1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường mầm non khu vực đông anh hà nội

64 198 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

hoặc tích hợp vào tất cả các môn học hoặc tích hợp vào một số môn nhất định.Kĩ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng vàtham gia vào cuộc sống hàng ngày, giúp tr

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

=====o0o=====

NGUYỄN THỊ HÒA

CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON KHU VỰC ĐÔNG ANH - HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục mầm non

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

=====o0o=====

NGUYỄN THỊ HÒA

CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON KHU VỰC ĐÔNG ANH - HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục mầm non

Người hướng dẫn khoa học ThS Nguyễn Thị Xuân Lan

HÀ NỘI, 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên của khóa luận, tôi xin bày tỏ sự lòng biết ơn sâu sắc tới Thạc

sĩ Nguyễn Thị Xuân Lan- người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ, định hướng khoa

học để tôi từng bước hoàn thành khóa luận với đề tài: “Tìm hiểu thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường mầm non khu vực Đông Anh - Hà Nội”.

Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban giám hiệu và cácgiáo viên ở trường mầm non Kim Chung, trường mầm non Cổ Loa, trườngmầm non Đại Mạch cùng các thầy cô trong khoa Giáo dục Mầm non trườngĐại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi hoàn thành khóaluận này

Đây là lần đầu tiên tôi làm quen với việc nghiên cứu khoa học nên khôngtránh khỏi sự thiếu sót Rất mong được sự góp ý của thầy cô và các bạn đọc

để khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 2 tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Nguyễn Thị Hòa

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài: “Tìm hiểu thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường mầm non khu vực Đông Anh - Hà Nội” là công trình

nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của Thạc sĩ Nguyễn Thị Xuân Lan.Các số liệu trong đề tài nghiên cứu này là trung thực, rõ ràng, chính xác

và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào

Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Hà Nội, ngày 2 tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Nguyễn Thị Hòa

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5.Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu 4

8 Cấu trúc của công trình nghiên cứu 4

NỘI DUNG 5

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN 5

1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu 5

1.1.1 Ngoài nước 5

1.1.2 Trong nước 7

1.2 Khái quát chung về kĩ năng sống 8

1.2.1 Khái niệm kĩ năng sống 8

1.2.1 Phân loại kĩ năng sống 9

1.3 Giáo dục kĩ năng sống 12

1.3.1 Giáo dục 12

1.3.2 Giáo dục kĩ năng sống 13

Trang 7

1.3.3 Nội dung giáo dục kĩ năng sống 13

1.3.4 Một số nguyên tắc giáo dục kĩ năng sống 15

1.3.5 Phương pháp giáo dục kĩ năng sống 18

1.3.6 Các con đường giáo dục kĩ năng sống 21

1.4 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo lớn 24

1.4.1 Đặc điểm tâm sinh lý trẻ mẫu giáo lớn 24

1.4.2 Đặc điểm của trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường mầm non khu vực Đông Anh - Hà Nội (Trường mầm non Kim Chung, trường mầm non Cổ Loa, trường mầm non Đại Mạch) 26

Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON KHU VỰC ĐÔNG ANH- HÀ NỘI 28

2.1 Tình hình chung về kĩ năng sống của trẻ mẫu giáo lớn 28

2.2 Thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn 28

2.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên mầm non về việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non 29

2.2.2 Thực trạng kĩ năng sống của trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường mầm non khu vực Đông Anh- Hà Nội 30

2.2.3 Thực trạng thực hiện các nội dung giáo dục kĩ năng sống cho trẻ lứa tuổi mẫu giáo lớn 33

2.2.4 Thực trạng sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục kĩ năng sống cho trẻ lứa tuổi mẫu giáo lớn 35

2.2.4 Thực trạng việc phối hợp các lực lượng tham gia vào quá trình quá trình giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non 37

Trang 8

Chương 3 NGUYÊN NHÂN CỦA THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ LỨA TUỔI MẪU GIÁO LỚN Ở MỘT SỐ TRƯỜNG

MẦM NON THUỘC KHU VỰC ĐÔNG ANH-HÀ NỘI 40

3.1 Nguyên nhân ảnh hưởng đến kĩ năng sống của trẻ lứa tuổi mẫu giáo 40

3.2 Cơ sở và nguyên tắc đề xuất các biện pháp 42

3.2.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 42

3.2.2 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 42

3.3 Đề xuất một số các biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn 43

3.3.1 Đổi mới công tác quản lý 44

3.3.2 Nâng cao nhận thức và năng lực của giáo viên 44

3.3.3 Tuyên truyền với các bậc cha mẹ cách dạy trẻ kĩ năng sống trong gia đình 46

3.3.4 Đầu tư kinh phí cho hoạt động giáo dục để giúp trẻ phát triển các kĩ năng sống qua việc tổ chức các hoạt động tập thể vui tươi, lành mạnh trong nhà trường 47

3.3.5 Tạo môi trường giúp giáo viên thực hiện nhiệm vụ dạy trẻ kĩ năng sống 47

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52 Phụ Lục

Trang 9

xã hội loài người, con người cần phải hình thành các kĩ năng sống Các kĩnăng sống giúp cho con người tiết kiệm được thời gian, sức lực và nâng caochất lượng cuộc sống, giúp con người tránh được những rủi ro, những rắc rốikhông đáng có.

Ngày nay, trong thời kì giao lưu và hội nhập với nền kinh tế thế giới, với

sự thay đổi hàng ngày, hàng giờ về kinh tế, văn hoá, xã hội cùng với lối sống

và quá trình làm việc với tốc độ nhanh, đã làm nảy sinh những vấn đề màtrước đây con người chưa gặp, chưa từng trải nghiệm, chưa phải ứng phó,đương đầu trong cuộc sống Có cả những vấn đề đã từng xuất hiện trước đây,nhưng nó chưa chứa đựng sự phức tạp, khó khăn và đầy thách thức như trong

xã hội hiện đại Nó khiến con người dễ hành động theo cảm tính và khôngtránh khỏi rủi ro

Với xu thế hội nhập và toàn cầu hoá nền kinh tế, giáo dục Việt Namcũng như giáo dục ở các nước trên thế giới đều hướng tới 4 trụ cột giáo dục

mà UNESCO thế kỉ XXI đã đưa ra đó là: “Học để biết (Learning to know) Học để làm (Learning to do) - Học để chung sống (Learning to live together)

-và học để làm người (Learning to be)” Với mục tiêu hướng tới đào tạo Côngdân toàn cầu đặt ra cho giáo dục Việt Nam nhiệm vụ không chỉ cung cấp trithức, rèn luyện kĩ năng các môn học mà còn phải hình thành và rèn luyện kĩnăng sống và năng lực xã hội cho người học theo hướng hoà nhập, thân thiện.Hiện nay, trên thế giới có ít nhất là 70 quốc gia đã và đang đưa kĩ năngsống vào chương trình học chính khoá dưới hình thức một môn học riêng,

Trang 10

hoặc tích hợp vào tất cả các môn học hoặc tích hợp vào một số môn nhất định.

