1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu thuyết lặng yên dưới vực sâu của đỗ bích thúy nhìn từ phạm trù thẩm mỹ cái bi kịch

75 143 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Con người trong văn học hôm naykhác với con người trong văn học trước đây, vì nó được nhìn ở nhiều vị thế, ởmối quan hệ đa chiều: con người với xã hội, con người với gia đình, và vớichín

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Người hướng dẫn khoa học

TS NGUYỄN THỊ VÂN ANH

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả khóa luận xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngữ Văn

- Trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Lí luậnvăn học đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận!

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với TS Nguyễn Thị VânAnh - người đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ họctập và nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đãgiúp đỡ, động viên, chia sẻ trong suốt thời gian tôi thực hiện khóa luận tốtnghiệp!

Hà Nội, Ngày 10 tháng 5 năm 2018

Tác giả khóa luận

Từ Thị Tuyết Trinh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: “Tiểu thuyết Lặng yên dưới vực

sâu của Đỗ Bích Thúy nhìn từ phạm trù thẩm mỹ cái bi kịch” là công trình

nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nghiên cứu được trình bày trong khóa luận

là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào Tác giảkhóa luận chịu trách nhiệm trước lời cam đoan trên

Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2018

Tác giả khóa luận

Từ Thị Tuyết Trinh

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đềtài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục tiêu, nhiệm vụ của khóa luận 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiêncứu 5

5 Phương pháp nghiêncứu 5

6 Đóng góp của khóaluận 5

7 Bố cục của khóaluận 5

1.3 Đặc trưng thẩm mĩ của cái bi kịch 9

1.4 Cái bi kịch trong văn học 14

Chương 2: CÁC DẠNG THỨC BI KỊCH TRONG TIỂU THUYẾT LẶNG

YÊN DƯỚI VỰC SÂU 16

2.1 Bi kịch từ hủ tục cướpvợ 16

Trang 6

2.2.1 Cuộc sống nghèo khổ, thiếu

túng 19

2.2.2 Sinh ra đã kém maymắn 222.3 Bi kịch của những khát vọng không thực hiện

được 28

2.3.1 Khát vọng yêu và được yêu

282.3.2 Khát vọng một cuộc hôn nhân hạnhphúc 31

2.4 Bi kịch của sự mông muội

362.4.1 Bi kịch do nhận thức lệch lạc về vấn đề giới

tính 36

2.4.2 Bi kịch bởi mê tín dịđoan 39

Trang 7

2.4.4 Bi kịch của hủ tục tảo

hôn 40

2.5 Bi kịch của kẻ bản năng

41

Chương 3: Ý NGHĨA GIÁO DỤC THẨM MĨ TỪ CÁI BI KỊCH TRONG

LẶNG YÊN DƯỚI VỰC SÂU

Trang 8

đã sở hữu gia tài 13 tập sách phong phú về thể loại: Truyện ngắn, tiểu thuyết,tản văn… Cùng nhiều giải thưởng giá trị: Giải Nhất truyện ngắn Văn nghệquân đội 1999; Giải Nhất tiểu thuyết Hội Văn học nghệ thuật các dân tộcthiểu số Việt Nam 2013; Giải Nhất Văn học Nghệ thuật Thủ đô 2014 Trong

số những sáng tác thành công đó, những cuốn tiểu thuyết của nữ nhà vănthành công hơn cả Đọc những tiểu thuyết ấy của Đỗ Bích Thúy, qua giọng kểkhi hài hước bông lơn, khi xót xa thương cảm, khi khắc khoải yêu thương, khichìm sâu trong suy ngẫm, triết lý của nhà văn, người đọc không khỏi bănkhoăn trước số phận con người, trước tình yêu, hôn nhân, hạnh phúc của con

người Tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu là cuốn tiểu thuyết thứ năm và cuốn sách thứ 17 của Đỗ Bích Thúy nhưng Lặng yên dưới vực sâu ngay khi

mới ra đời đã gây được tiếng vang mạnh mẽ trong giới văn chương và chuyển

thể thành phim sau hai truyện ngắn xuất sắc Tiếng đàn môi sau bờ rào

đá và Sau những mùa trăng Lặng yên dưới vực sâu vốn là một truyện dài

được đăng nhiều kỳ trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội cách đây vài năm Đây

là câu chuyện về một cộng đồng thiểu số gai góc, dữ đội, đầy rẫy bất hạnhnhưng luôn kiêu hãnh làm người

Trang 9

Từ nền văn học mang cảm hứng sử thi, văn học đã chuyển sự quan tâmchủ yếu sang vấn đề thời sự và đời tư Sự thức tỉnh ý thức cá nhân đã mở racho văn học nhiều đề tài và chủ đề mới mẻ Thời kì này, văn học đã đi tới mộtquan niệm toàn vẹn sâu sắc về con người, về những suy nghĩ trăn trở trướccuộc sống Con người vừa là xuất phát điểm, là đối tượng khám phá chủ yếu,vừa là cái đích cuối cùng của văn học Con người trong văn học hôm naykhác với con người trong văn học trước đây, vì nó được nhìn ở nhiều vị thế, ởmối quan hệ đa chiều: con người với xã hội, con người với gia đình, và vớichính mình, bên cạnh đó mặt trái của cơ chế thị trường với bao ngổn ngang,hỗn độn đã đẩy cuộc sống, số phận của con người đến trước những bi kịchkhông ai giống ai Đây là những vấn đề cần nghiên cứu một cách toàn diện vàsâu sắc.

Đỗ Bích Thúy là một trong những nhà văn khai thác một cách toàn diện

và sâu sắc về những bi kịch của con người trên những vùng núi cao Ngay từnhững sáng tác đầu tay, Đỗ Bích Thúy đã rất thành công, thể hiện sâu sắctrong nhiều tác phẩm của mình là bi kịch trong tình yêu và hôn nhân, bi kịchhoàn cảnh, bi kịch của những khát vọng không thực hiện được hay bi kịch của

sự mông muội

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Lặng yên dưới

vực sâu của Đỗ Bích Thúy nhìn từ phạm trù thẩm mĩ cái bi kịch” Có thể nói,

đây là một hướng tiếp cận mới đối với tác phẩm này đồng thời cũng hứa hẹnmang lại kết quả nghiên cứu thực sự có ý nghĩa Sở dĩ như vậy là bởi, mốiquan hệ giữa văn học với hiện thực là mối quan hệ thẩm mĩ Văn học tác độngđến cộng đồng văn hóa bằng con đường thẩm mĩ Do đó, tiếp nhận văn học từcác phạm trù thẩm mĩ là một phương thức tiếp nhận, lí giải văn học mang cả ý

nghĩa lí luận và ý nghĩa thực tiễn Chúng tôi hy vọng, qua góc nhìn này, Lặng

yên dưới vực sâu của Đỗ Bích Thúy sẽ có thêm một diện mạo mới, góp phần

làm phong phú thêm đời sống văn học đương đại Việt Nam

Trang 10

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nhìn chung, các bài viết về tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu mới chủ

yếu được in trên các bài báo, các tạp chí, trên các diễn đàn và báo mạng như:

Bài viết “Lặng yên dưới vực sâu - Bi kịch hôn nhân không tình yêu” trên tờ

báo mạng www vanhoc q u e n h a v n Ở bài viết này, tác giả khái quát về mốitình tay ba của ba nhân vật Vừ, Súa, Phống với hành động cướp vợ của Phống

đã dẫn đến một cuộc hôn nhân không có tình yêu Hay trên trang báo Thế giới

điện ảnh của tác giả Kim Anh đã có đăng tải một bài viết “Lặng yên dưới vực sâu: Bi kịch tình yêu trên cao nguyên đá” Bài viết tóm gọn một cách khái

quát về nội dung của tiểu thuyết, trong đó có nêu bật được mối tình đẹp giữa

Vừ và Súa trên cao nguyên đá Họ yêu nhau nhưng không đến được với nhau.Chuyện tình đó tuy đẹp nhưng đầy bi kịch Hay một bài viết trên diễn đàn

Dân trí Việt Nam của tác giả Hà Tùng Long có tựa đề: “Những biến tướng

của tục bắt vợ” Bài viết xoay quanh về phong tục của dân tộc vùng cao “bắtvợ” vốn dĩ nó là nét văn hóa đẹp nhưng một số người lợi dụng nét đẹp đó đểđạt những mục đích không lành mạnh Tác giả cũng dẫn dắt phong tục ấy để

đưa vào tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu: “Tình yêu của đôi trai tài gái sắcngười H’Mông này bị ngăn trở bởi nhà Vừ nghèo, không có tiền cưới vợ CònSúa - bị Phống- một thanh niên nhà giàu lêu lổng cướp về làm vợ” Hay một

bài viết ở báo Tuổi trẻ online của tác giả Hoàng Thu Phố có giới thiệu đôi nét

về tiểu thuyết: “Sau Chúa đất, nhà văn Đỗ Bích Thúy vừa ra mắt tiểu thuyếtLặng yên dưới vực sâu Hơn 200 trang sách dẫn người đọc dõi theo câuchuyện của những chàng trai, cô gái Mông ở U Khố Sủ của mảnh đất địa đầu

