Do đó đòi hỏi mỗi doanh nghiệp nhập khẩu phải không ngừng hoànthiện quy trình nhập khẩu hàng hóa của mình cho phù hợp với tình hình thựctế của doanh nghiệp và những biến động của thị trư
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
Giảng viên hướng dẫn:
Hà Nội – Năm 2019
Trang 2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn tốt nghiệp là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị thực tập.
Sinh viên
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trần Thị Loan
Trang 3MỤC LỤC
TRANG BÌA……… ………i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC……… ……….iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2.Mục đích nghiên cứu 2
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4.Phương pháp thực hiện 2
5.Kết cấu của luận văn tốt nghiệp 3
CHƯƠNG 1:NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUY TRÌNH NHẬP KHẨU HÀNG HÓA 4
1.1.Một số vấn đề cơ bản về nhập khẩu hàng hóa 4
1.1.1.Khái niệm nhập khẩu hàng hóa 4
1.1.2.Vai trò của nhập khẩu hàng hóa 6
1.1.3 Các phương thức nhập khẩu hàng hóa 10
1.1.3.1 Nhập khẩu trực tiếp 10
1.1.3.2 Nhập khẩu liên doanh 11
1.1.3.3 Nhập khẩu uỷ thác 12
1.1.3.4 Nhập khẩu tái xuất 13
1.1.3.5 Nhập khẩu hàng đổi hàng 13
1.2.Quy trình của hoạt động nhập khẩu hàng hóa 14
1.2.1.Nghiên cứu thị trường nhập khẩu 15
1.2.2.Đàm phán và ký kết hợp đồng nhập khẩu 16
1.2.3.Tổ chức và thực hiện hợp đồng nhập khẩu 21
1.2.4.Tổ chức khiếu nại và giải quyết tranh chấp (nếu có) 26
Trang 41.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến quy trình nhập khẩu hàng hóa 27
1.3.1.Nhân tố khách quan 27
1.3.2.Nhân tố chủ quan 30
CHƯƠNG 2: QUY TRÌNH NHẬP KHẨU HÀNG HÓA TẠI CÔNG TY CP THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ HBS VIỆT NAM 33
2.1 Khái quát về về CTCP Thương Mại và Dịch Vụ HBS Việt Nam 33
2.1.1.Lịch sử hình thành và phát triển của công ty 33
2.1.2.Bộ máy tổ chức của CTCP Thương Mại và Dịch vụ HBS Việt Nam .35
2.2.Thực trạng quy trình nhập khẩu hàng hóa tại CTCP Thương Mại và Dịch vụ HBS Việt Nam 41
2.2.1.Nghiên cứu thị trường và lập kế hoạch nhập khẩu 41
2.2.2.Đàm phán và kí kết hợp đồng 44
2.2.3.Tổ chức và thực hiện hợp đồng nhập khẩu tại CTCP Thương Mại Và Dịch Vụ HBS Việt Nam 46
2.3.Nhận xét chung về Quy trình nhập khẩu hàng hóa tại CTCP Thương Mại và Dịch Vụ HBS Việt Nam 53
2.3.1.Những kết quả đạt được 53
2.3.2.Những vấn đề còn tồn tại trong quy trình nhập khẩu tại CTCP Thương Mại và Dịch Vụ HBS Việt Nam 55
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY TRÌNH NHẬP KHẨU HÀNG HÓA TẠI CTCP THƯƠNG MẠI & DỊCH VỤ HBS VIỆT NAM 58
3.1.Định hướng và mục tiêu của công ty trong thời gian tới 58
3.2.Giải pháp hoàn thiện quy trình nhập khẩu hàng hóa tại CTCP Thương Mại & Dịch Vụ HBS Việt Nam 59
3.2.1.Giải pháp trong khâu nghiên cứu thị trường và lập kế hoạch nhập nhẩu 59
3.2.2.Giải pháp trong khâu đàm phán và ký kết hợp đồng 60
3.2.3.Giải pháp trong khâu làm thủ tục hải quan 62
3.2.4.Giải pháp trong khâu giao nhận hàng hóa 64
3.2.5.Giải pháp trong khâu thanh toán 64
Trang 53.3.Các giải pháp về điều kiện 65
3.3.1.Nâng cao trình độ nguồn nhân lực 65
3.3.2.Xây dựng và duy trì tín nhiệm đối với khách hàng 67
3.3.3.Xây dựng chiến lược tiêu thụ sản phẩm 68
3.3.4.Xây dựng chính sách giá cả linh hoạt………….…… ……….69
3.3.5.Huy động và sử dụng vốn hiệu quả 70
KẾT LUẬN 72
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Các lĩnh vực kinh doanh của CTCP HBS Việt Nam 37
Bảng 2.2: Kết quả hoạt động sản xuất -kinh doanh của công ty 39
Bảng 2.3: Kim ngạch nhập khẩu theo thị trường của công ty 42
Bảng 2.4: Kết quả phân luồng tờ khai của công ty 51
Bảng 2.5: Kim ngạch nhập khẩu năm 2016 – 2018 53
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Sơ đồ quy trình hoạt đông nhập khẩu hàng hóa 15
Hình 1.2: Quy trình đàm phán thương mại quốc tế 19
Hình 1.3: Quy trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu hàng hóa 21
Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của công ty 35
Trang 9MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới đang diễn ra với tốc độ ngàycàng nhanh và sâu sắc Đó là xu thế tất yếu khách quan và là một quy luật màmọi quốc gia trong khu vực và trên thế giới đều phải tuân theo Biểu hiện rõnhất của xu thế này là quá trình tự do hóa buôn bán trong khu vực và phạm vitoàn cầu
Thực hiện đường lối chuyển đổi nền kinh tế của đất nước, hội nhập vớinền kinh tế thế giới, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương không ngừng mởrộng quan hệ kinh tế đối ngoại, đặc biệt là trong lĩnh vực hợp tác quốc tế.Trong đó, thương mại quốc tế là lĩnh vực quan trọng để Việt Nam dần có chỗđứng trong khu vực và trên phạm vi thế giới, thực hiện mục tiêu mà Đại hội
Đảng đề ra: “Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa
các quan hệ kinh tế đối ngoại… xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập khu vực và thế giới…”.
Việt Nam đang trên đường hội nhập với nền kinh tế thế giới, các hoạtđộng giao thương quốc tế ngày càng được mở rộng, không chỉ là các mốiquan hệ hợp tác, giao lưu đối ngoại mà còn là các hoạt động xuất nhập khẩuhàng hoá Hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong những năm vừa qua
đã có nhiều thành tựu đáng khích lệ Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng nămđều có những tăng trưởng nhất định Trong đó, hoạt động nhập khẩu hàng hóamang lại nhiều lợi thế cho nền kinh tế, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tếquốc gia
Công Ty Cổ Phần Thương Mại & Dịch Vụ HBS Việt Nam ra đời tronghoàn cảnh đất nước đang chuyển mình mạnh mẽ để hội nhập kinh tế Quốc tế,chuyên kinh doanh trong lĩnh vực xuất nhập khẩu Với hướng đi đúng đắntrong những năm qua công ty đã tạo được niềm tin nơi khách hàng và không
Trang 10ngừng phát triển Đối với mỗi doanh nghiệp tham gia vào hoạt động nhậpkhẩu nói riêng, việc xây dựng một quy trình nhập khẩu hàng hóa đơn giản,hợp lý và hiệu quả có ý nghĩa quan trọng với quá trình nhập khẩu hàng hóacủa doanh nghiệp Nó giúp hoạt động nhập khẩu diễn ra một cách trơn tru vànhanh chóng hơn, tiết kiệm nguồn lực và mang lại lợi nhuận cho doanhnghiệp Do đó đòi hỏi mỗi doanh nghiệp nhập khẩu phải không ngừng hoànthiện quy trình nhập khẩu hàng hóa của mình cho phù hợp với tình hình thực
tế của doanh nghiệp và những biến động của thị trường trong nước cũng nhưthế giới Nhận thấy vai trò quan trọng của quy trình nhập khẩu hàng hóa vớihoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, do đó trong thời gian thực tập và tìmhiểu tại Công ty, với kiến thức đã học được em quyết định lựa chọn đề tài:
“Quy trình nhập khẩu hàng hóa tại công ty Cổ Phần Thương Mại & Dịch Vụ
HBS Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2.Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu lý luận và thực tiễn quy trình Nhập khẩu hàng hóa tại CTCPThương Mại & Dịch Vụ HBS Việt Nam, dựa vào tình hình thực tế và so sánhvới lý thuyết nhằm rút ra những khác biệt và những kinh nghiệm thực tiễn
Phân tích để tìm ra những ưu, nhược điểm của quy trình này và đưa ramột số giải pháp để hoàn thiện quy trình nhập khẩu hàng hóa,nâng cao hoạt
động nhập khẩu tại công ty Cổ Phần Thương Mại & Dịch Vụ HBS Việt Nam 3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề về quy trình Nhập khẩu hànghóa tại CTCP Thương Mại & Dịch Vụ HBS Việt Nam trong giai đoạn 2016 –
2018 và đưa ra giải pháp hoàn thiện quy trình này
4.Phương pháp thực hiện
Để thực hiện luận văn này, em đã sử dụng các tài liệu được công ty cungcấp, đồng thời tìm thêm tư liệu trên các phương tiện thông tin về đề tài nghiên
Trang 11cứu Các phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận văn bao gồm: phươngpháp thống kê, diễn giải, quy nạp; quan sát,so sánh, phân tích, tổng hợp vàđánh giá dựa trên các số liệu thu thập được tại đơn vị thực tập.
