1.2 Xuất hiện trong dòng văn học viết về đề tài chiến tranh, thể loại nhậtký được biết đến như một điển hình về sự mới mẻ, chân thực kể từ khi có sự xuất hiện và công bố hai cuốn nhật ký
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lý luận văn học
HÀ NỘI – 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Người hướng dẫn khoa học
ThS HOÀNG THỊ DUYÊN
HÀ NỘI – 2018
Trang 3Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm độngviên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu.
Mặc dù có nhiều cố gắng song với trình độ kiến thức còn hạn chế củangười viết, khóa luận chắc chắn không thoát khỏi những thiếu xót Tôi rất mong nhận được sự sự góp chân thành của thầy cô và các bạn sinh viên để bài khóa luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2018
Tác giả khóa luận
Hoàng Thị Phương
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là kết quả của quá trình họctập, nghiên cứu của tôi cùng với sự giúp đỡ của các thầy cô trong khoa NgữVăn trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của
cô giáo- Thạc sĩ Hoàng Thị Duyên.
Trong quá trình làm khóa luận, tôi có tham khảo những tài liệu có liênquan đã được hệ thống trong mục Tài liệu tham khảo Khóa luận không có sựtrùng lặp với các khóa luận khác
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2018
Tác giả khóa luận
Hoàng Thị Phương
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tương nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của khóa luận 4
7 Bố cục của khóa luận 4
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỂ LOẠI NHẬT KÝ VĂN HỌC 5
1.1 Khái niệm 5
1.2 Lịch sử ra đời và phát triển 6
1.2.1 Nhật ký trong giai đoạn đầu từ thế kỉ XVIII đến trước năm 1930 6
1.2.2 Nhật ký trong giai đoạn 1930 đến trước năm 1945 7
1.2.3 Nhật ký trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945-1975) 7
1.2.4 Nhật ký trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà (1955-1975) 8
1.2.5 Nhật ký trong giai đoạn sau 1975 đến nay 8
1.3 Đặc điểm của nhật ký văn học 9
1.4 Phân loại nhật ký văn học 11
1.4.1 Nhật ký cá nhân 11
1.4.2 Nhật ký sự vụ 12
1.4.3 Nhật ký văn học 12
CHƯƠNG 2: NHẬT KÝ CHIẾN TRANH VIỆT NAM 1945-1975 NHÌN TỪ KHÔNG GIAN VĂN HÓA ĐƯƠNG ĐẠI 14
2.1 Bối cảnh lịch sử và văn hóa 14
2.2 Sự phát triển nở rộ của loại hình văn học tư liệu 15
2.3 Diện mạo của nhật ký chiến tranh 18
Trang 62.3.1 Đặc điểm nội dung của nhật ký chiến tranh 18
2.3.1.1 Nhật ký chiến tranh tái hiện lại hiện thực chiến trường khốc liệt 18
2.3.1.2 Nhật ký chiến tranh đã tái hiện lại tâm trạng người trong cuộc 25
2.3.2 Hình thức nghệ thuật 32
2.3.2.1 Ngôn ngữ ngắn gọn đời thường 32
2.3.2.2 Sự đan xen giữa yếu tố trữ tình và tự sự 34
2.3.2.3 Hình thức tồn tại của nhật ký 36
2.3.2.4 Giọng điệu 36
2.4 Cuộc chiến tranh qua góc nhìn cá nhân trong nhật ký 40
2.4.1 Cuộc chiến gian khổ, hy sinh, mất mát, 40
2.4.2 Cuộc chiến hào hùng 51
CHƯƠNG 3: SINH MỆNH LỊCH SỬ CỦA NHẬT KÝ CHIẾN TRANH 54
3.1 Những cuốn nhật ký trở về từ người thân (người thân lưu giữ) 54
3.1.1 Nhật ký “Mãi mãi tuổi hai mươi” của Nguyễn Văn Thạc 55
3.1.2 Nhật ký “Tài hoa ra trận” của Hoàng Thượng Lân 56
3.1.3 “Nhật ký chiến trường” của Dương Thị Xuân Qúy 57
3.2 Những cuốn nhật ký trở về từ người bên kia chiến tuyến 58
3.3 Cơ duyên phát triển và được đón nhận của nhật ký chiến tranh 59
3.3.1 Nhật ký chiến tranh- Nhu cầu nhận thức lại lịch sử 59
3.3.2 Nhật ký chiến tranh- Khát vọng tìm hiểu cuộc chiến từ góc nhìn cá nhân 60
3.3.3 Nhật ký chiến tranh- Tái cấu trúc ký ức chiến tranh, tác phẩm nhật ký chuyển thể thành phim 61
KẾT LUẬN 64 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 71.2 Xuất hiện trong dòng văn học viết về đề tài chiến tranh, thể loại nhật
ký được biết đến như một điển hình về sự mới mẻ, chân thực kể từ khi có sự
xuất hiện và công bố hai cuốn nhật ký gây sốt là: Nhật ký Đặng Thùy Trâm,
Mãi mãi tuổi hai mươi Sau hơn một phần ba thế kỷ lưu lạc, cuốn nhật ký của
cô gái bác sĩ Hà Nội đã được xuất bản trong nước, được dịch ra nhiều thứ
tiếng trên thế giới với tiêu đề Nhật ký Đặng Thùy Trâm, đã trở thành một cuốn sách bán chạy nhất Cùng với Nhật ký Đặng Thùy Trâm, Nhật ký Mãi
mãi tuổi hai mươi của Nguyễn Văn Thạc cũng trở thành một sự kiện được
quan tâm trong đời sống xã hội Hai cuốn nhật ký ấy ra đời đã gây nên mộthiệu ứng xã hội rộng lớn và có sức lan tỏa mạnh mẽ Cùng thời gian này, cũng
có rất nhiều cuốn nhật ký khác được biết đến như: Tài hoa ra trận của Hoàng Thượng Lân, Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong, Nhật ký Lê Anh Xuân của Lê Anh Xuân, Nhật ký chiến trường của Dương Thị Xuân Quý, Sống để
yêu thương và dâng hiến của Hoàng Kim Giao Những cuốn nhật ký này đã
giúp cho người đọc hiểu và hình dung rõ nét về cuộc sống, con người trongnhững năm tháng chiến tranh ác liệt
Trang 81.4 Chiến tranh đã lùi xa hơn 40 năm, hòa bình đã được lặp lại, hai miềnNam-Bắc thống nhất, là lí do khiến nhiều bạn trẻ ngày nay dần quên đi sựkhốc liệt của chiến tranh mà ông cha ta đã phải gánh chịu, sự tồn tại của mộtthời mưa bom bão đạn Hơn nữa, hiện nay đề tài viết về chiến tranh khôngcòn phổ biến như những năm cách mạng, những sáng tác sau này thật sự chưathể nào tái hiện lại được một cách chân thực bức tranh thời chiến Tuy nhiên,sau khi những cuốn nhật ký chiến tranh được công bố rộng rãi khắp nơi, đãthu hút được sự chú ý từ phía bạn đọc Qua những cuốn nhật kí trở về đã mở
ra cho người đọc những thước phim quay chậm của lịch sử nước nhà trongnhững năm tháng chiến đấu một cách chân thực nhất Văn học Việt Nam giaiđoạn 1945-1975 đã mang một diện mạo mới và phong phú hơn kể từ khi có
sự góp mặt của nhật ký chiến tranh Đồng thời,nó mang trong mình diện mạo
và sinh mệnh lịch sử lớn lao Vì thế, việc nghiên cứu về nhật ký chiến tranhvừa mang ý nghĩa lý luận vừa mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc Với những đặcđiểm riêng về thể loại, nhật ký chiến tranh đã trở thành một trong những thểloại không thể thể thiếu trong nền văn học
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nhật ký là thể loại phát triển mạnh trong những năm kháng chiến, nhưng
do đặc điểm của nó là mang tính chất riêng tư nên trước năm 1986 không
được biết đến rộng rãi, và còn khá xa lạ đối với bạn đọc Sau năm 1975, thống
nhất đất nước và đại hội Đảng lần VI năm 1986 thì những cuốn nhật ký lầnlượt được trở về Được sự đồng ý từ phía gia đình và người thân, những cuốnnhật ký đã dần được công bố và lan rộng trong giới văn học đặc biệt là sự
xuất hiện của hai cuốn nhật ký là: Nhật ký Đặng Thùy Trâm và Mãi mãi tuổi
hai mươi đã thực sự gây được tiếng vang lớn đối với bạn đọc và các nhà phê
bình văn học, nó nhanh chóng trở thành hiện tượng văn học, hiệu ứng xã hộiđặc biệt Những dòng tâm sự, tâm tư tình cảm, hiện thực chiến tranh được
Trang 9nhìn nhận dưới lăng kính của những con người trực tiếp lăn lội nơi đầu sóngngọn gió, bão đạn mưa bom đã thu hút giới nghiên cứu phê bình Nhiều bàiviết giới thiệu, phê bình xuất hiện trên các phương tiện truyền thông tuy nhiênnhững công trình nghiên cứu chuyên sâu về nhật ký vẫn còn hạn chế, chỉ cómột vài nghiên cứu chạm đến những vấn đề cơ bản Vì thế khóa luận này củachúng tôi chứa đựng một hướng đi mới trong việc nghiên cứu về thể loại.Diện mạo và sinh mệnh lịch sử của nhật ký chiến tranh góp phần làm đa dạnghơn những nghiên cứu về thể loại.
