TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2KHOA GIÁO DỤC MẦM NON ---KIM DIỆU LINH VĂN HÓA NAM BỘ TRONG ĐẤT RỪNG PHƯƠNG NAM CỦA ĐOÀN GIỎI KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Giáo dục mầm
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
-KIM DIỆU LINH
VĂN HÓA NAM BỘ TRONG ĐẤT RỪNG PHƯƠNG NAM CỦA ĐOÀN
GIỎI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
HÀ NỘI – 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
-KIM DIỆU LINH
VĂN HÓA NAM BỘ
TRONG ĐẤT RỪNG PHƯƠNG NAM
CỦA ĐOÀN GIỎI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN THỊ TUYẾT MINH
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu đề tài, được sự giúp đỡ tận tình
của cô giáo – Tiến sĩ Nguyễn Thị Tuyết Minh, tác giả khóa luận xin gửi lời
cảm ơn sâu sắc tới cô!
Tác giả khóa luận cũng xin cảm ơn chân thành các thầy, cô trong khoaGiáo dục Mầm non – Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện tốtnhất cho tác giả hoàn thành khóa luận này
Hà Nội, tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Kim Diệu Linh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Để hoàn thành khóa luận này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đã
nhận được sự hướng dẫn tận tình của cô giáo - Tiến sĩ Nguyễn Thị Tuyết
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Mục đích nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của khóa luận 4
7 Bố cục của khóa luận 4
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1 GIỚI THUYẾT CHUNG 5
1.1 Mối quan hệ giữa văn học và văn hóa 5
1.1.1 Khái niệm văn hóa 5
1.1.2 Quan hệ giữa văn học và văn hóa 6
1.2 Tác giả Đoàn Giỏi và tiểu thuyết Đất rừng phương Nam 7
1.2.1 Cuộc đời và thân thế 7
1.2.2 Sự nghiệp văn chương 8
1.2.3 Tiểu thuyết Đất rừng phương Nam 9
CHƯƠNG 2 VĂN HÓA NAM BỘ TRONG ĐẤT RỪNG PHƯƠNG NAM - NHÌN TỪ NỘI DUNG PHẢN ÁNH 13
2.1 Bức tranh thiên nhiên đặc trưng của Nam Bộ 13
2.1.1 Thiên nhiên hoang sơ, dữ dội 13
2.1.2 Thiên nhiên trù phú, hiền hòa 18
2.2 Con người Nam Bộ 24
2.2.1 Những cư dân ở vùng đất mới 24
2.2.2 Những cư dân với phong cách đặc trưng Nam Bộ 28
CHƯƠNG 3 VĂN HÓA NAM BỘ TRONG ĐẤT RỪNG PHƯƠNG NAM - NHÌN TỪ HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT 40
Trang 63.1 Nghệ thuật kể chuyện 40
3.2 Ngôn ngữ đậm đà văn hóa Nam Bộ 42
3.3 Giọng điệu 45
KẾT LUẬN 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Là người con của Nam Bộ nói riêng, người con của mảnh đất hình chữ
“S” thân thương nói chung, khi nhắc tới văn chương Nam Bộ với lối văn mộcmạc, gần gũi với đời sống thực tế, làm sống lại những hoài niệm về vùng sôngnước và con người chân chất, không ai không nhớ tới nhà văn Đoàn Giỏi.Không chỉ ban tặng cho con người sự giàu có về tài nguyên, vùng đất phươngNam còn đem đến cho các nhà văn nguồn chất liệu, đặc biệt là nguồn cảmhứng dồi dào trong sáng tác Văn học miền Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay đãchứng kiến sự ra đời của nhiều cây bút, và Đoàn Giỏi là một trong số đó
Tiểu thuyết Đất rừng phương Nam là tác phẩm nổi bật nhất trong quá
trình sáng tác của Đoàn Giỏi Bối cảnh câu chuyện rất đặc trưng của vùng TâyNam Bộ, với rừng tràm bạt ngàn, dòng sông mênh mông, con đò bập bềnh,
tôm cá đầy đàn, Đoàn Giỏi như gửi trọn vào tác phẩm của mình Đất rừng phương Nam đã mang đến người đọc nhiều thú vị về bối cảnh, con người, tập
tục văn hóa của vùng nông thôn Nam Bộ Nhà văn mượn hình ảnh một cậu bé
bị lưu lạc trong thời kì kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ để giới thiệu đấtrừng phương Nam Nơi đó, một vùng đất vô cùng giàu có, hào phóng và hùng
vĩ với những con người trung hậu, trí dũng, một lòng một dạ theo kháng chiến
Có thể nói, Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi như một xã hội của miền
sông nước Tây Nam Bộ thu nhỏ Bởi ở nơi đó, người đọc đã tìm thấy hình ảnhngười dân của vùng đất phương Nam từ sông Tiền, sông Hậu trải dài đếnKiên Giang, Rạch Giá, rồi xuống tận rừng U Minh, sau đó dừng lại ở Năm
Căn, Cà Mau Bối cảnh trong Đất rừng phương Nam là cả một đất trời thiên
nhiên ưu đãi, cánh đồng bát ngát mênh mông, sóng nước rì rầm, rừng rậm bạtngàn trù phú, thú rừng hoang dã muôn loài… Sự tài tình của Đoàn Giỏi là nhưtái tạo lại bối cảnh sông nước, con người của thuở ông cha ta còn mang gươm
mở cõi
Trang 8Đoàn Giỏi đã biến Đất rừng phương Nam trở thành thân thuộc, đáng
yêu đối với độc giả, không chỉ là độc giả nhỏ tuổi Những trang văn của ôngthấm
đượm hơi thở của sông nước, rừng cây, những câu chuyện cả thực, cả kỳ bícủa thiên nhiên Nam Bộ hoang sơ và truyền được hơi thở ấy cho độc giả Cóđược
điều đó không những là nhờ tình yêu đối với miền đất Nam Bộ quê hương, màcòn ở óc quan sát tỉ mỉ, tinh tế, lối văn kể chuyện hấp dẫn trong tác phẩm củanhà văn
Bằng quá trình lao động nghệ thuật say mê, miệt mài, tác giả Đoàn Giỏi
đã có những đóng góp to lớn cho nền văn học nước nhà nói chung và nền vănhọc thiếu nhi Việt Nam nói riêng Có mảnh đất sinh ra những nhà văn, vàngược lại, có nhà văn từ trang viết đã biến miền quê riêng của mình thànhmiền quê chung, thân thuộc trong tâm tưởng bao người Đoàn Giỏi đã đemđến cho bạn đọc cả nước những hiểu biết và tình cảm về một vùng đất màtrước đó xa ngái, hoang sơ trong hình dung của mọi người Ông đã xây dựngnhững nhân vật đầy nghĩa khí mà tinh tế và giàu chất văn hóa
Đó là những lí do khiến chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài khóa luận
“Văn
hóa Nam Bộ trong Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi”.
