1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật bang giao hảo thoại của ngô thì nhậm

71 98 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm hiểu, đi sâu nghiên cứu Bang giao hảo thoại của Ngô Thì Nhậm sẽ giúp chúng ta không chỉ thấy được giá trị nội dung, tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm mà còn hiểu thêm về một trong

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

======

NGUYỄN THỊ VI

TÌM HIỂU GIÁ TRỊ NỘI DUNG VÀ

NGHỆ THUẬT BANG GIAO HẢO THOẠI CỦA NGÔ THÌ NHẬM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

======

NGUYỄN THỊ VI

TÌM HIỂU GIÁ TRỊ NỘI DUNG VÀ

NGHỆ THUẬT BANG GIAO HẢO THOẠI CỦA NGÔ THÌ NHẬM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học

ThS LÊ THỊ HẢI YẾN

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

Hà Nội, ngày 02 tháng 05 năm 2018

Tác giả khóa luận

Nguyễn Thị Vi

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: Tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ

thuật Bang giao hảo thoại của Ngô Thì Nhậm là kết quả nghiên cứu của bản thân,

có sự tham khảo và kế thừa ý kiến của những người đi trước dưới sự hướng dẫnkhoa học của giáo viên hướng dẫn Những phần sử dụng tài liệu tham khảo, các sốliệu kết quả trình bày trong khóa luận là hoàn toàn trung thực, nếu sai tôi xin chịuhoàn toàn trách nhiệm

Hà Nội, ngày 02 tháng 05 năm 2018

Tác giả khóa luận

Nguyễn Thị Vi

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Đóng góp của khóa luận 4

7 Cấu trúc của khóa luận 4

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 5

1.1 Tình hình lịch sử - xã hội, văn hóa tư tưởng Việt Nam thế kỉ XVIII 5

1.1.1 Tình hình kinh tế và đời sống của nhân dân 5

1.1.2 Phong trào nông dân rầm rộ - thế kỷ “nông dân khởi nghĩa” 7

1.1.3 Về triều đại Tây Sơn 8

1.1.3.1 Sự ra đời của triều đại Tây Sơn 8

1.1.3.2 Hoạt động ngoại giao thời Tây Sơn 9

1.2 Ngô Thì Nhậm và Bang giao hảo thoại 12

1.2.1 Cuộc đời, sự nghiệp 12

1.2.1.1 Cuộc đời 12

1.2.1.2 Sự nghiệp 17

1.2.2 Bang giao hảo thoại 19

Tiểu kết chương 1 20

Chương 2: BANG GIAO HẢO THOẠI NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG 21

2.1 Khẳng định độc lập chủ quyền đất nước 21

2.2 Giữ quan hệ hòa hiếu với nước láng giềng 27

2.3 Hình ảnh vua Quang Trung 37

Tiểu kết chương 2 39

Chương 3: BANG GIAO HẢO THOẠI NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT .40

Trang 6

3.1 Thể loại, hệ thống văn thể 40

3.2 Lý lẽ, lập luận 48

3.3 Thủ pháp ngôn từ 55

Tiểu kết chương 3 59

KẾT LUẬN 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

Nẵng có viết: “Với Bang giao hảo thoại, qua ngòi bút sắc bén, vừa đanh thép, kiên

quyết nêu cao chính nghĩa, vừa khéo léo, mềm mỏng, hợp tình hợp lý, Ngô ThìNhậm đã thể hiện xuất sắc thiên tài chính trị của vua Quang Trung là khéo bi lẽ mớidẹp nổi việc binh đao, khi mà nhà Thanh bị đánh thua, nhịn thì thẹn mà báo thù thìkhó Vị quân sư số một của Quang Trung, đáng được xếp vào hàng nhân vật đứngngay sau Nguyễn Trãi trong lịch sử ngoại giao của nước Việt, đáng được liệt vàonhững người viết thư thảo hịch giỏi hơn hết một thời.” [1, 97 - 103]

Tìm hiểu, đi sâu nghiên cứu Bang giao hảo thoại của Ngô Thì Nhậm sẽ giúp

chúng ta không chỉ thấy được giá trị nội dung, tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm

mà còn hiểu thêm về một trong những trang sử đáng tự hào nhất của mặt trận ngoạigiao và những bài học lịch sử quý giá mà tác phẩm này để lại cho hậu thế Đó lànhững lí do khoa học mà chúng tôi quyết định lựa chọn và nghiên cứu đề tài này

1.2 Lí do thực tiễn

Thực tế hiện nay tác giả Ngô Thì Nhậm được giới phê bình, nghiên cứu quantâm và tìm hiểu trên nhiều bình diện nhưng vẫn còn nhiều điều đáng nói Các sáng

Trang 8

tác của Ngô Thì Nhậm có dung lượng khá lớn, tuy nhiên trong giáo trình văn học

trung đại cũng chưa giới thiệu nhiều đến các tác phẩm của ông, đặc biệt là Bang

giao hảo thoại.

Bản thân là một giáo viên, tôi luôn muốn tìm hiểu sâu sắc các tác giả và tácphẩm của văn học trung đại để có cái nhìn toàn diện về dòng chảy văn học ViệtNam Đặc biệt là những tác giả có tư tưởng và tài năng văn học, chính trị, bang giaolỗi lạc như Ngô Thì Nhậm

Đây là lí do mà chúng tôi chọn đề tài: Tìm hiểu giá trị nội dung và nghệ thuật

Bang giao hảo thoại của Ngô Thì Nhậm Nghiên cứu đề tài này phần nào thấy được

giá trị của tác phầm, đồng thời chỉ ra được vị trí của nó trong tiến trình văn chínhluận trung đại Việt Nam cũng như thấy được vị trí của Ngô Thì Nhậm trong dòngchảy văn học dân tộc

2 Lịch sử vấn đề

Qua khảo sát, tìm hiểu chúng tôi thấy Bang giao hảo thoại là một đề tài khá

hấp dẫn, tuy nhiên chưa được giới nghiên cứu quan tâm và dụng công phân tích.Tác phẩm này mới được đề cập đến trong cái nhìn khái quát về ngoại giao thời TâySơn nói chung, hay những đánh giá về tư tưởng ngoại giao của vua Quang Trung,hoặc những nghiên cứu về thể loại văn chính luận trung đại Việt Nam

Trong sách Quang Trung anh hùng dân tộc của nhà nghiên cứu Hoa Bằng, nhà xuất bản Bốn Phương (1944), Bang giao hảo thoại được nhắc đến bên cạnh những đánh giá về vua Quang Trung và triều đại Tây Sơn Trong cuốn Cách mạng

Tây Sơn của nhà sử học Văn Tân, nhà xuất bản Sử - Địa (1958), Bang giao hảo thoại mới chỉ được đề cập đến trong những trang phân tích về quan hệ bang giao

giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc vào những năm 1789 - 1802, đặc biệt là đềcao công lao và tài năng ngoại giao của vua Quang Trung mà chưa có những nhìnnhận về vai trò to lớn của Ngô Thì Nhậm trong công cuộc ngoại giao phức tạp ấy.Một số công trình nghiên cứu về ngoại giao thời Tây Sơn như: năm 1996 có luận án

Tiến sĩ của Nguyễn Ngọc Nhuận với đề tài Nghiên cứu và đánh giá văn bản thơ văn

bang giao đi sứ của Phan Huy Ích Trong đó tác giả đã phân tích, đánh giá về giá trị

Trang 9

nội dung và nghệ thuật các tác phẩm của ông cũng như tài năng của Phan Huy Ích

trong công cuộc bang giao với nhà Thanh, Bang giao hảo thoại và Ngô Thì Nhậm

được nhắc đến bên cạnh những tác phẩm của Phan Huy Ích giúp ngoại giao thờiTây Sơn thành công mà thôi Hay trong luận án tiến sĩ năm 2014 của nghiên cứu

sinh Nguyễn Đức Thăng Văn chính luận trung đại Việt Nam - Trung Quốc tiếp biến

và phát triển, tác giả cũng đề cập đến nhiều khía cạnh nội dung và nghệ thuật đặc

sắc của các thể loại thư từ bang giao trong ngoại giao dưới thời trung đại nói chung

và triều đại Tây Sơn nói riêng, Bang giao hảo thoại được đề cập đến trong cái nhìn

khái quát đó

Vậy chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên sâu nào về giá trị nội

dung và nghệ thuật của Bang giao hảo thoại, đánh giá đúng tài năng của Ngô Thì

Nhậm về quân sự, ngoại giao, tài năng văn chương của ông trong tác phẩm này Vớithái độ trân trọng và kế thừa những thành tựu nghiên cứu của những người đi trước,trong khuôn khổ cho phép, khóa luận xin phép được tiếp tục mở rộng và bổ sung

nhiều ý kiến, quan điểm của bản thân về tập Bang giao hảo thoại của Ngô Thì

Nhậm trong tiến trình văn chính luận trung đại Việt Nam

3 Mục đích ngiên cứu

Thực hiện đề tài này chúng tôi hướng đến mục đích sau:

- Góp phần tìm hiểu thêm một tác phẩm thộc thể loại văn chính luận trung đại

Việt Nam, chỉ ra được đặc điểm nội dung và nghệ thuật của tập Bang giao hảo

thoại.

- Qua nhưng đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của Bang giao hảo thoại,

khẳng định vì trí, vai trò của tác phẩm nói riêng và của Ngô Thì Nhậm nói chungtrong ngoại giao thời Tây Sơn

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Bang giao hảo thoại trong sách Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 3 do Lâm Giang

- Nguyễn Công Việt (chủ biên) (2005), NXB Khoa học Xã hội, từ trang 395 - 853

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình triển khai đề tài, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứuvăn bản văn học, phương pháp nghiên cứu văn học sử Ngoài ra, luận văn còn sử

Trang 10

dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành để khai thác tài liệu liên quan đến lịch sửbang giao thời Tây Sơn, cuộc đời và sự nghiệp của vua Quang Trung và trí sĩ NgôThì Nhậm; phương pháp phân tích tác phẩm để thấy được giá trị nội dung và nghệ

thuật của Bang giao hảo thoại.

