1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

SỰ TIẾP NHẬN POHNAGAR TRONG TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU CỦA VĂN HÓA VIỆT

35 155 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 648,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những hệ quả giao lưu văn hoá Chăm –Việt đã chỉ ra phần nàonhững đóng góp của văn hoá Chăm trong nền văn minh Việt Nam: vềphương diện ngôn ngữ và văn chương, những từ “ni”, “tê” đây, đó

Trang 1

1 Tín ngưỡng thờ Poh Nagar trong văn hoá Chăm 6

2 Qúa trình tiếp nhận Poh Nagar trong tín ngưỡng thờ mẫu của văn

Trang 2

Những hệ quả giao lưu văn hoá Chăm –Việt đã chỉ ra phần nàonhững đóng góp của văn hoá Chăm trong nền văn minh Việt Nam: vềphương diện ngôn ngữ và văn chương, những từ “ni”, “tê” (đây, đó) đã đivào ngôn ngữ sinh hoạt của người dân Việt xứ Huế, nhiều địa danh ởTrung bộ Việt Nam vốn xuất xứ từ các từ Chăm như Phan Rang (pan-rang), Phan Rí (Pa –rích), Phan Thiết (Man-thít)… Về âm nhạc – nghệthuật, những điệu “nam ai”, “nam bình”, những điệu hò Huế, chầu văn,vọng cổ ít nhiều chịu ảnh hưởng của cổ nhạc Champa, các nhạc cụ cũng

có những nét tương đồng như trống cơm Việt có hình dạng giống trốngginăng của người Chăm, cái nhị Việt giống với kanhi Chăm…Trong nghệthuật tạo hình, phong cách kiến trúc Chăm được tìm thấy trong một sốcông trình kiến trúc Việt Nam như chùa Báo Thiên (đời Lý), chùa SàiSơn, tháp Phổ Minh ở miền Bắc, chùa Thập Tháp ở miền Trung… Cácđiêu khắc thời Lý –Trần với những hoạ tiết tiên nga cưỡi hạc, chim thầngaruda và vũ nữ apsara mang đậm nét văn hoá Chăm Hình ảnh con Rồngthời Lý mang nhiều âm hưởng của con makara (một loại rắn biển cóchân) của Champa Tác động của nền điêu khắc Champa còn được tìmthấy qua các tượng ông phỗng đá mắt sâu, bụng to tại một số đền đình tạiBắc bộ Về tôn giáo –tín ngưỡng, vua Lý Thánh Tôn khi chinh phục

Trang 3

Champa năm 1069, có mang về một nhà sư gốc Trung Hoa tên là ThảoĐường sang học đạo tại Champa Thảo Đường đã cùng với các tăng lữngười Việt đã lập nên thiền phái Việt Nam đầu tiên mang tên ThảoĐường Về kinh tế –xã hội, ngay từ thế kỷ XI, người Chăm đã cùng thamgia với người Việt khai hoang lập ấp ở nhiều nơi như trại Nhật Kiểu gầnTây Hồ, làng Nhân Hoà gần Hà Đông, trấn Vĩnh Khang giáp với NinhBình, Thanh Hoá ngày nay… Việc sử dụng các giống lúa Chiêm (xuấtphát từ Chiêm Thành) và kỹ thuật sạ lúa cũng được người Việt học tập từngười Chăm Ngoài việc tiếp thu các yếu tố văn hoá, người Việt còn tiếpnhận các yếu tố nhân chủng thông qua các cuộc hôn nhân hợp huyết giữahai dân tộc.

Xuất phát từ những dữ liệu trên, tôi thấy rằng “giao lưu văn hoáViệt – Chăm” là một đề tài hay và có thể khai thác dưới nhiều góc độ, đặc

biệt là dưới góc độ tôn giáo – tín ngưỡng Do vậy, tôi đã chọn đề tài “Sự

tiếp nhận Poh Nagar trong tín ngưỡng thờ Mẫu của văn hoá Việt (Nghiên cứu trường hợp trên địa bàn vùng Thuận Hoá)” làm tiểu luận

cho học phần “Cơ sở văn hoá Việt Nam”.

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của đề tài là nhằm tìm hiểu về tín ngưỡng thờ Poh Nagar(Poh Inư Nagar) của người Chăm và quá trình Việt hoá Poh Nagar thànhThiên Y A Na trong tín ngưỡng thờ Mẫu của văn hoá Việt

3 Lịch sử nghiên cứu

Champa học ra đời từ cuối thế kỷ 19 nhờ Học Viện Viễn ĐôngPháp (EFEO-Ecole Française d’Extrême-Orient), và gần đây đang là mộttrong những cái đinh của nền Đông phương học qua những hoạt động họcthuật quốc tế diễn ra tại Đan Mạch, Malaysia, Pháp, Hoa Kỳ , qua nhữngxuất bản phẩm của EFEO, của Chương trình Thế giới Mã Lai - Thế giới

