Nghiên cứu các tác phẩm, các bài nghiên cứu, các công trình nghiên cứu về lí luận dạy học Lịch sử, về vấn đề phát triển năng lực thực hành học tập cho HS. Nghiên cứu nội dung Lịch sử dân tộc trong sách giáo khoa lớp 11, từ năm 1858 đến cuối thế kỉ XIX. Tìm hiểu thực tiễn dạy học lịch sử về vấn đề phát triển năng lực thực hành học tập cho HS thông qua phiếu khảo sát, trao đổi, dự giờ... Đề xuất phương hướng đổi mới thiết kế nội dung bài học, các hình thức tổ chức dạy học lịch sử và những biện pháp sư phạm phù hợp nhằm phát triển năng lực thực hành cho học sinh khi tiến hành bài học lịch sử nội khóa ở trên lớp và ngoại khóa.
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường và quý thầy cô giáo tại các trường THPT trên địa bàn Quảng Nam đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để em thực nghiệm đề tài trong suốt quá trình làm khóa luận
Em chân thành cảm ơn quý thầy, cô trong khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã tận tình truyền đạt kiến thức trong những năm em học tập Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quí báu để em bước vào đời một cách vững chắc
và tự tin
Em xin gởi lời cảm ơn chân thành đến phòng học liệu khoa Lịch sử, thư viện trường Đại học sư phạm Đà Nẵng, thư viện tổng hợp Đà Nẵng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình tiếp cận các nguồn tài liệu
Để hoàn thành khóa luận này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Th.s Trương Trung Phương, đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình viết khóa luận tốt nghiệp
Trong quá trình làm khóa luận, do hạn chế về thời gian, đồng thời trình độ lý luận còn hạn chế nên báo cáo không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong quý thầy, cô lượng thứ Kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp
Đà Nẵng, ngày 24 tháng 4 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Trương Công Hoài Thư
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH ẢNH, SƠ ĐỒ
Bảng 3.1: Niên biểu tổng hợp phong trào kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta từ
1858 – cuối thế kỉ XIX……… 37
Hình 3.1: Lược đồ khởi nghĩa Yên Thế……… 38
Hình 3.2: Lược đồ khởi nghĩa Hương Khê……… 42
Sơ đồ 3.1: Tình hình Việt Nam trước khi Pháp xâm lược……… 39
Trang 4CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
HS Học sinh
GV Giáo viên
LS Lịch sử
THPT Trung học phổ thông THCS Trung học cơ sở
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4.1 Mục đích nghiên cứu 4
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
5.1 Nguồn tư liệu 5
5.2 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của khóa luận 6
7 Bố cục của đề tài: 6
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THỰC HÀNH CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT 7
1.1 Cơ sở lí luận 7
1.1.1 Khái niệm năng lực 7
1.1.2 Quan niệm thực hành, thực hành lịch sử 8
1.1.3 Đặc điểm của kiến thức lịch sử và nhận thức lịch sử của học sinh 9
1.1.4 Vai trò, ý nghĩa của việc phát triển năng lực thực hành cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT 11
1.2 Cơ sở thực tiễn 15
1.2.1 Mục đích điều tra 15
1.2.2 Đối tượng điều tra 15
1.2.3 Nội dung điều tra 16
1.2.4 Kết quả điều tra 16
CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG BÀI HỌC PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THỰC HÀNH CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (TỪ
Trang 6NĂM 1858 ĐẾN CUỐI THẾ KỈ XIX) Ở TRƯỜNG THPT (CHƯƠNG TRÌNH
CHUẨN) 18
2.1 Nội dung cơ bản phần lịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến cuối thế kỉ XIX 18
2.2 Năng lực thực hành cần phát triển cho học sinh trong dạy học Lịch sử ở trường THPT 24
2.3 Xây dựng hệ thống bài học phục vụ phát triển năng lực thực hành cho học sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam (1858 đến cuối thế kỉ XIX), ở trường THPT (chương trình chuẩn) 27
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THỰC HÀNH CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (TỪ NĂM 1858 CUỐI THẾ KỈ XIX) Ở TRƯỜNG THPT (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) 29
3.1 Yêu cầu khi phát triển năng lực thực hành lịch sử cho học sinh 29
3.2 Một số biện pháp phát triển năng lực thực hành cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam (từ năm 1858 đến cuối thế kỉ XIX) ở trường THPT (Chương trình chuẩn) 32
3.2.1 Hướng dẫn học sinh nắm vững kiến thức về phương pháp thực hành lịch sử 32
3.2.2 Hướng dẫn luyện tập các kĩ năng thực hành lịch sử 35
3.2.2.1 Kĩ năng lập niên biểu lịch sử 35
3.2.2.2 Kĩ năng xây dựng và sử dụng bản đồ lịch sử 37
3.2.2.3 Kĩ năng vẽ sơ đồ lịch sử 39
3.2.2.4 Kĩ năng tìm hiểu và tập trình bày một vấn đề lịch sử 40
3.2.2.5 Kĩ năng khai thác kênh hình trong sách giáo khoa lịch sử 41
3.2.2.6 Kĩ năng sử dụng máy tính và khai thác tài liệu trên mạng Internet 43
3.2.2.7 Kĩ năng thực hành ngoại khóa môn lịch sử 45
3.3 Thực nghiệm sư phạm 47
3.3.1 Mục đích thực nghiệm 47
3.3.2 Đối tượng, thời gian thực nghiệm 47
3.3.3 Nội dung và phương pháp tiến hành 47
3.3.4 Kết quả thực nghiệm 48
KẾT LUẬN 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52 PHỤ LỤC P1
Trang 7Tồn tại ở trường phổ thông với tư cách là một khoa học, môn lịch sử có chức năng và nhiệm vụ rất quan trọng trong hệ thống giáo dục Thông qua học tập Lịch sử, bức tranh quá khứ được khôi phục một cách chính xác, khoa học, những nút thắt lịch
sử dần được tháo gỡ, kích thích tư duy của học sinh không ngừng phát triển Tính khoa học của bộ môn đòi hỏi kiến thức lịch sử không chỉ dừng lại ở việc miêu tả vẻ bề ngoài của sự kiện, mà còn phải đi sâu vào giải thích chúng, chỉ ra bản chất bên trong của sự kiện, hiện tượng lịch sử
Hiện nay, “thực hành” trong dạy học LS ở trường trung học phổ thông còn ít được sử dụng, một số người quan niệm Lịch sử là một môn học thuần túy lý thuyết, chỉ là những câu chuyện với kiểu học thuộc lòng, cho rằng học lịch sử không cần bài tập, không cần thực hành và nếu có thì chủ yếu là tập trung vào việc rèn luyện các bài tập Lịch sử Sự nhận thức chưa đúng đắn này không chỉ làm hạn chế hiệu quả bài học
mà còn thực hiện không đúng những tính chất, nguyên lí giáo dục của một nền giáo dục hiện đại Trong giáo dục nói chung, dạy học Lịch sử nói riêng, nguyên lí “học đi đôi với hành’’ được xem là nguyên tắc giáo dục cơ bản nhất, nó chỉ đạo việc xác định những nhiệm vụ, nội dung, phương pháp giáo dục cụ thể “Học đi đôi với hành”- một trong bốn nội dung của nguyên lí giáo dục, là một tư tưởng giáo dục vừa có tính khoa học, vừa có tính thực tiễn Phát triển năng lực thực hành cho học sinh trong dạy học Lịch sử thông qua việc tăng cường tổ chức các hoạt động, hành động học tập cho học sinh là biện pháp đa dạng hóa các hình thức dạy học, tích cực hóa, hoạt động hóa học sinh, hạn chế những giờ học trên lớp nhàm chán thường xuyên lặp đi lặp lại, gắn học
Trang 8những lí luận nêu trên, chúng tôi chọn đề tài “Phát triển năng lực thực hành cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam (từ năm 1858 đến cuối thế kỉ XIX) ở trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Nam’’ (Chương trình chuẩn) làm công trình nghiên
Trong cuốn “Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa” (2010), tác giả Trần Bá Hoành cho thực hành là một trong ba nhóm của phương pháp dạy học tích cực: nhóm các phương pháp dùng lời; nhóm các phương pháp trực quan; nhóm các phương pháp thực hành So sánh nhóm các phương pháp này với nhau, tác
giả Trần Bá Hoành viết: “Các sách lí luận dạy học đã chỉ rõ, về mặt hoạt động nhận thức, thì phương pháp thực hành là “tích cực” hơn các phương pháp trực quan, các phương pháp trực quan là “tích cực” hơn các phương pháp dùng lời”
Phan Ngọc Liên trong cuốn “Phương pháp dạy học lịch sử” (tập 1) đề cập đến việc phát triển năng lực thực hành của học sinh trong học tập lịch sử về các mặt như: các quan niệm về thực hành bộ môn trong dạy học lịch sử; sơ lược các nội dung cần
Trang 93
rèn luyện thực hành cho học sinh; con đường, những biện pháp phát triển năng lực thực hành cho học sinh Giáo trình này mới chỉ đề cập một cách khái quát về thực hành bộ môn chứ chưa đi sâu vào việc rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh trong từng khóa trình cụ thể
Tài liệu “Rèn luyện kỹ năng nghiệp vụ sư phạm môn lịch sử” do Nguyễn Thị Côi chủ biên, chủ yếu trình bày việc rèn luyện kỹ năng thực hành cho sinh viên sư phạm nhưng cũng đã đề cập tới một số kỹ năng thực hành về các mặt: vị trí, ý nghĩa, yêu cầu của các kỹ năng và cách hướng dẫn học sinh rèn luyện các kỹ năng đó Tuy vậy việc rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh lại chưa được trình bày kỹ