6 Đóng góp của khóa luận

Qua việc khảo sát về tác phẩm Bang giao hảo thoại, luận văn góp thêm một

cái nhìn mới về ngoại giao thời Tây Sơn, vua Quang Trung trên mặt trận ngoại giaocũng như đánh giá đúng tài năng và công lao của mưu sĩ Ngỗ Thì Nhậm - cận thầntrung thành, trợ thủ đắc lực, tri âm tri kỷ của vua Quang Trung Đồng thời, ôngcũng được coi là mắt xích quan trọng trong ngoại giao giữa Đại Việt và Trung Quốcdưới triều Tây Sơn

7 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, khóa luận gồm

3 chương:

Chương 1 Những vấn đề chung

Chương 2: Bang giao hảo thoại nhìn từ phương diện nội dung

Chương 3: Bang giao hảo thoại nhìn từ phương diện nghệ thuật

Trang 11

NỘI DUNGCHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Tình hình lịch sử - xã hội, văn hóa tư tưởng Việt Nam thế kỉ XVIII

Thế kỉ XVIII, chế độ phong kiến Việt Nam bước vào giai đoạn khủng hoảngtrầm trọng Sự tồn tại của hai thế lực phong kiến lớn (Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài vàchúa Nguyễn ở Đàng Trong) chính là vật cản trên con đường phát triển của lịch sửdân tộc Các thế lực phong kiến này càng ngày càng tha hóa, không ngừng tranhgiành xâu xé nhau đưa đến những cuộc chiến tranh liên miên, gây ra biết bao đauthương cho dân tộc Việt Nam

Đời sống của người dân hết sức khổ cực (đặc biệt là người nông dân) vìchiến tranh, mất mùa, đói kém, nạn tham ô, gánh nặng thuế khóa… Không còn lựachọn nào khác, họ buộc phải đứng lên đấu tranh để tự giải phóng cho mình Trongthế kỉ này, hàng trăm cuộc khởi nghĩa nông dân đã bùng nổ khắp Đàng Ngoài lẫnĐàng Trong tạo thành một phong trào đấu tranh của nông dân rộng lớn, quyết liệtlàm lung lay hệ thống chính trị của các tập đoàn phong kiến Đỉnh cao của chíếntranh nông dân khởi nghĩa thế kỷ XVIII là phong trào Tây Sơn với những cống hiến

vĩ đại trong lịch sử phát triển của dân tộc

Với những biến cố như vậy, thế kỷ XVIII được mệnh danh là “thế kỷ nôngdân khởi nghĩa” Tình hình lịch sử - xã hội Việt Nam thế kỷ này có những đặc điểmnổi bật sau:

1.1.1 Tình hình kinh tế và đời sống của nhân dân

Sự chiếm đoạt ruộng đất của giai cấp địa chủ: chiến tranh phong kiến tronghơn một thế kỉ sau khi nhà Lê sụp đổ đã tạo điều kiện cho các làng xã, địa phương

xa trung ương tách khỏi sự quản lý trực tiếp từ nhà nước và nâng cao tính tự trị.Trước tình hình đó, năm 1664 nhà nước phải ban hành phép “Bình lệ” để có thể thuthuế Tuy nhiên, do bấy giờ nhà nước chỉ đánh thuế ruộng công, nên số hộ tănggiảm thất thường, ruộng đất dần lọt vào tay các nhà hào phú Cường hào địa chủ thinhau vơ vét, chiếm đoạt ruộng đất của dân và còn làm lũng đoạn ruộng đất côngvốn đã bị nhà nước cắt xén nhiều

Trang 12

Vì lý do trên, trong mấy chục năm cuối thế kỷ XVII - đầu thế kỷ XVIII đãdiễn ra 9-10 trận đói lớn, cùng với đó hình thành những địa chủ lớn có hàng nghìnmẫu ruộng Tình hình nghiêm trọng đến mức, năm 1728, chúa Trịnh Cương đã phảikêu lên “Ruộng đất rơi hết vào các nhà hào phú, còn dân nghèo thì không có mộtmiếng đất cắm dùi.” [25, 393-394] Tình trạng này không chỉ diễn ra ở đồng bằng

mà còn diễn ra ở cả những miền thượng du, bọn quyền thế làm văn khế giả đểchiếm đoạt ruộng đất của dân cày, buộc người dân phải bỏ đi lưu tán, cuộc sống vôcùng khổ cực

Một tình trạng nổi bật nữa có thể kể đến là: do hậu quả của các cuộc chiếntranh phong kiến, cát cứ, nhiều người đã tình nguyện cúng ruộng đất tư của mình cholàng xã hay cho chùa, với hi vọng được thờ cúng sau khi qua đời (gọi là ruộng hậu)

Từ đó, làng xã trở thành chủ một số ruộng đáng kể Với tình trạng như vậy, năm

1722, chúa Trịnh đã thực hiện một cuộc cải cách về chế độ tô thuế, bắt đầu đánh thuếruộng tư Tuy nhiên, khi thực hiện, nhà nước lại quy định miễn thuế ruộng tư choquan lại theo thứ bậc, thành ra ruộng đất của quan lại, địa chủ lại ngày càng tăng lên.Cuộc sống của nhân dân vốn không được cải thiện mà ngày càng khổ cực

Mâu thuẫn, đối kháng giai cấp trở lên quyết liệt hơn, năm 1740 Trịnh Doanhthực hiện chính sách “tỉnh điền” với hi vọng “quân bình giàu nghèo”, “san đều thuếdịch” Tuy nhiên, việc làm đó không cải thiện được tình hình là bao, bởi việc khámđạc ruộng đất chỉ thêm phiền nhiễu, nạn trộm cướp vẫn hoành hành chưa được giảiquyết Sự phát triển của chế độ tư hữu địa chủ về ruộng đất đã đạt đến đỉnh cao, ảnhhưởng to lớn đến đời sống xã hội

Bộ máy quan lại thời Lê - Trịnh ở đầu thế kỷ XVIII không còn được nhưtrước nữa Để thực hiện chính sách chuyên quyền, nắm hết quyền hành trong tay,phủ chúa đã thay 3 phiên cũ trước đây thành 6 phiên mới (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình,Công), mỗi phiên gồm 60 người, phụ trách chính những hoạt động của các bộ Sốlượng quan lại tăng lên, bộ máy quan lại cồng kềnh Bãi bỏ chế độ lộc điền cũ, nhà

Lê - Trịnh đặt ra chế độ ban cấp xã dân lộc cho các quan, trực tiếp đặt gánh nặngphú dịch lên xã dân Khi đặt chế độ thuế khóa ruộng đất, mọi chính sách của nhànước đều bất lợi và đè nặng lên người dân Khiến đời sống của nông dân ngày càngkhổ cực

Trang 13

Đói kém xảy ra liên miên, nhu cầu chi tiêu của nhà nước ngày càng gia tăng,nhân dân không nộp được thuế phải bỏ đi lưu tán Lúc này nhà nước lại đặt ra lệmua quan bán tước để thu tiền, thóc; không chỉ thế còn đặt “tiền thông kinh” (cứnộp tiền là được vào thi Hương) Điều này dẫn đến tình trạng khoa cử suy đồi, quanlại thối nát tham nhũng ngày càng gia tăng.

Trong tình trạng đó, thay vì các chúa tập trung giải quyết tình hình, quan tâmđến đời sống của nhân dân thì chính các chúa lại làm gia tăng sự khổ cực cho ngườidân bằng việc xây dựng các chùa chiền, cung tẩm…

Do bất lực trong việc quản lý và bảo về các công trình thủy lợi, chính vì vậynhà nước Lê - Trịnh đã bỏ mặc cho quan lại các địa phương thu tiền của người dân

và thuê người làm Bọn chúng thừa cơ hội nhũng nhiễu nhân dân, hạch sách, tham

ô, vơ vét tiền của không kể siết Lụt lội, mất mùa, đói kém xảy ra liên miên trongsuốt các năm từ 1690 đến năm 1729, thảm cảnh xảy ra khi dân nghèo phải ăn vỏcây, rau cỏ, lá cây, thây chết đói đầy đường, thôn xóm tiêu điều

Thiên tai, sản xuất nông nghiệp chỉ là một trong nhiều nguyên nhân đẩy nhânnhân đến thảm cảnh đói khổ Chính chính sách thuế khóa nặng nề của nhà nước mới

là nguyên nhân lớn gây ra sự cực khổ của người dân Khắp nơi làng xóm điêu tàn,kinh tế suy sụp, người nông dân lưu tán hoặc chết đói, tha phương cầu thực hoặcdùng chút lực tàn cuối cùng để khai phá đất hoang hay canh tác trên các thửa ruộng

bỏ hóa của các hộ lân cận

Cuối cùng, khi tình hình không thể cứu vãn được nữa, “tức nước vỡ bờ”, họđành nổi dậy chống phá, lật đổ giai cấp cường hào ác bá và nhà nước phong kiến.Phong trào nông dân khởi nghĩa nổ ra khắp mọi miền, trở thành xu thế thời đại này

1.1.2 Phong trào nông dân rầm rộ - thế kỷ “nông dân khởi nghĩa”

Bước sang thế kỷ XVIII, đặc biệt là giữa thế kỷ XVIII, phong trào nổi dậycủa nhân dân diễn ra ở khắp nơi Năm 1737, có cuộc nổi dậy của nhà sư NguyễnDương Hưng ở vùng Sơn Tây Năm 1738, có cuộc khởi nghĩa do Lê Duy Mật ởThanh Hoá, cuộc khởi nghĩa này duy trì được đến năm 1770 Năm 1740 - 1741 cócuộc khởi nghĩa do thủ lĩnh Thoan, thủ lĩnh Thiều lãnh đạo ở Hưng Hoá Ở Sơn Tây

có cuộc khởi nghĩa của thủ lĩnh Tương từ năm 1741 đến năm 1752 Hay Toản Cơ

Trang 14

lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ở Lạng Sơn từ năm 1740 đến 1742 Ngoài ra còn có cáccuộc khởi nghĩa khác ở vùng trung tâm đồng bằng bắc bộ như: Nguyễn Tuyển,Nguyễn Cừ, Vĩ Trác Oánh, Vũ Đình Dung, Đoàn Danh Chấn, Tú Cao, NguyễnDanh Phương (1741 - 1751), Nguyễn Hữu Cầu (1741 - 1751), Hoàng Công Chất(1739 - 1769) Mặc dù hầu hết các cuộc khởi nghĩa này đều thất bại, nhưng ít nhiều

nó đã góp phần làm cho bộ máy chính tri của chúa Trịnh ngày một suy tàn và sau

đó bi kết thúc bởi cuộc Bắc tiến của Nguyễn Huệ

1.1.3 Về triều đại Tây Sơn

1.1.3.1 Sự ra đời của triều đại Tây Sơn

Nhà Tây Sơn được ra đời trong bối cảnh hết sức đặc biệt Ở Đàng Ngoài thếlực họ Trịnh ngày một suy yếu, mệt mỏi bởi các cuộc khởi nghĩa liên miên, bản thânnội bộ họ Trịnh cũng lục đục chia rẽ Bên cạnh đó thế lực họ Trịnh đã từ lâu khôngthể kiểm soát nổi họ Nguyễn ở Đàng Trong, nên lúc này họ Trịnh không còn thờigian chú ý đến các việc xảy ra ở Đàng Trong nữa Trong khi đó ở Đàng Trong, tuycác cuộc khởi nghĩa không nhiều nhưng đúng lúc đó nhà Nguyễn rơi vào cảnh suytàn dưới tay của Trương Phúc Loan Chính vì thế, sau khi cuộc khởi nghĩa doNguyễn Nhạc phát động với khẩu hiệu “diệt Trương Phúc Loan phò chúa Nguyễn”

