1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiện tượng chuyển nghĩa của nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người trong ca dao, tục ngữ Việt Nam

75 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, các bộ phận cơ thể người được sử dụng một cách sáng tạo, đadạng sang những biểu vật khác, từ chuyển nghĩa đó hình thành ý nghĩa ẩn dụ hayhoán dụ.Các từ chỉ bộ phận cơ thể ng

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Người hướng dẫn khoa học

TS.NGUYỄN THỊ HIỀN

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em xin chân thành cảm ơn các thầy,

cô giáo trường ĐHSP Hà Nội 2 và các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Ngữ Văn đãtrang bị cho em vốn kiến thức , giúp em xây dựng nên cơ sở khoa học của đề tài

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo, TS Nguyễn ThịHiền - người đã tận tình, trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện đềtài

Qua đây, em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữvăn trường ĐHSP Hà Nội 2 đã giúp đỡ em hoàn thành khóa luận

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Nguyễn Ngọc Trâm

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em Các kết quảnghiên cứu, số liệu trình bày trong khóa luận là trung thực và không trùng với kếtquả của các tác giả khác

Hà Nội, tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Nguyễn Ngọc Trâm

Trang 5

Mục Lục

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 4

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

7 Bố cục của khóa luận 5

NỘI DUNG 6

Chương 1 6

CƠ SỞ LÍ LUẬN 6

1.1 Nghĩa của từ 6

1.1.1 Các quan niệm về nghĩa của từ 6

1.1.2 Các thành phần nghĩa của từ 9

1.1.2.1 Nghĩa biểu vật 9

1.1.2.2 Nghĩa biểu niệm 10

1.1.2.3 Nghĩa biểu thái 11

1.2 Hiện tượng chuyển nghĩa của từ 12

1.2.1 Khái niệm 12

1.2.2 Các phương thức chuyển nghĩa 13

1.2.2.1 Chuyển nghĩa ẩn dụ 14

1.2.2.2 Chuyển nghĩa hoán dụ 19

1.2.3 Kết quả của hiện tượng chuyển nghĩa 23

1.2.3.1 Thay đổi ý nghĩa biểu vật 23

1.2.3.2 Thay đổi ý nghĩa biểu thái 24

Trang 6

1.3.1 Đặc điểm về nội dung 25

1.3.1.1 Đặc điểm về nội dung của tục ngữ 25

1.3.1.2 Đặc điểm về nội dung của ca dao 26

1.3.2 Đặc điểm về hình thức 27

1.3.2.1 Đặc điểm hình thức của tục ngữ 27

1.3.2.2 Đặc điểm hình thức của ca dao 28

1.4 Khái quát về nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt 29

Chương 2 PHƯƠNG THỨC CHUYỂN NGHĨA CỦA NHÓM TỪ CHỈ BỘ PHẬN CƠ THỂ NGƯỜI TRONG CA DAO TỤC NGỮ VIỆT NAM 32

2.1 Kết quả khảo sát thống kê 32

2.2 Chuyển nghĩa ẩn dụ của từ chỉ bộ phận cơ thể người 33

2.2.1 Ẩn dụ hình thức 34

2.2.2 Ẩn dụ vị trí: Theo kết quả khảo sát, ẩn dụ vị trí có số lượng lớn Các từ xuất hiện với tần xuất lớn trong ẩn dụ vị trí gồm đầu, mặt, chân, lưng… 39

