nước ngọt

 Vùng nội địa, giảm canh tác thâm canh để giảm ô nhiễm

 Chuyển hướng sang công nghiệp sạch, quản lý môi trường để giảm ô nhiễm

#5 Đối với sạt lở

Vì, khi thiếu phù sa, thiếu cát, sạt lở sẽ diễn ra trầm trọng hơn, khó cưỡng lại cho đến khi dòng sông tìm được điểm cân bằng mới; chúng tôi kiến nghị:

 Quản lý khai thác cát, tránh khai thác tràn lan, quá mức

 Lập bản đồ rủi ro sạt lở bờ sông để chủ động di dời người dân, tránh thiệt hại

 Tránh những công trình lớn, can thiệp sai quy luật, đắt đỏ và kém hiệu quả

#6 Tiếp cận tổng thể ĐBSCL

Vì, (i) Hệ tự nhiên ĐBSCL vận hành theo quy luật tự nhiên, nằm trong tổng thể nhất quán, (ii) Hành động của một địa phương có thể ảnh hưởng địa phương khác, (iii) Hành động của một ngành đơn lẻ có thể ảnh hưởng đến ngành khác, (iv) Hành động ngày hôm nay có thể ảnh hưởng đến dài hạn; chúng tôi kiến nghị:

 Tiếp cận tổng thể ĐBSCL về không gian ĐBSCL

 Đẩy mạnh thực hiện liên kết vùng theo Quyết định 593 của Chính phủ

 Cần tính đến vùng nước biển ven bờ, có liên hệ chặc chẽ về sinh thái với ĐBSCL và là một phần quan trọng của nền kinh tế ĐBSCL

 Tránh cách làm cục bộ theo địa phương

 Tránh cách làm theo kiểu “uống thuốc giảm đau”, thấy đâu trị đó, ngắn hạn

mà cần phục hồi sức khỏe của hệ thống kinh tế, xã hội, môi trường

TÓM TẮT

ĐBSCL có vị trí quan trọng trong nền kinh tế cả nước Hiện nay ĐBSCL đang đối mặt với 3 thách thức lớn gồm Biến đổi khí hậu, Các vấn đề nội tại về phát triển thiếu bền vững, và Tác động của thủy điện Mê Công, trong đó tác động của thủy điện

Mê Công là tác động nghiêm trọng nhất

Tìm giải pháp thích ứng phù hợp cho ĐBSCL là rất quan trọng vì hành động thích ứng tốt sẽ dẫn đến hiệu quả và tác động tích cực nhưng ngược lại hành động sai

sẽ gây lãng phí nguồn lực, tác động ngược, gây hối tiếc đắt giá Hành động thích ứng cần phải dựa vào sự hiểu biết và tôn trọng quy luật tự nhiên ở ĐBSCL đặt trong bối cảnh tổng thể Hành động thích ứng cần có nguyên tắc, xem xét đầy đủ chi phí và lợi ích cả ba mặt kinh tế, xã hội, và môi trường, ở tại chỗ và trên toàn đồng bằng, trong ngắn hạn, trung hạn, và dài hạn

Bài này phân tích 3 thách thức nêu trên của ĐBSCL trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nước biển dâng, và những biến động của lưu vực Mekong và đề xuất những định

Trang 4

hướng chiến lược cho sự phát triển ĐBSCL, trong đó Nguyên tắc cẩn trọng nên được xem là nguyên tắc chủ đạo, xuyên suốt

Bài này gồm 5 phần: Phần 1 Tổng quan về ĐBSCL và quy luật của các hệ thống tự nhiên; Phần 2 Sự phát triển thiếu bền vững ở ĐBSCL; Phần 3 Biến đổi khí hậu, nước biển dâng, El Nino, La Nina; Phần 4 Tác động của thủy điện Mekong, và Phần 5 Kiến nghị chiến lược ứng phó và phát triển

PHẦN 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ QUY

ĐBSCL có vai trò quan trọng trong nền kinh tế và an ninh lương thực quốc gia Với diện tích khoảng 4 triệu hectares, chiếm 12% diện tích cả nước, ở cao trình trung bình khoảng 1.5 mét trên mực nước biển, dân số 18 triệu người, ĐBSCL sản xuất 50% sản lượng lương thực, đóng góp 20% GDP, 65% sản lượng trái cây, và 75% sản lượng thủy sản của cả nước

ĐBSCL là một phần nằm ở phía cuối, tiếp giáp biển của lưu vực Mekong do đó chịu tác động các biến đổi tại chỗ, từ phía thượng nguồn lưu vực Mekong và từ phía biển Dòng chảy trung bình của sông Mê Công là 475 tỉ m3/năm, trong đó phần Thượng lưu vực ở Trung Quốc đóng góp chỉ 16%, Myanmar 2%, còn lại 82% là từ phần Hạ lưu vực ở Lào, Campuchia, và Việt Nam Lượng mưa tại chỗ ĐBSCL chiếm 11%

ĐBSCL là một đồng bằng châu thổ trẻ, được hình thành trong quá trình bồi đắp phù sa của Sông Mê Công trong khoảng 6,000 năm trở lại đây2, thuật ngữ gọi là “quá

trìnhkiến tạo đồng bằng” (delta building process) Sông Mê Công hằng năm tải một

lượng trung bình phù sa mịn, lơ lửng trong nước là 160 triệu tấn, và lượng cát sỏi di chuyển ở đáy sông khoảng 30 triệu tấn năm3 Như vậy, sự xuất hiện và tồn tại của ĐBSCL phụ thuộc vào các tiến trình của dòng Sông Mê Công tạo nên, tương tác với các quá trình biển Do đó khi xem xét vấn đề của ĐBSCL không thể cô lập, tách rời khỏi bối cảnh lưu vực Mê Công và biển

Phù sa mịn và dinh dưỡng bám vào phù sa là nguồn dinh dưỡng tự nhiên cho đất, hệ sinh thái thủy sinh nước ngọt và năng suất thủy sản vùng ven biển (Mekong Plume) Phù sa mịn có vai trò bồi đắp, ổn định bờ sông, bờ biển, và cân bằng động lực dòng chảy Khi lượng phù sa trong dòng chảy bị giảm sẽ tạo ra hiện tượng “nước đói” (hungry water)4 không bồi đắp được và gây sạt lở Cát và sỏi di chuyển ở đáy sông có vai trò bồi đắp, ổn định bờ sông, bờ biển

Bờ biển của ĐBSCL có thể chia làm 3 đoạn chính Đoạn bờ biển cửa sông khoảng 250 km từ Tiền Giang qua Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng là bờ biển nhiều cát

1 Thuật ngữ “hệ thống tự nhiên” (natural system) sử dụng trong bài này khác với thuật ngữ “hệ sinh thái” (ecosystem) Hệ thống tự nhiên ở đây dùng để chỉ các hệ thống như sông ngòi, dòng chảy, quá trình vận chuyển phù sa, cát sỏi, hạn hán, lũ, thủy triều, đất đai, rừng v.v hình thành nên điều kiện tự nhiên của vùng này

2 Zuo Xuea, J Paul Liu, Dave DeMaster, Lap Van Nguyen, Thi Kim Oanh Ta (2009) Late Holocene Evolution

of the Mekong Subaqueous Delta, Southern Vietnam Marine Geology 269 (2010) 46–60

3Jean-Paul Bravard, Marc Goichot and Stéphane Gaillot (2013).Geography of Sand and Gravel Mining in

the Lower Mekong River EchoGéo 26 (2013)

4 Kondolf, G (1997) PROFILE: Hungry Water: Effects of Dams and Gravel Mining on River Channels Environmental Management (1997) 21: 533.

Trang 5

Đoạn bờ Biển Đông từ Sóc Trăng qua Bạc Liêu tới Mũi Cà Mau và đoạn bờ Biển Tây

từ Mũi Cà Mau tới biên giới Campuchia là bờ biển bùn5 Về quy luật, khi thiếu cát, sỏi

do Mê Công vận chuyển ra bờ biển, đoạn bờ biển cửa sông Cửu Long sẽ giảm bồi đắp

và tăng sạt lở và khi thiếu phù sa mịn, đoạn bờ Biển Đông còn lại và bờ Biển Tây sẽ giảm bồi đắp và tăng sạt lở

Về kinh tế, ĐBSCL có hai trụ cột kinh tế chính là nông nghiệp và thủy sản, gồm thủy sản nuôi và thủy sản tự nhiên, nước ngọt, nước lợ, và nước mặn Tất cả những hợp phần kinh tế khác ở ĐBSCL như công nghiệp, xây dựng, và dịch vụ đều từ 2 trụ cột kinh tế này xây lên Hai trụ cột kinh tế chính này lại dựa vào nền tảng chính là đất

và nước Đất và nước của ĐBSCL phụ thuộc vào dòng chảy và quá trình vận chuyển phù sa sông Mê Công, nước mưa, và sự tương tác với biển, thủy triều Khi xét về nước cần xét 3 khía cạnh là số lượng, chất lượng, và thời gian Khi xét về đất cần xem xét số lượng và chất lượng, tức độ màu mỡ và sức khỏe của đất

Trong quá khứ, ở ĐBSCL người dân ĐBSCL không có từ “mùa lũ” mà chỉ có

từ “mùa nước nổi” để chỉ mùa nước dâng do nước từ phía thượng nguồn Mê Công đổ

về, từ tháng 6-7 đến tháng 12 hàng năm Đặc điểm lũ ở ĐBSCL hơn và khác với lũ ở miền Trung và miền Bắc Lũ ở ĐBSCL dâng lên chậm và rút chậm “hiền hòa” hơn so với ở miền Trung và miền Bắc Điều này là do có hệ thống điều hòa tự nhiên gồm 3

“túi nước” có khả năng hấp thu nước, điều hòa dòng chảy Hồ Tonle Sap ở Campuchia

có diện tích 300.000 hectares vào mùa khô, khi hấp thu nước lũ giãn nở lên 1,5 triệu hectares, tức 5-6 lần Vùng Tứ Giác Long Xuyên ở hữu ngạn sông Hậu, có diện tích khoảng 600.000 hectares, hàng năm ngập 2,5-3,0 mét vào mùa lũ, có khả năng hấp thu khoảng 9 tỉ m3 nước lũ, và vùng Đồng Tháp Mười, với diện tích 700.000 hec-ta có khả năng hấp thu khoảng 10 tỉ m3 Các khối nước khổng lồ được hấp thu, tạm trữ trong các vùng trũng này điều hòa dòng chảy, giảm ngập cho phía hạ lưu trong mùa lũ và bổ sung dòng chảy vào mùa khô, giúp cân bằng mặn-ngọt cho vùng ven biển

ĐBSCL có vị trí đặc biệt nhất trong toàn bộ lưu vực Mê Công Vì tiếp giáp với biển, ĐBSCL chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều từ Biển Đông, với biên độ giao động 2 lần trong ngày khoảng 3.5-4.0 mét và chế độ nhật triều Biển Tây với biên độ giao động 1 lần trong ngày khoảng 1 mét

Sự tương tác với biển tạo nên chế độ thủy văn nội địa của toàn vùng ĐBSCL

Sự ảnh hưởng thủy triều, chế độ dòng chảy ở ĐBSCL có nét độc đáo, dòng chảy đảo chiều và mực nước thay đổi trong ngày gọi là “nước ròng, nước lớn”, và thay đổi 2 lần trong tháng theo âm lịch gọi là “nước rong, nước kém”, và hai mùa gọi là “mùa khô và mùa nước nổi” Trong mùa khô, ảnh hưởng của thủy triều lên đến Phnom-Pênh, Campuchia

Chế độ thủy triều độc đáo với nước ròng, nước lớn hàng ngày, nước rong nước kém hàng tháng, và mùa khô, mùa nước là vô cùng quan trọng cho sự hình thành và tồn tại của ĐBSCL Chế độ thủy văn này hình thành sinh thái, văn hóa lối sống, và sinh kế của người dân ĐBSCL Chế độ thủy triều cũng có tác dụng súc rửa, tự làm sạch cho đồng bằng

5 E.J Anthony, G Brunnier, M Besset, M Goichot, P Doussouillez, Lap Van Nguyen (2015) Linking Rapid

Trang 6

Về sinh thái và kinh tế, ĐBSCL bao gồm một vùng nước ven bờ biển gọi là Mekong Plume6

Trong khoảng 160 triệu tấn phù sa mịn của sông Mê Công, khoảng 100 triệu tấn phù sa và 16.000 tấn dinh dưỡng bám vào phù sa được mang ra vùng nước này hàng năm7, chưa tính lượng cát, sỏi Lượng phù sa và cát sỏi này có vai trò rất lớn về địa mạo, giúp bồi lấn ra biển và duy trì bờ biển và tạo nên năng suất thủy sản ven biển, với lượng khai thác khoảng 500.000 đến 726.000 tấn hàng năm8, là một hợp phần quan trọng của nền kinh tế ĐBSCL

