Trên đây là những lí do khích lệ tác giả khóa luận lựa chọn đề tài Nghệ thuật thể hiện phong cảnh làng quê trong thơ Đặng Huy Trứ khảo sát qua tập Đặng Huy Trứ - con người và tác phẩm..
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
=== ===
DƯƠNG THỊ KIM CHI
NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN PHONG CẢNH LÀNG QUÊ TRONG THƠ
ĐẶNG HUY TRỨ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Hà Nội, 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
=== ===
DƯƠNG THỊ KIM CHI
NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN PHONG CẢNH LÀNG QUÊ TRONG THƠ
ĐẶNG HUY TRỨ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
ThS AN THỊ THÚY
Hà Nội, 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến ThS An Thị Thúy đã tận tìnhhướng dẫn, động viên, giúp đỡ, chỉ dạy, tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thànhviệc nghiên cứu đề tài này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Bộ môn Văn học Việt Nam,khoa Ngữ văn, nhờ sự nhiệt tình chỉ dẫn của các thầy cô, tôi đã học tập vàkhắc phục được những thiếu sót trong khóa luận
Xin cảm ơn sự hỗ trợ quý báu về mặt tinh thần của gia đình và sự giúp
đỡ của bạn bè đã chia sẻ, động viên tôi trong suốt thời gian vừa qua
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Dương Thị Kim Chi
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài: Nghệ thuật thể hiện phong cảnh làng quê
trong thơ Đặng Huy Trứ và toàn bộ nội dung khóa luận là kết quả nghiên cứu
của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên hướng dẫn Các tàiliệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực, không trùng lặp đềtài và chưa từng được công bố trong bất kì một công trình nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước lời cam đoan của mình
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Dương Thị Kim Chi
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Cấu trúc khóa luận 4
NỘI DUNG 5
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 5
1.1 Tác giả Đặng Huy Trứ 5
1.1.1 Thời đại 5
1.1.2 Cuộc đời và con người 7
1.2 Sự nghiệp sáng tác 12
1.3 Thống kê, phân loại thơ viết về làng quê trong thơ Đặng Huy Trứ 15
1.3.1 Thơ viết về thiên nhiên làng quê 15
1.3.2 Thơ viết về cuộc sống sinh hoạt làng quê 15
1.3.3 Nhận xét rút ra từ số liệu thống kê 16
Chương 2: BÚT PHÁP THỂ HIỆN PHONG CẢNH LÀNG QUÊ TRONG THƠ ĐẶNG HUY TRỨ 17
2.1 Bút pháp ước lệ 17
2.2 Bút pháp tả thực 20
2.2.1 Bút pháp tả thực qua miêu tả thiên nhiên làng quê 20
2.2.2 Bút pháp tả thực qua miêu tả cuộc sống sinh hoạt làng quê 25
Chương 3: HÌNH TƯỢNG NGHỆ THUẬT VÀ NGÔN NGỮ MIÊU TẢ PHONG CẢNH LÀNG QUÊ TRONG THƠ ĐẶNG HUY TRỨ 42
3.1 Hình tượng nghệ thuật 42
3.1.1 Hình tượng thiên nhiên 42
Trang 63.1.2 Hình tượng con người 46 3.2 Ngôn ngữ 52
KẾT LUẬN 57 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7và để lại một số lượng tác phẩm đáng kể Theo như nhóm Trà Lĩnh đã thống
kê bước đầu thì ông đã để lại 12 tập thơ với hơn 1.200 bài, 4 tập văn bao gồmnhiều thể loại, 1 tập hồi kí và một số loại sách khác Thơ văn Đặng Huy Trứphản ánh chân thực xã hội Việt Nam thế kỉ XIX, đặc biệt là đã khắc họa nhiềukhía cạnh của làng quê Việt Nam
Làng quê là một đề tài quen thuộc và gắn bó với nhiều tác giả và ĐặngHuy Trứ cũng không ngoại lệ Trong số lượng thơ Đặng Huy Trứ để lại,những bài thơ về đề tài làng quê chiếm số lượng không nhỏ Viết về làng quê,Đặng Huy Trứ đã phản ánh mọi mặt đời sống nơi làng quê Các ngành nghề,phong tục tập quán, con người đều được nhắc đến Từ người vú nuôi trẻ đếnnhà nho nghèo bán chữ, từ người phụ nữ chăn tằm đến người thợ cày, từ việc
ma chay cúng giỗ đến trồng cây nêu ngày tết, đều được thể hiện Có thể nóilàng quê là nguồn cảm hứng vô tận đối với ông Và chính những yếu tố đó đãkhiến ông trở thành một nhà thơ hiện thực về làng quê trước cả NguyễnKhuyến – người được mệnh danh là nhà thơ của quê hương, làng cảnh ViệtNam Tuy vậy, đến nay Đặng Huy Trứ và các tác phẩm của ông vẫn còn ítđược biết đến
Trên đây là những lí do khích lệ tác giả khóa luận lựa chọn đề tài Nghệ
thuật thể hiện phong cảnh làng quê trong thơ Đặng Huy Trứ (khảo sát qua tập Đặng Huy Trứ - con người và tác phẩm) Qua đó, giúp chúng ta có cái nhìn
Trang 8đầy đủ hơn về con người và sự nghiệp của Đặng Huy Trứ đồng thời khẳngđịnh vị trí, vai trò, đóng góp của tác giả với nền văn học dân tộc.