3 Mục đích nhiệm vụ nghiên cứu
Thể loại nhật ký nói chung và thể loại nhật ký văn học nói riêng trongnhững năm qua tuy đã gây được sự chú ý nhưng vẫn chưa thực sự phát triểnmạnh mẽ Vẫn chưa có nhiều công trình nói về thể loại nhật ký mà chỉ có một
số tác phẩm gây được sự chú ý lớn Điều đó, khiến cho việc tiếp cận thể loạinhật ký còn mang tính chất hạn chế Qua khóa luận này, tôi mong rằng có thểgóp một phần vào các công trình nghiên cứu trước đó để làm rõ vấn đề diệnmạo và sinh mệnh lịch sử của nhật ký chiến tranh Hơn nữa nó cũng góp phầnhoàn chỉnh bức tranh hiện thực đời sống của con người trên nhiều bình diện,cái nhìn đa chiều và đa sắc, giúp cho độc giả có cái nhìn toàn diện hơn về conngười và xã hội Nhật ký chiến tranh nói riêng đã mở ra thế giới tâm hồn sâulắng cảm xúc và chất chứa suy tư, tình cảm của chủ thể sáng tạo khi đánh giá,nhận xét về hiện thực cuộc sống dưới cái nhìn trực diện Hơn thế nữa là bày tỏlòng biết ơn sâu sắc đến thế hệ cha ông đi trước, những con người đã khôngtiếc thân mình đem lại độc lập cho dân tộc Đề tài nghiên cứu giúp người đọcnhận thức, có cái nhìn chân thực để từ đó hình thành nhân cách sống cao đẹpxứng đáng với sự hy sinh của lớp cha anh vì sự nghiệp vẻ vang của dân tộc
Trang 104 Đối tương nghiên cứu
Các tác phẩm thuộc thể loại nhật ký chiến tranh với số lượng khôngnhiều, trong đó một số tác phẩm đã được nghiên cứu nhiều nên tôi xin đi sâunghiên cứu những cuốn nhật ký chính sau:
Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong
Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng của Nguyễn Huy Tưởng
Nhật ký chiến trường của Dương Thị Xuân Quý
Nhật ký Đặng Thùy Trâm của Đặng Thùy Trâm
Mãi Mãi Tuổi Hai Mươi của Nguyễn Văn Thạc
Nhật ký Tài Hoa Ra Trận của Hoàng Thượng Lân
Nhật ký Chiến Trường của Phan Tứ
Nhật ký Lê Anh Xuân của Lê Anh Xuân
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp so sánh
Phươn pháp lịch sử - Chức năng
Phương pháp phân tích tổng hợp
6 Đóng góp của khóa luận
Với đề tài “ Nhật ký Chiến tranh 1945-1975 ở Việt Nam, diện mạo và
sinh mệnh lịch sử” thông qua các tác phẩm nhật ký tôi mong muốn bài khóa
luận sẽ góp phần làm phong phú và chuyên sâu hơn về thể loại nhật ký vănhọc, trong đó có nhật ký chiến tranh
7 Bố cục của khóa luận
Khóa luận được chia làm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về thể loại nhật ký văn học
Chương 2: Nhật ký chiến tranh Việt Nam 1945-1975 nhìn từ không gianvăn hóa đương đại
Chương 3: Sinh mệnh lịch sử của nhật ký chiến tranh
Trang 11NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỂ LOẠI NHẬT
KÝ VĂN HỌC 1.1 Khái niệm
Theo Từ điển thuật ngữ văn học [24] thì nhật ký:“Là một thể loại thuộc
loại hình ký”, là một dạng biến thể của ký hiện đại So với các thể loại khác
như truyện, tiểu thuyết, thơ, thì ký xuất hiện muộn hơn, đến thế kỷ thứXVIII khi có sự gia tăng chú ý đến thế giới nội tâm của con người, khi nhucầu tự bộc bạch, tự quan sát xuất hiện thì thể loại này mới bắt đầu manh nha ởChâu Âu và phát triển cực thịnh ở thế kỷ thứ XIX Tại Nhật Bản nhật kí xuấthiện khá sớm ngay từ thời Heian thế kỷ thứ VIII Nhật ký (nikki) thôngthường bắt nguồn từ giới trí thức cung đình với chức năng ban đầu là các ghichép việc công, sau dần trở thành thể loại văn chương đích thực, bởi nó gắnsong song việc miêu tả sự kiện và bình luận về sự kiện, sử dụng lối văn trangnhã Tác phẩm nhật ký văn chương nổi tiếng đầu tiên của Nhật có thể kể đến
là cuốn Tosa nikki (Thổ tá nhật ký), do thi nhân và nhà phê bình thơ KinoTsurayuki viết và cho ra đời năm 935, ghi chép hành trình 50 năm ngàyđường của tác giả từ Tosa tới kinh đô
Ở Việt Nam, thể ký ra đời muộn, có thể lấy điểm mốc cho sự xuất hiện
thể loại này ở thời Lý – Trần với Vũ trung tùy bút và Thượng kinh ký sự.
Cũng như ở phương Tây, thể ký ở Việt Nam cũng được coi là thể loại mởđường dẫn tới sự phát triển rực rỡ của chủ nghĩa hiện thực trong văn học nghệthuật Trải qua giai đoạn lịch sử, ký cũng có những biến thể để phù hợp với xuthế phát triển của văn học và đáp ứng được nhu cầu của độc giả Nhật kýchính là một dạng biến thể của ký hiện đại bên cạnh hồi ký, tùy bút, tản mạn,phóng sự,
Trang 12Từ điển văn học ( bộ mới) định nghĩa nhật ký là “ Loại văn ghi chép sinh hoạt thường ngày Trong văn học, nhật ký là hình thức trần thuật từ ngôi thứ nhất số ít, có đánh số ngày tháng (…) bao giờ cũng chỉ ghi lại những gì đã xảy ra, những gì đã nếm trải, thể nghiệm; nó ít hồi cố; được viết ra chỉ cho bản thân người ghi chứ không tính đến việc được công chúng tiếp nhận” [14,
1257] Từ điển thuật ngữ văn học cũng coi nhật ký là “một thể loại hình ký”
hay “là hình thức tự sự ở ngôi thứ nhất được thực hiện dưới dạng những ghichép hàng ngày theo thứ tự ngày tháng về những sự kiện của đời sống mà tácgiả hay nhân vật chính là người trực tiếp tham gia hay chứng kiến” [ 14, 204]
Giáo trình Lý luận văn học, tập 2: Tác phẩm và thể loại văn học do GS.Trần
Đình Sử chủ biên [24] thì định nghĩa như sau: “ Nhật ký là thể loại ghi chép
sự việc, suy nghĩ, cảm xúc hàng ngày của chính người viết, là những tư liệu
có giá trị về tiểu sử và thời đại của người viết” [24, 261] Như vây, có thể nói
rằng, nhật ký chính là những ghi chép cá nhân về những sự kiện, những cảmxúc, suy nghĩ trước những sự kiện xảy ra trong hàng ngày hay trong thời điểmgần
1.2 Lịch sử ra đời và phát triển
1.2.1 Nhật ký trong giai đoạn đầu từ thế kỉ XVIII đến trước năm 1930
So với nhiều thể loại văn học khác, thể loại nhật ký xuất hiện muộn hơn
và đã bước đầu manh nha trong nền văn học giai đoạn đầu từ thế kỷ XVIII
đến trước năm 1930 Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác được đánh giá là
đỉnh cao của thể ký thời trung đại… Qua tác phẩm ta nhận ra được sự tài tìnhcủa tác giả khi kết hợp đồng thời nhiều tiểu loại của ký như du ký, nhật ký,hồi kí… Như vậy, đặc điểm của nhật ký đã bước đầu xuất hiện trong nhữngtác phẩm thời kỳ trung đại
Ký không chỉ xuất hiện trong văn xuôi mà chúng ta còn bắt gặp nó trongthơ, đặc biệt trong thơ của Cao Bá Quát Cao Bá Quát khi làm thơ thường ghi
Trang 13rõ thời gian, không gian cụ thể như ngày nào, canh nào, làm gì, ở đâu,… Nhưtrong các bài thơ Đêm mười bảy dưới trăng viết vội thư gửi bạn, bài thơThanh minh nhật cảm tác, họa Trần Ngộ Hiên… Sự manh nha này góp phầnđịnh hướng tạo tiền đề cho sự xuất hiện và phát triển của nhật ký trong cácgiai đoạn sau.