5.Kết cấu của luận văn tốt nghiệp
Kết cấu của luận văn ngoài phần mở đầu, bảng biểu, sơ đồ, kết luận vàdanh mục tài liệu tham khảo thì nội dung chính của đề tài được trình bàytrong 3 chương:
CHƯƠNG 1: Những lý luận cơ bản về quy trình nhập khẩu hàng hóa.CHƯƠNG 2: Quy trình nhập khẩu hàng hóa tại CTCP Thương Mại &Dịch Vụ HBS Việt Nam
CHƯƠNG 3: Một số giải pháp hoàn thiện quy trình nhập khẩu hàng hóatại CTCP Thương Mại & Dịch Vụ HBS Việt Nam
Trang 12CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUY TRÌNH NHẬP KHẨU HÀNG HÓA 1.1.Một số vấn đề cơ bản về nhập khẩu hàng hóa
1.1.1.Khái niệm nhập khẩu hàng hóa
Trong nền kinh tế sản xuất hàng hóa,hoạt động trao đổi hàng hóa dịch vụ
là điều kiện quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của xã hội Các hoạt độngtrao đổi ấy gọi chung là hoạt động thương mại Trước đây, hoạt dộng thươngmại chỉ là hoạt động mua bán hàng hóa, tuy nhiên, quan niệm này không cònphù hợp trong bối cảnh hiện nay
Theo điều 3 Luật Thương mại năm 2005, hoạt động thương mại là hoạtđộng nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ,đầu tư xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.Thương mại quốc tế là hoạt động thương mại có yếu tố nước ngoài thamgia, là quá trình trao đổi hàng hoá giữa các nước thông qua buôn bán nhằmmục đích kinh tế tối đa Trao đổi hàng hoá là một hình thức của các mối quan
hệ kinh tế xã hội và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những người sảnxuất kinh doanh hàng hoá riêng biệt của các quốc gia Thương mại quốc tế làmột lĩnh vực quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các nước tham gia vào phâncông lao động quốc tế, phát triển kinh tế và làm giàu cho đất nước Ngày nay,thương mại quốc tế không chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là buôn bán mà là sựphụ thuộc tất yếu giữa các quốc gia vào phân công lao động quốc tế Vì vậy,phải coi thương mại quốc tế như một tiền đề một nhân tố phát triển kinh tếtrong nước trên cơ sở lựa chọn một cách tối ưu sự phân công lao động vàchuyên môn hoá quốc tế
Thương mại quốc tế một mặt phải khai thác được mọi lợi thế tuyệt đốicủa đất nước phù hợp với xu thế phát triển và quan hệ kinh tế quốc tế Mặtkhác, phải tính đến lợi thế tương đối có thể được theo quy luật chi phí cơ hội
Trang 13Phải luôn luôn tính toán cái có thể thu được so với cái giá phải trả khi thamgia vào buôn bán và phân công lao động quốc tế để có đối sách thích hợp Vìvậy để phát triển thương mại quốc tế có hiệu quả lâu dài cần phải tăng cườngkhả năng liên kết kinh tế sao cho mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau ngày cànglớn.
Trước đây, thương mại quốc tế thường được điều chỉnh bằng các hiệpđịnh thương mại song phương giữa hai nước Trước thế kỷ XIX, khi chủnghĩa trọng thương còn chiếm ưu thế, đa số các nước áp đặt những mức thuếcao cùng nhiều hạn chế thương mại khác đối với hàng nhập khẩu Kể từ thế
kỷ XIX, tư tưởng về thương mại tự do dần dần nổi lên giữ vai trò chủ đạo ởcác nước phương Tây, đặc biệt là ở Anh Trong những năm kể từ sau Chiếntranh Thế giới lần thứ hai, các hiệp định thương mại đa phươngnhư GATT và WTO đã cố gắng xây dựng một cơ chế thương mại quốc tế có
sự thống nhất điều chỉnh trên phạm vi toàn cầu
Hướng tới thương mại tự do, các hiệp định thương mại không chỉ đàmphán việc giảm thuế mà còn đàm phán cả các biện pháp phi thuế như hạn chế
số lượng nhập khẩu, cấp phép nhập khẩu, vệ sinh kiểm dịch, đầu tư nướcngoài, mua sắm chính phủ và tạo thuận lợi cho thương mại bằng cách đơngiản hóa các thủ tục hải quan
Theo Luật Thương mại 2005, nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá đượcđưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trênlãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của phápluật
Hoạt động trao đổi hàng hoá và dịch vụ được coi là hoạt động thương
mại, nó bao gồm hoạt động nội thương và hoạt động ngoại thương trong đóngoại thương bao gồm xuất khẩu và nhập khẩu
Trang 14Hoạt động nhập khẩu là việc mua hàng hoá, dịch vụ từ các tổ chức kinh
tế hay các doanh nghiệp nước ngoài theo các nguyên tắc thị trường quốc tếnhằm đáp ứng nhu cầu trong nước hoặc tái xuất khẩu để tìm kiếm lợi nhuận.Hoạt động nhập khẩu là một bộ phận rất quan trọng trong hoạt độngthương mại quốc tế, nó thể hiện sự phụ thuộc gắn bó lẫn nhau giữa nền kinh
tế quốc gia với nền kinh tế thế giới Từ đó thấy được lợi thế so sánh về vốn,lao động, tài nguyên thiên nhiên, khoa học công nghệ, để có chính sách khaithác hợp lý và có lợi nhất
Xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá trên thế giới diễn ra khá mạnh mẽ, đó là
sự hình thành các khu vực mậu dịch, các liên minh kinh tế như AFTA,NAFTA, đã cho thấy khối lượng giao dịch giữa các quốc gia ngày càng lớn
và rõ ràng vai trò nhập khẩu là không thể thiếu, nó không chỉ quan trọng đốivới một quốc gia mà còn đối với cả sự ổn định kinh tế chung của khu vực Ởmột giới hạn nhất định nhập khẩu có thể quyết định tới sự sống còn của nềnkinh tế nước đó đã thống nhất dưới một mái nhà chung của nền kinh tế thếgiới
1.1.2.Vai trò của nhập khẩu hàng hóa
Một điều khẳng định rằng, trên thế giới nơi nào có hoạt động thươngmại, đặc biệt là thương mại quốc tế phát triển thì nơi đó có nền kinh tế pháttriển Trước đây một số nước như Trung Quốc, Liên Xô (cũ), Việt Nam đã coiđộc lập kinh tế là vấn đề trên hết và có ý thức xây dựng một nền kinh tế tựcung tự cấp Nhưng thực tế đã thất bại, sự khan hiếm hàng hoá trầm trọng đãảnh hưởng đến kinh tế cũng như xã hội Bài học này cho thấy rằng hoạt độngngoại thương là vô cùng quan trọng, phải biết kết hợp cả nội lực và ngoại lực,ngoại lực là yếu tố quan trọng còn nội lực là yếu tố quyết định Trong thực tếkhông có quốc gia nào là có lợi thế về tất cả các mặt hàng, các lĩnh vực, sự bổsung hàng hoá giữa các quốc gia đã đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu
Trang 15Những quốc gia phát triển thường xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu rất nhiều vàngược lại những nước kém phát triển thì kim ngạch nhập khẩu lớn hơn xuấtkhẩu Nhận thức được vấn đề này, các quốc gia đã tích cực tham gia vào các
tổ chức thương mại quốc tế nơi thúc đẩy sự trao đổi buôn bán giữa các nướcdiễn ra một cách mạnh mẽ và có hiệu quả hơn Và thành phần không thểthiếu, đó là nhập khẩu đã đóng vai trò quan trọng của nền kinh tế quốc giacũng như đối với sự phát triển của thương mại quốc tế
Thứ nhất, nhập khẩu góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội, cải
thiện và nâng cao tính cạnh tranh, giảm độc quyền
Nhờ hoạt động này mà một quốc gia có thể tiêu dùng vượt khả năng sảnxuất của mình Cũng nhờ có hoạt động nhập khẩu cơ cấu hàng hoá lưu thôngtrên thị trường trở nên phong phú hơn cả về quy cách, chất lượng, chủng loại,mẫu mã thoả mãn được nhu cầu trong nước ở mức độ cao đặc biệt đối vớihàng hóa trong nước chưa sản xuất được Bên cạnh đó nó cũng tạo ra sự cạnhtranh mạnh mẽ giữa hàng sản xuất trong nước và hàng ngoại nhập, thanh lọccác doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả và khuyến khích các doanh nghiệp nộiđịa vươn lên Nó xoá bỏ tình trạng độc quyền, phá vỡ triệt để nền kinh tếđóng, chế độ tự cung tự cấp Mặt khác, hoạt động nhập khẩu còn góp phần cảithiện điều kiện làm việc cho người lao động thông qua việc nhập khẩu cácphương tiện, công cụ lao động mới, tiên tiến và an toàn
Việt Nam hiện nay vẫn đang trong quá trình đổi mới, do đó vẫn còn khánhiều tàn dư mà thời bao cấp để lại như là tình trạng độc quyền của một sốtổng công ty, doanh nghiệp nhà nước, tác phong quản lý mệnh lệnh tập trung