2 Lịch sử vấn đề
Đặng Huy Trứ là nhà thơ còn được ít người biết đến, các tác phẩm củaông chỉ đến gần bạn đọc hơn sau khi được nhóm Trà Lĩnh sưu tầm và công
bố nên đến giờ vẫn còn khá ít các công trình nghiên cứu về ông
Mới chỉ có một số ít công trình nghiên cứu và giới thiệu về Đặng HuyTrứ như:
Nhóm Trà Lĩnh, Đặng Huy Trứ - con người và tác phẩm Đây là nhóm
đã có công đầu tiên nghiên cứu, sưu tầm, tổng hợp và giới thiệu về cuộc đờicũng như các tác phẩm của Đặng Huy Trứ
Võ Thị Quỳnh, Đặng Huy Trứ và Trăng Trong bài báo này tác giả đề
cập đến trăng trong thơ Đặng Huy Trứ và cũng khẳng định tình cảm của ĐặngHuy Trứ với vầng trăng “rất yêu Yêu rất nhiều”
Theo Nguyễn Hữu Sơn, Đặng Huy Trứ - tác gia lớn của thế kỷ 19 viết:
“Ngay từ những bài thơ đầu tay buổi thiếu thời, ông đã hướng sự quan tâm vềcác đề tài gần gũi đời sống hiện thực như Kiến lão ông đài than (Thấy ông lãovác than), Quý du tử hữu tiên mạ nô tì giả (Con nhà giàu có kẻ đánh mắng kẻ
ăn, người ở) Theo suốt chặng đường sáng tác, thế giới hiện thực được diễn
tả trong thơ ông chính là cuộc sống thường ngày diễn ra chung quanh mà ôngtừng trải nghiệm, chứng kiến” [10, tr4]
Biện Minh Điền, Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến, Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội (2008) Theo đó tác giả đánh giá thơ Đặng Huy Trứ ngồnngộn các chi tiết của hiện thực đời sống nông thôn: đàn lợn béo, phân chấtcao như thành, hạt cải rơi vào là nở mầm nhanh, Tác giả cũng khẳng địnhĐặng Huy Trứ là nhà thơ viết nhiều và sâu sắc nhất về nông thôn trước cảNguyễn Khuyến nhưng còn rất ít người biết đến và xa lạ với hậu thế
Trang 9Mai Thị Hiền, Nông thôn trong thơ Đặng Huy Trứ Bài nghiên cứu này
đã đi tìm hiểu, khảo sát thơ về đề tài nông thôn trong thơ Đặng Huy Trứ vàđưa ra đánh giá “Có thể thấy trước Nguyễn Khuyến, Đặng Huy Trứ là nhà thơviết nhiều và thể hiện đậm nét nhất về nông thôn Việt Nam với hàng trăm bàithơ có giá trị Mỗi bài thơ là bức tranh chân thực sinh hoạt, ở đó con người,phong tục tập quán, không khí đều được khắc họa tài hoa nông thôn trong thơĐặng Huy Trứ ta như cảm nhận được đó chính là con người lao động củachính nơi mình đang sống, đồng cảm với họ Với những thói quen sinh hoạtvới phong tục tập quán…đã dành vị trí lớn trong trang thơ của Đặng HuyTrứ” [7, tr87]
Có thể thấy, hầu hết các công trình, tư liệu nghiên cứu, giới thiệu vềĐặng Huy Trứ và các tác phẩm của ông chỉ mang tính chất gợi mở, chưa đầy
đủ, và việc tìm hiểu nghệ thuật thể hiện phong cảnh làng quê trong thơ ĐặngHuy Trứ chưa được bàn đến một cách tập trung Trên cơ sở kế thừa ý kiến của
những người đi trước, chúng tôi lựa chọn đề tài Nghệ thuật thể hiện làng quê
trong thơ Đặng Huy Trứ là đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của
mình
3 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu khóa luận này người viết nhằm vào mục đích chính là thấyđược nghệ thuật của Đặng Huy Trứ khi miêu tả về thiên nhiên và cuộc sốngcon người làng quê qua thơ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Như tên đề tài đã xác định khóa luận tập trung tìm hiểu những bài thơviết về làng quê trong thơ Đặng Huy Trứ Văn bản thơ chúng tôi dựa vào để
khảo sát là tuyển tập Đặng Huy Trứ, con người và tác phẩm (Nxb Thành phố
Hồ Chí Minh, năm 1990) do nhóm Trà Lĩnh sưu tầm và tổng hợp
Trang 104.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu theo các phạm vi sau:
- Thứ nhất là bút pháp thể hiện phong cảnh làng quê trong thơ ĐặngHuy Trứ
- Thứ hai là hình tượng nghệ thuật và ngôn ngữ miêu tả phong cảnhlàng quê trong thơ Đặng Huy Trứ
5 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứuchính sau:
- Phương pháp thống kê phân loại
- Phương pháp phân tích bình giảng
- Phương pháp so sánh
Trong quá trình triển khai luận văn, người viết không tuyệt đối hóaphương pháp nào, lúc cần thiết có thể sử dụng tổng hợp cả ba phương pháptrên
6 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính củakhóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung
Chương 2: Bút pháp thể hiện phong cảnh làng quê trong thơ Đặng Huy
Trứ
Chương 3: Hình tượng nghệ thuật và ngôn ngữ miêu tả phong cảnh
làng quê trong thơ Đặng Huy Trứ
Trang 11NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Tác giả Đặng Huy Trứ
Năm 1859 Pháp chiếm Gia Định Năm 1860 Pháp dồn toàn lực vàocuộc chiến với Trung Hoa, nhà Nguyễn không tận dụng được cơ hội giảiphóng Gia Định mà án binh bất động 1861, Pháp chiếm Định Tường nhàNguyễn chủ trương nghị hòa Cuối năm 1861 đầu năm 1862 Pháp đánh BiênHòa, Bà Rịa, Vĩnh Long, quan quân nhà Nguyễn tháo chạy Hiệp ước NhâmTuất (5-6-1862) được kí, theo đó, nhà Nguyễn nhượng 3 tỉnh miền Đông(Biên Hòa, Gia Định, Định Tường) và đảo Côn Lôn cho Pháp, cùng vớinhững nhượng bộ rất nặng nề khác: mở cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt, QuảngYên cho tư bản Pháp tự do buôn bán, bồi thường cho Pháp 4 triệu france
Năm 1867, chỉ trong vòng vài ngày, Pháp chiếm 3 tỉnh miền Tây(Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) mà không gặp phải sự kháng cự đáng kểnào Sau đó Pháp xúc tiến công cuộc đánh chiếm ra Bắc Kì
Trang 12Năm 1873 Pháp đánh ra Bắc Kì lần I Nhà Nguyễn không có phản ứngnên Pháp nhân cơ hội chiếm luôn các tỉnh lân cận như Hưng Yên, Nam Định,Ninh Bình Quân và dân địa phương anh dũng chiến đấu nhưng lại khôngnhận được sự ủng hộ của triều đình trái lại còn ra lệnh bắt họ rút lui Năm
1874 Triều đình Huế kí hiệp ước Giáp Tuất chính thức thừa nhận 6 tỉnh Nam
Kì thuộc Pháp Năm 1883 Nhân lúc triều đình Nguyễn lục đục, chia rẽ, vua
Tự Đức chết… Pháp kéo quân vào cửa biển Thuận An uy hiếp, buộc triềuđình ký hiệp ước Hác-măng (25-8-1883) thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp ởTrung Kì Đến năm 1884 Pháp tiếp tục ép triều đình Huế phải ký hiệp ước Pa-tơ-nốt (6-6-1884) đặt cơ sở lâu dài và chủ yếu cho quyền đô hộ của Pháp ởViệt Nam Như vậy, sau ba mươi năm Việt Nam đã hoàn toàn rơi vào taygiặc Trước cảnh nước mất nhà tan, trái ngược với sự yếu hèn nhu nhược củatriều đình nhà Nguyễn, Đặng Huy Trứ là một trong số ít quan lại thời đó đứng
về phe chủ chiến, kiên quyết không đầu hàng giặc Nhưng một cánh chimkhông thể làm nên mùa xuân, ý chí mạnh mẽ của Đặng Huy Trứ không thểcứu vãn đất nước khỏi thảm cảnh Bờ cõi tổ quốc dần rơi vào nạn xâm lăng.Đặng Huy Trứ là người sống gắn bó, gần gũi với nhân dân, hơn ai hết, ôngthấu hiểu sâu sắc nỗi khổ của nhân dân vốn đã phải vật lộn với cuộc sốngmưu sinh, ấy vậy mà nay còn phải gánh thêm nỗi đau đất nước, khổ càng khổhơn khi bị bóc lột thêm nhiều lần Bởi lẽ đó, thơ văn Đặng Huy Trứ như càngdày thêm niềm thương xót cho nhân dân, luôn trăn trở vì nước, vì dân:
“Như kim Đà Nẵng nhất Dương di,Hạp cảnh binh dân bôn mệnh bì
Cửu nguyệt tam thu hàn lạo hậu, Thiên môn vạn hộ khiết khuy kỳ
Tây chinh sĩ khí phong sương khổ, Nam cổ thần trung tiêu cán ti (tư)
Trang 13Nhục thực ngã như mưu vị quốc, Chiến, hòa, dữ, thủ thục cơ nghi?”
