Sự thiệt hại một đối tượng có thể phát sinh do một sự cố mất mát dẫn đến mất quyền sở hữu một khoản giá trị, cũng có thể từ một sự cố gây hư hại cho chính đối tượng hủy hoại vật chất làm
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Đề tài nghiên cứu: Các khái niệm rủi ro và quản trị rủi ro từ lý luận đến thực tiễn
2 Đối tượng nghiên cứu: các thuật ngữ và phương pháp xử lí rủi ro, tổn thất, hiểm họa, nguy cơ trong bảo hiểm
3 Phạm vi nghiên cứu: Phạm trù rủi ro thuần
4 Mục đích nghiên cứu
Nắm rõ được định nghĩa, khái niệm của các thuật ngữ được dùng trong bảo hiểm bao gồm
“rủi ro”, “hiểm họa”, “nguy cơ”, “tổn thất”
Phân biệt được và hiểu rõ sự khác nhau của các thuật ngữ được sử dụng trong bảo hiểm và ứng dụng vào cuộc sống
Hiểu tường tận các phương pháp quản lý rủi ro như “giảm thiểu nguy cơ”, “giảm thiểu tổn thất”, “tránh né rủi ro”, “hoán chuyển rủi ro” và lý do tại sao phải sử dụng các phương pháp này So sánh các ưu nhược điểm của từng phương pháp để có thể quyết định được trường hợp nào có thể sử dụng phương pháp nào
5 Phương pháp nghiên cứu: Hệ thống hóa kiến thức dựa trên nguồn tư liệu
NỘI DUNG
1 Các thuật ngữ trong bảo hiểm
1.1 Tổn thất:
Tổn thất là sự thiệt hại một đối tượng nào đó phát sinh từ một biến cố bất ngờ ngoài ý muốn của chủ sở hữu (hoặc người chiếm hữu sử dụng)
Ví dụ : cháy một căn nhà do sét đánh, thiệt hại tính mạng con người trong một vụ tàu trượt đường rầy, điều khiển xe vô tình gây tai nạn cho người thứ ba khác
Yếu tố “không cố ý” rất quan trọng trong định nghĩa nầy Một anh sinh viên tặng cho bạn của mình một món quà nhân ngày sinh nhật của người bạn đó Tất nhiên, vật phẩm làm quà tặng (có thể rất quý, rất đắt) không còn thuộc sở hữu của sinh viên đó nữa Nhưng không phải vì vậy mà anh ta có thể cho mình đã bị tổn thất, bởi vì, việc mất quyền sở hữu đó không phải do một sự cố bất ngờ mà là do sự "cố ý" của chính anh ta Sự thiệt hại một đối tượng có thể phát sinh do một sự cố mất mát (dẫn đến mất quyền sở hữu một khoản giá trị), cũng có thể từ một
sự cố gây hư hại cho chính đối tượng (hủy hoại vật chất làm mất hoặc giảm giá trị sử dụng, đồng thời giảm giá trị của đối tượng bị gây hại)
1.1.1 Phân loại tổn thất
Căn cứ vào đối tượng bị thiệt hại:
- Tổn thất tài sản: là sự giảm sút hoặc mất hẳn giá trị của tài sản do không cố ý, phát sinh từ một sự cố bất ngờ;
Trang 2- Tổn thất con người: nẩy sinh từ sự việc thiệt hại tính mạng, thân thể con người dẫn đến thiệt hại một khoản giá trị (các khoản chi phí bằng tiền) nhằm khắc phục, điều trị hoặc dẫn đến việc mất hoặc giảm đi một khoản thu nhập nhất định
- Tổn thất do phát sinh trách nhiệm dân sự: Đó là việc phát sinh trách nhiệm dân sự theo ràng buộc của Luật dân sự dẫn đến phải bồi thường bằng tiền những thiệt hại về tài sản, tính mạng, thân thể, có khi cả thiệt hại về mặt tinh thần gây ra cho người thứ 3 khác do lỗi của mình
Căn cứ vào hình thái biểu hiện