và quan liêu, hiệu quả sản xuất thấp Hoạt động nhập khẩu sẽ giúp cho hànghóa dịch vụ ở thị trường trong nước trở lên phong phú hơn, làm cho cácdoanh nghiệp muốn tồn tại thì phải nâng cao khả năng cạnh tranh của mình vềchất lượng, giá cả, thái độ phục vụ khách hàng
Trang 16Thứ hai, nhập khẩu tạo điều kiện thúc đẩy quá trình xây dựng cơ sở vật
chất, kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hoá-Hiệnđại hóa
Không phải tất cả các quốc gia trên thế giới đều có thể tự sản xuất đượctất cả hàng hoá phục vụ cho tiêu dùng hay xây dựng, để rồi tự trang bị chomình, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam, nhu cầu về cải thiện
cơ sở hạ tầng rất lớn và việc trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại tất yếuphải thông qua con đường nhập khẩu
Hoạt động nhập khẩu phát triển sẽ điều chỉnh cơ cấu kinh tế Nhờ cónhập khầu, hoạt động thương mại phát triển hơn, ngân hàng, vận tải, bảohiểm… cũng thêm được cơ hội để hướng ra thế giới bên ngoài, mở rộng quy
mô, tăng cường tiềm lực phát triển kinh tế đất nước Sự phát triển của nhậpkhẩu sẽ đẩy mạnh sự phát triển của ngành công nghiệp và dịch vụ do áp dụngnhững thành tựu khoa học trên thế giới, qua đó tỉ trọng ngành dịch vụ và côngnghiệp tăng còn tỉ trọng ngành nông nghiệp giảm dần
Thứ ba, nhập khẩu giúp tận dụng năng lực sản xuất của quốc gia khác,
làm cho thị trường hàng hóa dịch vụ trong nước thêm phong phú
Vì một lý do nào đó tác động đến cân bằng cung cầu và cung không đápứng đủ cầu trong nước Mục tiêu hiệu quả kinh tế làm cho các quốc gia thamgia vào phân công lao động quốc tế, tập trung phát triển mặt hàng lợi thế.Hàng loạt các nhu cầu không thể đáp ứng bằng nguồn lực sản xuất nội địa màphát sinh nhu cầu nhập khẩu mang tính chu kỳ và khá ổn định Tham gia hoạtđộng nhập khẩu, sự mất cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa cung và cầuđược khắc phục nghĩa là góp phần làm cho quá trình sản xuất và tiêu dùngdiễn ra thường xuyên và ổn định Không chỉ nhập khẩu trực tiếp hàng hoáthiết yếu mà thị trường nội địa còn khan hiếm mà cả máy móc, nguyên phụliệu, công nghệ giúp cho sản xuất trong nước phát triển, năng suất lao động
Trang 17cao hơn, hàng hoá sản xuất ra dồi dào và ngoài ra còn có tác dụng giữ giá ổnđịnh trên thị trường, hạn chế sự leo thang của giá cả bằng cách tạo ra môitrường cạnh tranh lành mạnh-chất lượng và giá cả được quan tâm.
Thứ tư, nhập khẩu thúc đẩy sự đổi mới về thiết bị và công nghệ
Nhập khẩu tác động trực tiếp đến sản xuất và kinh doanh vì nó cung cấpnguyên phụ liệu để sản xuất hàng hoá trong nước, tỷ lệ nguyên phụ liệu nàytuỳ thuộc vào từng quốc gia với nhu cầu của họ, đem lại nhiều trình độ côngnghệ khác nhau phù hợp với từng vùng, địa phương với quy mô và khả năngsản xuất được nâng cao, năng suất lao động tăng Quá trình nhập khẩu hànghóa cũng tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp nội địa được tiếp cậnvới quy trình sản xuất và trang thiết bị hiện đại thông qua quá trình chuyểngiao khoa học kỹ thuật và công nghệ từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu
Từ đó tạo điều kiện cho quá trình đổi mới công nghệ sản xuất của doanhnghiệp nhập khẩu và của cả quốc gia
Với các quốc gia đang phát triển, hoạt động nhập khẩu đem lại sựchuyển giao khoa học công nghệ, máy móc thiết bị Nhờ đó góp phần đẩymạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế và thu hẹp khoảngcách về trình độ khoa học công nghệ giữa các quốc gia trên thế giới
Thứ năm, nhập khẩu giúp cân bằng cán cân thanh toán
Một quốc gia không thể chỉ có xuất khẩu mà không nhập khẩu Thôngqua xuất nhập khẩu có thể làm tăng ngoại tệ thu được, cải thiện cán cân thanhtoán, tăng thu cho ngân sách nhà nước Nhập khẩu là một trong hai hoạt độngchính của hoạt động ngoại thương, nó một mặt làm cân bằng cán cân thanhtoán quốc tế, một mặt thúc đẩy xuất khẩu phát triển, đây là hai hoạt độngkhông thể tách rời nhau của một nền kinh tế
Nhập khẩu và xuất khẩu có mối quan hệ khăng khít với nhau Hiện naytrên thế giới, các nước đều nhấn mạnh đến hoạt động xuất khẩu nhưng không
Trang 18vì thế mà nhập khẩu bị coi nhẹ Có những mặt hàng nguyên phụ liệu phảinhập khẩu từ nước ngoài, cá biệt có thể là 100%, mà lợi thế so sánh chỉ là giánhân công rẻ hoặc được hưởng ưu đãi nào đó Đối với những nước kém vềcông nghệ thì việc nhập khẩu công nghệ, máy móc thiết bị giúp cho hàng hoásản xuất chất lượng cạnh tranh trên thị trường quốc tế Ngược lại, nhập khẩuphải có lượng dự trữ ngoại tệ, khoản này không thể chỉ trông mong từ hoạtđộng đi vay từ các tổ chức quốc tế mà nó cần thiết phải được lấy ra từ hoạtđộng xuất khẩu và các nước đều cân đối để cán cân thương mại được cânbằng.
1.1.3 Các phương thức nhập khẩu hàng hóa
Nhập khẩu đơn thuần chỉ là hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá quabiên giới nhưng trong thực tế có nhiều phương thức nhập khẩu, mỗi loại cónhững điều kiện nhất định, ưu điểm, nhược điểm riêng.Để phù hợp với đặcđiểm riêng của từng doanh nghiệp và phân tán rủi ro, hiện nay, trong thươngmại quốc tế tồn tại rất nhiều phương thức nhập khẩu khác nhau Mỗi doanhnghiệp thực hiện kinh doanh nhập khẩu theo một hay một số phương thức xácđịnh phù hợp với điều kiện và mục tiêu cụ thể của mình Dưới dây, là cácphương thức nhập khẩu chủ yếu sau
Trang 19Trong hoạt động nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, doanh nghiệp hoàn toànnắm quyền chủ động, doanh nghiệp nhập khẩu tự tìm hiểu thị trường, tìmkiếm và lựa chọn nhà cung cấp, lựa chọn phương thức giao dịch, đến việc kýkết và thực hiện hợp đồng Đây là điểm khác biệt nhất so với các hình thứcnhập khẩu khác Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải nắm bắt được chất lượnghàng hoá của đối tác cũng như những thông tin về đối tác để đảm bảo không
bị gian lận thương mại Trong hình thức này, doanh nghiệp nhập khẩu sẽ phải
tự bỏ vốn để chi trả toàn bộ các chi phí phát sinh trong quá trình hoạt độngkinh doanh và chịu toàn bộ những rủi ro xảy ra nhưng được hưởng lợi toàn
bộ Các doanh nghiệp sẽ có sự tự chủ trong việc mua hàng hoá hơn so với cáchình thức khác
1.1.3.2 Nhập khẩu liên doanh
Đây là một hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết kỹ thuậtmột cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp (trong đó có ít nhất một doanhnghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp) nhằm phối hợp kỹ năng, kỹ thuật để cùnggiao dịch và đề ra các chủ trương biện pháp có liên quan đến hoạt động nhậpkhẩu, thúc đẩy hoạt động này phát triển theo hướng có lợi nhất cho cả hai bên,cùng chia lãi nếu lỗ thì cùng phải chịu
Trong hình thức này, các doanh nghiệp nhập khẩu liên doanh ít chịu rủi
ro bởi mỗi doanh nghiệp liên doanh nhập khẩu chỉ phải góp một phần vốnnhất định, quyền hạn và trách nhiệm của các bên cũng tăng theo số vốn góp,việc phân chia chi phí, thuế doanh thu theo tỷ lệ vốn góp, lãi lỗ hai bên phânchia tuỳ theo thoả thuận dựa trên vốn góp cộng với phần trách nhiệm mà mỗibên gánh vác
Tại Việt Nam, hoạt động nhập khẩu liên doanh vẫn đang được áp dụngtại nhiều doanh nghiệp do một mặt thiếu vốn, năng lực cần thiết; mặt khác dokhông thể tìm được đối tác có nhu cầu tương tự
Trang 20Doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu trực tiếp trong liên doanh phải kýhai loại hợp đồng, một hợp đồng với đối tác bán hàng nước ngoài và hợpđồng liên doanh với các doanh nghiệp khác.
