Về công tác nghiên cứu khoa học... Vị trí và chức năng.
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là báo cáo tổng hợp thực tập tốt nghiệp của riêng tôi, nộidung nghiên cứu, phân tích, đánh giá, các số liệu và kết quả thể hiện trong báo cáo lànhững số liệu trung thực, được tổng hợp từ tài liệu tham khảo thu thập được trong quátrình thực tập tại Ban chính sách phát triển nông thôn và một số tài liệu khác Tôi đã hoànthành báo cáo tổng hợp thực tập tốt nghiệp dưới dự hướng dẫn của Thạc sĩ Lưu Đức Khải– Trưởng Ban chính sách phát triển nông thôn, Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trungương
Tôi xin chịu trách nhiệm trước Khoa Kinh tế và Quản lý và giảng viên hướng dẫnvề sự cam đoan này
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương là Viện cấp Quốc gia trực thuộc BộKế hoạch và Đầu tư
Với nhiệm vụ chính là tổng kết tình hình thực tế nghiên cứu lý luận, tìm ra nhữngđịnh hướng và giải pháp phá bỏ những cái lỗi thời của cơ chế quản lý cũ, xây dựng cơchế quản lý mới, phù hợp với tình hình thực tế của đất nước và xu thế chung của thời đạinhằm từng bước thay đổi tinh thế, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế đất nước.Ngoài ra Viện còn có nhiệm vụ tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trung ương, tỉnh vàhuyện nhằm trang bị cho số cán bộ nàu những kiến thức mới về quản lý kinh tế, truyềnđạt những tư tưởng mới của Đảng và Nhà nước về đổi mới kinh tế và quản lý kinh tế
Mặc dù chỉ trong một thời gian ngắn thực tập tại Viện nghiên cứu quản lý kinh tếTrung ương, với sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô chú và anh chị trong Viện, đặc biệt làTh.s Lưu Đức Khải – Trưởng Ban chính sách phát triển nông thôn em đã được tiếp cận,tìm hiểu về chức năng nhiệm vụ cũng như cơ cấu tổ chức và tình hình hoạt động của Banchính sách phát triển nông thôn Trên cơ sở đó, em xin trình bày báo cáo thực tập với bốcục như sau:
Chương I: Tổng quan về Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương
Chương II: Ban chính sách phát triển nông thôn
Chương III: Thành tựu đạt được và những hạn chế còn tồn đọng của Viện Nghiên cứuQuản lý kinh tế Trung ương
Mục tiêu báo cáo:
Trên cơ sở lý thuyết và thực tiễn thu thập được trong quá trình thực tạp tại Việnnghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương, bài Báo cáo tổng hợp lại thực trạng hoạt độngcủa Ban chính sách phát triểnnông thôn Từ đó đưa ra được các giải pháp, khuyến nghịnhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban, tạo dựng môi trường kinh doanh… và nângcao năng lực cạnh tranh Quốc gia trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngay càng sâurộng
Nhiệm vụ báo cáo:
- Hệ thống hóa các lý luận cơ bản liên quan đến cơ sở thực tập
- Đánh giá thực trạng hoạt động của Ban chính sách phát triển nông thôn nói riêng vàViện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương nói chung
- Đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban chính sách pháttriển nông thôn
Trang 4- Từ các kiến thức và thông tin thu thập được trong quá trình thực tập nêu ra định hướngnghiên cứu và đề cương sơ bộ cho khóa luận tốt nghiệp.
Trong một khoảng thời gian ngăn thực tập, báo cáo của em có thể không tránh khỏinhững thiếu sót nhất định Em hy vọng sẽ nhận được những ý kiến đóng góp tích cực củaquý thầy cô để hoàn thiện báo cáo và khóa luận của em sau này
Em xin chân thành cảm ơn !
Trang 5CHƯƠNG I.TỔNG QUAN VỀ VIỆN NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ KINH TẾ TRUNG
ƯƠNG (CIEM) 1.Quá trình hình thành và phát triển của Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương.