Tuy nhiên, do thiếu dữ liệu về mối tương quan giữa lượng phù sa và năng suất thủy sản biển và hình thái địa mạo bờ biển, tầm quan trọng của vùng nước này bị xem nhẹ trong những quy hoạch phát triển ĐBSCL Thông thường, từ góc nhìn nông nghiệp nước ngọt ở nội địa, đặc biệt từ góc nhìn ưu tiên cây lúa, nước ngọt chảy ra biển bị xem là phí Nhưng nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, nước ngọt chảy ra biển là một quá trình tự nhiên, có vai trò lớn cho vùng ven biển vì nó ảnh hưởng địa mạo, độ mặn,

độ đục, và năng suất thủy sản Vì vậy, vùng nước ven biển này (Mekong Plume) cần được xem là một phần không thể tách rời trong chiến lược phát triển ĐBSCL

PHẦN 2 SỰ PHÁT TRIỂN THIẾU BỀN VỮNG Ở ĐBSCL

2.1 Sự can thiệp vào hệ thống điều hòa tự nhiên: gia tăng ngập và hạn-mặn

Trong 20 năm qua, rất nhiều diện tích ở 2 túi nước Đồng Tháp Mười (ĐTM) và

Tứ Giác Long Xuyên (TGXL) đã bị bao đê khép kín để canh tác lúa vụ ba (thu đông)

Trong 11 năm (2000-2012) 9 diện tích lúa vụ 3 ở 4 tỉnh Kiên Giang, An Giang, Đồng Thấp, Long An tăng 7 lần từ 53.500 ha lên 403.500 ha, đặc biệt ở An Giang và Đồng Tháp.Tăng mạnh nhất vào 2005 Chững lại vào 2006-2008 Tăng lại vào 2009-

2012 Năm 2017, tổng diện tích lúa vụ ba trong mùa lũ trên toàn đồng bằng lên đến 810.00010

Các ô đê bao khép kín này làm thu hẹp không gian và thể tích hấp thu lũ của ĐBSCL rất lớn Những khối nước khổng lồ này không được hấp thu vào các vùng đồng ngập lũ đã gây gia tăng ngập ở các vùng hạ lưu và chảy hết ra biển trong mùa lũ Đến mùa khô, hai vùng Tứ Giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười không có nước để

bổ sung cho dòng chính đẩy mặn ra, làm gia tăng xâm nhập mặn vùng ven biển

Theo Trung tâm quản lý môi trường quốc tế (ICEM) tính toán, so sánh giữa năm 2000 và năm 2011, sự tăng diện tích ô đê bao khép kín riêng ở vùng Tứ Giác

6 Barran Eric, Guerin Eric (2012) Influence of sediment load on Mekong floodplain and coastal fisheries State of knowledge

and research option Project“A Climate Resilient Mekong: Maintaining the Flows that Nourish Life”Led by the

Natural Heritage Institute

7 Barran Eric, Guerin Eric (2012) Influence of sediment load on Mekong floodplain and coastal fisheries State of knowledge

and research option Project“A Climate Resilient Mekong: Maintaining the Flows that Nourish Life” Led by the

Natural Heritage Institute

8 ICEM, 2010, MRC Strategic Environmental Assessment (SEA) of hydropower on the Mekong

mainstream: summary of the final report, Hanoi, Viet Nam

9Duong Vu Hoang Thai (2014), land use based flood hazards analysis for the Mekong Delta Conference

Paper.Proceedings of the 19th IAHR-APD Congress 2014 Hanoi, Vietnam

https://www.researchgate.net/publication/264974510_LAND_USE_BASED_FLOOD_HAZARDS_ANALYSIS _FOR_THE_MEKONG_DELTA

10 Báo Nông nghiệp Việt Nam (4/8/2017) Cần tuân thủ đúng kế hoạch sản xuất lúa thu đông

Trang 7

Long Xuyên đã làm giảm khả năng hấp thu lũ của vùng này từ 9,2 tỉ m3 năm 2000 xuống còn 4,5 tỉ m3 năm 2011 Lượng nước bị choáng chỗ đã làm tăng ngập ở Thành phố Cần Thơ năm 2011 thêm 4cm Tính toán của Dương Vũ Hoàng Thái (2014)11 cho thấy sự có mặt của đê bao khép kín vùng Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên đã làm tăng mực nước ở Cần Thơ 5cm, Mỹ Thuận 3cm

Canh tác lúa ba vụ trong đê bao khép kín cũng làm cạn kiệt nguồn thủy sản tự nhiên, là nguồn dinh dưỡng quan trọng của người dân nông thôn, và nguồn thu nhập cho những người nghèo không đất ở nông thôn

Đê bao khép kín cũng ngăn không cho nước lũ vào đồng Kinh nghiệm cho thấy sau khoảng 20-25 năm đất đai sẽ cạn kiệt chất dinh dưỡng và chi phí canh tác tăng cao Một khảo sát của IUCN năm 201412 tại Đồng Tháp cho thấy với một hộ gia đình 5 người canh tác lúa ba vụ, nếu diện tích đất dưới 1 hectare thì thu nhập không đủ sinh sống và buộc phải di cư nơi khác tìm việc làm Một nghiên cứu kinh tế13 đã cho thấy canh tác lúa ba vụ liên tục trong 15 năm trên diện tích 1 hectare, nếu cộng cả chi phí đắp, duy tuy, bảo dưỡng đê và các chi phí khác, xã hội sẽ bị lỗ 47.8 triệu đồng Hay nói cách khác, càng canh tác lúa ba vụ quốc gia càng nghèo thêm

2.2 Khai thác nước ngầm, ô nhiễm nước mặt, và sụt lún đất

Báo cáo của Đại học Utrectch, Hà Lan14 cho biết sự sụt lún liên quan đến khai thác nước ngầm đã tăng dần trong các thập niên vừa qua Trong 25 năm từ 1991 đến

2016, ĐBSCL đã sụt lún trung bình 18cm do khai thác nước ngầm Tốc độ sụt lún trung bình hiện nay do khai thác nước ngầm, tính toán theo mô hình là 1.1cm/năm, có những nơi sụt lún 2.5cm/năm, cao hơn 10 lần so với tốc độ nước biển dâng

Trong 25 năm qua, những vùng lớn của ĐBSCL đã bị hạ mực nước ngầm hơn 5m Kết quả mô hình sụt giảm trung bình trên toàn đồng bằng cho thấy tầng nước càng sâu càng sụt giảm nhiều và những vùng sụt giảm mạnh là những vùng xung quanh các

đô thị lớn, các khu công nghiệp có khai thác nước ngầm nhiều như Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng, Tân An Tp.HCM có những vùng sụt giảm hình nón đối với tất cả các tầng nước, với mực nước ngầm giảm hơn 20m, có nơi hơn 40 mét Báo cáo cũng dự báo rằng với xu hướng nhu cầu nước ngầm ngày càng tăng ở ĐBSCL, tốc độ sụt lún sẽ càng gia tăng trong tương lai gần

Có hai nguyên nhân chính dẫn đến sự phụ thuộc vào nước ngầm Đối với vùng ven biển, nước ngọt cho sinh hoạt và thủy sản thâm canh chủ yếu dựa duy nhất vào nước ngầm Đối với vùng nội địa, trên phần lớn ĐBSCL, kể cả ở vùng nông thôn nhiều sông rạch, nguồn nước cho sinh hoạt cũng chủ yếu là nước ngầm do nguồn nước mặt bị ô nhiễm nghiêm trọng từ nhiều nguồn gồm nước thải sinh hoạt, công nghiệp,

11Duong Vu Hoang Thai (2014), land use based flood hazards analysis for the Mekong Delta Conference

Paper.Proceedings of the 19th IAHR-APD Congress 2014 Hanoi, Vietnam

12 Nguyen Huu Thien (2014) Situation Analysis of Rice Triple Cropping in Dong Thap Province Integrated

Planning Project, IUCN

13 Tong Yen Dan (2015) A Cost-Benefit Analysis of Dykes of Dykes Heitening in the Mekong Delta EEPSEA 2015-R11

14 P S J Minderhoud et.al (2017) Impacts of 25 years of groundwater extraction on subsidence in

Trang 8

thủy sản, và quan trọng nhất là nước thải từ nông nghiệp canh tác thâm canh ba vụ lúa một năm chứa nhiều dư lượng phân bón, nông dược

Việc canh tác thâm canh ba vụ lúa liên tục trong nhiều năm đã dẫn tới sự phụ thuộc vào hóa chất nông nghiệp vì đê bao ngăn cản phù sa vào đồng ruộng, làm đất đai bạc màu, chi phí canh tác tăng theo thời gian Ước lượng mỗi năm ĐBSCL tiêu thụ 1,5-2,0 triệu tấn phân bón và 100.000 tấn nông dược, chưa tính lượng hóa chất sử dụng cho thủy sản và vườn cây ăn trái, tổng cộng 700.000 ha

Bên cạnh đó, khoảng 100 triệu m3 nước thải sinh hoạt, 600.000m3 chất thải rắn không xử lý đã được xả thẳng ra môi trường nước Nhiều nhà máy công nghiệp cũng

xả thẳng nước thải và chất thải rắn ra sông ngòi, gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng

Như vậy, vấn đề sụt lún của ĐBSCL đáng lo ngại hơn nhiều so với nước biển dâng (trung bình chỉ khoảng 3mm/năm15 Để cứu ĐBSCL khỏi bị chìm nhanh chỉ có một cách duy nhất là phải giảm khai thác nước ngầm Đối với vùng ven biển có thể áp dụng các công nghệ lọc nước biển như màng Nano và RO Đối với vùng nội địa, cần phải khôi phục chất lượng nước mặt bằng cách giảm ô nhiễm từ hai nguồn lớn là công nghiệp và nông nghiệp thâm canh Cần thay đổi chiến lược nông nghiệp ĐBSCL sang hướng nông nghiệp sạch, giảm thâm canh, chú trọng chất lượng và đầu tư vào chuỗi giá trị nông sản Công nghiệp cho ĐBSCL nên theo hướng công nghiệp chế biến, hỗ trợ cho nông nghiệp, áo dụng công nghệ hiện đại, giảm ô nhiễm

2.3 Sạt lở bờ sông, bờ biển: thủy điện và khai thác cát

ĐBSCL do quá trình bồi đắp của phù sa, cát sỏi tạo nên trong quá trình “kiến tạo đồng bằng” Trong quá trình đó, sạt lở và bồi đắp là một quá trình tự nhiên

Tuy nhiên, trong quá khứ (trước năm 1992 khi các đập dòng chính sông Mekong bắt đầu được xây dựng ở Trung Quốc), trong quá trình kiến tạo đồng bằng tổng lượng bồi đắp của ĐBSCL lớn hơn tổng lượng sạt lở Trong quá khứ không có hiện tượng sạt lở trên diện rộng và trung bình trong 6,000 năm qua đồng bằng được

mở rộng về phía đông với tốc độ 26m/năm và về hướng Mũi Cà Mau với tốc độ 16m/năm16, tức là khuynh hướng bồi luôn trội hơn khuynh hướng lở

Trong 25 năm vừa qua, khuynh hướng sạt lở có khuynh hướng trội hơn khuynh hướng bồi đắp và nhất là càng về sau trong 10 năm và 5 năm gần đây nhất, sạt lở càng gia tăng Hiện nay, hơn 50% tổng chiều dài bờ biển của ĐBSCL đang bị sạt lở dữ dội,

có nơi bờ biển thụt lùi đến hơn 50m, và trung bình mỗi năm mất khoảng 500 héc-ta đất

15 P S J Minderhoud et.al (2017) Impacts of 25 years of groundwater extraction on subsidence in

the Mekong delta, Vietnam Environ Res Lett.12(2017) 064006

16 E.J Anthony, G Brunnier, M Besset, M Goichot, P Doussouillez, Lap Van Nguyen (2015) Linking Rapid

Trang 9

ven biển17 Sạt lở bờ sông cũng đang diễn ra dữ dội trên diện rộng Theo thống kê của

Bộ NN&PTNT, tổng chiều dài sạt lở bờ sông, bờ biển ĐBSCL là 891km

Như vậy, tình hình sạt lở hiện nay đã không còn cân bằng nữa

Sạt lở có thể do nhiều nguyên nhân, nhưng cần phân biệt nguyên nhân nào là

chính Nguyên nhân của tình hình sạt lở trong thời gian 25 năm vừa qua, càng về gần