Đông Dương, qua tập san Champaka, Nghiên cứu lịch sử và nền văn

minh Champa rất phong phú do International Office of Champa (Hoa Kỳ)

và Champa International Arts and Culture Foundation (Canada) đồng bảo

Trang 4

trợ và xuất bản cùng lúc tại Paris, Toronto và San Jose từ năm 1999 Đặcbiệt từ ngày 12-10-2005 đến ngày 9-1-2006 đã diễn ra nhiều hoạt độngnghệ thuật và học thuật qui mô lớn mà giới văn hóa Pháp dành cho lịch

sử và văn hóa Chăm được tổ chức tại Viện bảo tàng quốc gia các nền

nghệ thuật Á Đông Guimet ở Paris, gồm cuộc triển lãm lớn "Kho tàng

nghệ thuật Việt Nam: nền điêu khắc Champa (từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 15)",

nhiều cuộc diễn thuyết khoa học và nghệ thuật, và quan trọng nhất là

Ngày học thuật (7- 12-2005) dành cho "Di sản Việt Nam: Những khía cạnh của nền văn minh Chăm, 100 năm nghiên cứu và phát hiện", với sự

tham dự của nhiều chuyên gia quốc tế, kèm theo nhiều xuất bản phẩmmới về Champa…

Điều đó cho chúng ta thấy rằng, văn hoá Champa và quá trình giaolưu văn hoá Việt - Chăm đã và đang là một đề tài thu hút sự quan tâmnghiên cứu của đông đảo các học giả trên thế giới

Ở Việt Nam, đây cũng không phải là một đề tài xa lạ, đặc biệt làtrên lĩnh vực tôn giáo Từ lâu, các nhà nghiên cứu tôn giáo ở Việt Namrất quan tâm đế yếu tố nữ trong tâm thức tôn giáo của các dân tộc và xem

đó như một đặc trưng của đời sống tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân ta

từ xưa đến nay

Gần đây nhất, các tác phẩm Đạo Mẫu ở Việt Nam [30], Tínngưỡng thờ Mẫu ở miền Trung Việt Nam [33], Thiên Y A Na hay sự tiếpnhận nữ thần Po Nagar của các triều đại Nho giáo Việt Nam [1]… đã hệthống hoá tương đối đầy đủ diện mạo của tín ngưỡng này

Bên cạnh đó phải kể đến các nhà nghiên cứu Champa nổi tiếngnhư: Ngô Văn Doanh, Trần Kỳ Phương, Phan Xuân Biên, Phan An, PhanVăn Dốp… đã cung cấp cho chúng ta nhiều công trình nghiên cứu có giátrị

Có thể nói, những công trình nghiên cứu của các học giả trong vàngoài nước đã cung cấp cho tôi một nguồn tài liệu phong phú để hoànthành đề tài của mình

Trang 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trên cơ sở những nét tương đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu củavăn hoá Việt – Chăm, tôi chọn hình tượng Poh Nagar và quá trình Việthoá Poh Nagar thành Thiên Y A Na làm đối tượng chính để tìm hiểu vềmột khía cạnh nhỏ của quá trình giao lưu văn hoá Việt – Chăm

Tuy nhiên, do hạn chế về mặt thời gian và trong khuôn khổ củamột tiểu luận, tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu ở vùng Thuận Hoá (MiềnTrung Việt Nam)

5 Phương pháp nghiên cứu

Về những vấn đề phương pháp nghiên cứu, tôi vận dụng phương

pháp lịch sử kết hợp chặt chẽ với phương pháp logic, thể hiện cụ thể ở

Mục 1: Tín ngưỡng thờ Poh Nagar trong văn hoá Chăm

Mục 2: Qúa trình tiếp nhận Poh Nagar trong tín ngưỡng thờ mẫucủa văn hóa Việt

Mục 3: Hình ảnh của Thiên Y A Na trong đời sống tín ngưỡng củangười Việt

Trang 6

NỘI DUNG



1 Tín ngưỡng thờ Poh Nagar trong văn hoá Chăm

Vương quốc Champa là một trong những quốc gia ở Đông Nam Áchịu ảnh hưởng mạnh mẽ tín ngưỡng Ấn Độ mà tôn giáo là nét biểu hiện

rõ nhất Mặc dù sẵn có một nền văn hoá và tín ngưỡng bản địa, songtrong suốt quá trình tồn tại, người Chăm vẫn lấy tôn giáo Ấn Độ thiên vềCivaisme làm cơ sở đức tin của mình và cải biến cho phù hợp với truyềnthống văn hoá của mình từ quá trình tiếp thu cũng như ảnh hưởng luồng

tư tưởng Ấn một cách mạnh mẽ trên một phạm vi rộng và trong một thờigian lâu dài

Nằm trong chiếc nôi văn minh lúa nước của nhân loại, người Chămtrong quá trình sinh tồn của mình cũng không nằm ngoài những nét đặctrưng văn hoá của khu vực, và đó là hiện tượng tôn vinh hình ảnh ngườiphụ nữ, cũng như sự hiển thần của họ và được con người phụng thờ

Từ hình tượng thần nữ Uma linh hiển tối cao đứng cạnh Civa1, sựngưỡng vọng ấy cùng với lòng thành tín tin vào bà, người Chăm đã thôngqua lăng kính của văn hoá truyền thống biến đổi dần từ một vị nữ thầntrong Ấn Độ giáo, trở thành bà mẹ xứ sở, bảo vệ sự yên lành, no ấm chocộng đồng – người đã đem lại cho nhân dân Chăm cuộc sống yên vui,hạnh phúc

Dinh Mẫu tại khu tháp Poh Nagar (Nha Trang)

1 Uma hay nói đúng hơn là biểu tượng cho nguyên tố âm của thần Civa – vị thần tối cao trong đức tin của người Chăm, đã từng bước chuyển hoá làm nên một biểu tượng trùng khớp trong quan niệm người Chăm, thông qua hình tượng nửa còn lại của Civa (Uma) cộng với nữ thần bản địa, hình thành nên hình tượng Poh Nagar [3, 156]

Trang 7

Những tài liệu có liên quan đến Poh Nagar được lưu lại khá phongphú dưới nhiều thể loại và thời điểm khác nhau như văn bản, bi kí,chuyện kể hoặc ở các bài văn khấn cầu cúng trong những buổi lễ củangười Chăm.