Ở các tài liệu hướng dẫn giảng dạy như: “Thiết kế bài giảng lịch sử 11”, sách giáo viên Lịch sử lớp 11” (Phan Ngọc Liên - Nguyễn Ngọc Cơ chủ biên, NXB Giáo dục, 2007)….đã đề cập đến việc rèn luyện kĩ năng cho HS thông qua mục tiêu cụ thể của từng bài học
Mặc dù đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề phát triển năng lực thực hành cho HS phục vụ dạy học lịch sử Việt Nam là không ít Tuy nhiên, đa số các công trình đều trình bày một cách khái quát, chưa đi sâu vào thiết kế cho từng giai đoạn đặc biệt là giai đoạn (từ năm 1858 – cuối thế kỉ XIX) Chính vì vậy công trình nghiên cứu này sẽ giúp cho chúng ta có cái nhìn chi tiết cụ thể hơn về vấn đề phát triển năng lực thực hành phục vụ dạy học lịch sử Việt Nam (từ năm 1858 – cuối thế kỉ XIX)
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Phát triển năng lực thực hành cho học sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam (từ năm 1858 đến cuối thế kỉ XIX) ở trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Trang 104
nhà trường THPT hiện nay nhằm phát triển năng lực thực hành lịch sử của HS
Để khẳng định tính khả thi của công trình nghiên cứu, chúng tôi tiến hành điều tra, thực nghiệm sư phạm các biện pháp đề xuất trong hoạt động nội khóa và ngoại khóa chủ yếu ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Nam Từ kết quả TN, chúng tôi rút ra kết luận khái quát và kiến nghị
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn, đề tài khẳng định vai trò, ý nghĩa của
năng lực thực hành đối với quá trình học tập LS ở trường THPT; xác định những nội dung của thực hành LS và đề xuất một số biện pháp chủ yếu để phát triển năng lực thực hành LS cho HS
- Góp phần nâng cao chất lượng bộ môn, thể hiện trên các mặt về giáo dục, giáo dưỡng và phát triển Khắc phục được tình trạng chất lượng học tập môn Lịch sử đang giảm sút
- Góp phần đổi mới phương pháp dạy học bộ môn, làm phong phú hơn hình thức học tập của bộ môn mang tính chất đặc thù
- Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong việc tiếp thu các kiến thức Lịch sử
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài giải quyết những nhiêm vụ cơ bản sau:
- Nghiên cứu các tác phẩm, các bài nghiên cứu, các công trình nghiên cứu về lí luận dạy học Lịch sử, v ề v ấ n đề phát triển năng lực thực hành học tập cho HS
- Nghiên cứu nội dung Lịch sử dân tộc trong sách giáo khoa lớp 11, từ năm
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Cơ sở phương pháp luận của đề tài dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như quan điểm, đường lối của Đảng, nhà nước ta về giáo dục lịch sử và nhận thức LS Đề tài cũng dựa vào lí luận dạy học của Giáo dục học, Tâm lí học, Lý luận và Phương pháp dạy học môn LS,
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Tuân thủ những nguyên tắc của nghiên cứu khoa học nói chung và căn cứ vào đặc thù của bộ môn cũng như nội dung, tính chất của đề tài, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục sau:
- Nghiên cứu các tài liệu Tâm lý học, Giáo dục học, nhất là lí luận dạy học bộ môn liên quan đến vấn đề thực hành của HS trong dạy học LS ở trường phổ thông cùng các tài liệu khác có liên quan
- Nghiên cứu thực tiễn khâu thực hành ở trường THPT trên nhiều tỉnh, thành của cả nước qua các phiếu điều tra, dự giờ, phỏng vấn,
- Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa LS cấp THPT, nhất là lớp 11 phần
LS Việt Nam (từ năm 1858 đến cuối thế kỉ XIX) để xác định những nội dung có thể
áp dụng các biện pháp thực hành cho HS
- Soạn bài và thực nghiệm sư phạm theo những biện pháp đề xuất trong khóa luận để kiểm chứng tính khả thi của đề tài
- Sử dụng phương pháp toán học thống kê, tập hợp và xử lí số liệu đã thu được
để phân tích, nhận xét và rút ra những kết luận rồi nêu kiến nghị
Trang 126
6 Đóng góp của khóa luận
- Đề tài khóa luận góp phần khẳng định rõ vai trò, ý nghĩa của việc phát triển năng lực thực hành cho HS trong dạy học Lịch sử ở trường THPT
- Đánh giá đúng thực trạng việc dạy học Lịch sử và thực trạng vấn đề phát triển
năng lực thực hành học tập Lịch sử cho HS ở trường THPT
- Đề xuất những biện pháp sư phạm nhằm phát triển năng lực thực hành cho học sinh qua việc thiết kế nội dung bài học, thực hiện các hình thức tổ chức dạy học đặc biệt đối với bài nghiên cứu kiến thức mới ở trên lớp nhằm nâng cao chất lượng dạy
Chương 3: Biện pháp phát triển năng lực thực hành cho học sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam (từ năm 1858 đến cuối thế kỉ XIX) ở trường THPT (Chương trình chuẩn)
Trang 137
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THỰC HÀNH CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Khái niệm năng lực
Nói đến năng lực là nói đến khả năng có thể thực hiện được và thực hiện tốt một hành động cụ thể nào đó của chủ thể Để hành động có kết quả tốt chủ thể phải có những hiểu biết về kiến thức, về phương pháp hành động và có sự nổ lực và năng lực được biểu hiện ở mức độ khác nhau thông qua chất lượng và sự nhạy bén làm chủ tình huống để thực hiện tốt hành động ở một lĩnh vực nào đó trong các tình huống khác nhau
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về năng lực, với những cách tiếp cận khác nhau thì các nhà nghiên cứu khoa học có thể định nghĩa khác nhau về năng lực:
Theo giáo sư Hoàng Phê trong từ điển tiếng Việt: “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan, tự nhiên sẵn có để thực hiện một công việc nào đó; Phẩm chất tâm lý
và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”.[25]
Theo PGS TSKH Thái Duy Tuyên trong Giáo dục học hiện đại : “Năng lực Là những đặc điểm tâm lí của nhân cách, là điều kiện chủ quan để thực hiện có kết quả một dạng hoạt động nhất định Năng lực có quan hệ với kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo Năng lực thể hiện ở tốc độ, chiều sâu, tính bền vững và phạm vi ảnh hưởng của kết quả hoạt động ở tính sáng tạo, tính độc đáo của phương pháp hoạt động Một số năng lực có thể đo được bằng trắc nghiệm” [31]
Theo GS.TS Nguyễn Quang Uẩn trong Giáo trình tâm lí học đại cương: “Năng lực là một khả năng hành động hiệu quả hoặc là sự phản ứng thích đáng trong các tình huống phức tạp nào đó” [34]
Theo GS.TS Nguyễn Quang Uẩn trong Giáo trình tâm lí học đại cương: “Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, bảo đảm cho hoạt động đó hoạt động có kết quả” [34]
Trang 148
Theo OEDC (Tổ chức kinh tế các nước phát triển) : “Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể” [14;107]
Theo Chương trình giáo dục Quécbec (Chương trình GDTH Quécbec- Bộ giáo
dục Canada -2004): “Năng lực có thể định nghĩa như là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ phía nhà trường cũng như những kinh nghiệm của HS; những kĩ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn những nguồn bên ngoài chẳng hạn như bạn cùng lớp, thày cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác” [14;tr 107]
Từ những cách hiểu trên đây, có thể hiểu một cách đơn giản: Năng lực là khả năng làm chủ hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra trong cuộc sống
Trang 159
chữa bệnh hay giải quyết vấn đề nào đó có liên quan đến luật pháp, Trong trường hợp này nghĩa của thực hành tương đương với sự hành nghề Các thao tác tư duy tham gia tích cực vào quá trình thực hành, đây là một loại hoạt động bậc cao của con người
Từ những khái niệm như đã trình bày ở trên và căn cứ vào những đặc trưng của
bộ môn lịch sử có thể hiểu “Thực hành trong học tập Lịch sử là những hoạt động, hành động học tập của học sinh trên cơ sở vận dụng những hiểu biết về kiến thức lịch
sử và phương pháp học tập bộ môn để giải quyết những nhiệm vụ học tập và những vấn đề của cuộc sống đặt ra”
Đối tượng của thực hành lịch sử là những kiến thức lịch sử cơ bản thuộc chương trình SGK và những kĩ năng học tập bộ môn Phương thức tiến hành các hoạt động thực hành trong dạy học lịch sử rất phong phú, đa dạng, chủ yếu phụ thuộc vào đặc trưng kiến thức, điều kiện vật chất cho phép thực hiện cũng như khả năng hiện có của HS Hình thức thực hành sẽ chi phối hành động, thao tác học tập của HS
Căn cứ vào lí luận dạy học và đặc trưng của kiến thức lịch sử, vấn đề thực hành bộ
môn lịch sử bao gồm:
Thực hành bộ môn bao gồm tất cả những công việc cần thiết học sinh phải làm để hiểu và vận dụng kiến thức đã học vào tiếp thu kiến thức mới Đó là những phương thức, biện pháp cụ thể hóa tri thức như “đọc”, biết vẽ, biết sử dụng bản đồ lịch sử, xây dựng các