1.2.2 Nhật ký trong giai đoạn 1930 đến trước năm 1945
Trong giai đoạn này thể loại nhật ký bắt đầu xuất hiện nhưng chưa nổi
bật, chưa tìm thấy vị thế của mình trên vũ đài văn học Đã có một số nhà văn
viết về thể loại này song chưa nhận được sự quan tâm của độc giả Vì vậy, cóthể nói đây là giai đoạn bước đầu hình thành của một thể loại mới-nhật ký
1.2.3 Nhật ký trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945-1975)
Nếu như ở giai đoạn trước nhật ký đang trong quá trình “tìm đường” thìbước sang giai đoạn này nhật ký bắt đầu phát triển và ghi lại dấu ấn của mìnhtrong tiến trình phát triển của nền văn học Việt Nam Chiến tranh chính làmảnh đất màu mỡ làm nảy sinh nên một đội ngũ các nhà văn chuyên vàkhông chuyên viết nhật ký để từ đó tạo ra thành tựu to lớn của thể loại này.Các tác phẩm nhật ký tiêu biểu của các nhà văn chuyên nghiệp trong giai
đoạn này như cuốn Nhật ký ở rừng (1948) của Nam Cao, Một tháng đi theo
pháo binh (1948) của Hoài Linh, nhật ký của Nguyễn Huy Tưởng,… Bên
cạnh nhật ký của những nhà văn chuyên nghiệp là nhật ký của những ngườiviết không chuyên nghiệp như những trang nhật ký của Phan Phú- chính trịviên đại đội một đơn vị chủ lực được lưu lại trong cuốn sổ tay của Tô Hoàihay những trang nhật ký của Lê Nguyên - Đại đội trưởng Đại đội 156, Sưđoàn 308…
Trang 141.2.4 Nhật ký trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
và đấu tranh thống nhất nước nhà (1955-1975)
Giai đoạn 1955-1975 là giai đoạn nhật ký tiếp tục phát triển và nhanhchóng đạt tới đỉnh cao với nhiều cuốn nhật ký để lại giá trị to lớn cả về mặt tưliệu và nghệ thuật Nhật ký ra đời bởi hai đội ngũ sáng tác chính là nhà vănchuyên nghiệp và người viết không chuyên - những người trực tiếp tham giavào cuộc kháng chiến Các cuốn nhật ký được sáng tác bởi đội ngũ các nhà
văn chuyên nghiệp giai đoạn này tiêu biểu như: Nhật ký chiến tranh của Chu Cẩm Phong, Nhật ký chiến trường của Dương Thị Xuân Quý, nhật ký của
Nguyễn Minh Châu… Người viết không chuyên trong giai đoạn này xuất hiện
nhiều hơn trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp tiêu biểu như Nhật ký
Đặng Thùy Trâm của Đặng Thùy Trâm, Mãi mãi tuổi hai mươi của Nguyễn
Văn Thạc, nhật ký Tài hoa ra trận của Hoàng Thương Lân, nhật ký của Vũ Xuân, nhật ký Đường về của Phạm Thiết Kế, …
1.2.5 Nhật ký trong giai đoạn sau 1975 đến nay
Sau 1975, với những thay đổi lớn về bối cảnh lịch sử, kinh tế, văn hóa vàchính trị đã tạo điều kiện cho nhật ký ngày càng trở nên phổ biến và gần gũivới con người hơn Con người ngày càng có nhu cầu ghi chép lại những gìxảy ra xung quanh, ghi lại cảm xúc của bản thân và nhật ký chính là nơi đểmỗi cá nhân ký gửi những điều riêng tư đó Có một điều đặc biệt hơn so vớicác giai đoạn trước là bên cạnh những trang nhật ký được lưu lại trong cáccuốn sổ tay, ngày nay phần nhiều con người chuyển sang một dạng khác củanhật ký đó là nhật ký điện tử ví dụ như blog cá nhân, faceboook… nguyênnhân là do cuộc sống hiện đại cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ,con người tiếp cận và làm việc với máy móc nhiều hơn nên việc sử dụng nhật
ký điện tử thuân lợi hơn, khả năng lưu giữ tốt hơn
Trang 15Có thể khẳng định nhật ký ngày càng khẳng định được vị thế của mình
và đến gần với con người hơn Việc đọc nhật ký, viết nhật ký… đã không còn
xa lạ mà dần trở thành một thói quen của con người hiện đại Như vậy, nhật
ký đã phát huy một cách tích cực sức mạnh đặc trưng của thể loại trong việcđáp ứng nhu cầu trong đời sống tinh thần của con người cũng như tạo ranhững nét mới về mặt thể loại cho văn học Việt Nam
1.3 Đặc điểm của nhật ký văn học
1.3.1 Nhật ký văn học vừa dung chứa đặc điểm cá biệt do thể loại nhật
ký quy định, vừa bao hàm các đặc điểm chung của thể ký và tác phẩm văn
học giáo sư Trần Đình Sử đã từng nói rằng: “ Là một thể loại phi văn học
hoặc cận văn học cho nên nhật ký rất chân thật, chân thành, đáng tin cậy Ngoài mục đích riêng tư nó không có mục đích nào khác chi phối Do vậy nhật ký thuộc vào văn học tư liệu với giá trị tư liệu của nó” [24] Nhật ký
cũng như các thể loại khác của kí, trước hết đều coi trọng tính chân thực đángtin cậy của sự kiện được ghi chép lại Mục đích ban đầu của cuốn nhật ký làghi chép những gì diễn ra trong ngày, những sự vật, sự việc đã trải nghiệmqua, nhật ký là một sự riêng tư viết cho bản thân mình không hướng tới mộtđối tượng nào khác nên nó luôn chân thực
1.3.2 Nhật ký là lời tự bộc bạch tâm sự, tình cảm, suy nghĩ của mỗi tácgiả khi cô đơn, muốn tự nhìn lại mình chiêm nghiệm lại sự việc đã xảy ra, lànhững ghi chép thời hiện tại Vì thế, có thể nói nhật ký chính là thể loại ký
mang tính chất riêng tư và đời thường nhiều nhất “Với tư cách là những ghi
chép của cá nhân, trong nhật ký, người viết có thể tự cho mình trình bày những suy nghĩ, quan điểm, tình cảm và thái độ trước một sự thật” [24, 215].
Riêng tư chính là lý do tồn tại của nhật ký, là yếu tố hấp dẫn của thể loại vănhọc đặc biệt này, vì nó liên quan đến những tâm tư, tình cảm.Nhật ký thường viết theo ngôi thứ nhất tác giả tự độc thoại với chính bản thân
Trang 16mình vì vậy tính chân thật rất cao Nếu như ở những thể loại như phóng sự,tùy bút, bút ký trung tâm thông tin không phải là tác giả mà là các vấn đề xãhội thì ở nhật ký nói chung và nhật ký văn học nói riêng người viết luôn làtrung tâm, so với các thể loại khác vai trò của cái tôi trần thuật trong nhật kývăn học bao quát, xuyên suốt toàn bộ tác phẩm Tác giả không ngần ngại xuấthiện trong từng chi tiết nhỏ nhất và chính sự có mặt của cái tôi ấy đã góp phầnquan trọng trong việc tạo ra niềm tin của công chúng vì họ tin rằng đang đượcnghe kể về những sự thật mà tác giả là người đã trực tiếp trải qua hay chứngkiến Tuy nhiên, có những khi lời độc thoại của tác giả hay nhân vật chính làcuộc đối thoại ngầm với người khác hay “bạn đọc tưởng tượng” về con người
và cuộc đời nói chung, về bản chất của mình nói riêng Hình tượng tác giảtrong nhật ký văn học là hình tượng mang tầm khái quát tư tưởng thẩm mỹlớn lao
1.3.3 Là một thể loại phi văn học hoặc cận văn học cho nên nhật ký rấtchân thật, đáng tin cậy và ngoài mục đích riêng tư nó không bị chi phối bởimục đích nào khác Do vậy, nhật ký thuộc vào văn học tư liệu với giá trị tư
liệu của nó Nhật ký chỉ ghi người thật việc thật, tình cảm thật, tư tưởng thật.
Do được ghi chép liên tục mà một số sự kiện được người ghi quan tâm đãđược phản ánh trong tính liên tục như là một cốt truyện theo tính biên niên.Hồi kí cũng thuộc văn học tư liệu, tuy nhiên nó được ghi lại bằng hồi tưởng
về quá khứ, những sự kiện đã diễn ra được ghi lại có thể không theo một trình
tự thời gian nhất định
Viết nhật ký thường không nhằm để xuất bản hay công bố rộng rãi, nếuđược xuất bản thường là khi tác giả đã qua đời, người sau thấy có ý nghĩa, giátrị nên xuất bản Giá trị chủ yếu của nhật ký là tư liệu, ghi sự thật: sự thậtriêng tư hay liên đới xã hội, một sự thật tự phơi bày, không che giấu, không bịkiểm duyệt Bản thân sự ghi là một sự thật, rồi sự thật được ghi cũng là sự
Trang 17thật Giá trị thứ hai của của nó là dấu ấn, quan điểm riêng cá nhân của ngườighi Các nhật ký của các nhà văn hóa, nghệ sĩ đã cung cấp nhiều tư liệu quý
về đời sống nội bộ, những tư tưởng, tâm tình trong những năm nội chiến vàchiến tranh vệ quốc Nhật ký của các nhà văn như: Nhật ký Nguyễn HuyTưởng, của các nhà văn ở chiến trường như Dương Thị Xuân Qúy, Chu CẩmPhong, Phan Tứ, nhật ký của những chiến sĩ trực tiếp tham gia vào cuộckháng chiến như: Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc và của nhiều ngườikhác… mỗi trang đều đầy ắp sự kiện, nhân cách về tác giả, về không khíchiến tranh nóng bỏng và đều mang đậm tính chất chính luận
Như thế ba phương diện trên không tách rời nhau trong nhật kí Tư liệu
là phạm vi bao quát, hồi kí, tự truyện cũng thuộc phạm vi tư liệu, còn chínhluận là khuynh hướng chính của nhật ký trong thời kì chiến tranh Những nétriêng tư của nhật ký là tư liệu cá nhân, màu sắc cá nhân, quan điểm cá nhânnổi lên hàng đầu Thiếu bản sắc cá nhân thì nhật ký dễ biến thành tư liệuchung chung, thiếu sức hấp dẫn
1.4 Phân loại nhật ký văn học
Trang 18Nhật ký là thể tài độc thoại, nhưng lời độc thoại của nhật ký có thể mangtính chất đối thoại bên trong, do tính đến ý kiến của người khác về cuộc đời
và bản thân người ghi nhật ký
1.4.2 Nhật ký sự vụ
Nhật ký ghi chép vắn tắt tiến trình công việc, có thể kể đến loại nhật kýcông tác (có nội dung khoa học) hay nhật ký sự vụ chuyên biệt (như hải trình,một dạng nhật ký hàng hải) Các thể loại nhật ký công việc này không đượccoi như là thể loại nhật ký văn học trừ một vài ngoại lệ
Ở Nhật Bản ngay từ thời Heian thể kỷ thứ VIII, nhật ký (nikki) thôngthường của giới trí thức cung đình, mụ đích ban đầu là các ghi chép việccông, sau đó ngày càng hướng đến là thể loại văn chương đích thực, khi nógắn song song việc miêu tả sự kiện và bình luận về sự kiện, sử dụng lối văntrang nhã Tác phẩm nhật ký văn chương nổi tiếng đầu tiên của Nhật có thể kểđến là cuốn Tosa nikki ( Thổ tá nhật ký) do thi nhân và nhà phê bình thơ Ki
No Tsurayuki (868?- 945) viết và cho ra đời năm 935, ghi chép hành trình 55ngày đường của tác giả từ Tosa ( nay thuộc tỉnh Kochi, phía nam Shikoku) tớikinh đô( nay thuộc Kyoto)
Nhật ký văn học vừa dung chứa đặc điểm khác biệt do thể loại nhật kýquy định, vừa bao hàm các đặc điểm chung của tác phẩm văn học
Một dấu hiệu thể tài nhật ký cũng được khai thác trong loại văn du kýhay kỷ hành Thể tài nhật ký được một loạt các nhà văn sử dụng và không
Trang 19hiếm khi độc giả bắt gặp trong văn học thế giới những tác phẩm văn học hoàn
toàn được viết dưới dạng nhật ký, như Lối lên miền Oku của Matsuo Basho,
Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng Bên cạnh đó
một số tác phẩm có những phần nhất định dùng hình thức nhật ký, như Nhật
vật của thời đại chúng ta của Lermontov, Chàng ngốc của Dostoevski v.v.
