1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ nghệ tĩnh

26 102 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 544,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Triết lý nhân sinh đó chính là những quan điểm, quan niệm về sự sống của con người được rút ra từ trong thực tiễn cuộc sống.. Nghệ Tĩnh là một vùng đất có nền văn hóa lâu đời, có những đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ



NGUYỄN THỊ HUYỀN TRANG

TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG CA DAO,

TỤC NGỮ NGHỆ TĨNH

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Mã số: 60.22.03.01

Đà Nẵng - Năm 2019

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học:TS LÊ VĂN THAO

Phản biện 1: TS Phạm Huy Thành

Phản biện 2: TS Phạm Văn Giang

Thạc sĩ Triết học họp tại Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng vào ngày 24 tháng 08 năm 2019

Có thể tìm hiểu luận văn tại:

- Trung tâm thông tin – học liệu, Đại học Đà Nẵng

- Thư viện trường Đại học Kinh tế, ĐHĐN

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, khi mà xã hội loài người ngày càng văn minh, sự phát triển của khoa học và kỹ thuật ngày càng lớn mạnh thì thế giới có thiên hướng tập trung nhiều vào trung tâm của

vũ trụ, đó chính là “con người” Những kinh nghiệm, những triết lý xưa nay được nhìn nhận một cách đúng đắn và nghiêm túc bởi hiện thực cuộc sống đã chứng minh rằng đó chính là “túi khôn” của dân gian để lại, nó giống như những lời tiên tri báo trước cho con người

về quy luật của cuộc sống và tạo hóa Triết lý nói chung, trong đó có triết lý nhân sinh được đề cao, coi trọng hơn bao giờ hết Triết lý nhân sinh đó chính là những quan điểm, quan niệm về sự sống của con người được rút ra từ trong thực tiễn cuộc sống Triết lý nhân sinh được xem như là kim chỉ nam định hướng, chỉ dẫn cho cách đối nhân

xử thế, cho hành động hay lối sống của con người

Nghệ Tĩnh là một vùng đất có nền văn hóa lâu đời, có những đặc điểm riêng về vị trí địa lí, tự nhiên, lịch sử, văn hóa, xã hội đã hình thành nên triết lý nhân sinh mang nét đặc trưng riêng của xứ Nghệ Triết lý nhân sinh được thể hiện trên nhiều lĩnh vực về: kiến trúc, văn hóa, nghệ thuật… Trong đó ca dao, tục ngữ được xem là thể loại ổn định, độc đáo phản ánh rõ nét những triết lý nhân sinh sâu sắc của con người xứ Nghệ Tuy nhiên, việc nghiên cứu và bảo tồn các giá trị về ca dao, tục ngữ nói chung và triết lý nhân sinh nói riêng vẫn còn những hạn chế nhất định Do đó, nghiên cứu triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh là vấn đề thiết yếu và có ý nghĩa quan trọng, giúp chúng ta hiểu rõ hơn quan niệm của cha ông ta về lẽ sống, về đạo làm người, về cách ứng xử của con người với thế giới tự nhiên và giữa con người với con người trong xã hội Qua đó, làm rõ

Trang 4

những giá trị để bảo tồn và phát huy trong giai đoạn hiện nay, góp

phần khẳng định giá trị văn hóa dân gian của Nghệ Tĩnh, củng cố

niềm tin, lý tưởng sống cho những người con vùng đất Nghệ Tĩnh nói

riêng và thế hệ trẻ của Việt Nam nói chung

Nhận thức được tầm quan trọng đó nên tôi chọn đề tài: “Triết

lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh” làm đề tài luận văn

thạc sĩ Triết học của mình

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu

Trên cơ sở làm rõ những nội dung cơ bản của triết lý nhân

sinh trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh; luận văn đánh giá về giá trị,

hạn chế và đề xuất các giải pháp nhằm gìn giữ và phát huy giá trị triết

lý nhân sinh của ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh

Thứ ba, làm rõ giá trị, hạn chế và đề xuất giải pháp gìn giữ

và phát huy các giá trị triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Nghệ

Tĩnh

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nội dung triết lý nhân sinh

trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh

Phạm vi nghiên cứu: đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số

nội dung triết lý nhân sinh trong kho tàng ca dao, tục ngữ vùng Nghệ

Trang 5

Tĩnh: Quan niệm về bản chất con người và ý nghĩa cuộc sống, quan niệm về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, quan niệm về mối quan hệ giữa con người với cộng đồng, con người với con người trong xã hội

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên quan điểm của triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề triết lý nhân sinh