Tổ quốc: Hà Giang” Bên cạnh các bài viết được đăng tải trên các bài báomạng, các diễn đàn thì còn có một số nhận định của các nhà phê bình viết về

tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu Theo nhà văn Phạm Ngọc Tiến, đó là “một

câu chuyện hấp dẫn, lạ lẫm, đầy hình ảnh về người Mông lạ kỳ, kiêu hãnh.Viết được như Đỗ Bích Thúy về dân tộc Mông giờ hiếm người theo kịp” Hay

Trang 11

lời nhận định của nhà phê bình Nguyễn Hải Nam: “Xung đột trong tác phẩmkhởi đi từ một vụ cướp vợ Nhưng tác giả không có ý lên án, phá bỏ một cổtục Chị chỉ mượn nó như cái cớ để nói về những quẩn quanh bế tắc mang

tính phổ quát của thanh niên nam nữ người miền núi Lặng yên dưới vực sâu,

đó là một nỗ lực “giải miền núi” trong cái viết của chính tác giả đã thành danh

ở mảng đề tài này.” Hay nhà phê bình Phùng Gia Thế đã nhận định: “Một thếgiới nhân vật ám ảnh, một cộng đồng thiểu số gai góc, dữ dội, đầy rẫy bất

hạnh khổ đau nhưng luôn kiêu hãnh làm người Lặng yên dưới vực sâu như

một điệu khèn hoang dã, u sầu nhưng chất chứa khát khao yêu thương nhân

bản.” Đa số các bài viết về tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu chưa thực sự

phong phú về số lượng và chiều sâu về mức độ khảo sát Các bài viết mới chỉnghiên cứu nhìn nhận một cách tổng quát tiểu thuyết mà chưa có công trìnhnghiên nào đi sâu vào các bi kịch của tác phẩm, nhìn nhận tiểu thuyết từ phạmtrù thẩm mỹ của cái bi kịch Do vậy, tôi mạnh dạn đặt bút nghiên cứu vềmảng đề tài này, hi vọng sẽ mở ra một hướng tiếp cận mới cho tác phẩm

3 Mục tiêu, nhiệm vụ của khóa luận

3.1 Mục tiêu của khóa luận

Mục đích nghiên cứu chủ yếu của khóa luận được tác giả xác định như sau:

- Chỉ ra các dạng thức bi kịch trong tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu

của Đỗ Bích Thúy

- Trên cơ sở phân tích, khái quát các kiểu loại bi kịch trong tiểu thuyết

Lặng yên dưới vực sâu, chúng tôi nêu lên ý nghĩa giáo dục thẩm mĩ của tác

phẩm đối với người đọc

3.2 Nhiệm vụ của khóa luận

- Xác định các vấn đề lí thuyết nền tảng về phạm thẩm mĩ cái bi kịch,xem đó như là công cụ quan trọng giúp tác giả khóa luận giải quyết vấn đề đặt

ra trong đề tài nghiên cứu

Trang 12

- Vận dụng lý thuyết mỹ học về cái bi kịch vào việc phân tích, lí giảitác phẩm nói trên nhằm thực hiện các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là phạm trù thẩm mĩ cái bi kịch

được nhà văn kiến tạo thông qua thế giới nhân vật trong tác phẩm Lặng yên

dưới vực sâu.

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu chính của khóa luận là tập trung khảo sát tiểu

thuyết Lặng yên dưới vực sâu của Đỗ Bích Thúy Bên cạnh đó, chúng tôi

cũng bao quát thêm một số tác phẩm văn học hiện đại khác, phục vụ cho thaotác so sánh nhằm làm nổi bật vấn đề nghiên cứu ở một phương diện nào đó

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp chủ yếu sau:

- Phương pháp phân tích đối tượng theo quan điểm hệ thống

- Phương pháp đối chiếu, so sánh

- Vận dụng kiến thức mỹ học, đặc biệt là lí thuyết về phạm trù thẩm mỹ

cái bi kịch để phân tích, lí giải tác phẩm Lặng yên dưới vực sâu.

6 Đóng góp của khóa luận

Đề tài nghiên cứu đi sâu khám phá tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu

từ phương diện phạm trù thẩm mỹ cái bi kịch Qua đó, chúng tôi mong muốngóp thêm một cách đọc, một lối diễn giải mới về tác phẩm Từ đó, chỉ ra cácdạng thức bi kịch đồng thời nêu lên ý nghĩa giáo dục thẩm mỹ của tác phẩmđối với đời sống

7 Bố cục của khóa luận

Khóa luận bao gồm các phần: mở đầu, nội dung và kết luận

Phần nội dung của khóa luận được chia thành ba chương:

Trang 13

Chương 1: Khái quát về cái bi kịch

Chương 2: Các dạng thức bi kịch trong Lặng yên dưới vực sâu.

Chương 3: Ý nghĩa giáo dục thẩm mỹ từ phạm trù cái bi kịch trong tiểu

thuyết Lặng yên dưới vực sâu.

Trang 14

NỘI DUNG Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ CÁI BI KỊCH

1.1 Khái niệm cái bi kịch

Cái bi trong tiếng Anh là the tragic, tiếng Pháp là La tragicque, tiếngĐức là Das Tragisch, đều có nghĩa là cái chết, nỗi thống khổ.[23]

Cái bi là phạm trù mỹ học cơ bản chỉ sự thất bại hay cái chết của cáiđẹp trong cuộc đấu tranh không khoan nhượng với lực lượng đối lập; là thắnglợi của lực lượng phản động, lạc hậu trước các lực lượng cách mạng, tiến bộ;

là những hy sinh, tổn thất mà phía cách mạng phải gánh chịu trong cuộc đấutranh với giai cấp lạc hậu [12, tr.13]

1.2 Phân loại bi kịch

Theo các nhà Mỹ học, bi kịch được chia thành các loại chủ yếu sau đây:

1.2.1 Bi kịch cái mới trong thế yếu

Ðây là loại bi kịch có tính chất lịch sử “Bản chất thẩm mĩ của cái bi

trong loại bi kịch này là sự xung đột giữa yêu cầu tất yếu về mặt lịch sử vàtình trạng không thể thực hiện được trong thực tế” (C Mác) Cái mới, cáicách mạng đang trong thế yếu, chết, hoặc thất bại Nhân vật của cái bi nàychết một cách vĩ đại vì họ đang đại diện cho trào lưu lịch sử Họ trở nên anhhùng vì động cơ, hành động, do trách nhiệm trước lịch sử Lịch sử mãi mãi cangợi sự thất bại của nghĩa quân Yên Thế với cái chết của Hoàng Hoa Thám.Hoặc lịch sử sẽ ghi nhớ mãi mãi Phạm Hồng Thái với tiếng bom Sa Ðiện

1.2.2 Bi kịch của cái mới trong hoàn cảnh trớ trêu

Ðây cũng là cái bi lịch sử, bi kịch lịch sử Cái mới cách mạng đã ở thếthắng trên toàn cục Nhưng một bộ phận nào đó lâm vào hoàn cảnh trớ trêu,khiến người anh hùng sa cơ Chẳng hạn, Chiến bại, Ðội cận vệ thanh niên củaPhađêép; Hùng & Rin trong Bài ca con chim Chơrao; Võ Thị Sáu trong Mùahoa lêkima

Trang 15

1.2.3 Bi kịch sự lầm lạc của cái cũ

Cái cũ muốn trở thành cái bi, theo Mác, phải xét theo 3 tiêu chí: 1, Cái

cũ chưa mất hết vai trò lịch sử, chưa trở thành cái xấu 2, Bản thân cái cũ còntin vào tính chất hợp lý của mình 3, Những con người đứng về phía chế độ cũkhông phải là sự lầm lạc có tính chất cá nhân, mà là sự lầm lạc có tính chấtlịch sử toàn thế giới Chính vì vậy, cái chết của nó là bi kịch (Mác) Bản chấtcái bi của sự lầm lạc của cái cũ là do chưa nhận ra được tính tất yếu về mặtlịch sử Chẳng hạn, Ðônkihôtê Ông ta có lý tưởng nhưng lý tưởng lạc hậu,đấu tranh cho lí tưởng nhưng không ý thức được rõ ràng nó mà chỉ hành độngtheo thói quen Nhưng người như Ðônkihôtê thất bại là tất yếu Vì, đơnphương độc mã Sự thất bại của vua Duy Tân và việc bị Pháp bắt đày đến trọnđời, cũng là một ví dụ

1.2.4 Bi kịch của cái xấu

Ðây là bi kịch của chính tội ác, chứ không phải bi kịch của cái đẹp, cáitốt hay sự lầm lạc Ở đây người ta không lấy nước mắt răn đời, không lấy xótthương làm luyến tiếc Mà lấy sự khủng khiếp để nhắc nhở con người chớ làmđiều khủng khiếp Aristốt nói về đặc trưng thẩm mĩ của loại bi kịch này: Bikịch làm trong sạch hóa những cảm xúc tương tự qua cách khêu gợi sựthương xót và khủng khiếp Chẳng hạn bi kịch của cái xấu qua vở kịchMacbét Ở bi kịch này, lòng tham và tội ác bị trừng trị Ðây là một bi kịchchính trị- xã hội Tác giả lên án chế độ tập quyền chuyên chế triều Giêm I, tênvua bạo tàn Anh quốc đầu TK XVII

1.2.5 Bi kịch của sự lầm lạc, kém hiểu biết, ngu dốt

Bi kịch này được nêu ra như là bài học xương máu trên đường đời đểnhắc nhở cảnh tỉnh Bi kịch về sự kém hiểu biết liên quan đến sự ngu dốt của

con người Sự ngu dốt là con quỷ mà chúng ta e rằng nó còn gây ra nhiều bi

kịch Chẳng hạn, câu chuyện An Dương Vương; bi kịch Othello; bi kịch Êđíp làm vua; Truyện Người con gái Nam Xương.

