Đa số các tác giả nghiên cứu về Nguyễn Khuyến đều khẳng định thơ viết về làng quê củaNguyễn Khuyến là những bức tranh nên thơ, thanh bình khắc hoạ một cáchtinh tế cảnh thiên nhiên thôn d
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
CAO THÚY HẰNG
NỖI BUỒN ĐAU TRONG THƠ LÀNG QUÊ VIỆT NAM CỦA NGUYỄN KHUYẾN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI, 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
CAO THÚY HẰNG
NỖI BUỒN ĐAU TRONG THƠ LÀNG QUÊ VIỆT NAM CỦA NGUYỄN KHUYẾN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN THỊ TÍNH
HÀ NỘI, 2018
Trang 3Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Sinh viên
Cao Thúy Hằng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
khác
Tôi xin khẳng định đây là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi
Đề tài nghiên cứu này không trùng với đề tài nghiên cứu của tác giả nào
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Sinh viên
Cao Thúy Hằng
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Bố cục khoá luận 5
B PHẦN NỘI DUNG 6
Chương 1 NGUYỄN KHUYẾN VÀ SỰ GẮN BÓ VỚI LÀNG QUÊ 6
1.1.Bối cảnh thời đại 6
1.2.Tiểu sử và con người 8
1.3 Sự gắn bó với làng quê của Nguyễn Khuyến 10
Chương 2: THƠ LÀNG QUÊ CỦA NGUYỄN KHUYẾN – ÁM ẢNH ĐAU BUỒN, THÊ LƯƠNG 16
2.1 Đau buồn thê lương qua cảnh sắc làng quê 16
2.1.1 Cảnh ngột ngạt, hư ảo 16
2.1.2 Cảnh xác xơ, hiểm hoạ vì lũ lụt hạn hán 22
2.2 Đau buồn, thê lương qua cuộc sống làng quê 27
2.2.1 Cuộc sống lam lũ, đói nghèo 27
2.2.2 Cuộc sống loạn lạc, phi đạo lí 35
KẾT LUẬN 41 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhìn chung, văn chương thời Trung đại thường mang tính quy phạm,ước lệ Tuy nhiên, khi xem xét một cách cụ thể ta sẽ nhận thấy mỗi một tácgia lớn lại có một đặc trưng riêng Nếu như Tú Xương có một giọng thơ tràophúng, mỉa mai sâu cay thì Nguyễn Khuyến lại gây ấn tượng với giọng thơtrào lộng nhẹ nhàng với những vần thơ về làng quê Bắc Bộ yên ả, thanh bình.Ông vừa coi mọi chuyện trên đời như không có gì đáng lưu tâm lại vừa mangtrong mình nỗi ưu sầu thế kỉ
Có thể nói, Nguyễn Khuyến là một trong những nhà thơ viết thành côngnhất về quê hương, làng cảnh Việt Nam Ông từng được Xuân Diệu mệnh
danh là “nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam” Đa số các tác giả
nghiên cứu về Nguyễn Khuyến đều khẳng định thơ viết về làng quê củaNguyễn Khuyến là những bức tranh nên thơ, thanh bình khắc hoạ một cáchtinh tế cảnh thiên nhiên thôn dã, con người hồn hậu; ẩn sâu trong cảnh vậtthanh bình ấy là nỗi u hoài thầm kín về nỗi đau nước mất nhà tan mà bản thânthì bất lực, bế tắc Những ý kiến này không sai, tuy nhiên, nhìn từ một góc độkhác ta có thể thấy một sắc thái hoàn toàn đối lập với sự nên thơ, thanh bình
ấy Một số tác giả đã bàn về vấn đề này, song vẫn hướng đến khẳng định cáihay trong thơ viết về quê hương, làng cảnh Việt Nam của Tam nguyên Yên
Đổ là cảnh đẹp của làng quê Bắc Bộ và sâu xa hơn ẩn chứa trong đó là nỗi đauđớn trước thời cuộc một cách kín đáo của tác giả
Khoá luận này xin tiếp cận tác phẩm của ông từ một góc nhìn mới: nỗibuồn đau trong thơ làng cảnh của Nguyễn Khuyến với những ám ảnh đaubuồn, thê lương
Trang 7Tìm hiểu đề tài này, người viết muốn có thêm vốn kiến thức văn họcphong phú, sâu sắc hơn để phục vụ cho công việc giảng dạy sau này, đồngthời
bước đầu tập dượt những phương pháp nghiên cứu khoa học cho bản thân
Mặt khác, trong chương trình văn học ở THCS và THPT, NguyễnKhuyến được chọn giảng với tư cách là một tác gia văn học với những tác
phẩm tiêu biểu đại diện cho phong cách nghệ thuật của nhà thơ: “Thu điếu”,
“Thu ẩm”, “Thu vịnh”, “Bạn đến chơi nhà”, “Khóc Dương Khuê” Như
vậy, qua việc biên soạn chương trình chúng ta phần nào thấy được vị trí, vaitrò của thơ Nguyễn Khuyến Vì thế, tìm hiểu đề tài này, tôi nghĩ là một việclàm có ý nghĩa lớn đối với việc giảng dạy tác gia Nguyễn Khuyến trong nhàtrường một cách có định hướng
2 Lịch sử vấn đề
Nguyễn Khuyến là một tác gia lớn, bởi vậy, từ xưa đến nay có rất nhiều
đề tài nghiên cứu xoay quanh cuộc đời và sự nghiệp của ông Bàn về nhữngsáng tác của cụ Tam, cả phần chữ Hán và chữ Nôm đã có nhiều nhà nghiêncứu và sinh viên Ngữ văn tìm hiểu
Cụ thể, khi lựa chọn đề tài này bản thân người viết đã tham khảo tài liệutổng hợp nhiều ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu Trong đó, phải kể đến cáccông trình nghiên cứu, các bài viết sau có liên quan trực tiếp đến vấn đề màkhoá luận đề cập:
1 Nguyễn Huệ Chi (1992), “Thi hào Nguyễn Khuyến đời và thơ”, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội
2 Bùi Văn Cường sưu tầm, biên soạn(1984), “Nguyễn Khuyến và giai thoại”,
Nxb Hội văn học nghệ thuật Hà Nam Ninh, Hà Nam Ninh
3 Xuân Diệu (1979), “Thơ văn Nguyễn Khuyến”, in lần thứ hai có sửa chữa,
Nxb Văn học, Hà Nội
Trang 84 Nguyễn Văn Huyền (2002), “Nguyễn Khuyến tác phẩm”, Nxb Thành phố
Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh
5 Ngô Ngọc Ngũ Long, “Ba bài thơ thu”, trong sách “Nguyễn Khuyến – Tác
phẩm và lời bình” (Nhiều tác giả), Nxb Văn học, Hà Nội.
