ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TRẦN QUANG HUY Tên chuyên đề: ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG, TRỊ MỘT SỐ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI TẠI TRẠI LÊ MẠNH CƯỜNG, HUYỆN
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN QUANG HUY
Tên chuyên đề:
ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG, TRỊ MỘT
SỐ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI TẠI TRẠI LÊ MẠNH CƯỜNG, HUYỆN
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TRẦN QUANG HUY
Tên chuyên đề:
ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG, PHÒNG, TRỊ MỘT
SỐ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI TẠI TRẠI LÊ MẠNH CƯỜNG,HUYỆN
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Văn Sửu
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập lý thuyết tại trường và thực tập tại cơ sở, nay em đã hoàn thành bản khoá luận tốt nghiệp Để hoàn thành được bản khoá luận này, em đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn,
sự giúp đỡ của Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Khoa Chăn nuôi Thú
y, và trại chăn nuôi lợn Lê Mạnh Cường, Thanh Thủy, Phú Thọ Em cũng nhận được sự cộng tác nhiệt tình của các bạn đồng nghiệp, sự giúp đỡ, cổ vũ động viên của người thân trong gia đình Để đáp lại tình cảm đó, qua đây em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc và kính trọng tới tất cả các tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước hết em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú y đã tạo điều kiện giúp đỡ
em trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, chỉ bảo và hướng dẫn tận tình của cô giáo hướng dẫn TS Nguyễn Văn Sửu đã trực tiếp hướng dẫn
em thực hiện thành công khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn cán bộ, công nhân tại trại Lê Mạnh Cường, Thanh Thủy, Phú Thọ đã tạo điều kiện cho em trong quá trình thực hiện đề tài
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018
Sinh viên
Trần Quang Huy
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Lịch sát trùng trại lợn nái 38
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi của trại trong 6 tháng thực tập 39
Bảng 4.2 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn 40
Bảng 4.3 Kết quả thực hiện một số thao tác phẫu thuật trên đàn lợn con 41
Bảng 4.4 Phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại 42
Bảng 4.5 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn con nuôi tại trại 43
Bảng 4.6 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn con 44
Bảng 4.7 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái 45
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
MỤC LỤC iii
Phần 1:MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2:TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 3
2.1.1 Vị trí địa lý 3
2.1.2 Điều kiện khí hậu 3
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại 3
2.1.4 Cơ sở vật chất của trại 4
2.1.5 Thuận lợi và khó khăn của trại 6
2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong, ngoài nước có liên quan đến nội dung của chuyên đề 7
2.2.1 Đối với lợn nái 7
2.2.2 Đặc điểm sinh lý của lợn con 20
Phần 3:ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
3.1 Đối tượng nghiên cứu 36
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 36
3.3 Nội dung thực hiện 36
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 36
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 36
3.4.2 Phương pháp theo dõi 36
Trang 63.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 38
Phần 4:KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39
4.1 Kết quả đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại 39
4.2 Kết quả thực hiện đề tài 39
4.2.1 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nuôi tại trại 39
4.2.2 Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh cho đàn lợn 41
4.2.3 Kết quả thực hiện chẩn đoán, điều trị bệnh cho đàn lợn nuôi tại trại 43
Phần 5:KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 47
5.1 Kết luận 47
5.2 Đề nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7Với vị trí quan trọng hàng đầu trong việc cung cấp thực phẩm cho người dân, nền chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đang được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm và hướng đến phát triển bền vững Bên cạnh đó
là việc áp dụng phương thức chăn nuôi theo hướng công nghiệp, quy mô chăn nuôi lớn, áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng tiên tiến, chế biến thức ăn với chất lượng cao, các loại thức ăn thay thế, thức ăn bổ sung, phối hợp khẩu phần ăn có đầy đủ các chất dinh dưỡng
Mục đích của việc chăn nuôi lợn nái và lợn con giai đoạn theo mẹ là áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật để đàn lợn con sau khi sinh ra đạt tỷ lệ cao, khỏe mạnh là cơ sở để tạo giống tốt và giúp chúng ta nâng cao được sức sống của đàn con