Kĩ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng vàtham gia vào cuộc sống hàng ngày, giúp trẻ em thích ứng được với sự thayđổi của xã hội để có thể sống một cách an toàn và khoẻ mạnh Nhờ có kĩ năngsống mà trẻ em có thể làm chủ trong mọi tình huống, thích nghi với cuộc sốngkhông ngừng biến đổi

Giáo dục kĩ năng sống giúp trẻ phát triển hài hoà, toàn diện nhân cách.Bên cạnh đó, cung cấp cho trẻ những kiến thức cần thiết về kĩ năng sống đểtrẻ sống sao cho lành mạnh và có ý nghĩa, giúp các em hiểu và biến nhữngkiến thức về kĩ năng sống được cung cấp thành hành động cụ thể trong quátrình hoạt động thực tiễn với bản thân với người người khác, với xã hội, ứngphó trước nhiều tình huống, học cách giao tiếp, ứng xử với mọi người, giảiquyết mâu thuẫn trong mối quan hệ và thể hiện bản thân một cách tích cực.Theo UNESCO, trẻ tám tuổi là quá trễ để giáo dục kĩ năng sống Vì đếntuổi này trẻ đã hình thành cho mình phần lớn các giá trị, trừ khi có sự thay đổisâu sắc về trải nghiệm trong đời nếu không thì khó mà lĩnh hội thêm giá trịsau độ tuổi này Trẻ từ dưới hai tuổi đã bắt đầu tiếp thu từ môi trường sốngxung quanh như giọng nói của người lớn khi trò chuyện với trẻ, cách thức tiếpxúc với trẻ…tất cả đều tác động đến sự phát triển của trẻ.Vì vậy, việc hìnhthành và phát triển kĩ năng sống cần được tiến hành từ bậc mẫu giáo đặc biệt

là lứa tuổi mẫu giáo lớn.Tuy nhiên hiện nay, việc giáo dục kĩ năng sống chotrẻ mầm non nói riêng và trẻ mẫu giáo lớn nói riêng đã- đang được triển khaithực hiện như thế nào? Đó là một vấn đề cần phải quan tâm tìm hiểu Vì lí do

đó, chúng tôi chọn đề tài: “Tìm hiểu thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường mầm non khu vực Đông Anh-Hà Nội” để

nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trang 11

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lí luận về kĩ năng sống và giáodục kĩ năng sống, đề tài khảo sát thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho trẻmẫu giáo lớn và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao kết quả giáo dục

kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường mầm non khu vựcĐông Anh-Hà Nội

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu.

Quá trình giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn

3.2 Đối tượng nghiên cứu.

Thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn

4 Giả thuyết khoa học

Nhiều kĩ năng sống cần thiết cho trẻ mẫu giáo lớn ở một số trườngmầm non khu vực Đông Anh- Hà Nội chưa được hình thành Nếu phát hiệnđúng thực trạng và có những biện pháp tác động sư phạm phù hợp thì có thểnâng cao hiệu quả của việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ

5.Nhiệm vụ nghiên cứu.

5.1 Hệ thống hoá cơ sở lí luận của đề tài nghiên cứu

5.2 Khảo sát thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn

5.3 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫugiáo nói chung và trẻ mẫu giáo lớn nói riêng

6 Phương pháp nghiên cứu.

6.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận

Bao gồm các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa tàiliệuliên quan đến đề tài nghiên cứu để xây dựng cơ sở lí luận của đề tài

6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp điều tra

Trang 12

- Phương pháp phỏng vấn

6.3 Phương pháp thống kê toán học

7 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu

Do hạn chế về mặt thời gian nên đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứuthực trạng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn ở một số trường mầmnon khu vực Đông Anh- Hà Nội

8 Cấu trúc của công trình nghiên cứu

Phần 3: Kết luận và khuyến nghị

Trang 13

NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG

SỐNG CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu

1.1.1 Ngoài nước

Giáo dục trong xu hướng hiện nay không chỉ hướng vào mục tiêunguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, mà còn hướng đếnmục tiêu phát triển đầy đủ và tự do giá trị của mỗi cá nhân giúp con người cónăng lực để cống hiến, đồng thời có năng lực để sống một cuộc sống chấtlượng và hạnh phúc

Xã hội hiện đại luôn nảy sinh những vấn đề phức tạp và bất định vớicon người Nếu con người không có năng lực để ứng phó vượt qua nhữngthách thức đó và hành động theo cảm tính thì dễ gặp rủi ro

Chính vì vậy, trong diễn đàn giáo dục thế giới cho mọi người tạiSenegan (2000), Chương trình hành động Dakar đã đề ra sáu mục tiêu, trong

đó mục tiêu thứ ba là: “Mỗi quốc gia phải đảm bảo cho người học được tiếp

cận chương trình giáo dục kĩ năng sống phù hợp”, trong đó “người học” ở

đây được hiểu là trẻ em đến người lớn tuổi, còn “phù hợp” được hiểu là phù

hợp với vùng, miền, địa phương và phù hợp với lứa tuổi Còn trong mục tiêu

thứ sáu yêu cầu: Khi đánh giá chất lượng giáo dục cần phải đánh giá kĩ năng

sống của người học” Như vậy, học kĩ năng sống trở thành quyền của người

học và chất lượng giáo dục phải thể hiện cả trong kĩ năng sống của người học

Cho nên, giáo dục kĩ năng sống cho người học đang trở thành mộtnhiệm vụ quan trọng đối với giáo dục các nước Giáo dục phải mang lại chomọi người không chỉ kiến thức mà cả kĩ năng sống trong xã hội dựa vào nănglực Nhu cầu vận dụng kĩ năng sống một cách trực tiếp hay gián tiếp đượcnhấn mạnh trong nhiều khuyến nghị mang tính quốc tế, bao gồm cả trong

Trang 14

thực hiện Công ước Quyền trẻ em, trong Hội nghị Quốc tế về dân số và pháttriển…Những nghiên cứu về kĩ năng sống cũng đang được quan tâm ở cácnước trong khu vực, bởi vì chưa có định nghĩa rõ ràng và đầy đủ về kĩ năngsống và chưa có bộ chuẩn các tiêu chí đồng bộ cho việc hoạch định cácchương trình giáo dục kĩ năng sống ở các nước Cụ thể như sau:

 Trong lĩnh vực giáo dục chính quy [4]