6 Nhiều tác giả (2011), “Nguyễn Khuyến tác phẩm và lời bình”, Nxb.Văn
học, Hà Nội
7 Nhóm trí thức trẻ tuyển chọn và giới thiệu (2012), “Nguyễn Khuyến Thơ
và đời”, Nxb Văn học, Hà Nội.
8 Vũ Tiến Quỳnh (1991), “Tuyển chọn và trích dẫn những bài phê bình –
bình luận văn học của các nhà văn” – nghiên cứu Việt Nam – Thế giới,
Nxb Tổng hợp Khánh Hoà
9 Trần Quốc Vượng (1992), “Nguyễn Khuyến trong bối cảnh văn hoá xã
hội Việt Nam cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX”, trong sách “Thi hào
Nguyễn Khuyến đời và thơ”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
10 Nguyễn Thị Tính (2017), “Bàn thêm về ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến”, “Tạp chí nghiên cứu lí luận, phê bình và lịch sử văn học”, Nxb.
Toà soạn Tạp chí Nghiên cứu Văn học, Hà Nội
11 Hoàng Thị Thuý Linh, Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2,
Khoá luận: Nghệ thuật thể hiện phong cảnh làng quê trong thơ Nôm
Nguyễn Khuyến.
Có thể thấy, tìm hiểu về nội dung và nghệ thuật trong thơ làng cảnh ViệtNam của Nguyễn Khuyến không phải là một vấn đề hoàn toàn mới mẻ Tuynhiên, nhìn một cách khái quát thì người viết nhận thấy các công trình nghiêncứu, các bài viết trên chủ yếu đề cập đến cảnh đẹp thanh bình của làng quêBắc Bộ và ẩn chứa trong đó là nỗi đau thời thế kín đáo của tác giả Trong
cuốn Thơ văn Nguyễn Khuyến tác giả Hoàng Hữu Yên nhận định: “Đọc thơ
văn Nguyễn Khuyến ta thấy toát lên một nỗi niềm tâm sự thấm thía yêu nước thương nòi vô
Trang 9hạn nhưng luôn tự cảm thấy bất lực không có cách nào để cứu vãn nạn nước Nỗi niềm tâm sự ấy gửi vào tứ thơ chi phối cả cuộc sống hàng ngày của nhà thơ” [1,14] Khoá luận này xin bổ sung, nhấn mạnh theo hướng tiếp cận mới:
nỗi buồn đau trong thơ làng cảnh của Nguyễn Khuyến với những ám ảnh đau
buồn, thê lương Trong công trình nghiên cứu “Văn học trung đại Việt Nam
dưới góc nhìn văn hoá” Trần Nho Thìn đã chỉ ra: “Thiên nhiên làng quê không còn là không gian thanh tĩnh, xa lánh vật dục, xa lánh chốn thị thành bon chen danh lợi như không gian thơ nhà nho truyền thống nữa ” [2, 568].