Trang 16

Thuộc về cái bi này còn có bi kịch do tai nạn, sức mạnh mù quáng của

tự nhiên Ví dụ, cái chết của người đi thám hiểm

1.2.6 Bi kịch của những khát vọng cá nhân chính đáng

Ðây là bi kịch những nỗi đau đời thường tình (lẽ sống, tình yêu, sứmệnh con người, nói chung) Ở bi kịch này, xung đột gay gắt giữa khát vọngchính đáng của con người và khả năng của bản thân không thể thực hiện

được Ví dụ bi kịch của Thị Kính trong chèo Quan âm Thị Kính; của Maxlôva trong tiểu thuyết Phục sinh của L.Tônxtôi, của Thúy Kiều trong Truyện Kiều

của Nguyễn Du

1.3 Đặc trưng thẩm mĩ của cái bi kịch

1.3.1 Cái bi là sự xung đột giữa yêu cầu tất yếu về mặt lịch sử với việc không đủ khả năng thực hiện được yêu cầu đó trong thực tiễn

Bản chất thẩm mĩ của cái bi là sự xung đột dẫn đến mất mát đauthương Song, không phải mọi sự xung đột dẫn đến mất mát đau thương đều

là cái bi Cơ sở để xem xét việc nảy sinh cái bi là sự xung đột giữa yêu cầu tấtyếu về mặt lịch sử với việc không đủ khả năng thực hiện được yêu cầu đótrong thực tiễn (C Mác) Như vậy, những xung đột thông thường của đờisống không phải cơ sở nảy sinh cái bi Chẳng hạn, những xung đột giữanhững anh chàng nghiện rượu, tranh giành đất đai để rồi chém giết nhau Do

đó, những chết chóc đau khổ thường tình không nằm trong phạm trù cái bicủa mỹ học Nghệ sĩ Anh thế kỷ XIX, John Ruskin phân biệt: “Thơ chỉ có thểlên tiếng với nỗi buồn của cô gái khóc cho tình yêu trong trắng bị tan vỡ, chứkhông thể viết về giọt nước mắt của kẻ hà tiện đánh mất tiền” Ở đây có hailoại nước mắt, nước mắt cúa cái bi (nước mắt của cô gái) và nước mắt của cáihài (nước mắt của anh chàng hà tiện) Chỉ thuộc về cái bi những hy sinh tổnthất có ý nghĩa xã hội mang tính quy luật trong sự phát triển lịch sử

Bi kịch cá nhân xảy ra trong tình yêu, trong gia đình, ngoài xã hội cũng

có thể là cái bi, nếu đằng sau nó cũng chứa những xung đột xã hội, mang tầm

Trang 17

vóc lịch sử Chẳng hạn bi kịch số phận Chí Phèo (trong Chí Phèo), Hămlét(trong Hămlét), Mácbet (trong Mácbét), Lỗ Thị Phượng (trong Lôi vũ) Các

bi kịch xã hội như thoái trào cách mạng, tổn thất lớn lao của cuộc chiến đấucủa quần chúng cách mạng cũng thuộc về cái bi Chẳng hạn, phong trào Công

xã Pari, 1871 ở Pháp

1.3.2 Bi kịch làm trong sạch hóa những cảm xúc

Bi kịch có tác dụng to lớn trong việc thanh khiết hóa tâm hồn conngười Aristốt, nhà triết học, mĩ học thời Hy Lạp cổ đại cho rằng: Bi kịch là sựbắt chước các hành động nghiêm túc và cao thượng, hành động này có mộtquy mô nhất định, Bi kịch nhằm miêu tả những con người tốt nhất Nhân vật

và lực lượng bi kịch có sức mạnh lớn lao, có ý chí mạnh mẽ, có lý tưởng đẹp

đẽ, có khát vọng chân chính Nhân vật bi kịch thất bại thậm chí bị tiêu diệt.Nhưng đặc trưng thẩm mĩ của cái bi lại không bi Aristốt cũng đã từng khẳngđịnh: “Bi kịch làm trong sạch hóa những cảm xúc thông qua sự khêu gợi sựxót thương và khủng khiếp Cảm xúc thẩm mĩ đối với cái bi vẫn là tình cảmtích cực, vẫn là vui, phấn chấn Chứ không phải là cảm xúc bi quan, tiêucực”

Mỹ học tôn giáo nhấn mạnh tính chất công bằng của việc trừng phạtcon người và những tội lỗi muốn mưu toan chống lại thế giới Cách giải thíchnày tạo ra ở con người trạng thái nhẫn nhục, chịu đựng, phục tùng số mệnh,định mệnh Mỹ học tư sản quan niệm cái bi như là sự bi đát của con ngườitrước cuộc đời; như là sự xung đột vĩnh hằng giữa thân phận nhỏ nhoi của conngười và sự vĩnh hằng bất tận của tạo hóa Mĩ học phong kiến phương Ðông,cũng bị chi phối khá nặng nề của tư tưởng định mệnh Ôn Như Hầu NguyễnGia Thiều từng giải thích về tiếng khóc chào đời của con người lúc sơ sinh:

Thảo nào khi mới chôn rau

Ðã mang tiếng khóc ban đầu mà ra

Trang 18

11Thực ra, xung đột bi kịch dấy lên ở con người những rung động thẩm

mĩ sâu sắc Nó khơi dậy ở con người tình cảm cao cả, lành mạnh, kích thích

Trang 19

những hành động mãnh liệt, thúc đẩy con người đấu tranh vì hạnh phúc, tôiluyện con người.

1.3.3 Cảm xúc thẩm mĩ của cái bi là cảm xúc vui

Tại sao cảm xúc thẩm mĩ trong bi kịch lại là cảm xúc vui? Khi nhìnnhững diễn viên trình diễn những bi kịch, ta nhỏ lệ biểu lộ sự đồng tình haylòng trắc ẩn, mà mặt mày như tươi tỉnh sáng lạn, tâm tư dàn trải thoải mái.Máu và nước mắt thường đem lại cho ta những ý nghĩ ngọt ngào tươi mát hơn

là những nụ cười hoan hỉ Vậy cảm xúc vui tươi trong bi kịch do đâu mà có?Phương Tây có nhiều cách giải thích khác nhau

Platon, với quan điểm của mình là xuất phát điểm cho thuyết Vui cườitrước tai họa của thiên hạ, ông cho rằng nỗi sầu muộn là những đức tính yếukém của con người, cần phải vứt bỏ Ấy vậy mà bi kịch lại kích thích nó lên.Như thế là không đạo đức J J Rousseau tiếp tục thuyết này, cho rằng bi kịch

là biểu lộ niềm hân hoan khoái lạc trước tai họa Cho nên, ông khuyến cáongười ta chớ nên mở kịch trường Sau này E Faguet khai triển tư tưởng của J

J Rousseau, cho rằng: con người là một mãnh thú, tìm khóai lạc trước đau khổcủa kẻ khác Ông chứng minh điều đó ơ: những cuộc thi đấu giữa người và thútrong thời Lamã; những cuộc đấu bò rừng ở Tâyban nha, những vụ hành hìnhtàn khốc đối với kẻ khác tôn giáo thời Trung cổ; người ta thích đọc báo vềnhững tin tức các vụ đâm chém nhau Thực ra, nếu đúng như vậy thì việc gìphải bỏ tiền ra xem những cảnh tưởng tượng mà không tìm đến những cảnhthực

E Burker (Anh quốc thế kỉ XVIII) đưa ra thuyết ngược lại với thuyếttính ác, là thuyết tính thiện Cảm giác vui trong bi kịch là do lòng trắc ẩn, hayđồng tình tâm Chính những sự rủi ro bất hạnh ấy cũng khiến ta cảm thấykhoan khoái Con người ta thích pháp trường hơn kịch trường Nghĩa là,

Trang 20

13chúng ta thương xót cho Hămlét, nên rất vui khi thấy nhân vật này chết mộtcách bi thảm.