- Tổn thất động: là trường hợp đối tượng vẫn nguyên giá trị sử dụng (không có sự hủy hoại vật chất) nhưng giá trị bị giảm sút Đây là tổn thất nẩy sinh do tác động của yếu
tố thị trường
- Tổn thất tĩnh: loại tổn thất mà vật thể bị hư hỏng, mất mát, hủy hoại về mặt vật chất Tổn thất này phát sinh vừa làm giảm (hoặc mất) giá trị sử dụng vừa làm giảm (hoặc mất) giá trị của đối tượng (trừ trường hợp tổn thất con người)
Căn cứ vào khả năng lượng hóa
- Tổn thất có thể tính toán: là những tổn thất, khi nó phát sinh, có thể tính toán, xác định giá trị tổn thất Tuy nhiên, cũng cần phân biệt: Tổn thất lường trước được; Tổn thất không lường trước được
- Tổn thất không xác định: là những tổn thất, khi nó xẩy ra, người ta không thể lượng hóa được bằng tiền Ví dụ: tổn thất về mặt “tinh thần”
1.1.2 Giảm thiểu tổn thất
Khi rủi ro đã phát động, đối tượng đã bị thiệt hại, biện pháp lúc này là phải giảm thiểu tổn thất ở mức thấp nhất
Ví dụ : Bình cứu hỏa, xẻng, cát được bố trí đầy đủ hợp lý trong nhà máy không ngăn được hỏa hoạn khởi phát, nhưng giúp ích cho việc dập tắt nhanh ngọn lửa, tránh lây lan Đường cứu nạn trên đường đèo không làm cho xe tránh được rủi ro đứt thắng, nhưng khi có sự cố xảy ra, nó làm giảm đáng kể số người bị thương vong
1.1 Rủi ro
Định nghĩa về danh từ "rủi ro" được đưa ra rất nhiều, dưới nhiều góc nhìn khác nhau thậm chí rất khác nhau Có thể ghi nhận một vài định nghĩa như sau:
(1) Theo Frank Knight: “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được” ;
(2) Theo Irving Preffer: "Rủi ro là tổng hợp những sự ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất";
(3) Theo Allan Willett: "Rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến
cố không mong đợi" ;
(4) "Rủi ro là một sự cố không chắc chắn xảy ra hoặc ngày giờ xảy ra không chắc chắn
Để chống lại điều đó, người ta có thể yêu cầu bảo hiểm"
Các định nghĩa nêu trên dù ít nhiều khác nhau song đều đề cập đến cùng 2 vấn đề:
Sự không chắc chắn, yếu tố bất trắc;
Một khả năng xấu: một biến cố không mong đợi, tổn thất
1.1.1 Nguồn gốc của Rủi ro
Trang 3- Nguồn gốc tự nhiên: Do con người chưa nhận thức hết các quy luật của tự nhiên hoặc không đủ khả năng chế ngự hết những tác động của tự nhiên dù đã nhận biết được quy luật Ví dụ: Rủi ro động đất, rủi ro núi lửa phun
- Nguồn gốc kinh tế - xã hội: Tiến bộ khoa học kỹ thuật, một mặt, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển với việc phát minh ra các máy móc, các phương tiện tinh vi, hiện đại Mặt khác, chính các thành tựu đó lại làm nẩy sinh các rủi ro đe dọa đời sống con người khi có sự mất khả năng kiểm soát, chế ngự nhất thời Ví dụ: Nổ, đỗ vỡ máy móc, điện giật
Bên cạnh đó, xã hội phát triển cùng với các mối quan hệ nẩy sinh càng ngày càng nhiều, càng phức tạp và không phải lúc nào cũng diễn một cách thuận lợi Các mâu thuẩn tất yếu sẽ phát sinh dẫn đến phá vỡ các mối quan hệ xã hội, trở thành một trong những nguyên nhân của các tổn thất
Ví dụ: chiến tranh, trộm cắp, đình công
1.1.2 Nguyên nhân của Rủi ro
- Nguyên nhân khách quan: các nguyên nhân được coi là khách quan nếu nó độc lập với hoạt động của con người