2.2.2.1 Ẩn dụ chỉ vị trí trước hết: 39

2.2.2.2 Ẩn dụ chỉ vị trí tận cùng: 40

2.2.2.3 Ẩn dụ chỉ vị trí bề mặt: 41

2.2.2.4 Ẩn dụ vị trí chỉ chỗ nối: 42

2.2.2.5 Ẩn dụ chỉ vị trí ở giữa: 43

2.2.2.6 Ẩn dụ chỉ vị trí thấp nhất: 43

2.2.2.7 Ẩn dụ chỉ vị trí ở bên trong: 44

2.2.3 Ẩn dụ chỉ tính chất: 45

2.3.3.2 Ẩn dụ chỉ sự yếu đuối 46

2.3.3.3 Ẩn dụ chỉ mức độ 46

2.3.3.4 Ẩn dụ chỉ tính chất gần gũi, di truyền 46

2.3.4 Ẩn dụ trạng thái 46

2.3.4.1 Ẩn dụ chỉ trạng thái trôi chảy của thời gian: 46

Trang 7

2.3.4.2 Ẩn dụ chỉ trạng thái vất vả, cực nhọc: 46

2.3.4.3 Ẩn dụ chỉ trạng thái gắn bó mật thiết: 46

2.3 Chuyển nghĩa hoán dụ của từ chỉ bộ phận cơ thể người 48

2.3.1 Hoán dụ dựa trên quan hệ giữa bộ phận- toàn thể: 49

2.3.2 Hoán dụ dựa trên quan hệ cơ quan chức năng và chức năng: 50

2.3.2.1 Hoán dụ bộ phận cơ thể biểu thị trạng thái, tâm lí của con người 51

2.3.2.2 Hoán dụ bộ phận cơ thể biểu trưng cho suy nghĩ của con người 52

2.3.2.3 Hoán dụ bộ phận cơ thể biểu trưng phẩm chất, ý nghĩ, tính cách con người .53

Tiểu kết 54

Kết luận 56

A- TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

B – TƯ LIỆU KHẢO SÁT 58

Trang 8

Khi khảo sát các từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người (BPCTN), người ta pháthiện các từ chỉ bộ phận cơ thể người được dùng với nghĩa rất phong phú Nhóm từchỉ bộ phận cơ thể người là một trong những lớp từ cổ xưa, thuần gốc và căn bảnnhất trong các ngôn ngữ Bởi vì một cách tự nhiên, khi con người từ buổi sơ khainhận biết thế giới, những gì sớm sủa nhất, gần gũi nhất, trực tiếp nhất chính là bảnthân, cơ thể, với những bộ phận cơ thể và sự vận động, hoạt động của chúng Từnhận thức về vị trí, cấu tạo, chức năng của các từ chỉ bộ phận cơ thể mà ngôn ngữhọc đã xác lập ý nghĩa của chúng Từ đó, trong đời sống sinh hoạt, các bộ phận cơthể người một mặt biểu đạt các hoạt động tự thân vốn có mà tạo hoá đã sinh ra chocon người, mặt khác còn biểu đạt hoạt động phối hợp của chúng với các bộ phận,các hoạt động khác nhau của cơ thể, từ đó hình thành ý nghĩa quan hệ qua các tổhợp Bên cạnh đó, các bộ phận cơ thể người được sử dụng một cách sáng tạo, đadạng sang những biểu vật khác, từ chuyển nghĩa đó hình thành ý nghĩa ẩn dụ hayhoán dụ.

Các từ chỉ bộ phận cơ thể người của mỗi cộng đồng mang tính thuần gốc bảnđịa của cộng đồng ngôn ngữ đó Tuy nhiên, cách thức chuyển nghĩa, cách sử dụng

Trang 9

chúng để biểu đạt ở mỗi ngôn ngữ lại khác nhau tuỳ thuộc vào cách tư duy,phương thức phản ánh của mỗi dân tộc, mà chỉ có sự so sánh, đối chiếu mới cho tathấy được nét tương đồng cũng như sự khác biệt giữa chúng trong từng ngôn ngữ.

Cho đến nay, đã có nhiều nghiên cứu về nghĩa và sự chuyển nghĩa của nhóm

từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt tuy nhiên, nghiên cứu sự chuyển nghĩanày dựa trên ngữ liệu ca dao, tục ngữ thì chưa được đề cập trong bất kì công trìnhnghiên cứu nào Vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài “Hiện tượng chuyển nghĩa củanhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người trong ca dao, tục ngữ Việt Nam” là đối tượngnghiên cứu của khóa luận