Trang 21

Dubos (Pháp quốc, thế kỉ XVII), Thomas (đại học Colombia) lại giảithích bằng nguyên nhân tâm lí Theo họ, bản tính con người vốn hiếuđộng, thích những cảm giác mạnh Sự kích thích càng mạnh thì cảm xúc vuicàng đậm Bi kịch là liều thuốc công hiệu giúp con người vui Bi kịch lấy chếtchóc làm đề tài Mà, chết là tai họa khủng khiếp Do đó, bi kịch là đá namchâm mạnh nhất gây kích động cho óc tưởng tượng Nhưng thế thì, tại sao taihọa thực ngoài đời không làm cho con người thích Nhưng tai họa tưởngtượng trong nghệ thuật lại làm người ta thích Fontenelle cho rằng khoái lạc

và đau khổ tuy khác nhau nhưng nguyên nhân chỉ là một Giống như sự gãicào ngoài da, gãi cào mạnh thì đau, nhẹ thì thích thú Bi kịch là đem những sựđau khổ thực lên sân khấu Tuy đó là thực tại, nhưng lại không phải là thựctại Những cảm giác đau khổ khi đứng trước những nạn nhân vô cớ bị tai họagiảm bớt đi, thành ra những nỗi vui thích

Schiller & Hegel (Ðức quốc thế kỉ XVIII) dùng quan điểm triết học đểgiải thích Sự xung đột vũ trụ là điều tất yếu Có xung đột thì có đấu tranh,đấu tranh mới có ý thức đạo đức, có ý thức đạo đức mới tìm thấy khoái lạc

Nguồn vui lớn nhất sẽ đạt được từ sự phấn đấu cam go với nghịchcảnh, trong đó chứa đựng đau khổ Vũ trụ là một khối lý tính vừa xung đột,vừa hài hòa Ví dụ sự xung đột của con người vừa muốn làm trung thần, vừamuốn làm người con hiếu thảo Mâu thuẫn này không thể dung hoà, trở thành

bi kịch Ðứng trên quan điểm vũ trụ thì bi kịch là luật của tạo hóa, là công lý

vĩnh cửu Khi xem kịch ta thấy được tính chất công lý vĩnh cửu, do đó ta

khoái Những người này viện dẫn vở bi kịch Ăngtigôn của Sôphốcl: Polinicecon của quốc vương xứ Thèbes sau khi cha chết, mượn lính nước địch đểgiành ngôi vua Tân vương Créon giết kẻ phản bội, cho cho phơi thây, cấmmai táng Antigon, em ruột của Polinice, cháu ruột Créon không nỡ nhìn thihài anh ruột phơi, nên tìm cách che đậy Nàng đính hôn với con trai Creon là

Trang 22

Hemon Antigon bi xử chém Hemon tự treo cổ cho vẹn tình Theo Hegel,Créon đại diện cho lý tưởng pháp luật, Antigon đại diện cho lí tưởng anh em.Hai lý tưởng đều chính đáng nhưng trên quan điểm vũ trụ thì mâu thuẫn.Schopenhauer lại cho rằng đời là bể khổ, con người ngụp lặn trong tai họanghiệp chướng nhưng không chịu khước từ bởi doý dục sinh tồn kiềm chế Bikịch dạy cho con người biết ý thức tất cả đều hư không để thoạt nhiên đạingộ Nhân vật bi kịch khác người ta ở chỗ biết rõ tình thế mà buông tay đầuhàng, biết khước từ (Còn ta bị dục vọng kìm hãm) Nhưng chính khước từ làthắng lợi Quả là nhiều nhân vật bi kịch trước khi hấp hối đã khước từ Nhưngkhông phải mọi nhân vật bi kịch đều khước từ Macbeth chết than trời,Othello trong khi tự sát cũng hận người (không khước từ) Triết gia Ðức thế

kỉ XIX, Nietzsche cho rằng thế giới đầy tai họa nghiệp chướng nhưng nếu tavứt bỏ được những ràng buộc, bủa vây của thế giới thực tại đầy hẹp hòi đểđứng trên cao nhìn lại, thì lại thấy nó là một bức tranh kỳ vĩ, đẹp lạ lùng.Cũng như Thượng đế sau khi sáng tạo ra vũ trụ, tự mình nhìn lại, nó như mộttác phẩm nghệ thuật

Freud với lí luận về mặc cảm Oedipus, cho rằng văn minh là cái vỏ cheđậy tâm địa dã man của con người Tâm địa chứa chất dục vọng, mà mãnh liệtnhất là tính dục Nhưng dục vọng và đạo đức, pháp luật mâu thuẫn dẫn đếndục vọng bị dồn ép thành mặc cảm Mặc cảm không phát tiết được có thể phátsinh bệnh thần kinh hay thác loạn Có lúc dục vọng có thể hóa trang để có thểvượt khỏi sự kiểm soát của ý thức Bi kịch là một hiện tượng, một biểu hiện.Mặc cảm này được gọi mặc cảm Oedipus Mỗi người đều có mặc cảmOedipus Khi xem vở kịch này dục vọng ta được thỏa mãn một cách gián tiếp,cho nên ta phát sinh niềm vui trong khi xem kịch

Tất cả những kiến giải vừa nêu đều không giả thích được một cáchđúng đắn nguyên nhân cái vui trong bi kịch Vậy nguyên nhân đúng đắn là ở

Trang 23

đâu? Bi kịch là một thứ tác phẩm nghệ thuật, xem bi kịch là một thứ kinhnghiệm mĩ cảm Kinh nghiệm mĩ cảm xuất hiện khi ta trực giác hình tướng sựvật Trong lúc thưởng ngoạn ta quên hẳn lợi hại của thực tế mà đứng ở địa vịkhách quan để quan sát, coi vũ trụ và đời sống là một bức tranh Tai họa thựctrong đời sống khiến ta thương xót và lo sợ, nhưng tai họa trong kịch, saugiây phút lo sợ là nguồn vui Sở dĩ như vậy là vì, khoảng cách tâm ly.ï Giữangười xem và những cảnh trên sân khấu có một khoảng cách không quá xa,không quá gần Không quá xa, để thấy rằng sự kiện trên sân khấu là hợp lý,hợp tình Không quá gần, để xem không ngộ nhận bi kịch trên sân khấu làcuộc sống thực tế Phàm bi kịch chân chính thì không được tả thực Phàmkhán giả kịch chân chính thì không cho tình cảm thực dụng xen lấn vào mĩcảm Những tình cảm phát tán trong bi kịch khác tình cảm phát tiết trong thực

tế Trong tâm tư khán giả, thế giới kịch là biệt lập, không liên can đến lợi hạithực tế Khi thưởng ngoạn kịch, khán giả hội tụ tinh thần, bị sức lôi cuốn củasân khấu, do đó cũng sống hăng say, cũng hoạt động phát tán tình cảm.Nhưng phát tán này kèm theo sự sảng khoái, khác kinh nghiệm thường nhật làđèo bòng phiền lụy, bực bội, lo âu

Hơn nữa, cảm xúc vui trong bi kịch, xuất phát từ chỗ, không phải cáichất, hay sự thất bại của con người Mà là, ở chỗ con người dám chấp nhậnthất bại, dám hi sinh vì những lí tưởng cao cả

1.4 Cái bi kịch trong văn học

Cái bi tạo ra một cảm xúc thẩm mĩ phức hợp bao hàm cả nỗi xót đau,niềm hân hoan lẫn nỗi sợ hãi khủng khiếp Cái bi thường đi liền với nỗi đau

và cái chết, song bản thân nỗi đau và cái chết chưa phải là cái bi Chúng chỉtrở thành cái bi khi hướng tới và khẳng định cái bất tử về mặt tinh thần củacon người Cái bi là cơ sở quy định đặc trưng của xung đột ng h ệ t h u ậ t t rongthể loại bi kịch Đó là loại xung đột được tạo nên bởi hành động tự do của

Trang 24

nhân vật trong việc thực hiện cái tất yếu mà nó tự thấy trước là không tránhkhỏi bị giết chết như nhân vật trong bi kịch anh hùng hoặc không thấy trướcnhư trong bi kịch về sự lầm lạc

Bi kịch, về bản chất ca ngợi, khẳng định sự bất tử của con người vàphát hiện những phẩm chất cao đẹp, anh hùng của nó Hê-ghen cho rằng,trong bi kịch cái chết không chỉ là sự hủy diệt Nó còn có nghĩa là sự bảo tồndưới hình thức biến dạng cái mà trong hình thức có sẵn cần phải bị tiêu vong.Ăng-ghen thì cho rằng cội nguồn của cái bi là “xung đột giữa đòi hỏi tất yếu

về mặt lịch sử với tình trạng không thể thực hiện được nó trong thực tiễn”

Trong văn học - nghệ thuật, cái bi qua mỗi thời đại vừa không thay đổi(ví dụ cảm hứng duy nhất về mặt loại hình), lại vừa dễ thay đổi (về mặt bảnchất xã hội - lịch sử thể hiện ở tính chất, hình thái xung đột)

Chẳng hạn trong bi kịch của Sếch-xpia, cái bi là cái xung đột giữa ýthức cá nhân của con người với thời đại và thiết chế xã hội cũng như chínhbản thân mình Còn trong bi kịch của c h ủ n gh ĩ a c ổ đ i ể n thì nó lại là xung độtgiữa dục vọng, khát vọng cá nhân với tinh thần nghĩa vụ quốc gia