Có thể là:
Trường hợp bất khả kháng gắn với tự nhiên, hoặc gắn với đời sống xã hội;
Các trường hợp ngẫu nhiên: gắn liền với hoạt động của con người nhưng nguyên nhân
không rõ ràng, không xác định được Các trường hợp này không ai gây ra các thiệt hại
đã phát sinh, các sự cố xẩy ra không có sự tham gia của con người
- Nguyên nhân chủ quan: Biến cố xẩy ra dưới sự tác động của con người
Có thể là:
Trường hợp chính bản thân nạn nhân tự gây ra tổn thất cho mình (sơ xuất ) Nạn nhân
không thể đòi ai khác bồi thường cho mình (Ở đây chưa đề cập đến rủi ro được bảo hiểm)
Trường hợp do người thứ 3 khác gây ra Trong trường hợp này, nạn nhân có thể yêu cầu người thứ 3 có trách nhiệm phải bồi thường, tuy nhiên, chỉ giới hạn trong khả năng tài chính của người đó
1.1.3 Phân loại rủi ro
1.1.3.1. Rủi ro xác định/ Rủi ro không xác định
- Rủi ro xác định: là những rủi ro mà tần số xuất hiện cũng như mức độ trầm trọng của
nó có thể dự báo và tính toán được
- Rủi ro không xác định: người ta không thể (hoặc chưa có thể) tìm ra được quy luật vận động nên không thể (chưa thể) tiên đoán được xác suất xẩy ra biến cố trong tương lai Ví dụ: xác suất của biến cố người ngoài trái đất đổ bộ và tàn sát nhân loại
Trên thực tế, dường như không có ranh giới rõ ràng cho hai loại rủi ro nêu trên vì ngay cả khi có thể xác định được xác suất xẩy ra biến cố trong tương lai thì con số đó chỉ có mức độ chính xác tương đối với một mức độ tin cậy nhất định
1.1.3.2. Rủi ro động/ Rủi ro tĩnh
- Rủi ro động: là những rủi ro vừa có thể dẫn đến khả năng tổn thất vừa có thể dẫn đến một khả năng kiếm lời Cũng vì khả năng kiếm lời đó mà người ta còn gọi những rủi
ro này là rủi ro suy tính hay một rủi ro đầu cơ
Trang 4- Rủi ro tĩnh: là những rủi ro chỉ có khả năng dẫn đến tổn thất hoặc không tổn thất chứ không có khả năng kiếm lời Do nó luôn luôn và chỉ gắn liền với một khả năng xấu, khả năng tổn thất nên
người ta gọi là rủi ro thuần túy (hay rủi ro thuần) Rủi ro tĩnh phát sinh có thể làm tổn thất xẩy ra đối với cả ba đối tượng:
Tài sản;
Con người;
Trách nhiệm
Người ta đã chỉ ra ba điểm khác nhau cơ bản giữa chúng như sau:
Rủi ro tĩnh thường liên quan với sự hủy hoại vật chất, còn rủi ro động liên quan đến
sự thay đổi giá cả, giá trị;
Rủi ro tĩnh tồn tại đối với cả tổng thể nhưng chỉ phát động ảnh hưởng đến một vài phần tử, ngược lại, rủi ro động khi phát động sẽ ảnh hưởng đến tất cả các phần tử trong tổng thể đó;
Xét về mặt thời gian, rủi ro tĩnh phổ biến hơn rủi ro động
1.1.3.3. Rủi ro cơ bản/ Rủi ro riêng biệt
- Rủi ro cơ bản: là những rủi ro xuất phát từ sự tác động hổ tương thuộc về mặt kinh
tế, chính trị, xã hội và đôi lúc thuần túy về mặt vật chất Những tổn thất hậu quả do rủi ro cơ bản gây ra không chỉ do từng cá nhân và ảnh hưởng đến toàn bộ nhóm người nào đó trong xã hội
- Rủi ro riêng biệt: là các rủi ro xuất phát từ từng cá nhân con người Tác động của các rủi ro không ảnh hưởng lớn đến toàn bộ xã hội mà chỉ có tác động đến một số ít con người