Hiện nay, tình hình dịch bệnh đang diễn ra hết sức phức tạp đặc biệt là trên đàn lợn con theo mẹ ở rất nhiều trang trại với quy mô lớn Tình hình dịch bệnh diễn ra hết sức phức tạp ảnh hưởng đến kinh tế, năng suất và chất lượng đàn lợn Do đó, yêu cầu cấp thiết đặt ra lúc này là phải có những nghiên cứu
áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh cho đàn lợn con
Xuất phát từ thực tế trên, chúng em tiến hành đề tài: “Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị một số bệnh cho đàn lợn nái tại trại Lê Mạnh Cường,huyện Thanh Thủy, Phú Thọ”
Trang 81.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục tiêu
- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại Lê Mạnh Cường, Thanh Thủy, Phú Thọ
- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nuôi tại trại
- Xác định tình hình nhiễm, áp dụng và đánh giá hiệu quả của quy trình phòng, trị bệnh cho đàn lợn nuôi tại trại
Trang 9Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1 Vị trí địa lý
Trang trại Lê Mạnh Cường được xây dựng vào năm 2016 tại xã Trung Nghĩa huyện Thanh Thủy tỉnh Phú Thọ với diện tích gần 10 ha gồm: khu điều hành ,khu nhà ở công nhân khu chăn nuôi lợn,vườn rau Hiện tại trang trại vẫn đang trong quá trình hoàn thiện
Trong đó trang trại lợn Lê Mạnh Cường có quy mô gồm 600 nái sinh sản nằm trên vùng đất đồi nhưng trong thực tế số lượng nái sinh sản có trong trại là 241 con
Thanh Thủy có địa hình phong phú Địa hình phù sa tương đối bằng phẳng nằm dọc bờ đê sông Đà khá phì nhiêu phù hợp cho việc gheo trồng các loại cây ngắn ngày Địa hình đồi núi, chủ yếu là đồi núi thấp và đồi,địa hình này tập chung ở các xã phía tây
2.1.2 Điều kiện khí hậu
Thanh thủy mang đặc điểm chung của khí hậu miền bắc Việt Nam, có tính chất nhiệt đới gió mùa, một năm có 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông Mùa nóng hay còn gọi là mùa mưa băt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 với đặc điểm là nhiệt độ cao, gió thịnh hành là gió đông nam và mưa nhiều Mùa lạnh bắt đầu
từ tháng 11 đến tháng 3 Với điều kiện khí hậu như vậy, tương đối thuận lợi cho nghành chăn nuôi phát triển
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại
Trang 10+ 01: kỹ thuật của công ty GreenFeed
+ 02: tổ trưởng chuồng bầu và chuồng đẻ
+ 02: sinh viên thực tập
+ 03: công nhân
+ 1 bảo vệ và 1 tạp vụ
2.1.4 Cơ sở vật chất của trại
Trại mới được xây dựng nên cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng đều được quan tâm và chú trọng
- Về cơ sở vật chất:
+ Có đầy đủ các thiết bị, máy móc để phục vụ cho công nhân và sinh viên sinh hoạt hàng ngày như: máy giặt, tắm nóng lạnh, tivi, tủ lạnh, quạt, + Những vật dụng cá nhân như : kem đánh răng, xà phòng tắm, dầu gội đầu cũng được trại chuẩn bị
+ Trại còn đầu tư bóng đá, cầu lông để công nhân giải trí sau giờ làm việc
+ Cơ sở vật chất trong chuồng trại chăn nuôi được trại chú trọng đầu tư với đầy đủ các trang thiết bị cần thiết
- Trong các chuồng đều có các cũi sắt (đối với chuồng lợn có chửa) và giường nằm (đối với chuồng đẻ) được lắp đặt theo dãy
- Có hệ thống quạt gió, dàn mát, điện sáng, vòi uống nước cho lợn tự động
- Có hệ thống đèn điện sưởi ấm cho lợn con vào mùa đông
- Ngoài ra, trại còn có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấp điện cho cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi những khi mất điện
- Về cơ sở hạ tầng:
Trại được xây dựng rất khoa học và hiện đại Trước cổng có hố sát trùng bằng vôi, có vòi phun sát trùng cho phương tiện ra vào trại Trại được xây dựng gồm các khu riêng biệt: khu nhà ở, sinh hoạt của công nhân, sinh viên
và khu chuồng nuôi
Trang 11+ Khu nhà ở rộng rãi có đầy đủ nhà tắm, nhà vệ sinh tiện nghi Khu nhà dành cho quản lý trại có phòng khách để đón tiếp khách Tất cả các phòng ở của công nhân và kỹ sư đều được xây dựng khang trang tiện nghi
+ Khu nhà ăn cũng được tách biệt có nhà ăn ca (buổi trưa) và nhà ăn chung (buổi tối)
là nhà ăn trưa cho công nhân và kỹ sư trại
- Trại được xây dựng với 6 dãy chuồng lớn chạy dài lợp mái tôn Mỗi 1 dãy lớn lại được chia làm 2 dãy chuồng nhỏ
Khu chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn trên một khu vực cao, dễ thoát nước và được bố trí tách biệt với khu sinh hoạt gồm: 2 chuồng đẻ, 1 chuồng lợn có chửa, 1 chuồng lợn thịt, 1 chuồng cai sữa và 1 chuồng cách ly Chuồng nuôi được xây dựng theo hướng Đông - Tây, Nam - Bắc đảm bảo thoáng mát
về mùa hè và ấm áp về mùa đông Các chuồng nuôi đều được lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng và hệ thống vòi uống nước tự động ở mỗi ô chuồng Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có quạt thông gió Hai bên tường
có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,5 m², cách nền 1,2 m, mỗi cửa sổ cách nhau 40 cm Trên trần đươc lắp hệ thống chống nóng bằng nhựa Mùa đông có hệ thống làm ấm bằng đèn hồng ngoại