đã nhanh chóng được người dân ủng hộ, khiến cho cuộc khởi nghĩa Tây Sơn từ mộtcuộc khởi nghĩa nhỏ lẻ bỗng chốc gặt hái được nhiều thành công Trong khoảngthời gian từ

1771 đến 1789, không chỉ dẹp tan chế độ Trịnh - Nguyễn mà đội quân Tây Sơn vớisức mạnh phi thường đã đánh tan được các cuộc ngoại xâm của Trung Hoa

Trước những thắng lợi to lớn trên mặt trận quân sự, năm Mậu Tuất (1778),Nguyễn Nhạc tự lập làm Hoàng đế lấy là năm đầu niên hiệu Thái Đức, gọi thành ĐồBàn là thành Hoàng Đế Đồng thời phong cho Nguyễn Lữ là Tiết chế, phong choNguyễn Huệ làm Long tướng Tướng quân Như vậy, có thể nói giai đoạn này quânTây Sơn đã dần hình thành một vương triều phong kiến chứ không còn mang dángdấp của một cuộc khởi nghĩa nông dân nữa, trong đó những quyền lợi của mỗi cánhân cũng được phân định theo ngôi thứ

Trang 15

Năm Quý Mão (1783), Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ một lần nữa đại thắng tạiCần Giờ, quân họ Nguyễn phải chạy ra đảo Côn Lôn Năm Giáp Thìn (1784),Nguyễn Vương phải chạy sang Xiêm cứu viện nhưng đã bị Nguyễn Huệ đánh chođại bại.

Tháng 5 năm Bính Ngọ (1786) Nguyễn Huệ tiếp tục phản công chiếm đuợcthành Phú Xuân, sai người mang thư về cho Nguyễn Nhạc nói dẫn thủy quân tiếnthẳng ra Đàng Ngoài, trong vòng một tháng đã đánh tan quân Trịnh Trong suốtkhoảng thời gian từ năm 1785 đến 1786 Nguyễn Huệ thực sự phát huy đuợc vai tròcủa mình trong việc đánh tan giặc ngoại xâm và tiêu diệt hai tập đoàn Trịnh -Nguyễn Không dừng ở đó, sau khi dẹp tan chế độ họ Trịnh và trao quyền lại chonhà Lê chẳng bao lâu, năm Mậu Thân (1788) Nguyễn Huệ một lần nữa phải kéoquân ra Bắc để dẹp loạn Lúc này để giữ yên Đàng Ngoài vì bộ máy chính quyềnnhà Lê thực sự đã suy yếu không còn sức để vực dậy được nữa, nên Nguyễn Huệ đãcho Ngô Văn Sở trấn giữ Thăng Long, đồng thời chiêu mời các sĩ phu tài giỏi ở Bắc

Hà như Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Thế Lịch, Phan Huy Ích, Trần Bá Lãm… giúpmình giữ yên đất nước trên các mặt trận ngoại giao cũng như chiến trận

1.1.3.2 Hoạt động ngoại giao thời Tây Sơn

Trong lịch sử Việt Nam, nhà Tây Sơn tuy tồn tại ngắn ngủi nhưng để lại mộtvết son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta cả về quân sựlẫn nghệ thuật ngoại giao Ngay từ những buổi đầu trứng nước, dưới sự lãnh đạo tàitình và khéo léo của Nguyễn Huệ, nhà Tây Sơn đi từ thắng lợi này đến thắng lợikhác Điều đáng chú ý hơn cả, với vai trò là một người lãnh đạo đất nước, vấn đề

mà Nguyễn Huệ luôn quan tâm, đó là việc tránh cho dân không bị rơi vào cảnhchiến tranh, tận dụng cơ hội, tranh thủ xây dựng đất nước vững mạnh Chính vì thếông đã có chính sách ngoại giao khôn khéo với nhà Thanh Quan điểm này đã đượcthể hiện rất rõ trong lời nói của Nguyễn Huệ như sau: “Chẳng qua 10 ngày là có thểđuổi được người Thanh, nhưng nghĩ nó là nước lớn gấp 10 nước mình, sau khi thuatrận ắt lấy làm hổ thẹn mà cố báo thù Như thế việc binh đao không bao giờ dứt, thật

Trang 16

không phải phúc cho dân, lòng ta không nỡ làm vậy Tới lúc đó chỉ có một cách nói thật khéo thì mới ngăn được cái ngòi chiến tranh” [22, 372].

Qua đây ta thấy thêm tình cảm yêu quý dân của Nguyễn Huệ, đồng thời thấyđược cả trách nhiệm của ông trong việc xác định phương thức ngoại giao Đối vớinhà Thanh, một kẻ thù mạnh nhất lúc bấy giờ, việc khôn khéo trong xử lý khi nướcnhà vẫn còn đang chìm trong thù trong giặc ngoài là một điều hết sức khôn ngoan

Để có thể có một chiến lược lâu dài ra sức củng cố xây dựng đất nước, ông cho rằngchỉ có sức mạnh nội lực mới thực sự là chỗ dựa của đất nước Chính sách ngoại giao

dù khôn khéo đến đâu nhưng nền kinh tế không đủ mạnh thì không thể đem lại nềnhòa bình thực sự và lâu dài Điều này được thể hiện khi Nguyễn Huệ ra Tam Điệp

đã từng nói với Ngô Thì Nhậm: “Cứ để cho ta mười năm nữa, nước ta giàu dân tamạnh, thì ta có sợ gì chúng” [22] Cuộc ngoại giao đầu tiên giữa Nguyễn Huệ vớinhà Thanh không phải sau khi nhà Tây Sơn chính thức được nhà Thanh công nhận,

mà ngay từ khi Tôn Sỹ Nghị đưa quân sang xâm lược với danh nghĩa giúp nhà Lêthì Nguyễn Huệ đã có những động thái ngoại giao quan trọng

Khi sắp kéo quân sang Đại Việt, Tôn Sỹ Nghị cho người đưa thư loan báo:

“Ai bắt sống được Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ đem nộp sẽ được công đầu” Đâythực chất là mục đích phô trương thanh thế, cũng như muốn thị uy với dân Đại Việtcủa Tôn Sỹ Nghi ̣ Y đã đưa ra một chỉ dụ hòng mượn tay của những kẻ phản bội đểgiết anh em nhà Tây Sơn một cách dễ dàng, từ đó có thể nhanh chóng xâm lược ĐạiViệt

Sau khi chiếm được Thăng Long một cách dễ dàng, Tôn Sĩ Nghi vô cùnghống hách Hiểu rõ được vấn đề này, Nguyễn Huệ một mặt củng cố lòng tin choquân sỹ để chiến đấu chống quân Thanh, một mặt “Để nuôi lòng kiêu căng của giặc,vua Quang Trung vừa cho gấp rút tiến quân vừa cử một sứ đoàn gồm 8 người đitheo Trần Danh Bính đến gặp Tổng đốc họ Tôn với ba đạo bẩm văn (một của LêDuy Cẩn, một của các cựu thần nhà Lê, một của nhân dân) bày tỏ sự tình phải thaynhà Lê và ngỏ ý "cung thuận" với "Thiên triều", đồng thời nhà vua lại nộp trả bọntuần dương binh của nhà Thanh có bốn chục người bị tướng Tây Sơn bắt được khicòn đóng ở Thăng Long Tôn Sỹ Nghị xé thư, giết Trần Danh Bính và giam toàn thể

Trang 17

nhân viên sứ đoàn lại, rồi truyền hịch kể tội vua Quang Trung và cho biết sẽ bắt nhàvua cùng đánh tới Quảng Nam cho sạch cả gốc lẫn ngọn”.

Chính vì thế sau chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa, Nguyễn Huệ đã rất khônkhéo nhìn nhận rõ tình hình trong nước lúc bấy giờ không thể tiếp tục gây chiếnhoặc có thêm bất kỳ cuộc chiến nào với nhà Thanh, nên Nguyễn Huệ đã sai nguờisang gặp Phúc Khang An và Thang Hùng Nghiệp là Tả Giang Binh bị đạo để mởđường cho cuộc giảng hòa Về phía nhà Thanh sau cuộc bại trận của Tôn Sỹ Nghị,các quan tướng nhà Thanh cũng rất e ngại thế mạnh của Đại Việt, đặc biệt là PhúcKhang An và Thang Hùng Nghiệp cũng không muốn gây chiến với Đại Việt nữa.Nên khi đoàn sứ giả của Đại Việt sang đã rất vui mừng và tận tình giúp đỡ Thậmchí ngay cả sau này mọi thuận lợi của Nguyễn Huệ có được cũng do sự giúp đỡ củaPhúc Khang An và Thang Hùng Nghiệp

Ngoài việc cho sứ giả sang gặp Tổng đốc Lưỡng Quảng để dọn đường chocông việc giải hòa và cầu phong vương, ở trong nước Nguyễn Huệ cũng thực thinhững chính sách tạo nên uy tín và thể hiện thiện chí hòa hữu với nhà Thanh Cụ thểđối với đám tàn quân của nhà Thanh, Nguyễn Huệ đã nghiêm cấm quân lính vàngười dân truy giết, đồng thời cho phép quân Thanh được ra đầu thú Đối với nhữngbinh lính nhà Thanh sau khi ra đầu thú còn được cấp lương ăn, quần áo mặc chờngày trao trả về nước