Trong văn học - nghệ thuật ngày nay, cái bi được khám phá và thể hiệntrên nhiều khía cạnh và từ trong cội nguồn lịch sử - xã hội của nó Ở đây, cáibất tử của nhân vật được thực hiện trong cái bất tử của nhân dân, vì thế cái bimang tính chất lạc quan lịch sử

Trang 25

Chương 2: CÁC DẠNG THỨC BI KỊCH

TRONG TIỂU THUYẾT LẶNG YÊN DƯỚI VỰC SÂU

Trong cuộc sống, ẩn chứa muôn vàn những điều hay, những điều tốtđẹp Nhưng song song với nó lại là những điều tồi tệ, những bi ai, sầu muộn.Cũng giống như một bức tranh cuộc sống, có mảng tối, mảng sáng, có nhữngmảng loang lổ cả sáng cả tối, nó tạo nên bức tranh cuộc sống muôn màumuôn vẻ Có tốt, có xấu, có vui, có hạnh phúc, có bi kịch Con người trongbức tranh cuộc sống cũng không tránh khỏi những lẽ tự nhiên ấy, khi conngười tác động vào lẽ tự nhiên cũng tạo nên bi kịch Trong các loại bi kịch,hầu hết lại bắt nguồn từ các mâu thuẫn, đối kháng giai cấp, đấu tranh giai cấpđối kháng về lí tưởng xã hội, dẫn đến những cuộc cách mạng do điều kiện vềmọi mặt chưa chín muồi đã rơi vào tình huống bi kịch Đôi khi bi kịch lại nốitiếp bi kịch, bi kịch của cá nhân, bi kịch của xã hội, bi kịch của xung đột, bikịch của mâu thuẫn trong các mối quan hệ giữa người và người, giữa tự nhiên

và xã hội Cái bi với tư cách là một phạm trù mỹ học cũng tồn tại trong cuộcsống và trong nghệ thuật, song chúng tồn tại dưới các dạng thức khác nhau.Trong tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu của nhà văn Đỗ Bích Thúy cũngđược chia thành các dạng thức khác nhau nhìn từ phạm trù mỹ học

2.1 Bi kịch từ hủ tục cướp vợ

Cộng đồng người H’Mông có rất nhiều phong tục tập quán đẹp như lễhội, tang ma, cưới xin, đặc biệt là tục “bắt vợ” Phong tục đó được nhắc đến

trong tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu của nhà văn Đỗ Bích Thúy Để tạo

được “chất miền núi”như vậy là nhờ nhà văn Đỗ Bích Thúy sinh ra ở HàGiang, đã từng làm việc nhiều năm ở đây và phần lớn tác phẩm viết về ngườiH'Mông cho biết: "Người H'Mông không gọi là "cướp vợ", đó là ngôn ngữcủa người Kinh, mà họ gọi là "kéo vợ" Đây là một phong tục đẹp, xuất phát

Trang 26

từ thực tế có những chú rể nghèo không thể đáp ứng được yêu cầu thách cưới.Gia đình hai bên bàn cách chọn một ngày nào đó cho chú rể "kéo" cô dâu về.Tục kéo vợ này không chỉ người H'Mông mới có mà còn có nhiều dân tộckhác Theo thời gian phong tục đã bị biến tướng, ở một số nơi lợi dụng điềunày để cướp vợ Tiểu thuyết này có đề cập đến chuyện đó"

Bắt vợ trong đời sống của người Mông vốn là một tục lệ mang ý nghĩanhân văn khi nó là một giải pháp để những đôi trai gái yêu nhau mà bị ngăntrở bởi gia đình và những thủ tục thách cưới đắt đỏ có thể đến được với nhau.Nhưng khi tập tục ấy bị lợi dụng sẽ trở thành hủ tục gây những hệ lụy không

hề nhỏ, đặc biệt là với thân phận người phụ nữ Vừ và Súa, đôi trai gái có mộtmối tình đẹp đẽ nhất U Khố Sủ nhưng hoàn cảnh ngăn cản họ đến với nhau.Nhà Súa nghèo, nhà Vừ còn nghèo hơn, bố Vừ mất sớm, mẹ đi lấy chồng, Vừ

ở với ông bà nội làm nghề rèn Tính ra cái nghề đó cũng sống tốt được nhưng

vì cái nợ hai con bò từ đám ma bố Vừ để lại nặng quá trả mãi không hết Súathương Vừ đồng ý cho Vừ bắt về và đỡ cho Vừ một ít bạc trắng, chỉ còn cách

đó để hai người có thể thành vợ chồng đó là thực hiện thủ tục bắt vợ Nhưngdưới đêm trăng hẹn hò ấy, người cõng Súa về giường của mình không phải là

Vừ mà là Phống Trong thời khắc quan trọng khi Vừ đang trên đường đến chỗhẹn với Súa thì một bóng người lạ mặt thông báo là ông nội có chuyện, khôngsuy nghĩ gì Vừ chạy một mạch về thẳng nhà nhưng về đến nhà mới biết mình

đã bị lừa Mặc cho tiếng gọi thất thanh của ông bà, Vừ băng băng đến chỗ hẹnnhưng Súa không ở đó để đợi Vừ nữa rồi, Súa đã bị bắt về nhà Tráng APhống Phống đã dùng thủ đoạn, sơ hở của Vừ để cướp Súa

Cũng từ biến cố này các nhân vật của Lặng yên dưới vực sâu như

những tảng đá trên cao nguyên lăn lông lốc vào một vòng yêu hận tình thùđầy bi ai Hai con người yêu nhau có mối tình đẹp nhất khu cao nguyênnhưng lại không có một cái kết viên mãn Rào cản của hủ tục, của sự bóp méo

Trang 27

cái văn hóa tưởng chừng là đặc trưng đẹp nơi xứ sở Đồng Văn đã khiếnnhững kiếp người đi vào những bi kịch, ngày một lún dưới vực sâu.

Phống là người lên kế hoạch hoàn hảo cho việc cướp vợ, và Phống đãđạt được mục đích ấy Tưởng chừng Phống sẽ hạnh phúc nhưng cuộc hônnhân ép buộc đó khiến một con người làm mưa làm gió ở khu U Khố Sủ,không sợ một ai mà giờ đây Phống đã rơi nước mắt vì người con gái màPhống đã cướp về Suy cho cùng, hủ tục “cướp vợ” là phương tiện để Phống

có được Súa nhưng cũng vì nó mà cuộc đời chàng trai ấy từ đó về sau cứ luẩnquẩn trong cái khổ, và dần dần đến gần hơn bên vực thẳm

Bằng sự nhạy cảm và lòng trắc ẩn của một người nghệ sĩ, Đỗ BíchThúy muốn người đọc, người xem cảm nhận phong tục này dưới một gócnhìn khác, đầy nhân văn Có nhiều đôi nam nữ Mông yêu nhau nhưng vì tiềnthách cưới quá cao mà họ có thể sẽ chẳng thành vợ, thành chồng Nên đểđược ở bên nhau trọn đời, các chàng trai Mông đành phải cướp vợ Như vậy,cướp vợ không chỉ là một hủ tục như mọi người vẫn nghĩ Tục lệ này đã gián

tiếp tác thành cho nhiều đôi lứa nên duyên Lặng yên dưới vực sâu cũng đem

tới cho công chúng bức tranh hoàn toàn mới về cuộc sống của đồng bào dântộc trong thời buổi kinh tế thị trường Sức mạnh của đồng tiền đã làm nhữngtâm hồn vốn hoang sơ, hồn nhiên như cây tam giác mạch chịu nhiều chấnđộng Xung đột trong tác phẩm được khởi lên bởi một vụ cướp vợ trong đêmkhuya, phá vỡ tất cả hi vọng và cuộc đời tươi đẹp của đôi bạn trẻ người Mông

Vừ và Súa Thay vào đó là cuộc hôn nhân cưỡng bức và tăm tối của Phống vàSúa để kiếm tìm hạnh phúc và sự thừa nhận Xây dựng xung đột này, Đỗ BíchThúy không cố ý lên án, phá bỏ một hủ tục Nữ nhà văn chỉ mượn nó như làcái cớ để nói về những quẩn quanh, bế tắc mang tính phổ quát của thanh niênnam nữ miền núi

Trang 28

2.2 Bi kịch bởi hoàn cảnh

2.2.1 Cuộc sống nghèo khổ, thiếu túng

Lặng yên dưới vực sâu cho người đọc tìm đến chốn núi rừng phía BắcNgười đọc cảm thấy mình như đi lạc vào một thế giới khác với những đỉnhnúi sương giăng cao chót vót, những vực sâu hun hút gió gào, những nươngrẫy đầy đá tai mèo, Tuy nhiên, bên cạnh những điều tươi đẹp như cuộc sốnghài hòa với thiên nhiên, giản dị chất phác đôn hậu là sự đói nghèo thiếu thốn

về vật chất khiến con người phải lao động quần quật suốt ngày, nhất là nhữngngười phụ nữ, làm họ luẩn quẩn trong tăm tối của cuộc đời không tìm đượclối thoát khi vướng vào những rắc rối chấp nhất