đồ dung trực quan quy ước khác ngoài bản đồ như biểu đồ, sơ đồ, đồ thị, làm các mô hình,
sa bàn, đồ phục chế đơn giản nhưng chính xác, khoa học
Sử dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống như vận dụng những hiểu biết về lịch sử quá khứ để hiểu, giải thích hiện tại và biến thành hành động thực tiễn; tập dượt các công việc nghiên cứu lịch sử, tham gia sưu tầm tài liệu để biên soạn
và học tập LS địa phương; tham gia vào những hoạt động mang tính công ích xã hội: xây dựng phòng, nhà truyền thống địa phương, hành quân theo bước chân người anh hùng, đi tìm địa chỉ đỏ, gìn giữ chăm sóc nghĩa trang liệt sĩ
1.1.3 Đặc điểm của kiến thức lịch sử và nhận thức lịch sử của học sinh
Khác với kiến thức của các môn học khác, kiến thức lịch sử trong nhà trường
Trang 1610
phổ thông có những đặc trưng riêng mà những đặc trưng đó quy định nội dung thực hành bộ môn Những đặc trưng nổi bật của kiến thức lịch sử được biển hiện như sau: Kiến thức Lịch sử mang tính không lặp lại về thời gian và cả không gian; kiến thức lịch sử mang tính cụ thể; kiến thức lịch sử mang tính hệ thống
- Lịch sử là những gì đã diễn ra, đã trải qua trong quá khứ Tính quá khứ của kiến lịch sử gây ra những cản trở cho quá trình nhận thức của học sinh khi mà các em không được trực tiếp quan sát diễn biến của các sự kiện, hiện tượng lịch sử Do vậy, nhận thức lịch sử chủ yếu là quá trình nhận thức gián tiếp
- Sự kiện, hiện tượng lịch sử rất phong phú, đa dạng diễn ra trong khoảng thời gian, không gian nhất định và không lặp lại Tính không lặp lại, tính cụ thể của kiến thức lịch sử đòi hỏi quá trình dạy học phải bắt đầu từ việc khôi phục lại bức tranh quá khứ Sự tái hiện càng cụ thể bao nhiêu, càng sinh động và giàu hình ảnh bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu
- Tính thống nhất giữa “sử” và “luận” thể hiện quan điểm nhìn nhận, đánh giá lịch sử dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác và những nguyên lí của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử để nghiên cứu nhìn nhận các vấn đề lịch sử, đảm bảo tính đúng đắn, khách quan của lịch sử
- Các đặc điểm trên của kiến thức lịch sử lại có mối quan hệ biện chứng với nhau Chỉ có thể dựa vào những nguyên lí của chủ nghĩa Mác, vận dụng phương pháp nghiên cứu đúng đắn, chúng ta mới có những kết luận chính xác mang tính khoa học
Có như vậy, kiến thức lịch sử mới thực sự có ý nghĩa với cuộc sống
Đặc điểm nhận thức của học sinh biến đổi là yếu tố quan trọng quy định nội dung và phương pháp giảng dạy Cùng với sự thay đổi về mặt tâm lý thì học sinh phổ thông trung học cũng đang ở giai đoạn tư duy phát triển ở mức cao độ, khả năng độc lập tư duy, tính chủ động trong lĩnh hội tri thức cũng được biểu hiện rõ Trong khi đó nội dung kiến thức mà học sinh tiếp nhận là cái mới chủ quan, tức là những thành tựu, những kiến thức và những kinh nghiệm mà nhân loại đã khám phá Hay nói cách khác quá trình nhận thức của học sinh thực ra là một quá trình “khám phá lại”, “phát hiện lại”, những kiến thức dưới sự điều khiển, hướng dẫn của giáo viên Với đặc điểm tâm
lí, sự trưởng thành về nhân cách và đặc trưng quy luật nhận thức của học sinh như vậy,
Trang 17xa Các biện pháp thực hành giúp học sinh tạo ra các biểu tượng lịch sử, khắc phục tình trạng “hiện đại hóa” lịch sử Khôi phục lại bức tranh lịch sử chính xác, khoa học
là cơ sở, là điều kiện bắt buộc cho quá trình nhận thức lí tính tiếp theo Ngoài ra, các công việc như sưu tầm tư liệu, tập nghiên cứu lịch sử; các hoạt động mang tính công ích xã hội như xây dựng phòng, nhà truyền thống địa phương, đi tìm địa chỉ đỏ, gìn giữ, chăm sóc nghĩa trang liệt sĩ là hình thức gắn kiến thức đã học vào thực tiễn và có tác dụng giáo dục học sinh Từ đó, có thể khẳng định đặc điểm của kiến thức lịch sử không chỉ tạo khả năng mà còn đòi hỏi quá trình dạy học lịch sử phải thực hiện các biện pháp thực hành lịch sử
1.1.4 Vai trò, ý nghĩa của việc phát triển năng lực thực hành cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT
Mục tiêu của giáo dục phổ thông được xác định rõ tại điều 27, Luật giáo dục là: giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc “Trong đó, mục tiêu của giáo dục THPT nhằm: giúp HS củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kĩ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động ” [30] Nguyên lí giáo dục “học đi đôi với
hành, lí luận gắn liền với thực tiễn” luôn định hướng và chỉ đạo các hoạt động dạy học nói chung Do đó, tổ chức các hoạt động thực hành trong dạy học nói chung, dạy học
Trang 1812
lịch sử nói riêng không chỉ là biện pháp để phát triển toàn diện học sinh mà còn là thực hiện đúng mục tiêu, nguyên lí giáo dục đề ra Ngày nay các nước trên thế giới đã điều chỉnh chiến lược phát triển giáo dục cho phù hợp với sự phát triển của thời đại Hướng đào tạo của các nước là phát huy tối đa tiềm năng của người học, rèn luyện óc tư duy, sáng tạo, khả năng làm việc độc lập và thích nghi của họ với mọi hoàn cảnh sống Phát triển năng lực thực hành cho học sinh cũng phù hợp với định hướng phát triển của giáo dục trong thời đại mới
Vấn đề phát triển năng lực thực hành có vai trò hết sức to lớn, góp phần tích cực vào việc hoàn thành mục tiêu dạy học bộ môn đặt ra
* Về mặt kiến thức:
Mục đích của thực hành là làm nổi bật hay củng cố, phát triển kiến thức cơ bản Những kiến thức được lựa chọn cho các hoạt động thực hành bao giờ cũng là những kiến thức cơ bản nhất của bài, của chương Tùy theo đặc điểm của kiến thức và mục đích học tập mà giáo viên hay học sinh lựa chọn cách thức thực hành phù hợp nhất Năng lực thực hành lịch sử, không chỉ giúp học sinh nắm vững những kiến thức Lịch
sử cơ bản hơn cả về chiều rộng và bề sâu, mà còn trang bị cho học sinh những hiểu biết
về phương pháp học tập bộ môn, nâng tầm hiểu biết của học sinh lên mức độ cao hơn Ví
dụ, nhờ có năng lực thực hành lịch sử nên khi học về diễn biến chiến sự ở Gia Định 1859, học sinh biết và có nhu cầu sử dụng lược đồ chiến sự ở Gia Định Đứng trước lược đồ, học sinh nhanh chóng xác định được các bước, cách thức khai thác lược đồ làm nổi bật nội dung kênh thông tin mà lược đồ chứa đựng như xác định những vị trí quan trọng có liên quan trực tiếp đến chiến sự: Đại đồn Chí Hòa, Định Tường, Biên Hòa, Vĩnh Long hay các kí hiệu có tính chất quy ước: hướng tấn công của địch của ta,… Khi đọc lược đồ, học sinh biết cách khai thác thông tin cần thiết, biến những kí hiệu quy ước thành lời nói hay viết Nhờ đó các e có thể nhanh chóng nắm được diễn biến tình hình chiến sự Năng lực khai thác lược đồ còn được thể hiện qua khả năng phân tích, nhận xét, đánh giá mối liên
hệ giữa các thông tin thể hiện qua cách nhìn khái quát toàn bộ chiến sự trên lược đồ Chẳng hạn như học sinh có thể đánh giá được tại sao Pháp lại tấn công Gia Định, hay HS
có thể phân tích những khó khăn mà Pháp gặp phải khi tấn công Gia Định…Qua đó, HS
Trang 1913
thấy được ý đồ của Pháp khi tấn công Gia Định cũng như những khó khăn mà Pháp gặp
phải trong quá trình chiếm Gia Định
Ngoài ra, năng lực thực hành còn giúp học sinh vận dụng tốt những kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống, nổi bật đó là nó luôn mang lại cho học sinh những bài học
mà HS gặp ở mọi lúc mọi nơi, những tiết học lịch sử thực sự phát huy tác dụng khi học sinh biết vận dụng những kiến thức đã học vào giải quyết nhu cầu nào đó hay để nâng cao
sự hiểu biết của mình và năng lực thực hành là yếu tố cần thiết giúp học sinh đáp ứng chính nhu cầu ấy một cách nhanh chóng và hiệu quá nhất Ví dụ, tổ chức cho HS đi thăm quan thành Điện Hải (Đà Nẵng) Nếu có năng lực tốt thì các em sẽ vận dụng năng lực thực hành đã được học vào việc tìm hiểu khu di tích đó như quan sát vị trí địa lí để phát hiện ra sự lợi hại của khu di tích đã góp phần đẩy lui cuộc tấn công của quân Pháp 1858 –
1860 Ngoài sự quan sát, HS có thể tìm hiểu khu di tích qua việc đưa ra những câu hỏi nhờ sự giải đáp của người hướng dẫn tham quan, hoặc tìm mua sách, báo đọc thêm hay tra cứu trên mạng internet, Nhờ đó các em hiểu rõ hơn tầm quan trọng của thành
Điện Hải trong những ngày đầu chống Pháp xâm lược
* Về kĩ năng:
Năng lực thực hành cho học sinh những hiểu biết về lựa chọn hoạt động thực hành phù hợp với nội dung kiến thức Ví dụ, học về diễn biến một chiến dịch cụ thể nên sử dụng bản đồ, lược đồ lịch sử, để tuyên truyền một nội dung lịch sử thì lựa chọn hình thức tổ chức dạ hội hay nói chuyện lịch sử,
Năng lực thực hành bao gồm cả những hiểu biết về phương pháp thực hành và