Với những chính sách nhân đạo của Nguyễn Huệ và được sự giúp đỡ củaTổng đốc Lưỡng Quảng, nhà Thanh đã chấp nhận phong vương cho Nguyễn Huệ,đồng nghĩa với việc nhà Thanh công nhận Đại Việt chính thức có một vương chủmới Đây được coi là một trong những thắng lợi lớn trên mặt trận ngoại giao củanhà Tây Sơn với nhà Thanh Điều đáng chú ý hơn nữa, khi Nguyễn Huệ từ chốisang Trung Quốc nhận phong vương theo thông lệ thì nhà Thanh đã cho sứ thầnsang Đại Việt để thực hiện việc phong vương cho Nguyễn Huệ Lần thứ hai NguyễnHuệ từ chối ra Thăng Long nhận phong vương với lý do sức khỏe không tốt, thì nhàThanh lại một lần nữa nhún mình đến tận Phú Xuân để phong vương cho NguyễnHuệ Có thể nói, mặc dù Nguyễn Huệ trên danh nghĩa chấp nhận triều kiến nhàThanh, nhưng trên thực tế, nhà Thanh luôn bị động trước những mưu tính khôn

Trang 18

khéo của Nguyễn Hụê Chính vì thế mà nhà Thanh hết lần này đến lần khác phảinhượng bộ những yêu cầu của Nguyễn Huệ, điều mà trong lịch sử Việt Nam trướcđây chưa bao giờ làm được Thậm chí ngay việc sang dự lễ bát tuần của Càn Long,Nguyễn Huệ cũng không đi mà sai người đóng giả đi thay Sau những thành công

kể trên của nhà Tây Sơn, Nguyễn Huệ đã tiếp tục thực hiện thêm những chính sáchphản kháng của mình với nhà Thanh Cụ thể Nguyễn Huệ yêu cầu nhà Thanh bỏ tụccống người vàng, và mở chợ buôn bán giao thương tại Cao Bằng và Lạng Sơn Tiếp

đó, năm 1792 Nguyễn Huệ còn cử Vũ Văn Dũng làm Chánh sứ mang biểu sang cầuhôn công chúa nhà Thanh và đòi lại vùng đất Lưỡng Quảng Thật đáng tiếc ngày 16tháng 9 năm 1792, Nguyễn Huệ đột ngột qua đời khiến cho những kế hoạch còndang dở của ông không thực hiện được

Có thể nói sau 15 năm khởi nghĩa đánh Nam dẹp Bắc, quân Tây Sơn đã hoànthành một sứ mệnh to lớn, thay đổi tình tình đất nước trên mọi phương diện: đánh

đổ 3 tập đoàn phong kiến thống trị Nguyễn, Trịnh, Lê; làm chủ cả đất nước Mặc dù

sự nghiệp của phong trào Tây Sơn chưa trọn vẹn do thế lực của nhà Lê còn lay lắt

và trong bước đường cùng đã cầu cứu nhà Thanh “cõng rắn cắn gà nhà”; tuy nhiênphong trào và những chính sách và thành tựu to lớn mà nhà Tây Sơn đạt được đãghi dấu trong sử sách và trong lòng dân tộc những dấu son sáng chói Bên cạnh đó,phong trào cũng làm nổi bật tài năng, đức độ của vị tướng tài, anh hùng giải phóngdân tộc - Quang Trung (Nguyễn Huệ), cùng với đó là hàng loạt các trí thức đã gópphần to lớn vào những thành tựu của đất nước trong giai đoạn này Họ không chỉgóp sức vào công cuộc ổn định tình hình chính trị, đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, vìnhân dân; mà bằng tài năng họ đã cho ra đời hàng loạt tác phẩm văn chương có giá

trị cả về nội dung và nghệ thuật Trong đó không thể không kể đến tác phẩm Bang

giao hảo thoại của trí sĩ Ngô Thì Nhậm.

1.2 Ngô Thì Nhậm và Bang giao hảo thoại

1.2.1 Cuộc đời, sự nghiệp

1.2.1.1 Cuộc đời

Ngô Thì Nhậm sinh ngày 11 tháng 9 năm Bính Dần, tức ngày 25 tháng 10năm 1746, tại làng Tả Thanh Oai, tục gọi là làng Tó, trấn Sơn Nam (nay thuộc

Trang 19

huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội) Thuở nhỏ có tên là Phó, sau đổi thànhNhậm, tự là Hy Doãn, hiệu là Đạt Hiên (khi nghiên cứu Thiền học ông lấy đạo hiệuHải Lượng).

Ngô Thì Nhậm đỗ Tiến sĩ năm Cảnh Hưng thứ 36 (1775), làm quan tới Đốcđồng Kinh Bắc, rồi thăng tới chức Công bộ Hữu thị lang Năm 29 tuổi - 1775 NgôThì Nhậm ra phụng sự nhà Tây Sơn và được Nguyễn Huệ trọng dụng, trao cho chứcThị lang Bộ Công, tước Tình Phái hầu, sau thăng đến chức Thượng thư Bộ Binh.Ông mất ngày 16 tháng 2 năm Quý Hợi (tức ngày 9 tháng 3 năm 1803)

Cuộc đời của Ngô Thì Nhậm có những nét cơ bản như sau:

Ngô Thì Nhậm là con trưởng của Ngô Thì Sỹ (1726-1780), tên tự là ThếLộc, hiệu Ngọ Phong, biệt hiệu Nhị Thanh cư sỹ Ngô Thì Sỹ có tài, từ chương lạinổi tiếng nhưng nhiều năm thi không đỗ, vì vậy gia cảnh đã nghèo túng lại càngnghèo túng hơn Đến khoa thi năm Nhâm Thìn, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 12 (1752),ông lại thi trượt, tuy nhiên được Minh Đô Vương Trịnh Doanh mến tài cho làm mộtchức nhỏ Thiêm sai tri Công phiên ở Phủ Chúa Nếu như người cha Ngô Thì Sỹ 7tuổi đi học, 8 tuổi làm được văn, 9 tuổi biết làm thơ, 11 tuổi mồ côi cha phải theohọc ông nội Đan Nhạc công (tức Ngô Trân), thì Ngô Thì Nhậm 7 tuổi cũng đi học

và đến năm 11 tuổi cũng được cụ nội Đan Nhạc công dạy bảo Chỉ 2 năm sau đó,Ngô Thì Nhậm đã đọc thông các loại sách Kinh, Truyện, Sử và Tính lý; đến năm 16tuổi (tức năm Tân Tỵ - 1761) cụ nội Đan Nhạc qua đời thì Ngô Thì Nhậm mới họcvới phụ thân Ngô Thì Sỹ Vốn thiên tư thông minh, lại chăm chỉ học hỏi, nên mới

16 tuổi Ngô Thì Nhậm đã soạn sách Nhị thập thất sử toát yếu (đây là sách chủ yếu

dùng trong học tập) Năm 17 tuổi, Ngô Thì Nhậm trải qua 2 lần sát hạch ở trườngđều đạt loại ưu Cùng năm này, mẹ ông qua đời ở tuổi 33, để lại 5 người con

Năm 1763 (năm Quý Mùi), Ngô Thì Nhậm 18 tuổi, người cha Ngô Thì Sỹđược chúa Ân Vương Trịnh Doanh, đặc cách cho tiến triều, trao cho chức Cấp sựtrung Bộ Công Đến năm sau, 1764 (năm Giáp Thân) trao cho chức Giám sát Ngự

sử đạo Sơn Tây, và chỉ vài tháng sau đó đã thăng đến chức Đốc đồng xứ Thái

Nguyên (Hào mân ai lục) Từ đây gia đình Ngô Thì Sỹ mới dần thoát khỏi cảng

Trang 20

nghèo khó, và cũng năm này Ngô Thì Sỹ lấy vợ kế, bà đưa 4 người con chồng đếnnhậm sở ở với chồng tại Sơn Tây Lúc này chỉ còn lại Ngô Thì Nhậm ở nhà vớingười vợ mới cưới là Ngô Thị Anh, tiếp tục học tập.

Năm 1766 (năm Bính Tuất), Ngô Thì Nhậm 20 tuổi, ông đã cùng Lưu Hi Trí(người cùng ấp, đỗ đầu thi Hương khoa Ất Dậu), đến theo học thầy Đan Sỹ là Thamchính Thanh Hóa; và cũng năm đó phụ thân ông - Ngô Thì Sỹ thi đậu Hoàng giáp(khoa Bính Tuất, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 26 - 1766)

Năm 1771 (năm Mậu Tý), Ngô Thì Nhậm 23 tuổi, ông thi Hương đậu giảiNguyên, năm sau ông lại đỗ Sỹ vọng, được bổ chức Hiến sát phó sứ Hải Dương(hàm Chánh thất phẩm) Ngô Thì Nhậm là một người thanh liêm, giản dị; khi rỗiviệc ông mở lớp dạy học, học trò theo học rất đông

Năm 1771 (năm Tân Mão), Ngô Thì Sỹ làm Tham chính Nghệ An, tư đồHoàng Ngũ Phúc ghen ghét, ghép ông vào tội gian lận ở trường thi Hương, bị cáchchức tước mất mấy năm liền Cùng năm đó, vợ kế của Ngô Thì Sỹ qua đời khi ôngđang ở Nghệ An Mọi việc thuốc thang lúc đau ốm và tang ma khi mất của mẹ kếđều Ngô Thì Nhậm một tay lo liệu Sau đó, Ngô Thì Nhậm cũng xin cáo quan vềquê với lý do sớm hôm phụng dưỡng cha, năm đó ông 26 tuổi

Năm 1772 (năm Nhâm Thìn), Ngô Thì Nhậm dự khảo khóa ở Quốc TửGiám, đỗ hạng ưu, nhưng lấy lý do ốm, cố từ chối không ra làm quan

Năm 1775 (năm Ất Mùi), Ngô Thì Nhậm thi đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến Sỹxuất thân, đứng hàng thứ 5, khi đó ông vừa tròn 30 tuổi Sau khi thi đỗ ông được bổlàm Hộ bộ Đô cấp sự trung, năm sau thì thăng đến chức Giám sát Ngự sử sạo SơnNam, lại được làm quan Giám khảo trường thi ở Hải Dương

Đến năm 1778 (năm Mậu Tuất), Ngô Thì Nhậm được thăng chức Đốc đồngKinh Bắc Chức Đốc đồng một trấn, dưới chức Trấn thủ một bậc, là chức phó, cónhiệm vụ tra xét ngục tụng Năm đó phụ thân ông cũng nhậm chức Đốc trấn Lạng