đây càng gia tăng, phải do những yếu tố có biến động bất thường sau 1992 Điều này

cũng có nghĩa là những yếu tố nào không thay đổi nhiều, hoặc thay đổi không đáng kể

thì không phải là nguyên nhân hoặc chỉ là nguyên nhân phụ

Chúng tôi đề xuất khung sau đây để xem xét nguyên nhân sạt lở bờ sông, bờ

biển ĐBSCL

Trong đó,

Các yếu tố liên quan đến cân bằng hệ thống bao gồm:

1 Tải lượng phù sa mịn của sông Mekong

2 Tải lượng cát hàng năm của sông Mekong

3 Lượng cát bị mất đi do khai thác cát trên sông Mekong

4 Chế độ dòng chảy sông Mekong

5 Mực nước biển và chế độ triều, sóng, gió

Các yếu tố cục bộ tại từng điểm cụ thể gồm:

Xét diễn biến các yếu tố nói trên, chúng ta có thể thấy có 2 nguyên nhân chính

có biến động đáng kể từ sau 1992 là tải lượng phù sa mịn và lượng cát bị mất đi do

khai thác cát trên sông Mê Công Ngoài ra, ít có nguyên nhân nào khác có biến động

đáng kể từ sau 1992 đủ để giải thích tình trạng sạt lở gia tăng trên diện rộng trên toàn

ĐBSCL

17 E.J Anthony, G Brunnier, M Besset, M Goichot, P Doussouillez, Lap Van Nguyen (2015) Linking Rapid

Trang 10

Các nghiên cứu18 đã chỉ rõ, sự sạt lở diễn ra, không có sự thay đổi về lưu lượng dòng sông, về điều kiện sóng, gió trong cùng giai đoạn nghiên cứu, là tương ứng với (i) sự giảm lượng phù sa mịn của sông Mekong và (ii) sự khai thác cát trên diện rộng

Số liệu của MRC cho biết, so giữa 1992 và 2014, tải lượng phù sa mịn sông Mê Công đã giảm 50% từ 160 triệu tấn/năm còn 85 triệu tấn/năm Số liệu phù sa nói trên chưa bao gồm thành phần cát, sỏi di chuyển ở đáy sông

Trong 10 năm (1998-2008), cát trên Sông Tiền và Sông Hậu đã bị khai thác rất nhiều Báo cáo của Giáo sự Bravard (Đại học Lyon) và T.S Goichot (WWF)19 cho biết, so sánh hình thái dòng sông ở ĐBSCL từ 1998 đến 2008 cho thấy ở Sông Tiền đã mất khoảng 90 triệu tấn vật liệu đáy sông, sông Hậu thì mất 110 triệu tấn.Tốc độ khai thác hàng năm khoảng 27 triệu mét khối (57 triệu tấn) trong khoảng 2008-2012, trong

đó 86% là cát thì bằng 20 lần lượng cát vận chuyển hàng năm của sông Mê Công, tính tại Kratie

Dự báo sau khi 11 đập thủy điện ở Hạ lưu vực hoàn tất, tải lượng phù sa mịn sẽ giảm 50% một lần nữa còn 42 triệu tấn, tức ¼ lượng cũ trước năm 1992 và 100% lượng cát sỏi di chuyển ở đáy sông sẽ hoàn toàn bị các đập giữ lại Khi đó, sạt lở sẽ diễn ra dữ dội hơn, khó có biện pháp nào tại chỗ ở ĐBSCL công trình hay phi công trình, có thể cưỡng lại được khuynh hướng này

Các hố xoáy tự nhiên hoàn toàn không phải là nguyên nhân gây sạt lở, vì các hố xoáy là một phần tự nhiên của hệ thống sông Mekong Trên toàn sông Mekong có đến gần 500 hố, có hố sâu đến 90,5m, hố dài nhất đến 17,5km Ở ĐBSCL có 22 tự nhiên

đã được khảo sát20 Sự thiếu hụt cát mới là nguyên nhân chính làm các hố sâu dịch chuyển và mở rộng

PHẦN 3 BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU, NƯỚC BIỂN DÂNG VÀ EL NINO, LA NINA

Biến đổi khí hậu đang diễn ra, ảnh hưởng mọi mặt đời sống và sản xuất ở ĐBSCL với các biểu hiện như tăng nhiệt độ, nắng nóng, mưa trái mùa, tăng tần suất các sự kiện cực đoan

Về nước biển dâng, từ sau Báo cáo đánh giá lần 5 (AP5) của IPCC, phương pháp tính toán dự báo biến đổi khí hậu đã có thay đổi lớn, chuyển từ cách tính theo kịch bản phát thải sang kịch bản về nồng độ (RCP-representative concentration pathway) Kịch bản cập nhật 2016 về nước biển dâng của Bộ TN&MT cũng có thay đổi lớn, theo đó, dự báo mới về nước biển dâng cho ĐBSCL là:

Trang 11

 Trong kịch bản RCP4.5 mà Bộ TN&MT khuyến cáo là kịch bản khả dĩ nhất, mực nước biển dâng ở ĐBSCL đến cuối thế kỷ 21 là 53cm (32-77cm) và 55cm (33-78 cm) cho vùng Biển Đông và Biển Tây, so với giai đoạn 1986-2005

 Trong kịch bản RCP 8.5 là kịch bản tồi tệ nhất, mực nước biển dâng đến cuối thế kỷ 21 là 74cm (48-105cm) và 75 (52-106cm) cho vùng Biển Đông và Biển Tây

Nước biển dâng là một quá trình diễn ra dần dần và chậm Tốc độ nước biển dâng hiện nay chỉ khoảng 3.0 mm/năm Có thể thấy, vấn đề nước biển dâng lâu dài hơn và không khẩn cấp bằng sự sụt lún của ĐBSCL

Trong những năm gần đây, từ sau trận lũ lớn 2011, nước lũ về ĐBSCL thường

là lũ trung bình và thấp Đỉnh điểm là lũ thấp cực đoan năm 2015 dẫn đến tình trạng hạn mặn mùa khô 2016 Năm 2016 lũ có về, nhưng vẫn thấp hơn đỉnh trung bình nhiều năm, nên gây ra cảm nhận rằng từ nay ĐBSCL không còn lũ do các đập thủy điện chặn dòng

Trước tiên nên xét nguyên nhân gây ra lũ thấp ĐBSCL phụ thuộc lượng nước Mekong, tổng dòng chảy trung bình 475 tỉ m3 mỗi năm, trong đó phần Trung Quốc đóng góp 16%, Myanmar 2%, còn lại 82% từ biên giới Lào-Trung Quốc trở xuống, trong đó mưa ở Lào, đông bắc Thái Lan, và Campuchia quan trọng nhất Mưa tại chỗ ở ĐBSCL khoảng 1,400-2.000mm/năm đóng góp 11%

Về thủy điện, các đập Trung Quốc và các đập chi lưu là các đập có hồ chứa lớn, trữ nước mùa lũ, xả ra phát điện trong mùa lũ và mùa khô Còn 11 đập dự kiến trên dòng chính ở Lào và Campuchia vận hành theo ngày, tích nước khoảng 16 giờ, xả ra khoảng 8 giờ

Trong những năm bình thường, các đập ở Trung Quốc không có khả năng nhiều trong việc kiểm soát nguồn nước do phần đóng góp ít và vì các đập cũng phải xả ra để phát điện Trong những năm khô hạn, các đập này gia tăng trữ nước và làm tồi tệ thêm tình hình Năm ngoái, một El Nino cực đoan làm mưa ít kỷ lục trên toàn lưu vực, dẫn đến mực nước mùa lũ thấp kỷ lục, mặn xâm nhập gay gắt ở ĐBSCL Vậy, nguyên nhân ban đầu của hạn-mặn ĐBSCL là El Nino, thủy điện là tác nhân thứ hai gây tồi tệ thêm chứ không phải là nguyên nhân ban đầu

El Nino là hiện tượng xảy ra theo chu kỳ 2-7 năm một lần, và có những lần cực đoan dẫn đến khô hạn Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, các sự kiện cực đoan được dự báo sẽ diễn ra thường xuyên hơn, ví dụ từ 100 năm một lần xuống còn 20-25 năm một lần, nhưng dù sao cũng không phải là tình hình chung cho tất cả các năm Ngược với

El Nino là La Nina có thể dẫn đến mưa lũ nhiều, theo quy luật bù trừ, vì vậy đang khi hạn mặn do El Nino phải luôn luôn dè chừng La Nina sau đó

Còn 11 đập ở Hạ lưu vực, tới nay có 3 đập đã khởi công nhưng chưa hoàn tất, nên chưa phải là nguyên nhân Sau này khi hoàn tất, trong những năm bình thường các đập này không ảnh hưởng lớn đến mực nước ĐBSCL, nhưng những năm khô hạn mỗi

Trang 12

đập có khả năng giữ nước từ 1,5 đến 18 ngày, làm nước về chậm cả tháng khi đi qua chuỗi đập Khi đó, tình hình sẽ nghiêm trọng

PHẦN 4 TÁC ĐỘNG CỦA THỦY ĐIỆN MÊ CÔNG

Nằm ở phía cuối của lưu vực Mê Công, ĐBSCL chịu tác động rất lớn của sự phát triển thủy điện ở lưu vực Mê Công

Các tác động chính của thủy điện Mê Công đối với ĐBSCL có thể tóm tắt như sau

1 Giảm phù sa mịn gây bạc màu đất, ảnh hưởng nông nghiệp; gây ra hiện

tượng “nước đói phù sa” dẫn đến sạt lở bờ sông, bờ biển; giảm lượng dinh dưỡng mang ra biển, ảnh hưởn năng suất thủy sản ven biển trong vùng Mekong Plume; Thiếu phù sa trong vùng nước biển ven bờ, giảm bồi đắp và gia tăng sạt lở bờ biển, nhất là đoạn bờ biển bùn phía Biển Đông từ Sóc Trăng đến Mũi Cà Mau và phía Biển Tây từ Mũi Cà Mau đến Hà Tiên; Thiếu dinh dưỡng cho hệ sinh thái thủy sinh, ảnh hưởng đến năng suất thủy sản nước ngọt

Như trên đã đề cập, số liệu của Ủy hội Mê Công quốc tế cho thấy, so giữa 1992

và 2014, tải lượng phù sa mịn sông Mê Công đã giảm 50% từ 160 triệu tấn/năm còn

85 triệu tấn/năm Số liệu phù sa nói trên chưa bao gồm thành phần cát, sỏi di chuyển ở đáy sông, ước lượng khoảng 30 triệu tấn/năm21 Dự báo sau khi 11 đập ở Hạ lưu vực xây dựng xong, lượng phù sa mịn còn lại sẽ bị giảm 50% một lần nữa xuống còn 42 triệu tấn/năm

2 Chặn toàn bộ cát, sỏi về ĐBSCL Tất cả các nghiên cứu đều thống nhất

rằng hiện nay toàn bộ cát sỏi từ phía Thượng lưu vực đã bị chặn, sau khi 11 đập ở Hạ lưu vực hoàn tất, 100% cát, sỏi sẽ bị chặn Khi đó sạt lở sẽ diễn ra dữ dội đối với bờ Sông Tiền, Sông Hậu, và bờ biển, nhất là đoạn bờ biển cát dài 250km ở vùng cửa sông Cửu Long từ Tiền Giang qua Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, đến Bạc Liêu

3 Mất 100% cá trắng Tất cả các nghiên cứu đến nay đều đồng ý rằng khi 11

đập thủy điện ở Hạ lưu vực hoàn tất, 100% lượng cá trắng, tức các loài cá phải di cư ngược dòng hàng năm để sinh sản, sẽ hoàn toàn biến mất Sự tổn thất cá trắng sẽ ảnh hưởng lớn đến dinh dưỡng và thu nhập của người dân ĐBSCL, nhất là người nghèo nông thôn và ảnh hưởng đến các loài ăn cá và tác động dây chuyền đến toàn bộ hệ sinh thái ĐBSCL

4 Ảnh hưởng thủy sản biển

Trong160 triệu tấn tải lượng phù sa mịn sông Mekong vận chuyển hằng năm, một phần được bồi lắng ở các cánh đồng ngập lũ ở Campuchia và ở ĐBSCL, còn lại ước lượng khoảng 100 triệu tấn phù sa và 16,000 tấn dinh dưỡng bám vào phù sa được mang ra vùng nước ven biển ĐBSCL (vùng Mekong Plume) Khi lượng phù sa và dinh dưỡng này giảm sẽ ảnh hưởng lớn đến năng suất thủy sản vùng ven biển ĐBSCL trong vùng Mekong Plume

5 Ảnh hưởng dòng chảy

21 E.J Anthony, G Brunnier, M Besset, M Goichot, P Doussouillez, Lap Van Nguyen (2015) Linking Rapid

Trang 13

Đối với ảnh hưởng dòng chảy của các đập thủy điện Mekong, cần phân biệt giữa các đập ở Trung Quốc và 11 đập ở Hạ lưu vực và phân biệt giữa những năm bình thường và những năm đặc biệt khô hạn