Trên cơ sở kế thừa ý kiến của những người đi trước, người viết cố gắngkhảo sát tác phẩm của Nguyễn Khuyến trên cả hai phương diện chữ Hán vàchữ Nôm theo lối cảm nhận mới hi vọng có thể đem lại góc nhìn mới cho độcgiả
3 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu khoá luận này, người viết nhằm vào hai mục đích chính sau đây:1-Tìm hiểu nỗi đau buồn thê lương qua cảnh sắc làng quê
2-Tìm hiểu nỗi đau buồn, thê lương qua cuộc sống làng quê
3-Góp phần nghiên cứu, giảng dạy Nguyễn Khuyến được tốt hơn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Như tên đề tài đã xác định khoá luận tập trung vào tìm hiểu theo lối cảmnhận mới về nỗi buồn đau trong thơ làng quê Việt Nam của Nguyễn Khuyếnxét trên cả hai bộ phận chữ Hán và chữ Nôm
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Những bài thơ về cảnh sắc và cuộc sống nông thôncủa Nguyễn Khuyến
- Phạm vi tư liệu: Khoá luận được triển khai dựa trên nguồn tư liệu đã
được công bố như: “Thi hào Nguyễn Khuyến đời và thơ” (Nguyễn Huệ
Trang 10Chi) “Nguyễn Khuyến và giai thoại” (Bùi Văn Cường sưu tầm, biên soạn); “Nguyễn Khuyến tác phẩm” (Nguyễn Văn Huyền)
5 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứuchính sau:
- Phương pháp thống kê phân loại
- Phương pháp liên ngành
- Phương pháp so sánh
Trong quá trình triển khai khoá luận, người viết không tuyệt đối hoáphương pháp nào, lúc cần thiết có thể sử dụng tổng hợp cả ba phương pháptrên
6 Bố cục khoá luận
A Phần mở đầu
B Phần nội dung
Chương 1: Nguyễn Khuyến và sự gắn bó với làng quê
Chương 2: Thơ làng quê của Nguyễn Khuyến – ám ảnh đau buồn, thê
lương
C Phần kết luận
Trang 11B PHẦN NỘI DUNG Chương 1 NGUYỄN KHUYẾN VÀ SỰ GẮN BÓ VỚI LÀNG QUÊ
1.1 Bối cảnh thời đại
Tam nguyên Yên Đổ là một trong những nhà Nho lớn, đại quan cuối cùngcủa triều Tự Đức Đó cũng là lúc Nho giáo ở Việt Nam đã tàn lụi NguyễnKhuyến sống trọn đời trong hoàn cảnh tăm tối khổ đau nhất của lịch sử Ông
là một trong những đại diện tiêu biểu cuối cùng của văn học Việt Nam, tậnmắt trông thấy bi kịch lịch sử của triều đình nhà Nguyễn và sự phát triển hếtsức mạnh mẽ của các phong trào yêu nước chống lại gót giầy ngoại xâm.Chính vì thế, ông cũng là người nhận thấy một cách đau xót nhất sự tàn lụicủa hệ tư
tưởng Nho giáo lỗi thời cũng như sự bất lực đến hài hước của một loại hình tríthức đại diện cho hệ tư tưởng lỗi thời ấy trước thực tế lịch sử Nguyễn Khuyến
ra làm quan giữa thời loạn lạc, cơ đồ nhà Nguyễn như sụp đổ hoàn toàn chính
vì vậy bao ước mơ khát vọng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân ông khôngthể thực hiện được
Trong khi Nguyễn Khuyến còn đang dùi mài kinh sử thì năm 1858 quânPháp đã nổ phát súng xâm lược đầu tiên vào bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), tiếptheo chúng quay sang đánh chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (1862) rồichiếm nốt ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ (1867) Sau đó, chúng đánh ra miền Bắc
và lần
lượt đánh ở Hà Nội (1882), đánh kinh thành Huế (1885)
Đứng trước thực tế lịch sử đó, triều đình nhà Nguyễn đứng đầu là Tự Đức
đã không lãnh đạo nhân dân đứng lên chống xâm lược bảo vệ chủ quyền dântộc mà thay vào đó là sự bất lực của vua tôi nhà Nguyễn Chúng lần lượt đầuhàng giặc, lần lượt kí các hiệp ước trao đổi đất đai về tay giặc Pháp Năm
1862 kí hiệp ước nhường ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, năm 1867 kí hiệp ước
Trang 12nhường ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ, đến 1883 hiệp ước Hasmard được kí kết vàđến năm
Trang 131884 kí hiệp ước Panternot nhường cả nước cho giặc Sau ba mươi năm lấnchiếm của thực dân Pháp, Việt Nam đã hoàn toàn rơi vào tay giặc Trong hoàncảnh lịch sử ấy, Nguyễn Khuyến đã bước vào con đường hoạn lộ, con đườngduy nhất đối với một trí thức phong kiến muốn lập thân, muốn đem sở học raphò đời giúp nước.
Triều đình Huế để mất nước, can tâm làm tay sai cho giặc nhưng nhândân Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm rất oanhliệt thì không bao giờ chịu khuất phục Họ quyết vùng lên đấu tranh để giànhlại chủ quyền cho đất nước Vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vương, đứng vềphía nhân dân lãnh đạo nhân dân tổ chức kháng chiến kiến quốc Nhiều sĩ phuyêu nước có đủ dũng khí lãnh đạo cách mạng đã tổ chức nhân dân kháng chiếnnhư Trương Định, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Tôn Thất Thuyết,Nguyễn Xuân Ôn Một số trí thức khác tuy không trực tiếp cầm súng thamgia các phong trào kháng chiến nhưng họ cũng kiên quyết không hợp tác vớigiặc Trước cảnh nước mất nhà tan họ cảm thấy xót xa tủi nhục, băn khoăntrăn trở vì vận nước lâm nguy Họ muốn cứu dân cứu nước nhưng lại chưa đủdũng khí nên một bộ phận đã phải tìm về lánh ẩn, giữ trọn khí tiết nơi thôn dãthiên nhiên Nguyễn Khuyến chính là tiêu biểu cho số trí thức này Ông chưa
đủ dũng khí hoà vào cuộc chiến đấu nhưng ông cũng không can tâm chứngkiến sự thối nát của triều đình nên đã chọn cho mình một con đường là cáoquan về ở ẩn Đây có thể là một hạn chế của Nguyễn Khuyến nhưng hạn chếnày cũng dễ hiểu Bởi Nguyễn Khuyến là một nhà nho, dưới thời phong kiếnnhà Nguyễn đã từng ba lần đậu đầu, từng được Tự Đức ban cho cờ biển nhưthế có nghĩa ông là một nhà nho chính thống Dưới thời nhà Nguyễn thì Nhogiáo độc tôn, các vua nhà Nguyễn luôn có ý thức dùng Nho giáo làm vũ khítinh thần để củng cố triều đại của mình Suốt gần 30 năm lặn lội nơi cửaKhổng sân Trình, tư tưởng Nho giáo ảnh hưởng trong ông rất sâu nặng Vìvậy, với Nguyễn Khuyến chắc chắn không
Trang 14có một quan niệm nào khác là trung quân, thờ vua giúp nước Có lý tưởngnhưng vì lịch sử, không đủ dũng khí mà ông đã phải chọn cách lui về ở ẩn nơiquê nhà Và cũng chính trong hoàn cảnh lịch sử ấy, Nguyễn Khuyến đã thểhiện tài năng của mình và thành công trên cả hai phương diện: tài học và tàivăn thơ, cả hai đều xuất sắc, cả hai tài năng đều để lại cho đời những giá trị tolớn Vì thế từ trước đến nay cho đến cả mai sau, Nguyễn Khuyến luôn đượccoi là một trong những tác gia lớn của nền văn học dân tộc.