Sơn Hai cha con cùng đi nhậm chức một ngày (Ngô gia thế phả) Cùng năm đó,

Ngô Thì Nhậm còn kiêm giữ chức Đốc đồng Thái Nguyên Tại đây, ông đã cùngcha phối hợp với Trấn thủ Tuân Vãng hầu, đánh dẹp tại vùng Vũ Nhai, và cũng năm

đó ông soạn xong tập Công vụ thành thư Năm 1779 (năm Kỷ Hợi), Ngô Thì Nhậm

Trang 21

được thăng chức Đông các hiệu thư, phụng mệnh hiệp đồng với Trấn thủ Tuyên,Thái đánh dẹp các cuộc nổi dậy của Hoàng Văn Đồng ở Tuyên Quang Ít lâu sauông lại được phái đi kinh lược ở mỏ bạc Tống Tinh Năm 1780 (năm Canh Tý) trở

về, ông dâng sớ về phương sách thu thuế ở xưởng bạc, được chúa Trịnh Sâm khenngợi, ban thưởng rất hậu Gần cuối năm đó xảy ra vụ án tranh đoạt ngôi chúa, người

đời sau gọi là “vụ án năm Canh Tý” Cuối tháng 9 cùng năm đó, phụ thân ông bị

cảm tại động Nhị Thanh (Lạng Sơn) và không lâu sau thì qua đời

Năm 1782 (năm Nhâm Dần), trong kinh có biến, Trịnh Sâm qua đời, nhữngngười có liên quan ít nhiều đến vụ án năm Canh Tý hoặc bị giết, hoặc bị bắt giam,tịch thu gia sản… Ngô Thì Nhậm vì bị dư luận ghép cho đã dính líu đến vụ án nămCanh Tý, đồng thời lại là thầy dạy của Trịnh Tông nên lo lắng không bảo toàn đượctính mạng Vì vậy ông phải lánh về quê vợ am Lê Trạch, xã Đội Trạch, trấn SơnNam (nay là Vũ Thư, Thái Bình) Tai đậy, ông nương nhờ tại nhà người em vợ làĐồng Lạc thị trong gần 4 năm trời (1782-1786)

Nhà Lê sụp đổ, năm 1788 (năm Mậu Thân), Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ hai,xuống lệnh tìm kiếm quan lại cũ của triều đình Lê - Trịnh ra giúp việc nước NgôThì Nhậm đã đón nhận ngay chính sách trọng dụng này của Nguyễn Huệ - thái độtrái ngược hẳn với các cựu thần nhà Lê khác như các Tiến sĩ: Nguyễn Nha, TrầnDanh Án, Ninh Tốn… Ngô Thì Nhậm được Nguyễn Huệ giao cho chức Hữu Thịlang Bộ Công, tước Tình phái hầu, cùng với Võ Văn Ước giám sát tất cả các quanvăn võ nhà Lê, còn Nguyễn Huệ lại trở về Phú Xuân để lo công việc trong Nam

Công việc đầu tiên mà Ngô Thì Nhậm làm để đáp lại lòng mong mỏi, tintưởng của Nguyễn Huệ là làm sao thuyết phục được các danh sỹ trí thức Bắc Hàsớm nhận rõ thời thế mà dốc sức phụng sự nhà Tây Sơn Đó là việc làm quan trọngbậc nhất lúc này Bởi Bắc Hà đang trong tình trạng rối ren, lòng người chưa ổn

định, vua Chiêu Thống chạy khỏi Thăng Long (sử sách gọi là “xuất Đế”), cùng với

một số trọng thần thân cận tìm cách trung hưng nhà Lê một lần nữa Trong đó có rấtnhiều các nhà khoa bảng nổi tiếng như: Trần Công Xán, Bùi Huy Bích, Phạm QuýThái…có cả em ruột của Ngô Thì Nhậm là Ngô Thì Chí Trước tình hình phức tạp

ấy, bằng tài năng và khả năng thuyết phục, sự nhạy bén; Ngô Thì Nhậm đã không

Trang 22

ngần ngại vạch ra cho họ thấy xu thế tất yếu của lịch sử Từ đó ông đã thuyết phụcđược nhiều người về với nhà Tây Sơn như Đoàn Nguyễn Tuấn, Võ Huy Tấn, PhanHuy Ích… Chính sách thu phục người tài, không phân biệt người cũ - người mới,đại đoàn kết, cô lập kẻ thù, chú trọng thu phục nhân tâm về một mối của NguyễnHuệ đã được Ngô Thì Nhậm thực hiện một cách xuất sắc, góp phần quan trọng vàoviệc củng cố nền chính trị ở Bắc Hà, tạo tiền đề thuận lợi sau này chống giặc ngoạixâm, giành những thắng lợi huy hoàng.

Tháng 10 năm Mậu Thân (1788), lấy cớ “xuất Đế cầu viện” để “hưng diệt, kếtuyệt” (dấy nước đã bị diệt, nối lại dòng đã tuyệt), Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn SỹNghị đã đem 29 vạn quân và hàng chục vạn dân phu phục dịch, vượt biên giới, tiếnsâu vào nội địa nước ta với âm mưu và dã tâm xâm lược Trong những tháng ngày

đó, Ngô Thì Nhậm đã dốc hết sức lực, tài năng phụng sự cho nhà Tây Sơn, gópphần quan trọng vào chiến thắng mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789)

Sau chiến thắng năm 1789, khoảng đầu tháng 3 năm Kỷ Dậu, Nguyễn Huệtrở lại Phú Xuân, giao mọi việc bang giao với nhà Thanh cho Ngô Thì Nhậm vàPhan Huy Ích phụ trách Ngô Thì Nhậm cũng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quantrọng này, vừa thuyết phục được nhà Thanh không “hổ thẹn” mà báo thù để tránhđược nạn binh đao, lại tạo điều kiện cho quân ta có thời gian củng cố về mặt quân

sự ngày càng hùng mạnh

Với những đóng góp to lớn về mặt ngoại giao như vậy, Ngô Thì Nhậm đượcphong chức Binh bộ Thượng thư Năm sau, năm Tân Hợi (1791), ông lại đượcthăng làm Thị lang đại học sỹ, ban Dực vận công thần

Năm Nhâm Tý (1792), Ngô Thì Nhậm kiêm chức Quốc sử thự Tổng tài,nhưng vẫn tiếp tục các công việc về ngoại giao Cùng năm đó, ngày 29 tháng 7(nhuận), Quang Trung lâm bệnh đột ngột qua đời

Tháng 2 năm sau (1793) Ngô Thì Nhậm lãnh chức Chánh sứ sang nhà Thanhbáo tang và cầu phong cho vua mới Quang Toản Quang Trung mất, từ đây Ngô ThìNhậm mất đi người hiểu mình, biết đến tài năng và tin dùng mình Quang Toản lênngôi khi mới 15 tuổi, vì vậy triều đình không tránh khỏi những lục đục trong nội bộ,dần lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng bởi sự lộng hành của người cậu của vua

Trang 23

Quang Toản - Bùi Đắc Tuyên Trước tình hình rối ren của triều đình Quang Toản,Nguyễn Ánh tận dung thời cơ, cấu kết với các địa chủ phản động, dựa vào thế lực tưbản nước ngoài đã liên tiếp phản công, điều này làm cho triều đình Quang Toảnngày càng suy yếu.

Trong hoàn cảnh như vậy, Ngô Thì Nhậm không thể phát huy được tài năngcủa mình Ông cùng một số bầy tôi cũ của nhà Lê được tin dùng như Phan Huy Ích,Ninh Tốn, Nguyễn Huy Lượng… chỉ còn là những quan soạn sách, trông coi việc lễnghi… ví như năm Đinh Tỵ (1797) Ngô Thì Nhậm phụng mệnh trông coi việc tusửa Quốc sử Ngô Thì Nhậm không thể đóng góp được gì trong hoàn cảnh triềuđình Quang Toản ngày một rối loạn, ông âm thầm ôm niềm đau xót, tìm lối thoáttrong Thiền học

Nhà Tây Sơn nhanh chóng sụp đổ trước sự công kích, dượt đuổi của NguyễnÁnh Năm Quý Hợi (1803) Nguyễn Ánh bắt đầu công cuộc trả thù những ngườitrước đây theo phong trào Tây Sơn Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích bị đưa ra VănMiếu kể tội Ngô Thì Nhậm qua đời trong trận đòn ấy (nhằm ngày 16 tháng 2, tứcngày 9 tháng 3 năm 1803), hưởng thọ 58 tuổi

1.2.1.2 Sự nghiệp

Bên cạnh sự nghiệp chính trị, quân sự, ngoại giao của mình; Ngô Thì Nhậmcòn để lại cho đời một di sản thơ văn rất đồ sộ, phong phú và nhiều nhất so với cáctác gia cùng thời Theo các tư liệu ghi chép, nghiên cứu về Ngô Thì Nhậm hiện còn,tác giả có khoảng 20 tác phẩm thơ văn Tuy nhiên hiện tại mới tìm được văn bản

của 13 tác phẩm mà thôi Các tác phẩm này được tập hợp trong tùng thư Ngô gia

văn phái, đồng thời đây cũng là tác giả có nhiều tác phẩm nhất trong tùng thư này.

Trang 24

4 Tự học toản yếu Không rõ năm soạn, đã mất Còn bài tựa trong Kim mã

hành dư, có lẽ là sách Tam thiên tự giải nghĩa.

5 Công vụ thành thư Soạn năm 1778, đã mất Thấy nói trong Ngô gia thế

Trang 25

19 Liên hạ thi minh Sáng tác năm 1800, đã mất, hiện chỉ còn bài thuyết chép trong tùng thư Ngô gia văn phái.

20 Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh Không chép trong tùng thư Ngô gia văn

phái mà có sách in riêng.