1.1.3.3 Nhập khẩu uỷ thác
Hoạt động nhập nhẩu uỷ thác được hiểu là hoạt động dịch vụ thươngmại, được hình thành giữa một doanh nghiệp có vốn, ngoại tệ riêng và có nhucầu nhập khẩu một loại hàng hoá nào đó nhưng lại không có khả năng nhậpkhẩu trực tiếp, do đó doanh nghiệp này sẽ uỷ thác cho một doanh nghiệp khác
có khả năng nhập khẩu trực tiếp hàng hoá theo yêu cầu của mình, còn doanhnghiệp nhận uỷ thác sẽ thu được lệ phí trong hoạt động nhập khẩu uỷ thác.Quan hệ giữa doanh nghiệp uỷ thác và doanh nghiệp nhận uỷ thác được quyđịnh đầy đủ trong hợp đồng uỷ thác
Trước khi tiến hành nhập khẩu uỷ thác, hai bên sẽ ký kết hợp đồng màtheo đó bên uỷ thác nhận được hàng hoá theo đúng yêu cầu của mình và phảitrả cho bên nhận uỷ thác một khoản tiền gọi là lệ phí uỷ thác Bên nhận uỷthác sẽ thay mặt bên uỷ thác tự tìm kiếm đối tác và thực hiện tất cả các khâutrong hoạt động nhập khẩu hàng hoá đó Bên cạnh đó, bên nhận uỷ tháckhông phải chịu rủi ro về vốn hay về hoạt động bán hàng vì sau khi nhậnđược lệ phí uỷ thác, bên nhận uỷ thác sẽ giao hàng cho bên uỷ thác Trên thực
tế, bên nhận uỷ thác thường là các công ty lớn có khả năng về vốn, nghiệp vụ
và có uy tín trên thị trường
Hoạt động nhập khẩu sẽ đem lại lợi ích cho cả bên uỷ thác và bên nhận
uỷ thác Trong khi bên nhận uỷ thác kiếm được một khoản lệ phí uỷ thác, cònbên uỷ thác vẫn có những hàng hoá mà mình mong muốn mặc dù điều kiện đểnhập khẩu trực tiếp không cho phép Bên uỷ thác cũng sẽ tiết kiệm được thờigian khi không phải làm các thủ tục để có thể nhập khẩu hàng hoá Tuy nhiên,
về lâu dài các doanh nghiệp uỷ thác sẽ mất lợi thế về chi phí trong hoạt động
Trang 21bán hàng và đôi khi hàng hoá không đảm bảo đúng yêu cầu về chất lượng, kỹthuật như trong hợp đồng uỷ thác
Hoạt động nhập khẩu hàng hoá có nhiều hình thức, các doanh nghiệpkinh doanh xuất nhập khẩu cần xác định chính xác tiềm lực của mình khôngchỉ về tài chính mà bên cạnh đó là các nghiệp vụ trong hoạt động nhập khẩuhàng hoá sao cho lợi ích đem lại là tối ưu
1.1.3.4 Nhập khẩu tái xuất
Là hình thức mà doanh nghiệp Việt Nam nhập khẩu hàng hoá từ mộtnước khác, sau đó xuất khẩu chính hàng hóa đó ra khỏi Việt Nam sang mộtnước thứ ba mà không qua các khâu gia công, chế biến hay sản xuất
Đặc điểm đặc trưng của hình thức nhập khẩu này là có ba chủ thể kinh tế
ở ba quốc gia khác nhau: nước xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu.Giao dịch này bao gồm cả nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu lại lượngngoại tệ lớn hơn số vốn ban đầu đã bỏ ra Khi tiến hành tạm nhập tái xuất,doanh nghiệp cần tiến hành đồng thời hai hợp đồng riêng biệt, gồm: hợp đồngmua hàng ký với thương nhân nước xuất khẩu và hợp đồng bán hàng ký vớithương nhân nước nhập khẩu
Để áp dụng hình thức này, doanh nghiệp cần có sự nghiên cứu thị trườngcủa các nước để đảm bảo nguồn cung ứng và đầu ra cho hoạt động kinhdoanh không chỉ là về giá cả, mặt hàng mà còn là luật pháp, tập quán từngnước
1.1.3.5 Nhập khẩu hàng đổi hàng
Đây là phương thức giao dịch trao đổi hàng hoá, trong đó xuất khẩu kếthợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hànggiao đi có giá trị tương xứng với số lượng hàng nhận về
Trong nghiệp vụ này, các bên trao đổi với nhau những hàng hoá tươngđương và việc giao nhận hàng diễn ra gần như đồng thời, có thể thanh toán
Trang 22bằng tiền Các bên trao đổi hàng hoá với nhau trên cơ sở ghi sổ giá trị hànggiao Đến cuối kì hạn, hai bên mới so và đối chiếu giá trị hàng đã giao và trịgiá đã nhận, nếu sau khi thực hiện nghiệp vụ bù trừ, tiền hàng còn dư thì sốtiền đó được giữ lại để chi trả theo yêu cầu của bên chủ nợ hoặc có thể đượcghi vào sổ nghiệp vụ bù trừ năm sau.
Hình thức này đòi hỏi các doanh nghiệp phải nắm rõ được thị trườngnước ngoài về giá cả, mặt hàng cũng như biến động khác để có được sự chínhxác, chặt chẽ trong các hợp đồng mua bán quốc tế
Hoạt động nhập khẩu khá đa dạng về hình thức, mỗi loại có những ưu,nhược điểm riêng, doanh nghiệp nhập khẩu cần phải chọn những phương thứcgiao dịch phù hợp với mình về khả năng tài chính, về nghiệp vụ ngoại thương,
về mối quan hệ với khách hàng sao cho lợi ích thu được là tối ưu
1.2.Quy trình của hoạt động nhập khẩu hàng hóa
Nhập khẩu là việc mua hàng hoá của nước ngoài nhằm phát triển sảnxuất kinh doanh và đời sống, là những hoạt động rất phức tạp, hàm chứanhiều rủi ro đòi hỏi người thực hiện phải có trình độ nghiệp vụ, năng lựcchuyên môn Hoạt động nhập khẩu được tổ chức thực hiện với nhiều nghiệp
vụ nhiều khâu từ điều tra nghiên cứu thị trường nhập khẩu, lựa chọn hànghoá, đối tác nhập khẩu, tiến hành giao dịch đàm phán, ký két hợp đồng và tổchức thực hiện hợp đồng Mỗi khâu, mỗi nghiệp vụ phải được nghiên cứuthực hiện đầy đủ, kỹ lưỡng và đặt trong mối quan hệ lẫn nhau, tranh thủ nắmbắt được những lợi thế đảm bảo cho hoạt động kinh doanh nhập khẩu đạt hiệuquả cao nhất Như vậy cho dù nhập khẩu hình thức nào đi nữa thì các bướctiến hành nhập khẩu ở các doanh nghiệp xuất khẩu đều bao gồm các trình tựsau:
Trang 23Tổ chức khiếu nại
và giải quyết tranh chấp (nếu có)
Đàm phán
và ký kết hợp đồng nhập khẩu
Hình 1.1: Sơ đồ quy trình hoạt đông nhập khẩu hàng hóa
1.2.1.Nghiên cứu thị trường nhập khẩu
Khác với mua bán trong nước, hoạt động nhập khẩu diễn ra trên thịtrường thế giới, các daonh nghiệp thường ở các nước khác nhau, hàng hoábuôn bán được chuyển qua biên giới của mỗi nước,mỗi nước lại có một chínhsách, thể lệ và tập quán thương mại khác nhau Do đó, nghiên cứu thị trường
là nghiệp vụ đầu tiên đặt ra cho bất kỳ một doanh nghiệp nào nhằm giúp họnắm vững đặc điểm của từng thị trường như thị hiếu, phương thức tiêu dùng
và các phong tục tập quán của thị trường đó để có những điều chỉnh phù hợp.Đây là quá trình phức tạp đòi hỏi sự chính xác để đưa ra các kết luận và cácphương án đúng đắn nhằm giảm thiểu rủi ro và tiết kiệm chi phí
Khi tiến hành nghiên cứu thị trường, điều quan trọng mà doanh nghiệpcần quan tâm đến đó là khả năng sản xuất và tiêu dùng hàng hoá của thịtrường Điều này thể hiện ở số lượng hàng hoá, chất lượng của hàng hoá đó,thị hiếu của thị trường đối với hàng hoá hay các phong tục tập quán ảnhhưởng đến việc sản xuất và tiêu dùng hàng hoá đó Bên cạnh đó, chu kỳ sốngcủa sản phẩm cũng là vấn đề mà doanh nghiệp cần quan tâm để có thể biếtđược hàng hoá đó đang nằm trong giai đoạn nào của chu kỳ sống Với nhữnghàng hoá đang nằm ở giai đoạn bão hoà, doanh nghiệp cần xem xét và dự
Trang 24đoán xu thế sử dụng hàng hoá trong thời gian tới để có thể đáp ứng nhu cầucủa thị trường một cách kịp thời Còn với những hàng hoá đang trong thời kìđầu của chu kỳ sống, giai đoạn giới thiệu và phát triển, doanh nghiệp cầnnghiên cứu thời gian hàng hoá đó đứng vững trên thị trường Nếu đó là thờigian dài thì cần có những phương án nhập khẩu những hàng hoá có cùng tínhnăng nhưng có khả năng cạnh tranh về chất lượng, mẫu mã và phong phú vềchủng loại trong cùng một mặt hàng.