1.2 Hiểm họa:
Thuật ngữ: “hiểm họa” thường được sử dụng trong các đơn bảo hiểm “Mọi rủi ro” (All Risks Policy) Nó biểu hiện hàng loạt các sự cố có thể xẩy ra gây thiệt hại cho một đối tượng hoặc một sự cố không chắc chắn nào đó có thể ảnh hưởng đến nhiều người khác nhau với tư cách khác nhau Ví dụ: Hiểm họa ma túy, hiểm họa AIDS, hiểm họa hàng hải
Một cách đơn giản, có thể nói: Hiểm họa là một rủi ro khái quát, một nhóm các rủi ro cùng loại và có liên quan
1.3 Nguy cơ
Một khi có nguy cơ thì có nghĩa là sự phát động của rủi ro gần với hiện thực hơn, khả năng xẩy ra tổn thất cao hơn Ví dụ: quản lý cẩu thả, tàu không đủ khả năng hành thủy, đường giao thông bị hư hỏng
Nguy cơ xuất hiện như một điều kiện phối hợp, tác động làm rủi ro xẩy ra dẫn đến tổn thất Bản thân nguy cơ là hoàn toàn độc lập với rủi ro Ví dụ: rủi ro hỏa hoạn đe dọa bất kỳ căn nhà nào dù trong căn nhà đó có chứa xăng hay chất dễ cháy, nổ hay không
Một cách ngắn gọn, nguy cơ có thể định nghĩa như sau: Nguy cơ là những điều kiện phối hợp, tác động làm tăng khả năng tổn thất
2. Các phương pháp quản trị rủi ro
2.1 Tránh né rủi ro
Đây là cách xử sự hiển nhiên nhất bởi vì đương nhiên sẽ càng tốt nếu như người ta tránh né được càng nhiều rủi ro, tổn thất Theo các nhà nghiên cứu, tránh né rủi ro chính
là việc thực hiện những lựa chọn tốt, lấy các quyết định thích nghi trong cuộc sống hằng
Trang 5ngày Ví dụ: Sau sự kiện 11/09/2001 tại Mỹ, một số người không đi máy bay để né tránh rủi ro khủng bố Một ngườimuốn tránh rủi ro bị nhiễm bệnh đường hô hấp do môi trường bị ô nhiễm bụi khói công nghiệp thì có thể về nông thôn hay về vùng đồi núi để sinh sống
Trên thực tế, người ta tránh né rủi ro khi có thể có sự lựa chọn và trong đó việc chấp nhận rủi ro nầy, tránh né rủi ro kia là hợp lý Trong điều kiện một nền kinh tế thị
trường, sự hợp lý (hay không hợp lý) của phương thức tránh né được quyết định bởi giá phí của sự lựa chọn đó trong sự so sánh với giá phí của các lựa chọn khác
2.2 Gánh chịu rủi ro
Quyết định gánh chịu rủi ro khi không còn phương thức nào tốt hơn để giải quyết Giống như ví dụ trên, chúng ta bắt buộc phải trú ngụ trong nhà tức chấp nhận gánh chịu rủi ro căn nhà có thể bị bốc cháy một lúc nào đó Chúng ta chấp nhận gánh chịu rủi ro bị cháy nổ, rơi phương tiện khi di chuyển từ nơi nầy sang nơi khác, không thể tránh né nó bằng cách đi bộ hay sử dụng cây đèn thần Alladin
Gánh chịu rủi ro cũng có thể do người ta không thấu đáo được rủi ro đó Một người tránh né rủi ro bị bệnh đường hô hấp đi về vùng đồi núi sinh sống, có thể lúc nào đó
sẽ là nạn nhân củamột vụ sụp lỡ đất do nhà anh ta vô tình cất trên vùng địa chất phúc tạp, không ổn định
Gánh chịu rủi ro do sức ỳ, sự thụ động đã trở thành quán lệ (thói quen không chỉ của một cá nhân mà của một nhóm người trong xã hội) Một người nhận thức được phải mua bảo hiểm để đối phó với các rủi ro bản thân nhưng anh ta vẫn không tự động đi mua bảo hiểm nếu như nhân viên khai thác bảo hiểm không đến tận nhà chào mời Điều này đến nay vẫn còn phổ biến ở Việt Nam