Một số nhật ký thông thường, nhật ký công tác hay nhật ký sự vụ củanhà văn hay một nhân vật lịch sử đặc biệt được công bố, phát hành đến côngchúng sau khi họ mất, như Nhật ký Đặng Thùy Trâm, cũng có thể coi là mộtdạng nhật ký văn học, dù đặc trưng thể loại và hình thức của chúng khôngphải là một nhật ký văn học đích thực từ trong ý đồ dụng bút của người viết
mà bởi giá trị về nội dung tư tưởng của nó
Tính chất nhật ký còn có ở cả một số sáng tác trữ tình, chính luận, thậmchí ở một số tác phẩm triết học
Trang 20CHƯƠNG 2: NHẬT KÝ CHIẾN TRANH VIỆT NAM 1945-1975 NHÌN TỪ KHÔNG GIAN VĂN HÓA ĐƯƠNG ĐẠI
2.1 Bối cảnh lịch sử và văn hóa
Nền văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng Tám với hai cuộc khángchiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ kéo dài suốt 30 năm đã tác độngsâu sắc, toàn diện đến đời sống vật chất và tinh thần của dân tộc Điều này đãtạo nên những đặc điểm riêng biệt của nền văn học do hình thành và phát triểntrong hoàn cảnh chiến tranh gian khổ, ác liệt Trong hoàn cảnh như vậy, giaiđoạn 1945-1975 vẫn phát triển và đạt được nhiều thành tựu, đóng góp cholịch sử văn học những giá trị riêng
Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam tuyên
bố độc lập nhưng bên cạnh đó cũng đứng trước những khó khăn, thử tháchlớn: miền Bắc bắt tay vào xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa và tiếp tục hỗtrợ chiến tuyến miền Nam chống giặc ngoại xâm Như vậy, văn học giai đoạnnày vừa diễn ra xu hướng hội tu, vừa có sự phân hóa của các khuynh hướngvăn học Giai đoạn này, văn học được hướng đến phong cách hiện thực, đạichúng Không ít cây bút tài năng băn khăn với câu hỏi: viết cho ai? Viết cáigì? Viết như thế nào? Hay văn xuôi trong giai đoạn này cũng vậy, chủ yếu làtruyện ngắn và ký đề tài viết về người nông dân và người lính Vệ quốc quân.Những nhà văn mà phần nhiều cũng chính là những người lính, họ đã ghichép lại những gì có tính chất thời sự xảy ra trên chiến trường Nội dung của
nó là ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp cũng như lòng yêu nước thương nhà,tình đồng đội đồng chí, tinh thần dũng cảm trong chiến đấu Truyện và truyệnngắn phong phú hơn về đề tài, từ người lính và cuộc chiến đấu trên chiếntrường đến nông thôn, vùng cao, công nhân, tri thức… nhưng đều gắn liền vớicuộc chiến tranh chống Pháp Một mảng đề tài nữa cũng được thể hiện rất rõnét trong giai đoạn này đó là ký, trong đó nhật ký là một trong những đề tài
Trang 21được đón nhận khá nhiều Những truyện, kí chủ yếu phục vụ công cuộc chiếnđấu của nhân dân, chiến sĩ trên chiến trường.
2.2 Sự phát triển nở rộ của loại hình văn học tư liệu
Loại hình văn học tư liệu là một trong những loại hình văn học đangngày càng được công chúng đón nhận một cách mạnh mẽ Đặc biệt là đối vớinhật ký, loại hình này ngày càng phát triển nở rộ Tư liệu là vật liệu để làmmột việc gì, tài liệu nghiên cứu ( như tư liệu kiến trúc, tư liệu lịch sử, ) Hayhiểu theo nghĩa khác, tư liệu là những hình ảnh, giấy tờ, văn bản… được ghilại với mục đích lưu giữ thông tin, sự kiện hoặc vấn đề nào đó chứ không phảinhằm phổ biến rộng rãi hoặc để làm phim, nhất là những gì còn phải giữ bímật hoặc vì một lí do nào đó khác Vì thế nên gần như ở mỗi quốc gia đều cóngười đảm trách công việc quay phim tư liệu, nằm trong biên chế các cơ sởđiện ảnh hoặc truyền hình nhà nước quản lí
Văn học tư liệu chính là những tài liệu hay phim ảnh tài liệu giúp chochúng ta hình dung về tác phẩm và những sự kiện một cách chính xác, chânthật và gần gũi nhất Loại văn học tư liệu này rất phát triển trong giai đoạnvăn học 1945-1975 và khi đến với nhật ký chiến tranh nó thực sự nở rộ đạtđến đỉnh cao Do hai cuộc kháng chiến trường kì của dân tộc Việt Nam chốngthực dân Pháp và đế quốc Mỹ cùng hai cuộc chiến tranh ở biên giới phía Bắc
và Tây Nam của tổ quốc đã trở thành đề tài và cảm hứng bất tận trong ý thứcnghệ thuật của các nhà văn, nhà thơ Và thực tế, ta đã có một dòng chảy mãnhliệt của văn học Việt Nam về đề tài chiến tranh với nhiều cách tiếp cận, lý giảichiến tranh và con người khác nhau với những thành tựu khác nhau Vinh dự
và niềm tự hào ấy dành cho những nhà văn chuyên, nhà văn mặc áo lính quanhiều thế hệ mà tên tuổi của họ đã đi vào lịch sử văn học với tư cách là nhữngnhà văn chiến sĩ đầy bản lĩnh và tài năng
Trang 22Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mỹ xâm lượctiếp sau thắng lợi của kháng chiến chống Pháp (1945-1954) giải phóng miềnNam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước, hoàn thành cách mạng dân tộcdân chủ của nhân dân trên cả nước Cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất của
cả dân tộc diễn ra trong một thời gian dài, có thể có quá nhiều sự kiện xảy ratheo dòng chảy lịch sử ấy Theo thời gian, tư liệu chính là thứ mà có thể giúpchúng ta có cái nhìn đúng nhất về những gì đã xảy ra của lịch sử nước nhà.Đặc biệt việc sử dụng tư liệu, tài liệu trong mỗi bộ phim thường rất công phu,đòi hỏi sự nghiêm túc, khách quan và chuẩn xác, nhất là những ảnh không rõ
về nguồn gốc, xuất xứ vì một lí do nào đó Ví dụ hình ảnh một chiến đấu giữaquân ta và quân địch hay hình ảnh tàn khốc ở thành cổ Quảng Trị trong khángchiến chống Mỹ qua những tư liệu mà đã xác minh hoặc nhờ những dấu hiệu
sẽ giúp người đọc hình dung dễ dàng
Chúng ta có thể thấy, chiến tranh ở bất kì dân tộc nào khi đi qua đềunghiễm nhiên trở thành kho tư liệu và ký ức tâm hồn của dân tộc ấy Và để nó
có sức sống vĩnh cửu thì các nhà văn đã tái hiện lại trong tác phẩm với cáinhìn của người trong cuộc, bằng mệnh lệnh của trái tim và sự thôi thúc viếtlên sự tối đa của ngòi bút Sự thật và con người trong chiến tranh đã được táihiện một cách chân thực, sâu sắc qua các tư liệu văn học Quả thực, nămtháng chiến tranh đã để lại cho con người những ký ức không thể nào phainhòa về những nỗi đau hy sinh, mất mát hay những niềm tự hào mà dân tộc
đã phải trải qua Bao thế kỷ trôi qua, những thế hệ trở về sau này chắc hẳn sẽkhông có dấu ấn sâu đậm về chiến tranh, họ sẽ chỉ hiểu một cách chung nhất
về những sự kiện trong lịch sử dân tộc đã diễn ra qua những những trangsách Tư liệu về chiến tranh đang nổi lên như một khuynh hướng có triểnvọng và là mảnh đất màu mỡ cho giới văn nghệ sĩ có thể thỏa sức cày xới.Bởi tư liệu rất khách quan, mang tính chân thực cao nên độc giả hôm nay nếu
Trang 23có ngả về tư liệu thì cũng có cái lí do chính đáng Họ cần sự thật trung thành.