(Vãng Đà Nẵng quân thứ tức sự) (Một vùng Đà Nẵng rợ Tây dương,
Giữ nước, quân dân mệt lạ thường.
Cuối tiết tàn thu cơn lũ lụt, Muôn nhà thiếu bữa cảnh thê lương.
Diệt thù, sương gió thương quân sĩ,
Lo nước, đêm ngày bận đế vương.
Ăn lộc, ví cùng lo việc nước, Tính sao? Hòa, chiến, giữ hay nhường?)
(Đi quân thứ Đà Nẵng, ghi lại)
1.1.2 Cuộc đời và con người
1.1.2.1 Cuộc đời
Đặng Huy Trứ, tự Hoàng Trung, hiệu Vọng Tân, Tỉnh Trai, tục gọi là
bố Trứ - bố Đặng (do ông từng làm bố Chính), pháp danh Đức Hải (thuở thiếuthời ông từng quy y tại chùa Từ Hiếu) sinh ngày 16-5-1825 ở làng ThanhLương, nay thuộc xã Hương Xuân, huyện Hương Điền tỉnh Thừa Thiên –Huế Ông mất năm Giáp Tuất (1874) tại xã Cao Lăng, Chợ Bến, Đồn Vangthuộc tổng Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội) Sau này ông được đưa
về an tang tại Hiền Sĩ, nay là xã Phong Sơn, huyện Phong Điền, tỉnh ThừaThiên – Huế
Từ nhỏ ông đã nổi tiếng thông minh, có tài học, 15 tuổi ông đã đọcxong những bộ sách tối thiểu của nhà nho, đã hiểu sâu, biết rộng và thôngthạo các thể văn, đủ để ứng thi Năm 22 tuổi, Đặng Huy Trứ đi thi hội vớilòng đầy tin tưởng ở tài học của mình nhưng không may phạm húy nên ông bịđánh hỏng Ông bị tước luôn cả học vị cử nhân, bị đánh 100 roi và cấm thi
Trang 14trọn đời Nhưng bởi tài năng đã lan truyền, một vị quan lớn trong triều nghedanh đã mời ông về dạy học cho con cháu trong nhà Và cũng nhờ vị quannày mà 8 năm sau ông được thi lại và đỗ tiến sĩ năm 1855 Đặng Huy Trứ đãlần lượt trải qua các chức quan: Thông phán Ty Bố Chính Thanh Hóa, Trihuyện Quảng Xương, Tri phủ thiên Trương Tỉnh Nam Định, Hàn Lâm Việntrước tác, Ngự sử và cho đến năm 1864 ông được bổ nhiệm làm Bố chínhQuảng Nam.
Đặng Huy Trứ được cử đi Trung Quốc hai lần vào năm 1865 và 1867.Trong thời gian ở nước ngoài ông gặp gỡ và trao đổi ý kiến với nhiều nhà tríthức canh tân của Trung Quốc Ông tiếp xúc với việc chế tạo máy móc, đóngthuyền, đúc súng đạn, Đặng Huy Trứ đã ghi chép tỉ mỉ kỹ thuật máy hơi
nước được mô tả trong cuốn sách Bác vật tân biên của người Anh và đem về
nước Trong dịp này, ông còn mua được 239 khẩu “quá sơn pháo” có thể bắnqua núi
Trong chuyến đi Trung Quốc lần thứ hai năm 1867, Đặng Huy Trứkhông may bị ốm nặng, tưởng chừng như không thể qua khỏi Tuy vậy, nằmtrên giường bệnh ông vẫn đọc sách, viết sách, làm thơ, trao đổi thư từ với bè
bạn trong nước Cũng trong thời gian này ông đã viết cuốn Tự thụ yếu quy
nhằm chống đối thói hối lộ, tham nhũng chốn quan trường
Sau ngày về nước, Đặng Huy Trứ chuyển sang làm công tác quân sự ởmiền Bắc, giữ chức Bang biện quan vụ Lạng – Bằng – Ninh – Thái cho đếncuối năm 1873 ông lui quân về căn cứ Đồn Vàng – Hưng Hóa dưới quyềnHoàng Kế Viêm, mưu tính kháng chiến lâu dài nhưng việc trù tính còn dang
dở thì vua Tự Đức đã ký Hòa ước năm Giáp Tuất (1874)
Ngày 7-8-1874, Đặng Huy Trứ trút hơi thở cuối cùng trong niềm đauthương vô tận của Hoàng Kế Viêm, của bạn bè và đông đảo chiến sĩ yêunước Ông di chúc cho con cháu không ai được ra làm quan bởi đất nước đang
Trang 15rơi vào tay giặc và triều đình đã thỏa hiệp với giặc Ông muốn được chôn tạichỗ nhưng Tự Đức ngờ ông còn mưu việc khác nên ra lệnh bắt đưa thi hài ông
về Huế, bắt mở áo quan ra xem rồi mới cho chôn Mộ ông nay ở Hạc Thú,Hòn Thông, xã Hiền Sĩ, Huyện Hương Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế
Về đời sống riêng tư, Đặng Huy Trứ cũng gặp nhiều thử thách khókhăn Ông đem lòng yêu thương và quyết tâm lấy người con gái gặp nhiều bấthạnh vốn không môn đăng hộ đối với mình là một cô lái đò con nhà bình dân.Bác ruột ông là Thượng thư, gia đình không thể đồng ý cho ông lấy cô gái nhàthường dân là điều ông đã biết rõ Nhưng bởi tình cảm tha thiết, ông quyếttâm vượt qua mọi lễ giáo và gia đình Ông vụng trộm làm lễ cưới, chọn cuộcsống nghèo túng chồng dạy học, vợ đảm đương sinh hoạt gia đình Tuy nghèo
về vật chất nhưng tình cảm lúc nào cũng nồng đượm, luôn thủy chung son sắt
Tuy cuộc đời gặp nhiều khó khăn vất vả nhưng không thể phủ nhận
Đặng Huy Trứ đã giành được những thành công nhất định Sách Đại nam
thống nhất chí xếp ông vào hàng danh nhân với nhận định: “Đặng Huy Trứ
khảng khái có chí lớn đương trù tính làm nhiều việc chưa xong, mất ai cũngtiếc.”