Chấp nhận gánh chịu một rủi ro suy tính, một rủi ro đầu cơ Điều nầy dễ thấy trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh Mức độ rủi ro cao, khoản lời có thể mang lại càng lớn Một chủ xe tải, chấp nhận rủi ro bị phạt vi cảnh, cố tình chở hàng hóa quá tải để được món lời cao hơn Một cascadeur chấp nhận đóng thế vi trong các “pha nguy hiểm” để nhận tiền công hậu hĩnh Ở đây việc chấp nhận gánh chịu rủi ro là một quyết định được cân nhắc, suy tính sau khi phán đoán tương đối chính xác một rủi
ro nào đó Và mức độ rủi ro là cơ sở đánh giá một nhà kinh doanh nào đó biết mạo hiểm hay chỉ là liều lĩnh không hơn, không kém Trong sản xuất kinh doanh, việc gánh chịu rủi ro như trên đã dẫn đến việc người ta tạo ra một
quỹ “dự phòng” để tự bù đắp các tổn thất
2.3 Giảm thiểu nguy cơ và giảm thiểu tổn thất (ngăn chặn rủi ro)
2.3.1 Giảm thiểu nguy cơ
Nguy cơ là một điều kiện làm gia tăng khả năng tổn thất Không có nguy cơ rủi ro vẫn tồn tại, có nguy cơ, khả năng rủi ro phát động cao hơn Do đó, giảm thiểu nguy cơ chỉ có thể làm giảm khả năng xẩy ra biến cố chứ không làm giảm mức độ rủi ro hay triệt tiêu rủi ro
Một cách khái quát, giảm thiểu nguy cơ là triệt tiêu yếu tố tồn tại có thể làm gia tăng khả năng tổn thất, làm cho rủi ro ổn định về với xác suất và mức độ rủi ro đã được dự báo
2.3.2 Giảm thiểu tổn thất
Khi rủi ro đã phát động, đối tượng đã bị thiệt hại, biện pháp lúc này là phải giảm thiểu tổn thất ở mức thấp nhất Bình cứu hỏa, xẻng, cát được bố trí đầy
đủ hợp lý trong nhà máy không ngăn được hỏa hoạn khởi phát, nhưng giúp ích
Trang 6cho việc dập tắt nhanh ngọn lửa, tránh lây lan Đường cứu nạn trên đường đèo không làm cho xe tránh được rủi ro đứt thắng, nhưng khi có sự cố xảy ra, nó làm giảm đáng kể số người bị thương vong
Giảm thiểu tổn thất và giảm thiểu nguy cơ là 2 biện pháp có liên quan chặt chẽ với nhau Các cuộc khám sức khỏe định kỳ không tiêu diệt được bệnh mà chỉ phát hiện và chữa trị kịp thời cho người mắc phải Nhưng việc khám sức khỏe định kỳ đó lại có tác dụng nhắc nhở mọi người tuân thủ đúng nguyên tắc phòng bệnh dẫn đến số người mắc bệnh vì vậy sẽ ít đi
2.4 Hoán chuyển rủi ro
2.4.1 Nghịch hành
Là tham gia vào hai chiều trái ngược nhau của cùng một sự việc và như vậy rủi ro bị vô hiệu hóa Phương pháp nầy được các nhà kinh doanh sử dụng bằng các mua - bán non sản phẩm (mua – bán short) với điều kiện giao hàng trong tương lai (phương pháp Hedging) Trong trường hợp này rủi ro tăng và giảm giá được chuyển từ người sản xuất (người bán non) sang người mua non hàng hóa
2.4.2 Cho thầu lại
Nhà thầu chính trúng thầu xây dựng một cao ốc có thể cho thầu lại toàn bộ hoặc một số công trình phụ (điện, nước ) Lúc nầy, một phần rủi ro sẽ chuyển
từ nhà thầu chính sang nhà thầu phụ
2.4.3 Bảo hiểm
Kỹ thuật bảo hiểm sẽ giúp cho người ta quy tụ được một số đông người trong