Dựa vào kết quả nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp sẽ có những thôngtin về thị trường, về nhà cung cấp và những hàng hoá cần nhập khẩu Doanhnghiệp sẽ có cơ sở để xây dựng chiến lược, kế hoạch và phương án nhập khẩuhàng hoá tránh tình trạng nhập khẩu ồ ạt một loại hàng hoá mà mẫu mã kémphong phú gây lãng phí nguồn lực
Lập một phương án kinh doanh là việc chỉ rõ những đặc điểm của hànghoá cần nhập, đặc điểm của đối tác, những lợi ích mà doanh nghiệp đạt được,
… và trong phương án kinh doanh cũng cần phải có những chỉ tiêu đã dự tính:doanh thu, lợi nhuận, hiệu quả của phương án,… Cuối cùng là những lời kếtluận và kiến nghị để phương án được thực thi một cách có hiệu quả nhất.Doanh nghiệp không chỉ xây dựng một phương án nhập khẩu mà cònphải xây dựng những phương án nhập khẩu khác nhằm duy trì liên tục hoạtđộng nhập khẩu và đưa hàng nhập khẩu vào thị trường mà doanh nghiệp đãhướng tới
1.2.2.Đàm phán và ký kết hợp đồng nhập khẩu
Đàm phán là một quá trình trong đó các bên tiến hành thương lượng,thảo luận về các mối quan tâm chung và những điểm bất đồng, để đi đến mộtthỏa thuận thống nhất Mục đích của cuộc đàm phán là tìm ra các giải phápnhằm giải quyết các mâu thuẫn còn tồn tại giữa các bên tham gia đàm phán
Vì vậy, đàm phán thương mại quốc tế là quá trình đàm phán trong đó có ít
Trang 25nhất hai bên chủ thể có trụ sở thương mại ở những nước khác nhau tham giađàm phán để xác lập hợp đồng thương mại quốc tế
Đàm phán bắt đấu từ một cuộc nói chuyện, tuy nhiên là một cuộc nóichuyện có chủ đích Đó là quá trình các bên đưa ra ý định muốn ký kết hợpđồng và thăm dò ý kiến của đối tác Nếu quá trình này thất bại các bên sẽ phảitốn một số chi phí đàm phán và không chỉ vậy mà còn bỏ lỡ các cơ hội làm ănkhác mà lẽ ra họ đã nắm được nếu không tốn thời gian theo đuổi cuộc đàmphán Do đó đòi hỏi các bên phải chuẩn bị kỹ lưỡng về mọi mặt, xác định rõmục tiêu đàm phán một cách khoa học, kết hợp hài hòa giữa bảo vệ lợi íchcủa phía mình với việc duy trì và phát triển mối quan hệ với các đối tác vàphải đảm bảo nguyên tắc đôi bên cùng có lợi, các bên phải lấy luật phápthương mại quốc tế làm chuẩn và lấy tập quán thương mại quốc tế làm cơ sở
Có ba hình thức đàm phán thương mại quốc tế được sử dụng là:
- Đàm phán bằng cách gặp trực tiếp: Các bên sẽ gặp gỡ trực tiếp với
nhau, để trao đổi về mọi điểu kiện giao dịch, về mọi vấn đề liên quan đếnviệc ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán, và là hình thức đàm phán đặc biệtquan trọng Hình thức này sẽ đẩy nhanh tốc độ giaiar quyết mọi vấn đề giữahai bên và nhiều khi là lối thoát cho những đàm phán bằng thư tín hoặc điệnthoại đã kéo dài quá lâu mà không có kết quả Hình thức này có thể làm tốnkém về chi phí, thời gian đối với những nước có vị trí địa lý cách xa nhaunhưng hiệu quả thường rất cao, giúp giảm thiểu rủi ro Do đó, nó thường được
sử dụng trong những trường hợp đặc biệt khi có nhiều điều kiện phải giảithích cặn kẽ để thuyết phục nhau hoặc những hợp đồng với số lượng hàng hóalớn, giá trị cao, phức tạp
- Đàm phán qua thư tín vẫn còn là một hình thức chủ yếu để giao
dịch giữa các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu So với việc gặp trực tiếp thì
giao dịch qua thư tín tiết kiệm được nhiều chi phí, trong cùng một lúc có thể
Trang 26giao dịch được với nhiều đối tác ở các nước khác nhau Người viết thư cóđiều kiện tham khảo ý kiến của nhiều người, dấu kín ý định thực sự của mình.Nhưng hình thức này đòi hỏi phải có thời gian chờ đợi, thư tín bị thất lạckhông đến được tay đối tác.
- Đàm phán qua điện thoại:việc đàm phán qua điện thoại nhanh
chóng giúp các bên tiến hành đàm phán một cách khẩn trương đúng vào thời
điểm cần thiết Nhưng cước điện thoại giữa các nước sẽ rất cao, do đó hình
thức này thường bị hạn chế về mặt thời gian các bên không thể trình bày chitiết, và trao đổi bằng điện thoại là hình thức trao đổi bằng miệng, không có gìlàm bằng chứng những thỏa thuận và quyết định trao đổi Hình thức này chỉđược dung trong những trường hợp cần thiết, khẩn trương, sợ lỡ thồi cơ hoặctrong trường hợp chỉ cần chờ xác nhận một vài chi tiết…
Mỗi hình thức đều có những ưu, nhược điểm riêng, tuỳ từng trường hợpgiao dịch và điều kiện cụ thể của doanh nghiệp mà sẽ lựa chọn hình thức đàmphán riêng Thông thường một cuộc đàm phán có thể chia thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn chuẩn bị: các bên đàm phán cần xác định rõ mục tiêu củamình trên cơ sở phân biệt những gì mình muốn và những gì mình thực sự cần,sau đó các bên sẽ thu thập những thông tin cần thiết để đưa ra đề xuất củamình và tìm hiểu vị thế của đối tác đàm phán Cuối cùng các bên sẽ thành lậpđoàn đàm phán, lựa chọn chiến lược và chiến thuật đàm phán phù hợp, xácđịnh địa điểm thời giàn, lịch trình làm việc, chuẩn bị kỹ năng và tài liệu đàmphán
Giai đoạn thương lượng: bao gồm các hoạt động cụ thể:
- Trao đổi thông tin liên quan đến tình huống đàm phán, xây dựng sựhiểu biết lẫn nhau, thăm dò xem đối tác quan tâm đến điều gì và dự đoán kếtquả đàm phán
Trang 27- Đưa ra đề nghị: để thăm dò phản ứng của đối tác, sẽ đặt câu hỏi để làm
rõ đề nghị của đối tác, tóm tắt những thông tin đã nhận được và giải đáp bằngmột đề nghị phù hợp với nhu cầu của đối tác
- Thương lượng: các bên xem xét lý lẽ và kết quả mà đối tác mong muốntrong quan và kết quả mà mình mong muốn
Giai đoạn kết thúc: các bên sẽ tổng hợp lại toàn bộ kết quả đã đạt được
và tìm cách giải quyết một số vấn đề còn vướng mắc Sau đó, một bên đàmphán sẽ đưa ra đề nghị cuối cùng
Hình 1.2: Quy trình đàm phán thương mại quốc tế
Quá trình đàm phán bao gồm các bước sau:
- Hỏi giá: là việc người mua yêu cầu người bán cung cấp cho mình cácthồng tin liên quan đến hàng hóa và các điều kiện giao dịch Nội dung của hỏigiá có thể bao gồm: tên hàng, quy cách, phẩm chất, số lượng, thời gian giaohàng mong muốn Hỏi giá không ràng buộc trách nhiệm của người hỏi giá.Người hỏi giá thường hỏi nhiều nơi nhằm nhận được nhiều bản chào hàngcạnh tranh để so sánh lựa chọn bản chào hàng thích hợp nhất
- Phát giá: là lời đề nghị ký kết hợp đồng được gửi cho môt hay nhiềungười xác định Một đề nghị gửi cho những người không xác định chỉ đượccoi là một lời chào hàng Trong đơn chào hàng bao gồm tên hàng, số lượng,phẩm chất, giá cả hàng hóa, phương thức thanh toán, phương thức giao nhậnhàng hóa… Một đơn chào hàng được coi là có giá trị pháp lý khi chủ thể củađơn chào hàng đó có đủ tư cách pháp lý, đối tượng của đơn chào hàng phải
Trang 28được phép mua bán, nội dung của đơn chào hàng phải hợp pháp (bằng vănbản).