2 Lịch sử vấn đề
Đoàn Giỏi để lại một khối lượng tác phẩm khá lớn và giá trị với vai trò
là một trong những tác giả tiên phong sáng tác cho thiếu nhi, một trong nhữngnhà văn lao động có trách nhiệm và hiệu quả để nuôi dưỡng tâm hồn thế hệ trẻcủa đất nước Ông được đánh giá là cây bút xuất sắc trong văn học thiếu nhiViệt Nam Sáng tác của ông đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều bạn
đọc và nhà nghiên cứu, đặc biệt là tiểu thuyết Đất rừng phương Nam.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều nói rằng, ông hai lần là bạn đọc của Ðất rừng phương Nam Lần đầu, lúc là cậu bé, Ðất rừng phương Nam đã gieo vào
Trang 93giới kỳ lạ, kỳ bí, bí ẩn của thiên nhiên luôn gắn với số phận con người Còn với
Trang 10lần đọc khi đã trưởng thành, Nguyễn Quang Thiều nói: “Cuốn sách đầu tiên tôi viết cho thiếu nhi là bị ảnh hưởng của Ðất rừng phương Nam cũng như Dế mèn phiêu lưu ký Vì thế, tôi mang ơn nhà văn Ðoàn Giỏi vì ông đã gieo vào tâm hồn tôi một hạt văn chương, một suy ngẫm về nghề: nếu không còn cảm xúc, đắm mê trước vũ trụ trong đó có đời sống con người thì khó có thể có được những trang văn làm rung cảm tâm hồn mọi thế hệ” [11].
Đánh giá về văn chương Đoàn Giỏi, nhà văn Anh Đức từng nhận định:
“Với một đời văn trên bốn mươi năm, nhà văn Đoàn Giỏi đã để lại cho đời những dòng đẹp đẽ đậm sắc thái và đầy sinh thú về quê hương, đất nước, con người ở vùng đất Nam Bộ thân yêu của Tổ quốc ta Văn của Đoàn Giỏi vừa mang chất trữ tình lại vừa lạ kỳ, sôi động” [12].
Nhà thơ Chế Lan Viên cho rằng: “Văn của Đoàn Giỏi luôn ngồn ngộn nguồn tư liệu và vốn sống mà tác giả chắt lọc Là một nhà văn chịu khó tìm tòi nghiên cứu mọi chuyện một cách ngọn ngành, nên trang viết của ông thường rất góc cạnh, gồ ghề nhưng cũng đậm đặc chân tình như quê hương ông, miền đất hoang sơ và hào phóng miền Tây Nam Bộ Đoàn Giỏi là một trong những người đầu tiên truyền bá ngôn ngữ Nam Bộ hiện đại qua những tác phẩm của mình” [12].
Ngoài ra, một số khóa luận, luận văn cũng tìm hiểu về tác phẩm của
Đoàn Giỏi, song chưa có công trình nào đi sâu tìm hiểu Văn hóa Nam Bộ trong Đất rừng phương Nam Đây là khoảng trống để chúng tôi nghiên cứu đề
tài Chúng tôi xem những ý kiến của các công trình đi trước là những gợi ý
quan trọng để tiếp tục nghiên cứu về Đất rừng phương Nam.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu, khóa luận khảo sát tiểu thuyết Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi, Nxb Văn học, Hà Nội, 2012.
Về phạm vi nghiên cứu, khóa luận đi sâu tìm hiểu Văn hóa Nam Bộ trong tiểu thuyết Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi.
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu loại hình
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp liên ngành
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
6 Đóng góp của khóa luận
Thông qua khóa luận, chúng tôi mong muốn góp một phần bé nhỏ vàoviệc giáo dục cho trẻ Mầm non
Khóa luận tiếp tục khẳng định đóng góp của nhà văn Đoàn Giỏi đối vớinền Văn học thiếu nhi Việt Nam
7 Bố cục của khóa luận
Ngoài phẩn Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung của khóaluận được bố cục thành 3 chương:
Chương 1: Giới thuyết chung
Chương 2: Văn hóa Nam Bộ trong Đất rừng phương Nam – nhìn từ nội dung phản ánh
Chương 3: Văn hóa Nam Bộ trong Đất rừng phương Nam – nhìn từ hình thức nghệ thuật
Trang 12NỘI DUNG CHƯƠNG 1 GIỚI THUYẾT CHUNG
1.1 Mối quan hệ giữa văn học và văn hóa
1.1.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do conngười sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tươngtác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội Đó là trình độ hiểu biết
về những giá trị tinh thần thuộc về một thời kì lịch sử nhất định Theo TrầnNgọc Thêm, từ “văn hoá” có nhiều nghĩa, được dùng để chỉ những khái niệm
có nội hàm hết sức khác nhau Tuy được dùng theo nhiều nghĩa khác nhau,nhưng suy cho cùng, khái niệm “văn hoá” bao giờ cũng có thể quy về hai cáchhiểu chính: nghĩa hẹp và nghĩa rộng
Theo nghĩa hẹp, văn hoá được giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiềurộng, theo không gian hoặc theo thời gian Giới hạn theo chiều sâu, văn hóađược hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệthuật…) Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá được dùng để chỉ những giá trịtrong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh…) Giới hạn theokhông gian, văn hoá được dùng để chỉ những giá trị đặc thù của từng vùng(văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Nam Bộ…) Giới hạn theo thời gian, văn hoáđược dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, vănhoá Đông Sơn…)
Theo nghĩa rộng, văn hoá thường được xem là bao gồm tất cả những gì
do con người sáng tạo ra Năm 1940, Hồ Chí Minh đã viết:“Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử
Trang 13dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của
sự sinh tồn” [15].