Có thể thấy, Nguyễn Khuyến sống và chứng kiến bi kịch nước mất nhàtan, xã hội đầy rẫy những điều bất đạo, ông đã phản ánh nó rất chân thực trongtác phẩm của mình Bối cảnh lịch sử có ảnh hưởng không nhỏ đến các sángtác của ông
1.2 Tiểu sử và con người
Từ một thế kỉ nay, đa số các tài liệu đều ghi chép tên nhà thơ là NguyễnKhuyến Nhưng nhân dân thường gọi theo cách tôn trọng, kiêng huý là Tamnguyên Yên Đổ hoặc Hoàng Và, do ghép học vị Tam nguyên – Hoàng giáp,với tên làng xã quê hương ông, làng Và (tên chữ là Vị Hạ), xã Yên Đổ, huyệnBình Lục (nay thuộc xã Trung Lương, huyên Bình Lục, tỉnh Hà Nam Ninh).Nguyễn Khuyến sinh ngày 15 tháng 2 năm 1835, tại quê ngoại làng Hoàng
Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, nhưng ông chủ yếu lớn lên tại quê cha làngYên Đổ - Bình Lục – Hà Nam
Nhà thơ nguyên có tên là Thắng, hiệu Quế Sơn (một ngọn núi cao đẹptrong huyện), khi thi cử thành đạt mới đổi tên thành Nguyễn Khuyến, tự MiễnChi (nghĩa là Gắng lên, do chữ Khuyến mà ra)
Nguyễn Khuyến sinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, có truyềnthống học hành Bên nội quê gốc ở Can Lộc – Hà Tĩnh, di cư ra Yên Đổ chođến đời nhà thơ đã được năm trăm năm Ông nội là Nguyễn Tông Tích đỗnho sinh, cha là Nguyễn Liễn đỗ liền ba khoá tú tài, chuyên nghề dạy học
Mẹ là Trần
Trang 15Thị Thoan (1799-1874) – con ông Trần Công Trạc đã đỗ sinh đồ thời Lê Mạt.
Trong cuốn Nguyễn Khuyến tác phẩm (Nguyễn Văn Huyền xuất bản năm
2002), theo lời nhà thơ kể lại trong Gia phả thì: mẹ ông là một bậc nữ lưu mẫu
mực trong xã hội cũ “tính tình đoan trang, trầm tĩnh, thuận hoà” lại rất mực
thương người, mọi việc nữ công gia chánh đều thông thạo Cả một đời bà chịuthương chịu khó, phụng dưỡng bố mẹ chồng, chăm chỉ làm lụng, có lúc phảibán cả tư trang, may thuê vá mướn kiếm sống để khuyến khích nuôi chồngcon ăn học
Thửa hưởng truyền thống của gia đình, từ bé Nguyễn Khuyến đã nổi tiếng
là người ham học hỏi, thông minh tài giỏi hơn người
Năm 17 tuổi, ông đi thi Hương với cha nhưng không đỗ, ba khoa thiHương tiếp theo 1855, 1858, 1861 ông cũng đều thi trượt Đã có thời gian anhkhoá Thắng nản đường thi cử định chuyển nghề dạy học để trang trải cuộcsống, đỡ đần vợ chăm lo gia đình Nhưng may mắn, ông đã được một ngườibạn tên là Vũ Văn Báo nhận chu cấp lương ăn và khuyên đến học với cha củamình là Tiến sĩ Vũ Văn Lý ở xã Vĩnh Trụ - huyện Nam Xang (Lý Nhân – HàNam ngày nay) Bà mẹ ông cũng ân cần, nghiêm khắc khuyên con chớ thoáilui Do vậy, khoa thi năm 1864, Nguyễn Khuyến đỗ đầu kì thi Hương Sau đóông vào thi Hội các khoa thi năm 1865, 1868 nhưng không đỗ Cho đến năm
1871 mới liên tiếp đỗ đầu thi Hội, thi Đình khi đó ông 37 tuổi Như vậy, cả ba
kì thi ông đều đỗ đầu nên được cờ biển vua ban và tên Tam nguyên Yên Đổxuất hiện từ đó Triều đại nhà Nguyễn cho đến thời Nguyễn Khuyến chỉ có haingười đỗ tam nguyên thì Nguyễn Khuyến là một, còn người thứ hai là TrầnBích San (Vị Xuyên – Nam Định) Do vậy, thành tích đó đối với NguyễnKhuyến là sự cố gắng phi thường
Sau khi thi đỗ, Nguyễn Khuyến được bổ nhiệm làm quan ở nội các Huế,năm sau đổi ra làm đốc học Thanh Hoá, rồi Án sát Nghệ An nhưng được mấy
Trang 16tháng thì mẹ ông qua đời, ông xin về quê chịu tang mẹ ba năm Mãn tang ôngvào kinh tiếp tục làm quan và giữ nhiều các chức vụ khác nhau: Biện lí bộ Hộ,
Bố chánh Quảng Ngãi, Trực học sĩ, Phó sư Cuối năm 1883 ông được giữchức quyền tổng đốc Sơn Tây – Hưng Yên – Tuyên Quang nhưng chính lúcnày ông viện cớ đau mắt nặng cáo quan về làng, khi ấy ông mới 50 tuổi(1884)