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn kết hợp các phương pháp: phương pháp logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, quy nạp

và diễn dịch, thống kê, so sánh và đối chiếu

5 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có 3 chương và 9 tiết

6 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu về triết lý nhân

sinh nói chung

Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu về triết lý nhân

sinh trong ca dao, tục ngữ

7 Đóng góp mới của đề tài

Luận văn làm rõ được những nội dung cơ bản, những nét độc đáo, góp phần khẳng định giá trị của triết lý nhân sinh trong tục ngữ,

ca dao Nghệ Tĩnh; Đồng thời đề xuất một số giải pháp có tính khả thi cho việc gìn giữ và phát huy các giá trị triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh hiện nay

Trang 6

8 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

- Là cơ sở khoa học cho các cơ quan quản lý và bảo tồn nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa vùng Nghệ Tĩnh trong giai đoạn hiện nay

Trang 7

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRIẾT LÝ NHÂN SINH VÀ CA DAO, TỤC NGỮ NGHỆ TĨNH

1.1 Triết lý và triết lý nhân sinh

1.1.1 Khái niệm triết lý

Triết lý là cái ý sâu xa, cái lẽ huyền diệu của một học thuyết hay một sinh hoạt, một hiện tượng, một cử chỉ Khác với triết học, triết lý mang đậm dấu ấn của cộng đồng người, triết lý được rút ra từ những trải nghiệm trong cuộc sống

Theo chúng tôi, triết lý trước hết đó là những quan niệm đúng đắn, được con người rút ra, đúc kết từ trong thực tiễn cuộc sống Khác với triết học, triết lý gần gũi hơn với cuộc sống, là bài học mà cá nhân nào cũng có thể tự đưa ra được triết lý sống cho riêng mình Trong giới hạn của đề tài chỉ đề cập đến triết lý nhân sinh được thể hiện trong ca dao, tục ngữ tỉnh Nghệ Tĩnh

1.1.2 Triết lý nhân sinh

Triết lý nhân sinh theo từ điển Từ và ngữ Việt Nam: “Nhân”

là người, “sinh” là cuộc sống, triết lý nhân sinh là triết lý về sự sống con người

Triết lý nhân sinh cũng chính là những quan điểm, quan niệm, những kinh nghiệm về sự sống được con người rút ra từ trong thực tiễn cuộc sống

1.2 Khái quát về ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh

1.2.1 Khái niệm, nguồn gốc ra đời của ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh

Khái niệm ca dao theo từ điển Bách Khoa Việt Nam: Ca dao thường là những câu thơ, bài hát dân gian có ý nghĩa khái quát, phản

Trang 8

ánh đời sống, phong tục, đạo đức hoặc mang tính chất trữ tình, đặc biệt là tình yêu nam nữ

Tục ngữ theo tác giả Vũ Ngọc Phan: đó là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán [48, tr.6]

Nguồn gốc của ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh có thể là do những lính thú lưu động, những dân tứ chiếng, những đợt sóng người chuyển cư, những người buôn bán, những ông đồ Nghệ đầu năm đeo cái tay nái đỏ trong đó có cái tráp đen đi khắp bốn phương tìm nơi dạy học mang về, nhưng những câu tục ngữ từ nơi khác du nhập vào

đều có ít nhiều “chất Nghệ Tĩnh”

1.2.2 Những nội dung của ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh

Những bài ca dao được lưu truyền ở Nghệ Tĩnh đều phản ánh các mặt sinh hoạt và tính cách của những con người đã bao năm sinh sống, chiến đấu và sáng tạo trên đất Hồng Lam Đó là một cuộc sống vật lộn gian khổ, bền bỉ giữa con người và thiên nhiên

Không chỉ dừng lại ca ngợi tình yêu quê hương, đất nước, xóm làng, ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh còn là bản tình ca thấm đẫm tình yêu thương chan chứa của tình yêu lứa đôi và tình cảm gia đình

1.2.3 Vài nét nghệ thuật nổi bật trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh

- Tính bộc trực thẳng thắn

Ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh phần nhiều bộc trực, thẳng thắn,

có phần cứng rắn Điều này cũng thật sự dễ hiểu, cuộc sống nơi đây thường xuyên phải vật lộn chống chọi với thiên nhiên khô cằn, khắc nghiệt, chế độ phong kiến kéo dài dai dẳng, tàn nhẫn, xảo quyệt, chiến tranh liên miên với giặc ngoại xâm trường kỳ, gian khổ Cuộc sống đói nghèo, túng quẫn luôn dày vò, đeo đẳng

Trang 9

- Tính trí tuệ bác học

Ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh mang đặc trưng riêng, đó là tính trí tuệ và bác học Tính trí tuệ và bác học này không chỉ có tác giả là các nhà nho, khoa bảng mà nó còn xuất hiện trong những bài ca dao, tục ngữ của tầng lớp bình dân Những cách vận dụng tài tình đã làm nên những bài ca dao, những câu tục ngữ dí dỏm, tinh nghịch nhưng cũng đầy tính trí tuệ và bác học