1.1.2 Quan hệ giữa văn học và văn hóa
Giữa văn học và văn hoá có mối quan hệ hữu cơ mật thiết với nhau.Văn học, nghệ thuật cùng với triết học, chính trị, tôn giáo, đạo đức, phongtục… là những bộ phận hợp thành của toàn thể cấu trúc văn hoá Nếu văn hoáthể hiện quan niệm và cách ứng xử của con người trước thế giới, thì văn học
là hoạt động lưu giữ những thành quả đó một cách sinh động nhất Để có đượcnhững thành quả quả đó, văn hoá của một dân tộc cũng như của toàn thể nhânloại từng trải qua nhiều chặng đường tìm kiếm, chọn lựa, đấu tranh và sángtạo để hình thành những giá trị trong xã hội Văn học vừa thể hiện con đườngtìm kiếm đó, vừa là nơi định hình những giá trị đã hình thành Cũng có thểnói, văn học là văn hoá lên tiếng bằng ngôn từ nghệ thuật Để đi sâu vào mốiquan hệ giữa văn hóa và văn học, cần cụ thể hóa các thành tố cơ bản củachúng, đó là: những thành tố cơ bản của văn hóa có vai trò quyết định tới sựchuyển đổi những thành tố cơ bản của văn học tương ứng
Từ quy luật vận động của văn hóa nói chung, và của văn hóa Việt Namnói riêng, chúng tôi nhận thấy sự biến đổi của hệ thống văn hóa phải được xácđịnh từ sự biến đổi của ba thành tố cơ bản dưới đây:
- Thành tố cơ sở văn minh của văn hóa (xác định cơ sở kinh tế, chínhtrị, xã hội của văn hóa)
- Thành tố hệ tư tưởng của văn hóa (tức khuynh hướng phát triển của xãhội về mặt tinh thần)
- Thành tố tâm lý xã hội (xác định vị trí con người được biểu hiện thành
ý nguyện, khát vọng, sở thích…)
Trang 14Như vậy, dựa trên ba thành tố cơ bản của văn hóa đưa đến việc xác định
ba thành tố cơ bản của văn học tương ứng:
- Thành tố đối tượng thẩm mỹ (hình thành do thay đổi văn minh vàthay đổi quan hệ cơ bản giữa người với người)
- Thành tố tư tưởng sáng tạo nghệ thuật thời đại (hình thành do sự thayđổi hệ tư tưởng và lý tưởng thẩm mỹ)
- Thành tố các nguyên tắc xây dựng nhân vật thời đại Thành tố này làkết quả của sự thay đổi tâm lý xã hội, dẫn tới khát vọng muốn có mẫu ngườilý
tưởng của thời đại mình
Xác định được cấu trúc của văn hóa (qua các thành tố cơ bản của nó)mới có thể thấy hết vai trò quyết định của văn hóa đối với văn học Ngược lại,xác định cấu trúc của văn học (qua các thành tố cơ bản của nó) mới thấy đượctính chất văn học (cũng như nghệ thuật) là “một bộ phận trọng yếu của vănhóa”
1.2 Tác giả Đoàn Giỏi và tiểu thuyết Đất rừng phương Nam
1.2.1 Cuộc đời và thân thế
Đoàn Giỏi tên thật là Đoàn Văn Giỏi, sinh ngày 17/5/1925 tại xã TânHiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang Cuộc đời và thân thế của nhà vănĐoàn Giỏi là câu chuyện đầy cảm động và anh dũng của người chiến sĩ – nghệ
sĩ tự nguyện đi theo tiếng gọi của đất nước trong hai cuộc kháng chiến chốngPháp và chống Mỹ hào hùng của dân tộc Trong thời kỳ kháng chiến chốngPháp, Đoàn Giỏi công tác trong ngành An ninh, rồi làm công tác thông tin,văn nghệ, từng giữ chức Phó trưởng Ty thông tin Rạch Giá Ông công tác tạiChi hội Văn nghệ Nam Bộ, viết bài cho tạp chí Lá lúa, rồi tạp chí Văn nghệmiền Nam từ năm 1949-1954 Sau 1954, ông tập kết ra Bắc, đến năm 1955,ông chuyển sang sáng tác và biên tập sách báo, công tác tại Đài tiếng nói Việt
Trang 159Nam, rồi Hội Văn nghệ Việt Nam Ông là ủy viên Ban chấp hành Hội Nhàvăn Việt Nam các khóa I, II, III Ông là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trang 16Đoàn Giỏi mất ngày 2 tháng 4 năm 1989 tại Bệnh viện Thống nhấtthành phố Hồ Chí Minh bởi chứng bệnh xơ gan hiểm nghèo Ông ra đi trong
sự nuối tiếc, nhớ thương của gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, cả với sự dở
dang của tiểu thuyết Núi cả cây ngàn mới còn là tập bản thảo Để tưởng nhớ
ông, ngày
7 tháng 4 năm 2000, Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định lấy tên Đoàn Giỏi đặt tên cho một phố thuộc quận Tân Phú
1.2.2 Sự nghiệp văn chương
Sự nghiệp văn chương của Đoàn Giỏi gắn liền với những thăng trầmcủa lịch sử và thời đại, với những cương vị và công việc ông đã từng thamgia Ngoài cái tên Đoàn Giỏi quen thuộc, trong nền văn học nước nhà, ông cònđược bạn đọc biết đến với những bút danh khác như Nguyễn Hoài, NguyễnPhú Lễ, Nguyễn Thị Huyền Tư
Đoàn Giỏi bắt đầu sự nghiệp sáng tác năm 1943 với truyện ngắn Nhớ cố hương Ông “bắt đầu viết đều và khỏe” kể từ khi tập kết ra Bắc Những sáng
tác của ông thuộc nhiều lĩnh vực và thể loại khác nhau như: truyện ngắn, thơ,
ký, tùy bút, tiểu thuyết, ký sự lịch sử Dưới đây là những tác phẩm chính trong
sự nghiệp văn chương của Đoàn Giỏi:
- Tiểu thuyết: Đường về gia hương (1948), Cá bống mú (1956), Đất rừng
phương Nam (1957), Cuộc truy tầm kho vũ khí (1962).
- Truyện ngắn: Hoa hướng dương (1960).
- Truyện ký: Ngọn tầm vông (1956), Trần Văn Ơn (1955), Từ đất Tiền Giang, Người thủy thủ già trên hòn đảo lưu đày, Đèn tôi bay về Lục Hồ Chí Minh.
- Ký: Khí hùng đất nước (1948), Những dòng chữ máu Nam Kỳ 1940 (1948), Trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, Cây đước Cà Mau, Tết Nguyên Đán ở Nam Bộ
Trang 17- Kịch thơ: Người Nam thà chết không hàng (1947), Chiến sĩ Tháp Mười
(1949)
- Thơ: Bến nước mười hai, Truyện thằng Cồi, Giữ vững niềm tin (1954).
- Biên khảo: Những chuyện lạ về cá (1981), Tê giác giữa ngàn xanh (1982).
Nhìn nhận toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Đoàn Giỏi, có thể thấy, ôngđặt bút trên nhiều thể loại, nhưng mảnh đất làm nên tên tuổi, đồng thời đánhdấu nhiều thành công nhất của ông chính là văn xuôi với các tác phẩm truyện
và ký
Bằng sự say mê sáng tạo, thái độ làm việc nghiêm túc trong sự lao độngkhông ngừng, Đoàn Giỏi đã thể hiện mình với tư cách một cây bút xuất sắccủa văn học Việt Nam, của quê hương Nam Bộ, như nhà văn Nguyễn Mạnh
Tuấn từng nhận định, ông “là con đẻ và là kết tinh của văn hóa phương Nam”, là “một trong những nhà văn Nam Bộ nhiều tính cách Nam Bộ nhất mà tôi không thể nào quên” [14].
1.2.3 Tiểu thuyết Đất rừng phương Nam
1.2.3.1 Hoàn cảnh sáng tác và sức sống của tác phẩm
Đất rừng phương Nam ra đời vào khoảng đầu năm 1957, khi đó Đoàn
Giỏi đang làm việc tại Đài tiếng nói Việt Nam Nhà văn Nguyễn Huy Tưởngkhi ấy đang phụ trách việc chuẩn bị thành lập NXB Kim Đồng tìm đến gặpĐoàn Giỏi đề nghị viết một tác phẩm về thiếu nhi Nam Bộ Chỉ còn 4 tháng làđến thời điểm khai sinh NXB Kim Đồng, vì thế, nhà văn Nguyễn Huy Tưởngđặt hàng nhà văn Đoàn Giỏi viết trong thời gian 4 tháng Ông nhận lời, nhưnggần 4 tháng trôi qua, vẫn chưa động bút Cho đến tháng 5, khi nhà vănNguyễn Huy Tưởng gặp lại, nhấn mạnh rằng cuốn sách đó sẽ in đúng vào thờiđiểm ra đời của NXB Kim Đồng là tháng 6-1957 Đến lúc này, Đoàn Giỏi bắtđầu viết Ông viết trong nỗi nhớ quê hương da diết, vì thế, chỉ sau một tháng,ông đã kịp hoàn
Trang 18thành Đất rừng phương Nam để “trả nợ” Đây là tác phẩm đầu tay Đoàn Giỏi
viết cho thiếu nhi và đã được đông đảo bạn đọc đón nhận nhiệt tình
Trong lễ kỷ niệm 90 năm ngày sinh nhà văn Đoàn Giỏi do NXB KimĐồng và Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức hôm 26-5, nhà thơ Hữu Thỉnh - Chủtịch Liên hiệp các hội Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà vănViệt Nam đã không giấu được nỗi xúc động Là người may mắn tiếp xúc với
tác giả Đất rừng phương Nam nhiều lần, nhà thơ Hữu Thỉnh kể lại nhiều kỷ
niệm nhưng ông cũng không quên khẳng định tài năng, cốt cách của Đoàn
Giỏi: “Người ta nói rằng những nhà văn thực sự tài năng là những nhà văn có khả năng bước qua đề tài, thể loại và đơn đặt hàng Đoàn Giỏi chính là một nhà văn như thế” [13].