Phòng pha tinh của khu chuồng nuôi được trang bị các dụng cụ hiện đại như: Máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp tiệt trùng dụng cụ và một số thiết bị khác Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng
Trang 12Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở đầu chuồng lợn nái đẻ 1A
và chuồng lợn có chửa 2 Nước tắm, nước xả gầm, nước phục vụ cho công tác khác được bố trí từ bể lọc và được bơm qua hệ thống ống dẫn tới bể chứa
và có tinh thần trách nhiệm cao trong sản xuất
Con giống tốt, thức ăn, thuốc chất lượng cao, quy trình chăn nuôi khép kín và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trại
Khó khăn
Trại được xây dựng trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết diễn biến phức tạp nên khâu phòng trừ dịch bệnh gặp nhiều khó khăn Năm 2016 khi trại vừa được thành lập bắt đầu vào hoạt động nên còn nhiều khó khăn Từ cuối tháng 3 đến nay giá lợn có xu hướng giảm mạnh Có thời điểm giá lợn hơi xuống tới mức kỉ lục là 20.000 đồng/kg không những giá lợn hơi giảm mà giá lợn giống cũng giảm từ hơn 1.200.000 đồng /con khoảng 10kg xuống còn 600.000 đồng /con vẫn không có người mua Khiến người chăn nuôi gặp vô vàn khó khăn trong việc tái đàn cũng như mở rộng quy mô sản xuất
Dịch bệnh diễn biến phức tạp, nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh lớn, làm ảnh hưởng đến giá thành và khả năng sinh sản của lợn
Trang 13Số lượng lợn nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử lý nước thải của trại còn nhiều khó khăn
2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong, ngoài nước có liên quan đến nội dung của chuyên đề
2.2.1 Đối với lợn nái
2.2.1.1 Đặc điểm của một số giống lợn ngoại nuôi tại trại
* Giống lợn Yorkshire
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [25], giống lợn này được hình thành
ở vùng Yorkshire của nước Anh Lợn Yorkshire có lông trắng ánh vàng (một số con có đốm đen), đầu cổ hơi nhỏ và dài, mõm thẳng và dài, mặt rộng, tai to trung bình và hướng về phía trước, mình dài, lung hơi cong, bụng gọn chân dài chắc chắn, có 14 vú
Lợn Yorkshire có tốc độ sinh trưởng, phát dục nhanh, khối lượng khi trưởng thành lên tới 300 kg (con đực), 250 kg (con cái)
Lợn Yorkshire có mức tăng khối lượng bình quân 700 g/con/ngày, tiêu tốn thức ăn trung bình khoảng 3,0 kg/kg tăng khối lượng, tỷ lệ nạc 56%
Lợn có khả năng sinh sản cao, trung bình 10 - 12 con/lứa, khối lượng sơ sinh trung bình 1,2 kg/con
Lợn Landrace có khả năng sinh sản khá cao và nuôi con khéo
Đây là giống lợn chuyên hướng nạc và dùng để lai kinh tế
Nguyễn Văn Thắng và Nguyễn Thị Xuân (2016) [32] cho biết, một trong những giải pháp nâng cao năng suất lợn nái là sử dụng nhiều giống lợn lai tạo với nhau Trong đó, phương pháp lai giữa hai giống lợn ngoại Landrace và
Trang 14Yorkshire và ngược lại, tạo ra con lai có ưu thế lai cao về nhiều tiêu chí sinh sản, trở thành một tiến bộ trong thực tế sản xuất
2.2.1.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái
* Đặc điểm cấu tạo bộ máy sinh dục của lợn nái:
+ Buồng trứng: Lợn nái có 2 buồng trứng hình hạt đậu, đường kính trung bình 0,8 - 1,2 cm Buồng trứng được cấu tạo bởi 2 vùng (trong là vùng tủy chứa mạch máu và dây thẩn kinh, ngoài là vùng vỏ, tại đây chứa vô số các noãn bao phát triển ở các giai đoạn khác nhau, trong các noãn bao có chứa tế bào trứng) Các noãn bao phát triến qua từng giai đoạn, khi thành thục và chín noãn bao vở ra, trứng rụng xuống loa kèn, tại vị trí bao noãn cũ sẽ hình thành nên thể vàng (hoàng thể) Mỗi lần động dục buồng trứng heo nái có thể rụng
10 - 30 noãn bào
+ Ống dẫn trứng: Ống dẫn trứng là ống dài ngoằn nghoèo, một đầu loe rộng tạo thành loa kèn để đón trứng từ buồng trứng rụng xuống, đầu kia nối liền với sừngtử cung Ống dẫn trứng dài 15 - 30cm
+ Tử cung: Tử cung lợn nái gồm 1 thân và 2 sừng Hai sừng của tử cung
có hình dạng chữ V, nơi tiếp xúc với thân tử cung tạo thành ngã 3 Sừng tử cung là nơi chứa thai (2 sừng tử cung dài khoảng 1 m), thân tử cung dài khoảng 5cm Phần cuối của tử cung là cổ tử cung Đây là một cái eo, thường khép kín Tận cùng của bộ máy sinh dục cái là âm hộ Trong âm hộ có lỗ thông ra ngoài của ống dẫn nước tiểu gọi là lỗ đái và tuyến tiết dịch nhờn
* Sự thành thục về tính:
Sự thành thục của gia súc được đặc trưng bởi những thay đổi bên trong
và bên ngoài cơ thể, đặc biệt là sự biến đổi bên trong của cơ quan sinh dục Tùy thuộc vào từng loài gia súc khác nhau mà thời gian thành thục về tính khác nhau Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [10], ở lợn tuổi thành thục về tính là từ 6 - 8 tháng
Trang 15+ Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng là các yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục Mùa hè lợn thành thục chậm hơn so với mùa thu - đông Điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức Những con được chăn thả tự do thì xuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa xuân) và 17 ngày (mùa thu) Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm, bóng tối cũng làm chậm tuổi thành thục về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 112giờ mỗi ngày
+ Mật độ nuôi nhốt: Mật độ nuôi nhốt đông trên 1 đơn vị diện tích trong suốt thời gian phát triển sẽ làm chậm tuổi động dục Nhưng cần tránh nuôi lợn hậu bị tách biệt đàn trong thời kỳ phát triển Kết quả nghiên cứu của Hughes
và James (1996) [39] cho thấy, việc nuôi nhốt lợn cái hậu bị riêng từng cá thể
sẽ làm chậm lại thành thục tính so với lợn được nuôi nhốt theo nhóm Bên cạnh những yếu tố trên thì đực giống cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tuổi động dục của lợn cái hậu bị Nếu lợn hậu bị thường xuyên tiếp xúc với đực giống sẽ nhanh động dục hơn lợn hậu bị không tiếp xúc với lợn đực giống Ở 165 ngày tuổi cho lợn hậu bị tiếp xúc 2 lần/ngày với lợn đực, mỗi lần tiếp xúc 15 - 20 phút thì tới 83% lợn động dục lần đầu (Muirhead M., Alexander T., 2010) [46]
+ Giống: Các giống khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau Theo Phạm Hữu Doanh và cs., (2003) [6], tuổi thành thục tính ở lợn nái nội thuần chủng (Ỉ, Móng Cái) thường ở tháng thứ 4, thứ 5 (120 - 150 ngày tuổi), lợn Landrace, Yorkshire tuổi thành thục về tính là từ 6 - 7 tháng
+ Chu kỳ tính: Từ khi thành thục về tính, những biểu hiện tính dục của lợn được diễn ra liên tục và có chu kỳ Do trứng rụng có tính chu kỳ nên động dục cũng theo chu kỳ (Khuất Văn Dũng, 2005) [8]
Trang 16- Hiện tượng rụng trứng:
Noãn bào dần dần lớn lên Nổi rõ trên bề mặt của buồng trứng Dưới tác dụng của thần kinh, hormone, áp suất Noãn bào vỡ giải phóng ra tế bào trứng, đồng thời thải ra dịch folliculin Hiện tượng giải phóng tế bào trứng ra khỏi noãn bào ở từng loài gia súc khác nhau Lợn thường rụng 20 - 30 tế bào trứng 1 lần
- Sự hình thành thể vàng:
Sau khi noãn bào vỡ ra và dịch nang chảy ra Màng trên bị xẹp xuống đường kính ngắn lại bằng nửa xoang trứng Tạo nên những nếp nhăn trên vách xoang ăn sâu vào trong làm thu hẹp xoang tế bào trứng Xoang chứa đầy dịch và một ít máu chảy ra từ vách xoang ra Dịch và máu đọng lại và lấp đầy xoang của tế bào trứng Các nếp nhăn gồm nhiều lớp nhăn ăn sâu vào và lấp đầy xoang gồm nhiều tế bào hạt, những tế bào hạt này tuy số lượng không tăng nhưng kích thước lại tăng rất nhanh Trong các tế bào hạt
có chứa lipoit và sắc tố màu vàng Như vậy, trong tế bào trứng đã chứa đầy
tế bào hạt (gọi là tế bào lutein) Sự phát triển của tế bào hạt mang sắc tố đã hình thành nên thể vàng Đây chính là nơi đã tạo ra hormone progesterone Trong thời gian vài ngày, thể vàng sẽ đầy xoang của tế bào trứng, nó tiếp tục phát triển Nếu gia súc không có thai thì thể vàng nhanh chóng đạt đến độ lớn tối đa rồi thoái hóa dần
Thời gian tồn tại của thể vàng từ 3 - 15 ngày Nếu gia súc có thai, nó tồn tại trong suốt thời gian mang thai đến ngày gia súc gần đẻ
- Niêm dịch:
Trong đường sinh dục của gia súc cái có niêm dịch chảy ra cũng là do kết quả của quá trình tế bào trứng rụng Do sự thay đổi hàm lượng các kích tố trong máu, từ ống dẫn trứng đến mút sừng tử cung, tiết ra niêm dịch Đồng thời ở âm đạo, âm môn cũng có niêm dịch chảy ra
Trang 17- Tính dục:
Do kết quả của quá trình rụng trứng hàm lượng oestrogen tăng lên ở trong máu nên có một loạt biến đổi về bên ngoài khác với bình thường, đứng nằm không yên, kém ăn, kêu giống, thích gần con đực, phá chuồng, sản lượng sữa giảm, chăm chú tới xung quanh, gặp con đực không kháng cự, biểu hiện này tăng lên về cường độ cho đến khi tế bào trứng rụng
- Tính hưng phấn:
Thường kết hợp song song với tính dục, con vật có một loạt biến đổi về bên ngoài, thường không yên, chủ động đi tìm con đực, kêu rống, kém ăn, đuôi cong và chịu đực, hai chân sau thường ở tư thế giao phối Cao độ nhất
là lúc tế bào trứng rụng Khi đã rụng tế bào trứng thì tính hưng phấn giảm đi
rõ rệt
* Chu kỳ động dục:
Theo Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2006) [31] cho biết, chu kỳ động dục của gia súc chia làm 4 giai đoạn sau:
- Giai đoạn trước động dục:
Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục lúc này buồng trứng to hơn bình thường Các tế bào của vách ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số lượng lông nhung tăng lên Đường sinh dục xung huyết, nhu động sừng tử cung tăng lên, dịch nhầy ở âm đạo tăng nhiều Giai đoạn này tính hưng phấn chưa cao
Khi noãn bào chín, tế bào trứng được tách ra, sừng tử cung co bóp mạnh,
cổ tử cung mở hoàn toàn Niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều lúc này con vật bắt đầu xuất hiện tính dục
- Giai đoạn động dục:
Theo Phạm Khánh Từ và cs (2014) [36], thời gian của giai đoạn này được tính từ khi tế bào trứng tách khỏi noăn bao các biến đổi của cơ quan sinh dục lúc này rõ rệt nhất, niêm mạc âm hộ xung huyết, phù thũng rõ rệt, niêm dịch trong suốt chảy ra ngoài nhiều, con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ:
Trang 18Con cái đứng nằm không yên, phá chuồng, ăn uống giảm hẳn, kêu rít, đứng trong trạng thái ngẩn ngơ, ngơ ngác, đái rắt, luôn nhảy lên lưng con khác hoặc
để con khác nhảy lên lưng mình, thích gần đực, khi gần đực thì luôn đứng ở
tư thế sẵn sàng chịu đực như: đuôi cong lên và lệch sang một bên, hai chân sau dạng ra và khụy xuống, sẵn sàng chịu đực
- Giai đoạn sau động dục:
Lợn trở lại trạng thái bình thường, âm hộ giảm độ nở, đuôi cụp và không chịu đực
- Giai đoạn nghỉ ngơi:
Đây là giai đoạn dài nhất, các biểu hiện về tính của gia súc ở thời kỳ này yên tĩnh hoàn toàn Thời kỳ này, cơ quan sinh dục không có biểu hiện hoạt động, trong buồng trứng thể vàng teo đi, noãn trong buồng trứng bắt đầu phát dục và lớn lên, các cơ quan sinh dục đều ở trạng thái sinh lý
* Sinh lý quá trình mang thai và đẻ:
Sau thời gian lưu lại ở ống dẫn trứng khoảng 3 ngày để tự dưỡng, hợp tử bắt đầu di chuyển xuống tử cung, tìm vị trí thích hợp để làm tổ, hình thành bào thai Sự biến đổi nội tiết tố trong cơ thể mẹ trong thời gian có chửa như sau: Progesterone trong 10 ngày đầu có chửa tăng rất nhanh, cao nhất vào ngày chửa thứ 20 rồi giảm nhẹ ở 3 tuần đầu, sau đó, duy trì ổn định trong thời gian có chửa để an thai, ức chế động dục Trước khi đẻ 1 - 2 ngày, Progesterone giảm đột ngột Estrogen trong suốt thời kỳ có chửa duy trì ở mức độ thấp, cuối thời kỳ có chửa khoảng 2 tuần thì bắt đầu tăng dần, đến khi đẻ thì tăng cao nhất Thời gian có chửa của lợn nái bình quân là 114 ngày (Jose Bento S và cs., 2013) [41]
2.2.1.3 Chăm sóc lợn nái thời gian chửa đến cai sữa
* Quy trình chăm sóc nái chửa:
Lợn nái chửa được nuôi chủ yếu ở chuồng nái chửa 1, chuồng nái chửa 2 Hàng ngày vào kiểm tra lợn để phát hiện lợn phối giống không đạt, lợn
bị sảy thai, lợn mang thai giả, vệ sinh, dọn phân không để lợn nằm đè lợn
Trang 19phân, tra cám cho lợn, rửa máng, phun thuốc sát trùng hàng ngày, xịt gầm, chở phân ra khu xử lý phân Lợn nái chửa được ăn các loại thức ăn 9044 với khẩu phần ăn lợn tuần chửa, thể trạng, lứa đẻ như sau:
- Đối với nái chửa từ tuần 1 đến tuần chửa 12 ăn thức ăn 9044 với tiêu chuẩn 1,8 - 2 kg/con/ngày, cho ăn 1 lần trong ngày
- Đối với nái chửa từ tuần 13 đến tuần chửa 14 ăn thức ăn 9044 với tiêu chuẩn 2,2 - 3,5 kg/con/ngày, cho ăn 1 lần trong ngày
- Đối với nái chửa từ tuần 15 trở đi ăn thức ăn 9054 với tiêu chuẩn 2,2 - 3,5 kg/con/ngày, cho ăn 1 lần trong ngày
* Quy trình chăm sóc lợn nái đẻ:
Lợn nái chửa được chuyển lên chuồng đẻ trước ngày đẻ dự kiến 7 - 10 ngày Trước khi chuyển lợn lên chuồng đẻ, chuồng phải được dọn dẹp và rửa sạch sẽ Lợn chuyển lên phải được ghi đầy đủ thông tin lên bảng ở đầu mỗi ô chuồng Thức ăn của lợn chờ đẻ được cho ăn với tiêu chuẩn như sau:
- Đối với nái hậu bị, ăn thức ăn 9044 với tiêu chuẩn 2,2 kg/ngày/con, cho
ăn 2 lần trong ngày
- Lợn nái chửa trước ngày đẻ dự kiến 4 ngày, giảm tiêu chuẩn ăn xuống 0,5 kg/con/bữa
- Khi lợn nái đẻ được 2 ngày tăng dần lượng thức ăn từ 0,5 - 6 kg/con/ngày, chia làm ba bữa sáng lúc 7 giờ, 10 giờ, chiều lúc 17 giờ, mỗi bữa tăng lên 0,5kg
Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng đó là việc chuẩn bị lồng úm cho lợn con Ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông Ngoài ra, ô
úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con (để máng ăn vào ô
úm cho lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi) mà không bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức
Trang 20ăn của lợn con Vào ngày dự kiến đẻ của lợn nái, cần chuẩn bị xong ô úm cho lợn con Kích thước ô úm: 1,2 m x 1,5 m Ô úm được cọ rửa sạch, phun khử trùng và để trống từ 3 - 5 ngày trước khi đón lợn con sơ sinh
lợn con và mẹ (Trần Văn Bình, 2010) [44]
* Bệnh viêm tử cung:
Trần Tiến Dũng và cs (2002) [10] cho biết, viêm tử cung là một quá bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm hủy các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái Trong quá trình mang thai lợn ăn nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc bị
nhiễm một số bệnh truyền nhiễm như: bệnh xoắn khuẩn (Leptospirosis), bệnh sảy thai truyền nhiễm (Brucellosis) và một số bệnh truyền nhiễm khác làm cơ
thể lợn nái yếu dần dẫn đến lợn sảy thai, đẻ non, thai chết lưu từ đó dẫn đến viêm tử cung (Nguyễn Đức Lưu và cs., 2004) [18]
Theo Nguyễn Văn Thanh (2014) [30], tỷ lệ lợn nái mắc viêm tử cung tương đối cao, bệnh thường tập trung ở lợn nái đẻ lứa đầu hoặc đã đẻ nhiều lứa
Trang 21Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh trên 143 lợn nái sau khi sinh đã phát hiện 106 con tiết dịch nghi viêm đường sinh dục, chiếm tỷ lệ 74,13% (Trần Ngọc Bích và cs., 2016) [2]
Bệnh viêm đường sinh dục ở lợn chiếm tỷ lệ cao từ 30 - 50%, trong đó viêm cơ quan bên ngoài ít, chiếm tỷ lệ 20%, còn lại 80% là viêm tử cung (Trần Tiến Dũng và cs., 2002) [10]
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [16], Nguyễn Xuân Bình (2000) [3],
Lê Minh và cs (2017) [20], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:
- Cơ quan sinh dục lợn nái phát triển không bình thường gây khó đẻ hoặc lợn nái khó đẻ do thai quá to, thai ra ngược, thai phát triển không bình thường
- Phối giống quá sớm đối với lợn đẻ lứa đầu hoặc lợn nái già mang nhiều thai Khi đẻ tử cung co bóp yếu, do lứa đẻ trước đã bị viêm tử cung làm cho niêm mạc tử cung biến đổi nên nhau thai không ra gây sát nhau, thối rữa tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn
- Trong quá trình có thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, tinh bột, protein và ít vận động cơ thể nên cơ thể béo dẫn đến khó đẻ Hoặc do thiếu dinh dưỡng lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm nên không chống lại
vi trùng xâm nhập cũng gây viêm
- Do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng, gây xây sát sẽ tạo ra các ổ viêm nhiễm trong âm đạo hoặc tử cung hoặc do tinh dịch bị nhiễm khuẩn Những thao tác đỡ đẻ không đúng kỹ thuật, đưa dụng cụ vào cổ tử cung không an toàn, không đảm bảo vệ sinh
- Kế phát từ các bệnh khác như bệnh viêm âm đạo, tiền đình, bàng quang hoặc các bệnh truyền nhiễm: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao thường gây ra các bệnh viêm tử cung
- Bệnh còn xảy ra khi chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý kém hoặc do thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột, thời tiết quá nóng, quá lạnh, ẩm ướt kéo dài
Trang 22- Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Minh (2014) [21], yếu
tố thời tiết, khí hậu, ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ mắc hội chứng viêm tử cung: mùa hạ có tỷ lệ nhiễm cao nhất 53,37%, mùa đông 46,05%, mùa thu 43,70% Kết quả khảo sát tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên 620 lợn nái ngoại nuôi tại một số trại tại vùng Bắc Bộ cho thấy: tỷ lệ nhiễm viêm tử cung ở đàn lợn tương đối cao, biến động từ 36,57% tới 61,07% Tỷ lệ mắc tập trung ở những lợn nái đẻ lứa đầu đến lứa thứ 8 (Nguyễn Văn Thanh, 2007) [29]
Viêm tử cung là một bệnh khá phổ biến ở gia súc cái Nếu không được chữa trị kịp thời th́ sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của gia súc cái (Lê Thị Tài và cs., 2000) [27]
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [10], Trần Thị Dân (2004) [5], khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính như: lợn dễ bị sảy thai, bào tai phát triển kém hoặc thai chết lưu, lợn nái giảm sữa hoạc mất sữa, nếu lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại Viêm tử cung là một trong những yếu tố gây vô sinh, rối loạn chức năng cơ quan sinh dục vì các quá trình viêm ở trong dạ con cản trở sự di chuyển của tinh trùng tạo độc tố có hại cho tinh trùng như: Spermiolisin (độc tố làm tiêu tinh trùng) Các độc tố của vi khuẩn, vi trùng và các đại thực bào tích tụ gây bất lợi với tinh trùng, ngoài ra nếu có thụ thai được thì phôi ở trong môi trường dại con bất lợi cũng dễ bị chết non (Lê Văn Năm, 1999) [22]
Triệu chứng:
Theo Đặng Đình Tín (1986) [34], Trần Tiến Dũng và cs (2002) [10], triệu chứng viêm tử cung thể hiện qua 3 thể viêm:
- Viêm nội mạc: lợn có biểu hiện sốt nhẹ, dịch viêm có mầu trắng hoặc xám và có mùi tanh Con vật có phản ứng đau nhẹ, phản ứng co bóp tử cung giảm nhẹ
- Viêm cơ: lợn có biểu hiện sốt cao, dịch viêm có mầu hồng hoặc nâu đỏ
và có mùi tanh thối Con vật có phản ứng đau rõ rệt, phản ứng co bóp tử cung
Trang 23yếu ớt Viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung, niêm mạc
tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản, từ đó làm lớp cơ và một ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử (Nguyễn Hữu Ninh và cs., 2000) [24]
- Viêm tương mạc: lợn có biểu hiện sốt rất cao, dịch viêm có mầu nâu rỉ sắt và có mùi thối khắm Con vật rất đau kèm lợn triệu chứng viêm phúc mạc, phản ứng co bóp tử cung mất hẳn
Điều trị bệnh:
Theo Smith và cs (1995) [42], Popkov (1999) [26], sử dụng phương pháp tiêm kháng sinh vào màng treo cổ tử cung của lợn nái, điều trị viêm tử cung đạt hiệu quả cao: streptomycin 0,25 g, penicillin 500.000 UI, dung dịch KMnO4 1% 40 ml + VTM C
Khi lợn bị viêm âm đạo, âm hộ, thụt rửa âm đạo bằng dung dịch nước etacridin 1/1.000 và 1/5.000, furazolidon 1/1.000
Theo Nguyễn Văn Điền (2015)[11], đối với lợn nái viêm nhẹ, điều trị bằng cách đặt viên thuốc kháng sinh oxytetracyclin vào âm đạo từ 5 - 7 ngày Tiêm amoxicillin 15% 3 lần liên tiếp, mỗi lần cách nhau 48 giờ Đây là dạng viêm có kết quả điều trị khỏi bệnh cao
Đối với lợn nái sau khi đẻ, xảy thai và viêm nặng: Thụt rửa tử cung bằng
dung dịch iodine 10% pha 10 ml/2 lít nước, thụt rửa 2 lần/ngày trong 2 ngày đầu và thụt rửa 1 lần/ngày từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 5 sau khi đẻ Sau khi thụt rửa bơm thuốc kháng sinh O.T.C 10% (5 ml thuốc pha 20 ml nước sinh lý) hay 4 g streptomycin + 40.000 UI penicillin ngày 1 lần trong 3 ngày liên tiếp vào tử cung Đồng thời, tiêm oxytocin liều 10 - 15 UI (2 ống 5 ml/ 1 lần) nhiều lần trong ngày để tử cung co bóp tống dịch sản ra ngoài Tiêm kháng sinh phổ rộng chống viêm như: terramycin LA, amoxicillin 15% 3 lần liên
Trang 24tiếp mỗi lần cách nhau 48 giờ Ngoài ra, tiêm các loại thuốc bổ trợ như: urotropin giúp tăng cường bài tiết độc tố, thuốc hạ sốt, vitamin C liều cao và canxi hỗ trợ co bóp tử cung, các thuốc kháng viêm: Ketovet,…
* Bệnh viêm vú
Nguyên nhân:
+ Khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho
thấy, vi khuẩn chính gây viêm vú là Staphylococcus spp và Arcanobacterium
pyogenes (Christensen và cs., 2007) [37]
+ Khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn,
Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột xâm nhập gây ra viêm vú
+ Thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn
xâm nhập gây viêm như: E.coli, streptoccocus, staphylococus, klebsiella
Theo White (2013) [43], biểu hiện rõ tại vú viêm với các đặc điểm: vú căng cứng, nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa, nếu vắt mạnh sữa chảy ra có nhiều lợn con lẫn máu; sau 1 - 2 ngày thấy có mủ, lợn
mẹ giảm ăn hay bỏ ăn, sốt cao 40 - 41,5oC Tùy số lượng vú bị viêm mà lợn nái có biểu hiện khác nhau Nếu do nhiễm trùng trực tiếp vào bầu vú, thì đa số trường hợp chỉ một vài bầu vú bị viêm Tuy vậy, lợn nái cũng lười cho con
bú, lợn con thiếu sữa nên liên tục đòi bú, kêu rít, đồng thời do bú sữa bị viêm, gây nhiễm trùng đường ruột, lợn con bị tiêu chảy
Trang 25Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [14], trước khi đẻ cần lau vú, xoa vú, tắm cho nái Cho con bú mẹ sau 1 giờ đẻ, cắt răng nanh lợn con Tiêm kháng sinh 1,5 - 2 triệu đơn vị với 100 ml nước cất tiêm quanh vú, tiêm liên tục trong 3 ngày
Dùng Novocain tiêm ven tai, tiêm chỗ giáp nhau giữa hai bầu vú và phần sườn của lợn, tiêm nhắc lại sau một ngày
Dùng kháng sinh streptomycin, penicillin, ampicillin, lincomycin… liều đạt trên 200.000 - 500.000 UI, mỗi loại trên một lần tiêm cho 1 - 2 lần/ngày trong 3 - 5 ngày
Thực hiện phòng bệnh: Vệ sinh bầu vú, hai chân sau cho lợn hằng ngày bằng dung dịch sát trùng Bấm răng sữa cho lợn con mới sinh, nên cho lợn con bú sữa đầu và phân đều vú cho từng con trong đàn Tăng cường ăn uống
đủ chất cho lợn mẹ trước và sau khi đẻ, nên giảm bớt chất đạm để hạn chế nguy cơ thừa sữa Khi lợn mẹ bị viêm vú, không nên cho lợn con bú ở những vùng bị viêm Dùng các phương pháp nhân tạo như chườm nóng, xoa bóp nhẹ lên vùng vú bị sưng
* Bệnh sót nhau
Lợn nái bị viêm niêm mạc tử cung nên sau khi đẻ nhau không ra hết, can thiệp vội vàng, thô bạo, không đúng kỹ thuật nên nhau bị đứt và sót lại Lợn nái quá già, đẻ nhiều đuối sức, tử cung co bóp kém không đẩy được nhau ra
- Nguyên nhân:
Trịnh Đình Thâu và cs (2010) [33] cho biết, sau khi đẻ tử cung co bóp yếu trong thời gian mang thai nhất là giai đoạn cuối con vật không được vận động thỏa đáng Trong thức ăn thiếu các chất khoáng, nhất là Ca và P hoặc tử cung bị sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa quá nhiều thai, thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quá mức
+ Kế phát sau các bệnh khó đẻ khác
Trang 26+ Nhau mẹ và nhau con dính lại với nhau do con vật mắc các bệnh truyền nhiễm, đặc biệt là bệnh sảy thai truyền nhiễm, hoặc do cấu tạo của nhau
- Triệu chứng: Căn cứ vào mức độ sát nhau người ta chia ra làm 2 loại: + Sót nhau hoàn toàn: Toàn bộ nhau thai nằm lại trong tử cung Khi mắc thường là có một phần treo lơ lửng ở mép âm môn
+ Sót nhau không hoàn toàn: Ở động vật đơn thai một phần màng nhau còn dính lại trong tử cung con mẹ Đối với động vật đa thai một số nhau ra ngoài, một số nhau còn sót lại trong tử cung con mẹ Con vật đứng nằm không yên, nhiệt độ hơi tăng, thích uống nước, sản dịch chảy ra màu nâu
Để dễ phát hiện có sót nhau hay không khi đỡ đẻ cho lợn người ta thường gom toàn bộ nhau lại cho đến khi lợn đẻ xong, đếm số nhau ra và số lợn con sẽ phát hiện lợn con có sót nhau hay không
- Chẩn đoán: Từ cơ quan sinh dục của nái luôn thải ra dịch màu hồng tím Quan sát kỹ thấy có màng mỏng nằm trong âm đạo, treo lòng thòng ở mép âm môn (Trịnh Đình Thâu và cs., 2010) [33]
2.2.1.5 một số bệnh truyền nhiễm trên đàn lợn nái
Bệnh tai xanh:
- Nguyên nhân:
Bệnh tai xanh trên heo (lợn) còn được gọi là Hội chứng rối loạn sinh sản và
hô hấp (Porcine Reproductive Respiratory Syndrome - PRRS), là bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus thuộc giống Arterivirus gây ra Bệnh rất dễ lây lan
- Triệu chứng:
Bệnh phát ra đột ngột và ảnh hưởng trên nhiều loại heo trong chuồng Biểu hiện đặc trưng của bệnh tai xanh là các rối loạn sinh sản trên heo nái và rối loạn hô hấp, sốt, đỏ mình, yếu ăn hoặc bỏ ăn kéo dài trên các loại heo trong chuồng Biểu hiện bệnh trầm trọng hay nhẹ tùy thuộc vào: độc lực virus,
Trang 27tuổi, nhiễm lần đầu hay lần sau, tình trạng sức khỏe-sức đề kháng của heo, cách chăm sóc, quản lý,…
Heo nái sốt (40-41 C), biếng ăn, lười uống; Hai chân sau yếu, da
chuyển màu hồng đến đỏ, tai chuyển màu tím xanh; Ho và có các biểu hiện hô hấp như thở khó, thở nhanh, thở bụng, chảy mũi Quan trọng nhất là đàn nái
có các biểu hiện rối loạn sinh sản: Tăng tỉ lệ động dục lại sau khi phối giống 21-35 ngày; Khoảng 10-15% nái đẻ non trong 4 tuần đầu; Tăng tỉ lệ sẩy thai vào giai đoạn cuối; Khô thai, thai chết non tăng đến 30%; Heo con sinh ra yếu ớt, chân sau yếu; Nái nuôi con mất sữa, viêm vú; Không lên giống hoặc lên giống lại chậm sau khi cai sữa heo con; Tỉ lệ chết có thể đến 10% (nếu không bị bội nhiễm)
- Phòng bệnh:
Để phòng bệnh tai xanh, nên thực hiện cùng lúc nhiều biện pháp:
Chuồng trại: đảm bảo thông thoáng, nhiệt độ, ẩm độ thích hợp, vệ sinh sạch sẽ, mật độ nuôi vừa phải
Định kỳ tiêu độc, sát trùng chuồng trại theo lịch sau: - Bình thường: 2 tuần 1 lần; Thời tiết thay đổi, giao mùa: 1 tuần 1 lần; Khi có dịch bệnh nổ ra xung quanh: 3 ngày 1 lần Sử dụng các thuốc sát trùng hiệu quả cao như: Vimekon, Vime-Iodine (có thể phun xịt thẳng vào chuồng đang nuôi), Vime-Protex, Protectol (phun xịt xung quanh hoặc chuồng trống)
Mua heo ở những trại không có bệnh, cách ly 3-4 tuần trước khi nhập đàn Thực hiện “cùng nhập, cùng xuất” để có thời gian trống chuồng cắt đứt mầm bệnh tồn lưu Không nên nhập heo trong giai đoạn có dịch
Có chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tốt, đảm bảo sức khỏe và sức đề kháng cho heo
Tiêm phòng vắc xin bệnh tai xanh và các bệnh khác (dịch tả, lở mồm long móng ) theo quy định của cơ quan thú y
Trang 28- Điều trị:
Bệnh tai xanh do virus gây ra nên không có thuốc điều trị đặc hiệu, nhưng nếu heo có sức đề kháng tốt và không bị bội nhiễm các bệnh khác thì heo có thể tự khỏi bệnh, tổn thất không đáng kể Tuy nhiên, trong thực tế, phần lớn heo mắc bệnh tai xanh đều bội nhiễm các bệnh khác làm cho bệnh nặng hơn, tỉ lệ chết cao hơn Phác đồ khống chế tai xanh bao gồm: (xem thêm phác đồ khống chế tai xanh và các bệnh kế phát)
Khống chế các hô hấp kế phát tiêm kháng sinh:
+ amoxilline: 1ml/10kgTT
+ Ceftiofur :3-5mg/kgTT
+ Dexamethasone: 1ml/20kgTT
Điều trị liên tục từ 5-7 ngày
+ Khống chế các kế phát khác (tùy theo heo đang bị kế phát bệnh gì)+ Nâng sức đề kháng toàn đàn
+ Tiêu độc sát trùng chuồng trại
+ Bố trí tiêm phòng khi heo hết bệnh và ổn định (khoảng 1 tháng sau khi khỏi bệnh) Biện pháp tổng hợp thực hiện tốt và đồng bộ có thể khống chế bệnh trong 2 tuần, tỉ lệ hao hụt khoảng 5-10 %
Bệnh parvovirus
- Nguyên nhân
Bệnh xảy ra chủ yếu trên heo nái hậu bị, nái đã đẻ nhiều lứa, heo nọc đóng vai trò rất quan trọng trong việc gieo rắc mầm bệnh Nguyên nhân do Porcine Parvovirus (PPV) gây ra các xáo trộn sinh sản trên heo đặc trưng bởi các biểu hiện như nâng, giảm lứa đẻ, thai hóa gỗ, tiêu thai, sẩy thai, đẻ thai chết, heo con đẻ ra yếu, chết ngay sau sinh hoặc còi cọc, chậm lớn
Bệnh này còn gọi là “Bệnh thai gỗ” Bệnh chủ yếu lây qua đường tiêu hoá, hô hấp, sinh dục và truyền qua nhau thai Porcine Parvovirus lưu hành
Trang 29khắp nơi trên thế giới và là nguyên nhân chủ yếu gây chết phôi và chết thai, ngoài ra nó có thể làm tăng các ảnh hưởng của virút PCV2 trong Hội chứng còi cọc sau cai sữa Porcine Parvovirus là loại ADN virút, có kích thước rất nhỏ (20nm), không vỏ bọc tồn tại lâu trong cơ thể heo và bền vững cao với điều kiện môi trường bên ngoài.
- Triệu chứng:
Virút cảm nhiễm trên heo trưởng thành thì không thể hiện triệu chứng, nhưng trên heo nái có mang thì tùy thuộc vào việc virút cảm nhiễm ở giai đoạn nào của thời kỳ mang thai mà heo nái sẽ có những biểu hiện rối loạn sinh sản khác nhau Khi cảm nhiễm ở giai đoạn bắt đầu của thời kỳ có mang thì chết phôi và heo nái chậm lên giống, giảm số heo trong lứa đẻ do chết một phần phôi
Khi cảm nhiễm phôi sau ngày 35 của kỳ có mang (lúc bắt đầu canxi hóa xương sườn) sự hấp phụ hoàn toàn không thể xẩy ra mà có dáng dấp của sự
“hóa gỗ” Sự hóa gỗ có thể xảy ra ở một số phôi thai hay toàn bộ, thai chết ở nhiều giai đoạn phát triển khác nhau nên kích thước thai gỗ cũng khác nhau, đây là một trong những điểm đặc biệt sử dụng trong chẩn đoán phân biệt với các bệnh khác
Nếu cảm nhiễm chậm hơn sẽ sinh ra những heo con chết ngay hoặc chết lúc sinh Sự nhiễm bệnh ở heo đực không gây ảnh hưởng gì đến khả năng sinh dục của chúng
Trang 30+ Phải can thiệp tiêm ngay vacxin cho mọi đối tượng lợn đặc biệt là lợn đực giống và ngừng lấy tinh trong thời gian ít nhất 3 tháng
+ Lợn nái phải thụ tinh nhân tạo, tinh lấy từ đực giống hoàn toàn khoẻ mạnh từ nơi khác
+ Các biện pháp ngăn ngừa từ xa phải được áp dụng triệt để nhất là phải xem xét kỹ hồ sơ lợn ngoại nhập Chỉ nhập những lợn có lý lịch rõ ràng và từ những nơi an toàn dịch
Heo 15 đến 90 ngày tuổi, biếng ăn, thân nhiệt tăng cao 41C trong 2-3 ngày, một số con có dấu hiệu thần kinh như run cơ,động kinh, có thể liệt, chảy nước dãi, kêu la, chết sau 4-6 ngày
Heo trưởng thành ít xuất hiện triệu chứng, một số có dấu hiệu xáo trộn tiêu hóa như sốt, biếng ăn, xáo trộn hô hấp như chảy nước mũi hắt hơn ho Có