- Tính trạng

Tính Trạng: “Trạng” ở đây không phải là nói phét, nói láo

“Trạng” ở đây thể hiện tính vui vẻ, thông minh nhanh trí song dí dỏm của người xứ Nghệ Tiếng cười khi sổ sàng, phóng khoáng, thường

sử dụng biểu tượng hai mặt để trêu cợt lẳng lơ, song cái nhìn thì bình

dị, lạc quan Những bài ca dao, những câu tục ngữ mang tính „Trạng”

đã phần nào làm vơi bớt đi cuộc sống ngột ngạt, nghèo khổ nơi đây

- Một số nét nghệ thuật khác

Ngoài ra, hình thức đối trong thể lục bát và song thất lục bát của ca dao Nghệ Tĩnh cũng là một nét nghệ thuật độc đáo Không chỉ đối ngẫu mà còn đối câu, đối bài, hiện tượng gieo vần, về ngôn từ, nhất là các từ địa phương, các dạng kết cấu, thời gian và không gian nghệ thuật…cũng rất sáng tạo và độc đáo

Về tục ngữ, nghệ thuật chủ yếu là kết cấu ngôn từ, câu chữ

và cách gieo vần Chính vì lẽ đó, tục ngữ rất dễ thuộc, dễ nhớ và có khả năng lưu truyền rộng rãi trong quần chúng nhân dân

1.3 Những điều kiện, tiền đề ra đời triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh

1.3.1 Điều kiện địa lý, tự nhiên

- Về vị trí địa lý

Trang 10

Xét về vị trí địa lý, Nghệ An và Hà Tĩnh nằm ở vị trí có tầm quan trọng chiến lược của cả nước về quốc phòng, an ninh, tâm điểm của vùng Trung Bộ

- Địa hình sông, núi

Nhìn chung địa hình của cả hai vùng Nghệ An và Hà Tĩnh vô cùng phức tạp, hiểm trở, chủ yếu là núi cao, sông sâu, gây khó khăn cho phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế nông nghiệp, công nghiệp Chính vì vậy, đời sống của nhân dân hai Tỉnh này gặp rất nhiều khó khăn, nghèo nàn và lạc hậu Điều này được thể hiện rõ trong những bài ca dao nói về những khó khăn khi lên rừng, xuống biển lao động sản xuất

- Tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên thiên nhiên cả hai vùng nhìn chung đa dạng, phong phú, có nhiều sản vật quý hiếm Tuy nhiên do địa hình hiểm trở, núi cao, sông sâu, giao thông đi lại khó khăn nên người dân không thể nào khai thác hết được những thế mạnh này Cuộc sống vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và ngư nghiệp

1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Trang 11

- Về điều kiện kinh tế

Xét về điều kiện kinh tế, nhìn chung cả hai vùng Nghệ An và

Hà Tĩnh chủ yếu vẫn dựa vào nông, lâm, ngư nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, kinh tế chậm phát triển, đời sống của bà con hai Tỉnh còn gặp rất nhiều khó khăn Điều này đã ảnh hưởng lớn đến tư duy, quan niệm của người dân xứ Nghệ: Lối tư duy cục bộ nông nghiệp chậm chạp, ít đổi mới, chủ yếu dựa vào trời, phụ thuộc tự nhiên, thụ động trong đấu tranh đòi quyền lợi, chậm đổi mới phương thức sản xuất

- Điều kiện xã hội

Điều kiện xã hội cả hai vùng còn nhiều mặt hạn chế Do kinh

tế chậm phát triển, đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn nên điều kiện về an sinh, xã hội còn nghèo nàn, tồn tại nhiều hủ tục xưa chưa được xóa bỏ Tình trạng mất công bằng, dân chủ còn khá phổ biến Điều này được bộc bạch rất thẳng thắn trong ca dao, tục ngữ

1.3.3 Tiền đề văn hóa, tư tưởng

Có thể thấy rằng, Nghệ An và Hà Tĩnh là hai vùng đất có nền văn hóa lâu đời, đậm đà bản sắc địa phương, có nền tảng tư tưởng vững chắc từ ngàn xưa để lại, được xem là vùng “địa linh nhân kiệt”

Ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh rất phong phú và đa dạng, vừa tiếp thu và ảnh hưởng từ địa phương khác đến vừa tiếp biến chúng thành những bài ca dao, những câu tục ngữ đậm chất xứ Nghệ

Tiểu kết Chương 1

Chương 1 cho chúng ta cái nhìn khái quát nhất về tiền đề lý luận, về nội dung của triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh, những điều kiện, tiền đề về tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội đã