Đất rừng phương Nam làm thay đổi một nhận thức vốn là định kiến
trong giới rằng, một tác phẩm viết theo đơn đặt hàng thì bị gò bó, trói buộc cả
đề tài và cảm xúc Nhưng tác phẩm này lại vượt qua những ràng buộc đó,Đoàn Giỏi hoàn toàn tự do với đơn đặt hàng và trở thành một trong những tên
tuổi viết cho thiếu nhi hay nhất Việt Nam Đất rừng phương Nam ra đời như
một bông hoa đẹp đã đáp ứng sách viết cho thiếu nhi và có ngay một vị tríquan trọng trong nền văn học nước nhà Hiện nay, tác phẩm này đã được dịch
ra nhiều thứ tiếng
nước ngoài
Đất rừng phương Nam là một tác phẩm viết cho thiếu nhi mà lại làm
say lòng cả người lớn và Đoàn Giỏi là một trong những nhà văn để lại ấntượng sâu sắc nhất trong lòng các thế hệ bạn đọc ở nước ta Ông là ví dụ đẹp
đẽ cho câu nói:“Ai yêu tuổi thơ, người đó có cả thế giới”.
1.2.3.2 Tóm tắt tác phẩm
Đất rừng phương Nam viết về cuộc đời phiêu bạt của cậu bé tên An.
Bối cảnh của tiểu thuyết là miền Tây Nam Bộ Việt Nam vào những năm sau
Trang 1913khi thực dân Pháp quay trở lại xâm chiếm Nam Bộ Pháp mở những trận đánhkhiến
Trang 20cho những người dân sống tại thành thị phải di tản An và ba mẹ cũng phải bỏnhà bỏ cửa để chạy giặc Theo cha mẹ chạy hết từ vùng này tới vùng khác củamiền Tây Nam Bộ, An kết bạn cùng với những đứa trẻ cùng trang lứa và cócuộc sống tuổi thơ vùng nông thôn đầy êm đềm Nhưng cứ vừa ổn định đượcmấy bữa thì giặc đánh tới nơi và lại phải chạy Trong một lần mải chơi, giặcđánh đến và An đã lạc mất gia đình Cậu trở thành đứa trẻ lang thang Ở nơichợ búa này, cậu gặp những người đầu tiên cứu mạng mình Dì Tư Béo bảocậu về làm giúp cho quán ăn của dì Thế là từ đó, cậu có nơi nương tựa, khôngcòn phải chịu cảnh đói khổ qua ngày Tại quán ăn dì Tư Béo, An có cơ hộitiếp xúc với nhiều người: anh Sáu tuyên truyền, những anh bộ đội, những kẻViệt gian bán nước như vợ chồng Tư Mắm, những người nông dân chân chấtnhư lão Ba Ngù Vợ chồng Tư Mắm làm nghề bán mắm dọc các con kênhrạch Vợ Tư Mắm là người đàn bà xinh đẹp, muốn mua chuộc An làm tay sai.Một buổi tối, An vô tình đọc được những dòng chữ tiếng Pháp viết trong cuốn
sổ của vợ chồng Tư Mắm An biết rằng bọn họ là Việt gian Khi họ hỏi thì Anđối đáp rất thông minh rằng, mình thấy nó đẹp mà chả hiểu gì Nhưng dì Tưsau đó lại bảo rằng An biết tiếng Pháp Vì thế, An chạy trốn, hai vợ chồng TưMắm đốt cháy quán dì Tư rồi bỏ đi Dì Tư Béo định dẫn An lên Thới Bìnhsinh sống nhưng An đã quyết định ở lại và tiếp tục cuộc sống không nơinương tựa Sau đó An gặp lại cha con ông lão bán rắn và Võ Tòng An đã đitheo họ và trở thành con nuôi của ông Hai rắn, anh em của thằng Cò Tuynghèo khó vất vả nhưng tía má nuôi rất thương An, coi cậu như con ruột củamình An còn được tía và thằng Cò dắt đi câu rắn, đi ăn ong và học đượcnhiều kinh nghiệm, thấy nhiều
điều mới lạ mà An chưa từng biết Tía nuôi dắt An đi tới thăm chú Võ Tòng
Võ Tòng sau này đòi đi giết Việt gian vì địch mua chuộc ông Ba Ngù Tronglần phục kích giặc trên cây, Võ Tòng đã giết chết tên Việt gian và một tên línhngụy Nhưng cuối cùng Võ Tòng đã bị mụ Tư Mắm chỉ điểm rồi bị tên tướng
Trang 21bắn chết Ông Ba Ngù kêu An chỉ mụ Tư Mắm và biết được thói quen làthường đi tắm vào buổi chiều, nên ông đã núp dưới đám bèo và dùng nỏ bắnchết mụ Thời gian sau bọn giặc phải lao đao nhiều lần vì ông U Minh thượng
đã bị giặc đóng chiếm, gia đình tía nuôi và An rời đi U Minh hạ sinhsống, gia nhập
phường săn cá sấu, sau đó tới Sróc Miên, chợ Mặt Trời, Năm Căn Tại đây Angặp lại dì Tư Béo và rồi An theo các anh du kích hoạt động cách mạng
Trang 22CHƯƠNG 2
VĂN HÓA NAM BỘ TRONG ĐẤT RỪNG PHƯƠNG NAM - NHÌN TỪ
NỘI DUNG PHẢN ÁNH
2.1 Bức tranh thiên nhiên đặc trưng của Nam Bộ
2.1.1 Thiên nhiên hoang sơ, dữ dội
Nói về Đoàn Giỏi, nhà văn Huỳnh Mẫn Chi đã thâu tóm tất cả sự hoang
sơ, trầm tịch của vùng đất phương Nam vào tính cách giản dị và mộc mạc của
chính Đoàn Giỏi như sau: “Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi như một xã
hội của miền sông nước Tây Nam Bộ thu nhỏ Bởi ở nơi đó, người đọc đã tìm thấy hình ảnh người dân của vùng đất phương Nam từ sông Tiền, sông Hậu trải dài đến Kiên Giang - Rạch Giá, rồi xuống tận rừng U Minh, sau đó dừng lại ở Năm Căn, Cà Mau Bối cảnh trong Đất rừng phương Nam là cả một đất trời thiên nhiên ưu đãi, cánh đồng bát ngát mênh mông, sóng nước rì rầm, rừng rậm bạt ngàn trù phú, thú rừng hoang dã muôn loài Sự tài tình của Đoàn Giỏi đã tái tạo lại bối cảnh sông nước, con người của thuở ông cha ta còn mang gươm mở cõi” [1].