Quyết định cáo quan về làng là quyết định có ý nghĩa quan trọng tạo rabước ngoặt lớn trong cuộc đời ông Hành động ấy thể hiện tinh thần yêu nước,bộc lộ nhân phẩm đáng trân trọng của Nguyễn Khuyến Khi ông kiên quyếtkhông màng đến danh lợi mà lúc đó thực chất là làm tay sai cho giặc Đâycũng chính là khoảng thời gian giúp ông có điều kiện hoà mình với cuộc sống
cơ khổ và thân phận mất nước của bà con làng xóm quê hương
Ngày 5 tháng 02 năm 1909 (tức ngày 15 tháng Giêng năm Kỉ Dậu) NguyễnKhuyến đã trút hơi thở cuối cùng, thọ 75 tuổi
Như vậy, Nguyễn Khuyến đã làm quan trong khoảng 13 năm (trong đó có
ba năm về chịu tang mẹ), còn phần lớn cuộc đời ông gắn bó với làng quêchiêm trũng Bình Lục Do đó, Nguyễn Khuyến rất am hiểu cuộc sống nôngthôn, ông gắn bó với người nông dân, với quê hương như máu thịt Đó chính
là nguyên nhân quan trọng đưa nhà thơ đến thành công đặc biệt khi viết vềnông thôn
1.3 Sự gắn bó với làng quê của Nguyễn Khuyến
Mùa thu năm 1884, Nguyễn Khuyến trở về vườn Bùi để tìm kiếm sự bình
yên trong tâm hồn, để tạm quên đi những điều day dứt trong lòng Năm 1852,ông lấy vợ và đi thi Hương lần đầu tiên cùng với cha nhưng không đỗ Năm kếtiếp, trong địa phương bỗng xuất hiện dịch thương hàn, anh khoá Thắng mắcbệnh suýt chết Cha và em ruột cùng nhiều họ hàng thân thuộc cũng qua đờitrong cơn đại dịch kinh hoàng ấy Gia đình anh khoá Thắng càng lâm vào cảnh
Trang 17xác xơ, tiêu điều đói rét Từ năm 1854, anh phải tiếp tục theo nghề cha đi dạyhọc ở nhiều nơi để trang trải học phí và cuộc sống, lần lượt ở Lạng Phong
Trang 18(huyện Nho Quan), Kỷ Cầu (huyện Thanh Liêm) , vừa lần lượt học các ôngGiáo thụ Nho quan là Phạm Mỹ, Đốc học cử nhân Trần Duy Vỹ ở xã Vũ Bản,được Vũ Văn Báo giúp đỡ cho chỗ ăn ở và khuyên đến học với cha mình làTiến sĩ Vũ Văn Lý ở xã Vĩnh Trụ huyện Nam Xang Mãi đến năm 1871, ôngliên tiếp đỗ đầu thi Hội, thi Đình Như vậy, trước khi đỗ đạt làm quan năm1871
Nguyễn Khuyến đã có 17 năm gắn bó với quê nhà và gần 20 năm lênh đênhđây đó vừa dạy học kiếm sống vừa tìm thầy học cho mình
Sau 13 năm làm quan (trừ ba năm về quê chịu tang mẹ), mùa thu năm
1884, ông trở về quê Yên Đổ khi mới 50 tuổi và gắn bó với nơi “chôn nhau
cắt rốn” của mình cho đến khi trút hơi thở cuối cùng là lúc 75 tuổi.
Như vậy, trừ thời gian làm quan và lên Hà Nội dạy học, ông đã sống ởquê nhà hơn 40 năm Do đó, ông am hiểu từ bụi tre, bờ ao, ruộng đồng, vườntược, đến làng xóm, dân tình, phong tục Tuy Nguyễn Khuyến không trực tiếp
làm ruộng, trong cuốn “Tuyển chọn và trích dẫn những bài phê bình – bình
luận văn học của các nhà văn – nghiên cứu Việt Nam – thế giới” tác giả Chu
Văn có viết “Người ta thì cày cuốc, cưa đục, đan lát, be tát, chài lưới Tối tối,
nhà đó có đồng tiền bát gạo Ông già Tam dài lưng tốn vải, chẳng biết cấy cày, nề mộc gì, có mỗi một cây bút vốn liếng, và ít chữ để bụng.” [3,15-16]
nhưng nhờ gắn bó với người dân thôn quê nên ông hiểu rất rõ về cuộc sốngcủa họ Bởi vậy ông mới có những vần thơ rất Việt Nam:
“Năm gian nhà cỏ thấp le te, Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè.”
Nhắc đến Nguyễn Khuyến là ta nhớ ngay đến những vẫn thơ thu đặc
sắc Nguyễn Khuyến trở thành thi sĩ của mùa thu với ba bài thơ bất hủ: Thu
điếu, Thu ẩm,Thu vịnh Tuy rằng trước kia cũng có những bài thơ tả cảnh thu
nhưng có vẻ như thi liệu trong đó còn được vay mượn nhiều từ Trung Hoa vàđầy khuôn sáo:
Trang 19“Lác đác ngô đồng mấy lá bay, Tin thu heo hắt lọt hơi may.”