- Hoàn giá: là sự phúc đáp có khuynh hướng chấp nhận chào hàngnhưng có chứa đựng những điểm bổ sung, bớt đi hay sửa đổi khác
- Chấp nhận: Là thông báo của bên được chào hàng chuyển cho bênchào hàng về việc chấp thuận toàn bộ nội dung đã nêu ra trong đơn chàohàng Việc chấp thuận phải trong thời hạn hiệu lực của đơn chào hàng và đơnchấp thuận phải được chuyển đến tay của người chào hàng
- Xác nhận: Là việc các bên khẳng định lạicác vấn đề thoả thuận giaodịch trước đó Xác nhận thường được lập thành hai bản, bên lập xác nhận kýtrước rồi gửi cho bên kia Bên kia ký xong giữ lại một bản rồi gửi trả một Mục đích của bất kỳ cuộc đàm phán đều là ký kết được hợp đồng Thôngthường nội dung của hợp đồng nhập khẩu gồm có:
-Tên và số hiệu hợp đồng
-Địa điểm và ngày,tháng, năm kí kết hợp đồng và thời hạn thực hiệnhợp đồng
-Tên, địa chỉ các chủ thể tham gia hợp đồng
-Các điều khoản của hợp đồng:
+Tên hàng, số lượng, phẩm chất hàng hóa
+Địa điểm, phương thức giao hàng
+Điều khoản về giá cả, phương thức thanh toán, đồng tiền thanh toán+Điều khoản về đóng gói, bao bì và ký mã hiệu hàng hóa
+Điều khoản về bảo hành
+Điều khoản về phạt và bồi thường thiệt hại
+Điều khoản về bảo hiểm
+Điều khoản về giải quyết tranh chấp, khiếu nại (nếu có) và luật ápdụng
Trang 29-Đại diện của các bên ký kết, ký tên và đóng dấu.
1.2.3.Tổ chức và thực hiện hợp đồng nhập khẩu
Sau khi hợp đồng nhập khẩu hàng hoá đã được ký kết, các doanhnghiệp với tư cách là một bên ký kết, phải tổ chức thực hiện hợp đồng đó, cácbước để thực hiện hợp đồng theo trình tự thể hiện qua sơ đồ sau:
Hình 1.3: Quy trình thực hiện hợp đồng nhập khẩu hàng hóa
Mở L/C (nếu có)
Tín dụng chứng từ (L/C) là cam kết của một ngân hàng (Ngân hàng mởL/C) theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở L/C về việc sẽ trả một sốtiền nhất định cho một người khác (người thụ hưởng L/C), hoặc sẽ chấp nhậnhối phiếu do người thụ hưởng ký phát trong phạm vi số tiền đó, với điều kiệnngười này xuất trình được bộ chứng từ phù hợp với quy định của L/C
Nội dung cơ bản của thư tín dụng
Vận chuyển hàng về kho bãi
Làm thủ
tục thanh
toán
Làm thủ tục hải quan
Nhận, kiểm
tra hàng
NK
Giao nhận với hãng vận chuyển
Mua bảo hiểm (nếu có)
Xin giấy phép NK (nếu có)
Mở L/C
Thuê PTVT (nếu có)
Ký hợp
đồng NK
Trang 30- Số hiệu L/C: mỗi L/C đều được đánh số nhằm tạo thuận lợi trongviệc quản lý và sử dụng thư tín dụng
- Địa điểm mở L/C: là nơi mà ngân hàng phát hành L/C viết cam kếttrả tiền cho người thụ hưởng
- Ngày mở L/C là ngày ngân hàng phát hành L/C viết cam kết trả tiềncho người thụ hưởng, cũng là ngày bắt đầu tính thời hạn hiệu lực của L/C
- Loại thư tín dụng: L/C hủy ngang, L/C không hủy ngang,…
- Những người liên quan đến thư tín dụng: tên địa chỉ của người yêucầu mở L/C, người thụ hưởng L/C, ngân hàng phát hành L/C, ngân hàngthông báo L/C và các ngân hàng khác (nếu có)
- Thời hạn hiệu lực: được tính từ ngày mở L/C đến ngày hết hiệu lựccủa L/C
- Thời hạn giao hàng: là thời hạn quy định nhà XK phải giao hàng chonhà NK kể từ khi L/C có hiệu lực
- Trị giá của thư tín dụng: là số tiền ngân hàng phát hành L/C cam kếtthanh toán cho người thụ hưởng
- Các quy định về bộ chứng từ thanh toán: các loại chứng từ phải xuấttrình, số lượng chứng từ mỗi loại,…
- Cam kết trả tiền của ngân hàng
- Dẫn chiếu UCP áp dụng
Trong đàm phán để ký kết hợp đồng, hai bên thỏa thuận thanh toán bằngphương thức L/C thì bên bán mới giao hàng, người nhập khẩu sẽ uỷ quyềncho Ngân hàng của mình mở L/C thanh toán cho phía ngân hàng bên ngườibán
Xin giấy phép nhập khẩu (nếu có)
Đối với những mặt hàng nằm trong danh mục phải xin giấy phép nhậpkhẩu quy định tại phụ lục III kèm theo Nghị định số 69/2018/NĐ-CP ngày 15
Trang 31tháng 5 năm 2018 của Chính phủ) muốn được phép nhập khẩu vào Việt Namthì phải xin giấy phép nhập khẩu của các bộ, cơ quan chuyên ngành có liênquan Sau khi đã được cấp phép nhập khẩu, quá trình nhập khẩu hàng hóadiễn ra bình thường.
Thuê phương tiện vận chuyển (nếu có)
Thuê phương tiện vận chuyển, tàu thuộc về bên xuất khẩu khi hàng hóađược mua bán theo các điều kiện thuộc nhóm C,D trong Incoterms.Nếu nhậpkhẩu theo các điều kiện nhóm E,F trong Incoterms thì người nhập khẩu phảichịu trách nhiệm thuê phương tiện vận tải Việc thuê tàu, lưu cước đòi hỏi cókinh nghiệm nghiệp vụ, có thông tin về tình hình thị trường thuê tàu và tinhthông các điều hiện thuê tàu Vì vậy tronh nhiêu trường hợp, chủ hàng XNKthường ủy thác việc thuê tàu, lưu cước cho một công ty hàng hải
Mua bảo hiểm hàng hoá (nếu có)
Hàng hóa chuyên chở trên biển thường gặp nhiều rủi ro và tổn thất Vìthế bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng đường biển là loại bảo hiểm phổ biếnnhất trong vận chuyển hàng hóa thương mại quốc tế Việc mua bảo hiểm hànghóa không phải là bắt buộc với người NK Nếu điều kiện mua bán hàng hóa làCIP,CIF thì người XK có nghĩa vụ mua bảo hiểm cho hàng hóa Trong cácđiều kiện còn lại, nếu muốn hàng hóa của mình được đảm bảo thì người Nk
có thể tự mua bảo hiểm cho lô hàng và điều này là không bắt buộc
Giao nhận hàng với hãng vận chuyển
Các DN vận tải( ga, cảng) có trách nhiệm tiếp nhận hàng hóa nhập khẩutrên các PTVT từ các nước ngoài vào, bảo quản hàng hóa trong quá trình xếp
dỡ, lưu kho, lưu bãi,và giao cho các đơn vị đặt hàng theo lệnh giao hàng củadoanh nghiệp đã nhập hàng từ đó Do đó,các doanh nghiệp nhập khẩu phảitrực tiếp hoặc thông qua một đơn vị nhận ủy thác giao nhận ( công ty giaonhận, đại lý hải quan, ) tiến hành:
Trang 32- Ký kết hợp đồng ủy thác cho cơ quan vận tải( ga, cảng) về việc giaonhận hàng từ tàu ở nước ngoài về
- Cung cấp các tài liệu cần thiết cho việc giao nhận hàng hóa (vận đơn,lệnh giao hàng )
- Thông báo cho bên NK về dự kiến ngày hàng về, ngày thực tế tàuchở hàng về đến cảng hoặc ngày to axe chở hàng về sân ga giao nhận
- Thanh toán cho hãng vận chuyển các khoản phí tổn về giao nhận,bốc xếp bảo quản và vận chuyển hàng NK
- Theo dõi việc giao nhận, đôn đốc hãng vận tỉa lập những biênbản( nếu có) về hàng hóa và giải quyết trong phạm vi của mình những vấn đềxảy ra trong giao nhận
Làm thủ tục hải quan
Tất cả hàng hóa khi nhập khẩu vào Việt Nam đều phải làm thủ tục hảiquan Thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu thương mại là những côngviệc mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo quyđịnh của pháp luật Hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu thương mại Hiệnnay, thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu ở Việt Nam đềuđuoẹc thực hiện theo phương thức khai báo hải quan điện tử trên hệ thốngVNACCS/VCIS VNACCS/VCIS là hệ thống thông qua hàng hóa tự độngViệt Nam Người NK khai báo các thông tin về hàng hóa NK và gửi thông tinđến cơ quan hải quan trên phần mềm khai hải quan điện tử Cơ quan hải quantiếp nhận tờ khai, thực hiện tất cả các nghiệp vụ liên quan như kiểm tra, phânluồng, quyết định thông quan trên hệ thống Điều này giúp doanh nghiệp giảmthiểu rất nhiều thời gian và tiện lợi trong thực hiện thủ tục hải quan, góp phầnthông quan hàng hóa được nhanh chóng, giảm thiểu chi phí phát sinh
Cụ thể, đối với người khai hải quan phải thực hiện các công việc sau:
- Khai và nộp tờ khai hàng hóa cho cơ quan hải quan
Trang 33- Đưa hàng hóa đến địa điểm theo quyết định của cơ quan hải quan đểthực hiện kiểm tra thực tế hàng hóa (nếu có).