Vua Quang Trung qua đời, Ngô Thì Nhậm mất đi người tri kỉ, một ngườihiểu mình, tin mình và trọng dụng tài năng của mình Cũng từ đây, Ngô Thì Nhậmtìm hiểu đạo Phật, ông lập thiền viện, soạn công án, trở thành Hải Lượng thiền sư.Ngô Thì Nhậm từ một nhà nho, một nhà chính trị ông trở thành đệ tứ tổ của Thiềntông Việt Nam Trong lịch sử Việt Nam thật hiếm có một người trí thức nào có mộtđời sống tâm linh và đời sống trần thế phong phú đa diện như Ngô Thì Nhậm

Tóm lại, có thể thấy, trong bối cảnh xã hội phong kiến nước ta cuối thế kỷXVIII, Ngô Thì Nhậm thực sự là một người yêu nước và thức thời Ông có cách xửthế khác hẳn với các danh sỹ đương thời, không mang nặng tư tưởng triều đại màthể hiện tấm lòng trung quân ái quốc bằng việc dốc hết sức lực, tài năng để phục vụđất nước, phục vụ nhân dân Đúng như đánh giá của một số nhà nghiên cứu, cuộcđời và sự nghiệp của Ngô Thì Nhậm như những ngôi sao sáng chói, xứng đáng đểcác thế hệ người Việt Nam ngưỡng mộ, tự hào

1.2.2 Bang giao hảo thoại

Bang giao hảo thoại là một tập hợp những bài bẩm, trình, biểu do Ngô Thì

Nhậm thay mặt triều đình Tây Sơn chấp bút, được viết trong khoảng thời gian từ

1789 - 1800 Sau được soạn giả tùng thư Ngô gia văn phái sưu tầm, tập hợp, biên soạn, sắp xếp theo thể loại thành hai quyển 48 và 49 cho tùng thư này Trong đó:

Quyển 48 tập hợp theo thể loại bẩm, trình, gồm 64 bài, được viết sau chiến

thắng Mậu Thân (1789), gửi cho các quan Lưỡng Quảng như: Thanh Hùng Nghiệp,

Phúc Khang An… để dàn xếp các công việc sau chiến tranh Những bài bẩm, trình

này đều được viết trong khoảng thời gian từ 1789 đến năm 1799

Quyển 49 lại được tập hợp theo thể loại biểu, gồm 17 bài, cũng được viết

trong khoảng thời gian sau chiến thắng Mậu Thân (1789) đến năm 1799 (Tập sách

này được đánh số từ bài 65 đến bài 92, thuộc quyển 49 của tùng thư Ngô gia văn

phái).

Trang 26

Bang giao hảo thoại được biên soạn, sắp xếp theo trât tự thời gian, phản ánh

hiện thực ngoại giao của nhà Tây Sơn Đây là tác phẩm đỉnh cao trong sự nghiệpsáng tác của Ngô Thì Nhậm, nó không chỉ thể hiện tài năng uyên bác của ông màqua đó còn cho thấy chiến lược, sách lược và tầm nhìn của vua Quang Trung Tácphẩm để lại cho hậu thế những bài học về quân sự, ngoại giao có giá trị to lớn, vượtthời gian

Tiểu kết chương 1

Tình hình lịch sử - xã hội, văn hóa tư tưởng Việt Nam thế kỉ XVIII có nhiềubiến động Triều đình Lê - Trịnh ngày càng bộ lộ nhiều hạn chế trong việc an dân,phát triển đất nước khiến bão táp của phong trào khởi nghĩa nông dân mạnh mẽ hơnbao giờ hết Triều đại Tây Sơn ra đời trong hoàn cảnh đầy phức tạp đó, vừa phảigiải quyết vấn đề chính trị trong nước khi các thế lực Trịnh - Nguyễn vẫn còn mạnh

và vẫn muốn nắm quyền, vừa phải đối mặt với nguy cơ chiến tranh với Trung Quốckhi Lê Chiêu Thống cầu viện triều đình Mãn Thanh “cõng rắn cắn gà nhà” VuaQuang Trung đã thể hiện tài năng quân sự của mình khi đại phá 29 vạn quân Thanhxâm lược với tương quan lực lương chênh lệch khá lớn, đồng thời đạt được nhữngthành tựu ngoại giao bước đầu trong công cuộc bang giao với nhà Thanh sau thắnglợi đó Ngô Thì Nhậm xuất hiện như một ngôi sao sáng, nhận tố quan trọng gópphần thành công trong công cộc ngoại giao phức tạp đó

Trang 27

Chương 2: BANG GIAO HẢO THOẠI

NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG

2.1 Khẳng định độc lập chủ quyền đất nước

Một trong những nội dung xuyên suốt và quan trọng nhất của tác phẩm Bang

giao hảo thoại của Ngô Thì Nhậm là khẳng định độc lập chủ quyền đất nước Đây

cũng chính là mục đích cao nhất, mục đích cuối cùng hướng đến của mọi đòn tấncông ngoại giao mà vua Quang Trung cũng như vị quân sư Ngô Thì Nhậm ngàyđêm trăn trở Nội dung này được thể hiện ở nhiều mức độ với những hình thức khácnhau: khi thì mềm dẻo, lúc lại vô cùng đanh thép nhưng tựu chung đều nhằm mụcđích giữ vững tinh thần trước sau như một về một nền độc lập, chủ quyền toàn vẹncủa Đại Việt

Nội dung này được thể hiện ngay từ bài số 1 - Bẩm thiên triều Lưỡng Quảng

tổng đốc Tôn đại nhân (Bẩm Tôn đại nhân, tổng đốc Lưỡng Quảng thiên triều).

Trong đó Ngô Thì Nhậm đã thông qua việc phê phán hành động gây chiến của TônSỹ Nghị mà gián tiếp khẳng định chủ quyền của đất nước với những lời chỉ tríchnhẹ nhàng mà sâu cay như sau:

“Ôi! Chiếm lấy nước người bằng thoán đoạt, thực là điều bậc vương giảkhông dung tha, lẽ trời càng không thể tha thứ được Quả nhân của Ngô Hồng Chấntôi là Nguyễn Huệ, tuy sinh trưởng ở chốn xa xôi, cũng đội thanh giáo của Thiêntriều, há lẽ u mê không biết!” [11, 406]

Để từ đó tác giả đưa ra mong muốn quân Thanh dừng lại việc đưa quân quabiên ải nước ta:

“Tôi trộm nghĩ, khắp cả trong ngoại bốn bể đều là bề tôi của Thiên triều, quanquân đi đâu, mọi người đều mang lẵng cơm, xách bầu nước đợi đón quan quân đến.Ngô Hồng Chấn đâu dám kháng cự? Nhưng nay chợt nghe thấy quân Thiên triều quacửa ải, lại báo cho biết việc tiến hành, khiến lòng người phải ngờ vực, lo sợ Kẻ làlính sợ mắc vào tội phản nghịch, nói rằng không đánh thì cũng bị giết Kẻ làm dân sợhãi không tiếp tục cấp quân lương, nói rằng không chốn đi thì cũng chết Vì thế cáccánh quân tranh nhau đến chỗ đồn trại, dân các xứ phải chạy vào chốn sơn lâm Việc

Trang 28

đồn đến trước trướng, Đại nhân ngờ là có việc như con bọ ngựa dơ càng lên chống lạixe.” [11, 407].

Ngô Thì Nhậm đã nói lên sự bất ngờ của quân dân Đại Việt khi Tôn Sỹ Nghịkéo quân xâm chiếm nước ta, đồng thời khéo léo nhắn nhủ về động thái chống trảcủa quân dân Đại Việt để bảo vệ bờ cõi, chủ quyền Và ông cho thấy tài năng củamình khi nói lên được suy nghĩ, ý định của nhà Thanh “Đại nhân ngờ là có việc nhưcon bọ ngựa dơ càng lên chống lại xe” coi sự chống trả của chúng ta yếu ớt, tiềmlực của chúng ta cũng chỉ như “con bọ ngựa” hay châu chấu, nhưng có thể lắm bởilịch sử bao lần đã chứng minh sức mạnh của Đại Việt “tưởng rằng chấu ngã ai rè xenghiêng”

Hay như trong bài số 2 - Bẩm thiên triều Quảng Tây phân tuần tả giang binh

bị đạo tổng lý phiên vụ Thang đại nhân (Biện về việc xảy xa binh đao, Quốc Vương

bẩm), lời lẽ vô cùng nhún nhường, thể hiện mong muốn giữ hòa hiếu, song quyếttâm giữ vững chủ quyền dân tộc vẫn được thể hiện rất đậm nét:

“Ôi! Quân cốt ở chỗ hòa chứ không phải ở chỗ đông, quý ở tinh nhuệ chứkhông quý ở nhiều người Người khéo nắm phần thắng, thắng ở chỗ hòa nhu, khôngphải người mạnh lấn người yếu, nhiều người lấn ít người Nếu tình hình trước đâychưa rõ, Thiên triều không khoan dung cho chút nào, phải đem quân đến đánh, thếthì nước nhỏ tôi không được hết lòng kính thờ nước lớn, tôi cũng phó mặc chomệnh trời đó thôi” [11, 412]

Ngô Thì Nhậm đã đề cập đến một quan điểm rất phổ biến thời bấy giờ, đó làviệc phân định quốc gia, chủ quyền đã được ghi trong “sách trời” (điều này đã từngđược đề cập trong bài thơ thần “Nam quốc sơn hà” trong trận quyết chiến với quânTống trên sông Như Nguyệt) Và như một lẽ tự nhiên, ông cũng khẳng định, nếuphía Trung Hoa không tôn trọng chủ quyền quốc gia của chúng ta, thì Đại Việt đànhphải “phó mặc cho mệnh trời” mà chống lại để giữ yên biên cương mà thôi

Triều đại Tây Sơn ra đời trong hoàn cảnh đất nước rất rối ren, loạn lạc; nanhvuốt kẻ thù rập rình cướp nước, vì vậy việc một triều đại mới lên nắm quyền, một vịvua mới trị vì đất nước cần được ban bố rộng khắp và sự công nhận của nước lớn để

Trang 29

mọi công việc hành chính, quyết sách ngoại giao được “danh chính ngôn thuận”.