Họ cần biết thêm về chiến tranh qua tư liệu gốc, từ đó sẽ chủ động suy đoán,bình giá để đưa ra cái nhìn đúng đắn nhất về cuộc chiến tranh Hư cấu nếu
“thấp lè tè” thì không thể sánh bằng tư liệu “ngồn ngột chất đời”, chứa đầy sựthật Nhu cầu chính đáng của con người là được tiếp cận sự thật, dẫu cho
“thuốc đắng dã tật”
Bằng chứng của sự phát triển nở rộ ấy chính là tác phẩm của nhà vănTrần Mai Hạnh với cuốn tiểu thuyết tư liệu lịch sử “ Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 (2014)” Nhà văn chia sẻ: “ Thời gian càng lùi xa, việc nhìn về quákhứ càng bị lớp bụi thời gian phủ mờ Nên tôi chọn cách viết tiểu thuyết tưliệu- lịch sử từ những tư liệu có thật mà tôi tiếp cận được từ nhiều phía, trong
đó có những tư liệu mà tôi có thể tiếp cận được từ phía Việt Nam Cộng hòa,như một cách trung thực để tái hiện lịch sử” Những cuốn tư liệu về chiến
tranh khác như Dòng sông mang lửa (2013) của Hồ Sỹ Hậu, Trong cơn lốc
xoáy (2016) của Trần Hương cũng góp phần tích cực và hiệu quả vào việc tái
hiện chiến tranh từ bản gốc Có thể xếp Đỉnh máu (2012) của Nguyễn Bảo
vào dòng tiểu thuyết tư liệu về chiến tranh Một hiện tượng văn học sử thiếtnghĩ cũng rất đáng quan tâm đó là sự xuất hiện của bộ tiểu thuyết tư liệu- lịch
sử trường thiên Đường thời đại của tác giả Đặng Đinh Loan ( gồm 17 tập, vớihơn 8000 trang, do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia- Sự thật ấn hành trọn bộ,năm 2013) Sự đánh giá có thể còn nhiều ý kiến chưa thống nhất, nhưng trướchết cần ghi nhận lao động nghệ thuật kiên nhẫn của tác giả đã dành trọn 30năm để hoàn thành một tác phẩm đồ sộ mà không phải ai cũng dễ dàng thựchiện được Ý đồ nghệ thuật của tác giả là kiến tạo một toàn cảnh về cuộckháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh của dân tộc bằng sử liệu, bằng tàiliệu gốc, kể cả những tài liệu đã được phép giải mật
Trang 242.3 Diện mạo của nhật ký chiến tranh
2.3.1 Đặc điểm nội dung của nhật ký chiến tranh
2.3.1.1 Nhật ký chiến tranh tái hiện lại hiện thực chiến trường khốc liệt
Nói đến chiến tranh, ai cũng sẽ liên tưởng ngay đến những gian khổ, hy sinh,mất mát, đến hiện thực khắc nghiệt, còn trên thực tế dưới con mắt người trongcuộc hiện thực ấy còn tàn khốc hơn rất nhiều đó làn mưa bom bão đạn, ranhgiới mong manh giữa sự sống và cái chết luôn thường trực, không ai biếttrước được số phận ngày mai sẽ ra sao, ai còn ai mất nhưng ẩn sâu trong đó là
sự ấm áp của tình đồng đội, đồng chí,… tất cả được hiện lên rõ nét trong từngtrang nhật ký, những bài thơ, những truyện ngắn, tiểu thuyết… hết sức chi tiết
và chân thực Mọi người sẽ nghĩ ngay tới sự thiếu thốn cùng cực của người
lính trong bài thơ Đồng Chí của Chính Hữu, sự hy sinh của những cô gái trẻ trong Khoảng trời hố bom của Lâm Thị Mĩ Dạ hay tinh thần chiến đấu hiên ngang của dân tộc qua Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành…tất cả đều thể
hiện rõ những khó khăn gian khổ, hy sinh, mất mát của dân tộc Việt Nam anhhùng trong cuộc chiến tranh vĩ đại này Không chỉ vậy, nó còn phản ảnh tínhthần cam đảm, anh dũng, yêu đời của những thế hệ thanh niên Việt Nam trong
cuộc kháng chiến như: Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê, Những đứa
con trong gia đình của Nguyễn Thi,…
Nhật ký chiến tranh xuất hiện khá đặc biệt, là những cuốn nhật ký viết từchiến trường được ví như thước phim quay chậm, cận cảnh về cuộc chiếntranh khốc liệt, là nguồn tư liệu vô giá khiến chúng ta hình dung một cách
chân thực về chiến trường khốc liệt Trong Mãi mãi tuổi hai mươi của
Nguyễn Văn Thạc, bằng sự quan sát tinh tế tỉ mỉ của người lính tân binh, tathấy rõ những gian khổ trong công tác huấn luyện chuẩn bị ra chiến trường
hay những cuộc hành quân gian nguy vất vả Hay Nhật ký Đặng Thùy Trâm
lại kể về những ngày tháng kiên cường chống lại bệnh tật, giành lại sự sống
Trang 25cho đồng đội, nhiệm vụ duy trì một trạm xã dã chiến trong một điều kiện vôcùng thiếu thốn, cái chết đe dọa từng giờ Bản thân nữ bác sĩ luôn phải đốidiện với cái chết có thể đến với mình bất cứ lúc nào giữa những trận càn ác
liệt của giặc Còn trong Nhật ký Lê Anh Xuân, anh đã viết trong nhật ký của
mình những ngày tháng hành quân nơi chiến trường, đau xót trước sự ra đicủa đồng đội hay là nỗi nhớ sâu thẳm trong trái tim người nghệ sĩ…Hầu hếtcuốn nhật ký nào cũng phản ánh được tư tưởng tình cảm và thái độ chiến đấucủa những con người họ đã từng gặp, những nơi mà họ đã đi qua, những cảmxúc mà họ đã trải nghiệm:buồn vui xen lẫn những giọt nước mắt, những bănkhoăn trăn trở, có thất vọng, có hy sinh, mất mát … tất cả đã được tái hiệnqua những trang viết đầy cảm xúc,tâm tư thay lời muốn nói, nó được dồn néntrên từng trang chữ trong cuốn nhật ký nơi chiến trường bom đạn rất chânthực và đáng tin cậy Những cuốn nhật ký đó chắc hẳn sẽ mãi là một điều bímật, nếu chủ nhân của nó có thể trở về sau ngày hòa bình thống nhất
Những trải nghiệm thực tế nơi chiến trường
Gia đình, quê hương và bạn bè là những người không ai muốn xa, bảnthân Nguyễn Văn Thạc cũng vậy Anh có một tương lai tươi sáng đang đợi ởphía trước nhưng anh đã tạm gác lại mọi thứ để tình nguyện đi chiến đấu phục
vụ Tổ quốc Anh bước vào cuộc đời người lính đầy gian nan và thử thách.Anh đã bước vào những đợt tập huấn đầu tiên và giây phút thảnh thơi ít ỏi,anh đã viết trong những trang nhật ký của mình những trải nghiệm mới mẻ ấy
một cách tỉ mỉ, chi tiết Đó là khi hành quân dưới cái nắng chói chang: “Hôm
nay, đi bên song dưới cái nắng chang chang, trên vai là cái ba lô con cóc của Trường Sơn Không thể nói là nhẹ được Quai đeo thít vào vai, ép lồng ngực lại Đau và bỏng rát, rất khó thở Đè lên hông, ép vào lung, ướt đầm đìa là
mồ hôi ta đấy” [8, 34] Hay:“tiến về phía đó, 600 con người gò lung và bước,
30 kg trên lung, đường bụi… Phải, lần nào hành quân cũng vậy Không còn
Trang 26nghĩ ngợi được gì nữa Thiên nhiên thu hẹp bằng nắp vung dưới gót người đi trước Không gian như co, như dồn, như ép, ép mạnh vào khắp cơ thể, vào cổ, vào vai, vào lung, vào chân Mệt lắm, nặng lắm Sự thật gồ ghề biết chừng nào” [8, 67] Đó thực sự là những trải nghiệm đầy thử thách của Thạc, anh
nhanh chóng thích nghi với điều kiện khắc nghiệt của chiến trường và luônkiên cường để vượt qua Tuy nhiên, đã có lúc anh thốt lên đầy thất vọng và
mệt mỏi: “ Sao con đường dài thế, dài mãi Mất hết cảm giác về vai và chân
bước hoàn toàn theo cảm tính, cổ họng khát khô…”, [8, 80] Hình ảnh những
người lính đeo ba lô đi dưới cái nắng gắt thật khiến cho ai cũng phải xót xa.Hay trong nhật ký của Lê Anh Xuân,anh đã miêu tả rất chi tiết những nơi mà
anh hành quân qua: “ Sáng đi dọc kinh Nguyễn Văn Tiếp Qua chùa Phật Đá.
Chiều đến Ấp Bắc, uống nước đá Chuẩn bị qua lộ Đông Dương Qua lô, qua những làng trù phú Ngủ trong nhà đồng bào bỏ hoang Gần sáng đồng bào
về cho dừa ăn”[11, 49].