Đoàn Giỏi rất am hiểu về vùng quê cha đất mẹ và làm thiên nhiên sốnglại bằng ngòi bút điêu luyện của mình Đó là một thiên nhiên với thời tiết khắcnghiệt, cùng một thế giới động vật đa dạng, phong phú và hung dữ
2.1.1.1 Thiên nhiên với thời tiết khắc nghiệt
Vì am hiểu thiên nhiên nơi đây nên những trang văn Đoàn Giỏi viết về
sự khắc nghiệt của thời tiết Nam Bộ vô cùng chân thực Đây là khung cảnh dữ
dội của thời tiết: “Lâu lâu, trời lại chớp lên một cái Mặt nước dòng kênh sáng
rực lên trong ánh chớp Những đầu ngọn cây tràm và chiếc xuồng không đang buộc bên kia bờ hiện lên xanh biếc, dường như trời đất cỏ cây và những gợn
Trang 23sóng lăn tăn không ngớt vỗ nhẹ đôi bờ kia thảy đều rung rung trong sắc xanh
kì ảo, mắt người chưa kịp trông rõ đã biến mất vào bóng tối” [3, tr.36].
Đây là cảnh thời tiết nặng nề từ cuối mùa khô để chuẩn bị cho mùa
mưa: “Những ngày đầu mùa mưa năm 1946 cứ ì ạch nặng nề lê đi từng bước
khó khăn như người đàn bà sắp ở cữ cứ trở dạ mãi mà vẫn chưa đẻ được Ở cái vùng nước mặn miền Tây Nam Bộ này, người ta mong mưa như bọn trẻ con chúng tôi mong mẹ về chợ Mưa có nước ngọt uống, có nước cầy bừa, nhưng
điều quan trọng nhất trước mắt, là mưa có thể làm chậm bước của địch trong các cuộc tấn công, gây trở ngại cho chúng trên các nẻo đường hành quân vì trơn trượt, sình lầy Trời càng sắp mưa thì càng oi bức khó chịu, ban ngày mặt trời đổ nắng chang chang, nóng như giội lửa Chỉ khi đêm đến mới có đôi chút gió lao xao từ hướng Vịnh Thái Lan thổi tới” [3, tr.19].
Thời tiết Nam Bộ có thể ví như một cô nàng đỏng đảnh Trời vừa nắng
to, rồi vài cơn gió bắt đầu thổi nghe man mát là cơn giông đã ùn ùn tới: “Mây
ở đâu từ dưới rừng xa, lúc nãy còn không trông thấy, giờ đã đùn đùn lên đen
sì như núi, bao trùm gần kín khắp bầu trời Từng cuộn mây khói đen là là hạ thấp xuống mặt kênh làm tối sầm những ngọn sóng đang bắt đầu gào thét, chồm chồm tung bọt trắng xóa Từng đàn cò bay vùn vụt theo mây, ngửa mặt trông theo gần như không trông kịp Xóm chợ Ngã Ba kênh dường như bé lại thu mình cúi rạp xuống mặt đất Mấy chiếc xuồng ba lá, mấy chiếc tam bản của người trên phố buộc dưới chân cầu nước trồi lên hụp xuống theo lượn sóng nhào, dựng mũi ngóc lên như ngựa muốn bứt dây cương” [3, tr.51].
Chứng kiến thời tiết khắc nghiệt nơi đây mới thấy hết nỗi nhọc nhằn của ngườinông dân Nam Bộ Hình ảnh con cò
tượng trưng cho những người nông dân làm lụng vất vả không kể ngày đêmhay bão táp mưa giông Thiên nhiên nơi đây luôn tiềm ẩn những nguy hiểm
Trang 24đối với con người, nhưng vì cuộc sống mưu sinh họ vẫn hàng ngày đối mặtvới nó như một quy luật tất yếu.
Trang 25Đây là khung cảnh thiên nhiên khi trời sắp chuyển mưa: “Gió thổi ầm
ầm ù ù, như có hàng nghìn chiếc cối xay lúa khổng lồ đang quay thẳng cánh trên trời Bên kia chỗ tôi đứng trống huếch trống hoác không một lùm cây bụi
cỏ Nhiều lúc, tôi có cảm giác như gió sắp nhấc bổng tôi lên, thổi tung đi Dãy phố ngó mặt ra kênh chuyển mình nghe răng rắc, cột gỗ hàng hiên lay lay như đưa theo một chiếc võng vô hình Ngói bị cuốn tung lên, bay khua lảng cảng trên nóc nhà nhiều nghe đến phát sợ” [3, tr.51] Trời đất nổi giận và hung dữ,
thách thức bản lĩnh con người: “Trời đất mỗi lúc một tối sầm lại Vũ trụ quay
cuồng trong cơn gió mãnh liệt Những tia chớp xé rạch bầu trời đen kịt phát
ra những tiếng nổ kinh thiên động địa chung quanh ngôi miếu” [3, tr.52].
Thiên nhiên phương Nam thử thách con người bởi sự khắc nghiệt ngay
từ những buổi đầu khai hoang để bắt đầu cuộc sống mới Sự hoang dã, khắc
nghiệt nơi đây hiện lên trên từng trang viết, khiến người đọc kinh ngạc: “Xa
lắm, ánh lửa còn bừng lên nhiều chỗ Có chỗ trông rõ cả ngọn lửa bốc cháy trên đầu ngọn cây Một vùng chân trời rực đỏ Xa xa có những đàn chim lượn vòng trên cao, kêu líu ríu Có lẽ chúng đang ngơ ngác không tìm về được nơi rừng xưa tổ cũ, nên cứ lượn mãi giữa trời kêu bi thiết đấy chăng?” [3, tr.154].
Một hệ sinh thái gần như đã bị cái nóng thiêu cháy: “Những con rùa, con cần
đước bò qua trảng cỏ trốn chạy không kịp, bị lửa đốt cháy còn trơ lại những cái mai như nồi đất úp lổm ngổm trên tro tàn Một khối than khổng lồ còn giữ nguyên hình gốc cây, đang âm ỉ bốc khói bên cạnh chỗ chúng tôi giấu xuồng Lục bình, rau mác dưới lung bị lửa táp cháy rụi lớp lá bên trên, phần chìm dưới
nước thì bị nước nóng luộc chín cả Xác cá, tôm, xác rắn trương phình trên mặt
nước phủ đầy tàn tro, bốc lên một mùi thối khắm nhức cả óc” [3, tr.159].
Mùa mưa ì ạch nặng nề, hung dữ bao nhiêu thì mùa nắng gắt gỏng, khắc
nghiệt bấy nhiêu: “Hơi nóng rừng rực từ giồng cát bốc lên làm hoa cả mắt.
Nắng đốt vàng ngọn cỏ, thiêu vàng lá tre Lâu lâu có một luồng gió từ xa chạy
Trang 26tới, cuốn từng vầng cát lớn bay mù mịt, phủ mất bóng những đàn bò uể oải đứng gặm cỏ khô dưới những tầng cây thốt nốt, khiến cho tôi có cảm giác những con bò mộng to tướng ấy đã bị cuốn theo vầng cát, bay lên biến mất giữa trời Cảnh vật chung quanh đều chìm trong một màu vàng buồn bã, rừng rực hơi nắng; chỉ có ngọn những cây thốt nốt cao lêu nghêu là còn giữ được sắc lá màu xanh” [3, tr.203-204].