Trong Bang giao hảo thoại số lượng các bài bẩm, trình về việc cầu phong cho vua

Quang Trung, biểu cầu phong cho vua Quang Toản như: sứ giả nhà Thanh sang đọcsắc phong, chuẩn bị trạm dịch cho sứ giả nghỉ chân, điểm đón tiếp xứ giả, điểm nghỉchân… chiếm một số lượng lớn và hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp đều khẳng địnhđộc lập chủ quyền dân tộc Bên cạnh đó, loạt bài viết về việc sang chúc thọ vuaKiền Long hay tâu báo tình hình trong nước sau khi vua Quang Trung qua đời, tạ ơn

về việc tuyên phong, tạ ơn về việc ban nhân sâm, ban ngọc như ý… đến các bài viết

về tình hình biên cương, hải phận, làm lễ dâng hương khi vua Kiền Long mất… đều

có điểm chung là mang nội dung khẳng định chủ quyền dân tộc rất đậm nét Cụ thể

có thể xét tới:

Sau chiến thắng oanh liệt đại phá 29 vạn quân Thanh, đặt danh dự quốc gialên hàng đầu, mục tiêu ngoại giao của tây Sơn là kiên quyết đấu tranh với nhàThanh để không những nhà Thanh công nhận Tây Sơn về mặt ngoại giao mà cònhủy bỏ lệ cống “người vàng” do Thiên triều đặt ra từ trước đó (bắt đầu từ thế kỷ

XV) mỗi khi thay đổi triều đại Trong bài số 20 - Bẩm Phúc Đại nhân (Giãi bày về

việc nộp thay người vàng Tông thuộc trong nước bẩm) có đoạn:

“Nay, gần tiếp quang nghi, sao lành phượng đẹp Ơn dạy bảo về lệ trước trảiđời thay đổi, phải có người vàng thay mình đến tạ, sức cho nước tôi phải sắm đủmột pho người vàng dâng hiến… Ngày nay Quốc trưởng nước tôi, xuất thân từ áovải, nhân thời biết việc, cùng với vua Lê cũng không phải danh phận vua tôi, sự cònmất do ở số trời, việc hướng theo hay quay lưng lại với nhau là bởi lòng người,chẳng liên quan gì đến nhà Lê, có phải như những bọn thoán đoạn đâu? Vả lại trướcđây, Tôn bộ đường cầm quân đến đánh, Quốc trưởng nước tôi không dừng được màphải ứng chiến, không xâm phạm vào biên cảnh, để đắc tội với Thượng quốc NayĐại nhân ép theo lệ cống người vàng, thế thì Quốc trưởng nước tôi được nướcquang minh chính đại, lại phải ngang hàng với ngụy Mạc, với tấm lòng thành thựckính thuận, sợ trời thờ nước lớn ư? Trái lại cũng chung một duộc như nhà Trần bắt

Ô Mã Nhi; nhà Lê giết Liễu Thăng hay sao? Thế thì chẳng những Quốc trưởng

Trang 30

nước tôi đối với tình đã chịu khuất mà cái được bỉnh quốc của Đại nhân lại khiếncho người tôi thuộc phải mong mỏi đến sự cầm quân hay sao?” [11, 487].

Với lời lẽ mềm dẻo, chí tình chí lý, Ngô Thì Nhậm đã thay mặt vua Quang

Trung gửi đến Phúc Khang An bài bẩm thể hiện rõ ý định, lập trường của ta về việc

sẽ bãi bỏ lệ cống người vàng cho Thiên triều Trung Hoa Bằng cái nhìn lịch sửxuyên thời gian cùng nhãn quan chính trị và lòng tự tôn dân tộc, Ngô Thì Nhậm đãgợi lại niềm tự hào dân tộc trong những trận thắng kiêu hùng của dân tộc ta trướcnhững lần quân Trung Hoa xâm lược với sự bại trận đớn đau của Ô Mã Nhi trướctriều Trần hay Liễu Thăng dưới đội quân của vua Lê Lợi Sự vững vàng trong lậptrường chính trị, mềm dẻo trong lời lẽ thuyết phục ấy, hỏi thiên triều Mãn Thanhkhông chấp thuận sao được?

Nội dung khẳng định chủ quyền độc lập dân tộc trong Bang giao hảo thoại

của Ngô Thì Nhậm còn thể hiện ở việc chúng ta luôn chủ động trong việc tiến hànhbang giao, thể hiện một sự tự tin và có lập trường Cụ thể trong những lần xin bạn

sắc phong hay tuyên nhậm ấn vàng, ta chủ động gửi bẩm, trình thay đổi thời gian

nếu thấy nó chưa thực sự thuận lợi hay do ta vướng một số công việc cấp thiết khác

Trong bài số 15 Trình Thiên triều sắc sứ nhị vị đại nhân (Trình lý do bị bệnh, xin

hoãn lễ tuyên phong, Quốc Vương thư trình) có đoạn:

“Trộm nghĩ, ngày 24 là kỳ tuyên phong, chắc đã được Tước các đốc bộđường công tấu rõ, Đại nhân tuân theo thi hành, tiểu phiên tôi đâu dám tự tiện thayđổi Chỉ vì mình mắc bệnh, lại đúng ngày làm lễ, rất mong tiết ngọc tạm đình, xehương dừng lại, đợi cho tiểu phiên tôi khỏi bệnh, ngay sau khi tham yết, sẽ xin chọnngày tốt làm lễ thụ phong, để cho trọn điển lễ, rất mong đại nhân phán quyết.” [11,466]

Cáo bệnh để lùi ngày nhận tuyên phong, nhưng thực chất Quang Trung muốnphía Trung Hoa phái người sang Đại Việt thực hiện lễ tuyên phong trên đất của ta.Mặc dù bề ngoài ta rất nhún nhường trong ngoại giao với nhà Thanh, nhưng thựcchất ta rất kiên quyết, buộc nhà Thanh phải theo ý ta, ta luôn giữ thế chủ động, thế

“thượng phong”

Nước ta cho truyền thống bang giao lâu đời, và hầu hết dưới triều đại nàocũng phải đối mặt với những kẻ thù mạnh hơn về cả sức người và sức của Tuy

Trang 31

nhiên, chúng ta luôn giữ gìn được bờ cõi non sông bởi ý sự kiên định trong việc giữvững nền độc lập chủ quyền, mạnh mẽ phản kháng trước bất kì một hành động nào

có dấu hiệu của sự xâm phạm biên giới quốc gia Dưới triều Tây Sơn, vua QuangTrung với tài mưu lược và nhãn quan chính trị nhạy bén đã nhìn rõ mưu đồ muốnphục thù luôn thường trực trong suy nghĩ của người Trung Quốc, sau sự đại bại ởNgọc Hồi - Đống Đa Chính vì vậy, trước bất kì hành động nào của quân Thanh,

vua Quang Trung cũng đều phái Ngô Thì Nhậm thay mặt mình gửi bẩm, trình báo

cáo tình hình, nhưng qua đó để thể hiện thái độ của ta trước những âm mưu gây hấn

của chúng Cụ thể trong bài số 22 - Hựu nhất đạo (Báo tin có thuyền đậu ở ngoài

biển Quốc vương bẩm) có đoạn:

“Nhưng bỗng vào ngày 26 tháng này, nhận được tin của lính tuần biển Nghệ

An báo rằng: trên biển có một đoàn thuyền ước hơn một trăm chiếc, từ biển Đôngtiến thẳng vào Biện Sơn thuộc vùng biển Nghệ An, nối đuôi nhau đi chênh chếch,tiến vào các cửa biển Nhật Lệ, Tư Dung, tinh kỳ khí giới y như hình dạng của nộiđịa, chúng cướp bóc vùng ven biển, dân tình rất khổ sở Tiểu phiên chúng tôi đangtiến hành sửa sang tân ấp, bỗng nghe tin ấy, chưa biết thuyền biển đó đến là doduyên cớ gì? Nay nước tôi đã được nội thuộc, tức là trở thành phên giậu của Thiêntriều Bọn quân ở biển kia là bọn quân nào? Há dám im lặng sao được?” [11, 497]

Báo cáo tình hình cho nhà Thanh biết việc có thuyền quân, binh lính đếnvùng biển Đại Việt; đồng thời tự coi mình là “phên giậu” của Trung Hoa, một lòngkính cẩn muốn bảo vệ nước lớn Tuy nhiên ẩn sau đó là lời cảnh tỉnh, nói rõ cho nhàThanh thấy việc ta đã nhận ra được mưu đồ xâm lấn vùng biển nước ta của chúng,cùng với đó là thể hiện lập trường kiên quyết chống trả “Há im lặng làm sao được?”

Hay trong bài số 46 - Ký bồi giới Nguyễn Hoành Du để hậu đề thư (Bức thư

đề sau gửi cho bọn bồi giới Nguyễn Hoành Du) có viết:

“Ta là người áo vải dấy nghiệp, cùng với nước đó lúc đầu không có hiềmkhích gì Nhưng nước đó gần đây từng vào đánh cướp thuộc ấp Đồng Nai của ta vìthế phải dùng đến việc binh đao Bọn đó đã bị ta đánh thua ba lần, tính số ngườingựa của chúng bị giết không biết bao nhiêu mà kể Bọn chúng muốn chống lại

Trang 32

nước ta, nhưng sức không địch nổi, muốn đơm đặt dèm pha với Thượng quốc songchưa có cơ hội Nay nghe nói sứ thần nước đó đến [Yên] Kinh hẳn có mánh lới.Nhưng Đại Hoàng đế là người nhìn xa muôn dặm, ta sợ gì những lời ton hót đó.”[11, 616].

Ta viết cho bọn bồi giới Nguyễn Hoành Du vì chúng đã có những hành độnggây hấn trên bờ cõi nước ta (vùng Đồng Nai) mới khai hoang lập ấp, nhưng thựcchất muốn nhắn nhủ đến thế lực đứng sau nó, chính là thiên triều Trung Hoa NgôThì Nhậm đã liệt kê những thất bại về quân lực, vật lực, “người ngựa” trước đó đểchúng biết rằng nước ta tuy là một nước nhỏ nhưng hoàn toàn có khả năng chống trảtrước những hành vi xâm phạm bờ cõi, và kiên quyết bảo về chủ quyền cho bằngđược

Rõ ràng vua Quang Trung cũng như các đại thần nước ta đều ý thức đượcviệc nước ta là một nước nhỏ, tiềm lực về quân sự yếu hơn Trung Hoa rất nhiều, vàbao triều đại đều phải đối mặt với việc Trung Quốc sang gây chiến, mưu đồ cướpnước ta Tuy nhiên chúng ta không hề bị khuất phục, không hề chịu nô lệ mà luônvững vàng, quyết tâm giữ vững chủ quyền dân tộc

Trước những tình huống cấp bách khi quân đội Trung Hoa gây hấn, chúng ta

đều chủ động chống trả, sau đó viết biểu dâng nói rõ tình hình cũng như lập trường của ta, lời lẽ vô cũng thuyết phục, kiên quyết Như trong bài số 65 - Trần tình biểu

… Trộm thấy, trong khi xảy ra đánh nhau, Thánh nhân cũng không được rõ Đại

Trang 33

Hoàng đế ở chốn cửu trùng thâm thiên, việc ngoài biên cương, Tôn Sỹ Nghị chưatừng

Trang 34

tâu lên, che đậy tin tức, mới khiến cho sự thể đến mức ấy Thần quả thực khôngdám bọ ngựa đá xe, nhưng vì cửa vua xa vạn dặm, lại vì bề tôi ở thế ép buộc, khôngthể nhẫn nại được, nên đã chống trả.” [11, 678-681].