Tất cả những thử thách, khó khăn chông gai mà những người lính trảiqua đã rèn cho họ ý chí kiên cường và vướt lên mọi thử thách, dù môi trườngchiến đấu có khắc nghiệt như thế nào đi nữa thì họ vẫn giữ vững quyết tâm
bảo vệ nước nhà Lê Anh Xuân đã viết trong nhật ký: “ Thứ bảy Đi đào hầm
ở đường xe bò H đi đào chung với Vân, chiều về sớm…” [11, 290] Hay
Hoàng Thượng Lân trong Tài hoa ra trận đã viết: “Đơn vị hành quân trong
rừng Đây là của đất Nghệ rồi Một con đường lớn, bề ngang độ trăm mét dẫn
đi quanh quẩn mãi, lâu rồi mà vẫn chưa hết đường” [3, 37] Đó là những
hình ảnh rất chân thực toát lên vẻ đẹp rạng ngời của những người lính khihành quân
Bước đầu, ai cũng chưa thích nghi được với môi trường khắc nghiệt củabom đạn nhưng rồi họ đã luôn mỉm cười và vượt lên trên tất cả Nguyễn Văn
Thạc cũng vậy, anh viết: “Ta đặt ba lô, và cười, luôn cười được Ừ, cuộc đời
Trang 27ta là thế Phải cười và phải vui Vai sinh viên, mặc dù tâm hồn luôn bay bổng nhưng nên thơ hơn cả những vần thơ là cái nghiến điếng người trên vai, là cái nắng bang hoàng, dữ dội” [8, 34] Anh cũng giống như bao thế hệ thanh
niên thời đó, mang trong mình bầu nhiệt thành cách mạng hồ hởi háo hức lênđường nhập ngũ, khi đối diện với thực tế khắc nghiệt sao tránh khỏi nhữngtâm trạng mệt mỏi nhưng không vì thế làm họ chùn bước, sờn chí, trái lạicàng thôi thúc họ thêm hăng say, nhiệt huyết Với ý thức cống hiến hết mìnhcho lý tưởng tuổi trẻ, nụ cười luôn thường trực trên môi, trên gương mặt họ
Đó là sự lạc quan yêu đời, tin tưởng vào ngày mai tươi sáng của dân tộc
Bước vào cuộc đời anh lính là chấp nhận đối diện với khó khăn, thiếuthốn của miếng cơm, manh áo, nước uống, bệnh tật… tất cả đều dễ hiểu vì đó
là khó khăn, thiếu thốn chung của cả dân tộc Viêt Nam Bản thân NguyễnVăn Thạc cũng đối mặt với những thử thách trên đường hành quân Trên vai
là chiếc ba lô nặng trĩu, phía trước là con đường xa tít dưới cái nắng gay gắtcháy da cháy thịt hay những đêm lạnh giá không làm anh sợ bằng việc phải
dùng thứ nước bẩn thỉu để sinh hoạt: “Vậy là rửa mặt, rửa chân tay, tắm giặt,
nước ăn, tất cả đều ở trên một cái ao nhỏ xíu, cỏ đầy trên mặt nước Nước cứ
mờ mờ xanh, và chỉ khẽ khua lên là lầm đục Đứng trên bờ thấy lợm giọng vì một mùi tanh Ôi chao, kinh sợ quá đi mất” [8, 156] Có thể thấy bằng con
mắt tinh tế, quan sát cuộc sống, Nguyễn Văn Thạc đã ghi chép, miêu tả tỉ mỉđến từng chi tiết nhỏ nhất của đời sống giúp chúng ta hình dung về những khókhăn, thiếu thốn luôn thường trực đối với những người lính Trên nhữngchặng đường hành quân vất vả ấy mới thấy hết được tình cảm của người trongcuộc: đó là tình bạn, tình đồng đội, tình đồng chí, yêu thương san sẻ cho nhautừng miếng cơm, củ sắn, cõng đỡ cho nhau một chút nặng nhọc, nhường mộtchỗ tốt, một tấm chăn lành… Đó chính là tình cảm, sự đùm bọc chở che củangười dân, những tình cảm tốt đẹp anh đón nhận qua những nơi hành quân đi
Trang 28qua, mới thấy hết được sự gần gũi, quan tâm chia sẻ của đồng bào, mối quan
hệ mật thiết của quân và dân đã tạo nên sức mạnh hào hùng mà không có vũkhí nào của kẻ thù có thể khuất phục được, điều đó đã làm lên chiến thắng vĩđại của lịch sử dân tộc trong cuộc chiến trường kỳ này
Chiến trường nơi bom đạn
Huấn luyện đối với những người lính tân binh trước khi ra trận chỉ là những thử thách ban đầu, là việc rèn giũa nghị lực, sức chịu đựng dẻo dai chongười lính trước khi ra trận, gian khổ thực sự là diễn ra ở nơi chiến trường ácliệt, luôn phải đối diện với bom mưa, bão đạn giữa sự sống và cái chết luônhiện hữu của những người đang trực tiếp tham gia chiến đấu Đang ở độ tuổiđôi mươi, tạm biệt gia đình, từ chối cuộc sống hạnh phúc cùng tương lai tươiđẹp đang đón đợi, Thùy Trâm đã hăng hái xung phong tình nguyện gắn bócuộc đời mình nơi chiến tranh ác liệt nhất đang diễn ra, một mình phụ tráchtrạm xá dã chiến trên mảnh đất Đức Phổ, Quảng Ngãi Giữa chiến trường ácliệt đó, chị phải làm tròn nhiệm vụ, cứu chữa thương binh, đảm bảo sự an toàncho trạm xá và đào tạo các y sĩ trẻ, những lúc cô đơn, mệt mỏi, nhớ nhà chịchỉ có thể tâm sự qua những trang nhật ký của mình Cuốn nhật ký đã trởthành một người bạn tâm tình, ở đó chị có thể bộc lộ cảm xúc, thái độ, suynghĩ về tất cả những điều chứng kiến, những khó khăn thiếu thốn trong côngtác cứu chữa thương binh, sự day dứt khi không dành lại sự sống cho thươngbinh từ tay tử thần, hay những tâm tư tình cảm, nỗi buồn sự trách móc hờngiận người bạn trai vô tình, là nỗi thất vọng chán chường và còn thấy đượcmột khát khao muốn cống hiến hết mình cho cách mạng nhưng lại thất vọng,buồn tủi vì chưa được chính thức đứng trong hàng ngũ Đảng viên… Quanhững trang viết của chị, chúng ta thấy những khó khăn: thiếu thốn thuốcmen, dụng cụ y tế, thương binh thì nhiều, bác sĩ lại ít Chị vừa phải làm côngtác chuyên môn, vừa chăm sóc thương binh, lại phải đảm bảo an toàn cho con
Trang 29người và cơ sở trước những trận càn của địch Có những ngày bệnh xá căng
thẳng đến tột bậc, khi giặc tiến sát đến: “suốt đêm ngày không gian náo động
vì tiếng bom, tiếng phản lực gào thét, tiếng tàu rọ, HU-1A quần lượn trên đầu Khu rừng đầy những vết bom đạn, những cây còn bị úa vàng vì chất độc.
Cả người cũng bị ảnh hưởng chất độc, tất cả cán bộ đều mệt mỏi bơ phờ tay chân rũ rượi ăn uống không nổi”[10, 157] Có khi bệnh xá trở thành một cái
bia đỡ để giặc nã đạn: “Địch uy hiếp khu vực bệnh xá một cách nghiêm trọng.
Những chiếc HU-1A quần sát trên ngọn cây phóng lựu đạn, hỏa tiễn tầm ngắm và xổ từng tràng đại niên nghe đến điếc tai Pháo từ núi Chóp bắn vào
nổ sát bên hầm, một mảnh pháo to bắn vào chẻ nát một thân cây lát hầm ngay giữa phòng mổ” [10, 235] Bác sĩ Trâm lo lắng đến thắt lòng; làm sao có thể
đảm bảo tính mạng cho an hem thương binh, làm sao có thể giữ an toàn chobệnh xá… Hay khi vừa trải qua một trận càn, tam ổn định bệnh xá thì lại bị
bom rơi trúng phòng bệnh, giết chết năm người “ Ôi cái cảnh điêu tàn làm
sao! Khu rừng trơ trọi, cây đổ ngổn ngang, những mảnh quần áo bay tơi tả dính trên các cành cây, mấy nếp nhà xiêu vẹo” [10, 246] Hay khi đối diện
với giặc đói, có khi anh chị em cán bộ bệnh xá mười hai ngày chỉ ăn đượcmột bữa cơm hơi no, bộ quần áo cứ khô rồi lại ướt không thay được, mấy lần
bị bom suýt chết… Trong điều kiện thiếu thốn trăm bề như vậy, ta vẫn thấyhiện lên khuôn mặt Trâm đáng yêu biết chừng nào, một tâm hồn phơi phới,tràn đầy nhiệt huyết tận tình trong công tác
Hay Chu Cẩm Phong cũng vậy, không trực tiếp cầm súng chiến đấu trựcdiện với quân thù mà vũ khí của anh chính là ngòi bút, anh luôn ở trên chiếntrường để tìm nguồn tư liệu phục vụ cho mặt trận văn hóa, cho ra đời nhữngtác phẩm hay Anh đã cho người đọc một cái nhìn bao quát và đầy đủ hơn vềcông tác ở chiến trường của những người hoạt động văn nghệ Phong đã dùngngòi bút và cặp mắt để “ quay cận cảnh” những gì chân thực nhất về cuộc
Trang 30chiến của dân tộc ta Đọc nhật ký của anh, chúng ta thấy những khó khăn thửthách, sức bền bỉ chịu đựng của con người giữa cái đói khát, sự thiếu thốn vậtchất, luôn phải đối mặt với bệnh tật, sự sống và cái chết… Phải gồng mìnhgánh chịu những cơn đói triền miên “ mắt mờ tay run không thể cầm nổi bút
mà viết” những văn nghệ sĩ ấy đã ao ước được ăn một bữa no,… Chu CẩmPhong cũng phải đấu tranh gay gắt với bản thân mình khi muốn ăn thêm cơm:
“ Sáng, ăn 1/3 khẩu phần, thấy thòm them quá Muốn ăn thêm Này, hãy tự kiềm chế đi, ăn thêm một thìa thôi nhé Trưa, chiều lấy gì nếu ăn hết từ sáng”
[5] Khi đọc những dòng tâm sự của các anh người lính nơi chiến trường tamới thấy xót xa và thấu hiểu những khó khăn gian khổ, sự đói khát, lúc bệnhtật mà họ đã phải gánh chịu… Bằng con mắt nghề nghiệp của mình, Chu CẩmPhong đã miêu tả rất chi tiết trong từng trang nhật ký của mình về những cảnhtượng ấy, cuốn sổ nhỏ đó đã trở thành tư liệu trong công việc sáng tác văn
nghệ phục vụ chiến tranh Trong nhật ký, anh viết: “… Đêm qua ngủ lại trong
một cái nhà hoang giữa rừng Lúc đầu chỉ có 6 đứa bọn mình, càng về tối càng đông Chen chúc trong một cái nhà cũ đã siêu mục có 21 người Chật không có chỗ chen Đêm nằm, các xà nhà cứ kêu răng rắc như muốn sụp Nước trong rừng chảy qua nền nhà ướt át, bẩn thỉu Vẫn cứ phải nấu cơm trên cái nền ướt đó…” [5] Luôn phải đối mặt với cái chết, Phong trân trọng
từng phút giây sống Anh luôn ý thức được trách nhiệm của người cầm búttrong chiến đấu, làm việc hăng say, quên mình và ngay khi đau ốm anh vẫngắng gượng làm việc Nhưng có lẽ, tất cả những gian khổ, thiếu thốn về vậtchất đó không kinh khủng đáng sợ như sự mất mát, thiếu thốn về tinh thần:Phong đau đớn khi nhận được tin người yêu hy sinh,… Thế mới biết, chiếntranh đã cướp đi những thứ quý giá, sự mất mát chia ly không thể nào bù đắpđược Càng mất mát đau thương, con người ta càng được tôi luyện thử thách,
vì thế đối với họ, được sống và cống hiến cuộc đời mình vì lí tưởng, vì sự
Trang 31nghiệp của nhân dân là một vẻ vang cho nên cái chết thật “ nhẹ nhàng” lắmhay!