2 Lịch sử vấn đề

Cho đến nay ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về nhóm từchỉ bộ phận cơ thể Nhóm Trịnh Đức Hiển nghiên cứu chúng với tư cách là từ tốtrong các từ ghép, Bùi Khắc Việt nghiên cứu nghĩa biểu trưng của chúng NhómNguyễn Trọng Khánh tìm hiểu sự chuyển nghĩa của chúng trong tiếng Lào Cũng

có tác giả nghiên cứu các thành ngữ có thành tố là các từ chỉ bộ phận cơ thể, như,Nguyễn Thị Thu khảo sát bản chất văn hoá trong thành ngữ tiếng Việt có từ chỉ tứchi người, còn Nguyễn Văn Trào lại xem xét các thành ngữ biểu cảm trong tiếngAnh có chứa các từ chỉ bộ phận cơ thể người Nhóm Nguyễn Thị Hoài Nhân thìhạn chế ở các thành ngữ có từ “ruka”, “hand”, “tay” trong ba thứ tiếng Nga, Anh,Việt Một số tác giả tìm hiểu ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm các từ chỉ bộ phận cơthể theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận (Lê Thị Kiều Vân), Trịnh Thị Thanh

Huệ, Nguyễn Ngọc Vũ.

Tiêu biểu là Nguyễn Đức Tồn với “Tìm hiểu đặc trưng văn hóa dân

tộc của ngôn ngữ và tư duy người Việt (Trong sự so sánh với các dân tộc khác)”.

Trong công trình này tác giả đã nghien cứu đặc điểm của quá trình chuyển nghĩacủa từ chỉ động vật, thực vật, bộ phận cơ thể người (có so sánh giữa tiếng Việt và

Trang 10

tiếng Nga) Nhà nghiên cứu đã thống kê số lượng chuyển nghĩa, các phương thứcchuyển nghĩa và đưa ra những kết luận quan trọng như: (1) Xu hướng chuyểnnghĩa chiếm ưu thế trong cả hai ngôn ngữ Nga – Việt là ẩn dụ Nhưng khuynhhướng sử dụng ẩn dụ trong các trường từ vựng tiếng Nga mạnh hơn so với cáctrường từ vựng Tiếng Việt Còn xu hướng sử dụng hoán dụ trong các trường từvựng tiếng Việt lại mạnh hơn Điều đó cho phép kết luận, người Nga định hướngvào tư duy “phạm trù”, người Việt thiên về tư duy hình tượng, cảm giác, hànhđộng – trực quan; (2) Do chuyển nghĩa ẩn dụ về nguyên tắc có tính biểu cảm hơn

so với chuyển nghĩa hoán dụ cho nên các trường từ vựng ngữ nghĩa tiếng Ngathường có tính biểu cảm cao hơn; (3) Do quy định về loại hình ngôn ngữ, trongtiếng Nga ngoài những tên gọi chuyển nghĩa hoàn toàn còn có kiểu tên gọi chuyểnnghĩa bộ phận; (4)Tiếng Việt có hai kiểu chuyển nghĩa là đánh đồng sự vật với conngười (theo lối nhân cách hóa), đánh đồng một đối tượng bất động vật với động vật(theo lối linh hồn hóa) Tiếng Nga không tồn tại kiểu thứ hai Nói chung đây làcông trình đã xây dựng khung lí thuyết và phương pháp nghiên cứu ở góc độ vănhóa, góc độ tri nhận, đặc biệt là những nghiên cứu về hiện tượng chuyển nghĩa của

từ ở Việt Nam Không chỉ vậy, khi nói đến vấn đề này, ta phải nhắc đến Lý ToànThắng với những nghiên cứu về hiện tượng chuyển nghĩa từ các từ chỉ bộ phận cơthể người trong tiếng Việt và tiếng Anh (ngoài ra còn có tiếng Nga và một số ngônngữ khác) sang các từ chỉ bộ phận đồ vật và định vị không gian để thấy được cáchnhận thức và hiện thực của từng dân tộc Cùng tiếp tục hướng nghiên cứu đó,Nguyễn Thúy Khanh, Chăm Phomma – vông đã có một số công trình nghiên cứu

cụ thể về tên gọi các loài động vật, các từ chỉ bộ phận cơ thể người trên cơ sở sosánh Việt – Nga, Việt – Lào