Các đập ở phần Trung Quốc là các đập có hồ chứa lớn, có khả năng tích nước trong mùa lũ, xả ra để phát điện trong mùa khô Theo lý thuyết, các đập này sẽ làm tăng dòng chảy mùa khô đối với ĐBSCL22 trong những năm bình thường Do lượng nước đóng góp vào lưu vực của phần Trung Quốc là nhỏ, chỉ 16% nên các đập này ảnh hưởng không lớn về lượng nước đối với ĐBSCL Tuy nhiên, trong những năm đặc biệt khô hạn, như năm 2016, các đập này có thể gia tăng trữ nước và làm tình hình khô hạn trầm trọng hơn

11 đập ở phía Hạ lưu vực, về lý thuyết cho nước chảy qua trong ngày (trung bình đóng đập 8 giờ và xả ra phát điện 16 giờ), trong những năm bình thường, các đập này sẽ không ảnh hưởng lớn về lượng nước và mực nước ở ĐBSCL Tuy nhiên trong những năm đặc biệt khô hạn, mỗi đập có khả năng lưu nước từ 1.5 ngày đến 18 ngày23

làm chậm đáng kể dòng chảy đi qua chuỗi đập, làm cho tình trạng hạn-mặn ở ĐBSCL tồi tệ hơn một cách nghiêm trọng

PHẦN 5 KIẾN NGHỊ CHIẾN LƯỢC ỨNG PHÓ VÀ PHÁT TRIỂN

Đứng trước bối cảnh thay đổi của ĐBSCL, tìm ra giải pháp thích ứng phù hợp rất quan trọng Hành động thích ứng có thể đúng và cũng có thể sai Hành động thích ứng sai vừa gây lãng phí nguồn lực vừa gây những tác động tiêu cực không thể sửa đổi được Chúng tôi kiến nghị các giải pháp sau đây cho ĐBSCL:

#1 Đối với biến đổi khí hậu:

Vì tất cả các dự báo đều hàm chứa sự không chắn chắn, có thể thay đổi, cập nhật trong tương lai, vì vậy kiến nghị áp dụng “Nguyên tắc không hối tiếc” (no-regrets principle) hay còn gọi là “Nguyên tắc cẩn trọng” (precautionary principle) trong đó ưu tiên các hành động thích ứng ít rủi ro tác động ngược, có thể sửa đổi được khi nhận ra sai lầm Không nên đi vào con đường dẫn vào ngõ cụt, không có đường lùi Hành động thích ứng phải có cái nhìn tổng thể về không gian, thời gian, đa ngành; tính đến tác động tổng thể lên toàn đồng bằng, tác động đến nơi khác, ngành khác, và về lâu dài

Cụ thể, nên hạn chế các biện pháp công trình lớn như đắp cửa sông và ngọt hóa, vừa kém hiệu quả, vừa đảo lộn điều kiện tự nhiên, không thể cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt và sản xuất được Tác động lớn nhất của các công trình ngăn sông, ngăn mặn

là làm mất chế độ thủy triều, tạo thành vùng nước tù ô nhiễm, mất sự trao đổi sinh thái với biển, ảnh hưởng sinh thái nội địa và sinh thái biển

#2 Đối với công nghiệp:

Vì vùng ĐBSCL rất nhạy cảm về môi trường, nhất là môi trường nước, công nghiệp của ĐBSCL chỉ nên ưu tiên đầu tư công nghiệp chế biến để hỗ trợ cho nền

22 Mekong River Commission Technical Paper 29 Impacts of climate change and development on Mekong flow regimes First assessment - 2009

23 ICEM, 2010, MRC Strategic Environmental Assessment (SEA) of hydropower on the Mekong

mainstream: summary of the final report, Hanoi, Viet Nam

Trang 14

nông nghiệp chuyển hướng sang nông nghiệp sạch để nâng cao giá trị của chuỗi giá trị

và tránh ô nhiễm nguồn nước mặt

#3 Đối với nông nghiệp:

Nên Chuyển hướng chiến lược sang nông nghiệp bền vững, chú trọng giá trị hơn số lượng để phục hồi đất đai, nguồn nước, và sức chống chịu của đồng bằng Cần xem xét lại khái niệm và chiến lược an ninh lương thực

#4 Đối với sụt lún:

Đây là vấn đề nghiêm trọng hơn gấp nhiều lần so với nước biển dâng và không thể giải quyết bằng biện pháp công trình Con đường duy nhất để cứu ĐBSCL là phải giảm sử dụng nước ngầm Cụ thể, đối với vùng ven biển sử dụng công nghệ (Nano,

RO, etc.,.), đối với vùng nội địa, giảm ô nhiễm nước mặt (công nghiệp, nông nghiệp thâm canh)

#5 Đối với sạt lở:

Nguyên nhân chính của tình trạng sạt lở bờ sông, bờ biển trên diện rộng của ĐBSCL là do thiếu hụt phù sa mịn và cát, sỏi gây mất cân bằng trên toàn hệ thống Chúng tôi dự báo khuynh hướng sạt lở sẽ diễn biến trầm trọng hơn và sẽ không có biện pháp nào ở nội tại ĐBSCL có thể cưỡng lại khuynh hướng này Chúng tôi kiến nghị những việc cần làm ngay và những việc không nên làm:

- Lập bản đồ cảnh báo độ rủi ro sạt lở bờ sông để chủ động di dời người dân để tránh thiệt hại tài sản, tính mạng

- Quản lý khai thác cát chặt chẽ để đảm bảo duy trì bờ sông, bờ biển, biết rằng trong tương lai không còn nguồn cung cấp cát từ sông Mekong nữa sau khi 11 đập thủy điện ở Hạ lưu vực hoàn tất

- Không nên lấp các hố sâu tự nhiên, vì rất tốn kém và không hiệu quả Các hố sâu này được hình thành theo quy luật tự nhiên, có vai trò cân bằng động lực, khi lấp các hố này sẽ xuất hiện các hố sâu khác

- Không nên tiêu tốn nguồn lực vào những biện pháp công trình lãng phí và kém hiệu quả Các biện pháp công trình như bờ kè, chỉ nên tiến hành ở những nơi tối cần thiết để bảo vệ tài sản, tính mạng người dân trong ngắn hạn Các biện pháp công trình như bờ kè có thể tạo cảm giác an toàn giả, đến khi bờ kè sụp đổ, thiệt hại sẽ lớn hơn Bất cứ công trình nào cũng đều có tuổi thọ và chi phí duy tu sẽ tăng theo thời gian

- Trồng và phục hồi rừng ven biển rất cần thiết Tuy nhiên, trồng rừng chỉ khả thi ở những nơi bồi và còn đủ phù sa trong nước Ở những nơi đang sạt lở và đặc biệt trong tương lai khi phù sa trong nước giảm mạnh, việc trồng rừng sẽ không khả thi

#6 Tiếp cận tổng thể ĐBSCL

Vì, (i) Hệ tự nhiên ĐBSCL vận hành theo quy luật tự nhiên, nằm trong tổng thể nhất quán, (ii) Hành động của một địa phương có thể ảnh hưởng địa phương khác, (iii) Hành động của một ngành đơn lẻ có thể ảnh hưởng đến ngành khác, (iv) Hành động ngày hôm nay có thể ảnh hưởng đến dài hạn; chúng tôi kiến nghị:

 Tiếp cận tổng thể ĐBSCL về không gian ĐBSCL

Trang 15

 Đẩy mạnh thực hiện liên kết vùng theo Quyết định 593 của Chính phủ

 Cần tính đến vùng nước biển ven bờ, có liên hệ chặc chẽ về sinh thái với ĐBSCL và là một phần quan trọng của nền kinh tế ĐBSCL

 Tránh cách làm cục bộ theo địa phương

 Tránh cách làm theo kiểu “uống thuốc giảm đau”, thấy đâu trị đó, ngắn hạn

mà cần phục hồi sức khỏe của hệ thống kinh tế, xã hội, môi trường

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Barran Eric, Guerin Eric (2012) Influence of sediment load on Mekong

floodplain and coastal fisheries State of knowledge and research option Project“A

Climate Resilient Mekong: Maintaining the Flows that Nourish Life”Led by the Natural Heritage Institute

Duong Vu Hoang Thai (2014), land use based flood hazards analysis for the

Mekong Delta Conference Paper.Proceedings of the 19th IAHR-APD Congress

2014 Hanoi, Vietnam

E.J Anthony, G Brunnier, M Besset, M Goichot, P Doussouillez, Lap Van Nguyen (2015) Linking Rapid Erosion of the Mekong River Delta to human activities Scientific Report 5 (14745) (2015)

ICEM, 2010, MRC Strategic Environmental Assessment (SEA) of hydropower

on the Mekong

mainstream: summary of the final report, Hanoi, Viet Nam

Jean-Paul Bravard, Marc Goichot and Stéphane Gaillot (2013).Geography

of Sand and Gravel Mining in the Lower Mekong River EchoGéo 26 (2013)

Kondolf, G (1997) PROFILE: Hungry Water: Effects of Dams and Gravel Mining on River Channels Environmental Management (1997) 21: 533

Mekong River Commission Technical Paper 29 Impacts of climate change and development on Mekong flow regimes First assessment - 2009

Mekong River Commissinon (2013) Technical Paper 31 Atlas of deep pools in the Lower Mekong River and some of its tributaries

Nguyen Huu Thien (2014) Situation Analysis of Rice Triple Cropping in Dong Thap Province Integrated Planning Project, IUCN

Nông nghiệp Việt Nam (4/8/2017) Cần tuân thủ đúng kế hoạch sản xuất lúa thu đông http://nongnghiep.vn/can-tuan-thu-dung-ke-hoach-san-xuat-lua-thu-dong-post199631.html

P S J Minderhoud et.al (2017) Impacts of 25 years of groundwater extraction

on subsidence in the Mekong delta, Vietnam Environ Res Lett.12(2017) 064006

Tong Yen Dan (2015) A Cost-Benefit Analysis of Dykes of Dykes Heitening

in the Mekong Delta EEPSEA 2015-R11

Trang 16

Zuo Xuea, J Paul Liu, Dave DeMaster, Lap Van Nguyen, Thi Kim Oanh Ta (2009) Late Holocene Evolution of the Mekong Subaqueous Delta, Southern Vietnam Marine Geology 269 (2010) 46–60

THREE MAJOR CHALLENGES FACED BY THE MEKONG DELTA

TODAY

 Climate change: changes in temperatures, rainfall, sea level, and extreme

events such as the extreme El Nino incident that caused the historic drought in the dry season 2016

 Unsustainable development issues in the delta:

- Land subsidence: 18 cm in 25 years (1991-2016) (Utretch University) due

to excessive extraction of ground water which in turn due to excessive use of ground water in the coast and the pollution of surface water in inland areas

- Erosion: since after 1992, erosion has increasingly become severe At

present, more than half the length of the coastline is being eroded The total length of the coastline and river banks under erosion is 891km The root causes of erosion are the reduction of suspended sediment and sand due to hydropower and sand mining

- Pollution of air and water

+ Continuous intensive rice triple cropping in high dykes depleting the soils nutrients

+ Polluting industries, thermal coal-fired power plants

+ Effluents from aquaculture

+ Untreated domestic wastewater

 Impact of Mekong hydropower

- At present the suspended sediment load has been halfed from 160 mil tons to

85 mil tons per year

- Projected that after the completion of the 11 dams in the Lower Mekong Basin, the remaining suspended sediment load will be halfed again and 100% of sand and gravel load will be trapped by the dams

CHARACTERISTICS OF THE NATURAL SYSTEMS OF THE DELTA THAT NEED TO BE RESPECTED IN DEVELOPMENT PLANNING

Trang 19

RECOMMENDATIONS

1 Climate change

Because:

• Projections always contain uncertainties

• The natural systems of the delta have unique characteristics that must be understood and respected,

• Adaptation actions can be right and can also be wrong Wrong adaptation actions or maladaptation can be costly and have negative impact:

• Rice triple cropping, if all the costs and benefits are taken into account, is not helping farmers to escape poverty,

• Rice triple cropping relies heavily on fertilizers and agro-chemicals that pollute the surface water resulting in reliance on the groundwater causing accelerated land subsidence, we recommend:

We recommend:

• To change the way of thinking and practice in agriculture from agricultural production to agro-economics

• To gradually shift the farming system to a more sustainable system, focusing

on quality rather than merely quantity as at present

• Create employment and income for people through investing in improving the value chains rather than on maximizing production

3 Industry

Because:

• The pollution of the surface water resulting in the excessive extraction of the groundwater causes the delta to sink fast, and that

• to improve the values of agriculture products, the supporting industries such

as processing industries are needed,

Trang 20

• Land subsidence is much faster than sea level rise,

• Land subsidence is mainly due to the excessive extraction of the groundwater, and that