kĩ năng thực hành Phương pháp thực hành sẽ chỉ đạo học sinh thực hiện hành động thực hành nhanh, đúng và hiệu quả Phương pháp thực hành và kĩ năng hành động có mối quan hệ mật thiết, tỉ lệ thuận với nhau, tỉ lệ thuận với kết quả thực hành Chẳng hạn, khi vẽ lược đồ lịch sử, học sinh phải nắm được nguyên tắc bản đồ: cách chia tỉ lệ,
kí hiệu bản đồ, các quy ước thể hiện nội dung bản đồ, màu sắc, Những hiểu biết sẽ định hướng hoạt động vẽ bản đồ Nắm vững nguyên tắc bản đồ, học sinh sẽ không bị lúng túng trong các bước thực hiện Các hành động vẽ ngày càng trở nên thuần thục hơn nếu nó được lặp đi, lặp lại nhiều lần và dần chuyển sang giai đoạn kĩ xảo
Trang 2014
Thông qua rèn luyện kỹ năng diễn đạt nói và viết giúp học sinh phát triển tư duy logic qua việc hệ thống lại kiến thức lịch sử đã học để từ đó vận dụng vào câu trả
lời, bài viết của mình
Thông qua việc thiết kế dùng trực quan sẽ phát huy óc sáng tạo, sự tìm tòi của học sinh về các phương án, cách tiến hành, trình bày nội dung hợp lý trên đồ dùng trực quan Còn việc trình bày nội dung trên đồ dùng trực quanh học sinh sẽ phải huy động năng lực tư duy tái hiện lại tri thức lịch sử trên đồ dùng trực quan
Với việc thực hiện các nhiệm vụ về mặt giáo dục, giáo dưỡng, phát triển học sinh thì việc phát triển năng lực thực hành cho học sinh góp phần nâng cao chất lượng dạy học, gây hứng thú học tập, phát triển tư duy cho học sinh
* Về thái độ:
Việc phát triển năng lực thực hành đã có tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm, thái độ của học sinh Năng lực thực hành tạo khả năng hoạt động dễ dàng và mang lại hiệu quả cao làm cho học sinh không thấy chán nản hay ngại ngần khi phải tham gia vào các hoạt động thực hành Ngược lại nó tạo hứng thú, niềm say mê cũng như nhu cầu được tham gia vào các hoạt động cụ thể và ý chí vượt khó để hoàn thành nhiệm vụ Tâm lí học quan niệm ý chí là một phẩm chất tâm lí của cá nhân, một thuộc tính tâm lí của nhân cách Trong ý chí có những phẩm chất quan trọng, cơ bản của nhân cách như tính mục đích, tính độc lập, tính quyết đoán, tính bền bỉ và tính tự chủ [34, tr.166-168] Tổ chức các hoạt động thực hành lịch sử có tác dụng rèn luyện ý thức học tập và góp phần hình thành nhân cách toàn diện cho học sinh Yêu cầu của thực hành càng cao thì sự nỗ lực, ý chí phấn đấu càng lớn Bên cạnh những phẩm chất trên, các hoạt động thực hành còn rèn luyện tinh thần tự giác trong lao động, tạo thói quen
dám nghĩ, dám làm và phong cách làm việc khoa học cho học sinh
Phát triển năng lực thực hành cho học sinh thông qua việc tổ chức các hoạt động thực hành trong dạy học lịch sử là một hình thức đa dạng hóa các hoạt động nhận thức ở các điều kiện sư phạm khác nhau Sự đa dạng cả về môi trường học tập
và hành động học tập đã khắc phục được tình trạng nhàm chán của giờ học nội khóa khi các hành động tương tự cứ bị lặp đi lặp lại nhiều lần Môi trường học phong phú, tạo ra các tình huống học tập khác nhau có tác dụng kích thích trí tò mò, tạo động cơ
Trang 2115
cho học sinh hăng hái giải quyết nhiệm vụ, rèn luyện sự năng động nhạy bén của tư duy Tạo hứng thú học tập cho HS là một nghệ thuật sư phạm giúp học sinh thấy yêu thích môn lịch sử hơn, là yếu tố kích thích tính tự giác, sáng tạo trong suốt quá trình học tập của các em Nhờ đó mà quá trình học tập thu được kết quả được tốt hơn
Ví dụ như khi giáo viên dùng lược đồ trận Cầu Giấy để tường thuật diễn biến
trận phục kích trong bài 20 (Lịch sử 11) ‘’Chiến sự lan rộng ra cả nước Cuộc kháng chiến của nhân dân ta từ năm 1873 đến năm 1884 Nhà Nguyễn đầu hàng’’ học sinh
sẽ thấy chiến thắng Cầu Giấy có ý nghĩa vô cùng to lớn, khiến cho nhân dân ta vô cùng phấn khích, làm cho thực dân Pháp vô cùng hoang man, lo sợ, chúng tìm cách thương lượng với triều đình Huế Tình hình đó đã tạo ra một cơ hội để quân ta tấn công tiêu diệt địch buộc chúng rút khỏi bắt kì bằng tấn công quân sự Nâng cao lòng yêu nước, ý chí căm thù bọn cướp nước và tay sai bán nước, qua đó còn giúp các HS nhận thức được ý nghĩa của sự đoàn kết, muốn chiến thắng kẻ thù phải có sự đồng tâm hiệp lực từ trên xuống dưới, phải có một giai cấp lãnh đạo tiên tiến
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Mục đích điều tra
- Trong thực tế, giáo viên có rèn luyện kĩ năng thực hành cho học sinh trong quá trình giảng dạy hay không và hiệu quả của nó lại phụ thuộc vào các yếu tố, tùy thuộc vào quan niệm, năng lực sư phạm của giáo viên và thái độ, hợp tác của học sinh
từ lý thuyết đến thực tiễn như thế nào nhằm giúp chúng tôi tìm hiểu thực tế một số trường THPT, nhằm đánh giá tình hình dạy học lịch sử nói chung và tình hình phát triển năng lực thực hành cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam (từ năm 1858 – cuối thế kỉ XIX) ở một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
- Tìm hiểu việc nâng cao chất lượng dạy học bộ môn lịch sử thông qua việc phát triển năng lực thực hành
1.2.2 Đối tượng điều tra
Đối tượng điều tra là giáo viên và học sinh lớp 11 của ba trường THPT Nguyễn Trãi, THPT Nguyễn Khuyến và THPT Lương Thế Vinh trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Trang 2216
1.2.3 Nội dung điều tra
- Đối với học sinh: Tôi xây dựng 7 câu hỏi trắc nghiệm (xem phụ lục 1) để
kiểm tra 200 học sinh ở 3 trường THPT: Trường THPT Nguyễn Trãi, THPT Nguyễn Khuyến và THPT Lương Thế Vinh vào năm học 2017 - 2018 với mục đích sau:
+ Tìm hiểu về tình hình học tập, nhận thức và thái độ của học sinh đối với môn lịch sử
+ Tìm hiểu về việc nắm và hiểu kiến thức lịch sử Việt Nam (từ năm 1858 – cuối thế kỉ XIX)
- Đối với giáo viên: Tôi xây dựng 10 câu hỏi trắc nghiệm (xem phụ lục 2) điều
tra về việc giáo viên có quan tâm đến việc phát triển năng lực thực hành cho học sinh trong dạy học lịch sử
+ Nhận thức của giáo viên về năng lực thực hành và tổ chức các hoạt động thực hành
+ Việc tổ chức các hoạt động thực hành cho học sinh gặp những khó khăn, thuận lợi nào
1.2.4 Kết quả điều tra
Đối với học sinh: sau khi điều tra chúng tôi đã tiến hành xử lí số liệu bằng
phương pháp thống kê toán học Chúng tôi thấy học sinh tập trung vào nội dung thực hành (xem phụ lục 3)
Đối với giáo viên: chúng tôi thấy rằng đa số giáo viên đều thấy được tầm quan
trọng của việc phát triển năng lực thực hành cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam ở trường THPT Tuy nhiên do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác nhau nên việc phát triển năng lực thực hành còn hạn chế, mà chủ yếu do cơ sở vật chất của trường và do tiết học quá ngắn so với lượng kiến thức cần cung cấp (xem phụ lục 4)
Từ kết quả điều tra học sinh và giáo viên chúng tôi rút ra kết luận rằng: việc phát triển năng lực thực hành phục vụ việc dạy học lịch sử, học sinh hứng thú với phương pháp này, tuy nhiên kết quả đạt được chưa cao Qua đó, chúng tôi thấy được nguyên nhân mà đa số thầy cô đưa ra là:
Trang 2317
Thứ nhất, do quan niệm sai lệch về bộ môn lịch sử của các cấp quản lý, giáo viên, học sinh và xã hội, coi lịch sử là môn phụ không cần chú ý nhiều Từ việc coi thường bộ môn dẫn đến coi thường việc đổi mới trong dạy học nói chung và rèn luyện kĩ năng thực hành lịch sử nói riêng
Thứ hai, hầu hết giáo viên đều nhận thức được tầm quan trọng của việc tổ chức các hoạt động thực hành cho học sinh Nhưng hiện nay ở nhiều trường học, đồ dùng hỗ trợ dạy học môn lịch sử còn rất hạn chế Chính vì điều này làm cho bài học lịch sử trở nên khô khan, thiếu hấp dẫn gây tâm lí chán nản cho học sinh
Thứ ba, trong quá trình học mặc dù học sinh hứng thú với bộ môn lịch sử nhưng chưa thật phát huy khả năng tư duy của bản thân, mà vẫn còn lối học thụ động
Trang 2418
CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG BÀI HỌC PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THỰC HÀNH CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (TỪ NĂM 1858 ĐẾN CUỐI THẾ KỈ XIX) Ở TRƯỜNG THPT (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)
2.1 Nội dung cơ bản phần lịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến cuối thế kỉ XIX
* Nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Pháp xâm lược (từ năm 1858 đến trước năm 1873)
Giữa thế kỉ XIX, Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền song chế độ phong kiến đã lâm vào khủng hoảng, suy yếu trầm trọng
+ Chính trị: Giữa thế kỉ XIX, trước khi thực dân Pháp xâm lược, Việt Nam là một quốc gia có chủ quyền, độc lập dưới chế độ phong kiến nhà Nguyễn, song trong nội bộ triều đình đã có lục đục, khủng hoảng, tranh chấp lẫn nhau gây rối loạn ngay trong chính hoàng cung
+ Kinh tế: Nông nghiệp sa sút, mất mùa, đói kém thường xuyên
Công - thương nghiệp đình đốn, lạc hậu do chính sách “bế quan toả cảng” của triều đình