(Hồng Đức quốc âm thi tập)
So với thơ của Nguyễn Khuyến, có phần chưa đặc sắc bằng:
“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.”
(Thu điếu)
Ngay cả khi tả một ngôi chùa cũ kĩ cùng với một nhà sư đơn độc, ôngcũng sử dụng những hình ảnh thật đẹp:
“Chùa xưa ở lẫn cùng cây đá,
Sư cụ nằm chung với khói mây.”
(Nhớ núi Đọi - II)
Nhưng đây là hình ảnh “sương khói” rất hiếm khi ta bắt gặp trong thơ
Nguyễn Khuyến, đa số là những hình ảnh quen thuộc, chất phác, gắn liền vớichân quê như: con trâu, con gà, ngõ trúc, đường làng, khúc sông, bãi chợ,
vườn
cà, cây cải, ao cá, bờ tre:
“Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt, Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.”
(Thu điếu)
Tuy nhiên, điều khiến cho Nguyễn Khuyến thực sự trở thành nhà thơcủa làng quê Việt Nam không chỉ dừng lại ở những vần thơ tả cảnh mà còn làtình cảm chân thành của ông đối với những người nông dân lầm than cơ cực
Ông thực sự thông cảm với đời sống cực nhọc của nhân dân phải “một nắng
hai sương” lại thêm cảnh thiên tai hoành hành khiến đê vỡ lụt lội, nghèo túng
làm ăn thất bát, nợ nần “lãi mẹ đẻ lãi con” Có thể nói rằng: với Nguyễn
Trang 20thơ văn Việt Nam “lội xuống ruộng đồng” và cảm thông sâu sắc với dân quê,
bao thì lại đau lòng khi “mắc ngay nạn chuột” Nhà nông quanh năm lo lắng, vất vả chẳng lúc nào được yên mà cuộc sống vẫn vất vả “đầu tắt mặt tối”, nợ
Khuyến cùng “đồng cam cộng khổ” gắn bó với nghề nông Dù gia đình ông
có truyền thống khoa bảng nhưng ông cũng không quên dặn các con mỗi khixuân
về:
“Nhi tào hoặc khả thừu ngô chi,
Bút nghiễm vô hoang đạo, thúc, sơ.”
(Ngày xuân dạy con học)
“Các con nối chí cha nên biết:
Nghiên bút đừng quên, lúa, đậu, cà.”
(Vũ Mộng Hùng dịch)
Trang 21Chính việc trở về quê nhà đã giúp cho Nguyễn Khuyến không hoàn toànphụ thuộc vào tư tưởng trung quân lỗi thời, xa dần những ảnh hưởng của tưtưởng Nho giáo, những tầm chương trích cú, những ước lệ tượng trưng sáorỗng Mặt khác, ông kế thừa và cách tân văn chương truyền thống để có nhữngtác phẩm văn chương đích thực diễn tả cuộc sống khó nhọc của người dân Ở
đó, ông xây dựng được những hình ảnh cụ thể, miêu tả một hiện thực phongphú sinh động mà không kém phần ý vị Để làm được điều đó NguyễnKhuyến đã phải hoà mình vào cuộc sống của nhân dân mong muốn vơi đitrong lòng mình sự áy náy day dứt, đau khổ về mặc cảm của bản thân Ôngtìm thấy nơi thiên nhiên sự thanh thản trong tâm hồn, niềm lạc quan yêu đờikhi hoà mình vào cuộc sống vất vả của người nông dân, sống cùng tình cảmthân mật của xóm làng
Nguyễn Khuyến sống gần gũi với người nông dân, trong cuốn Nguyễn
Khuyến và giai thoại, Chu Văn có viết: “Nếu gặp một vài ông có tuổi, Cụ dừng lại hỏi về cánh lúa sào mạ, ruộng khoai nào tốt xấu, trong nhà thì con
gà con lợn, có hay ăn chóng lớn không? Gặp một đám đang chí chát đục tre,
xẻ gỗ làm ngôi nhà mới, thợ thuyền râm ran, Cụ rẽ lối lần vào, cùng ngồi trên manh chiếu chủ nhà trải vội nơi vỉa hè, uống bát nước chè tươi Cụ mời trầu các bác phó cả, phó hai, các chú thợ bạn, xuề xoà, thân thuộc.” [4,16].