Vừ - chàng trai người Mông tài giỏi, tốt bụng đem lòng yêu Súa - côgái Mông xinh đẹp, mạnh mẽ Nhưng tình yêu của họ bị ngăn trở bởi nhà Vừnghèo, không có tiền cưới vợ Vừ sống với ông bà nội đã già yếu trong cănnhà nhỏ đơn sơ, tạm bợ trên vách núi cao Cả gia đình tài sản lớn nhất là cáibúa gia truyền làm nghề rèn Tính ra cái nghề đó cũng sống tốt được ở khurừng U Khố Sủ nhưng vì cái nợ hai con bò từ đám ma bố Vừ để lại nặng quátrả mãi không hết, lãi mẹ sinh lãi con Nợ từ lúc Vừ còn bé tí nay Vừ đã thànhmột chàng trai cường tráng vẫn chưa trả hết nợ Cái nghèo cái khổ từ gia cảnhcủa Vừ khiến chàng trai ấy tuột mất người con gái mà chàng yêu bằng cả tráitim mình Nếu có chút tiền thì Vừ đã đường đường chính chính đến hỏi Súathì đã không có chuyện thằng Phống nó cướp mất vợ và hàng loạt bi kịch đaukhổ cho cả ba đằng sau đó

Cuộc sống nghèo khổ nơi núi rừng hẻo lánh khiến con người nơi đâynhận thức còn kém cỏi, trong đó có Vừ Về nhân vật Vừ thì điều ấn tượngnhất là tình cảm của Vừ với ông bà nội và chất “hoang dã” đã ăn sâu trongbản chất không thể xóa bỏ, cho dù được gửi đến trường nội trú cho học hành

tử tế “Không chỉ Vừ mà cả ông cũng nhận thấy, đây không phải là nơi dành

Trang 29

cho Vừ Phải trả Vừ về với U Khố Sủ mới được Thằng trai Mông này phải ởtrên U Khố Sủ mới thành trai Mông được” Khi đọc về con người Tây Nguyêncũng mang tính cách đặc trưng này, không thể xa lìa rừng núi Nét văn hóa đã

ăn sâu trong máu thịt cả ngàn năm, truyền thừa qua biết bao thế hệ tộc ngườikhông thể thay đổi

Việc xảy ra với Vừ ở trường làm tôi nghĩ đến những chính sách vănhóa dành cho dân tộc thiểu số, đôi khi lố bịch và ngớ ngẩn đến buồn cười,mặc dù xuất phát từ tâm lý muốn giúp người dân tộc nâng cao đời sống vậtchất tinh thần, nhưng quá chủ quan duy ý chí và không hiểu được văn hóa tộcngười, như một kẻ ở trên nhìn xuống người thấp kém hơn, nên đã biến những

ý tưởng tốt thành việc làm xấu gây hậu quả nghiêm trọng Tuy nhiên, chínhngười dân tộc cũng phải thay đổi để chính mình có thể phát triển, sự thiếuhiểu biết sẽ làm cho con người mãi sống trong tăm tối

Nạn nhân tiếp theo của sự nghèo khổ, túng thiếu nữa là mẹ ruột củaPhống - bà Xây Vì đồng tiền bà đã chấp nhận bán danh dự của một người đàn

bà bằng giá một con bò Bà đã ngủ với ông Tráng như theo đề nghị của ông làphải có một thằng con nối dõi cho dòng họ tại vợ của ông không có khả năngsinh con Không tình yêu cũng không tình nghĩa, nó trở thành như một cuộcgiao dịch, một bên có tiền và một bên có con Vì thiếu túng bà đã phải nhẫnnhịn suốt những ngày mang thai Phống, sống như những ngày trong địa ngục,người ta cho ăn gì thì ăn đấy Sinh con xong, bà chưa được một lần làm trọnthiên chức của một người mẹ Đứa con mà ngay từ đầu nó là cuộc giao dịchnhưng dù gì thì đó là đứa con mà bà đã mang nặng đẻ đau Thế nhưng đứacon còn đỏ hỏn đã phải trao tay cho người khác, hoàn toàn không thuộc vềmình, từ đó trở đi bà không được một lần gặp lại con của mình nữa Một phần

là thằng Phống nó không xem bà là mẹ, với Phống chỉ có bà Mây (mẹ nuôi,

vợ của ông Tráng) mới là mẹ thực sự của nó Cả cuộc đời này nó chỉ yêu

Trang 30

Nghèo khổ bủa vây dai dẳng với những kiếp người như Vừ, mẹ ruộtPhống,… dẫn đến bao bi kịch đau lòng Trong số đó ta cần một nốt lặng khichứng kiến hệ quả của sự nghèo đói, tình người vùng cao qua cái chết của ôngnội của Vừ Một tai nạn bị rơi ở vách núi khiến ông nội Vừ cùng con ngựađều lật ngả sang thế giới khác Ông nội được tìm thấy khi hơi thở đã yếu dần,xương chân đã lòi ra, khắp người mềm như cành cây bị gãy, ông cố nói nhữngcâu cuối cùng với đứa cháu nội nhưng cũng không thành lời.Khi ông nghe đềnghị của đứa cháu là mang ông lên bệnh viện thì ông lập tức thều thào yếu ớt,xua tay: “Ông hỏng rồi cho ông về nhà” Một phần chắc ông không muốn bà

và Vừ gánh vác cái nợ sau khi ông mất, bởi gia đình đã quá khó khăn sau cáiđám tang của bố Vừ Thật tội nghiệp! Cả một đời người sống nhưng đếnnhững phút cuối cái nghèo, cái khổ cũng cướp đi tia hi vọng níu lấy mạngsống Vì nếu có cứu chữa có thể sống lại thì cũng không biết lúc nào mới trảhết nợ, còn nếu đến đó cũng không cứu vãn được thì càng bi kịch hơn, cuộcsông của Vừ và người bà già sẽ sống cả phần đời còn lại để trả số nợ đó Vậynên ông nội Vừ đã chọn cách muốn về nhà, ông đã trút hơi thở cuối trên lưngđứa cháu nội yêu quý của mình Theo phong tục người Mông, người sống ăn

gì, uống gì cũng được nhưng người chết phải được ma chay một cách tử tế vàđàng hoàng Gia đình Vừ đã khó khăn nên đến lúc ông nội chết thì cũng

Trang 31

không có gì để tổ chức Mọi người trong dòng họ đóng góp một ít giúp nhà

Vừ gọi thầy cúng vì họ không muốn nhà Vừ phải nợ thêm hai con bò nữa như

từ đam tang của bố Vừ

Bi kịch từ cuộc sống nghèo khổ, thiếu túng của những con người nhỏ

bé, thấp hèn trên khu rừng U Khổ Sú thật tội nghiệp Từ cuộc sống chật vật đóđưa những số phận của họ đến với những bi kịch khác nhau nhưng suy chocùng chúng đều nghiệt ngã, như những hòn đá lăn lông lốc trên vách núi, rồi

từ từ nó rơi xuống vực thẳm sâu

2.2.2 Sinh ra đã kém may mắn

Như một quy luật tất yếu của cuộc sống, không ai có thể chọn nơi mìnhsinh ra và lớn lên cũng như không có quyền sắp đặt cho mình những điều maymắn và tốt đẹp nhất Không ai mong mình bất hạnh, chả ai muốn mình là trẻlang thang, mồ côi hay khiếm khuyết Đó đều là những con người như chúng

ta nhưng chỉ có điều là thiếu may mắn hơn chúng ta Muốn về nơi tổ ấm lắm,ước ao mẹ kể chuyện Ước ao được đánh đòn, rồi được cho âu yếm Nhưngcác em đã không có quyền đựợc lựa chọn tương lai của mình sẽ ra sao, sẽ đi vềđâu

Một lúc nào đó, ta dừng lại, nép vào một góc để quan sát xung quanh…

ta giật mình khi thấy vẫn còn đó những mảnh đời bất hạnh biết bao Nhữngđứa trẻ lang thang cơ nhở, bị bỏ rơi ngay từ những ngày tháng đầu tiên củacuộc đời mình, những ngày tháng cuộc sống không êm đềm như những người

có ba có cha, có mẹ, có mái ấm gia đình, hay cơ thể không lành lặn, khiếmkhuyết… trên con đường mưu sinh, vật lộn với bao cãm bẫy, bao cái xấu, cái

ác, chúng không chỉ có mồ hôi mà còn là nước mắt và nỗi đau về thể xác cũng

như tâm hồn Trong tiểu thuyết Lặng yên dưới vực sâu cũng có những mảnh

đời kém may mắn Sinh ra họ đã khiếm khuyết về cơ thể như nhân vật Nhí,

Trang 32

25hay bà Mây Hay những mảnh đời khi sinh ra chưa cảm nhận trọn vẹn tìnhyêu thương của người cha người mẹ ruột bên cạnh mình như Vừ, Súa, Phống.