Rõ ràng Ngô Thì Nhậm đã cho Thiên triều Trung Hoa thấy được hành độngchống trả, phản kháng của nước ta trước sự xâm chiếm của chúng là một điều tấtyếu, hợp lý Đồng thời thể hiện sự chủ động, quyết liệt trong việc giữ vững nền độclập, chủ quyền dân tộc Phê phán hành động gây hấn của Tôn Sỹ Nghĩ, nhưng ẩnsau đó Ngô Thì Nhậm cũng “đánh tiếng, cảnh cáo” cho cả triều đình nhà Thanhthấy mặc dù tiềm lực quân sự giữa ta và địch như “bọ ngựa - xe”, nhưng không phải

vì vậy mà chúng ta cam tâm chịu khuất phục

Về nội dung giữ vững nền độc lập, chủ quyền dân tộc trong Bang giao hảo

thoại, có thể nói Ngô Thì Nhậm đã phát huy tinh thần của dân tộc, vận dụng có sáng

tạo truyền thống bang giao của lịch sử đấu tranh nước nhà, kết hợp với nhãn quanchính trị, sự nhạy bén trong việc nhận định tình hình, cục diện của mình để từ đó cónhững đối sách vô cùng hợp lý Có thể nói nội dung này đã xuyên suốt và như mộtcái xương sống giúp định hình tinh thần của tác phẩm, làm rõ được mục đích và lập

trường ngoại giao của ta Chúng ta thấy trong Bang giao hảo thoại có hơi thở của bài thơ thần Nam quốc sơn hà năm nào vọng về, hay trí tuệ, sự vẻ vang hào hùng trong

Bình Ngô Đại cáo của công thần Nguyễn Trãi dưới triều Lê hiện lên…Và sau này là

đòn tấn công ngoại giao và lời tuyên ngôn đanh thép về chủ quyền quốc gia trong

Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chủ tịch Và quả thực Bang giao hảo thoại không chỉ

mang tinh thần của thời đại, mà còn là tác phẩm góp phần quan trọng trong dòngchảy lịch sử ngoại giao, khẳng định chủ quyền quốc gia của nước ta

2.2 Giữ quan hệ hòa hiếu với nước láng giềng

Trong lịch sử ngoại giao của tất cả các triều đại phong kiến Việt Nam nóichung và triều đại Tây Sơn nói riêng, chúng ta luôn phải đối mặt với những kẻ thùmạnh hơn, thậm chí còn phải đối mặt với chúng trong những hoàn cảnh chúng ta cónhiều hạn chế về quân lực, vật lực Và hơn hết người dân Đại Việt luôn khát khaođược sống trong hòa bình, yên ổn; vì vậy, mục tiêu giữ quan hệ hòa hiếu với các

Trang 35

nước láng giềng luôn là mục tiêu hàng đầu mà các chính sách ngoại giao của chúng

ta hướng đến Đây là nội dung quan trọng và tiêu biểu trong Bang giao hảo thoại,

được thể hiện trong hầu hết các văn bản bang giao Và nội dung này khi thì đượcthể hiện một cách trực tiếp, khi lại được thể hiện một cách gián tiếp thông qua việcbày tỏ thái độ tôn trọng của nước ta với Trung Hoa - “Thiên triều”, vua Trung Hoa -

“Đại hoàng đế”

Trong bài số 2 - Bẩm thiên triều Quảng Tây phân tuần tả giang binh bị đạo

tổng lý phiên vụ Thang đại nhân (Biện về việc xảy xa binh đao, Quốc Vương bẩm)

-Ngô Thì Nhậm thay mặt vua Quang Trung viết cho Thang Hùng Nghiệp, lời lẽ vôcùng mềm dẻo nói về việc bất bình khi Tôn Sỹ Nghị ném thư của chúng ta gửi đến,

cố tình tiến quân nên bị quân ta đánh cho tơi bời Tuy nhiên, lời lẽ trong bức thư rấtđiềm tĩnh, ôn tồn thể hiện thái độ tôn trọng đối với nhà Thanh, gọi chúng là

“Thượng quốc”, để chúng không mất mặt vì hành động gây hấn của Tôn Sỹ Nghị và

sự bại trận đó Cụ thể trong bài bẩm có đoạn:

“Tôn Sỹ Nghị tự kéo quân đến đón đánh, để đến nỗi bị quân của tôi đánh chophải thua, chết ngổn ngang không biết bao nhiêu mà kể…Tôi vẫn không xâm phạmđến bờ cõi để đắc tội với Thượng quốc… Nay nhờ vào tấm thịnh tình xem xét rộngcủa Đại nhân mà kính dâng biểu chương, trình bày sự việc Rất mong Đại nhânchuyển đạt lên, để được ngửa đợi ân điển của Đại Hoàng đế, kính cẩn sửa lễ cống,

cử phiên thần dâng lên, làm cho quân dân khỏi khổ về nạn binh đao, đó là điềumong muốn lớn nhất của tôi.” [11, 411]

Chúng tôi khảo sát hầu hết các bài viết trong Bang giao hảo thoại, từ các bài

bẩm, trình đến các biểu dù bàn về việc trao trả tù binh, đến báo cáo tình hình biên

cương, biên ải, xin cầu phong hay việc chúc thọ vua Kiền Long… đều thể hiện một

sự hòa nhã, nhún nhường và thái độ cầu thị của đất nước khát khao hòa bình vàchung sống hòa hiếu với Trung Hoa Đó là tinh thần cốt yếu của ngoại giao Đại Việtkhông chỉ được thể hiện đậm sâu dưới triều đại Tây Sơn, mà đã được thể hiện từcác triều đại trước và duy trì đến tận ngày nay

Với những lời lẽ hết sức mềm mỏng, khéo léo nêu lên thiện chí của chúng ta:

“Tôi nghĩ đi nghĩ lại, mọi việc trong thiên hạ, không gì hơn tấm lòng thành Lần này

Ngày đăng: 11/09/2019, 10:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Ngọc Ánh (2009), “Ngoại giao Tây Sơn - Những tư tưởng đặc sắc và bài học lịch sử”, báo Khoa học và Công nghệ - Đại học Đà Nẵng số 1, trang 97 - 103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại giao Tây Sơn - Những tư tưởng đặc sắc và bài học lịch sử
Tác giả: Trần Ngọc Ánh
Năm: 2009
2. Đỗ Bang (2006), Những khám phá về hoàng đế Quang Trung, NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khám phá về hoàng đế Quang Trung
Tác giả: Đỗ Bang
Nhà XB: NXB Văn hóaThông tin
Năm: 2006
3. Hoa Bằng (1944), Quang Trung anh hùng dân tộc. NXB Bốn Phương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quang Trung anh hùng dân tộc
Tác giả: Hoa Bằng
Nhà XB: NXB Bốn Phương
Năm: 1944
4. Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng (1963), Tìm hiểu thiên tài quân sự Nguyễn Huệ, NXB Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thiên tài quân sựNguyễn Huệ
Tác giả: Nguyễn Lương Bích, Phạm Ngọc Phụng
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
Năm: 1963
5. Đinh Mạnh Cường (1980), Góp phần tìm hiểu những cải cách của vua Quang Trung, NXB Bình Trị Thiên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu những cải cách của vua QuangTrung
Tác giả: Đinh Mạnh Cường
Nhà XB: NXB Bình Trị Thiên
Năm: 1980
6. Phan Đại Doãn (1989), “Tài dùng người của Quang Trung”, Tạp chí lịch sử quân sự, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài dùng người của Quang Trung”, "Tạp chí lịch sử quân sự
Tác giả: Phan Đại Doãn
Năm: 1989
7. Phạm Văn Đang (1973), Văn học Tây Sơn, NXB Lửa Thiêng, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Tây Sơn
Tác giả: Phạm Văn Đang
Nhà XB: NXB Lửa Thiêng
Năm: 1973
8. Trần Văn Giáp (1963), “Nguyễn Huệ với bia tiến sĩ ở Hà Nội”, Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Huệ với bia tiến sĩ ở Hà Nội”, "Tạp chí nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Trần Văn Giáp
Năm: 1963
9. Lâm Giang (chủ biên), Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 1 (2003), NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 1
Tác giả: Lâm Giang (chủ biên), Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 1
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2003
10. Lâm Giang - Nguyễn Công Việt (chủ biên) (2004), Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 2, NXB Khoa Học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập2
Tác giả: Lâm Giang - Nguyễn Công Việt (chủ biên)
Nhà XB: NXB Khoa Học Xã hội
Năm: 2004
11. Lâm Giang - Nguyễn Công Việt (chủ biên) (2005), Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 3, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập3
Tác giả: Lâm Giang - Nguyễn Công Việt (chủ biên)
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2005
12. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (2010), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2010
13. Lê Văn Hòe (1952), Những bài học lịch sử, NXB Quốc học thư xã Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài học lịch sử
Tác giả: Lê Văn Hòe
Nhà XB: NXB Quốc học thư xã
Năm: 1952
14. Nguyễn Mạnh Hùng (2001), Trên hành trình văn học trung đại, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên hành trình văn học trung đại
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng
Nhà XB: NXB Đại họcQuốc gia Hà Nội
Năm: 2001
15. Phan Huy Lê (1959), Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam
Tác giả: Phan Huy Lê
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1959
16. Đặng Thanh Lê (1978), Lịch sử văn học Việt Nam, tập 3, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Việt Nam, tập 3
Tác giả: Đặng Thanh Lê
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1978
17. Phan Huy Lê (2011), Quang Trung - Nguyễn Huệ con người và sự nghiệp, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quang Trung - Nguyễn Huệ con người và sự nghiệp
Tác giả: Phan Huy Lê
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2011
18. Phan Huy Lê (1961), Tìm hiểu thêm về phong trào nông dân Tây Sơn, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thêm về phong trào nông dân Tây Sơn
Tác giả: Phan Huy Lê
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1961
19. Trần Huy Liệu (1966), “Quan hệ lịch sử giữa hai ngước Việt - Trung”, Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ lịch sử giữa hai ngước Việt - Trung”, "Tạp chí nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Trần Huy Liệu
Năm: 1966
20. Ngô Thế Long (2005), Bang giao Đại Việt, NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bang giao Đại Việt
Tác giả: Ngô Thế Long
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w