Cả bầu trời với không khí oi ả, nắng cháy như sắp nuốt chửng mọi vật:
“Suốt ngày, ánh nắng rừng rực đổ lửa xuống mặt đất Bốn phía chân trời
trống huếch trống hoác Từ lúc mặt trời mọc cho tới khi mặt trời lặn, không kiếm đâu ra một bóng cây để tránh nắng Con kênh Mặt Trời còn phơn phớt màu đào buổi sáng, giữa trưa bỗng hóa ra một dòng thủy ngân cuồn cuộn lóa mắt, rồi dần dần biến thành một con suối lửa lúc trời chiều” [3, tr.209] Ấy
vậy mà con người nơi đây vẫn cứ hiên ngang trụ vững trên mảnh đất của mình
như thách thức với thiên nhiên: “Từ sáng sớm ghe thuyền đã cập vào bến chợ,
đậu san sát như lá tre Mũi xuồng này buộc nối vào lái thuyền kia, đen kín mặt nước Tiếng chim kêu râm ran trong đám ghe thuyền và trên sân chợ” [3,
tr.209]
Có thể nói, dưới ngòi bút của Đoàn Giỏi, thiên nhiên Nam Bộ với thờitiết khắc nghiệt rất đặc trưng của một vùng đất mới đã gây ra bao khó khănthử thách đối với con người Nhưng mặt khác, chính những thách thức, khókhăn đó sẽ hun đúc ý chí và sức sống mạnh mẽ của con người Nam Bộ
2.1.1.2 Thế giới động vật hung dữ
Không chỉ đối mặt với thời tiết khắc nghiệt, cư dân Nam Bộ trongnhững năm tháng này còn phải đối mặt với một thế giới động vật hung dữ.Vốn là vùng rừng thiêng nước độc, nơi đây tập trung rất nhiều loài bò sáthung hãn như rắn, hổ, cá sấu… Chúng luôn rình rập và đe dọa mạng sống của
con người: “Rắn không có tay chân Nhưng nó khỏe nhờ có sức quấn của
Trang 27xương sống Con trăn bắt nai, quấn con mồi siết mãi, bao giờ mềm, giật hết xương, nó mới nuốt.
Trang 28Thứ rắn rằn ri cóc, có con to cỡ bắp vế, ở dưới nước nó còn khỏe hơn con trăn!” [3, tr.118] Thế mà thằng Cò và An chỉ 14, 15 tuổi đã lập được chiến
tích lớn khi lần đầu tiên đi câu rắn cùng nhau: “Một con rắn rằn ri cóc to cỡ
bắp chân người lớn đang vùng vẫy uấn mình lên quấn lấy chùm dây câu Cái miệng nó há ra, đầy răng chơm chởm Chỗ ngạnh lưỡi câu mắc bên mép, máu chảy giọt giọt xuống nước Mỗi lần con rắn vặn mình cố siết cho đứt chùm dây câu, da nó nở ra, vồng lên như gai mít… Con rắn càng gồng mình siết chặt cổ tay thằng Cò Mồ hôi tươm ra ướt trán, chảy ròng ròng xuống má, nó bặm môi, cứ mặc thế, ngửa người ra sau lôi nguyên con rắn mắc câu vào xuồng” [3, tr.125].
Đến với vùng đất U Minh hạ, người đọc vừa ngạc nhiên vừa rùng mình
sợ hãi khi chứng kiến cả một bầy cá sấu đủ màu sắc: “Ôi chao, con cá sấu to
quá! Mình dài có hơn năm mét Chỗ quãng bụng giữa, ước chừng một vòng rưỡi tay người lớn ôm mới giáp… Thường thì da cá sấu màu xanh rêu pha bùn mốc, dưới lườn bụng thì hơi trắng, khắp mình trên mọc gai, có chỗ văn hoa lốm đốm Con cá sấu này, màu da xám ngoét như da cây bần, gai lưng mọc chừng ba đốt tay, trông rất dễ sợ” [3, tr.193] Những con vật hung dữ ấy
luôn luôn rình rập, đe dọa mạng sống của con người: “Trong bóng tối đen
ngòm phủ kín một vùng rộng dưới gốc cây sung, có vài mảng sáng lỗ chỗ Ở một chỗ sáng xanh nhờ, có một cái đuôi cọp vẫy qua vẫy lại Con cọp núp khuất đâu trong bóng tối, chỉ thấy có khúc đuôi của nó thôi” [3, tr.157] Sống
ở vùng sông nước này, con người buộc phải tinh nhanh và nhạy bén để bảo
vệ tính mạng của
mình
Càng đi sâu vào trong rừng, Đoàn Giỏi như mở ra cho người đọc hết
ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác về thế giới động vật: “Con chim ụt to
Trang 29tướng, lông rằn rực, từ trong bóng tối chập chờn lao vèo ngang qua đầu chúng tôi, luồng gió từ đôi cánh rộng quạt ra một mùi tanh tanh, lờm lợm, ngửi thấy phát buồn nôn” [3, tr.120].
Trang 30Trong một lần chạy thoát thân khỏi đám cháy, mặc cho ông Hai quátnhưng An vẫn cố ngoái đầu trông lại vì nghĩ là Tây chạy phía sau, nhưng
không phải: “Trong khói mù nhô ra một con heo đầu đàn, cao gần bằng con
bò, lông gáy dựng ngược, mũi ngước lên thở phì phì làm cho hai cái nanh dài chỗ khóe mép vươn ra như hai lưỡi dao găm Rồi vun vút tràn đến một bầy heo rừng, con lớn con bé tranh nhau chạy, sống lưng nhấp nhô tràn tới như một làn sóng mực… Chân tôi đạp lên một khúc lưng con vật gì trơn trơn, to như bắp chuối Tôi bị hất một cái mạnh, lảo đảo chúi tới trước Một con trăn gió uốn lưng trườn tới, đầu cất cao hơn ngọn sậy, ngoằn ngoèo lướt hút vào bụi cây trầm um tùm Lâu lâu lại gặp một con rắn to phóng ngược hướng gió, chắn ngang đường chúng tôi Tía con tôi phải chạy tránh chúng, cũng có lúc
cứ mặc kệ, nhảy bừa qua, bất chấp cả những đầu phồng mang dẹt đét đang lắc
lư phun nọc phì phì…” [3, tr.149].