Trang 33

Nhân vật nữ phụ là Chía, cô là em dâu họ của Phống, bị câm bẩm sinh.Giống như trời già rất công bằng, cho cô tất cả những thứ con gái Mông mơước, xinh đẹp nhà giàu được cha và anh trai nâng niu nhưng không nói được,nên cũng không chàng trai nào để ý Chía trong liên tưởng của tôi giống nhưmột giọt sương trong suốt đọng trên đóa hoa mai trắng giữa núi đồi Một côgái với ánh nhìn trìu mến, nhẹ nhàng, đáng yêu nhưng không thể nói được Côgái chắc tầm mười ba, mười bốn Mặt tròn, hai má căng đỏ như hai quả đàochín Theo lời Súa “mặt nó xinh thật là xinh nhưng sao cứ buồn buồn nhưbông hoa không nở được” nó không nói được nhưng ánh mắt nụ cười của nónói lên mọi thứ, có lẽ chỉ có nó mới hiểu và thương Súa hơn cả Một cô bé bịcâm bẩm sinh nhưng rất biết điều, cô kém may mắn về cơ thể và bị giam lỏngtrong một cuộc hôn nhân không mấy vui vẻ nên cô càng ngày như bông hoakhông thể nở được.

Nếu Chía là cô gái bị câm thì Dính là chàng trai bị điếc và cả câm

“Thằng Dính là chồng Chía gọi Phống bằng anh họ Dính bị điếc sau một trận

ốm suýt chết lúc ba tuổi Vì bị điếc lúc đang tập nói nên dần dần Dính chả nóiđược luôn Dính lại hơi ngốc Cả nhà có mỗi thằng con trai, người thì lại nhưthế nên ai cũng chiều Dính chẳng phải làm gì hết, cũng không đi học Việccủa Dính là ăn với chơi Nhưng kế cả ăn với chơi cũng không làm cho tử tếđược Dính không ăn thịt, chỉ ăn cơm rau, người càng khó mà lớn Chơi thìtoàn chơi dại Thường bị bọn trẻ cùng lứa bắt nạt, xúi bậy Chả biết làm thếnào cho yên tâm.” [17, tr.60] Dính là một đứa trẻ hồn nhiên, không biết gì, lạimang trong mình dị tật bẩm sinh và bị cuốn vào vòng xoay của một cuộc hônnhân mà chính Dính trong cuộc cũng không biết nên làm gì Đầy bi kịch

Nhân vật kém may mắn tiếp theo là Vừ Vừ chưa cứng cáp thì cha mấtsớm, mẹ bỏ Vừ đi lấy chồng khác Từ nhỏ Vừ chưa cảm nhận được thế nào làgia đình có bố, mẹ, được ôm ấp, chăm sóc, vỗ về ấm áp từ hơi thở của mẹ, bờ

Trang 34

vô cùng, hiểu và cảm thông cho hoàn cảnh của mẹ, chỉ là bỗng chốc tia ích kỉcủa một đứa con về mẹ của mình trỗi dậy mà thôi Lúc mẹ mới đi lấy chồng,đêm nào Vừ cũng khóc, đêm nào cũng rúc vào nách bà, thấm nước mắt lên áo

bà Vừ giận mẹ, càng nhớ thì càng giận Từ lúc mẹ đi lấy chồng là khi Vừ cònnhỏ cho đến khi Vừ trở thành một chàng trai tuấn tú mẹ vẫn chưa một lầnquay trở về nói được với Vừ một câu Vừ nghĩ: “Mẹ chỉ biết vui cho mẹ thôi,

Vừ sống thế nào? Ông bà sống thế nào? Mẹ có cần biết gì đâu” Với mộtngười con không có mẹ ở bên từ lúc bé cho đến khi trưởng thành là một điềukém may mắn và tội nghiệp Vừ không có mẹ ở bên Vừ vẫn lớn lên, không có

mẹ Vừ vẫn có người yêu và không có mẹ Vừ cũng vẫn mất người yêu Mẹchẳng liên quan gì đến Vừ Nhưng tại sao nghĩ đến mẹ, giận mẹ Vừ lại buồnđến thế? Từ nhỏ Vừ cứ mong ngóng được mẹ về thăm, và lớn lên tí nữa biếttrách móc mẹ nhưng đến khi trưởng thành mẹ có trở lại và có nhắc đếnchuyện cưới vợ với thằng Lữ (em cùng mẹ khác cha của Vừ) thì tỏ vẻ ra khóchịu Khó chịu với mẹ vì mẹ không cần phải biết về việc Vừ sắp lấy vợ vìchuyện đó không có liên quan gì đến mẹ Có lẽ đó là sự phản xạ của một đứacon đang còn giận dỗi mẹ, quá khứ mẹ bỏ rơi đi lấy chồng vẫn còn chồng chấttrong lòng Vừ Nghĩ đến mẹ, Vừ thấy đau ở đâu đó không biết rõ, rất khóchịu Cũng hiểu thôi vì Vừ đã trải qua rất nhiều năm liền chỉ biết khóc: ngủcũng khóc, ăn cơm cũng khóc, thức cũng khóc Nhiều lúc Vừ tự hỏi: “Nướcmắt ở đâu ra mà lắm thế chảy suốt ngày, cứ nghĩ đến mẹ lại khóc” Nhiều lúcnhìn lên bầu trời cao nhìn thấy cánh chim bay, Vừ ước được một lần là nó để

Trang 35

bay đi tìm mẹ, tìm được mẹ rồi dù mẹ có về với Vừ hay không thì cũng phảitrả lời cho Vừ một câu: “Tại sao mẹ bỏ Vừ mà đi? Mẹ không thương Vừ haysao?” Nhưng Vừ chẳng bay được cũng chẳng biết mẹ đã đi đến đâu Vừ tựnhủ sau này lớn lên mình không cần bay cũng tự đi được, không cần hỏi cũngbiết mẹ ở nơi nào Thế nhưng khi đã đủ điều kiện để làm những việc ấy thì

Vừ lại không muốn làm nữa, bao nhiêu năm tháng không có mẹ Vừ đã có ông

bà nội Xưa kia cần thì mẹ không có, bây giờ thì không cần, sau này cũngkhông cần Có lẽ, chúng ta không thể trách bất cứ ai trong hành xử của mẹ vàthái độ của Vừ, bởi đứng ở một góc cạnh nào đó chúng đều có lí cả, đều đángthông cảm và chấp nhận Mẹ Vừ vì hoàn cảnh gia đình nhà chồng quá khókhăn, chồng lại mất, mình vẫn đang còn trẻ nên phải đi tìm con đường mớicho riêng bản thân, bà dám đi vì bà biết bên Vừ đã có ông bà nội yêu thương

Vừ sẽ hết mực dạy bảo và nuôi lớn Vừ một cách chân thành Còn phản khángcủa Vừ là điều có thể hiểu, Vừ chưa tìm được câu trả lời cho câu hỏi: “Tại sao

mẹ lại bỏ Vừ? Mẹ không còn thương Vừ nữa đúng không?” Cho tới bây giờchàng trai đến tuổi lấy vợ và đã gặp lại mẹ vẫn chưa tìm được đáp án, tronglòng Vừ vẫn luôn nặng nề và ác cảm Đó là sự giận dỗi có lí và tội nghiệp củamột đứa con

Nhân vật kém may mắn tiếp theo là Súa - cô nàng có vẻ đẹp xinh nhấtkhu U Khố Sủ nhưng trên khuôn mặt xinh xắn ấy có nét hơi đượm buồn Súamay mắn hơn Vừ là còn bố bên cạnh Hơn ai hết Súa là người yêu mẹ củamình nhất, không có từ nào có thể diễn đạt được Nhưng may mắn, hạnh phúckhông đến với Súa khi người mẹ mà Súa yêu quý lại qua đời sớm Con gáimới lớn rất cần mẹ ở bên để dễ dàng chia sẻ và tâm sự Mẹ ra đi, một mình bốnuôi Súa khôn lớn cho đến cái tuổi lấy được chồng thì bố đi bước nữa Súachưa bao giờ chấp nhận một người mẹ thứ hai để thay thế, bởi tình cảm củaSúa là không thể gượng ép được Từ bấy năm kể từ khi mẹ mất, Súa vất vả

Trang 36

hơn, buồn tủi nhiều hơn bởi bố cũng là đàn ông không thể thủ thỉ nhỏ nhẹ ởbên để chia sẻ, ôm ấp vỗ về gánh nặng cho Súa, Súa một mình làm tất cả cácviệc bé nhỏ trong nhà vì bố cũng hay ốm đau, suốt ngày ho đến người nghecũng phải khó chịu Thế nhưng Súa vẫn chấp nhận được, Súa vẫn cảm thấyhài lòng, hạnh phúc khi bên bố, vẫn hi vọng mẹ vẫn ở bên cô, theo dõi cô vàủng hộ cô thế là đủ rồi Súa xinh đẹp hết phần nhưng kém may mắn hơn khikhông có mẹ ở bên, Súa chấp nhận với số phận an bài, mãnh liệt lớn lên, giỏigiang, mạnh mẽ