Theo nội dung các bi ký ở Tháp Bà, Mỹ Sơn, Đồng Dương… thì

nữ thần Maha Drecvara thực sự nhường ngôi cho Poh Inư Nưgar trongđền thờ của tầng lớp phong kiến với tên gọi Bhagavati Kauthrecvari Cóthể nói, sự chuyển đổi này đã phản ánh quá trình bản địa hoá một cáchkhá mạnh mẽ tôn giáo xú Ấn trong đời sống dân gian Chăm

Poh Inư Nưgar là biểu tượng của sức sáng tạo, bảo tồn và phát triển

xã hội; cũng như Brahma, Civa, Visnu, Laksmi – thần sáng tạo vũ trụ;thần phá huỷ để tạo tác; thần bảo tồn; nữ thần sắc đẹp; phú quý và maymắn… Chính sự gần gũi về mặt ý nghĩa giữa bà mẹ xứ sở (bà Poh Nagar)

và các vị thần trong Ấn Độ giáo đã làm cho hình tượng của vị nữ thầndần tạo được đức tin đối với tôn giáo này Poh Nagar trong truyền thuyếtcủa người Chăm chính là hình tượng bà Bhagavati (Uma) của Ấn Độgiáo, rất được sùng kính và thường được gọi là “Mẹ xứ sở” (Yan PuNagura) [3, 156]

Ấn Độ giáo vốn là tôn giáo đa thần, ảnh hưởng trên nhiều lĩnh vựccủa đời sống cư dân Chăm, cho nên việc tiếp nhận hình tượng vị nữ thầnmang chức năng hộ quốc an dân của tín ngưỡng dân gian sẽ không gâynên sự xáo trộn trong quan niêm về thế giới thần linh cũng như đời sốngtâm linh của tín đồ nơi đây

Với dạng tôn giáo độc thần cực đoan như Hồi giáo (Islam), khiđược người Chăm tiếp thu, chất độc thần ngày càng phai nhạt và vị thần

nữ Poh Nagar cùng với các thần linh địa phương trong tín ngưỡng dângian cũng theo dòng chảy của văn hoá dân tộc càng lúc càng có vị trítrong đời sống tâm linh của tín đồ Đó cũng chính là lý do tại sao ở Việt

Trang 8

Nam, hiện nay tồn tại một dạng Hồi giáo đặc biệt – không nơi nào có:Đạo Bà Ni2.

Do Poh Nagar được thờ phụng một cách phổ biến trong quầnchúng Chăm, nên tín đồ Bà Ni đã tiếp thu và xây dựng hình tượng bà theocách của họ mà tính chất nhất thần trong tôn giáo với những tín điều bất

di bất dịch đã không còn đáng kể Chính vì vậy, nữ thần Poh Nagar đãđược người theo đạo Bà Ni xếp vào trong những vị thần tối thượng của

họ bên cạnh Poh Âu Loá ( đọc trệch từ tên thánh Allah ở đạo Islam) sángtạo thế giới và đạo Bà Ni Cụ thể, theo truyền thuyết của đạo Bàni, PohNagar được kể lại như sau:

“Thưở sơ khai, vũ trụ có 12 mặt trăng, 12 mặt trời, đất còn mỏng manh, trời thì thấp và chưa có con người Mãi tới giờ thứ ba, ngày thứ hai, tháng sáu năm con chuột theo lịch Chăm, bà Atmêchưcắt mới bắt đầu trông coi vạn vật Nhưng vì quá nhiều mặt trời nên sức nóng nung nấu, vạn vật không phát sinh được Thánh Nơmaisơbaicadong giương cung bắn tan các mặt trời, mặt trăng, vũ trụ trở nên u ám Đó là mạt thế.

Đến ngày thứ hai, mồng sáu tháng năm, năm con chuột theo lịch Chăm, ông Âuloa Hú (Allah) thụ sắc của bà Atmêchưcắt từ trong cõi u tối ra đời Sau mười năm tu luyện, ông đã thành công trong việc tạo lập thiên địa cho sáng sủa hơn Ông hóa ra thành ông Mưhăm mach ÔngMưhăm mach sinh ra ông Dibrael Ông Dibrael lại sinh ra Ibarmanimmư trị vì đất đai của Âuloa Hú Lúc ấy có hai ông bà có tội bị trời đầy xuống trần gian là Atầu và bà Hao Oa Hai ông bà sinh con đẻ cái, tạo dựng loài người Khi ông mất thì tất cả tiêu tan mất, chỉ còn lại một cây Môsi vòi vọi, cao lớn.

Ngày thứ ba, mồng sáu tháng hai năm con trâu, Âuloa Hú (tức ông Cú) lại từ trong cây Môsi ra đời Ông lại lo khai quang nhật nguyệt và tái tạo vạn vật Trước hết sinh ra loài cá và loài vật sống dưới nước Tiếp đến sinh ra cây cỏ và thú vật, kế đến sinh ra ma quỷ và loài người Bấy

2 Bàni là một biến tướng của đạo Islam, mang đậm màu sắc dân gian Họ thờ đa thần nên không còn được xem là thành viên của Hiệp hội Hồi giáo chính thống trên thế giới.

Trang 9

giờ vật và người sống lẫn lộn, có xác mà không có hồn Đến năm con dê, ông Cú sai người con gái đầu lòng là Mú Dụ xuống trần gian thay ông cai quản vạn vật Mú Dụ chính là bà Nưkar.

Khi xuống trần (ngày 19 tháng 7 năm con chuột) bà Nưkar có các

vị thánh Âu Lóa, Gia Mư, Tapatathor phò tá Đầu tiên bà dựng một xóm tên là Pâllaisarioanoa Sau đó bà lập đền đài ở xóm Pathucmarasaran ở Pandaran (Phan Rang) Ít lâu sau, bà dời ra Chơcalâu (núi Đại An ở Diên Khánh, Khánh Hòa).

Thấy vũ trụ sắp đặt chưa yên, bà đem sửa lại Bà lấy một cái cân gồm có: bầu trời là đĩa cân, đất là quả cân, mặt trời và mặt trăng là dây xách trên cân Các vì tinh tú là hoa cân Bà giao cho các vị thánh cái cân

ấy Sau đó bà sắp xếp vũ trụ theo hình thân thể của bà: đầu là phương Tây, chân là phương Đông, mặt trời, mặt trăng là hai mắt, sao Mai là trái tim, vòng sao Mỏ Cày là cánh tay, vòng sao Bắc Đẩu là ống chân, sao Đế Thích là đầu gối Khi bà hắng giọng lần đầu thì trời đất mở rộng

ra một khoảnh, bà liền hóa ra nắm gạo hồn (gạo bỏ vào hình nhân làm cho có linh hồn để trở thành con người), một thúng lúa và giao ông Gia

Mư đem giao ở chân trời, rồi truyền cho ông Săngcala (con ốc có hình như cái loa để thổi báo hiệu như tù và) đem thổi, trời đất nhờ đó ngày càng sáng tỏ Bà lại sai ông Âu Lóa ra một thánh tự và sai hai vị thầy tu

là Imun và Catíp lo việc thờ cúng kinh kệ Đạo Islam từ đó ra đời Bà lại sai ông Têpatathor lập một Pơcanơrai (bàn thờ thánh tổ) và hai tu sĩ Pôthia và Pase trông coi đạo Acaphiar (đạo Bà La Môn) Từ đó tục hỏa táng ra đời.

Bà hắng giọng lần thứ hai thì trời đất nổi sấm sét, lần thứ ba thì đất gầm thét, lần thứ tư thì biển động, rừng rung Tiếp đó bà và ba vị thần giúp bà thổi bốn luồng gió Hơi thở của bà Nưkar thành gió bắc, của ông Âu Lóa thành gió nam, của ông Gia Mư thành gió tây và của ông Têpatathor thành gió đông Mỗi ngọn gió có sự lợi hại khác nhau Trong đó gió nam của ông Âu Lóa là tốt hơn cả Ba vị thánh phò tá cho

Trang 10

bà Nưkar, mỗi người trong coi một việc: ông Âu Lóa coi sóc nước Nôvơrion atichanacha (gồm Chân Lạp, Chà Và, Chiêm Thành, Cao Miên, Việt Nam), ông Gia Mư coi sóc Brama, ông Têpatathor cai quản vùng Pandurang…” [38].

Hình tượng bà Poh Nagar trong thần thoại của người Chăm Bàni

Trong quá trình co dần về phương Nam, cư dân Chăm đã để lạinhiều di tích thờ nữ thần Poh Nagar Nhưng có lẽ quan trọng nhất là khu

di tích Tháp Bà3 gồm nhiều đền tháp, trong đó, tháp chính được gọi làtháp Poh Nagar4, gọi theo danh xưng của bà Theo như mô tả: “tượng nữ

thần ở đây trong tư thế ngồi chân kiểu Ấn Độ, tay để trên đầu gối, phía sau mọc ra tám cánh tay khác nhỏ hơn với các biểu tượng dao, chủm choẹ, mũi tên… Dáng điệu nữ thần mang hình ảnh của người đàn bà đã qua sinh nở, ngực chảy, bụng có ba nếp nhăn Ngai nữ thần được đỡ bằng một bông sen” [3, 156] Một tài liệu khác mô tả “Tượng nữ thần được đặt trên một bệ đá Yoni nên tượng được thể hiện dưới dạng Uma với bốn đôi tay cầm các linh vật khác nhau (biểu tượng của Uma), đôi

3 Quần thể Tháp Bà nằm ở làng Cù Lao, thuộc địa phận làng Vĩnh Phúc, Thành Phố Nha Trang, được xây dựng trên một khoảng đất khá bằng phẳng, rộng rãi, trên đỉnh đồi đá hoa cương (phía bắc cửa sông Cái), ở độ cao 10 – 12m so với mặt nước biển [20, 229 – 230].

4 Tháp Poh Nagar – tháp chính và là tháp lớn nhất trong nhóm đền tháp của người Chăm còn lại cho đến ngày nay và thường được gọi là Tháp Bà Tháp Bà nằm ở phía Bắc, cao 22,8m, rộng 6m, tường dàt 1,9m, có cấu trúc 4 tầng, các tầng thu nhỏ dần lên và trên đỉnh tháp là khối đá hình linga Tháp được xây dựng theo kiểu mật thất nên ngoại trừ cửa vào tháp, 3 mặt tường còn lại đều có những ô khám nhỏ

để đèn [30, 228]

Trang 11

tay thứ năm để xuôi trên đầu gối, bàn tay trái úp, bàn tay phải mở rộng, vuông góc với cổ tay trong thế mudra, an ủi, ban phát” [30, 229].

Tháp Bà Poh Nagar (Nha Trang)Theo kết quả nghiên cứu của một số tác giả và những văn biacònlại ở khu di tích Tháp Bà đã cho biết: niên đại sớm nhất ở khu di tích này

là năm 739, muộn nhất là năm 1153 [30, 226] Điều đó cho thấy, Tháp Bàđược xây dựng, trùng tu qua nhiều triều đại với nhiều sự kiện lịch sử xảy

ra, do vậy, nó đã trở thành một trong những di tích Chăm có giá trị vềkiến trúc cũng như nghệ thuật còn lại đến ngày nay

Chúng ta thấy, tượng nữ thần thờ ở đây có dáng dấp gần với tượngUma (Ấn Độ giáo), nhưng không hoàn toàn giống với các tượng nữ thầnUma khác, cho nên đây có thể là tượng của nữ thần Poh Nagar Ở đây,chúng ta không loại trừ vai trò sáng chói của nữ thần Bhagavati (Uma)trong Ấn Độ giáo như là một gợi ý để người Chăm hoàn thiện chân dung,phẩm cách theo quan điểm dân tộc và từ đó xây dựng nên hình tượng PohInư Nưgar lưu truyền rộng rãi trong cương vực của mình Các tài liệudạng bi ký còn lại đã cho biết các Vua chúa đều ngưỡng vọng và tôn kính

bà Poh Inư Nưgar (Poh: Bà, Inư: Mẹ, Nưgar: xứ sở) [23, 158] Ở dân tộc

Chăm, vị nữ thần của xứ sở được tôn vinh: “Ngày xưa, Poh Nagar do

Trang 12

những áng mây trời và bọt biển mà hoá thân Ngài là vị thần tạo lập ra quả đất, sinh ra gỗ quý, cây cối và lúa gạo Vì ở trên thiên đình, Thượng

đế rất chuộng mùi thơm của lúa và trầm nên một ngày kia, trong khi làm

lễ tế Trời, thánh Mẫu tung lên không trung một hạt lúa có cánh trắng như làn mây…” [18] Tháp Poh Nagar ở vùng Kauthara (nay là khánh

Hoà) là nơi thờ vị nữ thần quan trọng nhất của dân tộc Chăm, cho nên, nó

đã trở thành trung tâm tôn giáo tín ngưỡng rất được sùng bái ở vươngquốc Chăm trong nhiều thế kỷ qua

Bên cạnh đó, trong nội dung kinh sách của người Chăm theo đạoBàni đều truyền tụng câu chuyện Thánh nữ Poh Nagar là con gái đầu ông

Cú, giáng trần để lập ra nước Champa, nước Việt, Trung Quốc, Lào…

Chuyện kể rằng: vào năm Papê (chìu) (năm con dê theo lịchChăm), ông Cú sai người con gái đầu của ông tên là Mú Dụ - chính là bàNưgar – cùng với các vị thần thánh của mình (Âu Loá, Gia Mư, Tề patathon) xuống để thay ông cai quản vạn vật Ngày 19 tháng 7 năm Ta Cú(Năm con chuột theo lịch Chăm) bà Nưgar giáng trần Nơi đầu tiên bàgiáng xuống là địa hạt Ha Ngâu thuộc vùng Brama (Tuy Hoà ngày nay)

Ở đây bà lập ra xóm và đặt tên là Pâl Lai Sari – Oan – Ca (Ba Lai – TuyHoà) Sau đó bà lập đền đài ở xóm Pâl – Hú – Cu – Ma – Ra – San ởPang – Đa – Rang (xóm Hổ Cư, Ninh Thuận) Được ít lâu, bà dời ra Chớ

Cà Lầu (núi Trầm/ núi Đại An, vùng Yaru, Ninh Hoà) lập ra nước Chăm

và các nước khác [35, 201]

Bên cạnh những câu chuyện về Poh Nagar được truyền tụng trongkinh sách của người Chăm Bàni thì trong truyện kể dân gian Chăm ởvùng Ninh Thuận Poh Nagar lại xuất hiện với tên gọi Poh Yang Inư Taha[22, 155 – 156] Bà có 97 chồng, 38 cô con gái; thần sinh ra lúa gạo, phù

hộ cho nông dân được mùa

Trong những dạng chuyện kể tương tự về nữ thần Poh Nagar củangười Chăm, chúng ta còn gặp những bài văn tán tụng công đức của PohNagar [16, 143 – 172]:

Trang 13

Bài thứ nhất:

“Ngài là nữ thần mẹ của vương quốc

Ngài tạo dựng nên vùng đất cho cây cối và rừng gỗ quí sinh sôi Ngài gây nên giống lúa và dạy dân trồng lúa

Vua trên trời ngửi thấy hương thơm của lúa đang trổ, trộn pha lẫn hương thơm của gỗ trầm do người trần gian dâng tế Trời.

Poh Yang Ino Nagar mới tung lên trời một hạt lúa có cánh trắng như mây

Vua trên trời mới gieo hạt lúa ấy mà làm nên tất cả mọi giống lúa Cho nên chúng ta tuy khác nhau về màu sắc bề ngoài, nhưng bên trong thì hoàn toàn như nhau.

Poh Nagar ghét hạng người độc ác, thường giúp đỡ hạng người hiền lành”.

Bài thứ hai:

“Thần còn có tên khác là Pô Yan Inư Nưkar Taha (Thần mẹ xứ sở

vĩ đại), là nữ thần lớn của nướci Chăm.

Thần có tên nữa là Muk Juk (Bà Đen), thường được tôn gọi là Patao Kumây (vua của đàn bà) hoặc Stri Ratjnnhi (chúa của phụ nữ).

Thần sinh ra từ mây và bọt biển.

Thần có 97 chồng, nổi tiếng nhất là Pô Amư (hay Pô Yan Amư – Ngài thần cha).

Thần sinh ra 38 cô con gái.

Thần sinh ra lúa gạo.

Thần phù hộ cho mọi người và cho người làm ruộng.”

Trang 14

Kẻ nào đang sửa soạn têm trầu mà ngửi mùi hương của nạm lúa gạo thì hãy dâng lên thần một lễ phẩm trái cây.

Ôi! Nữ thần, xin ngài nhận lễ này.

Xin ngài chấp nhận lời cầu xin của chủ nhà”

Nội dung của ba bài tán tụng trên cho thấy tuy mỗi bài có thể mangmột phong cách ngưỡng mộ riêng, nhưng điểm gặp nhau chính là nhữngcông đức vô bờ khiến người Chăm khắc ghi, đó là ngài đã tạo dựng nênvùng đất cho cây cối và rừng gỗ quí sinh sôi, ngài gây ra giống lúa và dạydân trồng lúa (sinh ra lúa gạo) Không có gì khác hơn, Poh Nagar chính là

vị thần nông nghiệp mà những người sống với loại hình kinh tế trồng trọtnhư người Chăm đã tôn thờ bà như một vị thần tổ Cũng chính với vai tròquan trọng ấy bà đã trở thành bà mẹ lớn của xứ Chăm – quyền năng của

bà được con người tôn vinh lan tỏa sang những lĩnh vực liên quan đếnhạnh phúc cộng đồng như thiên hạ thái bình, mưa thuận gió hòa…

Nhưng có lẽ chuyện dân gian phổ biến nhất về nữ thần Poh Nagartrong cộng đồng người Chăm là truyền thuyết xoay quanh câu chuyện hai

vợ chồng người tiều phu không con, một hôm lên rừng gặp cô bé xinhđẹp, lạc lõng bơ vơ giữa miền hoang dã và đã đem về nuôi Bữa sáng nọ,

cô vào rừng bắt gặp khúc kì nam và trở về báo cho bố mẹ nuôi biết đây làdấu hiệu của thần Poh Yang A Nư tin cho cô phải đi lấy chồng ở phươngbắc Cô ra đi, kết duyên với vị hoàng tử ở phương bắc và sinh ra một đứacon gái Sau đó hai mẹ con nàng trở về với cha mẹ nuôi để báo hiếu Khihai vợ chồng người tiều phu mất, mẹ con bà Poh Inư Nagar đều hoá thànhthần

Trang 15

Hình tượng bà Poh Nagar trong cổ tích dân gian Chăm

Truyền thuyết nữ thần Poh Inư Nagar nêu trên được lưu truyềnrộng rãi trong lãnh thổ vương quốc Chămpa cổ, ở đây mặc dù xuất hiệnnhiều dị bản khác nhau nhưng cốt lõi của câu chuyện vẫn xoay quanh sựlinh ứng của một vị nữ thần vốn từ “thiên giới” lạc vào một nơi dân dã và

đã từng có một cuộc sống đạm bạc để hiểu hết nỗi khổ của dân gian

2 Qúa trình tiếp nhận Poh Nagar trong tín ngưỡng thờ mẫu của văn hóa Việt

Người Việt tiếp cận với hình tượng Poh Inư Nagar từ rất sớm tronglịch sử, được ghi nhận từ cuộc nam chinh năm 1069 của Lý Thánh Tông,qua Việt Điện U Linh Tập của Lý Tế Xuyên, viết năm 1329 [40, 71 - 72].Câu chuyện được xem như một dạng thần tích, có một số chi tiết đángđược chú ý: Trong lúc mưa to, gió lớn, sóng cuộn ầm ầm, nhà vua bànghoàng lo sợ thì bỗng thấy một người con gái ước độ hai mươi tuổi, mặttựa hoa đào, mày đậm màu dương liễu, mắt sáng như sao, miệng cườinhư hoa nở; nàng mặc áo trắng quần lục, lưng mang đai, dịu dàng bướcđến nói với vua rằng:

“ Thiếp là tinh của đại địa Nam quốc thác cư ở làng Thuỷ Vân đã lâu lắm, xem thời mà ra nếu gặp được lúc tốt Bây giờ gặp được Long nhan,

Trang 16

chí nguyện bình sinh được thỏa, cúi xin bệ hạ đi chuyến này hết sức mẫn cán, toàn thu hoạch thắng lợi Thiếp tuy phận liễu mong manh cũng nguyền đem sức mọn mặc nhiên phù tá Bệ hạ; ngày khải hoàn, thiếp xin chực ở đây để bái yết…”.