- Giáo dục kĩ năng sống ở Lào: Khái niệm kĩ năng sống và nội dung kĩ

năng sống có liên quan đến giáo dục phòng tránh HIV/AIDS và lồng ghéptromg chương trình giáo dục chính quy, không chính quy và các trường sưphạm đào tạo giáo viên Từ năm 2001, nội dung kĩ năng sống được mở rộng

ra các lĩnh vực khác như giáo dục dân số, giáo dục sức khoẻ và vệ sinh cánhân, giáo dục môi trường…Từ năm 1997 đến 2002, ban đầu giáo dục kĩnăng sống chỉ đươc thực hiện ở 5 trường trung học cơ sở sau đó mở rộng ra

700 trường tiểu học và trung học Việc giáo duc kĩ năng sống thường bao gồmcác kĩ năng như: Kĩ năng giao tiếp có hiệu quả, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩnăng tư duy sáng tạo, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng tự nhận thức, sự thiệncảm, kĩ năng đương đầu với cảm xúc, kĩ năng xác định giá trị

- Giáo dục kĩ năng sống ở Malaysia: Giáo dục kĩ năng sống ở

Malaysia do Bộ giáo dục và các cơ quan khác thực hiện Bộ giáo dục coi môn

kĩ năng sống là môn kĩ năng của cuộc sống Trong chương trình giáo dục ởMalaysia môn này được dạy như môn học ở trường tiểu học, trường trung họcnhằm cung cấp cho người học những kĩ năng thực tế cơ bản để cho họ thựchiện các nhiệm vụ và có xu hướng kinh doanh như kĩ năng thương mại, tự tin,sáng tạo và có kĩ năng tương tác hiệu quả với người khác

 Trong lĩnh vực giáo dục không chính quy [4]

- Giáo dục kĩ năng sống ở Inđonesia: Trong giáo dục không chính quy,

kĩ năng sống được quan niệm là những kĩ năng, kiến thức, thái độ giúp người

Trang 15

học sống một cách độc lập, kĩ năng sống rộng hơn kĩ năng nghề nghiệp: Gồm

có kĩ năng chung (Kĩ năng cá nhân và kĩ năng xã hội) và kĩ năng sống cụ thể(Kĩ năng học thuật và kĩ năng nghề)

- Giáo dục kĩ năng sống ở Ấn Độ: Quan niệm kĩ năng sống là những

khả năng giúp tăng cường sự lành mạnh về tinh thần và năng lực của conngười Các kĩ năng sống được quan tâm là: Giải quyết vấn đề, tư duy, phêphán, sáng tạo, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng quan hệliên nhân cách, kĩ năng đàm phán, kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng từ chối, kĩnăng kiên định…

1.1.2 Trong nước

Trong lịch sử giáo dục Việt Nam, nội dung giáo dục con người biếtđối nhân xử thế, kinh nghiệm làm ăn để đáp ứng những thách thức củathiên tai…đã được phản ánh khá phong phú qua ca dao, tục ngữ Còn trong

hệ thống giáo dục thì quan điểm học làm người, nghĩa là để biết ứng xử vớiđời đã được coi là một trong những mục tiêu quan trọng của giáo dục.Chonên giáo dục đã quan tâm cung cấp cho người học những kiến thức, thái độ

và kĩ năng cần thiết để chuẩn bị cho người học có khả năng gia nhập cuộcsống xã hội

Kĩ năng sống được người Việt Nam biết đến bắt đầu từ chương trìnhcủa UNICEF (1996) “Giáo dục kĩ năng sống để bảo vệ sức khoẻ và phòngchống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong nhà trường và ngoài nhàtrường” Quan niệm về kĩ năng sống gồm: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng giaotiếp, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng kiên định…

Tham gia vào chương trình này có ngành Giáo dục và Hội chữ thập

đỏ Và chương trình giáo dục kĩ năng sống đã được chú trọng hơn trongnhững năm gần đây và được chú ý từ bậc học mầm non Nội dung giáo dục

kĩ năng sống thể hiện trong Chương trình khung chăm sóc và giáo dục

Trang 16

mầm non Có thể do đặc thù của trẻ em lứa tuổi mầm non là đang làm quendần với xã hội và thế giới tự nhiên, cho nên giáo dục kĩ năng sống trongChương trình giáo dục ở bậc học Mầm non khá phong phú và toàn diệngiúp trẻ thích ứng với cuộc sống.

1.2 Khái quát chung về kĩ năng sống

1.2.1 Khái niệm kĩ năng sống

Có nhiều quan niệm về kĩ năng sống và mỗi quan niệm lại được diễn

tả theo những cách khác nhau

- Có quan niệm coi kĩ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy

đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày (Tổ chức văn hóa,

khoa học và giáo dục của Liên hợp quốc UNESCO) [2]

- Có quan niệm lại coi kĩ năng sống là những kĩ năng thiết thực mà conngười cần để có cuộc sống an toàn và khỏe mạnh Tổ chức y tế thế giới

(WHO) coi kĩ năng sống là kĩ năng mang tính tâm lí xã hội và kĩ năng về giao tiếp được vận dụng trong những tình huống hàng ngày để tương tác một cách

có hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề những

tình huống của cuộc sống hàng ngày [7]

- Có thể thấy, quan niệm về kĩ năng sống của UNESCO có nội hàmrộng hơn quan niệm của WHO vì:

Thứ nhất là: Những năng lực để thực hiện đầy đủ các chức năng và

tham gia vào cuộc sống hàng ngày sẽ bao gồm cả những kĩ năng cơ bản như:

kĩ năng đọc, viết, làm tính…trong khi đó những kĩ năng mang tính tâm lí xã

hội và kĩ năng giao tiếp để giải quyết có hiệu quả những tình huống trong

cuộc sống…là những kĩ năng phức tạp hơn đòi hỏi sự tổng hợp các yếu tốkiến thức, thái độ và hành vi

Thứ hai là: Những kĩ năng tâm lí - xã hội thuộc phạm vi hẹp hơn trong

số những kĩ năng cần thiết của cuộc sống hàng ngày

Trang 17

- Tương đồng với quan điểm của Tổ chức Y tế thế giới, quan niệm kĩnăng sống là những kĩ năng tâm lí - xã hội liên quan đến những tri thức, giá trị

và thái độ, cuối cùng được thể hiện ra bằng những hành vi làm cho cá nhân cóthể thích nghi và giải quyết có hiệu quả yêu cầu, thách thức của cuộc sống.Bên cạnh hai khái niệm trên, vẫn còn tồn tại quan điểm rất khác nhau củanhiều tổ chức và cá nhân trong nước và trên thế giới Chúng có khác nhau vềhình thức thể hiện, độ nông sâu của nội hàm khái niệm…song cái chung,thống nhất giữa các khái niệm đó là, xem kĩ năng sống dưới dạng một phạmtrù năng lực của hành động (behavior), chứ không phải là một phạm trù kỹthuật của hành động (skill) Kĩ năng thuộc phạm trù năng lực bao gồm: kiếnthức, thái độ, giá trị, hành vi