- Thực hiện nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định củapháp luật
- Thực hiện thông quan hàng hóa
Đối với công chức hải quan phải thực hiện các công việc sau:
- Tiếp nhận, đăng ký tờ khai hàng hóa
- Kiểm tra hồ sơ hải quan và kiểm tra thực tế hàng hóa (nếu có)
- Thu thuế, phí, lệ phí làm thủ tục hải quan
- Quyết định thông quan hàng hóa
Bộ chứng từ hải quan thông thường bao gồm: tờ khai hải quan, giấyphép xuất/nhập khẩu (nếu có), Vận đơn, Hóa đơn thương mại, hợp đồngthương mại quốc tế, packing list, giấy thông báo hàng đến, giấy chứng nhậnxuất xứ hàng hóa,…
Nhận, kiểm tra hàng nhập khẩu
Người NK có thể tự làm nghiệp vụ kiểm tra hàng hóa nhập khẩu hoặcmời cơ quan giám định chuyên môn tiến hành nghiệp vụ kiểm tra hàng hóa
NK Mục địch là nhằm để kiểm tra kết quả đánh giá sự phù hợp, nhãn hànghóa, dấu hợp chuẩn, dấu hợp quy và các tài liệu kèm theo sản phẩm, hàng hóacần kiểm tra hoặc có thể thử nghiệm mẫu theo tiêu chuẩn đã công bố áp dụng,quy chuẩn kỹ thuật tương ứng khi cần thiết
Làm thủ tục thanh toán
Khi hợp đồng NK quy định thanh toán bằng L/C, bên NK phải mở L/C
để thực hiện hợp đồng Khi bộ chứng từ gốc từ nước ngoài về đến ngân hàng
mở L/C, người NK phải kiểm tra chứng từ và nếu chứng từ hợp lệ, trả tiềncho người XK Sau đó người NK mới nhận được bộ chứng từ để đi nhậnhàng
Trang 34Nếu hợp đồng nhập khẩu thanh toán bằng phương thức nhờ thu thì saukhi nhận hàng chứng từ ở nhân hàng ngoại thương, người NK được kiểm trachứng từ trong một thời gian nhất định Nếu trong thời gian này, người NKkhông có lý do chính đáng từ chối thanh toán thì ngân hàng xem như yêu cầuđòi tiền hợp lệ
Nếu hợp đồng mua bán hàng hóa, hai bên thỏa thuận thanh toán bằngphương thức chuyển tiền Người mua sẽ yêu cầu ngân hàng của mình chuyểnmột số tiền nhất định cho người hưởng lợi, các ngân hàng chỉ đóng vai tròtrung gian giữa người chuyển tiền và người nhận tiện Ngân hàng được nhậnhoa hồng thanh toán và không bị rang buộc bởi bất kỳ trách nhiệm nào trongquan hệ của người chuyển tiền và nhận tiền
Vận chuyển hàng về kho bãi
Sau khi hàng hóa được thông quan, người NK sẽ tự vận chuyển hoặc
ủy thác cho bên giao nhân mang hàng hóa về kho bãi của người NK
1.2.4.Tổ chức khiếu nại và giải quyết tranh chấp (nếu có)
Khi một hợp đồng nhập khẩu được thực hiện,nếu phát hiện thấy hàngnhập khẩu bị tổn thất, đổ vỡ, thiếu hụt, mất mát,…thì cần lập hồ sơ khiếu nạingay để khỏi bõ lỡ thời gian khiếu nại
Đối tượng khiếu nại là người bán nếu hàng có số lượng, chất lượngkhông phù hợp với hợp đồng, có bao bì không thích đáng, thời hạn giao hàng
bị vi phạm, hàng giao không đồng bộ,thanh toán nhầm lẫn…
Đối tượng khiếu nại là người vận tải nếu hàng bị tổn thất trong quá trìnhchuyên chở hoặc nếu sự tổn thất đó do người vận chuyển gây nên
Đối tượng khiếu nại là công ty bảo hiểm nếu hàng hóa đối tượng của bảohiểm bị tổn thất do thiên tai, tai nạn bất ngờ hoặc do lỗi của người thứ ba gâynên, khi những rủi ro này đã được mua bảo hiểm
Trang 35Ban đầu hai bên sẽ thông qua biện pháp là tự hoà giải.Nếu việc khiếu nạikhông được giải quyết thỏa đáng hai bên có thể khiếu kiện tại hội đồng trọngtài theo điều kiện hợp đồng đã kí Tại đây sẽ sử dụng luật hoặc tập quán quốc
tế để giải quyết nhằm đảm bảo quyền lợi cho bên bị thiệt hại
1.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến quy trình nhập khẩu hàng hóa
1.3.1.Nhân tố khách quan
Thứ nhất, các chế độ chính sách luật pháp trong nước và quốc tế.
Đây là những vấn đề quan trọng mà các doanh nghiệp kinh doanh xuấtnhập khẩu buộc phải nắm vững và tuân theo một cách vô điều kiện Vì nó thểhiện ý chí của Đảng lãnh đạo mỗi nước, sự thống nhất chung của Quốc tế, nóbảo vệ lợi ích chung của các tầng lớp trong xã hội, lợi ích của các nước trênthương trường Quốc tế Hoạt động nhập khẩu được tiến hành giữa các chủ thểcác Quốc gia khác nhau Bởi vậy, nó chịu sự tác động của các chính sách, chế
độ, luật pháp của các quốc gia đó Chẳng hạn như tự sửa đổi thực hiện, sửađổi luật pháp quốc gia hay sự thực hiện thay đổi chính sách thuế ưu đãi củamột nước hay một nhóm nước, điều đó không những chỉ ảnh hưởng đến nước
đó mà còn ảnh hưởng đến các nước có quan hệ kinh tế xã hội với những nước
đó Đồng thời, hoạt động xuất nhập khẩu phải nhất định tuân theo những quyđịnh luật pháp Quốc tế chung Luật pháp Quốc tế buộc các nước vì lợi íchchung phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong hoạtđộng của mình trong hoạt động nhập khẩu, do đó tạo nên sự tin tưởng cũngnhư hiệu quả cao trong hoạt động này
Thứ hai, quy mô và tiềm lực của các doanh nghiệp trong và ngoài nước
Sự phát triển sản xuất của những doanh nghiệp trong nước tạo ra sự cạnhtranh mạnh mẽ với sản phẩm nhập khẩu, tạo ra sản phẩm nhập khẩu từ đó làmgiảm nhu cầu hàng nhập khẩu Còn nếu như sản xuất kém phát triển khôngsản xuất được những mặt hàng đòi hỏi kỹ thuật cao thì nhu cầu về hàng nhập
Trang 36khẩu tăng lên là điều tất nhiên và do đó nó ảnh hưởng đến hoạt động nhậpkhẩu.
Ngược lại, sự phát triển của nền sản xuất nước ngoài làm tăng khả năngcủa sản phẩm nhập khẩu, tạo ra sản phẩm mới thuận tiện, hiện đại, sẽ hấp dẫnnhu cầu nhập khẩu đẩy nó lên cao tạo đà cho hoạt động nhập khẩu phát triển.Tuy nhiên, không phải lúc nào sản xuất trong nước phát triển thì hoạtđộng bị thu hẹp, mà nhiều khi để tránh sự độc quyền, tạo ra sự cạnh tranh,hoạt động nhập khẩu lại được khuyến khích phát triển Tương tự như vậy, đểbảo vệ quyền sản xuất trong nước, khi nền sản xuất nước ngoài phát triển thìhoạt động nhập khẩu càng bị thu hẹp và kiểm soát gắt gao
Cũng như sản xuất, sự phát triển của hoạt động Thương mại trong vàngoài nước, sự phát triển của các doanh nghiệp kinh doanh Thương mại quyếtđịnh đến sự chu chuyển, lưu thông hàng hoá trong nền kỹ thuật hay giữa cácnền kinh tế Chính vì vậy, nó tạo thuận lợi cho công tác nhập khẩu Mặt khác
do chủ thể của hoạt động nhập khẩu chính là các doanh nghiệp xuất nhậpkhẩu, sự phát triển của doanh nghiệp này đồng nghĩa với việc thực hiện mộtcách có hiệu quả các hoạt động nhập khẩu Trong một nước mà các doanhnghiệp Thương mại không được tự chủ phát triển, chịu sự can thiệp quá sâucủa Nhà nước thì hoạt động nhập khẩu cũng không thể phát huy thế chủ động,tinh thần sáng tạo không thể vươn mạnh ra nước ngoài từ đó tạo ra sự bí báchtrong nền kinh tế
Thứ ba, tỷ giá hối đoái.