• The only way to reduce land subsidence is to reduce the extraction of groundwater,

We recommend:

• Land subsidence must be considered un urgent issue to be addressed

• For the coastal area, technologies such as Nano and RO for desalination can

be applied to provide freshwater for domestic uses

• Facilitate the shift of the farming system in the coastal area to brackish and saline farming systems to reduce dependence on freshwater

• Reduce intensive rice farming in the inland area to reduce surface water pollution

• Shift to clean agriculture and manage the environment to reduce pollution

• Manage sand mining to avoid excessive extraction of sand and gravel

• Make maps of erosion risks of river banks to proactively resettle people away from dangerous places

• Avoid large-scale infrastructures that inappropriately intervene and injure the natural systems while being costly and ineffective

6 An integrated, coordinated development planning approach for the delta

Because:

• The natural systems of the delta have unique characteristics and interact with each other in a systematic way

• Actions in one place can cause impact to other places

• Action taken by a sector can affect other sectors, and

• Actions today can affect the future,

We recommend:

• The development planning approach for the delta must be and integrated one

• Push for the implementation of the Decision 593 of the government on regional linkage and coordination

Trang 21

• The coastal waters of the delta which is connected ecologically to the inland and is an important part of the economy of the delta must be taken into account in development planning for the delta

• Avoid localism and sectoralism in development planning and adaptation planning

• Avoid “pain relief” approach, knee-jerk approach to address only the symptoms but to take a holistic approach to improve the health of the economic, social, and environmental systems of the delta

Trang 22

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ TỔNG HỢP TÀI NGUYÊN NƯỚC

VÀ PHÒNG CHỐNG THIÊN TAI VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

GS TSKH Đào Xuân Học Nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam

TÓM TẮT

1 Chiều dài đê bao chống lũ bảo vệ 3 vụ là 20.000 km, đê chống lũ bảo vệ 2 vụ

là 17.000 km và tiếp tục gia tăng Nhằm khắc phục tình trạng đomino về lên đê bao, khai thác các lợi ích của lũ, hạn chế thiệt hại do lũ lớn cực đoan, đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu dài, chống nước biển dâng và kịch bản cực đoan (Campuchia xây dựng công trình trên sông Tonleshap điều tiết nước ở Biển Hồ), đề nghị chuyển đổi từ

chiến lược “Sống chung với lũ” sang chiến lược “Chủ động sống chung với lũ” Để

thực hiện chiến lược này chúng ta đã có 4 con đường giao thông bộ dọc hai bên sông

là những con đê, cần xây dựng thêm hệ thống cống (bao gồm cống và âu thuyền) Cống được thiết kế rộng bằng mặt cắt kênh, mở thường xuyên để nước chảy và phục

vụ giao thông thủy Cống chỉ làm nhiệm vụ khống chế mực nước lũ trong đồng theo yêu cầu đối với những đỉnh lũ lớn cực đoan (những trận lũ khoảng 10 năm xuất hiện một lần) Âu thuyền phục vụ giao thông thủy khi cống làm nhiệm vụ kiểm soát lũ Mức nước lũ trong đồng được quản lý không phá hoại cơ sở hạ tầng, các khu dân sinh, không cần xây dựng đê bảo vệ các thành phố, làng ấp, không cần đê chống lũ hai vụ; không cần xây dựng các hệ thống trạm bơm tiêu cho các đô thị, các làng ấp, ruộng vườn (những năm lũ rút muộn) và còn nhiều mục tiêu khác.Theo chiến lược này thì

tổng chiều dài đê (đường giao thông đã có) ngăn lũ trước mắt và lâu dài chỉ luôn là 1.200 km so với 57.000 km đê của phương án bao như hiện nay

2 Đưa vào quy hoạch xây dựng dự án đê biển Vũng Tàu-Gò Công (tuyến CG) nhằm giải quyết triệt để vấn đề ngập úng; đồng thời cũng là công trình chống nước biển dâng, chống biến đổi khí hậu ở thế chủ động cho Tp HCM; Tăng cường khả năng thoát lũ, ngăn mặn cho vùng ĐTM, một phần đất thuộc tỉnh Long An, Tiền Giang, Bình Dương và Đồng Nai, với tổng diện tích hưởng lợi khoảng 1,1 triệu ha, và

GC-về lâu dài có thể thành hồ trữ ngọt cho toàn vùng DA còn tạo ra quỹ đất và mặt nước rộng lớn (43.000 ha), tạo động lực phát triển cho vùng, cũng như bù một phần lớn vốn

để xây dựng công trình Dự án đê biển Vũng Tàu - Gò Công không chỉ là một dự án thủy lợi thuần túy mà còn là một dự án phát triển kinh tế-xã hội trong vùng Cụm sáu

đề tài nghiên cứu do 4 bộ thực hiện cũng đã khẳng định: “Trên khía cạnh lợi ích kinh

tế, xã hội do Dự án đê biển mang lại, kiến nghị: Xây dựng Dự án đê biển Vũng

Tàu-Gò Công là cần thiết và hợp lý vì đây là công trình chống nước biển dâng, chống biến đổi khí hậu ở thế chủ động”

3 Tuyến đường giao thông ven biển đang được xây dựng cần có sự phối hợp với ngành Thuỷ lợi nhằm đạt được thêm nhiều mục tiêu như: (1) Bảo vệ dân cư khi có siêu bão và sóng thần; (2) Là nơi phân ranh mặn ngọt (vùng nuôi trồng Thuỷ sản và vùng trồng lúa); (3) Hệ thống cầu giao thông kết hợp với cống ngăn mặn và giữ ngọt; (4) Là đường cấp nước ngọt cho vùng nuôi trồng thuỷ sản ven biển; (5) Bên ngoài đê

Trang 23

là vùng: (5.a) Nuôi trồng thuỷ sản bán công nghiệp (có đường cấp và thoát nước riêng biệt); (5.b) Vùng nuôi tôm sinh thái có rừng và (5.c) Dải rừng ven biển

4 Vấn đề sạt lở do thiếu hụt phù sa, úng ngập do mưa lớn gia tăng, lún sụt ở các khu đô thị và ĐB do khai thác nước ngầm quá mức đã và đang cản trở quá trình phát triển của khu vực ĐBSCL Để phát triển bền vững, cần có quy định các khu đô thị mới dành khoảng 10% quỹ đất để xây dựng hồ sinh thái đa mục tiêu: (1) Lấy đất để san lấp nền (giảm nhu cầu cát khai thác từ sông khoảng 60-80%); (2) Chống úng ngập

do mưa lớn; (3) Cung cấp nước sinh hoạt nhằm hạn chế và không khai thác nước ngầm – nguyên nhân chính gây lún sụt đất; (4) Cải tạo vi khí hậu cho các khu đô thị; (5) 50% diện tích mặt hồ có thể bố trí năng lương mặt trời cung cấp được cho khoảng 50% dân

số ở khu đô thị Trước mắt là “Hồ sinh thái”, rồi tiến tới xây dựng các “đô thị và làng sinh thái” là giải pháp đa mục tiêu tạo sự phát triển bền vững ĐBSCL

5 Cần định hướng trong cách ứng xử, đấu tranh ngoại giao, cũng như tranh thủ

sự ủng hộ của cộng đồng Quốc tế trong đấu tranh với các nước thượng nguồn về quản

hỗ trợ người dân trong vũng lũ đã kịp thời ban hành Nhờ vậy, số người bị thiệt hại

do lũ lụt đã giảm đáng kể; diện tích gieo trồng, năng suất và sản lượng tăng liên tục Tuy nhiên, các chương trình được thực hiện bởi các Bộ, ngành và địa phương khác nhau, thiếu sự kết nối giữa các quy hoạch, chưa được đặt trong một bài toán tổng thể với tầm nhìn dài hạn của đồng bằng, nên đã bộc lộ nhiều bất cập trong quản lý nước ở khu vực ĐBSCL:

Số lượng đê bao, bờ bao và cụm tuyến dân cư được xây quá nhiều (19.930 km

đê bao chống lũ triệt để bảo vệ 6.026 ô ruộng sản xuất 3 vụ và 17.760km đê bao chống

lũ sớm để bảo vệ 4.513 ô ruộng sản xuất hai vụ) gây cản trở dòng chảy, chiếm dung tích trữ lũ làm cho MN trong đồng dâng cao (tại Cần Thơ, MN năm 2011 cao hơn năm

2000 tới 20cm, mặc dù ở Tân Châu, MN năm 2011 thấp năm 2000 hơn 20cm) gây úng ngập hầu hết các thành phố, đô thị và làng mạc ở khu giữa ĐB và Tp HCM Hơn 2078

km trên tổng số13.347 km tuyến dân cư đã xây dựng bị ngập lũ năm 2011

Sự hạ thấp MN ngầm ở các đô thị và Bán đảo Cà Mau ở mức 70cm/năm là rất nghiêm trọng, kéo theo việc lún sụt đất ở các đô thị và đồng bằng ở mức 2-3 cm (gấp 5-7 lần tốc độ nước biển dâng) là một trong những nguyên nhân chính gia tăng úng ngập các đô thị ở ĐBSCL và Tp.HCM

Do không có hệ thống cấp thoát nước riêng biệt, nên năng suất và sản lượng vùng nuôi trồng thuỷ sản ven biển không ổn định, dịch bệnh tàn phá các khu nuôi, tạo nên cuộc sống bấp bênh của người nuôi trồng thủy sản

Rừng ngập mặn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ người dân, ổn định đới

bờ, nhưng đã giảm tới 80,4% diện tích trong 50 năm qua Những trạng thái thiên tai

Trang 24

cực đoan như bão lớn, mưa lớn, hạn hán xâm nhập mặn ngày càng xuất hiện nhiều hơn, đã gây ra những tổn thất rất lớn và khó lường Vấn đề úng ngập ở các đô thị do

lũ, do triều và do mưa lớn đã trở thành lực cản trong quá trình phát triển của các đô thị cũng như ĐBSCL

Để giải quyết nhu cầu bức bách về ngập úng, lũ lụt và những thách thức từ BĐKH và từ thượng nguồn, Chính phủ đã phê duyệt nhiều DA quy hoạch như, QH tổng thể thủy lợi ĐBSCL trong điều kiện BĐKH và NBD đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2050, QH thủy lợi chống ngập úng cho Tp HCM, Kế hoạch ĐBSCL do các chuyên gia Hà Lan giúp đỡ thực hiện, cùng với nhiều chương trình nghiên cứu khác

Đặc biệt, để chống ngập cho các đô thị chúng ta vẫn tiếp tục lên đê bao nhỏ, VD: Quy hoạch thủy lợi chống ngập cho Tp Cần Thơ, Vĩnh Long và Cà Mau đã được phê duyệt và đang được thực hiện (Tp Cần Thơ), với tổng diện tích được bảo vệ là 66.800ha, chia thành 39 ô bao, được bảo vệ bởi 500 km đê bao và 47trạm bơm tiêu Việc quy hoạch chống úng ngập cục bộ cho các đô thị như Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc, Long An, Tiền Giang và tất cả các thị trấn nhỏ khác nằm ở vùng TGLX, vùng ĐTM, và nửa trên của vùng kẹp giữa sông Hậu, sông Tiền… sẽ được thực hiện trong thời gian tới

Theo cách tiếp cận này, chiều dài đê bao ở khu vực ĐBSCL sẽ lên trên 57.000

km trong thời gian tới; MN trong nội đồng sẽ tiếp tục gia tăng; đất ở ĐB tiếp tục lún sụt, lũ tiếp tục tăng thêm; MN biển tiếp tục dâng thêm, vấn đề đômino về đê bao tất yếu sẽ xảy ra, và sẽ tiếp tục theo chiều hướng bất lợi và trong một vòng luẩn quẩn không ngừng

2 Thách thức trong quản lý nước ở vùng ĐBSCL

Hệ thống hồ chứa thủy điện đã và sẽ xây dựng trong lưu vực sông Mekong là

144 hồ, lưu vực sông Đồng Nai là 22 hồ, với tổng dung tích chiếm gần 26% và 30% tổng lượng dòng chảy bình quân Lưu lượng dòng chảy trung bình mùa lũ sẽ giảm, những năm lũ trung bình và lũ nhỏ sẽ gần như không còn lũ, lưu lượng dòng chảy trung bình mùa kiệt sẽ tăng Nhưng lưu lượng dòng chảy lũ lớn nhất vẫn tăng cao, lưu lượng dòng chảy kiệt nhỏ nhất sẽ giảm, mùa kiệt sẽ đến sớm hơn và chế độ dòng chảy phụ thuộc nhiều vào chế độ vận hành các hồ chứa Lưu lượng tạo lòng sông thay đổi, cùng với sự sụt giảm khoảng 60-75% hàm lượng phù sa, đã, đang và sẽ tiếp tục gây ra xói lở ở ven sông, kênh rạch và ven biển một cách nghiêm trọng Môi trường nước suy thoái do hoạt động xây dựng, khai thác khoáng sản, khai thác dầu khí ở biển hồ là những thách thức lớn

Những trận mưa trên 100mm ở thành phố HCM đã thay đổi từ thập niên 50 với

0 trận, lên 1 trận ở thập niên 60, và tăng đột biến ở thập niên 2000 với 9 trận/11năm, những trận mưa có tổng lương 135mm đã xuất hiện và chắc còn tiếp tục gia tăng, sẽ gây ra úng ngập ngày càng nghiêm trọng ở các đô thị vùng ĐB và Tp HCM

Những tác động từ suy giảm diện tích rừng, từ BĐKH, sự gia tăng nhu cầu nước

ở các nước thượng nguồn và vấn đề quản lý hồ thủy điện có thể làm cho lưu lượng lũ lớn nhất trên sông Mekong gia tăng 10% (năm 2030) và 15% (năm 2050), dòng chảy kiệt có thể suy giảm khoảng 10% (năm 2030) và 20% (năm 2050) Tất yếu sẽ kéo theo

sự gia tăng đỉnh lũ lớn và sự xâm nhập mặn một cách nghiêm trọng ở ĐBSCL trong thời gian tới

Trang 25

Biển Hồ ở Campuchia với dung tích từ 2 tỷ đến 80 tỷ m3, có vai trò quan trọng trong việc tạo chế độ dòng chảy hài hòa ở hạ lưu Tuy nhiên, ý tưởng xây dựng công trình điều tiết trên sông Tonle Sap đã từng được nghiên cứu nhằm chống lũ lớn và dâng cao mực nước kiệt trong Biển Hồ Nếu công trình được xây dựng thì MN mùa lũ

về ĐBSCL tăng lên 50 cm/ngày, dòng chảy mùa kiệt sẽ suy giảm nghiêm trọng Vì vậy một kịch bản nghiên cứu trạng thái cực đoan về dòng chảy lũ và dòng chảy kiệt khi có công trình trên sông Tonle Sap kiểm soát Biển Hồ là một nội dung cần thiết để chủ động thích ứng

Quản lý, hạn chế việc khai thác nước ngầm ở đồng bằng và các đô thị, không chỉ đảm bảo cho phát triển bền vững mà nó đã trở thành vấn đề sống còn của đồng bằng và các đô thị Giải quyết cấp nước ngọt chủ động cho các vùng sản xuất ven biển

là nhiệm vụ cấp thiết, ở vùng xa nguồn cấp nước ngọt, thì việc nghiên cứu các gải pháp trữ nước là rất cần thiết

Vấn đề đô thị hoá và công nghiệp hoá tạo thêm sức ép về gia tăng dân số, vấn

đề môi trường, nhu cầu khai thác nước ngầm, lún sụt đất, kéo theo là úng ngập trong các thành phố gia tăng

Để bảo vệ tính mạng người dân, tạo tiền đề cho phát triển bền vững dải ven biển, rất cần có một chiến lược và giải pháp đồng bộ nhằm phòng tránh các thiên tai như NBD, bão lớn, siêu bão và sóng thần, kết hợp tạo được ranh mặn ngọt, xây dựng đường cấp và đường thoát nước riêng biệt, chủ động trong cấp nước mặn và cấp nước ngọt, tiến tới dừng việc khai thác nước ngầm-nguyên nhân chính gây lún sụt đất

3 Giải pháp quản lý nguồn nước và thiên tai ở khu vực ĐBSCL

3.1 Quản lý lũ

Để khắc phục tình trạng domino đã và đang xảy ra trong quản lý lũ, nhằm khai thác được các lợi ích của lũ, nhưng hạn chế được những thiệt hại do lũ lớn cực đoan

Để đáp ứng được yêu cầu trước mắt và lâu dài trong quản lý lũ, chống nước biển dâng,

kể cả đối với bài toán cực đoan, đề xuất chuyển đổi từ chiến lược “Sống chung với

lũ” sang chiến lược “Chủ động sống chung với lũ” “Chủ động sống chung với lũ”

là chủ động đưa lũ vào ruộng vườn để khai thác tất cả những lợi ích từ lũ mang lại như: vệ sinh đồng ruộng và cải đạo đất, lấy phù sa để bồi bổ đất và nâng cao mặt đất, lấy nước ngọt, bổ cập nước ngầm, giữ gìn sự đa dạng sinh học và khai thác nguồn lợi thủy sản (như sống chung với lũ) Nhưng với những trận lũ lớn cực đoan, đỉnh lũ trong đồng sẽ được kiểm soát để không gây ngập các cụm tuyến dân cư, các khu dân

cư, các thành phố, phá hoại các cơ sở hạ tầng, đe dọa đến tính mạng và tài sản của nhân dân Để kiểm soát đỉnh lũ lớn, chúng ta chỉ cần một hệ thống đê (sử dụng hệ thống đường giao thông hiện có) dọc hai sông lớn và một hệ thống cống, bao gồm cống và âu thuyền Cống được thiết kế rộng bằng mặt cắt kênh, được mở thường xuyên

để nước chảy và phục vụ giao thông thủy Cống chỉ làm nhiệm vụ kiểm soát đỉnh lũ với những trận lũ lớn cực đoan, hạn chế những trận lũ sớm để bảo vệ vụ lúa hè thu và đóng cống cuối vụ để tiêu nước trong đồng đối với những năm lũ muộn Âu thuyền phục vụ giao thông thủy khi cống làm nhiệm vụ kiểm soát lũ Như vậy chúng ta không cần tiếp tục xây dựng thêm đê để bảo vệ các thành phố, các làng ấp, không cần đê chống lũ hai vụ, không cần kinh phí để nâng cấp, duy tu bảo dưỡng hệ thống đê trong nội đồng và các cơ sở hạ tầng kỹ thuật sau mỗi năm lũ lớn; không cần xây dựng các

hệ thống trạm bơm tiêu cho các đô thị, các làng ấp, không cần bơm tiêu nước lũ vào

Trang 26

những năm lũ rút muộn Ngoài ra còn tăng lưu lượng mùa kiệt vào đồng và tăng mực nước lũ nhỏ thành lũ trung bình nhờ công tác quản lý khi có hệ thông cống ở hai đầu kênh

Theo chiến lược này thì tổng chiều dài đê ngăn lũ trước mắt và lâu dài chỉ luôn

là 1.200 km so với 57.000 km đê của phương án bao như hiện nay (và sẽ tăng lên 100.000 km nếu NBD 50 cm) Đối với kịch bản cực đoan khi Cămpuchia xây dựng công trình điều tiết MN ở Biển Hồ cũng không gây ảnh vì có thể chủ động thích ứng

Thực hiện xây dựng dự án đê biển Vũng Tàu-Gò Công (tuyến GC-CG) nhằm giải quyết triệt để vấn đề ngập úng do tổ hợp tác động của lũ thượng nguồn, mưa lớn

và triều cường, đồng thời cũng là công trình chống nước biển dâng, chống biến đổi khí hậu ở thế chủ động cho Tp HCM; Tăng cường khả năng thoát lũ, chống úng ngập, ngăn mặn cho vùng ĐTM, một phần đất thuộc tỉnh Long An, Bình Dương và Đồng Nai, với tổng diện tích hưởng lợi khoảng 1,1 triệu ha, và về lâu dài có thể thành hồ trữ ngọt cho toàn vùng thuộc lưu vực sông Tiền DA còn tạo ra quỹ đất và mặt nước rộng lớn (43.000 ha), tạo động lực phát triển cho vùng, cũng như bù vào vốn xây dựng công trình Dự án đê biển Vũng Tàu - Gò Công không chỉ là một dự án thủy lợi thuần túy

mà còn là một dự án phát triển kinh tế-xã hội trong vùng

3.2 Quản lý sạt lở bờ sông ven biển

Do thiếu hụt cát về đồng bằng, cùng với việc khai thác cát cho san lấp nền (chiếm khoảng 80% tổng nhu cầu cát), cát cho xây dựng Để giảm thiểu sạt lở, nhiều

đề tài nghiên cứu giải pháp công trình và phi công trình nhằm giảm thiểu sạt lở ven sông ven biển Các giải pháp này là cần thiết, tuy nhiên chúng ta không thể có đủ kinh phí để xây dựng kè dọc sông và ven biển, đồng thời cần hiểu rằng đó là những giải pháp bị động

Để chủ động giảm thiểu sạt lở, chống úng ngập do mưa lớn, không khai thác nước ngầm, ở các khu đô thị mới cần quy định dành khoảng 10% quỹ đất để đào hồ sinh thái nhằm: (1) Lấy đất để san lấp nền (giảm nhu cầu cát khai thác từ sông khoảng 60-80%); (2) Chống úng ngập do mưa lớn; (3) Cung cấp nước sinh hoạt nhằm giảm và không khai thác nước ngầm – nguyên nhân chính gây lún sụt đất; (4) Cải tạo vi khí hậu cho các khu đô thị Hồ sinh thái rồi tiến tới xây dựng các “đô thị và làng sinh thái”

là giải pháp đa mục tiêu tạo sự phát triển bền vững ĐBSCL

Các khu đô thị cũ có mật độ dân cư cao, việc tìm quỹ đất để xây dựng các hồ chứa là khó khả thi Vì vậy nghiên cứu giải pháp trữ nước mưa trong từng hộ dân là một nội dung cần thiết trong nghiên cứu giải pháp chống úng ngập cho các đô thị ở khu vực ĐBSCL

3.3 Quản lý xâm nhập mặn và thiên tai

Các cống lớn ngăn tất cả các cửa sông trừ sông Hậu, sẽ ngăn chặn việc xâm nhập mặn và trữ ngọt cho đồng bằng (trừ vùng Bán đảo Cà Mau) trong giai đoạn hiện nay

Đối với vùng Bán đảo Cà Mau, do chưa có nguồn cấp nước cho vùng nuôi trồng thủy sản ven biển và chất nước không tốt, nên người nuôi trồng đã khai thác nước ngầm quá mức, dẫn đến sự lún sụt đất rất nghiêm trọng (2-3 cm/năm) Vì vậy giải quyết vần đề cấp nước ngọt chủ động cho vùng nuôi trồng thủy sản là một nhu cầu cấp bách tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững vùng nuôi, đồng thời khắc phục được

Trang 27

nguyên nhân chính gây lún sụt đất Tuy nhiên việc cung cấp nước cho vùng Báo đảo

Cà Mau là việc khó khăn, ngoài việc nghiên cứu giải pháp cung cấp bằng động lực, chúng ta cần nghiên cứu giải pháp xây dựng hồ chứa nước ngọt ở vùng biển Kiên Giang

Trong kịch bản cực đoan, vấn đề xâm nhập mặn vào sâu trên sông Hậu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống, mà dòng chảy trong mùa kiệt không đủ cung cấp cho toàn đồng bằng Khi đó cần xem xét đến những hồ chứa lớn trữ nước ở

ĐB như hồ ven biển Kiên Giang, hồ VT-GC, các chuyên gia Đức cũng đã đề xuất như vậy

Chính phủ đã có QĐ về phân vùng bão, bão cấp 12-13 có thể vào ĐBSCL Với cấp bão này đổ bộ vào ĐBSCL (một đồng bằng trũng thấp và bằng phẳng) gây ra hiện tương nước dâng cao 1,5-2m vào sâu trong đất liền tới 6-10 km và sẽ gây ra những thiệt hại không lường Trong điều kiện BĐKH những trận bão lớn hơn và siêu bão có thể xuất hiện Sóng thần cũng là một dạng thiên tai không được loại trừ Việt Nam Vì vậy cần có các giải pháp bền vững nhằm giảm thiểu thiệt hại về người và tài sản của người dân Để quản lý, giảm thiểu thiệt hai do NBD, nước dâng do bão lớn, siêu bão, sóng thần vào ĐBSCL, ý tưởng hình thành tuyến đê biển do theo tuyến đường ven biển khá thuyết phục Tuyến đê biển (thứ 2), ngoài nhiệm vụ ngăn chặn những nguy cơ

do NBD, ngăn chặn nước dâng do bão, siêu bão và sóng thần, còn có nhiệm vụ phân ranh mặn ngọt và kết hợp xây dựng các cơ sở hạ tầng khác Phân ranh mặn ngọt, hướng tới một vùng nuôi trồng thủy sản tập trung, chuyên canh theo hướng nuôi công nghiệp là một nhu cầu cấp thiết trong vùng

Vị trí tuyến đê biển (thứ 2) được xác định dựa vào tiêu chí: Phải đảm bảo tính mạng, tài sản và sản xuất của người dân ở bên trong tuyến đê (thứ 2), trước nước dâng

do bão lớn cấp 12-13; là nơi có thể phân được ranh mặn ngọt; phù hợp với các giải pháp cấp ngọt, cấp mặn và thoát nước để nuôi trồng thủy sản bền vững; phù hợp diện tích quy hoạch nuôi trồng thủy sản của Bộ NN&PTNT và các địa phương trong vùng; phù hợp và phối hợp với việc xây dựng các cơ sở hạ tầng khác ở trong vùng Với tiêu chí trên, tuyến đê biển (thứ 2) nên bố trí cách xa tuyến đê biển số 1với khoảng cách 5-6,5km (ở biển Đông có thể đến 9-10 km)

Bên trong tuyến đê biển (thứ 2), là nơi quy hoạch bố trí dân cư trước mắt và lâu dài Giữa hai tuyến đê biển là vùng nuôi trồng thủy sản tập trung, theo hướng công nghiệp Nước ngọt cung cấp vùng nuôi trồng thủy sản được lấy từ tuyến đê (thứ 2), nước mặn được lấy từ biển

Bên ngoài, trên và sát phía trong tuyến đê biển hiện nay cần bố trí diện tích trồng rừng nhằm phòng tránh thiên tai, đa dạng sinh học, nuôi trồng thuỷ sản tự nhiên

Để đồng bộ và thống nhất trong quản lý nước trên toàn đồng bằng, đề nghị Chính phủ cho nghiên cứu thành lập một số Công ty Quản lý và Khai thác công trình thủy lợi liên vùng như: Vùng Tứ Giác Long Xuyên, Vùng ĐTM, Vùng Bán đảo Cà Mau, Vùng Cửa sông và ven biển

Trang 28

MỘT SỐ TRAO ĐỔI BÀN VỀ CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG THÍCH ỨNG VỚI BIẾN

ĐỔI KHÍ HẬU VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

TS Hoàng Ngọc Phong Nguyên Phó Viện trưởng – Viện Chiến lược phát triển- Bộ Kế hoạch và Đầu tư

PGĐ Trung tâm TV PTKT- Hội Khoa học kinh tế Việt Nam

TÓM TẮT

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long có DTTN khoảng 40.604 km2 với trên 700

km bờ biển, dân số 17,5 triệu người Vùng ĐBSCL đóng góp khoảng 18% GDP, với 90% lượng gạo xuất khẩu, gần 60% xuất khẩu thủy sản và 70% sản lượng trái cây của

cả nước.Thành tựu phát triển kinh tế-xã hội đạt được thời gian qua là rất to lớn,

nhưng đang phải trả giá do n hững hệ lụy từ khai thác của con người và của các quy hoạch"trái tự nhiên" Tình hình mới đòi hỏi phải thích ứng chuyển đổi mô hình tìmhướng ra cho vùng ĐBSCL để phát triển nhanh, bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu vẫn đang là câu hỏi lớn ?

1 Những thách thức lớn đặt ra đối với vùng ĐBSCL trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng

+ Là một trong một trong ba châu thổ lớn của thế giới bị đe dọa nghiêm trọng nhất bởi biến đổi khí hậu;

+ Thách thức về việc khai thác tài nguyên nước trên thượng nguồn châu thổ, trong đó có việc chuyển nước sang lưu vực sông khác, trong khi nhu cầu về nước dưới

hạ lưu vùng đồng bằng ngày càng tăng;

+ Thách thức trong phát triển nông nghiệp vẫn thiên về phát triển theo chiều rộng, coi trọng số lượng hơn là chất lượng, dẫn đến lãng phí tài nguyên;

+ Năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực thấp, mức độ cơ giới hóa và mạng kết cấu hạ tầng kinh tế-kỹ thuật phát triển chưa tương xứng, thiếu cơ chế phối hợp liên kết phát triển vùng; thiếu liên kết chuỗi…nên phần lớn giá trị các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực thường thấp, sức cạnh tranh yếu

Với các thách thức nêu trên, đặc biêt là thách thức từ hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa kinh tế, từ biến đổi khí hậu buộc nền kinh tế vùng ĐBSCL phải có sức

Trang 29

cạnh tranh cao hơn và phải có chỗ đứng trong chuỗi giá trị toàn cầu, thích ứng với diễn biến của khí hậu, cạnh tranh toàn cầu và các lợi thế mới của cách mạng công nghiệp 4.0

2 Định hướng các giải pháp chuyển đổi mô hình phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu

2 1 Đổi mới tư duy, chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp và phát triển bền vững toàn vùng

+ Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng cần thay đổi tư duy về an ninh

lương thực, về nông nghiệp là cứ tập trung làm lúa gạo mà hướng đến một nền

nông nghiệp có năng suất, chất lượng và giá trị cao Nên giảm diện tích đất canh tác lúa ở mức hợp lý, không đặt mục tiêu trồng lúa để xuất khẩu với giá rẻ, nông dân không có lãi và Nhà nước lại phải đầu tư lớn

+ Nên chọn mô hình thích ứng theo tự nhiên Nếu việc thích nghi với tự nhiên

dễ dàng hơn so với việc làm trái quy luật tự nhiên, tại sao không chọn mô hình nông nghiệp thích ứng với tự nhiên? Ứng vạn biến, vùng ĐBSCL sẽ vượt qua để thích ưng

và phát triển bền vững theo phương châm “sống chung với mặn, hạn như đã từng sống

chung với lũ ” phù hợp với từng tiểu vùng, từng vị trí địa lý, từng điều kiện khu vực dân cư

2.2 Phải xây dựng chiến lược và phương án sử dụng tổng hợp, tiết kiệm NGUỒN NƯỚC cho toàn vùng Chiến lược đó phải thích ứng với biến đổi khí hậu nói

chung, tác động từ thượng lưu và từ biển, cùng sự tác động đa chiều của đô thị hóa, hiện đại hóa cần có nghiên cứu cụ thể và ở tầm nhìn dài hạn; và cần xây dựng một số kịch bản cơ bản để ứng phó, thích nghi

2.3 Hơn bao giờ, về cơ chế, sự liên kết chuỗi, liên kết vùng, phát triển kinh tế vùng là bức thiết.Thực tế hiện nay có khá nhiều mô hình liên kết để nông dân có thể cải thiện thu nhập tốt hơn trồng lúa, song vấn đề là lắp các mô hình này vào những vùng đất nào, tạo điều kiện ra sao để nó chạy và mang lại lợi ích thật sự cho nông dân Vướng mắc lớn nhất cho vấn đề này, chính là doanh nghiệp chưa tham gia đầu tư mạnh vào nông nghiệp Hiện nay, doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp chỉ chiếm dưới 1% tổng vốn mà họ đã đầu tư Điều này có thể xem là một thất bại chính sách về liên kết chuỗi giữa doanh nghiệp với nông nghiệp, nông dân Chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, đặc biệt ở những vùng trồng lúa kém hiệu quả, “nhạy cảm” với biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn…đòi hỏi phải có cơ chế liên kết hợp tác 4 nhà thực sự hiệu quả Nếu không có doanh nghiệp tham gia là rất khó thành công Nhà nước cần có chính sách thế nào để thúc đẩy và khuyến khích đầu tư của doanh nghiệp vào nông nghiệp tăng lên trong các năm tới Trước hết là liên kết trong nông nghiệp, tập trung 3 sản phẩm chủ lực: lúa gạo, trái cây, thủy sản (tôm, cá tra) và liên kết trong đào tạo nghề cho nông dân

2.4 Xây dựng hạ tầng kết nối đồng bộ với các công trình mang tính động lực

và mở lối ra biển lớn cho vùng theo hướng đồng bộ, đa mục tiêu đang là đòi hỏi bức

thiết của ĐBSCL

2.5 Đầu tư phát triển nguồn nhân lực phải giải quyết được tình trạng đồng bằng đang là vùng trũng về giáo dục, đào tạo và phát triển NNL

Trang 30

Ứng phó với BĐKH và NBD mang tính quốc gia, khu vực, toàn cầu và phải được coi là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và mọi người dân được tiến hành dựa trên nguyên tắc phát triển bền vững, tổng hợp, ngành, liên ngành, vùng, liên vùng Việc này đang chờ đợi sự cống hiến của các nhà khoa học, các chuyên gia, sự vào cuộc quyết liệt của các Bộ ngành, các địa phương để định hình chuyển đổi mô hình phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu với tầm nhìn đến năm 2100

NỘI DUNG

Những khái quát lớn

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long có DTTN khoảng 40.604 km2 với trên 700

km bờ biển và khoảng 330 km đường biên giới Việt Nam – Campuchia Là vùng đất giàu tiềm năng phát triển kinh tế, là vùng sản xuất nông nghiệp và thủy sản lớn nhất cả nước, có vị trí đặc biệt trong chiến lược phát triển kinh tế–xã hội, an ninh quốc phòng Với dân số 17,5 triệu người, vùng ĐBSCL đóng góp khoảng 18% GDP, với 90% lượng gạo xuất khẩu, gần 60% xuất khẩu thủy sản và khoảng 70% sản lượng trái cây của cả nước

Các số liệu thống kê cho thấy, trong nhiều năm qua, kinh tế vùng ĐBSCL đã có mức tăng trưởng cao hơn trung bình cả nước (7,7% giai đoạn 2001-2005; 7,5% giai đoạn 2006-2010; giai đoạn 2011-2015 khoảng 6,5%); cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tiến bộ; hệ thống kết cấu hạ tầng bước đầu được đầu tư nâng cấp, đáp ứng tốt hơn cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội…

Mục tiêu là nhanh chóng xây dựng vùng ĐBSCL trở thành vùng trọng điểm phát triển kinh tế của cả nước với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao; là địa bàn cầu nối để chủ động hội nhập, giao thương, hợp tác kinh tế có hiệu quả với các nước trong khu vực…đã được đặt ra từ chục năm trước trong các QH phát triển KT-XH của vùng đến

2020, tầm nhìn 2030; trong điều chỉnh QH xây dựng vùng (2017); trong QH thuỷ lợi, giao thông, nông nghiệp…cũng như trong các Văn kiện của Nghị quyết 21/TU về phát triển KT-XH và bảo đảm QP-AN Tương tự, các khâu đột phá, các trọng điểm phát triển cũng được đề cập Chẳng hạn, đầu tư xây dựng mạng lưới các tuyến trục giao thông hiện đại, trong đó có sân bay Dương Tơ (Phú Quốc), hay mở rộng sân bay quốc

tế Trà Nóc (Cần Thơ); hình thành vùng KTTĐ vùng ĐBSCL để ưu tiên phát triển tạo

sự lan tỏa…Tất cả các quy hoạch, kế hoạch đặt ra khá toàn diện, bao gồm việc định hướng phát triển từng tiểu vùng, từng ngành và lĩnh vực; hệ thống các khu, cụm công nghiệp; các tuyến điểm du lịch…và tất nhiên bao gồm cả việc phát triển các lĩnh vực

xã hội, như giáo dục-đào tạo, KH&CN…Cùng với đó, là chiến lược phát triển nguồn nhân lực; các chính sách hợp tác liên kết vùng, hợp tác với các vùng và các nước trong khu vực…;và thậm chí cả việc nghiên cứu, đề xuất các giải pháp chiến lược ứng phó đối với biến đổi khí hậu nhằm phát triển bền vững vùng ĐBSCL

Tuy vậy, vấn đề đặt ra là, làm sao có thể thực hiện thành công các chiến lươc, quy hoạch và kế hoạch đó ? có thể khẳng định rằng đến nay, vấn đề phát triển nhanh, tìm lối ra cho vùng ĐBSCL để phát triển nhanh, bền vững thích ứng với biến đổi khí

hậu vẫn đang còn là câu hỏi lớn ?

1 Những hệ lụy từ khai thác tự nhiên không theo quy hoạch

Trang 31

-Đầu những năm 80 của thế kỷ trước, chúng ta bắt tay vào quy hoạch khai

thác ĐBSCL Trong đó, đột phá đầu tiên là thau chua và mặn để khai thác 3 tiểu vùng đất rộng người thưa ở vùng Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên và bán đảo Cà Mau Đã có hơn 2 vạn km kênh các loại được đào để thau chua, rửa mặn nhằm đưa phù sa từ sông Mekong vào sâu trong Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên Đã xây dựng rất nhiều cống ngăn mặn, nhằm giữ ngọt và “ngọt hóa” những vùng bị nhiễm mặn ở các vùng Gò Công Đông-Gò Công Tây, Nam Măng Thít, sông Ba Lai, vùng bán đảo Cà Mau,…Mục tiêu chính là để tăng diện tích canh tác lúa hai vụ ở mọi nơi nào có thể Ở các tỉnh từ An Giang, Đồng Tháp, còn xây dựng đê bao vượt lũ để làm lúa 3 vụ Tổng diện tích lúa 3 vụ có đến trên 300.000 ha Vùng ĐBSCL đã làm tốt chức năng là vùng sản xuất lúa lớn nhất cả nước, chức năng an ninh lương thực đã làm tốt và giữ vững đến nay Tuy nhiên, vì chạy theo sản xuất lương thực nên đã gây hệ quả xấu khi thị trường quốc tế biến động từ một số thị trường lớn và trước tình trạng biến đổi khí hậu, nước biển dâng, làm nẩy sinh các mâu thuẫn chưa được xử lý đúng mức ở các địa phương và cả chính sách chung của cả nước (như giữa 3,8 triệu ha trồng lúa)

-Đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, kể cả thủy sản biển phát triển rất mạnh,

không theo quy hoạch, diện tích nuôi tôm tăng nhanh từng ngày Quy hoạch diện tích nuôi tôm cho 5 năm đã được các tỉnh ven biển từ Bến Tre đến Kiên Giang thực hiện chỉ từ một đến hai năm Có nhiều cống ngăn mặn trong vùng ngọt hóa ở bán đảo Cà Mau được mở ra (thậm chí bị phá đi) để cho nước mặn vào các ao tôm Thiếu nước ngọt để giữ độ mặn trong ao nuôi tôm, người dân laị tiếp tục khai thác nước ngầm mặn

để đảm bảo độ mặn trong ao cho tôm phát triển Việc cạnh tranh chính sách "tôm, lúa" chưa được xử lý thỏa đáng, cũng đã gây ảnh hưởng đến lợi ích lâu dài

- Vùng ĐBSCL đã trở thành vựa lúa, tôm, cá, muôi với các miệt vườn hoa quả cung cấp sinh kế không chỉ cho người dân trong và ngoài vùng mà còn xuất khẩu lớn

Hệ quả là tuy có tăng thêm thu nhập nhưng đánh đổi bằng chế độ thủy văn bị xáo trộn bên ngoài đê bao Bên trong đê thì độ phì của đất giảm sút, môi trường bị suy thoái Diện tích lớn rừng tràm bị mất ở vùng Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, rừng U Minh Hạ và U Minh Thượng.Hạn hán, nước mặn xâm nhập trên diện rộng lại trở thành vấn đề nóng thường xuyên đối ĐBSCL

- Việc khai thác tài nguyên một cách vô ý thức và những mô hình phát triển nông nghiệp đang làm nghèo ĐBSCL và gây cản trở việc ứng phó với BĐKH GS.TSKH.Nguyễn Ngọc Trân cho hay“Mô hình phát triển nông nghiệp không đúng cách đang gây kiệt quệ tài nguyên đất, lãng phí tài nguyên nước Khai thác tài nguyên bất hợp lý sẽ dẫn đến tình trạng mất rừng ngập mặn, mất rừng tràm, đa dạng sinh học, chuỗi dinh dưỡng và môi trường vùng ngập nước trở nên nghèo nàn Tình trạng khai thác cát và mạch nước ngầm một cách bừa bãi dẫn đến tình trạng thâm hụt cán cân trầm tích và dễ dẫn đến sụt lún”

-Cách đây cũng đã nhiều năm, có ý kiến cho rằng, chỉ cần vài cây cầu lớn như

Mỹ Thuận, Cần Thơ, Rạch Miễu…và một số tuyến hạ tầng giao thông kết nối huyết mạch khác…,cùng với nó là vài triệu tấn lúa gạo xuất khẩu sẽ là bệ phóng để ĐBSCL

cất cánh, nhưng thực tế hoàn toàn chưa đủ, còn rất nhiều điều kiện cần và đủ để

ĐBSCL có thể phát triển bền vững, xứng tầm

Trang 32

-Các cụm dân cư vượt lũ, các khu đô thị, mạng lưới các khu, cụm công nghiệp

và việc thực hiện quy hoạch toàn vùng đang gây ra các mâu thuẫn xung đột đòi hỏi phải có cách xử lý dài hạn hơn

Nhưng phân tích trên cho thấy, bên cạnh thành tích đạt được những năm qua

cũng đã để lại một số di hại ngày càng lớn do thiếu tầm nhìn Thiết nghĩ, cần hơn hết

là một quy hoạch tổng thể tích hợp, với các định hướng mang tính chiến lược với tầm nhìn dài hạn, các kế hoạch cụ thể, rõ ràng, để có thể thực sự mở lối ra cho vùng ĐBSCL vốn lâu nay vẫn được đánh giá có nhiều tiềm năng để phát triển

2 Những thách thức lớn đặt ra đối với vùng ĐBSCL trong điều kiện biên đổi khí hậu và nước biển dâng

+ Dự báo về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu dẫn đến nước biển dâng cho thấy

ĐBSCL là một trong một trong ba châu thổ lớn của thế giới bị đe dọa nghiêm trọng nhất bởi biến đổi khí hậu Trái đất càng ấm lên, băng tan nhanh, ĐBSCL càng phải đối

đầu với ngập, lún chìm, bờ biển bị xâm thực và mặn ngày càng xâm nhập vào sâu

+ Thách thức về việc khai thác tài nguyên nước trên thượng nguồn châu thổ,

trong đó có việc chuyển nước sang lưu vực sông khác, và nhất là việc khai thác thủy

điện trên dòng chính sông Mekong từ cao nguyên Tây Tạng trở xuống trong khi nhu cầu về nước dưới hạ lưu ngày càng tăng Thêm vào đó, chính sách khai thác sông Mekong còn thiếu sự phối hợp từ các nước thượng nguồn cũng làm cho các chính sách khó tổ chức thực hiện có hiệu quả trong thực tế

+ Thách thức trong nội tại vùng, ngoài việc mất rừng ngập mặn, rừng tràm, còn

là việc khai thác cát quá mức trên sông Tiền, sông Hậu, làm trầm trọng thêm sự thâm hụt cán cân trầm tích, gây lún sụt, sạt lở Phát triển nông nghiệp vẫn thiên về chiều

rộng hơn chiều sâu, chú trọng số lượng hơn chất lượng, dẫn đến lãng phí tài nguyên,

đặc biệt tài nguyên đất và tài nguyên nước

+ Năng suất lao động, chất lượng nguồn nhân lực thấp, mức độ cơ giới hóa và

mạng lưới kết cấu hạ tầng kinh tế và kỹ thuật chưa tương xứng; thiếu một cơ chế liên kết phát triển vùng, liên kết chuỗi nên giá trị các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực thường thấp, sức cạnh tranh yếu

+ Là một vùng hạ lưu châu thổ trẻ, rất dễ mẫn cảm với các tác động từ bên

ngoài và từ bên trong ĐBSCL đang chịu tác động kép từ biến đổi khí hậu và từ việc sử

dụng nguồn nước ở thượng nguồn

Với các thách thức nêu trên, đặc biêt là thách thức từ hội nhập quốc tế và toàn

cầu hóa kinh tế, từ biến đổi khí hậu buộc nền kinh tế vùng ĐBSCL phải có sức cạnh tranh cao hơn và phải có chỗ đứng trong chuỗi giá trị toàn cầu, thích ứng với diễn biến của khí hậu, cạnh tranh toàn cầu và các lợi thế mới của cách mạng công nghiệp 4.0

3 Định hình chuyển đổi mô hình phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu

Long thích ứng với biến đổi khí hậu

3 1 Đổi mới tư duy, chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp và phát triển bền vững toàn vùng

+ Cần đổi ngay tư duyvề nông nghiệp là cứ tập trung làm lúa gạo

Trang 33

-Tại sao chúng ta phải giữ trọng trách nặng nề để đảm bảo an ninh lương thực, trong khi ai cũng biết trồng lúa không thể giúp nông dân làm giàu? Tại sao chúng ta phải trồng những giống lúa chất lượng thấp để rồi đem xuất khẩu với giá rẻ cho người nghèo trong hơn một phần tư thế kỷ qua với vị trí số 2, số 3 thế giới Nhiều người còn

cho đó là góp phần vào nguồn “an ninh lương thực thế giới” ? Việt Nam nói chung và

ĐBSCL nói riêng cần thay đổi tư duy hướng đến một nền nông nghiệp có năng suất, chất lượng cao, giá trị cao và được canh tác trên các cánh đồng mẫu lớn Chuyển dịch

mô hình sản xuất là làm cho thu nhập người dân tăng lên, rút ngắn khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, nhưng phải “bảo đảm an ninh lương thực quốc gia”, đó là yêu cầu “bất biến” Trong đó, riêng các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp và Long An có diện tích và sản lượng lúa trên 60% toàn vùng ĐBSCL Đây là vùng chủ yếu để giữ và có khả năng giữ cái “bất biến” trước biến đổi khí hậu - nước biển dâng

-Thực tế, ở vùng ĐBSCL chỉ cần đảm bảo nước ngọt cho khoảng hơn 1 triệu hécta chuyên canh lúa năng suất cao, chất lượng cao thừa đủ để người dân sống tốt (hiện đang quy hoạch ở vùng ĐBSCL đất chuyên trồng lúa khoảng 1,7 triệu ha)24 Đây

là con đường công nghiệp hóa nông nghiệp Còn khoảng hơn 500 ngàn hécta nhiễm mặn có thể trồng lúa mùa đặc sản và tôm một vụ, sẽ có giá trị cao hơn Việc đảm bảo nước ngọt cho khoảng 1 triệu hécta cũng sẽ nhẹ nhàng hơn so với việc cứu thêm 500 ngàn hécta nhiễm mặn Với 500 ngàn hécta nhiễm mặn, khi đã thay đổi cơ cấu sản xuất, chỉ cần cung cấp nước ngọt không lớn để pha loãng và nuôi trồng thủy sản Nông dân yên tâm có nước ngọt để sản xuất (trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản) và người dân cả vùng an tâm sinh sống Công nghiệp chế biến nông thủy sản tại địa phương được đảm bảo nguồn nước sạch, kể cả sử dụng nước tuần hoàn Cũng từ đây

sẽ hình thành các vùng sinh thái và du lịch miệt vườn đa dạng, trù phú, thích ứng với vùng sông nước có chế độ nước lên xuống đa dạng, được thích ứng Đây là một việc

cần được làm ngay

+ Cần có chiến lược sử dụng tổng hợp nguồn nước và bảo tồn đa da ̣ng sinh ho ̣c vùng ĐBSCL

- Chiến lược sử dụng nước phụ thuộc rất lớn từ nguồn nước thượng nguồn sông

Mê Công Vì vậy, các nước (6 quốc gia) phải xây dựng một cơ chế sử dụng nguồn nước, trong đó quyền và lợi ích của mỗi quốc gia phải đi đôi với trách nhiệm và nghĩa

vụ đối với cả lưu vực, trên tinh thần hợp tác để cùng phát triển Việt Nam là vùng lãnh

thổ thuộc hạ lưu Mekong, do đó chịu tác động nhiều và đa chiều không chỉ điều kiện

thiên nhiên mà còn cả bởi các chính sách của các nước thượng lưu sông Mekong Do

đó, rất cần có một số kịch bản cơ bản để ứng phó, thích nghi

24Về tổng thể, Bộ NN&PTNT cũng đã phê duyệt quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp trong điều kiện biến đổi khí hậu đến năm 2020, tầm nhìn năm 2030 ở vùng ĐBSCL Đây sẽ là khung hành động để phát huy lợi thế của vùng, tiểu vùng và từng địa phương để phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, bền vững, ứng phó hiệu quả với BĐKH Theo đó, đến năm 2020, quy mô diện tích đất nông nghiệp vùng ĐBSCL là 3,25 triệu ha, trong đó đất lúa 1,82 triệu ha với đất chuyên trồng lúa là 1,7 triệu ha, luân canh lúa – màu 185.000 ha và lúa – thủy sản 240.000 ha Diện tích trồng cây lâu năm 400.000 ha, trong đó vùng trồng cây ăn quả tập trung 185.000 ha gồm: cam, quýt, bưởi, xoài, sầu riêng, măng cụt, vú sữa, thanh long, nhãn, chôm chôm… Đất lâm nghiệp trên 330.000 ha, với rừng phòng hộ và rừng đặc dụng tổng diện tích gần 172.000 ha Đất nuôi trồng thủy sản gần 543.000 ha, trong đó diện tích nuôi nước mặn, lợ hơn 507.000 ha và nước ngọt 35.600 ha, đất sản xuất muối 4.600 ha Dự báo đến năm 2030, diện tích đất nông nghiệp bị ngập do nước biển dâng ở ĐBSCL là hơn 30.000 ha, diện tích đất lúa sẽ giảm khoảng 15.000 ha như vậy sẽ tăng diện tích đất nuôi trồng thủy sản lên 558.000 ha

Ngày đăng: 12/09/2019, 10:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w