Sau khi đất nước thống nhất nền kinh tế nước ta phải đối mặt với nhiều khó khănmới trong khi nhiều tiềm năng chưa được phát huy, sản xuất thì trì trệ, đình đốn; đầu tưgiảm mạnh; hàng hóa khan hiếm; làm phát ngày một gia tăng; nhiều lao động không cóviệc làm hoặc thiếu việc làm; đời sống của nhân dân không được cải thiện, thậm chí còncó mặt giảm sút; tình hình xã hội có nhiều diễn biến phức tạp… Nền kinh tế thiếu độnglực phát triển; một bộ phận không nhỏ người lao động và cán bộ quản lý không quan tâmđến việc phát triển sản xuất, kinh doanh nên năng suất lao dộng vốn đã thấp nay lại cànggiảm sút, làm cho nền kinh tế ngày càng suy thoái
Trong điều kiện đó, Đại hội Đảng lần thứ IV đã đề ra nhiệm vụ: “Tổ chức lại sảnxuất xã hội trong phạm vi cả nước, cải tiến phương thức quản lý kinh tế, với trọng tâm làkế hoạch hóa toàn bộ bộ máy quản lý kinh tế …”, thực hiện một sự chuyển biến sâu sắctrong tổ chức và quản lý kinh tế trong cả nước Thực hiện chủ trương của Đại hội, Trungương Đảng và Chính phủ thấy cần phải có một cơ quan chuyên nghiên cứu, nhận xét,đánh giá khách quan quá trình xây dựng và phát triển kinh tế và kiến nghị các biện phápkhả thi, hữu hiệu nhằm quản lý ngày một tốt hơn nền kinh tế
Từ yêu cầu trên, Trung ương Đảng và chính phủ đã thành lập một số nhóm, tổgồm những cán bộ biệt phái từ các Bộ, ngành và sau này là Ban nghiên cứu cải tiến quảnlý kinh tế trực thuộc Ban Bí thư và Chính phủ Do đòi hỏi cấp thiết phải nghiên cứuphương thức quản lý kinh tế mới, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương được thànhlập trên cơ sở Ban nghiên cứu cải tiến quản lý kinh tế
Căn cứ vào Quyết định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Chính phủ đãban hành Nghị định số 111 - CP ngày 18/05/1978 quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổchức của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW
Năm 1992, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 07-CP ngày 27/10/1992giao cho Ủy ban Kế hoạch Nhà nước (nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư) phụ trách Việcnghiên cứu quản lý kinh tế TW
Ngày 29/11/1995 Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành quyết định số BKH/TCCB quy đinh chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Viện nghiên cứu quảnlý kinh tế trung ương, Viện được coi là cơ quan tương đương Tổng cục loại I và có tàikhoản cấp I
Trang 617-Năm 2003, theo quyết định số 233/2003/QĐ-TTg ngày 13/11/2003 cảu Thủ tướngChính phủ, Viện nghiên cứu quả lý kinh tế trung ương là Viện cấp quốc gia, trực thuộcBộ Kế hoạch và Đầu tư.
Sau đây là những chặng đường phát triển của Viện từ kh thành lập cho đến nay:
Giai đoạn từ khi thành lập đến 1998.