Người con gái ứng hiện đó được Lý Thánh Tông lập hiệu là HậuThổ Phu Nhân và đặt hương án trong ngự thuyền Thắng trận trở vềThăng Long vị vua này lại cho “xây đắp đàn thờ ở làng An Lãng,” sau đórước thần Hậu Tắc phối với Trời, Hậu Thổ phối với Đất, lập đàn thờ ởNam Giao cầu đảo Niên hiệu Trùng Hưng năm đầu, sắc phong Hậu ThổĐịa Kỳ Nguyên Quân Năm thứ tư, gia phong hai chữ Nguyên Trung.Năm Hưng Long thứ hai mươi mốt, gia phong bốn chữ Ứng Thiên HoáDục

Hậu Thổ Phu Nhân được tác giả của Việt Điện U Linh Tập xếp vàomục “hạo khí anh linh”, khi đã hội nhập vào hệ thống thần linh của ngườiViệt, với danh hiệu đầy đủ Ứng Thiên Hoá Dục Nguyên Trung Hậu ThổĐịa Kỳ Nguyên Quân Những "dấu vết riêng" được ghi lại trong Việt điện

u linh còn chỉ ra danh tính và gốc tích của Hậu Thổ Phu Nhân là thần Mẹ

xứ sở Pôh Ingar (hay Pôh In Nagar): "thác sinh vào cây, ở chốn mâynước" và chi tiết miêu tả cái "khúc gỗ" mà vua Lý Thánh Tông sai ngườitìm trên bờ dưới bãi nhặt được là khúc gỗ "rất giống hình người", có sơn

"màu sắc khuôn khổ trông như người trong mộng" (mà nhà vua đã chiêmbao thấy) có thể là thứ tượng thờ (đã được đẽo gọt và sơn màu) của ngườiChiêm Thành Qua các danh hiệu gia tặng cho vị thần này: "nguyêntrung" (1288), rồi "ứng thiên hóa dục" (1313) đã chỉ ra "khúc gỗ giốnghình người" ấy hẳn là một bộ linga-yoni - nếu xét kỹ ngữ nghĩa các danh

hiệu này Trong phần “Tiếm bình” tác giả có viết: “Còn chiếu phụng bao

phong các chữ đó thì kín đáo, duy hai chữ Nguyên Trung không hiểu làm sao” [40] Xuất phát từ những cứ liệu trên, một số nhà nghiên cứu cho

rằng danh hiệu Hậu Thổ Địa Kỳ Nguyên Quân (后 土 地 圻 元 君) khá

tương khớp về ý nghĩa của Poh Inư Nagar Còn Ứng Thiên Hoá Dục, là

Trang 17

chữ phong tặng thêm thể hiện đức tính của Địa (Đất), được khái quáttrong khái niệm “Khôn” của “Dịch” mà một cách biểu hiện đó là hìnhtượng “Mẫu.”

Trong một chừng mực nào đó, có thể nhìn nhận, việc trợ giúp củathần cho Lý Thánh Tông chinh phạt phương Nam, sau đó được đưa vềThăng Long thờ phụng, không chỉ đơn thuần là việc bổ sung thần linhvào hệ thống thần linh đất Việt5, mà còn hàm chứa một mưu đồ chính trị,

ít nhiều cũng làm an ổn cho hàng ngàn chiến tù người Chăm được đưa về

an trí trên đất Việt [17, 274 - 275]

Bên cạnh đó, ở vùng Thuận Hoá cũng như Đàng Trong lại diễn ramột quá trình tiếp nhận Poh Inư Nagar hoàn toàn khác, không nhưnguyên mẫu được đưa về Thăng Long bởi một vị quốc vương, hay một sự

áp đặt đối với dân chúng từ phía triều đình, mà nó được nảy sinh trongquá trình cộng cư, giao lưu văn hoá giữa người Việt thiên di về nam vớingười tiền trú (người Chăm) diễn ra trong một thời gian dài Trên nềnxuất phát của cùng một loại hình kinh tế - văn hóa, hình tượng bà mẹnông nghiệp Poh Inư Nagar Chăm đã sớm chiếm lĩnh lòng tin của ngườinông dân Việt trong quá trình nam tiến Họ gặp nhau thật dễ dàng trênnền cổ tích dân gian, họ gặp nhau thật nhanh ở cùng một niềm tin dung

dị, giản phác của những người nông dân gắn bó cuộc sống với cây trồng,

và có thể vì thế mà các chi tiết xung quanh sự tích bà ảnh hưởng từ nhữngbài tán ca trong truyền thuyết Ấn Độ giáo hay Bàni đã mất dần cùng với

sự gạn lọc, tiếp biến của văn hóa Việt

5 Nhà Lý đã tiến hành việc tập trung các thần về bảo hộ kinh đô và cũng để tỏ rõ quyền uy của thiên linh địa phương Đồng Cổ (1028), đền thờ Phạm Cự Lượng (1038), đàn Xã tắc (1048), đàn Vu (1137), đền Bố Cái, đền Tản Viên, đền ông Nghiêm, đền ông Mẫu (1145), đàn Viên Khâu (1154), các đền Hai

Ngày đăng: 11/09/2019, 14:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thế Anh (2005), “Thiên Y A Na hay sự tiếp nhận nữ thần Poh Nagar của các triều đại Nho giáo Việt Nam ”, T/c Xưa và Nay, số 4 (233): 29 – 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thiên Y A Na hay sự tiếp nhận nữ thầnPoh Nagar của các triều đại Nho giáo Việt Nam ”
Tác giả: Nguyễn Thế Anh
Năm: 2005
2. Toan Ánh (1992), Tín ngưỡng Việt Nam (Quyển thượng), NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngưỡng Việt Nam
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: NXBThành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1992
3. Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp (1991), Văn hoá Chăm, NXB. Khoa Học Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Chăm
Tác giả: Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp
Nhà XB: NXB. Khoa Học Xã Hội
Năm: 1991
4. L. Cadière (1905), "Monuments et souvenirs chams du Quảng Trị et du Thừa Thiên", B.E.F.E.O, Tome V, N01 - 2: 185 – 195 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Monuments et souvenirs chams du Quảng Trịet du Thừa Thiên
Tác giả: L. Cadière
Năm: 1905
5. Clive J. Christie (2000), Lịch sử Đông Nam Á hiện đại (Trần Văn Tửu dịch, Lưu Đoàn Huynh hiệu đính), H.: Nxb. Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đông Nam Á hiện đại
Tác giả: Clive J. Christie
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
6. H. Délétie (1997), Lễ rước sắc thần Thiên Y A Na ở Điện Huệ Nam, NXB Thuận Hoá, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ rước sắc thần Thiên Y A Na ở Điện HuệNam
Tác giả: H. Délétie
Nhà XB: NXB Thuận Hoá
Năm: 1997
7. Ngô Văn Doanh (1994), Văn hoá Champa, NXB Văn hoá, Hà Nội 8. Ngô Văn Doanh (1998), Lễ hội Rija Nưgar của người Chăm, NXBVăn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá Champa", NXB Văn hoá, Hà Nội8. Ngô Văn Doanh (1998), "Lễ hội Rija Nưgar của người Chăm
Tác giả: Ngô Văn Doanh (1994), Văn hoá Champa, NXB Văn hoá, Hà Nội 8. Ngô Văn Doanh
Nhà XB: NXB Văn hoá
Năm: 1998
9. Lê Quang Định (2005), Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí (Huế:Nxb. Thuận Hoá-Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí
Tác giả: Lê Quang Định
Nhà XB: Nxb. Thuận Hoá-Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây
Năm: 2005
10. Đào Thái Hanh (1914), “Histoire de la deesse Thiên-Y-A-Na,”Bulletin Des Amis du Vieux Huế, N0 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Histoire de la deesse Thiên-Y-A-Na
Tác giả: Đào Thái Hanh
Năm: 1914
11. Hoàng Thị Ái Hoa (2005), “Trống Đá - Miếu Bà Giàng và lệ thành đinh ở làng hưng Nhơn (Hải Hoà, Hải Lăng, Quảng Trị)”, trong Thông tin Khoa học, Huế: Phân Viện Nghiên cứu Văn hóa Thông tin tại Huế, số tháng 3: 94 - 104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trống Đá - Miếu Bà Giàng và lệ thànhđinh ở làng hưng Nhơn (Hải Hoà, Hải Lăng, Quảng Trị)
Tác giả: Hoàng Thị Ái Hoa
Năm: 2005
12. Lê Thị Thanh Hoà (1990), Thiên Y A Na Thánh Mẫu, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiên Y A Na Thánh Mẫu
Tác giả: Lê Thị Thanh Hoà
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1990
13. Lê Đình Hùng, “Một vài vấn đề từ miếu Quảng Tế ở làng Phước Tích,” Thông tin Khoa học, Phân viện Văn hoá-Nghệ thuật Việt Nam tại Huế, số tháng 3/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài vấn đề từ miếu Quảng Tế ở làng PhướcTích
14. Nguyễn Đình Hòe (1997), “Huệ Nam Điện”, Những người bạn cố đô (B.A.V.H năm 1915), Nxb. Thuận Hoá, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huệ Nam Điện
Tác giả: Nguyễn Đình Hòe
Nhà XB: Nxb. Thuận Hoá
Năm: 1997
15. Lê Văn Hưu & Ngô Sỹ Liên (1998), Đại Việt sử ký toàn thư, tập II, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Tác giả: Lê Văn Hưu & Ngô Sỹ Liên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
16. Văn Đình Hy (1978), Từ thần thoại Poh Inư Nưgar đến Thiên Y A Na trong ô Những vấn đề dõn tộc học miền Nam Việt Nam ằ, tập II, quyển 2, Viện Khoa học xã hội tại TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ thần thoại Poh Inư Nưgar đến Thiên Y ANa
Tác giả: Văn Đình Hy
Năm: 1978
17. Ngô Sỹ Liên (1998), Đại Việt sử kí toàn thư, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử kí toàn thư
Tác giả: Ngô Sỹ Liên
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1998
18. Thái Văn Kiểm (1955), Sự tích Đức Thiên Y A Na, Văn hoá Nguyệt San, số 07, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tích Đức Thiên Y A Na
Tác giả: Thái Văn Kiểm
Năm: 1955
19. A. Salles (2002), “ Di tích Chàm trong văn hoá dân gian An-Nam tại Quảng Nam”, Những người bạn Cố Đô Huế [B.A.V.H, 1923, tập X], Nxb. Thuận Hoá, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích Chàm trong văn hoá dân gian An-Namtại Quảng Nam
Tác giả: A. Salles
Nhà XB: Nxb. Thuận Hoá
Năm: 2002
20. Nguyễn Minh Sang (1996), Những nữ thần danh tiếng trong văn hoá tín ngưỡng người Việt, NXB Phụ Nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nữ thần danh tiếng trong vănhoá tín ngưỡng người Việt
Tác giả: Nguyễn Minh Sang
Nhà XB: NXB Phụ Nữ
Năm: 1996
21. Nội các triều Nguyễn (1993), Khâm định Ðại Nam hội điển sự lệ, tập VIII, Nxb. Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khâm định Ðại Nam hội điển sự lệ
Tác giả: Nội các triều Nguyễn
Nhà XB: Nxb. Thuận Hóa
Năm: 1993

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w