1.1.2.2 Con người
Đặng Huy Trứ sinh ra trong một gia đình trí thức nghèo ở nông thôn.Ông nội và cha đều làm nghề dạy học Ông nội là Đặng Quang Tuấn (1752-1825), một nhà nho nổi tiếng, suốt đời làm nghề dạy học Truyền thống củagia đình ông là cha dạy con, anh bảo em, chú bác dìu dắt con cháu cùng nhautrau dồi đức hạnh và kiến thức Cũng bởi lẽ này, Đặng Huy Trứ suốt đời quantâm đến giáo dục gia đình, đề cao tình thương yêu, là đạo đức, là học vấn, Bởi vậy mà suốt đời ông đều một lòng một dạ yêu thương và sống với giađình nhỏ bé của mình và cũng hết lòng lo lắng, phục vụ nhân dân
Trang 16Cùng với việc xây dựng tình cảm và giáo dục đạo đức như thế, gia đìnhlại đặc biệt quan tâm và chăm lo cho Đặng Huy Trứ được học tập đến nơi đếnchốn Cũng nhờ đó, ông rất hiếu học và tài năng đã bộc lộ rõ ngay từ sớm.
Suốt 18 năm làm quan, sự nghiệp quan trường của ông đều nhằm mụcđích là canh tân đất nước Ông là nhà cải cách, gieo mầm canh tân và khai hóathời Nguyễn ở thế kỉ XIX Ông lập ra các thương điếm như Lạc Sinh Điếm,Lạc Thanh Điếm và Ty Bình để giao lưu với Tây phương tạo dựng nền tảngtài chính và quân sự cho triều đình nhà Nguyễn trong những năm 1850-1870
Đặc biệt, Đặng Huy Trứ còn được biết đến với danh hiệu ông tổ củanghề nhiếp ảnh Việt Nam bởi ông là một trong những người đầu tiên có côngđưa nhiếp ảnh vào Việt Nam bàng việc mở hiệu ảnh Cảm Hiếu Đường (ngày14-3-1869) ở phố Thanh Hà, Hà Nội
Ngoài ra, sự nghiệp của ông còn để lại dấu ấn trên nhiều lĩnh vực khác:giáo dục, văn hóa, kinh tế, văn học, lĩnh vực nào cũng có những nét đặc sắc
và nhằm mục đích duy nhất là phục vụ nhân dân, đất nước
Là nhà giáo, ông có quan điểm giáo dục dân chủ, tiến bộ, chủ trương
“sư đệ tương trưởng” (thầy và trò cùng trưởng thành) Quan niệm vừa là thầy
vừa là bạn, cùng học với học trò, thầy trò cùng đi thi
Là nhà văn hóa, ông chú ý xây dựng nhân cách con người, coi trọng laođộng và đề cao vai trò của khoa học kỹ thuật Ông nhận rõ rằng nhân dânchính là người nuôi mình và mình phải trả nợ nhân dân Ông đả kích mê tín dịđoan, óc thủ cựu, tệ giáo điều Ông đề xướng và thực hành tự do yêu đương
và hôn nhân không cần môn đăng hộ đối
Là một nhà kinh tế, ông nhận rõ vai trò quan trọng của công thươngnghiệp Ông tổ chức các hộ tiểu thủ công nghiệp lại cho vay để sản xuất vàbản thân ông cũng đứng ra để buôn bán, một nghề bị coi là nghề mạt thời đó.Ông đặc biệt quan tâm khai thác những thành quả khoa học và kỹ thuật của
Trang 17nước ngoài Ông mở nhiều hiệu buôn, không tán thành chính sách bế quan tỏacảng; mở xưởng chế tạo gang, thép, máy móc; mời chuyên gia sang giảngdạy, cử thanh niên ra nước ngoài học tập;
Là một nhà quân sự yêu nước, “chủ chiến” kiên định Đối với ông:
“Nay việc lợi hại nhất của một quốc gia chỉ có một việc là chống Tây Việc triều đình cần bàn nhiều nhất cũng chỉ có một việc duy nhất là chống tây Việc sử quan cần ghi chép cũng chỉ có một việc là chống Tây.” Ông coi quân
đội là nanh vuốt quyết định sự thắng lợi của trận đánh, coi dân là huyết mạch,định sự an nguy của đất nước Không chỉ đề cập đến yếu tố tinh thần đơnthuần, ông hiện thực hóa sức mạnh bằng việc hiện đại hóa quân đội, cổ vũđóng tàu, súng ống, xây dựng quân đội dũng cảm, có kỷ luật và nhất thiết làphải coi trọng nhân dân Ngược với chủ trương của triều đình, ông nghiên cứu
và giới thiệu ba cuốn binh thư có giá trị được viết dưới cuối triều Lê đầuNguyễn Tây Sơn
Là nhà văn, nhà thơ, ông làm thơ từ năm 15 tuổi Ông để lại khối lượngtác phẩm khá phong phú: 12 tập thơ với hơn 1200 bài; 4 tập văn; 1 tập hồi kí(một thể loại ít thấy trong kho tàng văn học Việt Nam trung đại); một số sáchgiáo khoa và nghiên cứu phần lớn đã được in và nay được lưu trữ ở Thư việnHán Nôm
Là một vị quan, ông nhận rõ trách nhiệm của mình đối với nhân dân,phải lo giải quyết nhiều việc liên quan đến đời sống của nhân dân, càng thôngcảm với muôn vàn nỗi đau khổ mà nhân dân phải gánh chịu Ông kiên quyếttránh xa cuộc sống ô uế chốn quan trường, hết sức quý trọng những người bạnlàm quan chuyên cần và liêm khiết Ông kính phục những ông quan như DoãnUẩn suốt đời sống thanh bạch, đến lúc chết, trong nhà không có tiền làm ma
Có kẻ đến nhà riêng của ông hối lộ, ông tống cổ nó đi
Trang 18Đặng Huy Trứ là người luôn tồn tại khí phách lớn lao, dám làm, dám
mở kho thóc của nhà nước phát cho dân khi chưa có lệnh của triều đình, phảnđối chủ trương chỉ dựa vào đàm phán giữa các bữa tiệc của vua ban cho đoàn
sứ thần đi thương lượng Ông đã làm tất cả vì nhân dân đúng như lời tuyên bố
của ông: “Muốn dân được lợi cần quyền biến, tội vạ riêng mang há sợ gì”.