ít nhiều ảnh hưởng đến việc ra đời và hình thành ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh

Trang 12

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG CA DAO, TỤC NGỮ NGHỆ TĨNH

2.1 Quan niệm về bản chất con người, đời sống nội tâm và ý nghĩa của cuộc sống

2.1.1 Bản chất con người và số phận

Triết lý nhân sinh về bản chất con người và số phận con người trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh cho chúng ta cái nhìn đúng đắn, khách quan: Bản chất con người là lương thiện “Nhân chi sơ tính bản thiện”, tuy nhiên do hoàn cảnh xã hội, cuộc đời xô đẩy đã

khiến họ có khi bị sa ngã, bản chất bị biến hóa: Đất tốt trồng cây xum

xoa (um tùm)/ Những người lịch sự nói ra mĩ miều; Đất xấu trồng cây ngẳng nghiu/ Những người thô tục nói điều phàm phu [20,

tr.651]

Số phận con người xét cho cùng là do chính bản thân con người quyết định và do hoàn cảnh xã hội chi phối chứ không phải do

tự nhiên sinh ra hay do lực lượng siêu nhiên nào quyết định: Ai ơi

đừng nghĩ đói giàu/ Bạc vàng đang để hai đầu ngón tay [20, tr.637]

Số phận con người là vô thường và không phải là bất biến mà nó sẽ thay đổi theo chiều lên, xuống tùy thuộc vào khả năng của mỗi

người: Làm người ai có dại chi/ Khúc sông eo hẹp phải tùy khúc sông [20, tr.660] Chính vì vậy, muốn thay đổi được số phận, con người

phải tự mình vươn lên, thay đổi bản thân, đấu tranh để cải tạo xã hội

2.1.2 Đời sống tâm tư tình cảm và ý nghĩa cuộc sống

Có thể thấy rằng, đời sống tâm tư tình cảm của con người

Nghệ Tĩnh đong đầy cảm xúc buồn, vui: Khi vui vui cả một bè/ Khi

buồn cây nứa, cây tre cũng buồn Họ Yêu, ghét rạch ròi: Thương nhau cơm giấu, gấu (gạo) cho/ Ghét nhau một mảnh quạt mo cũng đòi Nhưng chúng ta nhận thấy rằng đằng sau những cảm xúc ấy là

Trang 13

một nội lực sống đầy lạc quan, mạnh mẽ, ý chí, khát vọng vươn lên

khắc phục mọi hoàn cảnh, vươn cao, vươn xa: Cây cao đứng giữa đại

ngàn/ Gió rung không sợ, sợ chi tàn lửa rơm; Ai giàu ba họ, ai khó

ba đời Người dân Nghệ Tĩnh hướng tới một cuộc sống no đủ về vật

chất và cuộc sống tinh thần vui vẻ, an nhàn, tự do, tự tại chốn quê

hương: Thú chi bằng thú chiều chiều/ Ra đứng đầu ngõ, ngắm diều

làng Nghi [20, tr183]; Còn trời, còn nước, còn đây/ Còn ao rau muống còn đầy chum tương [20, tr 568] Và họ có lý tưởng sống cao

đẹp, nhân văn: Người trồng cây hạnh để chơi/ Ta trồng cây đức để

đời về sau [20, tr 665]

2.2 Quan niệm về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và với cộng đồng

2.2.1 Mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên

Người dân xứ Nghệ sống không thể tách rời với thiên nhiên Mặc dù cần cù, chịu khó, tiết kiệm người dân nơi đây đã nỗ lực hết sức, song thành bại hay không còn phụ thuộc vào thiên nhiên Thiên nhiên hay chính xác đó chính là thế lực huyền bí, siêu nhiên - Trời quyết định Mọi việc trông mong vào “trời”: “nhờ trời”, “lạy trời”,

“trông trời”, “chờ trời” và “xin trời” cho mưa thuận, gió hòa và còn

phải chờ vào “thời”: Có thời gối phượng chăn loan/ Không thời gối

gỗ cho nhàn cái thân Vì vậy, con người phải sống hợp lẽ với trời,

trời sẽ phù trì cho được an khang: Ở ăn phải cho có nghì/ Mênh mông

thiên địa phù trì an khang

Người dân biết lo xa, tiết kiệm, đúc rút ra những kinh nghiệm, tìm ra được những quy luật của tự nhiên, vận dụng vào đời sống sản xuất, phòng rủi ro, hạn chế các tác động xấu và phát huy lợi thế của nó Họ biết vận dụng quy luật của tự nhiên vào sản xuất mùa

màng, mang lại kết quả tốt: Lúa về lẫm trước kho sau/ Đầu cày nắm

Ngày đăng: 11/09/2019, 11:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w