Từ các quan niệm về kĩ năng sống nêu trên có thể thấy, các kĩ năngsống giúp ta chuyển dịch kiến thức - “cái chúng ta biết” và thái độ, giá trị -

“cái chúng ta nghĩ, cảm thấy, tin tưởng” thành hành động thực tế - “làm gì vàlàm cách nào” là tích cực nhất, mang tính chất xây dựng Kĩ năng sốngthường gắn với một bối cảnh để người ta có thể hiểu và thực hành một cách

cụ thể Nó thường gắn liền với một nội dung giáo dục nhất định

Kĩ năng sống vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính xã hội Kĩ năngsống mang tính cá nhân vì đó là năng lực của cá nhân Kĩ năng sống còn mangtính xã hội vì trong mỗi một giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội, ở mỗi vùngmiền lại đòi hỏi mỗi cá nhân có kĩ năng sống thích hợp Chẳng hạn: kĩ năngsống của mỗi cá nhân trong thời bao cấp khác với kĩ năng sống của các cánhân trong cơ chế thị trường, trong giai đoạn hội nhập, kĩ năng sống của ngườisống ở miền núi khác với kĩ năng sống của người sống ở vùng biển, kĩ năngsống của người sống ở nông thôn khác với kĩ năng sống của người sống ở thànhphố

1.2.1 Phân loại kĩ năng sống

Có nhiều cách phân loại kĩ năng sống cụ thể:

Trang 18

*Cách phân loại theo WHO: Kĩ năng sống gồm 3 nhóm [4]

- Nhóm kĩ năng nhận thức bao gồm các kĩ năng như tư duy phê phán,

tư duy phân tích, khả năng sáng tạo, giải quyết vấn đề, nhận thức hậu quả, raquyết định, tự nhận thức, đặt mục tiêu, xác định giá trị…

- Kĩ năng đương đầu với xúc cảm bao gồm ý thức trách nhiệm, cam kết, kiềm chế căng thẳng, kiểm soát được cảm xúc, tự quản lí, tự giám sát và

tự điều chỉnh…

- Kĩ năng xã hội hay kĩ năng tương tác bao gồm giao tiếp, tính quyếtđoán, thương thuyết từ chối, hợp tác, sự cảm thông, chia sẻ, khả năng nhậnthấy thiện cảm của người khác…

* Phân loại của UNESCO [4]

Theo cách phân loại của UNESCO thì ba nhóm trên được coi là kĩ năng sống chung Ngoài ra còn có những vấn đề cụ thể khác nhau trong đờisống xã hội như:

- Vệ sinh, vệ sinh thực phẩm, sức khỏe, dinh dưỡng

- Các vấn đề về giới, giới tính, sức khỏe sinh sản

- Ngừa và chăm sóc người bệnh HIV/AIDS

- Phòng tránh rượu, thuốc lá và ma túy

- Ngăn ngừa thiên tai, bạo lực và rủi ro

- Hòa bình và giải quyết xung đột

- Gia đình và cộng đồng, giáo dục công dân

- Bảo vệ môi trường

- Phòng tránh buôn bán trẻ em và phụ nữ…

*Cách phân loại của ủy ban nhi đồng liên hiệp quốc (UNICEF) [4]Mục đích giúp người học có những kĩ năng ứng phó với các vấn đề củacuộc sống và tự hoàn thiện mình, UNICEF đưa ra cách phân loại kĩ năng sốngtheo các mối quan hệ sau:

Trang 19

- Kĩ năng nhận biết và sống với chính mình, gồm có:

+ Kĩ năng tự nhận thức: Mỗi người cần nhận biết và hiểu rõ bản thân,những tiềm năng, tình cảm những mặt mạnh và mặt yếu của mình

Khi con người càng nhận thức được khả năng của mình, thì càng cókhả năng sử dụng kĩ năng sống khác một cách có hiệu quả và có khả năng lựachọn những gì phù hợp với điều kiện sẵn có của bản thân, của xã hội, lựachọn những hành vi phù hợp với khả năng của bản thân

+ Lòng tự trọng là khả năng sống giúp ta cảm nhận được giá trị củabản thân mình và làm chủ được các tình huống xung quanh theo định hướnggiá trị thực Sự nhận thức dẫn đến lòng tự trọng khi con người nhận thức đượcnăng lực của bản thân, vị trí trong cộng đồng

Điều này thể hiện qua sự nhận thức những điều tốt đẹp của bản thân vàkiên định giữ gìn những giá trị có ý nghĩa của mình trong các tình huống phảilựa chọn giá trị

+ Sự kiên định có ý nghĩa là nhận biết được những gì mình muốn, tạisao lại muốn tiến hành các bước cần thiết để đạt được những gì mình muốn,mục tiêu cụ thể một cách linh hoạt, mềm dẻo, dung hòa giữa quyền và nhucầu của mình với quyền và nhu cầu người khác

+ Đương đầu với cảm xúc trong cuộc sống con người vẫn thường trảinghiệm những cảm xúc mang tính chủ quan như sợ hãi, tình yêu, phẫn nộ, ethẹn và mong muốn được thừa nhận và con người thường hành động, phản ứng

để đáp ứng một cách tức thời với tình huống không dựa trên suy luận logic

Vì thế việc xác định và nhận biết những cảm xúc của mình với nhữngnguyên nhân cụ thể, tiếp đến là có những quyết định không để cho những xúccảm chi phối đó chính là kĩ năng đối phó, đương đầu với những cảm xúc

+ Đương đầu với những căng thẳng như vấn đề của gia đình, mối quan

hệ bị đổ vỡ, sự mất người thân, sự căng thẳng trong thi cử…là một phần hiển

Trang 20

nhiên của cuộc sống do đó cũng như với xúc cảm, con người cần phải có khảnăng nhận biết sự căng thẳng, nguyên nhân và hậu quả, cũng như biết cáchkhắc phục.