Có thể nói, cả cuộc đời của Đặng Huy Trứ đã dành cho nước, cho dân,
hy sinh vì hạnh phúc của nhân dân “Dân tộc ta tự hào có được người conTrung Hiếu vẹn toàn như Đặng Huy Trứ Lịch sử Việt Nam tự hào về nhânvật lỗi lạc Đặng Huy Trứ Văn học Việt Nam tự hào về nhà thơ lớn Đặng HuyTrứ” [9, tr53]
Đặng Hoàng Trung Ngũ giới pháp Thiếp – in năm Tự Đức (1868) Trí
trung đường, gồm 5 bài khuyên răn con cháu trong nhà về các mặt như khôngnên: rượu, chè, trai gái, chơi bời, nghiện ngập
Đặng Hoàng Trung Thi sao, Thư đường Đặng Qui in năm Tự Đức –
Mậu Thìn 1868, có 252 bài thơ chia thành 12 cuốn gọi là “Thảo sao” do tácgiả sáng tác khi đi dạy học, thi đỗ, làm quan, đi sứ
Đặng Hoàng Trung Văn sao – gồm 266 bài văn chia thành 4 cuốn theo
các thể loại như:
Quyển 1: Thiếp, biểu, văn tế
Quyển 2: Hành trạng, vắn chúc mừng, văn phúng viếng
Quyển 3: Tán, bại, yếu báo, thư, kị, tục
Quyển 4: Giả câu đố
Trang 19Bộ sách dày 2000 trang có tiêu đề Từ thụ quy yếu Với nội dung chuyên
chống hối lộ và tham nhũng
Ngoài ra ông còn có các tác phẩm: Tùng chinh di qui, Tứ thập bát hiệu
ký sự tàn biên, Nữ giới diễn ca,
Như vậy dựa vào sự thống kê chưa đầy đủ nhưng cũng có thể thấy sốlượng tác phẩm Đặng Huy Trứ để lại khá lớn
Về đề tài phản ánh trong thơ, Đặng Huy Trứ quan niệm thơ là để nói
chí Trong bài tựa Đặng Hoàng Trung thi sao (1867), ông đã nói rõ quan
niệm về việc làm thơ và tự đánh giá về thơ mình: “Thơ là để nói chí Thơ tôikhông đúng chuẩn mực, cũng chẳng hiệp âm luật, tuy không thể đưa ra lưuhành ở đời, nhưng lời răn dạy thì nhiều, lời buông tuồng thì ít, đủ làm khuônphép cho con cháu Tôi trộm cho là như vậy, con cháu hiền thảo chọn lấynhững điều hay rồi truyền tập cho nhau, thiết tưởng cũng giúp ích cho việc lậpthân giữ mình, việc gì mà đem bó lại để trên gác caỏ” Bởi vây, đề tài trongthơ Đặng Huy Trứ mang đậm dấu ấn của ông, là những vấn đề gắn liền với
cuộc sống của ông Làm quan, ông quan niệm “Dân không chăm sóc chớ làm
quan” Ông xót thương thay cho nhân dân phải oằn mình gánh chịu trận bão:
“Bạt ngược tài thư cụ mẫu sân
Nộ khí chiết dương tây hựu bắc,
Bi thanh bành bái tuất nhi dần Khủng ư ấu chủ nghi công nhật,
Mê tự Đô quân nạp lộc thần
Khởi thị sơn hà tiều tụy thậm,Cánh đa quai dị độc phong thần.”
(Cụ phong) (Hạn tạm vừa thư, bão lại gầm.
Nộ khí dập vùi tây đến bắc,
Trang 20Bi thanh tràn khắp tuất sang dần.
Sợ như Ấu chủ ngày lâm nạn
Mê tựa Đô quân lúc giữa đầm
Ngước mắt non sông tiều tụy quá!
Buồn sao xã tắc bấy trầm luân!)
(Bão lớn)
Càng thương dân, Đặng Huy Trứ càng hết lòng tận tụy vì dân:
“Tẩm dĩ thâm canh tiên lại khởi, Thực vô kiêm vị cộng dân gian.”
(Công mang tự úy)
(Ngủ đã khuya lơ, dậy trước lại
Ăn rành một món, khổ cùng dân.”
(Việc công bận, tự an ủi)
Trước mối nguy của dân tộc, trước lũ giặc xâm lăng, trái với sự nhunhược yếu hèn của vua tôi, lũ tham quan nhà Nguyễn, Đặng Huy Trứ luônnhất kiến chủ chiến với bọn giặc Ông đặt niềm tin nơi quân lực, ở nhân dâncủa mình:
“Pháo thanh lôi động phong thiên lý,Hỏa đạn yên phi thủy vạn tầm
Trực đãi thiêu tàn tây tặc phủ,”
(Triều tấn pháo đài hậu tùy hoàng phiên sứ thí pháo)
(Pháo nổ sấm ran ngàn dặm gió Đạn bay khói tỏa vạn tầm khơi Chỉ chờ thiêu xác quân Tây hết)
(Theo hầu quan Bố Chánh họ Hoàng
ra thử pháo ở pháo đài Bến Triều)
Trang 21Nhưng nói đến đề tài trong thơ Đặng Huy Trứ, có lẽ đề tài về nông thônlàng quê là đề tài chiếm vị trí đặc biệt hơn cả Đặng Huy Trứ đã dành một mốiquan tâm đặc biệt đến nông thôn làng quê, đến cuộc sống của những ngườinông dân nơi ấy Ngay từ khi mới 15 tuổi ông đã bắt đầu làm thơ và đã vẽ nênbức tranh toàn cảnh của điển hình làng quê Việt Nam Lí do Đặng Huy Trứchọn làng quê trong thơ của mình có lẽ xuất phát bởi ông lớn lên và dànhnhiều thời gian sống trong lòng một quê hương thuần phác Quê hương ông làlàng Thanh Lương, thuộc huyện Hương Điền, một làng rất đẹp nằm bên sông
Bồ và nổi tiếng giỏi văn võ Chính nơi đó, sự trong lành của đồng ruộng,khung cảnh nên thơ, nơi con đò bến nước cùng sự cần cù, ấm áp của ngườidân đã nuôi dưỡng tâm hồn cao đẹp và sớm chắp cánh cho hồn thơ Đặng HuyTrứ
1.3 Thống kê, phân loại thơ viết về làng quê trong thơ Đặng Huy Trứ
Khảo sát tập thơ Đặng Huy Trứ - con người và tác phẩm có 73 bài thơ
viết về đề tài làng quê trong tổng số 309 bài thơ Trong hệ thống những bàithơ viết về làng quê trong thơ Đặng Huy Trứ ta có thể chia nhỏ thành các chủđề
1.3.1 Thơ viết về thiên nhiên làng quê
Trong số những bài thơ viết về làng quê trong Đặng Huy Trứ - con