Tóm lại, các từ chỉ BPCTN đã được nghiên cứu trong nhiều công trình Tuyvậy, mức độ nghiên cứu ở những từ, những nhóm từ không đều nhau trong mỗi

Trang 11

công trình Ở các công trình nghiên cứu này, có những từ được khảo sát rất sâu, cónhững từ mới chỉ được nhận diện một cách khái quát Nhóm từ chỉ BPCTN cũng

đã được nghiên cứu theo nhiều góc độ khác nhau: có thể được nghiên cứu từ góc

độ ngôn ngữ học cấu trúc, hoặc theo hướng ngôn ngữ học tri nhận Tuy nhiên,nghiên cứu sự chuyển nghãi của nhóm từ dựa trên ngữ liệu ca dao, tục ngữ ViệtNam thì cho đến nay chưa có công trình nào đề cập đến

3 Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu sự chuyển nghĩa của từ chỉ BPCTN trong tiếng Việt qua cácphương thức chuyển nghĩa ẩn dụ và hoán dụ dựa trên các ngữ liệu về cadao, tục ngữ

- Cung cấp tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập, giảng dạy vănhọc và tiếng Việt trong dạy và học Văn trong nhà trường phổ thông

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Đưa ra hệ thống lí thuyết có liên quan đến đề tài về hiện tượng chuyểnnghĩa, các phương thức chuyển nghĩa của từ

- Khảo sát, thống kê số lượng và tần suất xuất hiện các từ chỉ bộ phận cơthể người, chuyển nghĩa ẩn dụ, chuyển nghĩa hoán dụ của các từ chỉ bộphận cơ thể người trong ca dao, tục ngữ Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng một số phương pháp như khảo cứu tư liệu; phương pháp phân tíchnghĩa tố; phương pháp miêu tả, phân tích, tổng hợp; các thủ pháp kê, phân loại; thủpháp so sánh, đối chiếu…

6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

6.1 Đối tượng

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hiện tượng chuyển nghĩa của các từchỉ bộ phận cơ thể người trong ca dao, tục ngữ Việt Nam

Trang 12

6.2 Phạm vi nghiên cứu

Để tìm hiểu quá trình chuyển nghĩa của nhóm từ chỉ BPCTN trong tiếng Việt,khóa luận khảo sát hiện tượng chuyển nghĩa của nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể ngườitrong cuốn “Vũ Ngọc Phan tuyển tập” Tập III: Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam(NXB Văn Học) (năm 1956)

7 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính củakhóa luận được trình bày trong hai chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận

Ở chương này chúng tôi xin trình bày lí thuyết về nghĩa của từ; các thànhphần nghĩa của từ bao gồm nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm và nghĩa biểu thái; hiệntượng chuyển nghĩa của từ bao gồm chuyển nghĩa ẩn dụ, chuyển nghĩa hoán dụ vàkết quả của hiện tượng chuyển nghĩa

Chương 2: Sự chuyển nghĩa của nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người trong cadao, tục ngữ Việt Nam

Ở chương này chúng tôi xin trình bày kết quả khảo sát thống kê của các từchỉ bộ phận cơ thể người trong ca dao, tục ngữ Việt Nam, kết quả chuyển nghĩa ẩn

dụ và chuyển nghĩa hoán dụ của các từ chỉ bộ phận cơ thể người

Trang 13

NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN

Ngôn ngữ là một hệ thống điển hình bao gồm tổng thể các yếu tố và các yếu

tố đó đều có mối quan hệ chặt chẽ với nhau theo nhiều kiểu dạng khác nhau Nằmtrong hệ thống ngôn ngữ ấy, các đơn vị từ vựng cũng không tồn tại biệt lập, táchrời mà luôn có những mối quan hệ nhất định cả về hình thức lẫn ngữ nghĩa Nghĩacủa từ nói chung, sự chuyển nghĩa của từ nói riêng là một trong những vấn đềtrung tâm cơ bản của nghiên cứu ngôn ngữ Cho đến nay, đã có rất nhiều côngtrình đề cập đến nội dung này theo các góc độ khác nhau