- Những kĩ năng nhận biết sống với người khác:

+ Kĩ năng quan hệ, tương tác liên nhân cách, vì mỗi cá nhân phải biếtcách đối xử một cách phù hợp trong từng mối quan hệ, để có thể phát triển tối

đa tiềm năng sẵn có trong môi trường của mình

+ Sự cảm thông, thấu hiểu là sự bày tỏ, sự thông cảm bằng cách tự đặtmình vào vị trí của người khác

1.3 Giáo dục kĩ năng sống

1.3.1 Giáo dục

Giáo dục theo tiếng Hán nghĩa là dạy, là rèn luyện về tinh thần nhằmphát triển tri thức và huấn luyện tình cảm, đạo đức…là nuôi, là săn sóc về mặtthể chất [3]

Vì vậy giáo dục là sự rèn luyện cho con người về 3 phương diện chính

đó là: Trí tuệ, tình cảm và đạo đức

Theo phương tây thì từ Education vốn xuất phát từ chữ educare củatiếng La tinh Động từ educare là dẫn dắt, hướng dẫn để làm phát khởi ra khảnăng tiềm tàng, sự dẫn dắt này đưa con người từ không biết đến biết, từ xấuđến tốt, từ thấp kém đến cao thượng, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện

Ngày nay giáo dục được hiểu theo nhiều nghĩa rộng, hẹp khác nhau:Theo nghĩa rộng, giáo dục là sự tác động có mục đích, có kế hoạch củachủ thể tới đối tượng trong hệ thống giáo dục đã được thể chế hóa Quá trìnhgiáo dục được hiểu ở đây là chức năng cơ bản của xã hội chuẩn bị một cách

có mục đích, có kế hoạch cho những thành viên của mình hòa nhập và thamgia một cách tích cực, sáng tạo và sự phát triển kinh tế, văn hóa xã hội [3]

Trong nhà trường phổ thông, giáo dục lại được hiểu là sự kết hợp chặt

Trang 21

chẽ giữa quá trình dạy “Chữ” (hình thành những hiểu biết, phát triển tư duy

và phẩm chất trí tuệ, hình thành thế giới quan khoa học…) với quá trình dạy

“Người” (hình thành những phẩm chất nhân cách)

1.3.2 Giáo dục kĩ năng sống

Giáo dục kĩ năng sống là giáo dục cách sống tích cực trong xã hộihiện đại Người có kĩ năng sống là người luôn vững vàng trước những khókhăn, thử thách, biết ứng xử, giải quyết vấn đề một cách tích cực và phùhợp, họ thường thành công hơn trong cuộc sống, luôn yêu đời và làm chủcuộc sống của chính mình

Giáo dục kĩ năng sống có mục tiêu chính là làm thay đổi hành vi củangười học từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, mang lại hiệu quả tiêu cực,chuyển thành những hành vi mang tính xây dựng tích cực và có hiệu quả đểnâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân và góp phần phát triển bền vững cho

xã hội

Đồng thời giáo dục kĩ năng sống cần được thực hiện thống nhất trongnhiệm vụ giáo dục nhân cách toàn diện (theo lĩnh vực văn hóa xã hội, theo cácloại hình hoạt động của con người, theo bốn trụ cột trong giáo dục của thế kỷXXI) thông qua quá trình dạy học và giáo dục (theo nghĩa hẹp) vừa hướng tớimục tiêu hình thành khả năng tâm lí xã hội để người học có thể vượt qua nhữngthách thức của cuộc sống, vừa phát triển toàn diện kiến thức, thái độ, hànhđộng, phát triển toàn diện các chỉ số IQ và các lĩnh vực xúc cảm, trí tuệ, xã hội

Giáo dục kĩ năng sống cho người học thông qua hai con đường cơ bản:

- Xây dựng và thực hiện các chương trình kĩ năng sống chuyên biệt (hệthống các chủ đề) cho từng đối tượng với một mục tiêu cụ thể

- Tiếp cận kĩ năng sống trong toàn bộ quá trình giáo dục và đào tạo

1.3.3 Nội dung giáo dục kĩ năng sống

* Nội dung giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non bao gồm:

Trang 22

Giáo dục trẻ kĩ năng tự phục vụ, kĩ năng giao tiếp ứng xử như chàohỏi, cám ơn, xin lỗi…phát triển tình cảm xã hội, biết thông cảm với ngườikhác…thông qua giải quyết tình huống đặt ra hàng ngày, qua kể chuyện, quatrò chơi đóng vai theo chủ đề:

- Yêu cầu cụ thể về giữ gìn sức khỏe và an toàn

- Phát triển tình cảm kĩ năng xã hội như: quan tâm đến người khác, giaotiếp, trò chuyện…

Ở mẫu giáo

- Phát triển thể lực: có kĩ năng và thói quen tự phục vụ liên quan đến

sức khỏe, an toàn, vệ sinh thân thể, vệ sinh ăn uống, vệ sinh môi trường

- Phát triển nhận thức: có hiểu biết về môi trường tự nhiên và xã hội,

có khả năng quan sát, phân loại, phán đoán, phân tích về các sự vật hiệntượng gần gũi xung quanh

- Phát triển ngôn ngữ: Nghe và hiểu lời nói trong giao tiếp Có khả

năng diễn đạt ý nghĩ, cảm xúc và tình cảm của mình

- Phát triển tình cảm, ứng xử và quan hệ xã hội: mạnh dạn, tự tin, lễ

Trang 23

phép trong giao tiếp, chia sẻ, hòa nhập, cộng tác, yêu quý, quan tâm, giúp đỡ,

tự lập, có trách nhiệm…

Nội dung giáo dục kĩ năng sống cho trẻ:

Bao gồm các nội dung sau:

- Sự hợp tác, tự kiểm tra, tự lập, tò mò, kĩ năng thấu hiểu và giao tiếp

- Học cách có được những mối liên hệ mật thiết với các bạn khác tronglớp, biết chia sẻ, chăm sóc, lắng nghe, trình bày và diễn đạt được ý của mìnhtrong nhóm bạn

- Giúp trẻ luôn cảm thấy tự tin khi tiếp nhận thử thách mới

- Biết giới thiệu về bản thân và gia đình mình trước đám đông, biếtmình đang học lớp nào, thích cái gì và địa chỉ nhà mình ở đâu

- Nhận biết ưu khuyết điểm của bản thân

- Biết cách ứng xử với mọi người xung quanh Học cách lắng nghe mọingười và đối đáp

- Nhận biết những hoàn cảnh không an toàn, cách giữ an toàn chomình nơi công cộng (trong sân trường, công viên, siêu thị, ngoài phố, khigặp người lạ…)

Đối với trẻ mầm non: Có hành vi bắt chước, thói quen thực hiện lâungày trở thành kĩ năng Chúng ta chỉ dạy trẻ những điều nên, không nên Từ đónhững hành vi này sẽ được tích lũy trong quá trình hướng dẫn của giáo viên

1.3.4 Một số nguyên tắc giáo dục kĩ năng sống

1.3.4.1 Thay đổi hành vi

Giáo dục kĩ năng sống có thể vận dụng các nguyên tắc thay đổi hành vi,

vì giáo dục kĩ năng sống chủ yếu hướng vào thay đổi hành vi, thói quen tiêucực của người học.Thay đổi hành vi luôn là một việc khó Viện Hàn lâm khoahọc Mĩ (NAS) đã nghiên cứu và giới thiệu mô hình bảy nguyên tắc thay đổihành vi của con người như sau:

Trang 24

- Cung cấp thông tin là thời điểm khởi đầu tất yếu của bất cứ sự cốgắng mong muốn thay đổi hành vi nào Thông tin cần dễ hiểu và phù hợp vớingười học, đối tượng mà chúng ta muốn họ thay đổi hành vi.

- Tập trung vào những thông điệp tích cực, hình thành, duy trì và củng

cố hành vi lành mạnh và hướng tới cuộc sống tốt hơn cho mọi người trongcộng đồng, cần hạn chế sử dụng các thông điệp mang tính đe dọa để độngviên sự thay đổi hành vi

- Giáo dục theo quy mô nhỏ và cần độ lâu về thời gian để động viênngười tham gia chấp nhận những hành vi mới, để dạy mô hình các kĩ năng cầnthiết nhằm đạt được những hành vi đó để tiếp tục củng cố những kĩ năng mớicho đến khi người tham gia cảm thấy có thể thực hiện được những hành vilành mạnh

- Khuyến khích tư duy phê phán trong các tình huống lựa chọn: Mỗi cánhân thường thích chấp nhận những hành vi mới nếu họ được lựa chọn nótrong số các phương án có thể nêu trên cơ sở tự phân tích, phê phán và tìm raphương án phù hợp với mình Cho nên phương pháp giáo dục kĩ năng sốngcần hướng tới phát triển kĩ năng tư duy phê phán giúp người tham gia họcđược rất nhiều lựa chọn khi giải quyết những tình huống khó khăn

- Tạo ra môi trường khuyến khích sự thay đổi hành vi vì sự thay đổi sẽ

dễ dàng hơn nếu môi trường cũng khuyến khích sự thay đổi đó đối với cánhân, nên các chương trình giáo dục kĩ năng sống cần chú trọng cộng tác vớicộng đồng một cách toàn diện để tạo ra môi trường khuyến khích sự thay đổi

- Tăng cường sử dụng giáo dục đồng đẳng: Người mang ảnh hưởng cóthể làm thúc đẩy những thay đổi, nên phương pháp đồng đẳng có thể được bổsung vào các chương trình giáo dục kĩ năng sống để tạo cơ hội thuận lợi cho

sự thay đổi cũng như chấp nhận hành vi mẫu của người khác Tập huấn chongười có tác động ảnh hưởng đến họ có thể đóng vai trò mẫu trong nhóm của

Trang 25

mình có thể giúp tăng đáng kể tác động của chương trình.

- Phòng ngừa sự lặp lại thói quen cũ, vì sự tái phạm có thể xảy ra, do đócần phải xây dựng theo con đường duy trì những hành vi lành mạnh và giúpngười tham gia đi theo đúng hành lang của những hành vi tích cực sau khi họ

đã tái phạm

1.3.4.2.Trải nghiệm

Kĩ năng sống chỉ được hình thành khi con người được trải nghiệm quacác tình huống thực tế Học sinh chỉ có kĩ năng khi các em tự làm việc đó,chứ không chỉ nói việc đó Kinh nghiệm có được khi học sinh được hànhđộng trong các tình huống đa dạng giúp các em dễ dàng sử dụng và điềuchỉnh các kĩ năng phù hợp với điều kiện thực tế

Giáo viên cần thiết kế và tổ chức thực hiện hoạt động trong và ngoàigiờ học sao cho học sinh có cơ hội thể hiện ý tưởng cá nhân, tự trải nghiệm vàbiết phân tích kinh nghiệm sống của chính mình và người khác

1.3.4.3 Tiến trình

Giáo dục kĩ năng sống không thể hình thành trong “ngày một, ngàyhai” mà đòi hỏi phải có cả quá trình: nhận thức - hình thành thái độ - thayđổi hành vi Đây là một quá trình mà mỗi yếu tố có thể là khởi đầu củamột chu trình mới.Do đó nhà giáo dục có thể tác động lên bất kì mắt xíchnào trong chu trình trên: thay đổi thái độ dẫn đến mong muốn thay đổinhận thức và hành vi hoặc hành vi thay đổi tạo nên sự thay đổi nhận thức

và thái độ

1.3.4.4 Thời gian - môi trường học

Giáo dục kĩ năng sống cần thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi và thực hiện càng sớm càng tốt đối với trẻ em Môi trường giáo dục được tổ chức nhằm tạo

cơ hội cho học sinh áp dụng kiến thức vào kĩ năng vào các tình huống “thực” trong cuộc sống.Giáo dục kĩ năng sống được thực hiện trong gia đình, trong

Trang 26

nhà trường và cộng đồng Người tổ chức giáo dục kĩ năng sống có thể là bố

mẹ, là thầy cô, là bạn bè cùng học hay các thành viên cộng đồng Trong nhà trường phổ thông, giáo dục kĩ năng sống được thực hiện trên các giờ học, trong các hoạt động lao động , hoạt động đoàn thể-xã hội, hoạt động giáo dụcngoài giờ lên lớp và các hoạt động giáo dục khác

1.3.4.5 Tương tác

Kĩ năng sống không thể được hình thành chỉ qua việc nghe giảng và tựđọc tài liệu mà phải thôn g qua các hoạt động tương tác với người khác Việcnghe giảng và tự đọc tài liệu chỉ giúp học sinh thay đổi nhận thức về một vấn

đề nào đó Nhiều kĩ năng sống được hình thành trong quá trình học sinh tươngtác với các bạn cùng học và những người xung quanh (kĩ năng thương lượng,

kĩ năng giải quyết vấn đề…) thông qua hoạt động học tập hoặc các hoạt động

xã hội trong nhà trường Trong khi tham gia các hoạt động có tính tương tác ,học sinh có dịp thể hiện các ý tưởng của mình, xem xét ý tưởng của ngườikhác, được đánh giá và xem xét lại những kinh nghiệm sống của mình trướcđây theo một cách nhìn nhận khác Vì vậy, việc tổ chức các hoạt động có tínhchất tương tác cao trong nhà trường tạo cơ hội quan trọng để giáo dục kĩ năngsống hiệu quả

1.3.5 Phương pháp giáo dục kĩ năng sống

*Phương pháp dùng tình cảm

Dựa vào tình cảm người lớn có thể gợi lên cho trẻ những suy nghĩ tốtlành, các kĩ năng ứng xử không chỉ với con người mà còn cả môi trườngxung quanh trẻ Nên cần giúp trẻ tiếp nhận tình cảm của mọi người xungquanh Chính sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc của người lớn đã tácđộng rất lớn đến tình cảm của trẻ Nhờ đó mà người lớn có thể dễ dànggiáo dục cho trẻ những kĩ năng cần thiết Nhưng ngược lại nếu người lớndành tình cảm yêu thương thì trẻ không có các kĩ năng cần thiết và dễ hư