Từ đây ta có thể thấy, Nguyễn Khuyến có một tâm hồn thật bình dân
Và văn học sử cho ta thấy: chưa từng có một vị quan lớn tổng đốc nào lại đilàm câu đối, câu phúng điếu cho người láng giềng, bà thông gia, anh thợ rèn,chị thợ nhuộm, chị hàng thịt Những câu đối thật đẹp, thật hay và cũng chứađầy tình cảm đôi khi có chút hài hước bên trong, như câu đối cho chị vợ anhhàng
thịt để treo trong nhà:
“Tứ thời bát tiết canh chung thuỷ Ngạn liễu đôi bồ dục điểm trang”
Trang 22(Bốn mùa, tám tiết bền chung thuỷDặm liễu, gò bồ, muốn điểm trang)Hai vế của câu đối rất chỉnh, nó nói lên sự thông cảm với nỗi lòngngười goá phụ, nhưng cũng có những hình ảnh phù hợp với nghề nghiệp của
cặp vợ chồng: “bát tiết canh, đôi bồ dục” Tác giả rất hóm hỉnh và cũng rất
sâu sắc
Từ xưa tới nay có rất nhiều thi sĩ viết về cảnh làng quê Việt Nam nhưng
ít nhiều cảnh trong đó còn xa lạ, thi tứ vẫn vay mượn từ thơ Đường Sau này
có những thi sĩ như Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân, Nguyễn Bính, Anh Thơ đãmiêu tả nhiều nét đẹp của làng quê và tâm tình người nông thôn nhưng có lẽmộc mạc và chân thực hơn cả ta vẫn nên tìm đến với những vần thơ của cụTam
Chúng ta cảm thông với những day dứt, băn khoăn, với nước mắt và nụcười của nhà thơ Nguyễn Khuyến gắn bó với cuộc sống nơi thôn dã, bởi vậy,ông đã sử dụng những thi liệu dân tộc để miêu tả phong cảnh nông thôn, khắchoạ một cách chân thực cuộc sống cực khổ nhưng vẫn nên thơ của những
người dân lành, ông “thi vị hoá” tình bạn, cười cái đáng cười và khóc điều
đáng khóc trong xã hội và nhất là đã yêu mến quê hương với một tấm lòngchân thành Như vậy, từ đây ta có thể khẳng định thêm một lần nữa Nguyễn
Khuyến thực sự là “nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam”.
Trang 23Chương 2: THƠ LÀNG QUÊ CỦA NGUYỄN KHUYẾN – ÁM ẢNH
ĐAU BUỒN, THÊ LƯƠNG 2.1 Đau buồn thê lương qua cảnh sắc làng quê
2.1.1 Cảnh ngột ngạt, hư ảo
Khi làm khoá luận này chúng tôi khảo sát số lượng bài thơ viết về cảnhlàng quê ám ảnh đau buồn, thê lương của Nguyễn Khuyến trên cả hai phươngdiện chữ Hán và chữ Nôm theo từng tiêu chí cụ thể, và ở mục này chúng tôi khảo sát được số liệu như sau:
trăm (%)
Cảnh ngột ngạt, hư ảo của chốn làng
Bảng 2.1
Được mệnh danh là thi sĩ của làng cảnh Việt Nam, Nguyễn Khuyến đãlàm nhiều bài thơ về ngày xuân và mùa hạ, nhưng điều thực sự làm nên tên
tuổi của Yên Đổ tiên sinh ta phải kể tới chùm ba bài thơ thu: Thu ẩm, Thu
điếu, Thu vịnh Bên cạnh những chiếc lá ngô đồng, tiếng chày đập vải công
thức xa lạ trong thơ thu chữ Hán của ông, ba bài thơ Nôm hiện ra như mộttuyệt phẩm Phần lớn các tác giả đều cho rằng ba bài thơ thu khắc hoạ mộtcách sinh động, chân thực cảnh thu của đồng bằng Bắc Bộ; Nguyễn Khuyếnlàm thơ không đơn giản chỉ là thơ tả cảnh mà tác giả đã âm thầm gửi gắm vào
đó nỗi đau thời thế kín đáo trước thực tế lịch sử Những nhận định này đã tồntại nhiều năm qua nhiều thế hệ và nhận được sự đồng tình của độc giả Mỗibài thơ thu hiện lên như một bức tranh tuyệt đẹp được chạm khắc bằng ngôn
từ diễn tả đúng tình đúng cảnh của ngày thu đồng bằng Bắc Bộ với những nétđặc trưng: trời xanh,
nước trong, lá vàng, ngõ vắng… Đọc ba bài thơ ta cảm nhận được trong đó
Trang 24không khí êm dịu, yên ả, thanh bình tự bao đời Tuy nhiên, văn chương không
có tính chính xác tuyệt đối Nếu ta tiếp cận ba tuyệt phẩm ngôn từ này ở mộtgóc độ khác, ta sẽ thấy thấp thoáng đâu đó là cảnh ngột ngạt, hư ảo của chốnlàng quê
Ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến là sự kết tụ của cảnh vật ngột ngạt,
hư ảo Trong quan niệm của hầu hết các tác giả trung đại đều đặt con ngườigiữa trời đất vũ trụ, coi trọng không gian bao la lớn rộng để thể hiện khí pháchanh hùng:
“Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu,”
(Thuật Hoài – Phạm Ngũ Lão)
Ở đây, Nguyễn Khuyến không đi theo lối mòn của thứ văn chương bác
học, ông mở đầu bài Thu điếu bằng hình ảnh chiếc ao bé nhỏ:
“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo”
Dường như có cái gì đó vừa mơ hồ, vừa quạnh quẽ tịnh liêu trong không gian
tĩnh lặng này Cái ao làng, ao trong vườn thường là “ao tù nước đọng” nhỏ
hẹp bị giới hạn bốn phía đã vậy lại bị co lại bởi tiết trời se lạnh của trời thu
khiến nó đã nhỏ lại càng nhỏ hẹp hơn Thêm nữa, tính từ “trong veo” vừa
diễn tả độ trong của nước vừa gợi ra cảm giác có thể nhìn rõ cả đáy ao Vậy là,
từ “trong veo” đã gợi ra cả giới hạn chiều rộng cũng như chiều sâu của cái ao
nhỏ hẹp Độ hẹp của ao vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại mà như càng nhỏ hơnbởi sự xuất hiện của vần “eo” – bất kể từ nào khi phát âm có vần này miệng
đều bị co tròn lại Ở câu thơ đầu ta đã thấy vần “eo” trong hai từ: “lạnh lẽo”,
“trong veo” Từ “eo” còn được xuất hiện nhiều lần trong bài thơ: “veo, teo, vèo, teo, bèo” tạo cho người đọc cảm giác ngột ngạt, vây hãm Như vậy,
trạng thái nhỏ hẹp đã được thể hiện ba lần ở câu thơ đầu, sau mỗi từ ngữ độhẹp của không gian càng thu nhỏ thêm lại Cái ao vốn dĩ đã nhỏ nay còn như
cố gắng co đến mức
Trang 25không thể nhỏ hơn được nữa Tính chất nhỏ bé còn bao trùm lên toàn bộ bài
thơ do tác giả sử dụng vần “eo” là vần chủ đạo cho cả bài thơ.