Khác với nỗi bất hạnh của Súa hay Vừ, đó là một người phụ nữ, nhìnbên ngoài theo con mắt của người Mông sẽ thấy ngưỡng mộ và ước mình cómột cuộc sống như bà là bà Mây - vợ của ông Tráng Bà được chồng hết mựcyêu thương, sống trong gia đình đầy đủ vật chất, giàu nhất khu U Khố Sủkhông cần phải chật vật lo nghĩ về cái đói, cái rét nơi vùng cao khắc nghiệt.Thế nhưng đằng sau đó là cả nổi buồn sâu thẳm trong tâm bà Một người phụ

nữ, khát khao lớn nhất là có một mái ấm gia đình trong đó có chồng và sinhnhững đứa con bụ bẫm gọi mình hai chữ thiêng liêng “mẹ” Song, trời đãkhông cho bà làm thiên chức đó, bà không có khả năng sinh con, không sinhđược cho người đàn ông mà mình yêu thương người nối dõi Đó là bi kịch lớncủa người phụ nữ Hạnh phúc gia đình chỉ trọn vẹn khi có tiếng khóc của đứatrẻ, mà giờ đây bà không khả năng để tạo được hạnh phúc ấy Vì điều kémmay mắn đến một cách bất hạnh với bà mà kéo theo đó cả chuỗi nỗi đau mà

bà đã trải qua đầy bi kịch Thương cho thân phận mình không làm tròn bổnphận của một người vợ, bà ngậm đắng nuốt cay để chồng mình đổi lấy con bòngủ với người đàn bà khác để có con Với bà Mấy, nỗi bất hạnh của bà làkhông sinh được con trai cho ông Tráng, đã có lúc bà nhìn cuộc đời mình nhưchiếc lá rơi vô định, con không, nhà giờ đã là của người ta, chồng mình thì lại

đi ngủ với người đàn bà khác để có con, thế nhưng sau đống bếp tro tàn vẫnlóe lên trong cuộc đời bà một tia sáng đó là sự thương yêu vô bờ bến của

Trang 37

người chồng, đứa con rơi rớt của người đàn bà khác mà bà xem hơn cả conruột mình, chiều chuộng, yêu nó nhất khu đồi núi cao nguyên đó.

Ai đã từng đọc các tác phẩm của Đỗ Bích Thúy, từng bị ám ảnh nhữngcái viết của chị, chắc hẳn đồng ý điều này: nhân vật thống lĩnh trong các tácphẩm của Thúy toàn là đàn bà đa phần thuộc tộc người Mông, và cái khônggian cho các nhân vật sinh sống sinh sự trong đó toàn là núi rừng sông suốithổ nhưỡng vùng cao, cụ thể hơn - cao nguyên đá Hà Giang, nơi quê hươngtuổi thơ của chị Hãy nhìn vào thế giới nhân vật người nữ: đầu tiên là người

mẹ - mẹ đẻ và mẹ kế; sau nữa là những người vợ, và rất nhiều những ngườicon gái tuổi mới lớn chẳng mấy chốc lại bước vào cái vòng đời làm vợ, làm

mẹ, làm bà… Nhân vật nữ trong các sáng tác của nhà văn Đỗ Bích Thúy luônđược ưu ái cho dù số phận của họ có bi ai bao nhiêu thì họ vẫn toát lên vẻ đẹpchân chất như những bông đào bông lê trên núi đá

Có lẽ không ai có thể lựa chọn cho mình được cách sinh ra Phống cũngthế Phống kém may mắn khi Phống ra đời là từ một cuộc giao dịch hai bêncùng có lợi Phống chỉ đáng giá đánh đổi bằng một con bò không hơn khôngkém Phống được sinh ra từ một người đàn bà khác nhưng bú sữa, nuôi lớn từmột người khác Phống bị lừa dối từ nhỏ là con ruột của bố mẹ hiện tại chođến lúc nhận thức được bị lũ trẻ quanh xóm suốt ngày trêu thì Phống giả vờkhông để ý nhưng thực ra Phống cảm thấy đau khổ và bất hạnh.Phống sinh ra

là sự sắp đặt lựa chọn của người lớn, Phống không hề sai chỉ có Phống chỉkém may mắn mà thôi

Mỗi nhân vật trong câu chuyện Lặng yên dưới vực sâu hiện ra như từng

mảnh ghép với từng nét cá tính riêng, họ gắn chặt với nhau bởi sự đau đớn vàtủi nhục, có cả bất hạnh Bi kịch từ hoàn cảnh đẩy họ đến những bi kịch khácnhau.Cuộc sống nghèo khổ thiếu túng hay những thân phận côi cút, tội nghiệpsinh ra kém may mắn, họ đều là những nốt lặng trong bản nhạc buồn, thếnhưng bản nhạc đó lại da diết, cuốn trái tim người nghe muốn dõi theo từng

Ngày đăng: 10/09/2019, 21:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trương Đăng Dung (1998), Từ văn bản đến tác phẩm văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ văn bản đến tác phẩm văn học
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Khoahọc xã hội
Năm: 1998
2. Hà Minh Đức (1994), Nhà văn nói về tác phẩm, Nxb Giáo duc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn nói về tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo duc
Năm: 1994
3. Hà Minh Đức chủ biên (1997), Lí luận văn học, Nxb Giáo duc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo duc
Năm: 1997
4. Hà Minh Đức (2001), Văn chương - tài năng và phong cách, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn chương - tài năng và phong cách
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Khoahọc xã hội
Năm: 2001
5. Hêghen (2005), Mĩ học, Nxb, Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mĩ học
Tác giả: Hêghen
Năm: 2005
6. V.Ph.Hê-ghen (1999), Mỹ học (Phan Ngọc dịch), tập 1, Nxb Văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ học (Phan Ngọc dịch)
Tác giả: V.Ph.Hê-ghen
Nhà XB: Nxb Văn hóa HàNội
Năm: 1999
7. Nguyễn Văn Hạnh - Huỳnh Như Phương (1999), Lý luận văn học - vấn đề và suy nghĩ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học - vấn đềvà suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh - Huỳnh Như Phương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
8. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1997), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ vănhọc
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
9. Lí Trạch Hậu (2002), B n bài giảng mĩ học, Nxb, ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: B n bài giảng mĩ học
Tác giả: Lí Trạch Hậu
Năm: 2002
11. Đỗ Văn Khang (chủ biên) (2004), Mĩ học Mác - Lênin, Nxb, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mĩ học Mác - Lênin
Tác giả: Đỗ Văn Khang (chủ biên)
Năm: 2004
12. Đỗ Văn Khang (chủ biên) (1997), Mĩ học đại cương, Nxb. GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mĩ học đại cương
Tác giả: Đỗ Văn Khang (chủ biên)
Nhà XB: Nxb. GD
Năm: 1997
13. Đỗ Văn Khang (chủ biên) (2004), Mĩ học Mác - Lênin, Nxb, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mĩ học Mác - Lênin
Tác giả: Đỗ Văn Khang (chủ biên)
Năm: 2004
14. Nguyễn Văn Long (2001), Văn học Việt Nam trong thời đại mới, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam trong thời đại mới
Tác giả: Nguyễn Văn Long
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 2001
15. Trần Đình Sử (1996), Lí luận phê bình văn học, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận phê bình văn học
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1996
16. Trần Hữu Tá (1989), Về vấn đề định hướng của văn học trong tình hình hiện nay, Tạp chí Văn học (số 5), tr. 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề định hướng của văn học trong tình hìnhhiện nay
Tác giả: Trần Hữu Tá
Năm: 1989
17. Bùi Việt Thắng (2001), Bàn về tiểu thuyết, Nxb văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về tiểu thuyết
Tác giả: Bùi Việt Thắng
Nhà XB: Nxb văn hóa thông tin
Năm: 2001
18. Nguyễn Quang Thiều (2017), Lặng yên dưới vực sâu, Nxb Nhã Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lặng yên dưới vực sâu
Tác giả: Nguyễn Quang Thiều
Nhà XB: Nxb Nhã Nam
Năm: 2017
19. Lê Ngọc Trà (chủ biên), Lâm Vinh, Huỳnh Như Phong (1994), Mỹ học đại cương, Nxb văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ họcđại cương
Tác giả: Lê Ngọc Trà (chủ biên), Lâm Vinh, Huỳnh Như Phong
Nhà XB: Nxb văn hóa thông tin
Năm: 1994
20. Lê Ngọc Trà, chủ biên (1984), Mĩ học đại cương, Nxb. Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mĩ học đại cương
Tác giả: Lê Ngọc Trà, chủ biên
Nhà XB: Nxb. Văn hoá thông tin
Năm: 1984
21. Tsecnưsepxki (1962), Quan hệ thẩm mĩ của nghệ thuật đ i với hiện thực (Minh Việt dịch), Nxb Văn hóa - nghệ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ thẩm mĩ của nghệ thuật đ i với hiện thực(Minh Việt dịch)
Tác giả: Tsecnưsepxki
Nhà XB: Nxb Văn hóa - nghệ thuật
Năm: 1962

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w