2.3.1.2 Nhật ký chiến tranh đã tái hiện lại tâm trạng người trong cuộc
Trong hầu hết các cuốn nhật ký, ta đều thấy những tấm gương ngời sáng vềlòng dũng cảm, sự hy sinh quên mình và hơn hết là tình yêu cuộc sống, sự lạcquan yêu đời trong tâm hồn người lính Các chiến sĩ đã vượt qua mọi khókhăn thử thách của thực tế khắc nghiệt để hòa mình, trải lòng vào thiên nhiêngiữ vững lý tưởng sống của mình Tất cả đều hiện lên một cách cụ thể, chitiết Trong những cuốn nhật ký ấy có thể là nỗi nhớ về gia đình, nỗi nhớ dadiết người yêu hay sự ngưỡng mộ cảm phục về một tấm gương anh hùng,…tất cả chất chứa tình cảm, nỗi niềm của người trong cuộc nhìn nhận cuộc sống
từ chiến trường khắc nghiệt
Những trăn trở,lo sâu trước sự sống và chết
Trong văn học viết về đề tài chiến tranh, nhất là văn học thời kỳ khángchiến chống Mỹ, hình tượng người lính giữa chiến trường được miêu tả thậtđẹp với những phẩm chất sáng ngời: anh dũng, hiên ngang, xả thân vì lýtưởng cách mạng Con người được miêu tả với tầm vóc lớn lao, phi thường.Bao nhiêu gian khổ, hy sinh cũng không làm họ lùi bước Thế nhưng, chiếntrường khốc liệt, bom đạn kẻ thù trút xuống điên cuồng, biết bao nguy hiểmluôn rình rập người lính từng phút, từng giây, những cảnh đổ máu hy sinh liêntiếp xảy ra quanh mình Sống trong cảnh ấy, không phải lúc nào cũng lạcquan mà bên cạnh ấy qua những dòng nhật ký chúng ta thấy những dòng tâm
sự sâu kín của người lính Trước tiên là những đau đớn, lo âu bởi sự tàn phákhốc liệt của chiến tranh Bao cái chết của bạn bè, đồng đội, cuả nhân dângieo vào lòng người lính nỗi hãi hung, sự xót xa, tê tái khi nghĩ đến bản thân.Nhưng để giữ vững tinh thần cho mình và đồng đội, để thực nghiêm những kỉ
Trang 32luật quân đội, họ không được phép thể hiện điều này Bởi thế, nhật ký là nơi
họ gửi gắm
Nhật ký Đặng Thùy Trâm thổ lộ những tâm sự chân thực đến ứa nướcmáu về nỗi đau xót, tủi thân của bản thân trong chiến trường máu lửa Chứngkiến bao hy sinh mất mát diễn ra liên tiếp, Thùy liên tưởng đến mình và cảmthấy đau xót vô hạn trong dự cảm chẳng lành Chị hay nghĩ đến cái chết sẽđến với mình trong nay mai Mỗi khi nghĩ đến, chị lại nhớ nhiều đến mẹ,thương mình, thương mẹ xé lòng Có những lúc chị run lên trước những tổnthất kinh hoàng của chiến tranh Trong đau đớn có cả sợ hãi nữa Không sợhãi sao được khi những người quanh mình cứ lần lượt ra đi Mạng sống củacon người trong chiến tranh quá mỏng manh và tội nghiệp làm sao Thùy
Trâm cứ trở đi trở lại nỗi ám ảnh: “ Lấy gì để đảm bảo rằng em sẽ còn sống
cho đến ngày chiến thắng” [10, 41] “ Mình vẫn cười vui với em nhưng trong lòng xót xa biết mấy Cũng có thể đây là lần cuối cùng ta gặp nhau” [10,79].
Ý nghĩ về tuổi thanh xuân vĩnh viễn đã qua đi trong chiến tranh, cơ hội tìm
đến hạnh phúc rất mong manh của chị đau đớn đến lặng người: “ Tuổi xuân
của mình đã qua đi trong lửa khói, chiến tranh đã cướp mất hạnh phúc trong tình yêu và tuổi trẻ Ai lại không tha thiết với mùa xuân, ai lại không muốn cái sáng ngời trong đôi mắt và trên đôi môi căng mọng khi cuộc đời còn ở tuổi hai mươi? Nhưng… tuổi hai mươi của thời đại này đã phải dẹp lại những ước mơ và hạnh phúc mà lẽ ra họ phải có” [10, 206] Những xót xa quặn thắt
cho số phận trong nhật ký của Đặng Thùy Trâm luôn đi cùng nỗi cô đơn thămthẳm giữa chiến trường khốc liệt Chiến tranh đã khiến chị không được sốngvới những người ruột thịt, khiến tình yêu không còn nguyên vẹn như xưa, baonhiêu con người gắn bó thiết tha với chị trên mảnh đất Đức Phổ cũng lần lượt
ra đi Có người ra đi vì nhiệm vụ chiến đấu, nhiều người ra đi vì bomđạn,vĩnh viễn không bao giờ gặp lại Trâm luôn run rẩy, đau đớn trước những
Trang 33chia ly Những cuộc chia tay dày đặc trong nhật ký, cuộc chia tay nào cũngđẫm nước mắt Cảm giác cô đơn cứ trỗi dậy, thấm thía, tê tái Trái tim yêuthương và nhạy cảm của chị luôn run lên trong những dự cảm chẳng lành Đối
mặt với những lần “tử biệt”, Thùy đau xót, hãi hung: “ Hường ơi! Hường đã
chết rồi sao? Mình nghe tin mà bàng hoàng như trong cơn ác mộng Bao giờ cho hết những đau xót này, nay một người ngã xuống, mai lại một người ngã xuống” [10, 40] “ Chị Hai về mang tin buồn: Anh Dũng đã chết vì bị Mỹ bắt sống và giết tại chỗ Đau xót biết chừng nào!” [10, 68] “ Khiêm đã hy sinh rồi! Nghe tin mình bàng hoàng không tin là sự thực!”[10, 73] Rất nhiều lần
chị tự động viên mình phải cứng rắn và bình tĩnh để vượt qua mọi thử tháchcủa chiến trường, thế nhưng nỗi đau xót, cô đơn trĩu nặng không hề vơi bớt
Chị thổ lộ trong nhật ký những dòng ứa máu: “ Biết sống sao đây, tốt hơn hết
là Th hãy cao đầu mà sống, sống với tình cảm trong sáng, với lý tưởng cao đẹp của mình (…) Nói vậy mà vẫn thấy xót xa, cay đắng và cô đơn lạ lùng”[10, 78]
Trong nhật ký của Hoàng Thượng Lân cũng thể hiện rất sâu sắc nhữngchạnh lòng, đau đớn, nỗi ghê sợ hãi hung trước cuộc chiến tranh khốc liệt Đó
là phần tâm sự sâu kín và thành thật nhất của người lính, anh đã ghi lại trong
trang viết của mình về cảm giác kinh hoàng khi đi lấy xác đồng đội: “ Máu
của người chết dính vào quần áo của con, một mùi tanh không bao giờ quên
vị nó được Chiều đó, nghĩ đến lúc đào tử sĩ, con nuốt không nổi cơm, người run như sốt rét” [3, 99]
Nguyễn Văn Thạc trên đường ra mặt trận cũng đã ghê sợ khi nghĩ đến
cái chết rất có thể đến với mình ngay trong nay mai: “ Thật ghê sợ khi phải
vĩnh viễn xa gia đình Kể ra bây giờ mà chết thì thật đáng tiếc Những ngày còn bé, những lúc đi học chẳng bao giờ phải phiền toái đến chuyện đó cả, chỉ miên man với tương lai anh sẽ làm gì và sống ra sao Nhưng bây giờ, những ý
Trang 34nghĩ đó mọc ra Khó gì đâu- cái chết- chỉ một viên đạn lạc hay một hơi bom.