người và tác phẩm, chúng tôi đã thống kê được số bài thơ viết về thiên nhiên
làng quê như sau:
Tổng bài thơ viết về
1.3.2 Thơ viết về cuộc sống sinh hoạt làng quê
Thơ viết về cảnh sinh hoạt làng quê cũng được Đặng Huy Trứ dànhmột vị trí đáng kể trong số những bài thơ viết về thôn quê Bảng thống kêdưới đây giúp chúng ta hình dung được vị trí của mảng thơ này về mặt sốlượng:
Trang 22Tổng bài thơ viết về
Thứ hai là khả năng phản ánh và khả năng khái quát nghệ thuật: Thơviết về thôn quê trong thơ Đặng Huy Trứ có sự chuyển biến rõ rệt về phạm viphản ánh và khả năng khái quát nghệ thuật Viết về nông thôn Việt Nam,Đặng Huy Trứ đã mở rộng phạm vi đề tài khi ông đưa vào trong thơ nhữnghình ảnh đơn sơ mộc mạc của đời sống Nhà thơ đã xây dựng được nhữnghình tượng nghệ thuật bắt nguồn trực tiếp từ đời sống: bến sông, con thuyền,cây lúa, mầm hạt cải, con lợn, con mèo, … Thơ Đặng Huy Trứ chứa đầy ắpcảnh vật, với tất cả những gì mà ông gắn bó yêu thương, có đủ cả cây hoađồng nội, những rau cỏ sản vật thường ngày ta có thể thấy ở bất kỳ làng quênào của Việt Nam Làm nên những thành tựu độc đáo này là vì Đặng Huy Trứ
có một tư tưởng thanh cao, một tình cảm trong sáng, một trí tưởng tượng, mộtcảm xúc và tài năng hiếm có Đó cũng chính là vì, suốt cuộc đời Đặng HuyTrứ đã hòa mình với thiên nhiên đất nước, gắn bó với cuộc sống của nhân dân
và đời sống dân tộc
Trang 23Chương 2 BÚT PHÁP THỂ HIỆN PHONG CẢNH LÀNG QUÊ TRONG THƠ
ĐẶNG HUY TRỨ 2.1 Bút pháp ước lệ
Cũng giống như đa số các tác giả thơ trung đại khác, thơ của Đặng HuyTrứ cũng là thơ ngôn chí, thơ ngụ ý ký thác tâm sự Nhưng điểm khác biệt đó
là các tác giả khác thường hướng tới những đề tài muôn thuở như tùng, cúc,trúc, mai hay phong, hoa, tuyết, nguyệt thì Đặng Huy Trứ lại ít khi dùng Ôngcũng giảm thiểu, rất ít khi dùng các điển tích điển cố Nói như vậy, khôngphải là thơ Đặng Huy Trứ không dùng bút pháp ước lệ tượng trưng
Từ xưa đến nay, biết bao thi nhân đã bày tỏ niềm say đắm với vầngtrăng sáng Trăng luôn là cái đẹp, là đề tài được các tác giả lựa chọn thể hiệntrong tác phẩm của mình Như bao nhà thơ trung đại, trăng cũng là điều màĐặng Huy Trứ say đắm thiết tha Đặng Huy Trứ khi mới 15 tuổi, sống nơi xứHuế mộng mơ, dưới bóng trăng tỏa chiếu xuống cũng không khỏi động lòngtrước cái đẹp:
“Tùng gian nghi nguyệt, nguyệt nghi thu
Cù chi giao thúy, thanh quang đậu,Thỏ phách tà xuyên, thự sắc phù.”
(Minh nguyệt tùng gian chiếu) (Tùng xứng bóng trăng, nguyệt xứng thu
Trăng đậu cành cong đan ánh mộng, Nguyệt rung bóng nổi, ngả màu mơ)
(Trăng sáng chiếu rặng tùng)
Trăng với Đặng Huy Trứ như là một người bạn thân thiết Sau này, khiphải đi xa quê thì vầng trăng vẫn luôn gắn bó với ông, vầng trăng vẫn cứ đẹp
Trang 24đẽ, đầy đặn, đáng yêu Vầng trăng nơi phương xa còn gợi cho người con xa
(Thấy trăng nhớ quê)
Dường như nỗi niềm cảm xúc khi xa quê của Đặng Huy Trứ đã có sựđồng điệu với Lý Bạch – nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc khi trước ĐặngHuy Trứ, Lý Bạch cũng đã từng bày tỏ:
“Sàng tiền minh nguyệt quangNghi thị địa thượng sương
Cử đầu vọng minh nguyệt
Đê đầu tư cố hương”
(Tĩnh dạ tứ)
Đọc thơ Đặng Huy Trứ ta cảm nhận sâu sắc tình cảm thiết tha của ôngvới trăng Với ông, trăng lúc nào cũng đẹp, là cái đẹp ông luôn hướng tới, làđiều ông luôn đón đợi, khát khao:
“Vũ sư sái dạo tần yêu khách,Phong bá khư vân vị tác môi
Thiên thượng thanh quang lưu thử dạ,Cẩm giang giang thượng tứ bồi hồi.”
(Trung thu Cẩm giang đãi nguyệt) (Thần mưa tưới lối như chờ đón
Dì gió xua mây có ý mời.
Đêm vắng ánh trăng trời bát ngát
Trang 25Cẩm giang sông bến dạ bồi hồi.)
(Trung thu chờ trăng trên sông Cẩm)
Trăng trong thơ Đặng Huy Trứ còn là dấu ấn của thời gian, là nhânchứng cho sự lao động miệt mài của người nông dân làm việc chăm chỉ khôngquản ngày đêm sớm tối:
“Nhật sự điền tang, dạ bạn thung,
Ca thanh cao xứ nguyệt quang dung.”
(Nguyệt khuy thung tướng) (Ngày bận ruộng, tằm, đêm giã gạo, Tiếng ca cao vút ánh trăng hòa.)
(Trăng nhòm cảnh giã gạo)
Miêu tả cảnh sắc thiên nhiên khi nàng xuân đến, Đặng Huy Trứ cũngkhéo léo gợi tả với hoa đào, với mưa xuân – dấu ấn điển hình của thiên nhiênBắc bộ ngày xuân tới:
“Đào hoa lịch loạn lý hoa hương, Yến vũ oanh đề xuân nhật trường,
Tế vũ thấp y khan bất kiến,Cao đàm vi tẩy ngũ niên mang.”
(Đồng Hữu xuân du ngộ tiểu vũ) (Hoa đào làm loạn làn hương hoa mận
Yến nhảy nhót, oanh kêu, ngày xuân thêm dài.
Mưa lớt phớt thấm áo mà không hay, Bàn chuyện đâu đâu cốt rửa cái bận bịu trong năm.)