Kinh hãi nhất là con vật trên cánh đồng mả, nằm bên cạnh ngôi mả:
“Con vật bò sát to lớn vừa bị đâm chết, những vết thương toang toác trên
lưng, bên bụng, giữa đầu tóe máu, máu còn chảy ròng ròng Ngôi mả ai mới chôn, nấm đất ngang chân mộ Và từ cái hang rộng đào bằng hai chân trước
ấy, con vật đã chui vào, cậy bật nắp áo quan lên, thò đầu vào ăn thịt cái thây ma… Mình nó dài và to cỡ một chiếc xuồng ba lá, chỗ vòng bụng thòi ruột còn đỏ vì máu chảy ri rỉ kia, phải đến hai vòng tay người to lớn ôm mới giáp”
[3, tr.222 - 223]
Những con vật dữ tợn ấy, lẽ ra phải tránh xa nhưng chính chúng lại lànguồn mưu sinh của con người nơi đây Vì thế, chính sự nguy hiểm thử tháchcủa vùng đất đã tôi rèn cho con người nơi đây sự dũng cảm, gan góc để tồn tạitrong cuộc sống
2.1.2 Thiên nhiên trù phú, hiền hòa
Thiên nhiên Nam Bộ không chỉ hoang sơ, khắc nghiệt mà còn trù phú,hiền hòa, ân nghĩa với cuộc sống con người
Trang 312.1.2.1 Sông nước, đất rừng trù phú
Trang 32Thiên nhiên Nam Bộ dưới ngòi bút của Đoàn Giỏi là mạng lưới sôngngòi chằng chịt cùng rừng cây bạt ngàn Khung cảnh đầu tiên mà An nhớ đến
là nơi vừa yên tĩnh, vừa đông vui, có mùi phù sa hòa quyện trong gió Nhữngcon đường me, đường xoài xanh mướt gắn với kỉ niệm tuổi thơ con trẻ:
“Những con đường hàng me mượt mà lớp áo xanh non sau những trận mưa
đầu mùa, suốt ngày vi vu tiếng kêu của những bầy ong không ngớt bay lượn trên những chùm hoa, làm rơi lả tả những cánh hoa trắng bé tí trên đầu bọn học trò nhỏ chúng tôi… Những con đường hàng xoài, mùa quả năm nào cũng
có những chú pô-lít áo vàng cứ trưa trưa lại núp trong các ngõ hẻm rình chộp lấy chiếc giàn thun của mấy đứa trẻ trốn bố mẹ, vờ đi học sớm để ra đó bắn quả xanh…” [3, tr.76] Trong trí nhớ của An, đó là một vùng quê yên bình,
phẳng lặng, nơi chính An đã tận mắt nhìn thấy và đi qua: “Những làng mạc
êm đềm, bóng dừa bóng chuối che rợp các khu vườn mát rượi đất phù sa, con đường rất nhỏ lượn trên bờ rạch nước đầy ăm ắp soi bóng những cây sầu riêng, măng cụt… Những ngôi nhà mái đỏ thấp thoáng trong các khu vườn xoài…” [3, tr.85].
Dưới ánh mặt trời vàng óng, cây cối nơi đây hiện lên như một bức tranh
thật đẹp:“Những thân cây trám vỏ trắng vươn thẳng lên trời, chẳng khác gì
những cây nến khổng lồ, đầu lá rũ phất phơ như những đầu lá liễu bạt ngàn.
Từ trong biển lá xanh rờn đã bắt đầu ngả sang màu úa, ngát dậy một mùi hương lá tràm bị hun nóng dưới mặt trời, tiếng chim không ngớt vang ra, vang mãi lên trời cao xanh thẳm không cùng Trên các trảng rộng và chung quanh những lùm bụi thấp mọc theo các lạch nước, nơi mà sắc lá còn xanh, ta có thể nghe tiếng gió vù vù bất tận của hàng nghìn loại côn trùng có cánh không ngớt bay đi bay lại trên những bông hoa nhiệt đới sặc sỡ, vừa lộng lẫy nở ra
đã vội tàn nhanh trong nắng Mùi hương ngòn ngọt nhức đầu của những loài hoa rừng không tên tuổi đằm vào ánh nắng ban trưa, khiến con người dễ sinh
Trang 33buồn ngủ và sẵn sàng ngả lưng dưới một bóng cây nào đó, để cho thứ cảm giác mệt mỏi chốn rừng
Trang 34trưa lơ mơ đưa mình vào giấc ngủ chẳng đợi chờ” [3, tr.147] Có lẽ mạng lưới
sông ngòi dày đặc với lượng phù sa mầu mỡ đã tạo nên sức sống đặc biệt cho
cây cối nơi đây: “Có nhiều thứ cây mỗi cái lá đẹp như một cái hoa, do dòng
nước mang hạt giống từ những vùng đất xa xôi nào đưa về tận đây nhờ bọt sóng đánh giạt lên bờ” [3, tr.221].
Đoàn Giỏi đã làm hiện lên một vùng không gian mênh mông với sôngngòi, kênh rạch bủa giăng chi chít như mạng nhện và bao trùm là màu xanh
của trời nước, tiếng rì rào bất tận của rừng cây: “Càng đổ gần về hướng mũi
Cà Mau thì sông ngòi, kênh rạch càng bủa giăng chi chít như mạng nhện Trên thì trời xanh dưới thì nước xanh, chung quanh mình cũng chỉ toàn một sắc xanh cây lá Tiếng rì rào bất tận của những khu rừng xanh bốn mùa, cùng tiếng sóng rì rào từ biển Đông và vịnh Thái Lan ngày đêm không ngớt vọng
về trong hơi gió muối - thứ âm thanh đơn điệu triền miên ấy ru ngủ thính giác, càng làm mòn mỏi và đuối dần đi tác dụng phân biệt của thị giác con người trước cái quang cảnh chỉ lặng lẽ một màu xanh đơn điệu” [3, tr.216].
Cảnh kênh rạch vùng Cà Mau được kể lại qua những cái tên lạ và
những lời giải thích thú vị: rạch Mái Giầm, kênh Bọ Mắt, kênh Ba Khía…
Qua cách đặt tên, ta thấy thiên nhiên ở đây còn rất tự nhiên, hoang dã, phongphú và con
người sống rất gần với thiên nhiên, nên họ giản dị, chất phác ngay từ cách đặttên cho kênh rạch, đất đai không phải bằng những danh từ mĩ lệ, mà cứ theo
đặc điểm riêng biệt của nó mà gọi thành tên: “Ở đây, người ta gọi tên đất tên
sông không phải bằng những danh từ mỹ lệ, mà cứ theo đặc điểm riêng biệt của nó mà gọi thành tên Chẳng hạn như gọi rạch Mái Giầm, vì hai bên bờ rạch mọc toàn những cây mái giầm cọng tròn xốp nhẹ, trên chỉ xòa ra độc một cái lá xanh hình chiếc bơi chèo nhỏ; gọi kênh Bọ Mắt vì ở đó tụ tập không biết
cơ man nào là bọ mắt đen như hạt vừng, chúng cứ bay theo thuyền từng bầy như những đám mây nhỏ, ta bị nó đốt vào da thịt chỗ nào là chỗ đó ngứa ngáy
Trang 35nổi mẩn đỏ tấy lên; gọi kênh Ba Khía vì ở đó hai bên bờ tập trung toàn những con ba khía, chúng bám đặc sệt quanh các gốc cây” [3, tr.217].
Đây là vẻ hoang sơ của khung cảnh trời nước Nam Bộ: “Thuyền xuôi
giữa dòng con sông rộng hơn ngàn thước, trông hai bên bờ, rừng được dựng lên cao ngất như hai dãy trường thành vô tận Cây đước mọc dài theo bãi, theo từng lứa trái rụng, ngọn bằng tăm tắp, lớp này chồng lên lớp kia ôm lấy dòng sông, đắp từng bậc màu xanh lá mạ, màu xanh rêu, màu xanh chai lọ lòa nhòa ẩn hiện trong sương mù và khói sóng ban mai… Nhưng Năm Căn còn có cái bề thế của một trấn “anh chị rừng xanh” đứng kiêu hãnh phô ngang sự trù phú của nó trên vùng đất cuối cùng của Tổ quốc” [3, tr.217].