Sự thật bi đát đó không trừ một ai cả” [8, 114] Cảm giác buồn nản, khổ đau
đến rời rã thường xuyên hiện diện lên trong nhật ký của anh: “Còn tôi rời rã,
tôi chán nản với hết thảy mọi điều, mọi thứ trên trái đất này (…) Trời ơi, giá lúc này tôi có thể chết ngay đi được Có thể quên đi hết nỗi phiền muộn và sầu não ngập tràn hồn tôi thì sung sướng biết bao” [8, 233].
Hay Hoàng Thượng Lân đã viết trong nhật ký của mình tâm sự với bố
mẹ nỗi khao khát được trở về với mái ấm gia đình, nỗi ghê sợ khi cứ mãi đốimặt với những chết chóc bi thảm của chiến tranh Không hiếm giây phút anh
thấy mệt mỏi: “ Ba mẹ ơi, giờ đây con cứ muốn được về nhà; con sẽ lê đôi
chân của mình leo lên cầu thang, gõ cửa phòng 48, con sẽ khuỵu xuống cửa nhà và… con sẽ òa lên khóc!” [3, 199].
Còn đối với Dương Thị Xuân Qúy thì mang nỗi đau phải xa đứa con gái
bé bỏng mới hơn một tuổi Xa con là khổ Xa con trong cảnh bom rơi đạn nổ,
hi vọng ngày được trở về hết sức mong manh càng đau đớn gấp trăm nghìnlần Những trang nhật ký của chị ướt đẫm nước mắt vì nhớ thương con, vì sựchia ly mang linh cảm “ tử biệt” xé lòng Nỗi lo sợ hãi hùng khi ta thấy thể
hiện qua những dòng nhật ký chị viết cho con: “ Con ơi, sáng nay mẹ đã vừa
đi,vừa khóc vì thương con Mẹ khóc giữa hàng quân, người đi trước không nhìn thấy mẹ khóc, người đi sau không thấy mẹ khóc” [6, 34] Đây là nỗi đau
quằn quại đến xé lòng khi người mẹ phải xa con, chị còn sợ hãi, âu lo đến
cùng cực trước sự đe dọa của chiến tranh lên tính mạng mình: “ Ngồi dưới
hầm một mình cũng sợ Chỉ sợ một quả bom giáng xuống hoặc một mảnh bom xuyên thủng đầu Những ý nghĩ hãi hùng ập đến Chị Lê Đoan, Phục Nguyễn, giáo sư Đặng Văn Ngữ Toàn chết vì B52 cả” [6,78],…
Ước mơ, khát vọng và hoài bão sống của người lính
Trang 35Nhật ký hiện lên những mối tình đẹp đẽ Tình yêu luôn là đề tài hấp dẫnđối với người đọc, luôn là những cảm hứng bất diệt cho các nhà sáng tác.Ngoài tình yêu quê hương đất nước, tình yêu gia đình, bạn bè hay đồng đội thìtình yêu nam nữ là một trong những tình cảm được nói đến nhiều trong nhậtký:
Lê Anh Xuân trong những dòng nhật ký của mình khi nhớ về người yêu:
“ Em XL Yêu quý của anh Chắc em đã về Hà Nội rồi phải không? Độ này hai năm trước anh sung sướng ở bên em, bây giờ anh ở xa em hàng ngàn cây
số Nghe tin cán bộ tập kết đang chuẩn bị sẵn sàng, đội ngũ để trở về quê hương, H xúc động lắm Không biết chừng XL của H đang trên đường về.
H phải sống sao cho xứng đáng với mối tình thiêng liêng ấy” [11, 60].
Hay trong nhật ký Nguyễn Văn Thạc khi trên đường hành quân anh đã
nhớ người da diết: “ Khuôn mặt dịu dàng ấy, sao hôm nay im lặng thế, xôn
xao trong lòng ta”; “ Ôi, giọng nói ấy, cứ làm ta rạo rự, giọng nói đánh thức trong ta những niềm xao xuyến đã chết lặng và làm cho hồn ta, trái tim ta tràn đầy hạnh phúc” [8, 45] Và Nguyễn Văn Thạc luôn mong một ngày mai
hòa bình sẽ đến nhanh để đc gặp lại người con gái mà anh yêu: “ Luôn ta mơ
ước, ta khao khát, một buổi sáng đẹp trời, nhớ một màu xanh kì dị, ta thức giấc trong hạnh phúc Một người đang chờ ta, đang đợi ta Đó là P, đó là P yêu dấu” [6, 45].
Nếu như Lê Anh Xuân, Nguyễn Văn Thạc thổn thức một trái tim yêu thìđến Đặng Thùy Trâm là nỗi khắc khoải, hờn giận về mối tình dang dở của
mình: “ M ơi, hãy đi đi, đừng gieo đau buồn lên con tim rớm máu của Th
nữa Giữa chúng ta không thể nào có một hạnh phúc vĩnh viễn dù cả hai chúng ta còn sống sau cuộc chiến tranh này” [10, 57].
Tình yêu như một liều thuốc thần dược cổ vũ tinh thần chiến đấu, giúpnhững người lính vượt qua những cuộc hành quân vất vả hay những khó khăn
Trang 36gian nan nơi chiến trường tàn khốc Họ đã đặt tình yêu Tổ quốc lên hàng đầu,gạt bỏ đi những cá nhân riêng tư Tuy nhiên, trong sâu thẳm trái tim họ luônnhớ về người mà họ yêu và mong sẽ nhanh chóng được gặp lại.
Bên cạnh những mối tình thơ mộng, người chiến sĩ còn mang trong mình
lý tưởng cách mạng cao cả Đi theo tiếng gọi của Tổ quốc, họ đã gác lại sách
vở, con đường học tập hay sự nghiệp tươi sáng phía trước Họ chấp nhận mọigian nan, khó khăn và có thể là hy sinh nơi chiến trường để sẵn sang phục vụcho công cuộc đấu tranh của dân tộc
Nguyễn Văn Thạc đã viết: “ Em ơi, tất cả những niềm vui nhỏ bé đó,
phải biết hy sinh Nếu em muốn đi xa hơn nữa Đất nước gọi em, và chìa tay đón em vào lòng, với ước mong em là đứa con khỏe mạnh và có ích Em hãy biết bỏ qua những không nhỏ mà nắm lấy cái gì lớn nhất mà cánh tay em có thể dâng trọn cho Tổ quốc” [8, 145] Hay khi anh chưa được đứng trong
hàng ngũ của Đảng thì tâm trạng buồn và chán nản lại hiện lên trong anh, anh
nghĩ: “ Đôi lúc, mình có cảm giác tội lỗi rằng mình đi bộ đội là tạm thời thôi.
Hình như xa nhà chỉ vài ngày và không lâu nữa lại trở về Hà Nội” [6, 114].
Đặng Thùy Trâm không chỉ là một cô gái mơ mộng, một bác sĩ tài giỏi
mà còn là một người rất có trách nhiệm: “ Những chuyến ra đi vẫn còn tiếp
diễn, mình đã gặp biết bao nhiêu người vì nhiệm vụ ra đi, chưa chắc đã có đủ đầy đủ niềm tự hào phấn khởi khi bước chân trên con đường rất đỗi vinh quang Vì sao ư? Dễ hiểu thôi, vì chiến trường đòi hỏi quá cao mà hậu phương thì đã tất cả cho tiền tuyến từ những năm nào” [10, 168-169].
Cuối cùng, người lính cũng có những phút giây lãng mạn trong tâm hồn.Trong hoàn cảnh chiến trường bom đạn ấy không thể khiến con người ta trởnên cằn cỗi, khô khan được Ngoài thời gian hành quân, chiến đấu thì họ cũng
có những phút thảnh thơi trong tâm hồn
Trang 37Thùy Trâm, một cô gái dù có nghiêm khắc đến đâu thì cũng có lúc côsống với phút giây lãng mạn Khi hòa mình vào với cảnh vật thiên nhiên,
Thùy viết: “ Và đêm đến cả khu rừng ngập tràn trong ánh trăng”; “cuộc sống
quả là một bức tranh muôn màu muôn sắc, mình như một người họa sĩ mới ra trường đã bước ngay vào thực tế phức tạp Trước mắt mình là những ngọn núi trùng điệp, có những ngọn núi xanh lam với những dải mây trắng vương nhẹ bên sườn núi” [10, 228].
Hoàng Thượng Lân hành quân đi qua nhiều nơi, anh đã dành rất nhiều
tình cảm với địa điểm anh từng gắn bó, anh cũng đã viết: “ Tôi yêu những
mái nhà hầm Vĩnh Linh, yêu những cồn cát trắng xóa và những vùng đất đỏ
hễ mưa xuống là ngập, lầy lội Tôi yêu dòng sông Sa Lung, dòng Bến Hải với những bến đò sơ tán” [3, 233].
Và khi đọc những trang nhật ký của Lê Anh Xuân, chúng ta sẽ thấy anh
là không chỉ là người mà anh còn là một thi sĩ có tâm hồn phong phú Thiênnhiên trong mắt của Xuân không chỉ có cảnh vật, âm thanh của muôn loài màcòn có sự xuất hiện của con người Nhật ký ngày 5/1/1965, anh viết: “ Đi 9giờ sáng đến trạm Giăng võng ngủ Nắng dọi