+ Quân sự lạc hậu, chính sách đối ngọai sai lầm: “cấm đạo”, xua đuổi giáo sĩ + Xã hội: nhiều cuộc đấu tranh chống triều đình bùng nổ
Từ giữa thế kỉ XIX, các nước tư bản chủ nghĩa tự do đang dần chuyển sang chủ nghĩa tư bản độc quyền, mở rộng xâm chiếm thuộc địa với mục tiêu: thị trường, nhân công và nguyên liệu Với mục tiêu đó, Việt Nam – đất nước nằm trên bán đảo Đông Dương, đáp ứng đầy đủ những gì thực dân cần, đã trở thành mục tiêu cho sự nhòm ngó của thực dân Pháp
Sau nhiều lần khiêu khích, lấy cớ bảo vệ đạo Gia Tô, Pháp đem quân xâm lược Việt Nam Chiều 31/8/1858, 3000 quân Pháp - Tây Ban Nha dàn trận trước cửa biển
Đà Nẵng Âm mưu của Pháp là chiếm xong Đà Nẵng sẽ kéo thẳng ra Huế, nhanh chóng buộc nhà Nguyễn đầu hàng
Trang 2519
Rạng sáng 1/9/1858, quân Pháp nổ súng mở đầu cuộc xâm lược nước ta Quân dân ta, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phương, anh dũng chống trả Quân Pháp bước đầu thất bại Sau 5 tháng xâm lược, chúng chỉ chiếm được bán đảo Sơn Trà
Thấy không thể chiếm được Đà Nẵng, Pháp quyết định đưa quân vào Gia Định Tháng 02/1859, Pháp đánh chiếm thành Gia Định nhưng gặp nhiều khó khăn do hoạt động của các dân binh Kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp thất bại, chúng phải chuyển sang kế hoạch “chinh phục từng gói nhỏ”
Từ năm 1960, Pháp bị sa lầy trong cuộc chiến ở Trung Quốc, Xi-ri, phải rút quân từ Đà Nẵng về Gia Định Lực lượng địch rất mỏng, tình thế cực kì khó khăn Triều Nguyễn không tranh thủ phản công mà cử Nguyễn Tri Phương vào xây dựng phòng tuyến Chí Hoà để “thủ hiểm”
Các nghĩa dũng do Dương Bình Tâm lãnh đạo tiếp tục tấn công giặc ở đồn Chợ Rẫy (07/1960), trong khi triều đình Huế xuất hiện tư tưởng chủ hòa
Ngày 23/2/1861, quân Pháp công phá đại đồn Chí Hòa, gặp sự kháng cự quyết liệt của quân Nguyễn Sau hai ngày chiến sự ác liệt, quân Nguyễn bị tổn thất nặng Nguyễn Tri Phương bị thương, còn em là Nguyễn Duy thì tử trận Quân Nguyễn phải
bỏ đại đồn Chí Hòa, rút về Biên Hòa
Sau khi phá được đại đồn Chí Hòa, quân Pháp chiếm đánh Định Tường (Mỹ Tho), đặt đồn lũy khắp nơi để kiểm soát Triều đình Huế cử phái bộ do Phan Thanh Giản cầm đầu vào nghị hòa và ký hiệp ước Nhâm Tuất (1862) nhường ba tỉnh miền Đông cho Pháp
Trong khi triều đình Huế nhường từng bước trước quân Pháp và sau đó là cắt đất cho Pháp thì phong trào chống Pháp nổi dậy mạnh mẽ trong dân chúng Tiêu biểu của buổi khởi đầu chống Pháp là cuộc khởi nghĩa của Trương Định và Võ Duy Dương
Trong khi nhân dân miền Đông đứng lên chống Pháp thì triều đình Huế đã cử một phái bộ do Phan Thanh Giản làm Chánh sứ, Phạm Phú Thứ làm phó sứ sang Pháp xin chuộc Việc thương thuyết chưa ngã ngũ thì quân Pháp tiến hành cuộc đánh chiếm
ba tỉnh miền Tây (6.1867) Lợi dụng sự bạc nhược lúng túng của triều đình Huế, ngày 20/6/1867, quân Pháp kéo đến trước thành Vĩnh Long, ép Phan Thanh Giản phải nộp
Trang 26* Chiến sự lan rộng ra cả nước Cuộc kháng chiến của nhân dân ta (1873 1884) Nhà Nguyễn đầu hàng
-Sau khi chiếm 6 tỉnh Nam kỳ (1867 - 1873) tình hình kinh tế, xã hội nước ta càng lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng
Về chính trị: nhà Nguyễn tiếp tục chính sách bảo thủ “bế quan tỏa cảng”, không tính đến việc lấy lại 6 tỉnh Nam Kỳ Nội bộ quan lại bước đầu có sự phân hóa giữa bộ phận chủ chiến và chủ hòa
Về kinh tế: Nền kinh tế của đất nước ngày càng bị kiệt quệ vì triều đình huy động tiền để trả chiến phí cho Pháp
Xã hội: Đời sống ngày càng khó khăn, mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt, nhân dân bất bình đứng lên chống triều đình ngày càng nhiều
Một số quan lại có tư tưởng tiến bộ đã đề nghị cải cách, song triều đình không chấp nhận Tiêu biểu là Nguyễn Trường Tộ đã mạnh dạn dâng lên triều đình bản điều trần, bày tỏ ý kiến cải cách duy tân Nhưng do bảo thủ, cố chấp nên triều Nguyễn đã từ chối những đề nghị của ông Nguyễn Trường Tộ xứng đáng được coi là nhà tư tưởng đổi mới, có hành động thức thời ở nửa sau thế kỷ XIX đầy biến động của Việt Nam
Sau năm 1867 tình hình đất nước không có gì đổi mới, kinh tế không được chấn hưng, quân đội không được cải tiến, khả năng phòng thủ đề phòng Pháp mở rộng tấn công không được tăng cường Sự khủng hoảng trầm trọng kinh tế, xã hội càng làm tăng nguy cơ mất nước, tạo cơ hội cho Pháp mở rộng đánh chiếm cả nước
Trang 2721
Lấy cớ giải quyết vụ Đuy-puy đang gây rối ở Hà Nội, thực dân Pháp đem quân
ra Bắc Ra đến Bắc, Gác-ni-ê đòi Nguyễn Tri Phương, phải khai phóng sông Hồng Nguyễn Tri Phương không đồng ý với yêu sách ấy, cương quyết đòi Đuy-puy phải rời khỏi sông Hồng
Ngày 19/11/1873 Gác-ni-ê cho nã súng tấn công thành Hà Nội Nguyễn Tri Phương cùng con là Nguyễn Lâm ra sức chỉ huy quân lính chống cự Nhưng chưa đầy một giờ thì thành Hà Nội bị vỡ Nguyễn Lâm tử trận, Nguyễn Tri Phương bị thương nặng Quân Pháp bắt được ông và chiêu dụ nhưng Nguyễn Tri Phương không chịu để cho quân Pháp săn sóc vết thương, nhịn ăn mà chết
Gác-ni-ê chiếm được thành Hà Nội nhưng lực lượng quân sự của Triều đình vẫn còn, do Hoàng Tá Viêm cầm đầu Quân của Hoàng Tá Viêm phối hợp với quân
Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc vây Hà Nội buộc Gác-ni-ê phải đem quân từ Nam Đinh trở về trên đường đi thì bị phục kích giết chết tại Cầu Giấy
Trước cái chết của Gác-ni-ê, phía Pháp đồng ý nghị hòa Nguyễn Văn Tường thay mặt cho Triều đình Huế ký hiệp ước Giáp Tuất (1874), công nhận Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp, Pháp đồng ý trả lại Hà Nội và các tỉnh đã bị chiếm ở Bắc Kỳ
Ngày 26/3/1882 Ri-vi-e đem hai pháo thuyền cùng nhiều tàu chiến ra đóng gần
Hà Nội rồi đến sáng ngày 25/4, Ri-vi-e gửi tối hậu thư cho Tổng đốc Hà Nội là Hoàng Diệu, đòi phải nộp thành Hoàng Diệu không đầu hàng Quân Pháp công phá thành kịch liệt Trong khi cuộc kháng diễn diễn ra quyết liệt thì kho đạn trong thành bị bốc cháy, quân sĩ hoang mang, mất thành Hà Nội Để bảo toàn khí tiết Hoàng Diệu chạy vào hành cung thảo di biểu gửi triều đình rồi tuẫn tiết trong vườn Võ Miếu để giữ trọn khí tiết
Sau khi chiếm được Hà Nội, Ri-vi-e cho quân tiếp tục đi chiếm các tỉnh Hòn Gai, Cẩm Phả và Nam Định Vua Tự Đức kêu cứu với nhà Thanh Khoảng 10.000 quân Trung Hoa từ Lưỡng Quảng được điều động đến biên giới Thấy vậy, Toàn quyền Pháp tại Nam Kỳ gửi thêm viện binh cho Ri-vi-e
Nhận được tin quân Thanh can thiệp, Ri-vi-e trở về lại Hà Nội Quân Triều đình của Hoàng Tá Viêm phối hợp cùng toán quân ở Bắc Ninh vây thành Hà Nội Ri-vi-e
Trang 2822
đem quân chủ lực định vượt Cầu Giấy phá vòng vây nhưng bị pháo nã chận lại Quân
ta xung phong lên cầu giết chết được Ri-vi-e (19/5/1883)
Trong khi mọi việc chưa ngã ngũ thì vua Tự Đức mất (7/1883) quân Pháp do
Đô đốc Courbet cầm đầu, tiến vào đánh Đà Nẵng và tấn công cửa Thuận An Ngày 18/8/1883, quân pháp gửi tối hậu thư cho vua Hiệp Hòa đồng thời công phá thành đồn Thuận Hải Đồn vỡ, các quan giữ thành kẻ tử trận, kẻ tự tử chết
Nghe tin Pháp tấn công Thuận An, cử đại diện là Nguyễn Văn Tường xuống Thuận An xin đình chiến Tranh thủ thái độ mềm yếu của triều đình, Cao ủy Pháp Hác-măng (đại diện cao cấp của Pháp) đi ngay lên Huế đặt điều kiện cho một Hiệp ước mới Triều đình Huế cử Trần Đình Túc và Nguyễn Trọng Hợp đứng ra thương thuyết, ngày 25/8/1883 Hác-măng đưa ra bản Hiệp ước mới buộc triều đình Huế phải
ký kết Thừa nhận sự “bảo hộ” của Pháp trên toàn cõi Việt Nam Nam Kì là thuộc địa Bắc Kì là đất bảo hộ Trung Kì triều đình quản lý Đại diện của Pháp ở Huế trực tiếp điều khiển các công việc ở Trung Kì
Theo các nội dung của Hiệp ước Việt Nam mất quyền tự chủ trên phạm vi toàn quốc, triều đình Huế đã chính thức nhận sự bảo hộ của nước Pháp, mọi công việc chính trị, kinh tế, ngoại giao của Việt Nam đều do Pháp nắm Ở Trung Kì do triều đình cai quản, song trên thực tế đại diện của Pháp, khâm sứ ở Huế trực tiếp điều khiển các công việc ở Trung Kì, viên này có quyền gặp nhà vua bất kỳ lúc nào nếu xét thấy cần thiết
Ký hiệp ước Hác-măng, triều đình Huế coi như đã quay lưng lại với nhân dân
cả nước Mặc dù vậy, quân dân miền Bắc vẫn quyết tâm kháng chiến chống quân xâm lược đến cùng Lệnh triệt binh của triều đình không ai nghe theo, nhiều trung tâm kháng chiến vẫn tiếp tục hình thành, các toán nghĩa binh do các quan lại chủ chiến đã phối hợp với các lực lượng quân Thanh (kéo sang từ mùa thu năm 1882) liên tiếp khuấy đảo, tiến công quân Pháp gây cho chúng nhiều thiệt hại Tháng 12/1883 Pháp buộc phải tiến hành các cuộc hành binh nhằm tiêu diệt các ổ đề kháng còn sót lại đồng thời tiến hành thương lượng Để loại trừ sự can thiệp của nhà Thanh, chính phủ Pháp
