Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hànhnhiều văn bản để chỉ đạo công tác giáo dục pháp luật trong nhà trường, cáctrường trung học phổ thông đã tập trung triển khai các hoạt động
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thành Kỉnh
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sựhướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Thành Kỉnh Các kết quả nghiên cứu làtrung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2019
Tác giả luận văn
Mạc Đức Hạnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, em xin bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng tớiBan Giám hiệu Trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên; các Thầygiáo, Cô giáo Khoa Tâm lý Giáo dục Trường Đại học sư phạm - Đại học TháiNguyên đã tham gia giảng dạy và cung cấp những kiến thức cơ bản, bổ ích, tạođiều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu tại nhà trường
Đặc biệt, với tấm lòng thành kính, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến
TS Nguyễn Thành Kỉnh, người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học và tận tìnhgiúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnhCao Bằng, lãnh đạo, giáo viên, học sinh các trường trung học phổ thông trênđịa bàn tỉnh Cao Bằng cùng bạn bè, người thân đã tạo điều kiện cả về thời gian,vật chất, tinh thần cho tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoànthành luận văn
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, mặc dù bảnthân em đã luôn cố gắng nhưng chắc chắn không tránh khỏi những khiếmkhuyết Kính mong được sự góp ý, chỉ dẫn của các Thầy, các Cô và các bạnđồng nghiệp
Em xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2019
Tác giả luận văn
Mạc Đức Hạnh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC .iii
DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 3
6 Giả thuyết khoa học 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới 6
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước 8
1.2 Những khái niệm cơ bản của đề tài 11
1.2.1 Quản lý 11
1.2.2 Quản lý giáo dục 13
1.2.3 Pháp luật 14
1.2.4 Luật 16
Trang 61.2.6 Giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình 17
1.2.7 Quản lý giáo dục Luật Hôn nhân và Gia đình cho học sinh THPT 18
1.3 Lý luận chung về giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh trường THPT 19
1.3.1 Mục đích GD Luật Hôn nhân và gia đình 19
1.3.2 Nội dung giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình 19
1.3.3 Các con đường giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình 20
1.4 Quản lý GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh trường THPT 22
1.4.1 Mục tiêu quản lý GD Luật Hôn nhân và gia đình 22
1.4.2 Nội dung quản lý GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh THPT .23
1.5 Những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh trung học phổ thông 28
1.5.1 Đặc điểm nhận thức, tâm sinh lý lứa tuổi học sinh trung học phổ thông .28
1.5.2 Môi trường xã hội 29
1.5.3 Điều kiện sống của học sinh 30
1.5.4 Năng lực quản lý và nhận thức về công tác giáo dục pháp luật cho học sinh của nhà quản lý 31
1.5.5 Sự hiểu biết về pháp luật, nhận thức và ý thức trách nhiệm của đội ngũ giáo viên đối với công tác giáo dục pháp luật cho học sinh 32
1.5.6 Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác GDPL 32
Kết luận Chương 1 34
Chương 2 THỰC TRẠNG CỦA QUẢN LÝ GIÁO DỤC LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH CAO BẰNG 35
2.1 Khái quát về khách thể khảo sát và tổ chức khảo sát 35
2.1.1 Khái quát về các trường trung học phổ thông tỉnh Cao Bằng 35 2.1.2 Đặc điểm tâm sinh lý, đặc điểm vùng miền của học sinh THPT tỉnh
Trang 7Cao Bằng 37
Trang 82.1.3 Tổ chức khảo sát 39
2.2 Thực trạng giáo dục Luật HN&GĐ cho học sinh các trường THPT tỉnh Cao Bằng 40
2.2.1 Thực trạng về nhận thức của Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, giáo viên, học sinh về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác GD Luật HN&GĐ cho học sinh các trường THPT tỉnh Cao Bằng 40
2.2.2 Thực trạng thực hiện các nội dung GD Luật HN&GĐ cho học sinh THPT tỉnh Cao Bằng 44
2.2.3 Thực trạng sử dụng các hình thức GD Luật HN&GĐ cho học sinh trong trường THPT tỉnh Cao Bằng 51
2.3 Thực trạng công tác quản lý GD Luật HN&GĐ cho học sinh THPT tỉnh Cao Bằng 53
2.3.1 Xây dựng kế hoạch giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh THPT 53
2.3.2 Tổ chức và chỉ đạo thực hiện chương trình giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh THPT 56
2.3.3 Kiểm tra, đánh giá giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh THPT của Hiệu trưởng Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng và giáo viên .58
2.3.4 Thực trạng yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý GD Luật HN&GĐ cho học sinh THPT 60
2.4 Đánh giá chung về thực trạng quản lý giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh THPT tỉnh Cao Bằng 63
2.4.1 Những ưu điểm 63
2.4.2 Những hạn chế, tồn tại 65
2.3.3 Nguyên nhân của hạn chế, tồn tại 66
Kết luận Chương 2 68
Trang 9Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC LUẬT HÔN NHÂN VÀ
GIA ĐÌNH CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG TỈNH CAO BẰNG 69
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 69
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 69
3.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn 69
3.1.3 Đảm bảo tính khả thi 70
3.1.4 Đảm bảo tính khoa học 70
3.2 Một số biện pháp quản lý giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh trường THPT tỉnh Cao Bằng 71
3.2.1 Bồi dưỡng kỹ năng tổ chức các hoạt động GD Luật HN&GĐ cho Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng và giáo viên thực hiện công tác giáo dục pháp luật cho học sinh trong các trường THPT 71
3.2.2 Hoàn thiện các điều kiện phục vụ công tác giáo dục pháp luật, quản lý GD Luật HN&GĐ cho học sinh THPT 73
3.2.3 Tăng cường hoạt động phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị, đoàn thể địa phương trong giáo dục pháp luật cho học sinh THPT 74
3.2.4 Kiểm tra, giám sát việc thực hiện kế hoạch giáo dục pháp luật, GD Luật HN&GĐ cho học sinh THPT 77
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 80
3.4 Khảo nghiệm sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 81
3.4.1 Cách thức tiến hành 81
Kết luận Chương 3 85
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86
1 Kết luận 86
2 Kiến nghị 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHỤ LỤC
Trang 10DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
GD : Giáo dụcGD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
HT : Hiệu trưởngPHT : Phó Hiệu trưởngLuật HN&GĐ : Hôn nhân và gia đình
PL : Pháp luật
QL : Quản lýGDPL : Giáo dục pháp luậtQLDH : Quản lý dạy học QLGD : Quản lý giáo dục
SL : Số lượngTHCS : Trung học cơ sởTHPT : Trung học phổ thông
Trang 11học sinh trong trường THPT 48Bảng 2.4 Đánh giá về mức độ sử dụng hình thức GD Luật HN&GĐ cho
học sinh trong trường THPT 51Bảng 2.5 Đánh giá về xây dựng kế hoạch công tác GD Luật HN&GĐ
trong nhà trường THPT 54Bảng 2.6 Đánh giá về nội dung biện pháp tổ chức và chỉ đạo công tác
GD Luật HN&GĐ trong nhà trường THPT 56Bảng 2.7 Đánh giá về nội dung kiểm tra, đánh giá công tác GD Luật
HN&GĐ trong nhà trường THPT 58Bảng 2.8 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý GD Luật HN&GĐ
cho học sinh THPT 61Bảng 3.1 Tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý giáo dục
pháp luật, GD Luật HN&GĐ cho học sinh THPT tỉnh Cao Bằng 82
Trang 12DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Nhận thức của Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, giáo viên và
học sinh về tầm quan trọng của công tác GD Luật HN&GĐcho học sinh 41Biểu đồ 3.1 Mức độ cần thiết của các biện pháp quản lý giáo dục pháp
luật, GD Luật HN&GĐ cho học sinh THPT tỉnh Cao Bằng 83Biểu đồ 3.2 Tính khả thi của các biện pháp quản lý giáo dục pháp luật,
GD Luật HN&GĐ cho học sinh THPT tỉnh Cao Bằng 83
Trang 13PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua công tác phổ biến, giáo dục pháp luật luôn được
sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và các cấp, các ngành Phổ biến, giáodục pháp luật là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, Nhà nước giữ vaitrò nòng cốt; khuyến khích, tạo điều kiện và huy động mọi nguồn lực xã hộitham gia; đề cao trách nhiệm và từng bước hình thành thói quen chủ động họctập, tự giác tuân thủ, chấp hành pháp luật của lãnh đạo nhà trường, công chức,viên chức và nhân dân Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hànhnhiều văn bản để chỉ đạo công tác giáo dục pháp luật trong nhà trường, cáctrường trung học phổ thông đã tập trung triển khai các hoạt động phổ biến, giáodục pháp luật cho học sinh và đạt được những kết quả quan trọng, góp phầncho học sinh chuyển biến nhận thức về pháp luật, dần có thói quen xử sự theopháp luật
Tuy nhiên công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho học sinh trung họcphổ thông còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu, như: Nhận thức vềtầm quan trọng về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho học sinh của một
số Hiệu trưởng, giáo viên làm công tác này chưa cao nên công tác quản lý phổbiến, giáo dục pháp luật cho học sinh ở nhiều trường chưa được coi trọng, chưađược quan tâm đúng mức; giáo viên phụ trách công tác giáo dục pháp luật ởcác nhà trường chủ yếu là kiêm nhiệm, ít được bồi dưỡng về kiến thức phápluật cũng như kỹ năng, phương pháp giáo dục pháp luật cho học sinh; cơ sở,vật chất, trang thiết bị chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác giáo dục phápluật cho học sinh; các hình thức giáo dục pháp luật còn đơn điệu, rập khuôn,thiếu sự hấp dẫn; hiện tượng dạy học nặng về kiến thức, nhẹ về rèn luyện kỹnăng cho người học còn khá phổ biến; các hình thức kiểm tra, đánh giá hiệnnay mới đánh giá ở mức độ ghi nhớ, chưa đánh giá sự chuyển biến về ý thức,
Trang 14pháp luật và ý thức tuân thủ pháp luật của học sinh, đặc biệt là học sinh dân tộcthiểu số, học sinh vùng sâu, vùng xa còn thấp và không đồng đều; một bộ phậnkhông nhỏ học sinh vẫn chưa nhận thức đúng và coi trọng vai trò pháp luật nêncòn xảy ra hiện tượng học sinh vi phạm pháp luật.
Cao Bằng là tỉnh miền núi, biên giới, điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệtkhoa khăn; ở nhiều vùng, trình độ hiểu biết, dân trí còn hạn chế, chịu ảnhhưởng nhiểu bởi các hủ tục lạc hậu nên việc thực hiện các quy định chế độ hônnhân và gia đình; chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử giữa các thành viên giađình; trách nhiệm của cá nhân, tổ chức và xã hội trong việc xây dựng, củng cốchế độ hôn nhân và gia đình chưa tốt, như: học sinh trung học phổ thông bỏ học
để lấy vợ, lấy chồng (xảy ra tình trạng tảo hôn) còn khá phổ biến ở một sốtrường hay việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con và ngượclại có những điều bị xã hội đáng lên án…
Trước tình hình đó, đòi hỏi Ngành Giáo dục và Đào tạo và các cơ quanliên quan tỉnh Cao Bằng phải tăng cường hơn nữa công tác giáo dục pháp luậtcho học sinh trung học phổ thông, trang bị kiến thức, hiểu biết pháp luật nóichung và Giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình nói riêng để giúp họ nâng cao ýthức chấp hành pháp luật, biết sử dụng pháp luật như là một phương tiện quantrọng để giải quyết những mâu thuẫn, công việc trong cuộc sống có liên quanđến pháp luật, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của bản thân,gia đình và xã hội Trong Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật 2012 đã có cácđiều, khoản quy định về phổ biến, giáo dục pháp luật các cơ sở giáo dục, điều
đó nói lên sự quan tâm Nhà nước ta đối với công tác giáo dục pháp luật cho họcsinh Vấn đề quan trọng được đặt ra hiện nay là cần có những biện pháp để đưachủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về giáodục pháp luật cho học sinh trung học phổ thông đi vào thực tiễn cuộc sống,nâng cao hiểu biết pháp luật cho học sinh, giảm thiểu tình trạng học sinh trunghọc phổ thông bỏ học vì lý do tảo hôn đòi hỏi cần có một công trình nghiên cứunghiêm túc, có hệ thống để tìm ra các giải pháp giúp Ngành Giáo dục & Đào
Trang 15tạo Cao Bằng quản lí tốt công tác giáo dục pháp luật, đặc biệt là giáo dục LuậtHôn nhân và gia đình cho học sinh trung học phổ thông.
Xuất phát từ những vấn đề đặt ra, tác giả lựa chọn vấn đề “Quản lý giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh các trường THPT tỉnh Cao Bằng” để làm đề tài nghiên cứu.
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn QLGD Luật Hôn nhân và gia đình, từ đó
đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinhcác trường THPT tỉnh Cao Bằng nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt độnggiáo dục học sinh trong các nhà trường
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh THPT tỉnhCao Bằng
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh cáctrường THPT trên địa bàn tỉnh Cao Bằng
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Xây dựng cơ sở lý luận về quản lý giáo dục luật hôn nhân và giađình cho học sinh THPT
4.2 Nghiên cứu thực trạng công tác giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình
ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Cao Bằng
4.3 Đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục luật hôn nhân và gia đình chohọc sinh các trường THPT tỉnh Cao Bằng
5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
5.1 Phạm vi nội dung
Trang 16Nghiên cứu biện pháp quản lý giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình chohọc sinh các trường THPT trên địa bàn tỉnh Cao Bằng trong phạm vi hoạt độnggiáo dục trường học.
6 Giả thuyết khoa học
Giáo dục luật hôn nhân và gia đình cho học sinh THPT là vấn đề rất cấpthiết hiện nay Tuy nhiên công tác quản lý giáo dục luật hôn nhân và gia đìnhcho học sinh các trường THPT tỉnh Cao Bằng còn nhiều hạn chế như: Kỹ nănggiáo dục luật hôn nhân và gia đình của giáo viên còn yếu, chưa có sự phối hợpgiữa các lực lượng trong việc tổ chức hoạt động giáo dục luật hôn nhân và giađình cho học sinh… Chính vì thế, nếu đề xuất được biện pháp tốt, phù hợp vớitình hình ở tỉnh Cao Băng sẽ nâng cao được chất lượng công tác giáo dục LuậtHôn nhân và gia đình cho học sinh ở các trường THPT tỉnh Cao Bằng trongtương lai
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập, đọc tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Phân tích, sosánh, hệ thống hóa lý thuyết để xác định cơ sở lý luận và quan điểm về vấn đềQuản lý giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh THPT tỉnh Cao Bằng
7.2 Phương pháp nghiêm cứu thực tiễn
Điều tra bằng bảng hỏi để khảo sát đánh giá thực trạng dạy học và thựctrạng quản lý giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh THPT tỉnh CaoBằng
Trang 17Phương pháp phỏng vấn sâu: Trao đổi phỏng vấn Hiệu trưởng, Phó Hiệutrường, giáo viên, học sinh để làm rõ về thực trạng quản lý giáo dục Luật Hônnhân và gia đình cho học sinh THPT tỉnh Cao Bằng.
Trang 18Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: Nghiên cứu hồ sơ quản lý công tácphổ biến, giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình của các nhà trường để làm rõthực trạng.
Phương pháp quan sát hoạt động để làm rõ thực trạng giáo dục Luật Hônnhân và gia đình cho học sinh THPT
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn Lấy ý kiến lãnh đạo, giáoviên trong trường trung học phổ thông
7.3 Phương pháp bổ trợ
Xử lý số liệu điều tra bằng phương pháp toán học thống kê
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn được trình bày trong
Trang 19Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới
Giáo dục pháp luật (GDPL) là một trong những nội dung quan trọng củakhoa học Lý luận về Nhà nước và pháp luật nên nhận được sự quan tâm nghiêncứu các nhà khoa học Xuất phát từ vị trí, vai trò của giáo dục pháp luật trong
sự tồn tại của người và xã hội cho nên ở góc độ nghiên cứu đã có nhiều côngtrình nghiên cứu khoa học từ các khoa học khác nhau như: luật học, tâm lý học,
xã hội học, giáo dục học Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu liên quanđến giáo dục pháp luật, như:
John A.Sebert (2002), The American Bar Association and Legal Education
in the United States of America (Liên đoàn Luật sư và giáo dục pháp luật ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ) Cuốn sách này cho thấy cách đào tạo và quản lý luật sư ở
Mỹ là rất khác với ở Việt Nam, trong đó đặc biệt là phương pháp dạy luật thôngqua các tình huống pháp luật làm cho việc học luật trở lên hấp dẫn, dễ nhớ, dễhiểu hơn (dẫn theo [26])
Edward Rubin, Legal Education in the Digital Age (Giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số), Nhà xuất bản Đại học Cambridge - 2012 Theo tác giả,
trong những thập kỷ tới, cuộc cách mạng kỹ thuật số sẽ biến đổi rất nhiều thếgiới của chúng ta, GDPL vì thế cũng sẽ biến đổi theo Việc sản xuất và phânphối tài liệu kỹ thuật số sẽ làm thay đổi mạnh mẽ nội dung và phương phápGDPL trong các nhà trường và qua các mạng xã hội Cuốn sách này gồm tậphợp các bài tiểu luận, các nghiên cứu của những chuyên gia pháp lý hàng đầuthế giới, trong đó thảo luận cách thức các tài liệu số sẽ được tạo ra và làm thếnào họ sẽ thay đổi các khái niệm về quyền tác giả cũng như các phương pháp
Trang 20tác giả còn khảo sát tác động của các tài liệu số đối với lớp học, với thư việncủa trường luật và xem xét sự chuyển đổi tiềm năng của chương trình giảng dạy
mà các tài liệu kỹ thuật số có thể tạo ra Cùng với đó, những bài tiểu luận nàycung cấp hướng dẫn cho những thay đổi quan trọng mà mọi giáo viên và họcgiả pháp luật cần phải hiểu Các video clip và cảnh quay hoạt hình với thế giới3-D, các thông tin pháp luật đồ sộ, tình huống pháp luật phong phú sẽ làm thayđổi hình thức và phương pháp GDPL truyền thống (dẫn theo [26])
Trường đại học Westininster London (Anh) năm 2011 công bố “nghiên cứu về giáo dục pháp luật trong bối cảnh toàn cầu” các nghiên cứu tập trung
vào thách thức mà giáo dục pháp luật đối mặt với toàn cầu, các quan hệ và sựthay đổi hệ thống pháp luật của Chính phủ Kết quả nghiên cứu cho thấy cần có
sự thay đổi chiến lược giáo dục pháp luật cho phù hợp với tình hình mới (dẫntheo [18])
A.B Vengerop, B.Đ Perevalop trong các cuốn sách mang tên: Lý luận nhà nước và pháp luật, (2005, 2009) đã bàn về các lý luận về nhà nước và pháp
luật, trong đó nhấn mạnh đến hệ thống pháp luật của Nhà nước: khái niệm,đặc điểm, cấu trúc hệ thống pháp luật của nhà nước (dẫn theo [18])
Khaxanova X.A đã đưa ra các nghiên cứu lý luận về giáo dục pháp luậtcho học sinh trung học phổ thông ở Liên Bang Nga, tác giả nêu ra: mô hìnhgiáo dục pháp luật phù hợp với giáo dục pháp luật cho học sinh trung học phổthông, chỉ ra các điều kiện, các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục pháp luật và đưa
ra các kiến nghị đổi mới cách thức, hình thức, phương pháp dạy học pháp luật
ở trường phổ thông (dẫn theo [26])
Lý luận nhà nước và pháp luật, Giáo dục pháp luật ở Liên bang Nga,trong công trình dưới tiêu đề “Khái niệm giáo dục pháp luật và ý thức phápluật, ý nghĩa của chúng trong xã hội hiện đại”, các tác giả đã tập trung bàn sâu
về khái niệm GDPL trên cơ sở những định nghĩa GDPL được đưa ra bởi những
Trang 21nhà nghiên cứu khác nhau Chẳng hạn, “GDPL là sự tác động có định hướng,
có tổ chức, mang tính hệ thống lên các cá nhân nhằm làm hình thành ý thức
Trang 22pháp luật, tri thức pháp luật, thói quen, hành vi xử sự tích cực theo pháp luật,văn hóa pháp luật” (T.I Akimova); hoặc “GDPL có thể định nghĩa như là một
hệ thống các biện pháp định hướng làm hình thành tư tưởng pháp luật, cácnguyên tắc, chuẩn mực pháp luật - những nhân tố làm nên các giá trị văn hóapháp luật của dân tộc và nhân loại” (K.V Naumenkova) (dẫn theo [21])
NaKinSung và Wonlee của trường đại học quốc gia Seunl (HànQuốc) công bố nghiên cứu về giáo dục pháp luật trong bối cảnh toàn cầu hóa:mục tiêu giáo dục pháp luật; cách thức, con đường giáo dục pháp luật (dẫntheo [26])
Tại Seunl (Hàn Quốc) năm 2012 hội thảo khoa học quốc tế “giáo dục pháp luật ở Châu á trong bối cảnh toàn cầu hóa và nhà nước pháp quyền” Các
bản tham luận tham gia hội thảo đều có nhận định chung về vai trò giáo dụcpháp luật trong việc thúc đẩy xây dựng thị trường ổn định, tạo cơ sở pháp lý cho
sự bình đẳng về cơ hội phát triển con người, phúc lợi và công bằng xã hội (dẫntheo [26])
Kanwei trên cơ sở so sánh hoạt động giáo dục pháp luật ở vương quốcAnh và Trung Quốc đi đến kết luận về sự khác biệt giáo dục so sánh giữa hainước, chỉ ra sự khác biệt và chi phối của các yếu tố văn hóa đến hoạt động giáodục pháp luật cho học sinh như: Trung Quốc thiên về truyền tải tri thức, kinhnghiệm giáo dục pháp luật, ở vương quốc Anh tập trung vào các giá trị và thựchiện nhiều các hình thức trao đổi pháp luật ở trên lớp (dẫn theo [26])
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước
Giáo dục pháp luật trong Ngành Giáo dục & Đào tạo là một nhiệm vụquan trọng, cần thiết được Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định vàtriển khai từ những năm đầu của Thập kỷ 80, Thế kỷ XX Công tác này đòi hỏiứng dụng thành tựu của nhiều ngành khoa học như: Luật học, Tâm lý học, Xãhội học… Những năm gần đây, một số cơ quan quản lý, nhà khoa học đã quantâm nghiên cứu nhiều khía cạnh khác nhau của công tác phổ biến, giáo dục
Trang 23pháp luật nói chung và phổ biến, giáo dục pháp luật trong Ngành Giáo dục &Đào tạo nói riêng Trong Luật Phổ biến, Giáo dục pháp luật năm 2012 đã dành
Trang 24một Mục riêng nói về Giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thốnggiáo dục quốc dân.
Quản lý Giáo dục pháp luật (GDPL) là một trong những nội dung quantrọng của khoa học quản lý, thu hút sự được quan tâm nghiên cứu của các nhàkhoa học, thể hiện ở những đề tài khoa học, bài báo khoa học đã được công bố;đồng thời, là đề tài nghiên cứu của nhiều luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ Quản
“Bàn về giáo dục pháp luật” của Trần Ngọc Đường và Dương Thanh
Mai, đây là cuốn sách chuyên khảo đề cập các vấn đề liên quan đến GDPL trênphương diện lý luận: khái niệm GDPL, các khái niệm có liên quan đến GDPL,như chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp, hình thức GDPL Từ nhữngvấn đề lý luận cơ bản, các tác giả bàn luận một số giải pháp nâng cao hiệu quảGDPL ở nước ta Cuốn sách có giá trị tham khảo đối với tác giả trong quá trìnhviết luận văn khi phân tích, bàn luận về các khải niệm có liên quan đến hoạtđộng GDPL [4]
“Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật” của Trường Đại học Luật Hà Nội, trong cuốn giáo trình này, các tác giả có dành một tiết thuộc Chương XVIII
- Ý thức pháp luật để viết về vấn đề bồi dưỡng và giáo dục nâng cao ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa; theo đó, GDPL là sự tác động một cách có hệ thống, có mục đích và thường xuyên tới nhận thức của con người nhằm trang bị cho mỗi người một trình độ kiến thức pháp lý nhất định để từ đó có ý thức đúng đắn về pháp luật, tôn trọng và tự giác xử sự theo yêu cầu của pháp luật Các tác giả cho rằng, mục tiêu cụ thể của GDPL thể hiện ở ba điểm cơ bản: Thứ nhất,
GDPL nhằm hình thành, làm sâu sắc và mở rộng hệ thống tri thức pháp luật của
Trang 25công dân (mục tiêu nhận thức); Thứ hai, GDPL nhằm hình thành tình cảm và
lòng tin đối
Trang 26với pháp luật (mục đích cảm xúc); Thứ ba, GDPL nhằm làm hình thành động
cơ, hành vi và thói quen xử sự hợp pháp, tích cực (mục đích hành vi) Trên cơ
sở đó, các tác giả nêu lên một số biện pháp giáo dục để nâng cao ý thức phápluật của nhân dân, như đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giải thích pháp luật; kếthợp GDPL với giáo dục đạo đức, văn hóa [22]
“Giáo dục pháp luật góp phần nâng cao ý thức và nghĩa vụ tuân thủ pháp luật” của Tống Đức Thảo bàn đến vai trò, tác động của giáo dục pháp luật đối
với việc hình thành phát triển ý thức pháp luật cho các tầng lớp lao động trong
xã hội, đặc biệt phân tích những đặc điểm cơ bản của ý thức pháp luật [16]
- Luận án “Giáo dục pháp luật cho học sinh trong trường trung học phổ thông ở Việt Nam” (2012) của Trần Thị Sáu, luận án này phân tích các vấn đề
lý luận và thực tiễn của công tác GDPL cho học sinh trong các trường trunghọc phổ thông ở Việt Nam Tác giả cho rằng các trường trung học phổ thôngtuy là một kênh quan trọng thực hiện GDPL cho người dân, cụ thể là cho họcsinh, song công tác này chưa được chú ý đúng mức, thể hiện ở những bất cập,hạn chế trong việc lồng ghép kiến thức pháp luật vào môn học giáo dục côngdân Từ thực trạng đó, tác giả đề xuất những quan điểm, giải pháp nâng caochất lượng GDPL cho học sinh trong các trường trung học phổ thông ở ViệtNam trong thời gian tới [14]
Nghiên cứu về giáo dục pháp luật có thể kể đến các công trình khoa học
khác như: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về giáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới” của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp 1994 [9]; “Một số vấn đề về giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay” của Vụ phổ biến giáo dục pháp luật - Bộ Tư pháp 1997 [2]; “Đổi mới giáo dục pháp luật trong hệ thống các trường chính trị ở nước ta hiện nay” của Khoa Nhà nước
pháp luật
- Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh 1999, triển khai nghiên cứu đề tàikhoa học cấp Bộ, Những đề tài này đã chỉ rõ tầm quan trọng của giáo dục pháp
Trang 27luật, chỉ ra những nội dung cơ bản về pháp luật cần được giáo dục, phổ biếncho
Trang 28mọi người và những đòi hỏi của thực tiễn đối với hoạt động giáo dục pháp luậtcho mọi người trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay [7].
Về vấn đề giáo dục pháp luật trong nhà trường có cuốn “Giáo dục phápluật trong nhà trường” của Nguyễn Đình Đặng Lục xuất bản năm 2000; cuốn
“Giáo dục pháp luật trong trường phổ thông” luận văn thạc sỹ của Ngô Thị Thu
Hà năm 1997; “Công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật của nước ta - Thựctrạng và giải pháp” luận văn thạc sỹ của Hồ Quốc Dũng năm 1997; “Giáo dụcpháp luật thông qua hoạt động báo chí” luận văn thạc sỹ của Nguyễn Hùng năm2003; “Vai trò của pháp luật trong hình thành nhân cách” của Nguyễn ĐìnhĐặng Lục, xuất bản năm 2005
Nhìn chung các tác giả đã tập trung nghiên cứu các vấn đề rất cơ bản cả
về lý luận và thực tiễn trong công tác giáo dục pháp luật trên nhiều phươngdiện, sự cần thiết phải quan tâm đến vấn đề giáo dục pháp luật cho công dânnói chung, cho học sinh nói riêng; đề cập đến công tác quản lý và giải phápnâng cao chất lượng công tác phổ biến giáo dục pháp luật trong trường trunghọc phổ thông còn công tác quản lý giáo dục pháp luật về một nội dung cụ thểcũng như hình thức tổ chức giáo dục pháp luật trong trường trung học phổthông nói chung và quản lý giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinhtrung học phổ thông tỉnh Cao Bằng thì chưa có công trình nào nghiên cứu Do
đó, tác giả tập trung nghiên cứu các nội dung, biện pháp quản lý của nhàtrường để giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh các trường THPTtỉnh Cao Bằng nhằm nghiên cứu hoàn thiện, có hệ thống nội dung, các biệnpháp giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh trong trường trung họcphổ thông cho phù hợp với điều kiện hiện nay của tỉnh Cao Bằng
1.2 Những khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lý
Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý để thực hiện những hoạtđộng kết hợp những con người, người trong nhóm, các tổ chức nhằm đạt được
Trang 29những mục tiêu chung, hay nói cách khác quản lý là một yếu tố cần thiết đểđảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân để thực hiện các mục tiêu chung.
Thuật ngữ quản lý được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau trên cơ sởnhững tiếp cận khác nhau
Theo F.W Taylor: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” (dẫn theo [3, tr.5]).
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là sự tác động có mục đích,
có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” [13, tr.22].
Tác giả Nguyễn Thị Tính đưa ra quan niệm: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mục tiêu đã đề ra” Hay nói một cách khác: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng việc thực hiện các chức năng quản lý, lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra”
Hiệu quả quản lý phụ thuộc vào các yếu tố: chủ thể, khách thể, mục tiêu,phương pháp và công cụ quản lý Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một
Trang 30người bị quản lý; công cụ quản lý là phương tiện tác động của chủ thể quản lýtới khách thể quản lý; phương pháp quản lý là cách thức tác động của chủ thểđến khách thể Mục tiêu quản lý là trạng thái tương lai của tổ chức sau khi cócác tác động quản lý của chủ thể quản lý Môi trường quản lý là các yếu tố hoặctập hợp các yếu tố bên ngoài hệ thống quản lý, tác động và ảnh hưởng tới sựvận động, biến đổi và phát triển của hệ thống quản lý.
1.2.2 Quản lý giáo dục
Khái niệm quản lý giáo dục cũng có nhiều cách diễn đạt:
Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn: “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp tổ chức, phương pháp giáo dục, kế hoạch hoá tài chính, cung tiêu… nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng, cũng như về chất lượng” [20, tr.29].
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý giáo dục thực chất là tác Thông tin Chỉ đạo Kiểm tra Tổ chức Tổ chức Kế hoạch động đến nhà trường, làm cho nó tổ chức tối ưu được quá trình dạy học, giáo dục thể chất theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng, quán triệt được những tính chất trường THPT xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bằng cách đó tiến tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới” [12, tr.32].
Dựa vào phạm vi quản lý, người ta chia ra hai loại QLGD: cấp độ hệthống và cấp độ trường học
Ở cấp độ hệ thống (cấp độ vĩ mô) có thể hiểu: QLGD là những tác động
có hệ thống, có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhauđến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm đảm bảo cho hệ thống giáodục vận hành bình thường và liên tục phát triển, mở rộng cả về số lượng cũngnhư chất lượng
Ở cấp độ trường học (cấp độ vi mô): là hệ thống tác động có mục đích, có
kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhà trường làm cho nhà trường vận
Trang 31hành theo đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện được các tínhchất của nhà trường, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục, đưanhà trường tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất, góp phần thựchiện mục tiêu chung của giáo dục nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡngnhân tài phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH đất nước.
Từ đây ta có thể khái quát QLGD là: là hệ thống những tác động có chủđích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, nhânviên, học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhàtrường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục
1.2.3 Pháp luật
Pháp luật là một khái niệm phức tạp, trải qua các thời đại, các khu vực trênthế giới, những vấn đề như bản chất, nguồn gốc, vai trò phạm vi điều chỉnh củapháp luật được nhận thức một cách khác nhau Ở Trung Quốc cổ đại, trườngphái Nho gia (Đại biểu là Khổng Tử) cho rằng, người cai trị chủ yếu dùng "lễ",
"nhạc" để sửa đổi tinh thần tính nết con người nhằm duy trì trật tự xã hội Theoquan điện niệm của các tác giả này, pháp luật được đồng nhất với "hình pháp"(sự trừng phạt), nó chỉ được đặt ra cho những người không hiểu và không theo
được "lễ" Sách Lễ kí viết: "Lễ không đi xuống đến người dân thường Hình pháp không đi lên đến giờ đại phu" Theo các nhà nho "lễ" là một loại quy tắc
xử sự vừa mang tính chất luân lí, đạo đức, tôn giáo, phong tục tập quán, vừamang tính chất chính trị, pháp lí mà những người cầm quyền phải tin theo, giữgìn để thiết lập, duy trì quan hệ danh phận đẳng cấp trong xã hội Cũng ở TrungQuốc thời kì này, trường phái Pháp gia (đại biểu là Hàn Phi Tử) quan niệm,
Pháp luật "Là cái biên soạn thành sách đặt ở nơi công đường và nói rõ cùng trăm họ cho nên bậc minh chúa nói pháp luật thì mọi kẻ hèn trong nước, không ai không nghe thấy" Mặc dù trực diện đề cập nội hàm khái niệm pháp
luật, tuy nhiên theo Hàn Phi Tử, pháp luật phải thành văn và phải được côngkhai cho mọi người đề biết Hàn Phi Tử cho rằng, bản chất của con người là
Trang 32tham lam, ích kỷ (bản tính ác), vì vậy, để thiết lập trật tự xã hội, nắm giữ quyềnlực dài lâu, người cầm quyền không thể dựa vào lễ, nhạc mà phải sử dụng luậtpháp, luật pháp đó phải công khai, minh bạch để mọi người đều biết và tuân thủnghiêm chỉnh.
Ở phương Tây, quan niệm về pháp luật tương đối phức tạp, tuy nhiên, tựutrung lại có thể chia thành hai trường phái, trường phái pháp luật thực định vàtrường phái pháp luật tự nhiên
Theo quan niệm của trường phái pháp luật thực định, pháp luật là nhữngquy tắc do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ
xã hội nhằm thiết lập trật tự xã hội Đó là những quy phạm cụ thể, hiện hữu,xác định, thể hiện rõ ràng, chúng được ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hộitrong một phạm vi không gian xác định
Theo quan niệm của trường phái pháp luật tự nhiên, pháp luật là những quytắc tất yếu hình thành một cách tự nhiên trong đời sống của con người xuất phát
từ bản chất của con người với tư cách là một bộ phận của giới tự nhiên, tương tựnhư việc con người đói thì ăn, khát thì uống, tìm kiếm thức ăn để duy trì sự tồntại của mình, kết hôn, sinh con để duy trì nòi giống Pháp luật do nhà nước banhành phải dựa trên cơ sở của pháp luật tự nhiên và phải phù hợp với pháp luật tựnhiên Những đại biểu xuất sắc của trường phái này là Aristote, Ciceron,
Grotius, Montesqueieu Chẳng hạn, Montesqueieu cho rằng, "Luật, theo nghĩa rộng nhất là những quan hệ tất yếu từ trong bản chất của sự vật Với nghĩa này thì mọi vật đều có luật của nó Thế giới thần linh, thế giới vật chất, những trí tuệ siêu việt, cho đến các loài vật, và loài người đều có luật của mình" (dẫn theo
[4])
Ngày nay, cả trong lí luận cũng như thực tiễn, pháp luật đều được tiếp cậntheo quan điểm pháp luật thực định, nhưng có tiếp thu những giá trị của quanđiểm pháp luật tự nhiên Theo đó, pháp luật do nhà nước ban hành nhưng phù
Trang 33hợp với thực tiễn khách quan, phù hợp với quy luật vận động và phát triển củađời sống, pháp luật phải dựa trên cơ sở công lí Chính vì vậy, danh từ pháp luật
Trang 34trong ngôn ngữ của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phản chiếu ý niệmcông lí Thực tế cho thấy, pháp luật của nhiều nước đương đại đã thừa nhậnquyền con người với tư cách là quyền tự nhiên, bẩm sinh mà tạo hóa đem lạicho họ.
Ở Việt Nam hiện nay, trong giáo trình của các cơ sở đào tạo luật họccũng như trong sách báo pháp lí tồn tại nhiều định nghĩa về pháp luật, tuynhiên, có thể nói, các định nghĩa đó cơ bản chỉ khác nhau về câu chữ Với tưcách là một loại quy tắc ứng xử của con người, một loại chuẩn mực xã hội,pháp luật có những điểm khác biệt cơ bản so với các loại chuẩn mực xã hội
khác như đạo đức, phong tục tập quán Vì vậy có thể hiểu: Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng của nhà nước [23, tr.207, 208, 209].
1.2.4 Luật
Luật là văn bản quy phạm pháp luật
Nguồn (hình thức) pháp luật gồm tập quán, tiền lệ pháp và văn bản quyphạm pháp luật Nhà nước ta vẫn thừa nhận tập quán, truyền thống tiến bộ bằngcách thể chế hóa chúng trong các văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) Tiền
lệ pháp không phải do hoạt động của cơ quan lập pháp mà là do hoạt động của
cơ quan xét xử và hành chính, Trên thực tế khi hệ thống pháp luật chưa đượchoàn chỉnh, trước yêu cầu để giải quyết các vụ việc để bảo vệ trật tự xã hội, các
cơ quan xét xử và hành chính đã sử dụng hình thức này Đó là vận dụng linhhoạt những nguyên tắc của pháp luật Khi hệ thống pháp luật đã hoàn chỉnh thìhình thức này được thu hẹp dần phạm vi sử dụng [23, tr.294]
Nguồn gốc quan trọng nhất, có bản nhất của nhà nước ta hiện nay là văn
bản quy phạm pháp luật "Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015".
Trang 35Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung,
được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trongphạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người
có thẩm quyền quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm
2015 ban hành và được Nhà nước bảo đảm thực hiện
1.2.5 Luật Hôn nhân và gia đình
Là văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam, doQuốc hội ban hành để quy định chế độ hôn nhân và gia đình; chuẩn mực pháp
lý cho cách ứng xử giữa các thành viên gia đình; trách nhiệm của cá nhân, tổchức, Nhà nước và xã hội trong việc xây dựng, củng cố chế độ hôn nhân và giađình
Trong luận văn nói về Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
1.2.6 Giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình
Giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình là một quá trình xã hội được tổ chức
có mục đích, có kế hoạch Trong đó, dưới vai trò chủ đạo của nhà giáo dục, đốitượng giáo dục tích cực, chủ động tiếp nhận, bổ sung và hoàn thiện hệ kiếnthức về luật Hôn nhân và gia đình, từ đó có hành vi đúng chuẩn mực, đúng quiđịnh của Nhà nước
Giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh là quá trình giáo viênxây dựng nội dung, sử dụng phương pháp, biện pháp giáo dục phù hợp để nângcao nhận thức; hình thành thái độ, tình cảm tích cực; hình thành và phát triểnhành vi phù hợp với quy định của pháp luật về Luật Hôn nhân và gia đình
Trong phạm vi luận văn này, tác giả tập trung xem xét khái niệm GDPLtheo nghĩa hẹp, theo đó khái niệm GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh
trung học phổ thông được hiểu như sau: Giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh trung học phổ thông là hoạt động GDPL, có tổ chức, có chủ định của các nhà sư phạm trong trường trung học phổ thông nhằm cung cấp cho
Trang 36học sinh trung học phổ thông những tri thức pháp luật về Hôn nhân và gia đình, bồi dưỡng tình cảm và hành vi pháp luật chuẩn mực về hôn nhân và gia
Trang 37đình cho học sinh thông qua những hình thức, phương pháp, phương tiện giáo dục nhất định.
1.2.7 Quản lý giáo dục Luật Hôn nhân và Gia đình cho học sinh THPT
Quản lý giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh THPT là quátrình tác động có tổ chức, có mục đích của Hiệu trưởng lên giáo viên, học sinh,các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường THPT nhằm huy động họtham gia, cộng tác phối hợp trong các hoạt động của nhà trường giúp học sinh
có những hiểu biết về Luật Hôn nhân và Gia đình
Quản lý giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh THPT lànhững biện pháp tác động của chủ thể quản lý tới các quá trình giáo dục LuậtHôn nhân và gia đình, giáo viên, học sinh, các lực lượng liên đới nhằm điềuchỉnh hành vi của học sinh, giúp các em thực hiện đúng theo quy định của LuậtHôn nhân và gia đình
Quản lý GD Luật Hôn nhân và gia đình là những tác động có mục đích,
có kế hoạch của hiệu trưởng nhà trường tới quá trình GD Luật Hôn nhân và giađình nhằm đưa hoạt động GD Luật Hôn nhân và gia đình đạt kết quả mongmuốn một cách hiệu quả nhất Đó chính là việc trang bị, bồi dưỡng và nâng caotri thức pháp luật về hôn nhân và gia đình; hình thành, tạo dựng lòng tin vàopháp luật; xây dựng thói quen vững chắc, xử sự theo những đòi hỏi của phápluật về Hôn nhân và gia đình cho học sinh THPT
Như vậy, từ tổng quan trên có thể hiểu: Quản lý giáo dục Luật Hôn nhân
và gia đình cho học sinh THPT là việc đẩy mạnh các biện pháp lập kế hoạch,
tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra các hoạt động giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh THPT phù hợp với tâm lý, tình cảm của từng lứa tuổi thông qua các buổi hội thảo, sinh hoạt, hoạt động ngoại khoá, các hội thi, hội diễn văn hóa,… nhằm trang bị cho học sinh kiến thức, xây dựng thói quen và hành vi đúng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
Trang 381.3 Lý luận chung về giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh trường THPT
1.3.1 Mục đích GD Luật Hôn nhân và gia đình
GD Luật Hôn nhân và gia đình nhằm cung cấp các kiến thức về pháp luật
và GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh
Giúp học sinh nhận thức giá trị, ý nghĩa, sự cần thiết của các qui địnhLuật Hôn nhân và gia đình phù hợp với học sinh
Giúp học sinh hình thành và nâng cao thái độ, tình cảm, tôn trọng LuậtHôn nhân và gia đình cho học sinh, hình thành niềm tin vào pháp luật của họcsinh để giúp cho học sinh có động lực bộc lộ các hành vi pháp luật của cá nhântrước các quy định pháp luật của nhà nước về Hôn nhân và gia đình
Trên cơ sở cung cấp nhận thức, hình thành niềm tin, thái độ, tình cảm đốivới pháp luật của nhà nước nói chung và Luật Hôn nhân và gia đình nói riêng.Công tác GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh trong nhà trường cầnphải hình thành cho học sinh thói quen, xử sự và thực hiện, áp dung các hành viđúng pháp luật, theo pháp luật của nhà nước qui định về Hôn nhân và gia đìnhđối với học sinh trung học phổ thông
1.3.2 Nội dung giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình
Nội dung GDPL nói chung trong chương trình giáo dục trung học phổthông trang bị kiến thức ban đầu về quyền, nghĩa vụ của công dân, rèn luyệnthói quen, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật
Đối với giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh trung học phổthông cần tập trung để: Giáo dục, trang bị cho học sinh một số một số kiến thứctrong các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 phù hợp với tâmsinh lý lứa tuổi, nhận thức của các em; các điều, khoản liên quan và có ảnhhưởng đến quyền, nghĩa vụ hợp pháp, chính đáng cũng như trách nhiệm củacác em trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cụ thể:
- Cho học sinh biết được những hiểu biết chung về Hôn nhân và gia đình:Khái niệm Hôn nhân và gia đình; Đối tượng điều chỉnh, phạm vi điều chỉnh của
Trang 39Luật Hôn nhân và gia đình; Nguyên tắc quy định chế độ hôn nhân và gia đình;Trách nhiệm của Nhà nước và xã hội đối với hôn nhân và gia đình; Bảo vệ chế
độ hôn nhân và gia đình;
- Cung cấp các kiến thức pháp luật về hôn nhân:
Điều kiện kết hôn: Tuổi kết hôn của nam, của nữ là bao nhiêu, điều này
có tác dụng rất lớn để góp phần tránh tình trạng tảo hôn, nhất là ở khu vực miềnnúi, tình trạng tảo hôn còn khá phổ biến ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Cácđiều kiện đi kèm khác khi kết hôn
Kết hôn trái pháp luật: Cung cấp cho các em những quy định của kết hôntrái pháp luật để tình thành cho các em những hiểu biết về quyền và nghĩa vụcủa mình trong việc xử lý kết hôn trái pháp luật; những hậu quả có thể xảy ranếu kết hôn trái pháp luật
- Cung cấp các kiến thức pháp luật về gia đình: Quyền và nghĩa vụ giữacha mẹ và con gồm: Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ; Quyền và nghĩa vụ củacon; Quyền, nghĩa vụ giữa các thành viên khác của gia đình; Quyền, nghĩa vụcủa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; Quyền, nghĩa vụ của anh, chị, em;Quyền, nghĩa vụ của cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột
- Cung cấp một số kiến thức pháp luật về: thụ tinh trong ống nghiệm,mang thai hộ, kết hôn có yếu tố người nước ngoài
1.3.3 Các con đường giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình
Giáo dục Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh trung học phổ thôngđược thực hiện thông qua các con đường sau:
a) Thông qua hoạt động dạy học
Thông qua môn học giáo dục công dân được thực hiện trong phân phốichương trình:
Lớp 10, Bài 12 - Công dân với tình yêu, Hôn nhân và gia đình: Cho học
sinh hiểu khái niệm về Hôn nhân, gia đình; biết các đặc trưng tốt đẹp, tiến bộcủa chế độ hôn nhân và gia đình ở nước ta hiện nay; nêu được các chức năng
Trang 40cơ bản của gia đình; phân tích được các mối quan hệ và trách nhiệm của cácthành viên trong gia đình.
Lớp 12, Bài 4 - Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội: nội dung quyền bình đẳng của công dân trong lĩnh vực Hôn
nhân và gia đình; biết được trách của Nhà nước trong việc đảm bảo quyền bìnhđẳng của công dân trong lĩnh vực Hôn nhân và gia đình Đồng thời căn cứ vàonội dung của GD Luật Hôn nhân và gia đình cho học sinh trung học phổ thôngcác kiến thức pháp luật về Hôn nhân và gia đình có thể được dạy tích hợp trongcác môn học khác như ngữ văn, lịch sử, địa lý, sinh học và các hoạt độngngoại khóa pháp luật để cung cấp, trang bị các nội dung kiến thức về Hôn nhân
và gia đình đã nêu ở trên
b) Thông qua các hoạt động ngoại khóa (sinh hoạt câu lạc bộ pháp luật, các cuộc thi tìm hiểu pháp luật, tư vấn pháp luật )
- Hoạt động thi tìm hiểu pháp luật trên sân khấu (sân khấu hóa cuộc thitìm hiểu pháp luật), như: thi giữa các đội, hay các GameShow truyền hình
(Rung Chuông vàng, Đường lên đỉnh Olympia…) Đây là hình thức thường
được các trường trung học phổ thông sử dụng trong công tác phổ biến, GDPL.Với hình thức này tạo được không khí vui tươi, phấn khởi và đưa kiến thứcpháp luật đến học sinh một cách nhẹ nhàng, không ngượng ép; nội dung GDPLđược nhiều và số lượng học sinh được tìm hiểu, GDPL đông đảo
- Tổ chức ngoại khóa để xử lí tình huống pháp luật: Đây là hình thức hoạtđộng giáo viên đưa ra những tình huống pháp luật cụ thể thường gặp phảitrong đời sống hàng ngày và yêu cầu học sinh xác định cách giải quyết, xử lítình huống đó Việc tổ chức cho học sinh xử lí các tình huống pháp luật sẽ
có tác dụng phát triển ở học sinh kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề,giúp các em có thể ứng phó tích cực và phù hợp với các quy định của pháp luậttrong các tình huống đa dạng của cuộc sống
- Tư vấn pháp luật cho học sinh: Là hình thức nhà trường hoặc ĐoànTNCS Hồ Chí Minh phối hợp với các cơ quan như: Tư pháp, Công an, Tòa án,