(Cùng bạn chơi xuân gặp mưa)
Qua phần tìm hiểu trên, ta nhận thấy, dưới quan niệm của văn chươngtrung đại, tuy mật độ không nhiều nhưng bút pháp ước lệ vẫn được Đặng HuyTrứ sử dụng khi sáng tác thơ Thiên nhiên làng quê vẫn hiện lên trong thơ
Trang 26Đặng Huy Trứ với đầy những dấu ấn riêng biệt, vẫn đẹp dịu dàng say mê,chất chứa trong đó là bao tình cảm với quê hương của tác giả.
2.2 Bút pháp tả thực
Theo quan niệm của nhà Nho, của văn chương trung đại thì văn chươnghay, có giá trị, được đề cao phải là văn chương chứa đựng, truyền tải nội dungđạo lí, phải có hình thức cân đối hài hòa, trang nhã Đặng Huy Trứ mặc dùsống ở thời đại trọng Nho giáo, văn chương ông sáng tác cũng được xếp vàophạm trù văn học trung đại nhưng trong quá trình sáng tác văn học, đặc biệt là
về đề tài làng quê nông thôn, ông lại có cái nhìn hết sức mới mẻ Và đặc biệt,bút pháp ông sử dụng khi viết về nông thôn chủ yếu là bút pháp hiện thực Ởthời đại lúc ông sống bấy giờ, việc sử dụng bút pháp hiện thực, tả thực là mộtdấu ấn đặc biệt và là sự đột phá về phản ánh thực tại ở làng quê Việt Namtrong phong cách sáng tác của Đặng Huy Trứ
2.2.1 Bút pháp tả thực qua miêu tả thiên nhiên làng quê
Có thể nói, thiên nhiên là đề tài muôn thuở của các sáng tác văn chươngnghệ thuật Từ xưa đến nay đã có biết bao bức tranh phong cảnh được họabằng ngôn ngữ đã làm say đắm biết bao trái tim người đọc Tuy nhiên, nếunhư các tác giả khác thường sử dụng bút pháp ước lệ để miêu tả thiên nhiênvới những công thức khuôn sáo thì Đặng Huy Trứ lại đi sâu vào tả thực ThơĐặng Huy Trứ viết về thiên nhiên làng quê gần như là họa Những hình ảnhthiên nhiên trong thơ ông đều sắc nét, tươi vui và phấn khởi
Ông sinh ra và lớn lên tại Huế Huế vốn vẫn luôn thơ mộng và hiềnhòa, là cái nôi chắp cánh cho bao tâm hồn thi ca Nơi ông sống là ngôi làngven sông Con sông là thứ gắn bó trực tiếp với ông, với người dân nơi đây vàtạo nên bao kỷ niệm Đặng Huy Trứ đã vẽ nên một bức tranh ấn tượng, hiệnlên qua thơ là khung cảnh làng chài và con đò nhỏ qua sông Bồ - con sôngquê nước chảy hiền hòa:
Trang 27“Nhất dĩ sinh nhai đông phục tê, (tây)Giang thôn xứ xứ mộ nhiên tế.
Dịch lô tùng tạp hồn vô dạ, Võng cổ tân phân tự bất mê
Tinh tú trầm phù ba thượng hạ,Ngư hà xuất một ảnh cao đê.”
(Ngư chu mộ hỏa) (Thuyền nhỏ sinh nhai, trời mấy ngả, Tối về, xóm vạn, lửa chài đua.
Sậy lau rậm rạp, không đêm tối, Lưới vó dầy ken, chẳng mịt mờ
Sóng dạt, triều lên, sao ẩn hiện, Tôm chìm, cá nhảy, bóng lô nhô.)
(Lửa chài trong đêm)
Con sông quê hương không những đẹp lung linh huyền ảo mà còn lànơi cung cấp nguồn sống Con sông đầy ắp cá tôm là nơi kiếm kế sinh nhaicủa biết bao con người
Quê hương ông cũng như bao làng quê Việt Nam khác, bao quanh xómlàng chính là cánh đồng lúa trải dài và xanh mướt
“Giao nguyên nhất vọng giai thanh tú,”
(Quan giá) (Đồng ruộng một màu xanh bát ngát,)
(Thăm lúa)
Khung cảnh đồng ruộng xanh ngát trải dài gợi nên cho người đọc ấntượng về một làng quê đầy sức sống, nó còn gợi niềm hy vọng về sự trù phú
ấm no
Trang 28Không chỉ miêu tả phong cảnh với con sông, cây đa, bến nước, ĐặngHuy Trứ còn đề cập đến những âm thanh sống động nơi làng quê Đó là tiếngchuông chùa sớm khuya ngân nga vang vọng:
“Kê xướng, ô đề nguyệt ngũ canhThử gian sạ thính tự chung minh
Bán thiên tượng giáo huyền quan tĩnh,Bách bát kình âm tục chướng thanh
Hưởng triệt thư song nghi hoán độc, Thanh truyền điền xá nhạ thôi canh
Tu tri bá phụ Bồ đề ấm,Lưu đắc khanh tranh vạn cổ danh.”
(Phật tự chung thanh) (Quạ kêu, gà gáy canh năm,
Chợt nghe xa tiếng chuông ngân đổ hồi.
Thanh hư từ của Phật đài, Mộng đời khua tỉnh mấy thôi chầy kình Lọt song như gọi thư sinh,
Xuống thôn rộn rã lay mình nông phu.
Bác xưa công đức góp chùa, Tiếng vàng vọng mãi ngân đưa muôn đời.)
(Tiếng chuông chùa)
Khung cảnh làng quê yên bình, êm ả đến mấy với tiếng chuông chùangân nga vang vọng, len lỏi khắp chốn Tiếng chuông chùa đánh thức bácnông dân dậy ra đồng, tiếng chuông chùa gọi người thư sinh dậy học bài chokhỏi phụ lòng cha mẹ
Miêu tả khung cảnh mùa hè, nếu như Nguyễn Trãi đã miêu tả cảnh mùa
hè thật sống động:
Trang 29“Rồi bóng mát thưở ngày trường Hòe lục đùn đùn tán rợp trương Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ Hồng liên thì đã tịn mùi hương Lao xao chợ cá làng ngư phủ Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.”
(Quốc Âm thi tập)
Bức tranh mùa hè của Nguyễn Trãi với những cảnh vật đầy sự sống,với gam màu nổi bật là màu đỏ của hoa lựu, rồi còn có âm thanh rộn ràng củacuộc sống tiếng “lao xao chợ cá”
Trong tập “Hồng Đức quốc âm thi tập” thì cảnh mùa hè lại là:
“Nghi ngút ngàn mây tán lửa cheRùng người thay bấy gọi là hè
Hồng bay lựu màn vây liễu Hương nức sen, bóng rợp hè
Tường nọ nhặt khoan vang tiếng cuốcCành kia dắng dỏi gảy cầm ve…”
Cảnh mùa hè ở đây cũng được miêu tả với những đặc điểm điển hìnhvới hương sen thơm nức, bóng hòe rợp mát, tiếng cuốc, tiếng ve Những dấuhiệu đặc trưng của mùa hạ Việt Nam
Còn rộn lên trong bức tranh ngày hạ của Đặng Huy Trứ là tiếng chimhót trong trẻo:
Trang 30“Hạ mộc âm nùng xứ, Hoàng ly vận tải dương.