Ngày 18/05/1978 Chủ tịch ủy ban Thường vụ Quốc hội khoa VI, phê chuẩn việcthành lập Viện nghiên cứu quả lý kinh tế Trung ương, cơ quan ngang bộ của Hội đồngChính phủ theo Nghị định số 111/CP
Trong 30 năm qua đã có nhiều diễn biến quan trọng trong đời sống kinh tế xã hộinước ta, đó là thời kỳ quan trọng đặt nền móng và kiếm tìm những kinh nghiệm cho sựchuyển đổi có tính chất cách mạng của nền kinh tế Việt Nam, thời ý đổi mới toàn diệncủa đất nước làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh
Ngay sau khu miền Bắc được giải phóng Đảng đã tập trung sức lãnh đạo khôiphục, cải tạo nền kinh tế và bắt đầu công cuộc xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xãhôi thông qua kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965) Thành tựu đạt được là rất tolớn, song từ cuối năm 1965 chiến tranh lan rộng ra miền Bắc đã buộc chúng ta phảichuyển hướng vừa phát triển kinh tế vừa chiến đấu bảo vệ miền Bắc XHCN, chi viện chotiền tuyến lớn, giải phóng miền nam thống nhất đất nước Mặc dù đạt được những thànhtựu to lớn, nhưng ngay từ giữa nhưng năm 60 chúng ta đã nhận thấy những vướng mắc trìtrệ trong quản lý hành chính, cung cấp vè đề ra nhiều phong trào như Ba xây, Ba chống,cải tiến quản lý HTX nông nghiệp vòng I, vòng II,… Nhà nước cũng đã mời các chuyêngia cố vấn cảu CHDC Đức sang giúp đỡ, nhằm khắc phục những vướng mắc, trì trệ trongquản lý Tuy nhiên do điều kiện khách quan và chủ quan, công cuộc cải cách kinh tế đãkhông đạt được những tiến bộ mong muốn và cần thiết
Sau khi miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, với khí thế hào hùng củacả dân tộc, cả nước bước vào xây dựng XHCN với kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976 –1980), nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó tình hình kinh tế lại lâm vào tình thế khókhăn, bế tắc Do vậy nhiệm vụ nghiên cứu quản lý kinh tế đã được Đảng và Nhà nước đặtra
Đại hội IV đã đề ra một nhiệm vụ “…Tổ chức lại nền sản xuất xã hội trong phạm
vi cả nước, cải tiến phương thức quản lý kế hoạch hóa làm chính, kiện toàn bộ máy quảnlý kinh tế…”, “…thực hiện một sự chuyến biến sâu sắc trong tổ chức và quản lý kinh tếtrong cả nước…” Thực hiện chủ chương của Đại hội trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng vàphát triển kinh tế, Trung ương Đảng và Chính phủ thấy cần thiết phải có một cơ quanriêng không bị cuốn hút vào công việc điều hành hàng ngày, cơ quan này chuyên nghiêncứu, nhận xét đánh giá khách quan quá trình này và kiến nghị các biện pháp khả thi, hữuhiệu nhằm quản lý ngày một tốt hơn nền kinh tế trong cả nước
Trang 7Từ những yêu cầu khách quan đó mà Trung ương Đảng và Chính phủ đã lần lượtthành lập một số tổ nhóm gồm những cán bộ biệt phái từ các Bộ, ngành và sau này là Bannghiên cứu cải tiến quản lý kinh tế trực thuộc Ban bí thư và Chính phủ Nhiều đồng chílãnh đạo cấp cao của Đảng và Chính phủ đã trực tiếp phụ trách các tổ chức nghiên cứuđó như Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Phó thủ tướng Lê Thanh Nghị, phó thủ tướngNguyễn Duy Trinh,…
Trước đòi hỏi ngày càng bức xúc của thực tiễn, yêu cầu cấp bách phải nghiên cứucó luận cứ về phương thức quản lý kinh tế mới nên đã thúc đẩy việc chuyển Ban nghiêncứu cải tiến quản lý kinh tế thành Viện
Ngày 14/07/1977 Bộ Chính Trị Ban chấp hành Trung ương (khóa 4) ra Quyết định209-NQ-NS/TW thành lập Viện nghiên cứu quản lý kinh tế của Trung ương Đảng vàChính phủ, cử đồng chí Nguyễn Văn Trân làm Viện tường đồng chí Đoàn Trọng Tuyếnlàm phó Viện trưởng
Ngày 10/11/1977 Ban bí thư ra quyết định số 04 QĐ/TW quy định nhiệm vụ,quyền hạn và quy chế công tác của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW Căn cứ vào điều
53 của Hiến pháp năm 1959, điều 3 của Luật tổ chức Hội đồng Chính phủ và theo đề nghịcủa Hội đồng Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Quyết nghị số 215-NQ/QHK6 ngày 17/04/1978 phê chuẩn việc thành lập Viện nghiên cứu quản lý kinh tế
TW, cơ quan ngang Bộ của Hội đồng Chính phủ
Đến năm 1980, nhằm đào tạo thuận lợi cho việc thống nhất chỉ đạo, Ban bí thư
TW khoa IV đã Quyết định để Viện thôi trực thuộc Ban bí thứ chỉ con trực thuộc Chínhphủ nhưng chức năng nhiệm vụ của Viện giữ nguyên không thay đổi
Giai đoạn từ 1998 đến nay.
Trong giai đoạn hiện nay, tình hình kinh tế thế giới và trong nước có nhiều biếnđộng và thay đổi lớn, việc đưa ra các chính sách đòi hỏi phải kịp thời và mang tính chiếnlược chính vì vậy khối lượng công việc của Viện ngày càng nhiều, vai trò, trách nhiệmcủa Viện trong công cuộc đẩy mạnh, phát triển đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế ngàycàng được đánh giá cao Để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình trong tình hình mới, Viện đãcó những cải cách, thay đổi lớn
Trước hết là việc nâng cao đội ngũ cán bộ trong Viện, Viện đã cho nhiều cán bộ đihọc thạc sĩ, tiến sĩ ở nước ngoài, coi trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ qua thực tiễn, coithực tế đất nước là trường đại học lớn để bồi dưỡng và rèn luyện cán bộ
Cơ sở vật chất cũng không ngững được cải thiện Từ một sơ sở nghèo nàn, chậthẹp khi mới thành lập, đến nay nhờ có sự giúp đỡ và đầu tư của Nhà nước, sự hỗ trợ củacác đơn vị trong và ngoài nước, Viện đã đầu tư xây dựng được một khu làm việc khangtrang với thiết bị và phương tiện làm việc ngày càng được tăng cường để từng bước đáp
Trang 8ứng yêu cầu, nhiệm vụ nghiên cứu hiện tại Đặc biệt trong 2 năm 2002 – 2003, Viện đãtriển khai thực hiện và hoàn thành dự án: “Đầu tư theo chiều sâu, nâng cao năng lực hoạtđộng của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương” Kết quả dự án đã cải tạo và nângcấp 2 tòa nhà làm việc của Viện, với diện tích được tăng thêm, đồng thời với việc bố trícác phòng làm việc hợp lý, các trang thiết bị, máy móc hiện đại, tiện sử dụng, cải thiệmôi trường làm việc cho cán bộ, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của một Viện nghiêncứu.
Từ một thư viện với tủ sách nhỏ chuyên ngành quản lý, Viện đã phát triển thànhmột trung tâm thông tin tư liệu Thư viện hiện nay có khoảng 15.000 đầu sách; trên 100loại báo và tạp chí trong và ngoài nước; trên 3.500 bản tài liệu, đề tài nghiên cứu khoahọc, tài liệu tra cứu… Hoạt động thư viện đã được tin học hóa Hiện nay cơ sở dữ liệu vớithư mục điện tử đã có trên 17.000 biểu ghi và có thể tra cứu thông tin qua mạng LAN.Với một đội ngũ cán bộ không nhiều, Trung tâm đã thu thập, lựa chọn và xử lý hàngnghìn tài liệu tham khảo các vấn đề cập nhật trong quản lý kinh tế phục vụ nghiên cứucông tác quản lý kinh tế của Viện, phục vụ các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nướccùng một số cơ quan khác Đã xuất bản và phát hành hàng trăm ấn phẩm và đầu sách
Trung tâm thông tin tư liệu có một kho sách, báo, tạp chí quý giá với khoảng 15nghìn cuốn sách, nhiều loại báo, tạp chí, bản tin trong nước và ngoài nước, là nơi lưu trữnhiều sách mới của nước ngoài: Anh, Pháp, Đức, Úc về kinh tế và quản lý kinh tế Việchình thành thư viện điện tử để phục vụ cho công tác quản lý và chia sẻ thông tin nghiêncứu Các cán bộ của Viện đều có thể truy cập vào mạng Internet để cập nhật tin tức vàthông tin phục vụ công tác nghiên cứu và trao đổi thư tín
2 Các đóng góp chính của Viện trong 5 năm (từ năm 2008 - 2013)
Về công tác nghiên cứu, tham mưu về cơ chế chính sách
Kể từ khi thành lập đến nay, Viện luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nghiên cứu,tham mưu và đề xuất cơ chế, chính sách quản lý kinh tế Trong 5 năm (từ năm 2008 –2013), Viện được giao nhiệm vụ chủ trì xây dựng hơn 100 đề án, báo cáo, dự thảo vănbản quy phạm pháp luật trình Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Chính phủ và Thủ tướng Chínhphủ Các đề án, báo cáo nghiên cứu của Viện đã phục vụ kịp thời, có hiệu quả cho côngtác tham mưu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đóng góp kịp thời cho việc ban hành các chínhsách ổn định kinh tế vĩ mô, chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xãhội hàng năm của Chính phủ Điển hình là các đề án, báo cáo sau:
- Thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa X, Viện đã tập trung nghiên cứu các đề án,báo cáo chủ yếu liên quan đến chủ trương “Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa” Trên cơ sở Nghị quyết số 21-NQ-TW, Viện đã xây dựngdự thảo Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 vàđược Chính phủ thông qua tại Nghị quyết số 22/2008/NQ-CP
Trang 9+ Xây dựng Đề án “Những giải pháp, chính sách để nâng cao chất lượng tăng trưởng,hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tạiQuyết định số 1914/2010/QĐ-TTg ngày 19/10/2010 Đề án đã đánh giá tăng trưởng củaViệt Nam về số lượng và chất lượng đến năm 2010 và đề xuất giải pháp nâng cao chấtlượng tăng trưởng nhằm phát triển bền vững
+ Xây dựng Đề án “Tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng theohướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế giai đoạn2011-2020” Đề án đề xuất các giải pháp chính sách thúc đẩy chuyển đổi và cơ cấu lạinền kinh tế theo hướng phân bổ, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả các nguồn lực,cải thiện năng suất và năng lực cạnh tranh để trở thành nhân tố chủ yếu của tăng trưởngkinh tế ở nước ta Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số339/QĐ-TTg ngày 19/02/2013
+ Xây dựng Đề án Chiến lược Công nghiệp hóa của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tácViệt Nam-Nhật Bản hướng đến năm 2020, tầm nhìn 2030 Đề án đã được Thủ tướngChính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1043/QĐ-TTg ngày 01/07/2013 Chiến lược đónggóp vào phát triển một số ngành công nghiệp Việt Nam có tiềm năng thông qua thu hútđầu tư trực tiếp nước ngoài có chất lượng, trước hết từ Nhật Bản, thúc đẩy chuyển giaocông nghệ và liên kết sản xuất với khu vực trong nước
- Nghiên cứu, đánh giá các tác động của hội nhập và khủng hoảng kinh tế thế giới và đềxuất các chính sách thích ứng nhằm đối phó với tình hình bất ổn kinh tế vĩ mô
- Dự thảo nhiều nghị định liên quan đến quản lý, giám sát hoạt động doanh nghiệp nhànước đặc biệt là các tập đoàn kinh tế; chính sách phát triển các thành phần kinh tế và cảithiện môi trường đầu tư kinh doanh và đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính Viện đãthực hiện nhiều hoạt động nghiên cứu, tập trung kiến nghị một số giải pháp sắp xếp lạiDNNN, nâng cao khả năng cạnh tranh của DNNN trong điều kiện hội nhập và đặc biệt làtrước yêu cầu của tình hình thực tế về đẩy mạnh công tác quản lý và giám sát nhằm đưacác hoạt động tập đoàn kinh tế nhà nước theo hướng hiệu quả hơn Viện được giao xâydựng Đề án "Tiếp tục đổi mới, sắp xếp và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN" Đềán đã được báo cáo Ban Cán sự Đảng Chính phủ trình Hội nghị Trung ương 6 (Khóa XI)thảo luận và ra kết luận số 50-KL/TW ngày 29/10/2012 Đây sẽ là cơ sở để Chính phủban hành những chính sách nhằm đổi mới, sắp xếp lại DNNN để hoạt động hiệu quả hơntrong thời gian tới
- Dự thảo Luật Doanh nghiệp sửa đổi và một số nghị định hướng dẫn chi tiết thi hành mộtsố điều của Luật Doanh nghiệp 2005 như Nghị định số 102/2010/NĐ-CP ngày01/10/2010 được ban hành nhằm sửa đổi một số điều khoản chưa đủ rõ, cụ thể và chưaphù hợp với thực tiễn của Nghị định 139/2007/NĐ-CP; đồng thời bổ sung thêm điềukhoản hướng dẫn một số nội dung khác của Luật Doanh nghiệp chưa cụ thể, còn cáchhiểu khác nhau trong quá trình thực hiện
Về công tác nghiên cứu khoa học
Trang 10Ngay từ khi mới thành lập, Viện đã luôn coi trọng công tác tổ chức nghiên cứukhoa học gắn liền với tổng kết thực tiễn nhằm tạo luận cứ khoa học, thực tiễn cho việcxây dựng các đề án quản lý kinh tế tham mưu cho Đảng và Nhà nước Trong cơ cấu tổchức của Viện, Hội đồng khoa học với các thành viên do Hội nghị cán bộ nghiên cứu bầu
ra, có chức năng tư vấn về khoa học quản lý kinh tế cho Viện trưởng và các Lãnh đạoViện
Trong giai đoạn từ năm 2008 – 2013, Viện đã tiếp tục hoàn thiện 02 đề tài cấp Nhànước và trúng thầu thêm 05 đề tài khoa học cấp Nhà nước Ngoài ra, Viện còn chủ trìthực hiện hàng chục đề tài khoa học cấp Bộ và đề tài cơ sở Các đề tài do Viện thực hiệnđều nhằm phục vụ trực tiếp cho thực hiện các nhiệm vụ chính trị được cấp trên giao
Về công tác đào tạo
Hiện nay, Viện tập trung vào công tác đào tạo tiến sĩ và đào tạo, bồi dưỡng cán bộchuyên ngành quản lý kinh tế; mở các lớp huấn luyện có liên quan đến phổ biến, tuyêntruyền nội dung luật pháp kinh tế và các lớp chuyên đề về kinh doanh, cơ chế chính sáchvà quản lý kinh tế cho cán bộ, lãnh đạo cũng như các doanh nghiệp trong cả nước
Trong 05 năm (từ năm 2008-2013), Viện đã tổ chức tuyển sinh 05 khóa đào tạotiến sĩ với tổng số 60 nghiên cứu sinh; trong giai đoạn này Viện đã đào tạo và cấp bằngtiến sĩ cho 09 nghiên cứu sinh đã hoàn thành và bảo vệ thành công luận án tiến sĩ và có
54 nghiên cứu sinh đang tiếp tục theo học và nghiên cứu tại Viện
Viện còn tham gia chuẩn bị tài liệu cho khóa tập huấn của cán bộ trung, cao cấpnước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, tổ chức khóa học về kinh tế thị trường và thươngmại quốc tế cho cán bộ của Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên và tổ chức các khóatập huấn về đổi mới kinh tế và quản lý kinh tế cho các đại biểu hội đồng nhân dân các cấpcủa Việt Nam
Về hợp tác quốc tế
Viện tích cực hợp tác nghiên cứu với nhiều nước và tổ chức quốc tế như: Chươngtrình hợp tác phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP), Tổ chức hợp tác kỹ thuật Đức – GTZ(nay là GIZ), Viện Friedrich Ebert Stiftung (FES), Cơ quan hợp tác phát triển quốc tếDANIDA do Đan Mạch tài trợ, Cơ quan hợp tác phát triển Thụy điển (SIDA), Ngân hàngThế giới (WB), DFID v.v
Nhiều dự án nghiên cứu hợp tác quốc tế có tính thực tiễn cao như dự án “Tầmnhìn thể chế đến năm 2020” do Chính phủ Thụy Điển tài trợ qua tổ chức SIDA phối hợpvới Văn phòng Chính phủ và Bộ Nội; tham gia vào hoạt động của Ủy ban Kinh tế, Diễnđàn Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), tập trung vào các nội dung cảicách cơ cấu mới của APEC và nhóm công tác về Luật và Quản trị doanh nghiệp; hợp tác
Trang 11với Đại sứ quán Nhật Bản và JICA trong việc xây dựng Đề án Chiến lược công nghiệphóa trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam-Nhật Bản hướng đến năm 2020, tầm nhìn 2030.
Ngoài ra, Viện còn thiết lập quan hệ hợp tác rộng rãi và có hiệu quả với một sốnước và tổ chức quốc tế như: Pháp, Anh, Úc, Canada, Trung Quốc, Singapore, Quỹ Tiềntệ quốc tế (IMF), Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB)v.v Năm 2008, các nước thành viên của Viện Nghiên cứu ASEAN và Đông Á (ERIA) tínnhiệm bầu Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương làm Chủ tịch Hộiđồng điều hành Viện ERIA nhiệm kỳ năm 2008 – 2011
3 Cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Viện.
Chức năng, nhiệm vu, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện nghiên cứu quản lýkinh tế trung ương được quy định trong Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ngày14/11/2003 Quyết định được căn cứ vào Luật tổ chức Chính phủ ngày 25/12/2001
Căn cứ Nghị định số 86/2002/NĐ-CP ngày 05/11/2002 của chính phủ quy địnhchức năng, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ;
Căn cứ nghị định số 61/2003/NĐ-CP ngày 06/06/2003 của Chính phủ quy địnhchức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Quy định của Thủ tướng chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức củaViện nghien cứu quản lý kinh tế trung ương được cụ thể như sau:
3.1 Cơ cấu tổ chức
Cơ câu tổ chức của viện theo các nghị định trên gồm có:
- Về lãnh đạo Viện:
Viện có Viện trưởng và các Phó Viện trưởng
Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương do Thủ tướng Chính phủbổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và đầu tư về toàn bộ hoạtđộng của Viện
Phó viện trưởng do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư bổ nhiệm, miễn nhiệm theođề nghị của Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương và chiuj trách nhiệmtrước Viện trưởng về lĩnh vực công tác được phân công
- Về cơ cấu tổ chức của Viện:
Viện trưởng Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương quy định chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức các đơn vị trực thuộc Viện theo quy định củapháp luật
Trang 12Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức của Viện
3.2 Vị trí và chức năng.
Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương là Viện cấp quốc gia, trực thuộc bộ Kếhoạch và Đầu tư, có chức năng nghiên cứu và đề xuất về thể chế, chính sách, kế hoạchhóa,c ơ chế quản lý kinh tế, môi trường kinh doanh, cải cách kinh tế, tổ chức nghiên cứukhoa học, đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý kinh tế và tổ chức hoạt động tư vấn theo quyđịnh của pháp luật