đã cử Patơnốt sang Việt Nam và cùng triều đình Huế ký một hiệp ước mới vào ngày 6/6/1884, nhằm xoa dịu dư luận và mua chuộc bọn phong kiến Nội dung chủ yếu như
Trang 2923
hiệp ước Hác-măng song có sửa chữa một số điều: Trả lại cho nhà Nguyễn 3 tỉnh ở phía bắc là Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Bình Thuận ở phía Nam (theo hiệp ước Hác-măng thì Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh sáp nhập vào Bắc Kì, còn Bình Thuận sáp nhập vào Nam Kì) Nhà Nguyễn chỉ kiểm soát từ đèo Ngang (phía Bắc) đến Khánh Hoà (phía Nam)
* Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Việt Nam trong những năm
cuối thế kỉ XIX
Ngay sau khi hiệp ước được ký kết, phong trào chống Pháp nổi lên mạnh mẽ ở Bắc Kỳ Các tướng của Triều đình như Hoàng Tá Viêm, Trương Quang Đản không chấp nhận việc đầu hàng, liên tiếp tấn công các đồn trại của Pháp ở Bắc Kì Chiến sự xảy ra ác liệt với sự hỗ trợ của quân đội chính quy Trung Hoa
Hòa ước Giáp Thân 1884 mở đầu một giai đoạn rối loạn cho Triều đình Huế Trong Triều đình, phe chủ chiến đứng đầu là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đưa Ưng Lịch, mới 13 tuổi lên làm vua, tức là vua Hàm Nghi
Đêm mồng 4 rạng sáng mồng 5/7/1885 Tôn Thất Thuyết đã chỉ huy các đạo quân chia làm hai cánh tấn công cho quân tấn công vào tòa Khâm sứ, trại lính Pháp ở Huế Cuộc tấn công thất bại Vua Hàm nghi phải xuất bôn Tôn Thất Thuyết đưa vua
ra Quảng Trị rồi đến Nghệ An và đóng bản doanh tại đấy Từ bản doanh, vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương, kêu gọi nhân dân khắp nơi nổi lên chống Pháp Thực dân Pháp đưa quân đi càn quét núi rừng Quảng Bình, Nghệ An hòng bắt vua cho được
Đến tháng 11/1886 quân Pháp mua chuộc được Trương Quang Ngọc, chỉ đạo đội quân người Mường có nhiệm vụ bảo vệ vua Trương Quang Ngọc bắt vua dâng cho Pháp Vua bị thực dân Pháp bắt đi đày ở An-giê-ri
Chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi được sự hưởng ứng mạnh mẽ khắp nơi, nhất là trong giới sĩ phu và ngay cả sau khi vua đã bị bắt đi đày rồi
Ở Trung Kỳ, tiêu biểu cho phong trào Cần Vương là cuộc khởi nghĩa của Mai Xuân Thưởng (1860 - 1887)
Trang 3024
Ở Hà Tĩnh, cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng (1847 - 1895) và Cao Thắng (1864 - 1893) cũng đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử dân tộc Ông xây dựng đồn trại, lập xưởng công binh chế tạo vũ khí Quân Pháp với sự giúp sức đắc lực của Hoàng Cao Khải, nhiều lần dụ ông ra hàng nhưng không được bèn cho quật mồ tổ tiên ông Cuộc chiến đấu của Phan Đình Phùng kéo dài đến hơn 10 năm Trong một lần bị bao vây, ông bị bệnh và chết
Quân Pháp lại phải đối phó với phong trào Cần Vương ở Bắc Kỳ Nguyễn Thiện Thuật (1844 - 1926) lập chiến khu ở Bãi Sậy, dùng chiến thuật du kích tấn công tiêu diệt các toán quân tuần tiễu, các đồn bót của Pháp
Một cuộc khởi nghĩa lừng lẫy khác là tại Yên Thế do Hoàng Hoa Thám chỉ huy (1858 - 1913) Cuộc khởi nghĩa này làm tiêu hao lực lượng của quân Pháp, không để chúng yên ổn áp dụng chính sách cai trị của mình tại Bắc Ninh, Thái Nguyên Đến tháng 2/1913, khi Đề Thám bị sát hại, phong trào tan rã Quân Pháp phải ra sức đàn áp đến năm 1913 mới diệt được
2.2 Năng lực thực hành cần phát triển cho học sinh trong dạy học Lịch sử ở trường THPT
Cuối 2006, Bộ Giáo dục và đào tạo đã tổ chức hoàn thiện bộ chương trình giáo dục phổ thông với sự tham gia của đông đảo các nhà khoa học, nhà sư phạm, cán bộ quản lí và giáo viên đang giảng dạy ở các nhà trường Chương trình giáo dục đang được áp dụng hiện nay được điều chỉnh, hoàn thiện và tổ chức lại từ các chương trình
đã được ban hành trước kia và đã được một Hội đồng thẩm định quốc gia bao gồm nhiều chuyên gia giáo dục đầu ngành xem xét, phê duyệt Số tiết theo phân phối chương trình cho cấp THCS là 210 tiết (lớp 6: 35 tiết; lớp 7: 70 tiết; lớp 8: 52,5 tiết; lớp 9: 52,5 tiết), cấp THPT có tổng số tiết là 140 tiết (lớp 10: 52,5 tiết; lớp 11: 35 tiết; lớp 12: 52,5 tiết) Trong đó, những yêu cầu về kiến thức và kĩ năng cho các cấp Trung học cơ sở và Trung học phổ thông được xác định ở các mức độ khác nhau dựa trên yêu cầu dạy học được đặt ra cho mỗi cấp học phù hợp với lứa tuổi học sinh Ở cấp THPT, năng lực thực hành cần nâng cao cho học sinh là những yếu tố cơ bản cần thiết cho các hoạt động thực hành của học sinh gồm:
1 Tiếp tục bồi dưỡng và hoàn thiện những hiểu biết về các hoạt động thực hành
Trang 3125
nói chung
2 Tiếp tục rèn luyện thái độ làm việc nghiêm túc, đúng đắn khi tham gia vào các hoạt động thực hành cũng như ý chí tích cực, sáng tạo nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ TH của HS
3 Tiếp tục rèn luyện các kĩ năng thực hành Năng lực mang tính trừu tượng nhưng
nó có thể do được thông qua kĩ năng hành động Do vậy, kĩ năng thực hành phản ánh năng lực thực hành của học sinh Có thể so sánh mức độ yêu cầu về mặt kĩ năng thực hành như sau:
- Kĩ năng khai thác kênh hình trong sách giáo khoa Nhìn chung số lượng kênh hình trong sách giáo khoa THPT nhiều hơn THCS, mặc dù số lượng chênh lệch nhau không nhiều Do chương trình xây dựng theo kiểu đồng tâm nên các kênh hình giữa hai cấp học của từng giai đoạn LS tương ứng về cơ bản là giống nhau Một số kênh hình bổ sung cho cấp THPT nhằm minh họa và nâng cao khả năng khai thác các lượng thông tin phù hợp với nội dung kiến thức và yêu cầu của bài học đối với đối tượng HS
kĩ năng khai thác kênh hình của học sinh THPT không chỉ nhanh hơn về mặt thời gian
mà lượng thông tin khai thác của các loại tranh ảnh cũng phải nhiều hơn, phức tạp hơn Đặc biệt là loại kênh hình tồn tại dưới dạng lược đồ, biểu đồ trong các bài học về diễn biến của các trận đánh tiêu biểu thì kĩ năng thực hành của HS cấp THCS chủ yếu đặt ra là nhận biết được phạm vi, quy mô diễn ra sự kiện; vẽ lại lược đồ hay bản đồ theo mẫu; đối với HS lớp 8 hoặc 9, có thể trình bày một cách thật khái quát diễn biến trên lược đồ theo sự làm mẫu của GV Trong khi đó kĩ năng khai thác lược đồ, bản đồ của cấp THPT được tiếp tục nâng cao lên mức vẽ được lược đồ nhanh hơn, hình thức đẹp hơn và trình bày diễn biến không cần sự làm mẫu HS có thể tự đọc sách theo dõi diễn biến trên lược đồ rồi trình bày lại diễn biến trên lược đồ Cũng như nhìn lược đồ
để khai thác những kênh thông tin khác phục vụ cho bài học
- Kĩ năng lập niên biểu, bảng tổng hợp về các sự kiện, hiện tượng LS Do yêu cầu biết rộng hiểu sâu hơn khi học về kiến thức LS nên số lượng niên biểu, bảng tổng hợp, thống kê các nội dung kiến thức mà học sinh cấp THPT phải làm là nhiều hơn Mức độ nâng cao của kĩ năng này biểu hiện ở chỗ HS nhanh chóng xác định được hướng giải quyết nhiệm vụ đúng và hiệu quả Để nắm được các sự kiện, hiện tượng LS
Trang 3226
của một hay nhiều giai đoạn LS, các em có thể biết ngay công việc phù hợp nhất phải làm là lập bảng thống kê; tự tổng hợp, khái quát kiến thức và xác định số cột cần thiết
để lập bảng tổng hợp Nội dung kiến thức thực hành khó và phức tạp hơn
- Khai thác công nghệ thông tin, mạng Intetnet và sử dụng máy tính ngày càng được sử dụng phổ biến hơn trong dạy học LS, nhất là đối với các trường ở thành phố, thị xã Giáo viên dạy cấp THCS cần cung cấp các trang web, địa chỉ cụ thể và hướng dẫn các em cách khai thác Những nội dung mà học sinh THCS khai thác thường đơn giản hơn Còn học sinh cấp THPT có khả năng tự tìm được các kênh thông tin từ nhiều địa chỉ khác nhau và thậm chí trên cơ sở của các nguồn thông tin với vốn kiến thức đã có, các em có thể xử lí các kênh thông tin này một cách hợp lí, biết phân biệt những quan điểm chính thống hay trái chiều để có thể lựa chọn những nội dung phù hợp với yêu cầu bài học Bên cạnh việc khai thác, các
em cũng có thể thiết kế những bảng biểu, sơ đồ, lược đồ hấp dẫn cùng các hiệu ứng giúp người xem dễ nhớ, dễ hiểu hơn
- Kể chuyện LS được sử dụng nhiều hơn cho cấp tiểu học Câu chuyện lúc này
có ý nghĩa như là sự cung cấp vốn kiến thức lịch sử cho HS qua một sự kiện, hiện tượng lịch sử nổi bật nào đó Đến cấp THCS, nội dung câu chuyện được nâng lên thành một vấn đề LS Trong đó có thể có cả lời bình của chính tác giả HS cả hai cấp THCS và THPT đều có thể trình bày một vấn đề LS như kể chuyện LS, trình bày lại một vấn đề LS nào đó Mức độ nâng cao của HS cấp THPT thể hiện ở kết quả của sự thuyết phục đối với người nghe qua sự nhập vai của chính bản thân người trình bày qua ngôn ngữ, cử chỉ, điệu bộ, thậm chí là cả lời bình và cách tổ chức buổi nói chuyện