đó, sẽ chỉ có một số ít người gặp rủi ro và bị tổn thất Họ sẽ được người bảo hiểm bồi thường và số tiền bồi thường đó được lấy từ quỹ bảo hiểm do đám đông cùng tham gia đóng góp dưới hình thức Phí bảo hiểm Bằng cách này, rủi
ro có thể sẽ được cả cộng đồng gánh chịu hay nói cách khác nó được hoán chuyển từng phần nhỏ qua từng người khác
Như vậy, bảo hiểm cũng là một hình thức hoán chuyển rủi ro, nhưng cần phải thấy rằng: cách thức hoán chuyển của nó cách xử lý của nó là triệt để hơn hết
Vì rằng: hoán chuyển rủi ro của bảo hiểm là hoán chuyển cho số đông người vừa đủ để mỗi người không bị rủi ro tác động làm ảnh hưởng trầm trọng, trong khi ở các hình thức hoán chuyển rủi ro khác, việc hoán chuyển chỉ giải quyết lợi ích cục bộ của một người, rủi ro vẫn còn tiếp tục đe dọa lợi ích của người khác và lợi ích của cả nền kinh tế xã hội
2.5 Giảm thiểu rủi ro
Tất cả các phương thức nói trên, ngoài bảo hiểm, đều không làm được điều này Bảo hiểm vì vậy không chỉ là một phương thức hoán chuyển rủi ro mà còn là một phương thức giảm thiểu rủi ro
Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh là không phải tất cả các rủi ro cũng đều có thể bảo hiểm Và trong số những rủi ro có thể bảo hiểm, nhà bảo hiểm chọn đảm bảo cho rủi
ro nào là còn phụ thuộc vào khả năng nghiệp vụ và tầm vóc công ty của mình Các loại rủi ro có thể bảo hiểm:
Phân loại theo:
Rủi to
3. Hãy phân biệt “rủi ro” với “hiểm họa”
Trang 7RỦI RO HIỂM HỌA
ĐẶC
ĐIỂM
Có thể mang đến tổn thất hoặc mất mát nhưng cũng có thể mang lại lợi ích và cơ hội.
Hiểm họa là một rủi ro khái quát, một nhóm các rủi ro cùng loại và có liên quan BẢN
CHẤT
Là xác suất dẫn đến tổn thất Là nguyên nhân trực tiếp
mang đến tổn thất.
NGUỒN
GỐC
Nguồn gốc tự nhiên: Do con người chưa nhận thức hết các quy luật của tự nhiên hoặc không đủ khả năng chế ngự hết những tác động của tự nhiên dù đã nhận biết được quy luật Ví dụ: Rủi ro động đất, rủi ro núi lửa phun
Nguồn gốc kinh tế - xã hội:
Tiến bộ khoa học kỹ thuật, một mặt, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển với việc phát minh ra các máy móc, các phương tiện tinh vi, hiện đại
Mặt khác, chính các thành tựu
đó lại làm nẩy sinh các rủi ro
đe dọa đời sống con người khi
có sự mất khả năng kiểm soát, chế ngự nhất thời Ví dụ: Nổ,
đỗ vỡ máy móc, điện giật
Hiểm họa tự nhiên: bão,động đất, sóng thần, lụ lụt, hạn hán, xạc lở,
Hiểm họa do con người gây ra: ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nguồn nước, chiến tranh, ô nhiễm không khí, rò
rỉ khí độc, khủng bố,
Hiểm họa do tác động bởi các hoạt động của con người: làm nhiệt ấm lên trên toàn cầu gây ra biến đổi khí hậu, chặt phá rừng, đốt rừng để sản xuất, xây dựng các công trình không phù hợp,
4. Hãy phân biệt “rủi ro” với “nguy cơ”
5. Hãy so sánh “giảm thiểu nguy cơ” và “giảm thiểu tổn thất”
Giảm thiểu nguy cơ Giảm thiểu tổn thất
Trang 8Phương thức Giảm thiểu xác suất tổn thất
xảy ra, mang tính chủ động Giảm thiểu tổn thất sau khi xảy ra, thụ động
6.
7. Hãy so sánh “tránh né rủi ro” và “hoán chuyển rủi ro”
KẾT LUẬN