Những cánh rừng nơi đây dựng lên cao ngất như “dãy trường thành vô
tận”, vừa hoang sơ vừa huyền bí: “Rừng đước mênh mông Cây đước mọc dài tăm tắp, cây nào cây nấy thẳng như cây nến khổng lồ Rễ cao từ ba bốn thước tua tủa giương ra chung quanh như những cánh tay từ trong thân cây thò ra bám đất Mặt đất lầy nhẵn thín, không một cọng cỏ mọc Chỉ có vài chiếc lá rụng mà nước triều chưa lên kịp để cuốn đi, và bóng nắng chiếu xuyên qua những tầng lá dày xanh biếc, soi lỗ chỗ trên lượt bùn mượt mà vàng song li ti vết chân của những con dã tràng bé tẹo Những buổi triều lên, nước chỉ ngập quá gối thôi, chúng tôi năm bảy đứa rủ nhau đi bắt vọp, bắt cua, trên đường
về thường đuổi nhau chui qua những "cánh tay đước", móc bùn ném nhau, té nước và reo đùa ầm ĩ, những lúc đang vui vẻ chung quanh có đông bạn bè ấy thì tôi có cảm giác như rừng đước đang xôn xao từ dưới biển mọc lên” [3,
tr.229]
Có thể nói, Đất rừng phương Nam của Đoàn Giỏi là những khám phá
tinh tế, đặc sắc, được sàng lọc một cách cẩn thận về cái đẹp của thiên nhiên,con người, đất nước Đoàn Giỏi như truyền cho người đọc tình yêu và niềm tựhào về dải đất phương Nam của Tổ quốc
2.1.2.2 Sản vật trù phú
Trang 36Đoàn Giỏi đã từng viết một loại sách về các con vật trên rừng, dướibiển, trong đó mỗi con (hổ, cá sấu, voi…) ông đều kể đến trên dưới 50 trang
sách Trong Đất rừng Phương Nam, ông chỉ sử dụng một phần rất nhỏ vốn
sống phong phú đó mà đã làm người đọc đi từ từ ngạc nhiên này đến ngạc
nhiên khác: “Một con ba ba to gần bằng cái nong, đặt lật ngửa, cứ ngọ nguậy
bơi bơi bốn chân trước ông cụ già ngồi lim dim đôi mắt Những con rùa vàng
to gần bằng cái tô, đều tăm tắp như đổ ở cùng một khuôn ra, nằm rụt cổ trong mấy chiếc giỏ cần xé Đây là một con nai người ta vừa xẻ thịt ra bán, cái thủ còn nguyên chưa lột da bày giữa đống thịt đỏ hỏn trên một tấm lá chầm Cua biển cũng có, ếch cũng có, nghêu sò cũng có Còn cá tôm thì nhiều lắm, đủ các loại tôm, không kể xiết Tôi bước thêm mấy bước, qua những đống trái khóm chín vàng tỏa thơm mùi mật, thấy hai con trút nằm khoanh, vảy xếp lại như những đồng hào lấp lánh Có tiếng chim gì mổ nhau kêu quang quác trong chiếc lồng kẽm chỗ tối tối: ngọn đèn vừa bị cánh chim đánh nhau quạt tắt, và người chủ bán chưa kịp thắp lên Một chú khỉ con cứ nhảy qua nhảy lại lia lịa, chờn vờn trèo lên đống bí ngô” [3, tr.12] An tỏ ra thích thú với cái chợ
“lạ lùng” này và trong thâm tâm cậu nghĩ rằng, Tây sắp đánh tới nơi nênngười ta đem cả vườn bách thú ra để bán!
Thế giới động vật mở ra ngày càng phong phú và đầy màu sắc qua con
mắt của Đoàn Giỏi: “Mấy con kỳ nhông nằm vươn kỳ phơi lưng trên gốc cây
mục, sắc da lưng luôn luôn biến đổi từ xanh hóa vàng, từ vàng hóa đỏ, từ đỏ hóa tím xanh… Giữa vùng cỏ xanh khô vàng, gió thổi lao xao, một bầy chim hàng nghìn con vụt cất cánh bay lên Chim áo già màu nâu, chim manh manh
mỏ đỏ bàng như màu thuốc đánh bóng tay, lại có những bộ lông xám tro điểm những chấm trắng chấm đỏ li ti rất đẹp mắt… Những con chim nhỏ bay vù vù, kêu líu ríu lượn vòng trên cao một chốc, lại đáp xuống phía sau lưng chúng tôi” [3, tr.130] Trước mắt An hiện lên cả một kho báu của thiên nhiên: “Từng xâu chim
Trang 37trắng, chim đen buộc chân, dồn chật trong khoang; những con chim bị trói chen nhau ngóc cổ lên, con này mổ vào lưng con kia, đập cánh phành phạch Một thằng bé gánh tòn ten hai con chim gì lạ quá, cổ dài như cổ rắn, to gấp rưỡi con vịt bầu, sắc lông màu vàng xám Những con chằng bè đồ sộ như con ngỗng, mỏ to bằng cổ tay cứ gõ vào nhau lộp cộp làm rung rung mảnh da mềm thòng xuống tận cổ như cái diềm lụa mỡ gà Những con giang sen cẳng cao lêu nghêu, nặng hàng năm bảy cân thịt, bị khớp mỏ, tréo cánh đứng giữa đám sếu đen sếu xám mào đỏ, đầu không ngớt nghiêng qua nghiêng lại ngó theo mấy con ó biển đang lượn vòng trên kênh Cò thì không biết bao nhiêu
mà kể Cò ngà, cò trắng, cò xanh, cò ma buộc từng xâu, chất nằm hàng đống” [3, tr.210-211] Và nguồn thực phẩm nhiều vô kể: “Trứng le le, trứng trích, trứng cò đẻ rơi trong đồng cỏ, không có chủ Ai gặp nấy hốt” [3,
tr.212]
Đoàn Giỏi đưa người đọc lạc vào thế giới với đủ các loài chim nơi đây:
“Từ chỗ vệt rừng đen xa tít đó, chim cất cánh tua tủa bay lên, giống hệt đàn
kiến từ lòng quả đất chui ra, bò li ti đen ngòm lên da trời Càng đến gần, khi bóng chim chưa hiện rõ hình đôi cánh, thì quang cảnh đàn chim bay lên giống như đám gió bốc tro tiền, tàn bay liên tri hồ điệp Những bầy chim đen bay kín trời, vươn cổ dài như tàu bay cổ ngỗng lướt qua trên sông Chim đậu chen nhau trắng xóa trên những đầu cây mắm, cây chà là, cây vẹt rụng trụi gần hết
lá Cồng cộc đứng trong tổ vươn cánh như tượng những người vũ nữ đồng bằng đen đang vươn tay múa Chim già đãy, đầu hói như những ông thầy tu mặc áo xám, trầm tư rụt cổ nhìn xuống chân Nhiều con chim rất lạ, to như con ngỗng đậu đến quằn nhánh cây” [3, tr.214].
Dù là trên cạn hay dưới nước thì nguồn thực phẩm nơi đây luôn ưu đãi
con người: “Những con cá thòi lòi to bằng ngón chân cái, cặp mắt ốc nhồi
mọc trên đầu giống như hai hột mồng tơi, hễ nghe bước chân chúng tôi đến
Trang 38gần là y như chúng giương cái kỳ ngũ sắc trên lưng thành một cánh buồm, phóng bay