- Rèn luyện kĩ năng sưu tầm tài liệu, hiện vật lịch sử, xây dựng phòng bộ môn, nhà truyền thống, viết sử địa phương và tạo các mô hình, sa bàn LS ít được sử dụng trong thực tiễn dạy học lịch sử Tuy nhiên, nó vẫn tồn tại như một phương pháp dạy học tích cực Biện pháp này chỉ chủ yếu sử dụng với HS cấp THPT Muốn thực hiện được các công việc này HS phải có kiến thức nền của bộ môn và những kĩ năng học tập môn LS đã học ở cấp học, lớp học dưới cùng với năng lực cá nhân và sự tích cực trong học tập là cơ sở, điều kiện để các em có thể thực hiện tốt các công việc khó này
Bên cạnh việc tiếp tục các hoạt động thực hành của cấp THCS trên mức độ cao
Trang 3327
hơn, thì cấp THPT cũng có thể áp dụng những hoạt động mới khó hơn như tạo các mô hình, sa bàn lịch sử; sưu tầm tài liệu, hiện vật lịch sử, xây dựng phòng bộ môn, nhà truyền thống, viết sử địa phương; dạ hội lịch sử;…
Tóm lại, những năng lực thực hành cần nâng cao cho học sinh cấp THPT là những năng lực thực hành cơ bản, cần thiết cho việc học tập bộ môn Nâng cao năng lực thực hành cho HS ở trường THPT cần phải tiến hành đa dạng các biện pháp thực hành như đã nêu ở trên và lưu ý mức độ HS phải đạt được trong mỗi hoạt động thực hành
2.3 Xây dựng hệ thống bài học phục vụ phát triển năng lực thực hành cho học sinh trong dạy học Lịch sử Việt Nam (1858 đến cuối thế kỉ XIX), ở trường THPT (chương trình chuẩn)
3 Cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Kì sau hiệp ước 1862
Rèn luyện kĩ năng thực hành ngoại khóa, kĩ năng vẽ sơ đồ lịch sử, kĩ năng lập niên biểu lịch sử, kĩ năng khai thác kênh hình trong sách giáo khoa, kĩ năng
sử dụng và khai thác tài liệu trên mạng Internet, kĩ năng xây dựng và sử dụng bản đồ lịch sử, kĩ năng tìm hiểu và tập trình bày một vấn đề lịch sử Qua đó HS
có thể hệ thống một cách cụ thể toàn bộ nội dung bài học
Thông qua đó giúp HS hiểu được bản chất xâm lược và thủ đoạn tàn bạo của chủ nghĩa thực dân
Đánh giá đúng mức nguyên nhân và trách nhiệm của triều đình phong kiến nhà Nguyễn trong việc tổ chức kháng chiến
Qua đó giáo dục lòng yêu nước, lòng tự
Trang 3428
tôn dân tộc cho HS
(xem ở phụ lục 8) Bài 20: Chiến
Kháng chiến lan rộng ra Bắc Kì
2 Thực dân Pháp tiến đánh Bắc Kì lần thứ hai Cuộc kháng chiến ở Bắc Kì và Trung Kì trong những năm
1882 - 1884
3 Thực dân Pháp tấn công cửa biển Thuận An Hiệp ước 1883 và hiệp ước 1884
Rèn luyện kĩ năng lập niên biểu, kĩ năng
vẽ sơ đồ lịch sử, kĩ năng xây dựng và sử dụng bản đồ lịch sử, kĩ năng khai thác kênh hình trong sách giáo khoa, kĩ năng
sử dụng và khai thác tài liệu trên mạng Internet Thể hiện quá trình Pháp đánh chiếm Bắc Kì qua hai lần, cuộc kháng chiến của nhân dân và hai bản hiệp ước
mà triều đình Huế đã kí với Pháp Để từ
đó đánh giá đúng mức trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc để mất nước (xem phụ lục 9)
Rèn luyện kĩ năng khai thác kênh hình trong sách giáo khoa, kĩ năng vẽ sơ đồ lịch sử, kĩ năng lập niên biểu lịch sử, kĩ năng sử dụng và khai thác tài liệu trên mạng Internet, kĩ năng tìm hiểu và tập trình bày một vấn đề lịch sử, kĩ năng xây dựng và sử dụng bản đồ lịch sử Để thấy
rõ hoàn cảnh phong trào đấu tranh vũ trang chống Pháp cuối thế kỷ XIX, trong
đó có cuộc khởi nghĩa Cần Vương và các cuộc khởi nghĩa tự vệ, hiểu được diễn biến cơ bản của một số khởi nghĩa tiêu biểu: Ba Đình, Bãi Sậy, Hương Khê, Yên Thế
Qua đó HS có thể thấy được lòng yêu nước của cha ông, đồng thời giáo dục cho HS lòng yêu nước, ý chí đấu tranh giải phóng dân tộc (xem phụ lục 10)
Trang 3529
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC THỰC HÀNH CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (TỪ NĂM 1858 CUỐI THẾ KỈ XIX) Ở TRƯỜNG THPT (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN)
3.1 Yêu cầu khi phát triển năng lực thực hành lịch sử cho học sinh
* Biện pháp thực hiện và hình thức tổ chức phải phù hợp với đối tượng và khả năng của học sinh
Biện pháp, hình thức thực hiện phải phù hợp với đặc trưng kiến thức nhằm đạt mục tiêu bài học Yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra không quá dễ hay quá khó, phải vừa sức với HS Nên ở mức cao hơn một chút so với khả năng hiện có của HS, sao cho bằng những nỗ lực của bản thân, HS có thể thực hiện được Sự phù hợp cũng là biện pháp
để gây hứng thú và khích lệ các em hăng hái hoàn thành nhiệm vụ
- Giúp HS hiểu rõ mục đích của hoạt động thực hành, là làm cho HS biết trước kết quả mà quá trình thực hành phải đạt được Mục đích là cơ sở, nguồn gốc để hình thành động cơ hành động, đồng thời có tác dụng định hướng hành động Ví dụ, tổ chức đêm dạ hội lịch sử cho HS chủ đề về Bác Hồ nhân kỉ niệm ngày sinh nhật Bác, HS cần biết trước mục đích của đêm dạ hội là để tuyên truyền về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Bác Hồ Từ đó, các em sẽ lựa chọn các tiết mục cụ thể của đêm dạ hội theo hướng làm rõ cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Bác Ngoài ra, tổ chức dạ hội còn
có tác dụng rèn luyện thái độ và hành vi ứng xử đúng đắn, nghiêm túc thể hiện lòng thành kính đối với vị lãnh tụ của dân tộc cho HS
- Biết tham gia vào đêm dạ hội về Bác, bản thân các em được học tập trên một sân chơi thoải mái, rèn luyện kĩ năng nói, kĩ năng tổ chức các hoạt động tập thể và nhiều kĩ năng mềm khác của cuộc sống, HS sẽ sẵn sàng, nhiệt tình tham gia, ủng hộ đêm dạ hội Như vậy, bên cạnh việc chỉ cho HS biết mục đích của hoạt động thực hành, giáo viên cũng nên cho HS hiểu được tác dụng của thực hành đối với việc lĩnh hội kiến thức LS và thực tiễn cuộc sống Nhận thức được tác dụng của các hoạt động thực hành, cũng như thấy những lợi ích thu được sau khi làm thực hành, HS sẽ có ý thức học tập đúng đắn, tham gia vào các hoạt động một cách nghiêm túc, tự giác, tích cực
Xác định thái độ đúng đắn với hoạt động thực hành lịch sử là một trong những
Trang 3630
nhiệm vụ của dạy học vừa có tác dụng hình thành nhân cách HS, vừa là cơ sở để quá trình học tập, lĩnh hội tri thức LS diễn ra hiệu quả nhất Bên cạnh việc xác định thái độ đúng đắn với thực hành lịch sử cũng cần tạo hứng thú cho HS với các hoạt động thực hành lịch sử vì hứng thú có tác dụng khích lệ HS tích cực tham gia vào các hoạt động thực hành, là cơ sở để hình thành thái độ làm việc đúng đắn cũng như ý chí vượt khó
để hoàn thành nhiệm vụ từ phía HS
Xét trên bình diện phát triển của các hiện tượng tâm lí, các nhà tâm lí học cho
rằng có ba con đường cơ bản để hình thành và phát triển hứng thú Đó là: từ nhu cầu đến hứng thú; từ tình cảm - nhận thức đến hứng thú; từ nhận thức - tình cảm đến hứng thú [34, tr.134,135] Theo đó thì trong dạy học LS để gây hứng thú cho các hoạt động
thực hành cho HS cần:
- Tạo ra sự hấp dẫn trong các hoạt động thực hành Hiểu một cách đơn giản nhất, tạo sự hấp dẫn trong các hoạt động thực hành lịch sử là tạo sự thích thú của HS đối với các hoạt động thực hành lịch sử Cách đơn giản nhất để tạo sự hấp dẫn thường
là giáo viên gây ấn tượng, thu hút sự chú ý của HS bằng cách lựa chọn và chỉ cho HS thấy được những chi tiết có tính gợi cảm nhất hay những chi tiết độc đáo nhất của mỗi hoạt động thực hành Ví dụ, tính độc đáo của hoạt động dạ hội lịch sử là HS được tham gia vào một sân chơi rất thú vị Các em được tự do trong khoảng thời gian, không gian nhất định, được hợp tác với bạn bè Đây là kiểu học không căng thẳng, vừa học
mà vừa chơi, thậm chí còn có thưởng,…Điều đó cũng hoàn toàn phù hợp với tâm lí lứa tuổi HS là thích được thoải mái, được thể hiện tài năng của mình Vì thế, loại hình hoạt động này sẽ dễ dàng thu hút đông đảo HS tham gia
Đối với những hoạt động thực hành khó tìm thấy những dấu hiệu bề ngoài gây
ấn tượng như vẽ sơ đồ, biểu đồ, lập niên biểu, thì việc giúp HS thấy được ý nghĩa của những hoạt động này với việc học tập LS là điều cần thiết Ở mức độ cao hơn là HS cảm nhận được ý nghĩa, tác dụng quan trọng của mỗi hoạt động thực hành Cách tạo ra
sự hấp dẫn cũng rất đa dạng phong phú, tùy thuộc vào những tình huống cụ thể
- Tổ chức đa dạng các hoạt động thực hành là hình thức khắc phục tình trạng nhàm chán, buồn tẻ khi phải lặp đi lặp lại một hành động nhất định cho HS, là biện pháp phát triển hứng thú, làm cho những hứng thú có tính chất cục bộ thành hứng thú
Trang 3731
thực hành mang tính toàn diện, dần dần biến thành xu hướng cá nhân Nhờ xu hướng hướng này mà HS sẽ có thói quen sẵn sàng sử dụng các hình thức thực hành lịch sử trong quá trình học tập lịch sử