Chi đầu phi vũ dực,Thụ thượng tấu sinh hoàng
Hảo dữ huân phong sảng, Thiên nghi hóa nhật trường
Thanh thanh nghi kiết ngọc,Vận vận nhạ minh đương
Kham nguyệt tao nhân nhĩ, Như liêu dật khách trường
Thủy điền phi bạch lộ,”
(Hạ mộc chuyển hoàng ly) (Bóng râm cây hè tỏa,
Giọng hót vàng anh buông.
Trên ngọn xòe cánh đẹp, Đầu cành rộn tiếng vang
Ngân dài cùng nắng hạ, Lộng mát với nồm nam
Tiếng tiếng như gieo ngọc, Vần vần tựa dát vàng.
Tao nhân tràn hứng vị, Dật khách động tâm trường.
Bóng nước soi cò trắng,)
(Tiếng vàng anh trên cây mùa hạ)
Bức tranh mùa hạ hiện lên với âm thanh rộn ràng của tiếng chim, màusắc rực rỡ của nắng hạ Phong cảnh làng quê trong con mắt người thiếu niênthật đẹp, hài hòa âm thanh, màu sắc, đầy mơ mộng và ngây thơ
Trang 31Và, bên dòng sông Bồ còn là âm vang tiếng hò chèo đò, là tiếng sáo vivút trong không gian:
“Bồ nguyên, Đỉnh bộ khứ lai trình, Phong dẫn cao ca tống trạo hành
Khoản nãi nhất thanh như hữu ước,Phong gia thập bát tự đa tình
Giác đắc giang hỗ đáp xao tân nguyệt,Mục địch tương yêu lộng vãn tình.”
(Phong tống trạo ca) (Đò con qua lại bến sông Bồ Gió dẫn câu ca, chèo đẩy đưa, Một tiếng hò khoan như ước hẹn,
Đa tình dì gió tựa trong mơ, Chuông chùa cổ vọng rung trăng mới, Sáo mục đồng vang giữa nắng mờ.)
(Gió đưa tiếng hò chèo đò)
Như vậy, với những đề tài quen thuộc, rất đời thường, dung dị, mộcmạc, Đặng Huy Trứ đã chứng tỏ tài năng của mình bằng một bút pháp miêu tảhết sức chân thực, gợi tả Đi sâu phản ánh vẻ đẹp thiên nhiên làng quê, đặcbiệt là vẻ đẹp của màu xanh của cỏ cây, hoa lá, Đặng Huy Trứ đã góp phầntạo nên bức tranh làng quê sinh động của nông thôn Việt Nam
2.2.2 Bút pháp tả thực qua miêu tả cuộc sống sinh hoạt làng quê
Đặng Huy Trứ sinh ra và sống những năm tháng đầu tiên của tuổi trẻ là
ở làng quê Cuộc sống gắn bó với làng quê như vậy cũng là yếu tố nuôidưỡng, thôi thúc tâm hồn thơ ca của ông sớm nở rộ và cuộc sống con người ởchốn quê vì vậy mà cũng được thể hiện hết sức chân thực trong thơ ông
Trang 32Về cuộc sống sinh hoạt làng quê, Đặng Huy Trứ đã lột tả toàn diện mọimặt của cuộc sống nông thôn Việt Nam Nhà thơ không bỏ xót bất cứ cảnhnào từ cày bừa, gặt hái, lễ hội, từ cảnh chạy chợ đến việc ma chay, cúng bái.
Có thể nói, Đặng Huy Trứ đã đi sâu vào phản ánh tỉ mỉ từng chi tiết nhỏ nhặtnhất của cuộc sống sinh hoạt nơi làng quê Từ việc chăn nuôi lợn:
“Nạp đồn hỉ cập quyền sơ thành
Quần phân tẫn mẫu phi vô ý,Thủy phóng dần thân biệt hữu tình.”
(Đồn nhi nạp quyền) (Thả lợn con vào, chuồng mới ngăn.
Đem tách đàn ra theo đực, cái Nhớ cho nước chảy hướng dần thân.)
(Thả lợn con vào chuồng)
Đến việc “Khơi giếng đào ao”:
“Tinh yếu thanh cam, trì yếu thâm,Nhất đào, nhất tạc khỏi vô tâm
Tuyền lưu tác lễ hương thôn lợi, Thổ tích thành cao thảo thụ âm.”
(Đào tĩnh, tạc trì) (Cần ngọt giếng, cần sâu ao Đào ao, khơi giếng, lẽ nào vô tâm Mạch tuôn nước ngọt lợi dân Đất thêm màu mỡ, bóng râm cây cành)
(Khơi giếng đào ao)
Việt Nam gắn bó với nghề trồng lúa nước Cây lúa luôn gắn bó vớingười dân Việt Nam, là kế sinh nhai, là niềm hy vọng cho sự đầy đủ, sự ấm
no của nhân dân Vậy nên trồng lúa chưa phải là đã xong Gieo mạ, cấy lúa
Trang 33rồi nông dân còn phải chăm cây lúa mỗi ngày Phải chăng vì như vậy, ĐặngHuy Trứ đã bắt gặp cảnh mỗi sáng mai người nông dân lại ra thăm lúa, xemcây lúa đã phát triển ra sao Đặng Huy Trứ đã quan sát và đi sâu khám phá đờisống của người dân thôn quê, cũng rất hiểu những khát vọng, ước muốnngười dân gửi gắm qua từng hành động nhỏ:
“Tảo phỏng thu điền bộ thảo lai,Hương thôn truyền đạo sứ quân lai.”
(Quan giá) (Lội đồng thăm ruộng buổi ban mai, Tin có quan về, rộn khắp nơi.)
đi đâu cũng có thể phân biệt được đó là hạt gạo dẻo quê mình:
“Bất thiểu thiên thương dữ vạn tương
Kỷ như An Cựu bạch nhi hương!
Chử tong nguyệt hạ thiềm vô sắc,Tân thượng phong xuy xạ mạc đương
Thanh miếu tiến tân thần thị cách,
Từ cung hoan phụng thánh di khang
Bái Ân bạch túc như đồng thoản, Nam bắc sơn lan loạn thập hoàng.”
(Mễ gia An Cựu) (Ngàn vạn đụn, kho ắp lúa vàng Đâu như An Cựu trắng và thơm.