Trang 27

hỏng Bên cạnh đó, trẻ cũng đáp lại tình cảm đối với những người xungquanh như hàng ngày bố mẹ, ông bà quan tâm chăm sóc trẻ nhưng nhữnglúc người thân đau ốm trẻ biết lấy nước, quạt mát…Qua những việc làm rấtnhỏ như vậy đã tác động rất lớn đến tình cảm của trẻ và cũng giúp trẻ cónhững kĩ năng cần thiết trong cuộc sống sau này Nên người lớn cần chú ý

để giúp trẻ thể hiện các kĩ năng đó đúng hơn

*Phương pháp dùng tác phẩm nghệ thuật

Việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ bằng các tác phẩm nghệ thuật sẽđem lại hiệu quả to lớn trong công tác giáo dục Với những hình ảnh giàuhình tượng, sinh động, dễ gợi cảm dễ dàng tác động đến trẻ với các loại hìnhnghệ thuật như:

- Âm nhạc: Âm nhạc gắn bó hết sức mật thiết với đời sống con người

ngay từ lúc lọt lòng Dựa vào những tiết tấu nhanh, lời ca dí dỏm vui tươi màhết sức gần gũi với trẻ, giúp trẻ cảm thụ được những cái đẹp, hành động đẹptrong cuộc sống Như bài hát “Con chim vành khuyên” của nhạc sĩ HoàngVân giúp trẻ muốn trở thành em bé ngoan thì phải có kĩ năng chào hỏi, lễphép, biết gọi dạ bảo vâng với mọi người xung quanh

- Thơ ca: Nhờ có thơ ca mà trẻ có cách nhìn, cách nghĩ cũng như cảm

nhận được cuộc sống của con người và các sự vật, hiện tượng xung quanh trẻ.Như qua bài thơ “Đánh thức trầu” của nhà thơ Trần Đăng Khoa trẻ thấy đượcmuốn hái trầu cho bà phải xin phép đàng hoàng, nhẹ nhàng…Hay cả bài thơ

“Thỏ con bị ốm” giáo dục trẻ phải biết giúp đỡ, quan tâm đến bạn bè Từnhững câu thơ ngắn gọn, dễ thuộc, dễ nhớ giúp trẻ biết cái gì nên, không nêntrong cuộc sống

- Truyện: Ở lứa tuổi mầm non có rất nhiều câu chuyện như truyện cổ

tích, truyện đồng thoại, truyện ngụ ngôn, truyện cười…Qua nội dung các câuchuyện trẻ biết phân biệt người tốt-người xấu, thiện-ác, chăm chỉ-lười

Trang 28

biếng…Trẻ biết cách ứng xử giữa con người với con người và các sự vật xungquanh Như qua câu chuyện “Bác Gấu Đen và hai chú Thỏ” giáo dục trẻ phảibiết giúp đỡ người khác, không được ích kỷ Cũng như câu chuyện “Dê đen

và dê trắng” thì trẻ biết không được sợ hãi, nhút nhát mà nên tự tin và dùng tríthông minh để thắng được kẻ ác

- Tạo hình: Trẻ nhìn nhận cuộc sống và phản ánh vào những bức tranh

những hành động nên làm như chị dắt em đi chơi, bé giúp mẹ quét nhà vànhững hành động không nên làm như vứt rác ra đường, không thu dọn đồchơi…Thông qua đó người lớn có thể biết được những việc trẻ đã làm được

và chưa được để có thể hướng dẫn trẻ những kĩ năng cần thiết trong cuộc sốnghàng ngày

*Phương pháp dùng trò chơi

Vui chơi là hoạt động chính của trẻ ở trường mầm non Thông qua tròchơi trẻ học được nhiều kĩ năng như đoàn kết, giúp đỡ, chia sẻ đồ chơi cũngnhư phản ánh lại một phần cuộc sống xã hội (Đặc biệt là trò chơi đóng vaitheo chủ đề) Khi tham gia trò chơi trẻ được nhập vai để thể hiện chức năng

xã hội trong mối quan hệ xã hội đó (mẹ-con, cô-cháu, bác sĩ-bệnh nhân, ngườibán hàng-người mua hàng) Qua đó, trẻ học được cách ứng xử, giao tiếpvớinhau trong cuộc sống hàng ngày Ngoài ra trong trò chơi đóng vai theo theochủ đề trẻ không chỉ tham gia các vai chơi mà còn có luật chơi giúp trẻ chơitheo đúng luật chơi đã đề ra giúp trẻ có kĩ năng có kỉ luật, biết hợp tác trongkhi chơi Từ đó, trẻ có thể tự hoàn thiện các kĩ năng cần thiết

*Phương pháp luyện tập thường xuyên

Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ không chỉ hình thành trong ngày mộtngày hai mà cần có thời gian để củng cố, luyện tập Để thực hiện phươngpháp này đòi hỏi người lớn cần quan tâm thường xuyên đến trẻ, nhắc nhở trẻthực hiện mọi lúc mọi nơi trong sinh hoạt hàng ngày Trước tiên cần làm mẫu

Trang 29

những kĩ năng mới sau đó tạo tình huống để trẻ luyện tập các kĩ năng đó Vàdần dần nâng cao yêu cầu luyện tập giúp trẻ tự hoàn thiện các kĩ năng đó.Như kĩ năng rửa tay trước và sau khi ăn, kĩ năng trình bày ý kiến trước đámđông (thi làm người dẫn chương trình, giới thiệu bản thân…)

*Phương pháp khen chê

Trong quá trình giáo dục kĩ năng sống cho trẻ người lớn cần biết khenchê đúng mức và đúng lúc Nếu trẻ thể hiện được các kĩ năng như trong giaotiếp biết chủ động chào hỏi mọi người thì cần khen ngay bằng lời biểu dươnghay những món quà mang ý nghĩa tinh thần hơn là vật chất Ngược lại nếu trẻchưa có kĩ năng như chơi xong không biết cất đồ chơi, tranh giành đồ chơicủa bạn thì người lớn cần tỏ ra chê trách, không đồng tình giúp trẻ biết thế là

hư, không ai yêu Trẻ nhỏ rất thích được khen và không muốn bị chê, nênngười lớn cần biết khêu gợi lòng tự hào và tính xấu hổ đúng lúc, đúng chỗ đểhình thành những kĩ năng cho trẻ