Làn nước trong xanh và lạnh lẽo, lạnh vì tiết thu đang độ cuối mùa.Nhưng cái lạnh ở đây còn gợi một cảm giác cô quạnh lạ lùng và trên cái màuxanh đó, một vệt xám rất nhỏ, một chiếc thuyền con xuất hiện:
“Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”
Câu thơ chỉ nói cảnh, chưa nói đến người, nhưng chính là nhà thơ đang thumình lại càng bé nhỏ hơn trong chiếc thuyền câu bé tẻo teo ấy Cảnh và ngườidường như đã hoà cùng thành một khối bất động, một nỗi im lặng mênh mông
đang trải dài ra mãi Hơn nữa, tác giả đã sử dụng từ chỉ số ít “một” kết hợp với từ láy “tẻo teo” khiến con thuyền thêm phần nhỏ bé hơn – tưởng như chỉ
một chấm nhỏ xíu và không thể nhỏ hơn được nữa Trạng thái tương tự cũng
xuất hiện ngay từ đầu bài Thu ẩm:
“Năm gian nhà cỏ thấp le te, Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè.”
Cuối thế kỉ XIX, một trong những nét phổ biến của người dân đồngbằng Bắc Bộ là căn nhà năm gian Đặc điểm của loại nhà này là bé nhỏ và rấtthấp muốn ra vào nhiều khi phải cúi đầu Thấp đến mức le te – nghĩa là thấpđến mức không thể thấp hơn được nữa Không gian nhỏ hẹp này tiếp tục được
thể hiện qua hình ảnh “ngõ” Trên là trời xanh bát ngát, dưới là ngõ trúc trầm mặc quạnh quẽ, hai chữ “quanh co” như một nét vẽ linh hoạt tạo nên một
đường uốn lượn chuyển động, đồng thời cũng gây một cảm giác heo hút cô
đơn: “khách vắng teo” càng tăng thêm sự tĩnh mịch tột cùng của cảnh: không
một bóng người, không một tiếng động Cảnh vật như lặng thinh, thời gian
như ngưng đọng nhường chỗ cho một ý thu mênh mông bát ngát Trong Thu
ẩm không gian ngõ chìm trong đêm tối – ngõ tối Bóng tối bao trùm con ngõ
nhỏ khiến nó càng bị thu hẹp thêm Ta cảm nhận được không gian nào cũng tùtúng,
Trang 26nhỏ bé Xem xét từng hình ảnh ta nhận thấy hình ảnh nào cũng nhỏ nhoi: ao,nhà, ngõ, chiếc lá nhỏ bé rụng rơi, con sóng, bèo, thuyền… Từ những phântích trên, người yêu thơ có thể cảm nhận được thơ thu Nguyễn Khuyến có sắcthái ảm đạm, tù túng, ngột ngạt của cảnh nông thôn nghèo Bắc Bộ.
Bên cạnh cảnh ngột ngạt, tối tăm còn là trạng thái hư ảo, tàn tạ Cái hư
ảo tàn tạ trước hết được thể hiện ở thời gian của ba bài thơ thu Mùa thu vốn dĩ
đã gợi cảm xúc buồn, lắng đọng; trong bài thơ này tác giả lại miêu tả tiết trờithu vào khoảng thời gian chiều tối khiến tâm trạng con ngừoi càng them trùngxuống Con người thời Trung đại có tư duy âm dương rõ rệt Mùa thu, chiềutối thuộc thời gian âm (dương là mùa xuân, mùa hạ; buổi sáng, buổi trưa…).Nguyễn Khuyến đặt thời gian âm của ngày vào thời gian âm của mùa Chiều
thu trong Thu vịnh, rồi lại chiều và đêm lần lượt xuất hiện trong Thu ẩm, Thu
điếu Chỉ khác là lúc có trăng:
“Song thưa để mặc ánh trăng vào
Làn ao long lánh bóng trăng loe”
Lúc lại chỉ màu tối đen dày đặc trùm lấp, vây bủa đường thôn:
“Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè”
Thời gian chiều tối của bất kì mùa nào cũng gợi sự tàn lụi, hắt hiu Songsong với sự tàn lụi là trạng thái hư ảo (luôn vận động, biến đổi, thoắt chốc đãchuyển từ dạng thức này sang dạng thức khác) Trong thời khắc tàn lụi, hư ảocủa chiều tối mùa thu ấy, các hình ảnh khác lần lượt xuất hiện trong cùng hệ
thống với nó Đó là cần trúc trong bài Thu vịnh:
“Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu”
Từ láy “lơ phơ”gợi cảm giác thưa thớt, gầy guộc thiếu sức sống Trước làn
gió hắt hiu, cành trúc càng già yếu, xác xơ, bơ phờ Nó gần như đã cạn kiệtsức sống Hình ảnh lá vàng dường như tô đậm hơn sự tà tạ của cảnh vật:
“Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo”