1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

17 145 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 40,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Tác động của tinh hoa văn hóa nhân loại đối với quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh  Văn hóa là sự tổng hòa của tất cả các giá trị vật chất và tinh thần mà loài người sáng tạo ra. Nó vừa là thành quả của sự tiến hóa, phát triển trong quá khứ của xã hội loài người, vừa là nền tảng cho tương lai để nuôi dưỡng con người. Tinh hoa văn hóa nhân loại chính là những gì tốt đẹp nhất, tinh túy nhất mà nền văn hóa của nhân loại chắt lọc và để lại.  Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa MácLenin vào điều kiện cụ thể nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.  Ảnh hưởng của tinh hoa văn hoá nhân loại: Trước khi ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã được trang bị và hấp thụ nền Quốc học và Hán học khá vững vàng, chắc chắn. Trên hành trình cứu nước, Người đã tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, vốn sống, vốn kinh nghiệm để làm giàu tri thức của mình và phục vụ cho cách mạng Việt Nam.  Văn hoá phương Đông: Người đã tiếp thu tư tưởng của Nho giáo, Phật giáo, và tư tưởng tiến bộ khác của văn hoá phương Đông: Nho giáo nói chung và Khổng giáo nói riêng là khoa học về đạo đức và phép ứng xử, tư tưởng triết lý hành động, lý tưởng về một xã hội bình trị, đề cao văn hoá, lễ giáo và tạo ra truyền thống hiếu học trong dân. Đây là tư tưởng tiến bộ hơn hẳn so với các học thuyết cổ đại. Hồ Chí Minh đã chịu ảnh hưởng của Nho giáo rất nhiều dựa trên nền tảng chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Phật giáo vào Việt Nam từ sớm và có ảnh hưởng rất mạnh đối với Việt Nam. Phật giáo có tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái. Phật giáo cũng đề cao nếp sống đạo đức, trong sạch, chăm làm điều thiện, coi trọng lao động. Phật giáo vào Việt Nam kết hợp với chủ nghĩa yêu nước sống gắn bó với dân, hoà vào cộng đồng chống kẻ thù chung của dân tộc là chủ nghĩa thực dân. Tư tưởng dân chủ tiến bộ như chủ nghĩa tam dân của Tôn Trung Sơn có ảnh hưởng đến tư tưởng Hồ Chí Minh, vì Người tìm thấy những điều phù hợp với điều kiện của cách mạng nước ta. Hoàn toàn khẳng định rằng Hồ Chí Minh là nhà mácxít tỉnh táo và sáng suốt, biết khai thác những yếu tố tích cực của tư tưởng văn hoá phương Đông để phục vụ cho sự nghiệp của cách mạng Việt Nam.  Văn hoá phương Tây: Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng sâu rộng của nền văn hoá dân chủ và cách mạng phương Tây như: Tư tưởng tự do, bình đẳng trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Đại cách mạng Pháp 1791, tư tưởng dân chủ, về quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ 1776. Trước khi ra nước ngoài, Bác đã nghe thấy ba từ Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái. Lần đầu sang Pháp, Hồ Chí Minh đã thể hiện bản lĩnh, nhân cách phẩm chất cao thượng, tư duy độc lập tự chủ. Người đã nhìn thấy mặt trái của “lý tưởng” tự do, bình đẳng, bác ái. Người cũng tiếp thu tư tưởng của những nhà Khai sáng Pháp như Voltaire, Rousso, Montesquieu. Thiên Chúa giáo là tôn giáo lớn của phương Tây, Hồ Chí Minh quan niệm Tôn giáo là văn hoá. Điểm tích cực nhất của Thiên chúa giáo là lòng nhân ái. Hồ Chí Minh tiếp thu có chọn lọc tư tưởng văn hoá Đông Tây để phục vụ cho cách mạng Việt Nam. Người dẫn lời của Lênin: “Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu hái được những hiểu biết quý báu của các đời trước để lại.” 2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về Cách mạng giải phóng dân tộc  Cách mạng giải phóng dân tộc (CMGPDT): cuộc cách mạng nhằm thủ tiêu sự thống trị của chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc, thực hiện quyền dân tộc tự quyết và thành lập nhà nước dân tộc.  Quan điểm của Hồ Chí Minh về CMGPDT:  Thứ nhất, CMGPDT muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản: Trước những thất bại và bế tắc của các phong trào chống Pháp, Nguyễn Tất Thành tìm đường cứu nước. Hồ Chí Minh nghiên cứu 3 cuộc Cách mạng (CM) điển hình: CM Mỹ 1776, CM tư sản Pháp 1789 và CM tháng 10 Nga, HCM rút ra kết luận: CM Pháp cũng như CM Mỹ đều là CM tư sản, CM không đến nơi, tiếng là Cộng hòa dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Trong thế giới bây giờ chỉ có CM tháng 10 là thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng hạnh phúc tự do bình đẳng thật sự. Tiếp xúc với luận cương của Lê Nin, Hồ Chí Minh tìm thấy ở đó con đường giải phóng dân tộc.  Thứ hai, CMGPDT trong thời đại mới phải do Đảng cộng sản lãnh đạo: Trong các phong trào chống Pháp trước 1930 ở nước ta đã xuất hiện các đảng phái, hội, đoàn thể như Duy Tân Hội, Việt Nam Quang Phục Hội, Việt Nam Quốc Dân Đảng,... nhưng những Đảng này thiếu đường lối đúng đắn, thiếu tổ chức chặt chẽ, thiếu cơ sở rộng rãi trong quần chúng nên không thể lãnh đạo kháng chiến thành công và bị tan rã với các khuynh hướng cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến, tư sản. Từ thắng lợi của Cách mạngTháng 10 Nga do Đảng Cộng sản Nga (Bolshevik) lãnh đạo, Hồ Chí Minh khẳng định: • Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi, trước hết phải có Đảng lãnh đạo, không có Đảng chân chính lãnh đạo Cách mạng không thể thắng lợi. • Đảng có vững Cách mạng mới thành công. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt. Không có chủ nghĩa không có kim chỉ nam. Đảng  Thứ ba, lực lượng CMGPDT bao gồm toàn dân tộc: Chủ nghĩa Mác Lê Nin khẳng định Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, nhân dân lao động. Hồ Chí Minh chủ trương đưa Cách mạng Việt Nam theo con đường Cách mạng vô sản, nhưng chưa làm ngay Cách mạng vô sản, mà thực hiện Cách mạng giải phóng dân tộc, giải quyết mâu thuẫn dân tộc với đế quốc xâm lược và tay sai. Mục tiêu là giành độc lập dân tộc. Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (21930), Hồ Chí Minh khẳng định rõ “ Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng,…phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, thanh niên, Tân Việt,… để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp; đối với phú nông, trung tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập…” Vì vậy Cách mạng là đoàn kết dân tộc, ai có lòng yêu nước thương nòi sẽ cùng nhau thống nhất mặt trận, thu gom toàn lực đem tất cả ra giành độc lập tự do, đánh tan giặc Pháp Nhật xâm lược nước ta.  Thứ tư, CMGPDT cần được tiến hành chủ động sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc: Theo Hồ Chí Minh, phải “làm cho các dân tộc thuộc địa, từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết nhau hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một Liên minh Phương đông tương lai, khối liên minh này sẽ là một trong những cái cánh của cánh mạng vô sản”. Hồ Chí Minh khẳng định công cuộc giải phóng nhân dân thuộc địa chỉ có thể được thực hiện bằng sự nỗ lực tự giải phóng. Tháng 81945, khi thời cơ cách mạng đã xuất hiện, Người kêu gọi: “Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” Theo Hồ Chí Minh, CMGPDT ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc có mối quan hệ mật thiết với nhau, đều có kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc. Đó là mối quan hệ bình đẳng. Hồ Chí Minh cho rằng cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có thể giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc. Đây là một luận điểm sáng tạo, là một cống hiến cho kho tàng lý luận của chủ nghĩa MácLenin.  Thứ năm, CMGPDT phải được tiến hành bằng con đường cách mạng bạo lực: Bạo lực cách mạng trong CMGPDT ở Việt Nam đánh giá đúng bản chất cực kì phản động của bọn đế quốc và tay sai , Hồ Chí Minh cho rằng “ Trong cuộc đấu tranh gian khổ chông kẻ thù của giai cấp và của dân tộc, cần dùng bạo lực cách mạng chống lại bảo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền” . 3. Cách tiếp cận của Hồ Chí Minh về Chủ nghĩa xã hội:  Chủ nghĩa xã hội (CNXH) theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin: Là giai đoạn đầu của hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa. Chủ nghĩa xã hội tiến bộ, ưu việt hơn tất cả các xã hội trước đó về các đặc trưng kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội nhằm giải phóng con người khỏi mọi tình trạng áp bức, bóc lột, bất công.  Cách tiếp cận của Hồ Chí Minh về CNXH: Đầu tiên, Hồ Chí Minh tiếp thu lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học của lý luận MácLenin trước hết là từ yêu cầu tất yếu của công cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam: o Người tìm thấy trong chủ nghĩa Mác Lênin sự thống nhất biện chứng giữa giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. o Chỉ có CNXH mới giải phóng dân tộc, giai cấp, nhân loại. Đem lại độc lập, tự do thật sự cho các dân tộc. Đó cũng là mục tiêu mà Hồ Chí Minh và cách mạng Việt Nam hướng tới. Thứ hai, Hồ Chí Minh tiếp cận CNXH ở một phương diện nữa là đạo đức, hướng tới giá trị nhân đạo, nhân văn, mácxít: o Tìm thấy cơ sở lí luận giải quyết mối quan hệ cá nhân với xã hội “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện phát cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”. o CNXH là giai đoạn phát triển mới về đạo đức nhằm giải phóng dân tộc, giai cấp, giải phóng con người và cả xã hội loài người. Thứ ba, bao trùm lên tất cả là Hồ Chí Minh tiếp cận CNXH từ văn hóa: o Văn hóa trong chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam có quan hệ biện chứng với chính trị, kinh tế. Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cũng chính là quá trình xây dựng một nền văn hóa mà trong đó kết tinh, kế thừa, phát triển những giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam. o Tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới, kết hợp truyền thống với hiện đại, dân tộc và quốc tế. 4. Quan điểm của Hồ Chí Minh về “Đảng cầm quyền”  Theo Hồ Chí Minh, “Đảng cầm quyền” là Đảng tiếp tục lãnh đạo sự nghiệp cách mạng trong điều kiện Đảng đã lãnh đạo quần chúng nhân dân giành được quyền lực nhà nước và Đảng trực tiếp lãnh đạo bộ máy nhà nước đó để tiếp tục hoàn thành sự nghiệp độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.  Quan điểm của Hồ Chí Minh về “Đảng cầm quyền”  Về mục tiêu, lý tưởng của Đảng cầm quyền: Theo Hồ Chí Minh, Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân. Đó là mục đích, lý tưởng cao cả, không bao giờ thay đổi trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam.  Đảng cầm quyền vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ trung thành của nhân dân: Quan điểm này được vận dụng, phát triển hết sức sáng tạo lý luận MácLenin về Đảng vô sản kiểu mới. Xác định “người lãnh đạo” là xác định quyền lãnh đạo duy nhất của Đảng đối với toàn bộ xã hội. Đối tượng lãnh đạo của Đảng là toàn thể quần chúng nhân dân. Là “Người lãnh đạo”, Đảng phải làm cho dân tin, dân phục để dân theo. Đồng thời, phải sâu sát, gắn bó mật thiết với nhân dân, lắng nghe ý kiến, khiêm tốn học hỏi nhân dân và phải chịu sự kiểm soát của nhân dân. Bên cạnh đó, Đảng phải là “đầy tớ” trung thành của nhân dân. Có nghĩa là tận tâm, tận lực mà phụng sự nhân dân, nhằm đem lại các quyền và lợi ích cho nhân dân. Qua đó, đòi hỏi mỗi cán bộ, Đảng viên phải có tri thức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ giỏi, thấm nhuần đạo đức cách mạng Làm tốt hai chức năng trên, là cơ sở vững chắc đảm bảo uy tín và năng lực lãnh đạo của Đảng.  Đảng cầm quyền, dân là chủ: Hồ Chí Minh kết luận: “Cách mạng rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người”. Theo Người, quyền lực thuộc về nhân dân là bản chất, là nguyên tắc của chế độ mới, một khi xa rời nguyên tắc này, Đảng sẽ trở thành đối lập với nhân dân. Mỗi người dân cần phải biết lợi ích, bổn phận của mình tham gia vào xây dựng chính quyền.  Hiện nay, Đảng và nhà nước ta đã và đang thực hiện theo tư tưởng của Bác về “Đảng cầm quyền”, cùng với nhân dân xây dựng đất nước:  Tuyên truyền, khuyến khích nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua các cuộc bầu cử, tổng tuyển cử cả nước.  Tiến hành truyền hình trực tiếp các buổi họp của quốc hội trên các kênh truyền hình, thông tin đại chúng. Giúp người dân theo dõi, cùng thảo luận tăng tính minh bạch.  Tổ chức thi tuyển công chức để tang cường số lượng cán bộ, Đảng viên có trình độ cao.  Nghiêm khắc xử lý những cán bộ, Đảng viên có hành vi phạm pháp, gây tổn thất cho đất nước như vụ của ông Trịnh Xuân Thanh, Võ Kim Cự, Đinh La Thăng,… Tuy vậy, vẫn còn nhiều thiếu sót mà Đảng và nhà nước cần phải khắc phục như:  Một số cán bộ, Đảng viên vẫn chưa làm gương cho nhân dân, tham ô, tham gia vào các đường dây tội phạm như vụ ông Nguyễn Thanh Hóa (nguyên cục trưởng Cục Cảnh sát công nghệ cao) liên quan đến đường dây đánh bạc hàng ngàn tỷ đồng.  Trình độ của nhiều cán bộ vẫn còn yếu kém, có thái độ không phù hợp khi tiếp xúc với người dân.  Bộ máy quản lý, xử lý còn khá rườm rà, chưa giải quyết được nhanh chóng những yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân,…. Do vậy, để xây dựng một “Đảng cầm quyền” theo tư tưởng Hồ Chí minh, cần sự phối hợp, cố gắng giữu Đảng, Nhà nước và nhân dân:  Tiếp tục khuyến khích, tạo điều kiện cho người dân thực hiện quyền làm chủ.  Tiếp tục và luôn thực hiện công tác Xây dựng Đảng, làm cho Đảng vững mạnh, trong sạch.  Lắng nghe, tiếp thu ý kiến từ nhân dân, sửa chữa những sai sót.  Người dân cần nhận thức được quyền và nghĩa vụ của mình, cùng Đảng, nhà nước xây dựng Chủ nghĩa xã hội. 5. Vai trò của Đại đoàn kết dân tộc đối với sự nghiệp cách mạng trong tư tưởng Hồ Chí Minh  Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng: Theo Hồ Chí Minh, để đánh bại các thế lực đế quốc thực dân, nếu chỉ có tinh thần yêu nước thì chưa đủ, mà phải tập hợp được tất cả lực lượng, xây dựng khối đại đoàn kết bền vững. Do vậy mà cần phải:  Có chính sách và phương pháp phù hợp với từng đối tượng, trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng.  Đoàn kết trong từng mặt trận và trong toàn dân tộc. Nhờ có đoàn kết mà nhân dân ta đã giành nhiều thắng lợi  Hồ Chí Minh viết “Đoàn kết trong mặt trận Việt Minh, nhân dân ta đã làm Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ”.  Đoàn kết trong mặt trận Liên Việt, nhân dân ta đã kháng chiến thắng lợi, lập lại hòa bình ở Đông Dương, hoàn toàn giải phóng miền Bắc.  Đoàn kết trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhân dân ta đã giành được thắng lợi trong công cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo XHCN và trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc. Do vậy mà đoàn kết tạo ra sức mạnh, Người viết: “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi, đoàn kết là then chốt của thành công”.  Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của dân tộc: Yêu nướcnhân nghĩađoàn kết là sức mạnh, là mạch nguồn của mọi thắng lợi. Do vậy mà đại đoàn kết dân tộc phải được xác định là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng.  Trong lời kết thúc buổi ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam, Hồ Chí Minh đã thay mặt Đảng, tuyên bố: “Mục tiêu của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ là: ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC”.  Đoàn kết cũng là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, cũng là nhiệm vụ hàng đầu trong mọi giai đoạn cách mạng. Cách mạng muốn thành công thì chỉ có đường lối đúng thì chưa đủ, mà cần phải lôi kéo quần chúng, tạo thực lực cho cách mạng. Đảng phải có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn quần chúng, thực hiện tự giác khối đại đoàn kết dân tộc, thành sức mạnh tổng hợp cho cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, tự do nhân dân và hạnh phúc con người.  Hiện nay, Đảng ta vẫn đang nổ lực xây dựng, duy trì và bảo vệ khối đại đoàn kết dân tộc:  Ngày 12122013, Bộ Chính trị (khóa XI) ban hành Quyết định số 217 về “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trịxã hội”, Quyết định số 218 “về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trịxã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng và xây dựng chính quyền”.  Chính quyền ở nhiều cấp, nhiều địa phương đã thật sự có chuyển biến trong nhận thức và hành động về quan hệ với nhân dân.  Nhiều dự án về phát triển kinh tế, văn hóaxã hội của Nhà nước được ban hành nhằm chăm lo đời sống cho nhân dân đã thực hiện có kết quả như các Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 20122015, 20162020,….  Xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại những điểm phải chú ý:  Sự chênh lệch ngày càng lớn về mức thu nhập và hưởng thụ giữa các vùng, miền, giữa người đương chức và người về hưu, giữa thành thị và nông thôn…Thu nhập bình quân đầu người hàng tháng tại khu vực thành thị tại miền Bắc, cụ thể là Hà Nội là 3,6 triệu đồngngườitháng, còn tại miền Nam, cụ thể là TP Hồ Chí Minh là 3,4 triệu đồng tháng. Còn ở khu vực nông thôn, tại miền Bắc, thu nhập bình quân là 1,7 triệu đồngngườitháng, miền Trung và miền Nam là 1,8 triệu đồngngườitháng (số liệu năm 2016)  Sự phân hóa giàu nghèo có chiều hướng gia tăng đã và đang ảnh hưởng lớn đến đại đoàn kết dân tộc.  Một số cá nhân, tổ chức gây chống phá, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân. Để đại đoàn kết toàn dân tộc thật sự là nguồn sức mạnh, là động lực chủ yếu thì cần phải:  Quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và mặt trận dân tộc.  Cần nắm vững những quan điểm cơ bản và cũng là những định hướng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc.  Quyền làm chủ đất nước của nhân dân cần được tôn trọng. Pháp luật phải bảo đảm để nhân dân thật sự là người chủ, thật sự làm chủ như Hiến pháp (sửa đổi, bổ sung) đã quy định.  Thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.  Kiên trì thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”.  Đảng, Nhà nước và nhân dân ta cần tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, cùng nhau hợp sức xây dựng cho được một xã hội đồng thuận cao trên tinh thần cởi mở, độ lượng, tin cậy lẫn nhau vì sự ổn định, phát triển toàn diện và bền vững của đất nước. 6. Quan điểm của Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân và vì dân: Trong tác phẩm Thường thức chính trị (1953), Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Ở nước ta chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ”.Theo Hồ Chí Minh thi nhà nước phải là nhà nước của dân, do dân, vì dân. Thứ nhất, nhà nước của dân:  Quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh là xác lập tất cả mọi quyền lực trong nhà nước và trong xã hội đều thuộc về nhân dân. Điều này được thể hiện qua các Hiến pháp năm 1946 và 1959 do Người lãnh đạo soạn thảo.  Hồ Chí Minh cho rằng: “Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà do nhân dân làm chủ”, “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân làm chủ”, “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”  Với ý nghĩa đó, người dân được hưởng mọi quyền dân chủ, đồng thời nhà nước phải có trách nhiệm đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân. Thứ hai, nhà nước do dân: Nhà nước là do dân lập nên, do dân ủng hộ, dân làm chủ. Chính vì thế Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến nhiệm vụ phải làm cho dân hiểu, giác ngộ để nâng cao trách nhiệm làm chủ. Người nêu rõ quyền của dân và nhân dân tham gia quản lý Nhà nước ở chỗ:  Toàn bộ công dân bầu ra Quốc hội  Quốc hội bầu ra Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ.  Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất của Nhà nước, thực hiện các quyết định của Quốc hội và chấp hành pháp luật  Mọi công việc của bộ máy nhà nước trong việc quản lý xã hội đều thực hiện ý chí của dân. Thứ ba, Nhà nước vì dân:  Là một nhà nước lấy lợi ích chính đáng của nhân dân làm mục tiêu, tất cả đều vì lợi ích của nhân dân, ngoài ra không có bất cứ lợi ích nào khác.  Hồ Chí Minh luôn tâm niệm: Phải làm cho dân có ăn, phải làm cho dân có mặc, phải làm cho dân có chỗ ở, phải làm cho dân được học hành.  Một nhà nước vì dân, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, là từ Chủ tịch nước đến công chức bình thường đều phải làm công bộc, làm đầy tớ cho nhân dân chứ không phải làm “quan cách mạng” để “đè đầu cưỡi cổ nhân dân”.  Hiện nay, Đảng ta vẫn đang Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân:  Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VIII) về “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh”. Bảo đảm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, phát huy trách nhiệm, tính chủ động của các cơ quan nhà nước.  Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng đã nhấn mạnh “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị...”  Cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước được phân định rõ hơn.  Tăng cường quyền làm chủ của nhân dân thông qua công tác bầu cử, ứng cử, người dân được khuyến khích góp ý, giải pháp vào những vấn đề chung của đất nước,… Tuy nhiên, vẫn không thể tránh được những thiếu sót trong việc xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân:  Một số không ít cán bộ lợi dụng chức quyền để mưu lợi bản thân, tham nhũng, phạm pháp,…. gây mất lòng tin trong nhân dân như vụ ông Võ Kim Cự, ông Trịnh Xuân Thanh, ông Nguyễn Thanh Hóa, ông Đinh La Thăng,….  Một bộ phận cán bộ có thái độ chưa tích cực khi tiếp xúc, làm việc với nhân nhân, gây bức xúc trong nhân dân.  Còn thiếu sót trong công tác lấy ý kiến người dân đối với các công việc chung của đất nước như quy hoạch, giáo dục, y tế,… Có thể kể đến vụ người dân Đồng Tâm, Mỹ Đức bắt giữ công an, nhà báo, phó chủ tịch huyện vì liên quan đến tranh chấp đất đai. Do vậy, Đảng ta cần phải:  Cần quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.  Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; kiên định chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.  Mở rộng dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ cương, siết chặt kỷ luật.  Đẩy mạnh các hoạt động thanh tra, kiểm tra trong nội bộ các cơ quan, tổ chức nhà nước.  Huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninh, trật tự.  Hoàn thiện thể chế, chức năng, nhiệm vụ, phương thức và cơ chế vận hành, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.  Tích cực lắng nghe và thực hiện góp ý, sáng kiến của người dân vào các vấn đề chung của đất nước. Có như vậy thì Đảng mới xây dựng được một nhà nước của dân, do dân và vì dân. Được nhân dân tín nhiệm và tin yêu. 7. Quan điểm của Hồ Chí Minh về nguyên tắc xây dựng đạo đức mới  Nói đi đôi với làm: Hồ Chí Minh coi đây là nguyên tắc quan trọng bậc nhất trong xây dựng một nền đạo đức mới. Điều này đã được Người khẳng định trong tác phẩm Đường kách mệnh và chính bản thân Hồ Chí Minh là tấm gương sáng về nói đi đôi với làm. Nêu gương về đạo đức là một nét đẹp truyền thống của văn hóa phương Đông. Hồ Chí Minh khẳng định rằng: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”. Bên cạnh đó, Người nói rằng: “Người tốt, việc tốt nhiều lắm, ở đâu cũng có. Ngành, giới nào, địa phương nào, lứa tuổi nào cũng có”. Như thế, một nền đạo đức thực sự vững chắc, rộng lớn khi những chuẩn mực đạo đức trở thành hành vi đạo đức của toàn xã hội.  Xây đi đôi với chống: Để xây dựng một nền đạo đức mới cần kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống.  Đạo đức cần phải được xây dựng thông qua việc giáo dục. Phải tiến hành phù hợp với từng giai đoạn, lứa tuổi, ngành nghề, giai cấp, môi trường khác nhau. Chú trọng đến sự tự giác.  Phải đi đôi với chống. Hồ Chí Minh cho rằng, đạo đức chỉ có thể được xây dựng thành công trên cơ sở kiên trì mục tiêu chống chủ nghĩa đế quốc, chống những thói quen, tập tính lạc hậu, loại trừ chủ nghĩa cá nhân.  Phải tu dưỡng đạo đức suốt đời:  Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, mỗi người tự nhận thấy việc trau dồi đạo đức cách mạng là một việc “sung sướng, vẻ vang nhất trên đời”.  Đạo đức cách mạng là đạo đức dấn thân, đạo đức trong hành động vì độc lập, tự do dân tộc, hạnh phúc nhân dân. Do vậy mà đòi hỏi mỗi người phải tự giác rèn luyện thông qua hoạt động thực tiễn, nhìn thẳng vào mình, phát huy cái tốt và hạn chế, khắc phục cái xấu. Đó là một công việc phải luyện tập suốt đời. Xây dựng đạo đức theo quan điểm của Hồ Chí Minh là một vấn đề vô cùng cần thiết không chỉ đối với cán bộ, Đảng viên mà còn đối với toàn dân tộc nói chung, sinh viên, thế hệ trẻ nói riêng. Thực tế hiện nay, đạo đức trong một bộ phận dân tộc còn yếu kém, lệch lạc:  Nhiều bộ phận thanh niên tham gia có hành vi trái pháp luật như tiêm chích, mua bán ma túy, tụ tập đánh bài, đua xe, cướp bóc, thậm chí là giết người chỉ để trả thù, cướp tài sản hay chỉ vì va chạm khi tham gia giao thông. Như vụ án giết 6 mạng người ở Bình Phước năm 2015 gây chấn động dư luận của Nguyễn Hải Dương hay gần đây nhất là vụ án giết 5 người trong một gia đình ở Bình Tân (Tp.HCM) hồi tháng 2 vừa qua của bị cáo Nguyễn Hữu Tình,….  Đạo đức còn đi xuống ngay cả trong gia đình, những vụ án liên quan đến chồng giết vợ, vợ giết chồng, cháu giết bà,… ngày càng gia tăng.  Một số cán bộ, Đảng viên suy thoái đạo đức, lợi dụng chức quyền để mưu lợi cho bản thân,…. Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn nhiều tấp gương sáng trong việc thực hiện, rèn luyện đạo đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh:  Nhiều cán bộ nêu gương sáng trong việc giữ gìn an ninh trật tự, lối sống văn minh, có thể kể đến như ông Đoàn Ngọc Hải (phó chủ tịch UBND Quận 1) hay bà Trương Thị Minh Tín (Chủ tịch UBND phường Bình Trị Đông B) trong việc giải quyết lấn chiếm vỉa hè.  Nhiều tấm gương vượt khó hiếu học, vươn lên nghịch cảnh vẫn đang tỏa sáng trong xã hội. Để tiếp tục thực hiện quan điểm đạo đức mới, cần phải:  Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng trong xây dựng lối sống văn hóa cho nhân dân.  Xử lý nghiêm những hành vi phạm pháp, đặc biệt là phải thực hiện ngay trong cơ quan, tổ chức nhà nước, làm gương cho nhân dân.  Chú trọng công tác giáo dục đạo đức cho thanh niên ngay trong gia đình và còn ngồi trên ghế nhà trường,… Có như vậy thì đạo đức trong nhân dân mới nâng cao, tích cực góp phần vào xây dựng một xã hội văn minh, tiên tiến. 8. Quan điểm của Hồ Chí Minh về chiến lược “trồng người”  “Trồng người” vừa là yêu cầu khách quan, vừa cấp bách, vừa lâu dài của cách mạng:  Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Hồ Chí Minh rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, đào tạo, rèn luyện con người.  Con người phải được đặt vào vị trí trung tâm của sự phát triển, vừa nằm trong chiến lược phát triển kinh tếxã hội của đất nước với nghĩa rộng, vừa nằm trong chiến lược giáo dục và đào tạo theo nghĩa hẹp.  “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”  Ngay từ đầu, phải đặt ra nhiệm vụ xây dựng con người có những phẩm chất cơ bản, tiêu biểu cho con người mới xã hội chủ nghĩa, làm gương, lôi cuốn xã hội. Đây là công việc lâu dài, thuộc về trách nhiệm của toàn dân.  Mỗi bước xây dựng con người như là một nấc thang xây dựng chủ nghĩa xã hội.  Quan điểm của Hồ Chí Minh về con người mới xã hội chủ nghĩa có hai mặt gắn bó với nhau. Một là kế thừa giá trị tốt đẹp của dân tộc, hai là hình thành nên những phẩm chất mới.  Chiến lược “trồng người” là một trọng tâm, một bộ phận hợp thành của chiến lược phát triển kinh tế xã hội:  Biện pháp quan trọng bậc nhất để thực hiện chiến lược “trồng người” là giáo dục.  Nội dung, phương pháp giáo dục phải hoàn thiện kể cả đức, trí, thể, mỹ, phải đặt đạo đức, lý tưởng, tình cảm cách mạng, lối sống xã hội chủ nghĩa lên hàng đầu. Phải kết hợp giữa lời nói và việc làm.  Có “trồng người” đạt kết quả thì mới đóng góp cho xã hội những thành phần ưu tú, góp phần phát triển kinh tếxã hội. “Trồng người” là công việc tram năm, không thể nóng vội “một sớm một chiều”, không phải tùy tiện, đến đâu hay đến đó. Hồ Chí Minh cho rằng: “việc học không bao giờ cùng, còn sống còn phải học” .  Nói về “chiến lược” trồng người hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã đạt nhiều thành tựu như:  Mặc dù khủng khoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta đạt cao.  Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, năng lực sản xuất và tiềm lực kinh tế của đất nước không ngừng tăng lên, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt.  Hệ thống an sinh xã hội được coi trọng và từng bước mở rộng, công cuộc xóa đói giảm nghèo đạt được những thành tựu nổi bật, tỷ lệ hộ nghèo giảm (theo ước tính dưới 7% năm 2017). Việt Nam đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình (GDP bình quân đầu người năm 2017 ước tính khoảng 2.400 USD).  Xây dựng, đổi mới, hoàn hiện hệ thống giáo dục các cấp. Đổi mới phương pháp giảng dạy, học đi đôi với hành. Tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục hàng năm của Việt Nam ở mức xấp xỉ 20%, tương đương 5% GDP.  Công tác giáo dục đạo đức, tư tưởng được đưa vào chương trình giảng dạy các cấp. Bên cạnh đó, cũng tồn tại những hạn chế: Văn kiện Đại hội XI của Đảng đánh giá:  Chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao còn hạn chế.  Chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu của xã hội.  Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng số lượng, quy mô với nâng cao chất lượng, giữa dạy chữ và dạy người.  Chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học còn lạc hậu, đổi mới chậm.  Cơ cấu giáo dục không hợp lý giữa các lĩnh vực, ngành nghề đào tạo.  Chất lượng giáo dục toàn diện giảm sút, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.  Quản lý nhà nước về giáo dục còn bất cập. Xu hướng thương mại hoá và sa sút đạo đức trong giáo dục khắc phục còn chậm, hiệu quả thấp đang trở thành nỗi bức xúc của xã hội. Để chiến lược “trồng người” trở nên hiệu quả, cần phải:  Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với vấn đề phát triển đào tạo con người mới xã hội chủ nghĩa.  Đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau.  Phát huy hiệu quả vai trò của Đoàn thanh niên, và các đoàn thể xã hôi trong việc hình thành nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa.  Kết hợp cơ sở đào tạo, nhà trường với doanh nghiệp, các ngành, các địa phương trong nền giáo dục đào tạo con người mới.  Xây dựng môi trường xã hội trong sạch, lành mạnh, cơ sở cơ bản nhất cho lớp trẻ học tập đấu tranh và tôi luyện thành con người mới xã hội chủ nghĩa.

Trang 1

BÀI SOẠN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

1 Tác động của tinh hoa văn hóa nhân loại đối với quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

Văn hóa là sự tổng hòa của tất cả các giá trị vật chất và tinh thần mà loài người sáng tạo ra Nó vừa là thành quả của sự tiến hóa, phát triển trong quá khứ của xã hội loài người, vừa là nền tảng cho tương lai để

nuôi dưỡng con người Tinh hoa văn hóa nhân loại chính là những gì tốt

đẹp nhất, tinh túy nhất mà nền văn hóa của nhân loại chắt lọc và để lại.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng

dân tộc dân chủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả của

sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lenin vào điều

kiện cụ thể nước ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người

Ảnh hưởng của tinh hoa văn hoá nhân loại: Trước khi ra đi tìm đường

cứu nước, Hồ Chí Minh đã được trang bị và hấp thụ nền Quốc học và Hán học khá vững vàng, chắc chắn Trên hành trình cứu nước, Người đã tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, vốn sống, vốn kinh nghiệm để làm giàu tri thức của mình và phục vụ cho cách mạng Việt Nam

Văn hoá phương Đông: Người đã tiếp thu tư tưởng của Nho giáo, Phật

giáo, và tư tưởng tiến bộ khác của văn hoá phương Đông:

Nho giáo nói chung và Khổng giáo nói riêng là khoa học

về đạo đức và phép ứng xử, tư tưởng triết lý hành động, lý tưởng về một xã hội bình trị, đề cao văn hoá, lễ giáo và tạo ra truyền thống hiếu học trong dân Đây là tư tưởng tiến bộ hơn hẳn so với các học thuyết cổ đại Hồ Chí Minh đã chịu ảnh hưởng của Nho giáo rất nhiều dựa trên nền tảng chủ nghĩa yêu nước Việt Nam

Phật giáo vào Việt Nam từ sớm và có ảnh hưởng rất

mạnh đối với Việt Nam Phật giáo có tư tưởng vị tha, từ bi, bác

ái Phật giáo cũng đề cao nếp sống đạo đức, trong sạch, chăm làm điều thiện, coi trọng lao động Phật giáo vào Việt Nam kết

Trang 2

hợp với chủ nghĩa yêu nước sống gắn bó với dân, hoà vào cộng đồng chống kẻ thù chung của dân tộc là chủ nghĩa thực dân

Tư tưởng dân chủ tiến bộ như chủ nghĩa tam dân của

Tôn Trung Sơn có ảnh hưởng đến tư tưởng Hồ Chí Minh, vì Người tìm thấy những điều phù hợp với điều kiện của cách mạng nước ta

Hoàn toàn khẳng định rằng Hồ Chí Minh là nhà

mác-xít tỉnh táo và sáng suốt, biết khai thác những yếu tố tích cực của tư tưởng văn hoá phương Đông để phục vụ cho sự nghiệp của cách mạng Việt Nam

Văn hoá phương Tây: Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng sâu rộng của nền

văn hoá dân chủ và cách mạng phương Tây như:

Tư tưởng tự do, bình đẳng trong Tuyên ngôn nhân

quyền và dân quyền của Đại cách mạng Pháp 1791, tư tưởng dân chủ, về quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ 1776 Trước khi ra nước ngoài, Bác đã nghe thấy ba từ Pháp: tự do, bình đẳng, bác

ái Lần đầu sang Pháp, Hồ Chí Minh đã thể hiện bản lĩnh, nhân cách phẩm chất cao thượng, tư duy độc lập tự chủ Người đã nhìn thấy mặt trái của “lý tưởng” tự do, bình đẳng, bác ái

Người cũng tiếp thu tư tưởng của những nhà Khai sáng Pháp như Voltaire, Rousso, Montesquieu

Thiên Chúa giáo là tôn giáo lớn của phương Tây, Hồ

Chí Minh quan niệm Tôn giáo là văn hoá Điểm tích cực nhất của Thiên chúa giáo là lòng nhân ái

Hồ Chí Minh tiếp thu có chọn lọc tư tưởng văn hoá Đông - Tây để phục vụ cho cách mạng Việt Nam Người dẫn lời của Lênin: “Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu hái được những hiểu biết quý báu của các đời trước để lại.”

2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về Cách mạng giải phóng dân tộc

Cách mạng giải phóng dân tộc (CMGPDT): cuộc cách mạng nhằm thủ

tiêu sự thống trị của chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc, thực hiện quyền dân tộc tự quyết và thành lập nhà nước dân tộc

Quan điểm của Hồ Chí Minh về CMGPDT:

Thứ nhất, CMGPDT muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản:

Trang 3

Trước những thất bại và bế tắc của các phong trào chống Pháp, Nguyễn Tất Thành tìm đường cứu nước

Hồ Chí Minh nghiên cứu 3 cuộc Cách mạng (CM) điển hình:

CM Mỹ 1776, CM tư sản Pháp 1789 và CM tháng 10 Nga, HCM rút

ra kết luận:

CM Pháp cũng như CM Mỹ đều là CM tư sản, CM không đến nơi, tiếng là Cộng hòa dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục

công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa

Trong thế giới bây giờ chỉ có CM tháng 10 là thành công và

thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng hạnh phúc tự do

bình đẳng thật sự

Tiếp xúc với luận cương của Lê Nin, Hồ Chí Minh tìm thấy ở đó

con đường giải phóng dân tộc

Thứ hai, CMGPDT trong thời đại mới phải do Đảng cộng sản lãnh đạo:

Trong các phong trào chống Pháp trước 1930 ở nước ta đã xuất hiện các đảng phái, hội, đoàn thể như Duy Tân Hội, Việt Nam Quang Phục Hội, Việt Nam Quốc Dân Đảng, nhưng những Đảng này thiếu đường lối đúng đắn, thiếu tổ chức chặt chẽ, thiếu cơ sở rộng rãi trong quần chúng nên không thể lãnh đạo kháng chiến thành công và bị tan rã với các khuynh hướng cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến, tư sản

Từ thắng lợi của Cách mạngTháng 10 Nga do Đảng Cộng sản Nga (Bolshevik) lãnh đạo, Hồ Chí Minh khẳng định:

 Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi, trước hết phải có Đảng lãnh đạo, không có Đảng chân chính lãnh đạo Cách mạng không thể thắng lợi

 Đảng có vững Cách mạng mới thành công Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt Không có chủ nghĩa không có kim chỉ nam Đảng

Thứ ba, lực lượng CMGPDT bao gồm toàn dân tộc:

Chủ nghĩa Mác Lê Nin khẳng định Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, nhân dân lao động

Hồ Chí Minh chủ trương đưa Cách mạng Việt Nam theo con đường Cách mạng vô sản, nhưng chưa làm ngay Cách mạng vô sản, mà thực hiện

Trang 4

Cách mạng giải phóng dân tộc, giải quyết mâu thuẫn dân tộc với đế quốc xâm lược và tay sai Mục tiêu là giành độc lập dân tộc

Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (2/1930), Hồ Chí Minh khẳng định rõ “ Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và phải dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng,…phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, thanh niên, Tân Việt,… để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp; đối với phú nông, trung tiểu địa chủ và tư bản An Nam

mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập…”

Vì vậy Cách mạng là đoàn kết dân tộc, ai có lòng yêu nước thương nòi sẽ cùng nhau thống nhất mặt trận, thu gom toàn lực đem tất cả ra giành độc lập tự do, đánh tan giặc Pháp Nhật xâm lược nước ta

Thứ tư, CMGPDT cần được tiến hành chủ động sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc:

Theo Hồ Chí Minh, phải “làm cho các dân tộc thuộc địa, từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết nhau hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một Liên minh Phương đông tương lai, khối liên minh này sẽ là một trong những cái cánh của cánh mạng vô sản”

Hồ Chí Minh khẳng định công cuộc giải phóng nhân dân thuộc địa chỉ

có thể được thực hiện bằng sự nỗ lực tự giải phóng Tháng 8/1945, khi thời

cơ cách mạng đã xuất hiện, Người kêu gọi: “Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”

Theo Hồ Chí Minh, CMGPDT ở thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc có mối quan hệ mật thiết với nhau, đều có kẻ thù chung là chủ nghĩa đế quốc Đó là mối quan hệ bình đẳng Hồ Chí Minh cho rằng cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có thể giành thắng lợi trước cách mạng

vô sản ở chính quốc Đây là một luận điểm sáng tạo, là một cống hiến cho kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lenin

Thứ năm, CMGPDT phải được tiến hành bằng con đường cách mạng bạo lực:

Bạo lực cách mạng trong CMGPDT ở Việt Nam đánh giá đúng bản

chất cực kì phản động của bọn đế quốc và tay sai , Hồ Chí Minh cho rằng “ Trong cuộc đấu tranh gian khổ chông kẻ thù của giai cấp và của dân tộc, cần dùng bạo lực cách mạng chống lại bảo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền”

Trang 5

3 Cách tiếp cận của Hồ Chí Minh về Chủ nghĩa xã hội:

Chủ nghĩa xã hội (CNXH) theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin:

Là giai đoạn đầu của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa Chủ nghĩa xã hội tiến bộ, ưu việt hơn tất cả các xã hội trước đó về các

đặc trưng kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội nhằm giải phóng con người khỏi mọi tình trạng áp bức, bóc lột, bất công.

Cách tiếp cận của Hồ Chí Minh về CNXH:

Đầu tiên, Hồ Chí Minh tiếp thu lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học

của lý luận Mác-Lenin trước hết là từ yêu cầu tất yếu của công cuộc giải phóng dân tộc Việt Nam:

o Người tìm thấy trong chủ nghĩa Mác Lênin sự thống nhất biện chứng giữa giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người

o Chỉ có CNXH mới giải phóng dân tộc, giai cấp, nhân loại Đem lại độc lập, tự do thật sự cho các dân tộc Đó cũng là mục tiêu mà Hồ Chí Minh và cách mạng Việt Nam hướng tới

Thứ hai, Hồ Chí Minh tiếp cận CNXH ở một phương diện nữa là đạo

đức, hướng tới giá trị nhân đạo, nhân văn, mác-xít:

o Tìm thấy cơ sở lí luận giải quyết mối quan hệ cá nhân với xã hội

“sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện phát cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”

o CNXH là giai đoạn phát triển mới về đạo đức nhằm giải phóng dân tộc, giai cấp, giải phóng con người và cả xã hội loài người

Thứ ba, bao trùm lên tất cả là Hồ Chí Minh tiếp cận CNXH từ văn

hóa:

Trang 6

o Văn hóa trong chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam có quan hệ biện chứng với chính trị, kinh tế Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội

ở Việt Nam cũng chính là quá trình xây dựng một nền văn hóa mà trong đó kết tinh, kế thừa, phát triển những giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam

o Tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới, kết hợp truyền thống với hiện đại, dân tộc và quốc tế

4 Quan điểm của Hồ Chí Minh về “Đảng cầm quyền”

Theo Hồ Chí Minh, “Đảng cầm quyền” là Đảng tiếp tục lãnh đạo sự nghiệp cách mạng trong điều kiện Đảng đã lãnh đạo quần chúng nhân dân giành được quyền lực nhà nước và Đảng trực tiếp lãnh đạo bộ máy nhà nước đó để tiếp tục hoàn thành sự nghiệp độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

Quan điểm của Hồ Chí Minh về “Đảng cầm quyền”

Về mục tiêu, lý tưởng của Đảng cầm quyền:

Theo Hồ Chí Minh, Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của

Tổ quốc, của nhân dân Đó là mục đích, lý tưởng cao cả, không bao giờ thay đổi trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam

Đảng cầm quyền vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ trung thành của nhân dân:

Quan điểm này được vận dụng, phát triển hết sức sáng tạo lý luận Mác-Lenin về Đảng vô sản kiểu mới

Xác định “người lãnh đạo” là xác định quyền lãnh đạo duy nhất của Đảng đối với toàn bộ xã hội Đối tượng lãnh đạo của Đảng là toàn thể quần chúng nhân dân Là “Người lãnh đạo”, Đảng phải làm cho dân tin, dân phục

để dân theo Đồng thời, phải sâu sát, gắn bó mật thiết với nhân dân, lắng nghe ý kiến, khiêm tốn học hỏi nhân dân và phải chịu sự kiểm soát của nhân dân

Bên cạnh đó, Đảng phải là “đầy tớ” trung thành của nhân dân Có nghĩa là tận tâm, tận lực mà phụng sự nhân dân, nhằm đem lại các quyền và lợi ích cho nhân dân Qua đó, đòi hỏi mỗi cán bộ, Đảng viên phải có tri thức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ giỏi, thấm nhuần đạo đức cách mạng

Làm tốt hai chức năng trên, là cơ sở vững chắc đảm bảo uy tín và năng lực lãnh đạo của Đảng

Trang 7

Đảng cầm quyền, dân là chủ:

Hồ Chí Minh kết luận: “Cách mạng rồi thì quyền giao cho dân chúng

số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người”

Theo Người, quyền lực thuộc về nhân dân là bản chất, là nguyên tắc của chế độ mới, một khi xa rời nguyên tắc này, Đảng sẽ trở thành đối lập với nhân dân

Mỗi người dân cần phải biết lợi ích, bổn phận của mình tham gia vào xây dựng chính quyền

 Hiện nay, Đảng và nhà nước ta đã và đang thực hiện theo tư tưởng của Bác về

“Đảng cầm quyền”, cùng với nhân dân xây dựng đất nước:

 Tuyên truyền, khuyến khích nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua các cuộc bầu cử, tổng tuyển cử cả nước

 Tiến hành truyền hình trực tiếp các buổi họp của quốc hội trên các kênh truyền hình, thông tin đại chúng Giúp người dân theo dõi, cùng thảo luận tăng tính minh bạch

 Tổ chức thi tuyển công chức để tang cường số lượng cán bộ, Đảng viên có trình độ cao

 Nghiêm khắc xử lý những cán bộ, Đảng viên có hành vi phạm pháp, gây tổn thất cho đất nước như vụ của ông Trịnh Xuân Thanh, Võ Kim Cự, Đinh

La Thăng,…

Tuy vậy, vẫn còn nhiều thiếu sót mà Đảng và nhà nước cần phải khắc phục như:

 Một số cán bộ, Đảng viên vẫn chưa làm gương cho nhân dân, tham ô, tham gia vào các đường dây tội phạm như vụ ông Nguyễn Thanh Hóa (nguyên cục trưởng Cục Cảnh sát công nghệ cao) liên quan đến đường dây đánh bạc hàng ngàn tỷ đồng

 Trình độ của nhiều cán bộ vẫn còn yếu kém, có thái độ không phù hợp khi tiếp xúc với người dân

 Bộ máy quản lý, xử lý còn khá rườm rà, chưa giải quyết được nhanh chóng những yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân,…

Do vậy, để xây dựng một “Đảng cầm quyền” theo tư tưởng Hồ Chí minh, cần sự phối hợp, cố gắng giữu Đảng, Nhà nước và nhân dân:

 Tiếp tục khuyến khích, tạo điều kiện cho người dân thực hiện quyền làm chủ

Trang 8

 Tiếp tục và luôn thực hiện công tác Xây dựng Đảng, làm cho Đảng vững mạnh, trong sạch

 Lắng nghe, tiếp thu ý kiến từ nhân dân, sửa chữa những sai sót

 Người dân cần nhận thức được quyền và nghĩa vụ của mình, cùng Đảng, nhà nước xây dựng Chủ nghĩa xã hội

5 Vai trò của Đại đoàn kết dân tộc đối với sự nghiệp cách mạng trong

tư tưởng Hồ Chí Minh

Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng:

Theo Hồ Chí Minh, để đánh bại các thế lực đế quốc thực dân, nếu chỉ

có tinh thần yêu nước thì chưa đủ, mà phải tập hợp được tất cả lực lượng, xây dựng khối đại đoàn kết bền vững Do vậy mà cần phải:

 Có chính sách và phương pháp phù hợp với từng đối tượng, trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng

 Đoàn kết trong từng mặt trận và trong toàn dân tộc

Nhờ có đoàn kết mà nhân dân ta đã giành nhiều thắng lợi

 Hồ Chí Minh viết “Đoàn kết trong mặt trận Việt Minh, nhân dân ta đã làm Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ”

 Đoàn kết trong mặt trận Liên Việt, nhân dân ta đã kháng chiến thắng lợi, lập lại hòa bình ở Đông Dương, hoàn toàn giải phóng miền Bắc

 Đoàn kết trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhân dân ta đã giành được thắng lợi trong công cuộc khôi phục kinh tế, cải tạo XHCN và trong sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc

Do vậy mà đoàn kết tạo ra sức mạnh, Người viết: “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi, đoàn kết là then chốt của thành công”

Đại đoàn kết dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, của dân tộc:

Trang 9

Yêu nước-nhân nghĩa-đoàn kết là sức mạnh, là mạch nguồn của mọi thắng lợi Do vậy mà đại đoàn kết dân tộc phải được xác định là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng

 Trong lời kết thúc buổi ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam, Hồ Chí Minh đã thay mặt Đảng, tuyên bố: “Mục tiêu của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ là: ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHỤNG SỰ

TỔ QUỐC”

 Đoàn kết cũng là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, cũng là nhiệm vụ hàng đầu trong mọi giai đoạn cách mạng Cách mạng muốn thành công thì chỉ

có đường lối đúng thì chưa đủ, mà cần phải lôi kéo quần chúng, tạo thực lực cho cách mạng

Đảng phải có sứ mệnh thức tỉnh, tập hợp, hướng dẫn quần chúng, thực hiện

tự giác khối đại đoàn kết dân tộc, thành sức mạnh tổng hợp cho cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, tự do nhân dân và hạnh phúc con người

 Hiện nay, Đảng ta vẫn đang nổ lực xây dựng, duy trì và bảo vệ khối đại đoàn kết dân tộc:

 Ngày 12-12-2013, Bộ Chính trị (khóa XI) ban hành Quyết định số 217

về “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị-xã hội”, Quyết định số 218 “về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị-xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng và xây dựng chính quyền”

 Chính quyền ở nhiều cấp, nhiều địa phương đã thật sự có chuyển biến trong nhận thức và hành động về quan hệ với nhân dân

 Nhiều dự án về phát triển kinh tế, văn hóa-xã hội của Nhà nước được ban hành nhằm chăm lo đời sống cho nhân dân đã thực hiện có kết quả như các Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012-2015, 2016-2020,…

 Xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở

Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại những điểm phải chú ý:

 Sự chênh lệch ngày càng lớn về mức thu nhập và hưởng thụ giữa các vùng, miền, giữa người đương chức và người về hưu, giữa thành thị và nông thôn…Thu nhập bình quân đầu người hàng tháng tại khu vực thành thị tại miền Bắc, cụ thể là Hà Nội là 3,6 triệu đồng/người/tháng, còn tại miền Nam, cụ thể là TP Hồ Chí Minh là 3,4 triệu đồng tháng Còn ở khu vực nông thôn, tại miền Bắc, thu nhập bình quân là 1,7 triệu đồng/người/

Trang 10

tháng, miền Trung và miền Nam là 1,8 triệu đồng/người/tháng (số liệu năm 2016)

 Sự phân hóa giàu nghèo có chiều hướng gia tăng đã và đang ảnh hưởng lớn đến đại đoàn kết dân tộc

 Một số cá nhân, tổ chức gây chống phá, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân

Để đại đoàn kết toàn dân tộc thật sự là nguồn sức mạnh, là động lực chủ yếu thì cần phải:

 Quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và mặt trận dân tộc

 Cần nắm vững những quan điểm cơ bản và cũng là những định hướng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc

 Quyền làm chủ đất nước của nhân dân cần được tôn trọng Pháp luật phải bảo đảm để nhân dân thật sự là người chủ, thật sự làm chủ như Hiến pháp (sửa đổi, bổ sung) đã quy định

 Thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân

 Kiên trì thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”

 Đảng, Nhà nước và nhân dân ta cần tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, cùng nhau hợp sức xây dựng cho được một xã hội đồng thuận cao trên tinh thần cởi mở, độ lượng, tin cậy lẫn nhau vì sự ổn định, phát triển toàn diện và bền vững của đất nước

6 Quan điểm của Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân và vì dân:

Trong tác phẩm Thường thức chính trị (1953), Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Ở nước ta chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ”.Theo Hồ Chí Minh thi nhà nước phải là nhà nước của dân, do dân, vì dân

Thứ nhất, nhà nước của dân:

 Quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh là xác lập tất cả mọi quyền lực trong nhà nước và trong xã hội đều thuộc về nhân dân Điều này được thể hiện qua các Hiến pháp năm 1946 và 1959 do Người lãnh đạo soạn thảo

 Hồ Chí Minh cho rằng: “Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nước nhà

do nhân dân làm chủ”, “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân

Ngày đăng: 11/09/2019, 03:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w