1.3.6 Các con đường giáo dục kĩ năng sống

*Giáo dục kĩ năng sống được thực hiện trước hết trong quá trình giáo dục ở nhà trường

- Năng lực tâm lý xã hội là một quá trình học tập được thực hiệnthông qua truyền thống, văn hóa, gia đình, cộng đồng và niềm tin Quá trìnhhọc để có kĩ năng tâm lí xã hội được thể hiện cả trong nhà trường và ngoàinhà trường cũng như thông qua các kênh, nguồn khác nhau Tuy nhiên, tốc độphát triển kinh tế - xã hội làm cho con người càng biệt lập và mang tính cánhân Gia đình trở nên nhỏ hơn và con người ít có cơ hội để học kĩ năng tâm

lý xã hội và phát triển Vì vậy cần tăng cường tâm lý xã hội cho người họcngay trong đời sống, nhà trường thông qua giáo dục kĩ năng sống

- Kĩ năng sống cần phải là một phần trong chương trình đang diễn ratrong nhà trường Điều này có nghĩa là giáo dục kĩ năng sống trước hết phải

Trang 30

được giáo dục trong nhà trường Một số nghiên cứu nhấn mạnh rằng kĩ năngsống cần được dạy trong chương trình của nhà trường hơn là nhiệm vụ biệtlập tách khỏi chương trình bình thường của nhà trường Dạy kĩ năng sống cầnphải được chứa đựng trong tất cả các môn khoa học thông qua nhấn mạnhmối quan hệ giữa học tập và các hoạt động sống hàng ngày Đồng thời cần coiviệc dạy kĩ năng xã hội với tư cách là một khía cạnh của kĩ năng sống.

*Kĩ năng sống được giáo dục trong nhà trường có thể thông qua tiếp cận kĩ năng sống

- Tiếp cận kĩ năng sống: Tiếp cận kĩ năng sống đề cập đến quá trìnhtương tác giữa dạy và học tập trung vào kiến thức, thái độ và kĩ năng cần đạtđược để có những hành vi giúp con người có trách nhiệm cao đối với cuộcsống riêng bằng cách lựa chọn cuộc sống lành mạnh, kiên định từ chối sự épbuộc tiêu cực và hạn chế tối đa những hành vi có hại

- Các đặc trưng của tiếp cận kĩ năng sống:

+ Yếu tố thứ nhất: Tập trung làm thay đổi hành vi như là mục tiêu đầu

tiên của tiếp cận kĩ năng sống, là điểm làm cho tiếp cận kĩ năng sống khác vớicách tiếp cận khác như tiếp cận dạy học chỉ đơn giản để tiếp thu thông tin

+ Yếu tố thứ hai: Kĩ năng sống tồn tại ba thành tố

+ Yếu tố thứ ba: Những thách thức đối với hệ thống giáo dục và đánh

giá thay đổi hành vi Một số hành vi của người học cần thay đổi vì nó liênquan đến sự rủi ro, mạo hiểm Hệ thống giáo dục hiện nay nhìn chung chưatập chung vào sự thay đổi hành vi và thường ở mức mong muốn thay đổi về

Trang 31

kiến thức Do đó hệ thống giáo dục sẽ gặp thách thức đáng kể trong thực hiệntiếp cận kĩ năng sống Cho nên với mục tiêu cao nhất là thay đổi hành vi, kĩnăng sống sẽ không giới thiệu toàn bộ những thông tin dễ hiểu về chủ đề, màchỉ giới thiệu những thông tin được coi là cần thiết có ảnh hưởng đến thái độ

và đề đạt được mục tiêu là làm giảm thiểu những hành vi mạo hiểm và thúcđẩy những hành vi tích cực

Để đạt được những mục tiêu giáo dục kĩ năng sống thông qua conđường này ta cần quan tâm tổ chức dạy học theo hướng tập trung vào sự thayđổi hành vi của người học trên cơ sở đảm bảo sự hài hòa cả kiến thức, thái độ,giá trị và hành vi Đặc biệt cần chú ý phát triển tư duy phê phán và tư duysáng tạo là những kĩ năng sống, những năng lực hợp phần tạo nên những kĩnăng sống khác của con người

*Theo tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên Hợp Quốc (UNESCO) đã làm sáng tỏ một quan điểm rằng:

Giáo dục muốn bồi dưỡng năng khiếu và tiềm năng cá nhân, phát triển

cá tính của người học giúp cải thiện cuộc sống của họ và làm thay đổi xã hộithì cần phải chú trọng đến việc nắm được các kĩ năng Bên cạnh các kĩ năngthực hành, kĩ năng thể chất, chúng ta cần thêm các kĩ năng sống- những kĩnăng làm cho con người có thể học và sử dụng các kiến thức để phát triển kĩnăng phân tích và phán đoán giúp làm chủ được cảm xúc, cuộc sống và cóquan hệ phù hợp với người khác Thể hiện qua bốn tiêu chí đánh giá:

- Học để biết (kĩ năng nhận thức): Tư duy phê phán, tư duy sáng tạo,

giải quuyết vấn đề, nhận thức được hậu quả, ra quyết định…

- Học để tự khẳng định mình (kĩ năng cá nhân): Kiểm soát cảm xúc, tự

nhận thức, tự tin, ứng phó với căng thẳng tự khẳng định…

- Học để cùng chung sống (kĩ năng xã hội): Hợp tác, thương lượng, làm

việc theo nhóm…

Trang 32

- Học để làm (kĩ năng thực tiễn): Kĩ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách

Bước 1: Khám phá: khuyến khích người học xác định những khái niệm,

kĩ năng liên quan đến bài học

Bước 2: Kết nối: Giới thiệu thông tin và kĩ năng mới dựa trên những cái

đã biết để liên hệ cái chưa biết

Bước 3: Thực hành: Giúp trẻ thực hiện kĩ năng đó trong hoạt động

thực tiễn

Bước 4: Vận dụng: Giúp trẻ có cơ hội mở rộng và vận dụng thông tin,

kĩ năng trong nhiều tình huống khác nhau

Vì vậy, cần giúp trẻ có môi trường trả lời để trẻ có các kĩ năng mới phùhợp với sự thay đổi cũng như của xã hội

1.4 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo lớn

Ở trường mầm non trẻ thường được phân chia theo độ tuổi:

- Dưới 3 tuổi: nhà trẻ

- Từ 3 tuổi- 4 tuổi: mẫu giáo bé

- Từ 4 tuổi-5 tuổi: mẫu giáo nhỡ

- Từ 5 tuổi- 6 tuổi: mẫu giáo lớn

1.4.1 Đặc điểm tâm sinh lý trẻ mẫu giáo lớn

Trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo lớn có đời sống tâm lý rất đa dạng và phong

Ngày đăng: 11/09/2019, 11:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w