- Luôn khích lệ, động viên HS Hứng thú là một hiện tượng tâm lí rất phức tạp thể hiện xúc cảm của con người, gắn liền với nhu cầu tìm hiểu đối tượng và khát vọng được hành động để tìm hiểu đối tượng Khích lệ, động viên HS là cách làm cho hứng thú phát triển liên tục và bền vững Muốn khích lệ, động viên HS, giáo viên phải biết nhu cầu thực của HS, xem các em cần gì, muốn gì để kịp thời có tác động phù hợp giúp đỡ HS Đây cũng là hình thức dạy học tiếp cận năng lực HS Khi nhu cầu được thỏa mãn, HS sẽ tìm thấy sự say mê và có hứng thú với đối tượng đó
* Vận dụng linh hoạt, đa dạng các biện pháp thực hành
Nhìn chung, mỗi biện pháp thực hành đều có ưu thế nổi bật trong việc rèn luyện một năng lực nào đó cho HS Trên thực tế, không có một phương pháp nào đa năng, nếu có thể nên kết hợp các biện pháp với nhau một cách phù hợp và linh hoạt (trong đó
có một phương pháp chủ đạo) để phát huy đối đa những ưu thế của chúng
Vận dụng linh hoạt, đa dạng các biện pháp thực hành để phát triển toàn diện các
kĩ năng thực hành Đồng thời cũng rèn luyện tính mềm dẻo của tư duy, tránh được tình trạng nhàm chán, mệt mỏi cho HS
Ngoài ra, lựa chọn biện pháp thực hành cần căn cứ vào đặc điểm kiến thức, mục tiêu dạy học, đối tượng HS cũng như khoảng thời gian cho phép
* Cần tiến hành một cách thường xuyên, liên tục các hình thức thực hành
Các hoạt động học tập nói chung, thực hành lịch sử nói riêng phải được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục nếu không thì độ sâu, độ bền của kiến thức cũng như độ thuần thục của các kĩ năng sẽ bị mất dần Theo cách nhìn của tâm lí học thì sự hình thành
kĩ năng, kĩ xảo là cả một quá trình mà con người liên tục tham gia vào các chuỗi hoạt động lặp đi lặp lại nhiều lần một cách có ý thức Trong quá trình hành động, các thao tác
đi dần đến tự động hóa, những yếu tố không cần thiết bị loại bỏ và kĩ xảo dần được hình
Trang 3832
thành Tiến hành một cách thường xuyên, liên tục các biện pháp thực hành là cách tích cực để ôn luyện, củng cố kiến thức và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo học tập cho HS
* Thường xuyên kiểm tra việc rèn luyện năng lực thực hành của học sinh
Kiểm tra đánh giá bao gồm cả việc tự kiểm tra đánh giá của HS tồn tại như một khâu không thể thiếu được trong quá trình dạy học Mục đích của kiểm tra, đánh giá năng lực thực hành là để biết được sự chuyển biến của HS về độ thuần thục của các kĩ năng thực hành và qua đó, GV cũng biết được kết quả của các biện pháp thực hành đã
áp dụng Trước khi tiến hành khâu kiểm tra, đánh giá, GV phải xây dựng các tiêu chí dựa trên mục tiêu thực hành đặt ra lúc đầu Các tiêu chí này là cơ sở để GV đánh giá mức độ phát triển của năng lực sau một quá trình học tập Nội dung kiểm tra trong các hoạt động thực hành chủ yếu là kĩ năng vận dụng những kiến thức đã học vào giải quyết nhiệm vụ học tập Phương pháp kiểm tra rất đa dạng, tùy thuộc vào đặc điểm của từng biện pháp thực hành mà GV đã rèn cho HS Thực hành lịch sử là một phương pháp học tập lịch sử, được tiến hành thường xuyên đối với từng bài học lịch sử Kiểm tra thường xuyên sẽ giúp GV biết được ý thức học tập của HS, giúp HS tự đánh giá khả năng của mình Tuy nhiên, để kiểm tra các kĩ năng thực hành thì không nhất thiết tiết học nào cũng kiểm tra GV nên vạch ra kế hoạch dạy học nói chung, trong đó có
kế hoạch kiểm tra thực hành
3.2 Một số biện pháp phát triển năng lực thực hành cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam (từ năm 1858 đến cuối thế kỉ XIX) ở trường THPT (Chương trình chuẩn)
3.2.1 Hướng dẫn học sinh nắm vững kiến thức về phương pháp thực hành lịch sử
Phương pháp thực hành lịch sử là cách thức tiến hành các hoạt động thực hành lịch sử nói chung, là một trong ba thành phần cấu thành năng lực thực hành Muốn hình thành và nâng cao năng lực thực hành không thể không trang bị cho HS những hiểu biết cơ bản về phương pháp thực hành bộ môn như khi nào cần sử dụng thực hành lịch sử; sử dụng hoạt động nào, sử dụng như thế nào; tiện lợi của các hoạt động này đưa lại với quá trình nhận thức LS là gì?
Bồi dưỡng, hướng dẫn HS nắm vững kiến thức về phương pháp thực hành lịch sử gồm:
Trang 3933
- Hiểu biết về tình huống có thể sử dụng các hoạt động thực hành lịch sử Thực hành lịch sử tồn tại song song với quá trình dạy học LS và nó có thể thực hiện ở bất cứ khâu học tập nào của HS, từ khâu chuẩn bị bài ở nhà đến nhận thức kiến thức mới cũng như ôn tập, kiểm tra Tuy nhiên, không phải cứ thích là có thể thực hiện Phải căn cứ vào đặc trưng kiến thức, yêu cầu của nhiệm vụ học tập trong tình huống nhất định để lựa chọn hoạt động thực hành cụ thể Muốn lựa chọn được hoạt động phù hợp, trước hết cần trang
bị cho HS nắm được khái niệm cơ bản về từng nội dung thực hành: sơ đồ, biểu đồ, đồ thị, bảng thống kê, niên biểu tổng hợp, niên biểu chuyên đề, dạ hội LS,… Rõ ràng là HS không thể vẽ được sơ đồ LS nếu như các em không tưởng tượng được hình thù của sơ đồ
ra sao; sơ đồ khác biểu đồ ở chỗ nào Nắm được khái niệm là rất cần thiết vì nó có tác dụng giúp HS nhanh chóng xác định được loại kiến thức mà các em đang học phù hợp với loại thực hành nào Đồng thời, nó còn có tác dụng định hướng cho hành động thực hành tiếp theo
- Biết được đặc trưng của từng hoạt động thực hành Mỗi một hoạt động thực hành đều có những đặc trưng nổi bật khác nhau Đặc trưng này làm nên sự khác biệt giữa các hoạt động thực hành và tạo nên sự phong phú, đa dạng của thực hành lịch sử nói chung Đặc trưng quy định hình thức hoạt động thực hành, là cơ sở để HS lựa chọn loại kiến thức phù hợp trong thực hành Dưới đây là đặc trưng nổi bật của các hoạt động thực hành thường hay được sử dụng trong dạy học LS ở trường phổ thông:
Đặc trưng nổi bật của bản đồ, lược đồ LS là thể hiện địa danh LS Nhìn vào lược đồ, bản đồ LS dễ dàng nắm được một cách khái quát tiến trình diễn ra sự kiện, hiện tượng LS nên nó phù hợp cho việc trình bày diễn biến các sự kiện LS xảy ra trên các địa danh đó
Đặc trưng của biểu đồ, đồ thị LS gắn liền với những đại lượng, những con số cụ thể Nó được thể hiện qua các cột số liệu hay đường kí hiệu cho sự phát triển của các con số trên trục tung và trục hoành Đồ thị, biểu đồ LS được sử dụng khi muốn so sánh những số liệu khác nhau của một hay nhiều sự kiện LS để từ đó rút ra những kết luận về bản chất của vấn đề đang được đề cập đến
Sơ đồ lịch sử gắn liền với các hình học đơn giản Nhìn vào sơ đồ cũng có thể dễ dàng nhận thấy sự vận động hay đặc điểm của sự kiện, hiện tượng và nó thường được
Trang 4034
dùng để minh họa hay cụ thể hóa một sự kiện LS
Tranh, ảnh, tư liệu lịch sử - những minh chứng sinh động những con người thật, việc thật đã diễn ra trong lịch sử một cách chân thực Nó được sử dụng để minh họa hay làm dẫn chứng khi trình bày một vấn đề LS nào đó
Mạng Internet là nơi lưu giữ lượng thông tin vô tận, phong phú về kiến thức LS Qua máy tính và mạng internet có thể khai thác và thể hiện tất cả những gì cần thiết nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập
Các hình thức hoạt động ngoại khóa là một không gian học tập ngoài lớp học, thậm chí ngoài trường học (tham quan, học ở bảo tàng), là cơ hội giúp HS được tận mắt nhìn thấy những dẫn chứng, minh họa lịch sử Nó phù hợp cho việc học tập, nghiên cứu những vấn đề lịch sử có tính chuyên đề
- Nắm được các bước tiến hành và cách thực hiện các hành động, thao tác cụ thể Nếu như việc biết khái niệm và đặc trưng của mỗi loại thực hành có tác dụng định hướng cho hoạt động thực hành thì việc nắm được các bước thực hành và các thao tác thực hiện lại có tác dụng giúp cho HS làm thực hành tốt hơn Những hiểu biết này được thể hiện qua kĩ năng của HS trong suốt quá trình thực hành Bước đầu trang bị những hiểu biết cho HS về phương thức thực hiện của mỗi loại thực hành, GV cần có
sự hướng dẫn tỉ mỉ và làm mẫu Quá trình làm mẫu, GV phải thực hiện đầy đủ các bước cơ bản tránh làm tắt để HS dễ dàng tiếp thu và thực hiện Bước chuyển từ kĩ năng sang kĩ xảo thường do chính HS quyết định khi mà thao tác hành động đã trở nên thuần thục, các em tự biết cách lược bỏ những chi tiết phụ Ví dụ, hướng dẫn HS tập nghiên cứu về một vấn đề LS, GV phải chỉ rõ cho HS biết công việc nghiên cứu cần thiết phải trải qua các bước như xác định tên đề tài nghiên cứu, sưu tầm tư liệu, viết đề cương, viết bản thảo, nghiệm thu
- Cuối cùng là những hiểu biết cơ bản nhất về cách kiểm tra, đánh giá kết quả của các hoạt động thực hành Đây là khâu rất khó với HS nhưng là bước cần thiết để
HS biết được sản phẩm của mình làm ra để có kế hoạch điều chỉnh GV cần đưa ra những tiêu chí chủ yếu để HS có thể tự đánh giá là: khoảng thời gian thực hiện có phù hợp với số lượng kiến thức, công việc phải làm không; đường nét thể hiện như thế nào; sản phẩm có làm nổi bật được bản chất vấn đề mà các em đang tìm hiểu hay không?