Nhân tố này có ý nghĩa quyết định trong việc xác định mặt hàng, bạnhàng, phương án kinh doanh, quan hệ kinh doanh của không chỉ một doanhnghiệp xuất nhập khẩu mà tới tất cả các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhậpkhẩu nói chung Sự biến đổi của nhân tố này sẽ gây ra những biến động lớntrong tỷ trọng giữa xuất khẩu và nhập khẩu Ví dụ khi tỷ giá hối đoái của
Trang 37đồng tiền thanh toán có lợi cho việc nhập khẩu thì lại bất lợi cho xuất khẩu vàngược lại.
Mặt khác có rất nhiều loại tỷ giá hối đoái: tỷ giá hối đoái cố định, tỷ giáhối đoái thả nổi, tỷ giá hối đoái thả nổi tự do và tỷ giá hối đoái thả nổi cóquản lý Vì vậy khi tiến hành bất cứ một hoạt động thương mại xuất nhậpkhẩu nào, doanh nghiệp cũng cần nắm vững xem hiện nay quốc gia mà mìnhđịnh hoạt động đang áp dụng loại tỷ giá nào, bởi việc ấn định này sẽ có ảnhhưởng rất lớn đến lĩnh vực sản xuất hàng xuất khẩu và kinh doanh hàng nhậpkhẩu
Thứ tư, sự biến động thị trường trong nước và nước ngoài.
Có thể hình dung hoạt động nhập khẩu như một chiếc cầu nối thôngthương giữa hai thị trường: đầu cầu bên này là thị trường trong nước, đầu cầubên kia là thị trường ngoài nước Nó tạo sự phù hợp gắn bó cũng như phảnánh sự tác động qua lại giữa chúng, phản ánh sự biến động của mỗi thịtrường, cụ thể như sự tôn trọng giá, giảm nhu cầu về một mặt hàng nào đótrong nước sẽ làm giảm lượng hàng hoá đó chuyển qua chiếc cầu nhập khẩu
và ngược lại Cũng như vậy, thị trường ngoài nước quyết định tới sự thoả mãncác nhu cầu trên thị trường trong nước Sự biến đổi của nó về khả năng cungcấp, về sự đa dạng của hàng hoá, dịch vụ cũng được phản ánh qua chiếc cầunhập khẩu để tác dụng đến thị trường nhập khẩu
Thứ năm, hệ thống tài chính ngân hàng.
Hiện nay, hệ thống tài chính ngân hàng đã phát triển hết sức lớn mạnh,
nó can thiệp sâu tới tất cả các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ, dù tồn tại dướihình thức nào, thuộc thành phần kinh tế nào
Có được điều đó là bởi nó đóng vai trò hết sức to lớn trong hoạt độngquản lý, cung cấp vốn, đảm trách việc thanh toán một cách thuận tiện, chínhxác, nhanh chóng cho các doanh nghiệp Hoạt động nhập khẩu sẽ không thực
Trang 38hiện được nếu không có sự phát triển của hệ thống ngân hàng, dựa trên cácthuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia hoạt động nhập khẩu, đảm bảo cho
họ về mặt lợi ích kỹ thuật cũng như xã hội và cũng nhiều trường hợp do cólòng tin với ngân hàng mà các doanh nghiệp với số lượng vốn lớn kịp thời tạođiều kiện cho doanh nghiệp chớp được những thời cơ kinh doanh
Thứ sáu, hệ thống cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải, thông tin liên lạc
Việc thực hiện hoạt động nhập khẩu không thể tách rời với hoạt độngvận chuyển và thông tin liên lạc Nhờ có thông tin liên lạc hiện đại mà côngviệc có thể tiến hành thuận lợi, kịp thời Còn việc vận chuyển hàng hoá từnước này sang nước khác là một công việc hết sức quan trọng trong hoạt độngnhập khẩu Do đó sự hiện đại hoá công việc nghiên cứu và áp dụng nhữngcông nghệ tiên tiến của khoa học kỹ thuật vào hệ thống thông tin và giaothông vận tải là tất yếu ảnh hưởng to lớn đến hoạt động nhập khẩu
Trên đây, chúng ta đã xem xét một số nhân tố chính ảnh hưởng có tínhchất quyết định đến hoạt động nhập khẩu của bất cứ một quốc gia nào Bêncạnh đó cũng còn rất nhiều nhân tố khác Vì vậy hoạt động nhập khẩu hết sứcphức tạp và có mối tác động qua lại tương hỗ với nhiều hoạt động khác trongnền kinh tế
1.3.2.Nhân tố chủ quan
Một là, nhân tố tổ chức bộ máy quản lý công ty
Đây chính là sự tác động trực tiếp của cán bộ lãnh đạo đối với nhân viênnhằm điều hành hoạt động được hợp lý, nhịp nhàng Ban lãnh đạo công ty: là
bộ máy phần đầu não của doanh nghiệp là nơi xây dựng những chiến lượckinh doanh cho doanh nghiệp, đề ra mục tiêu đồng thời giám sát việc thựchiện các kế hoạch đã đề ra Trình độ quản trị của ban lãnh đạo công ty có ảnhhưởng trực tiếp tới hoạt động kinh doanh sản xuất của doanh nghiệp Nếudoanh nghiệp có chiến lược đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế của thị
Trang 39trường và của doanh nghiệp, cùng với sự điều hành giỏi của những nhà lãnhđạo công ty sẽ là cơ hội để doanh nghiệp thực hiện có hiệu quả hoạt động sảnxuất kinh doanh của mình.
Quản lý nhân sự là vấn đề khá nhạy cảm, yêu cầu phải có bộ máy quản
lý khá mạnh, phù hợp để phân công lao động một cách hợp lý với năng lựccủa từng người nhằm đẩy mạnh hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp Nếu cơ chế tổ chức bộ máy hợp lý sẽ giúp cho các nhà quản lý sửdụng tốt hơn nguồn lực của công ty, nâng cao được hiệu quả kinh doanh củacông ty
Hai là, nhân tố con người
Nhân tố con nguời luôn được coi là quan trọng hàng đầu bởi trình độchuyên môn và năng lực làm việc của mỗi thành viên trong công ty là yếu tố
cơ bản quyết định sự thành công trong kinh doanh Các nghiệp vụ kinh doanhxuất khẩu nếu được thực hiện bởi các cán bộ có trình độ chuyên môn cao,năng động, sáng tạo, trong công việc, và có kinh nghiệm, am hiểu thị trườngquốc tế, có khả năng phân tích dự báo những xu hướng biến động của thịtrường và khả năng giao dịch đàm phán thông minh nhạy bén, thông thảo cácthủ tục xuất khẩu thì chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả cao, đáp ứng tốt nhất chomục tiêu xuất khẩu của doanh nghiệp
Ba là, nhân tố mạng lưới kinh doanh
Mục tiêu của hoạt động kinh doanh là tìm kiếm lợi nhuận Giậm chân tạichỗ có nghĩa là “chết” Do đó phải luôn mở rộng hoạt động kinh doanh thôngqua mạng lưới kinh doanh Thị trường luôn biến đổi, mở rộng mạng lưới kinhdoanh sẽ giúp doanh nghiệp phát hiện kịp thời nhu cầu và hướng hoạt độngkinh doanh của mình có hiệu quả
Bốn là, nhân tố về vốn và trang bị vật chất kỹ thuật của công ty
Trang 40Vốn là vấn đề đầu tiên khi bước vào hoạt động kinh doanh, vốn quyếtđịnh đến quy mô của doanh nghiệp và thể hiện thông qua tiềm lực tài chính.Công ty có vốn kinh doanh càng lớn thì cơ hội giành được những hợp đồnghấp dẫn trong kinh doanh sẽ trở nên dễ dàng hơn Vốn của công ty ngoàinguồn vốn tự có thì nguồn vốn huy động cũng có vai trò rất lớn trong hoạtđộng kinh doanh Các chỉ tiêu đánh giá về vốn gồm có: tốc độ tăng trưởng củavốn, tốc độ vòng quay của vốn Trong quy trình nhập khẩu lượng vốn bỏ rakhá lớn và nhiều lúc lãi cũng tỷ lệ thuận với lượng vốn bỏ ra kinh doanh.Thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật thực chất cũng là nguồn vốn của công ty(vốn bằng hiện vật) Nếu trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, tiên tiếnhợp lý sẽ góp phần làm tăng tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh củacông ty.
Năm là, sức cạnh tranh của doanh nghiệp
Doanh nghiệp có sức mạnh càng cao thì khả năng tiêu thụ sản phẩmcàng nhanh Sức cạnh tranh phụ thuộc vào thương hiệu của doanh nghiệp,năng lực tài chính của doanh nghiệp, chất lượng sản phẩm, giá cả, biện phápmarketing, các dịch vụ đi kèm…