1.1 Nghĩa của từ

1.1.1 Các quan niệm về nghĩa của từ

Nghĩa của từ được các nhà ngôn ngữ học, triết học, tâm lí học,… nghiêncứu rất sớm Tuy nhiên, để xác định được nghĩa là gì và cơ sở nào để xác địnhnghĩa là một việc không đơn giản Chính vì thế, từ trước tới nay cả trong và ngoàinước đã có một số quan điểm khác nhau về nghĩa Để xác định nghĩa của từ, trướctiên phải hiểu được từ là gì? Tác giả Nguyễn Thiện Giáp cho rằng không thể tìmđược một định nghĩa từ có tính chất phổ quát cho các ngôn ngữ khác nhau về loạihình, thậm chí cho các ngôn ngữ cùng một nhóm, đồng thời cũng nhấn mạnh tínhnhiều mặt của từ trong mỗi ngôn ngữ riêng biệt Vì vậy, không thể có sự thốngnhất trong cách định nghĩa và miêu tả từ Do đó, hiện có tới trên 300 định nghĩakhác nhau về từ Từ sự phân tích các mặt của từ trong tiếng Việt, tác giả đã đưa ra

định nghĩa về từ tiếng Việt : “Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý

nghĩa dùng để tạo câu nói, nó có hình thức của một âm tiết, một khối viết liền, ”

[6, 69]

Trang 14

Tác giả Nguyễn Thiện Giáp đã nhận định về nghĩa của từ: “ Nghĩa của từ là

một đối tượng phức tạp, bao gồm một số thành tố đơn giản hơn” như “nghĩa sở chỉ”, “nghĩa sở biểu”, “nghĩa kết cấu” [5, 122-125].

Còn Lê Quang Thiêm cho rằng “ nghĩa là một thực thể tinh thần trừu tượng

tồn tại trong mọi biểu hiện, cấp độ của ngôn ngữ để ngôn ngữ thực hiện chức năng công cụ giao tiếp và tư duy cũng như mọi loại chức năng cụ thể đa dạng khác, đặc biệt là trong lời nói, trong văn bản, diễn ngôn” và “ Nghĩa là nội dung xác định hình thành nhờ chức năng, song không là chức năng riêng rẽ trong hoạt động mà

là một loại chức năng thể hiện qua văn cảnh” Tác giả đi đến nhận định rằng “nội dung của ngữ nghĩa học bao gồm: ngữ nghĩa học từ vựng, ngữ nghĩa học ngữ pháp, ngữ nghĩa học ngữ dụng” và “cần phải nghiên cứu cả ba loại ngữ nghĩa học này độc lập và có quan hệ chặt chẽ với nhau” [10, 86-87].

Tác giả nghiên cứu tập trung nhất bàn về nghĩa của từ là Đỗ Hữu Châu Ông

cho rằng “nghĩa của từ là một thực thể tinh thần cùng với phương diện hình thức

lập thành một thể thống nhất gọi là từ” Nói cách khác “nghĩa của từ là hợp điểm,

là kết quả của những nhân tố và tác động giữa những nhân tố tạo nên nghĩa Trong số những nhân tố đó, có những nhân tố ngoài ngôn ngữ và có những nhân

tố nằm trong ngôn ngữ Hai nhân tố ngoài ngôn ngữ là sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan, có thể thuộc thế giới nội tâm, có thể thuộc thế giới ảo tưởng Nhân tố kia là các hiểu biết về loại nhân tố thứ nhất” Như vậy, số lượng kiểu

nghĩa sẽ tăng lên tùy theo số lượng những nhân tố được phát hiện thêm [2, 98]

Cần phân biệt nghĩa của từ với khái niệm Nghĩa và khái niệm gắn bó vớinhau rất mật thiết, nhưng nói chung là chúng không trùng nhau

Khái niệm là một kết quả của quá trình nhận thức, phản ánh những đặc trưngchung nhất, khái quát nhất và bản chất nhất của sự vật, hiện tượng Người ta cóđược khái niệm chủ yếu là nhờ những khám phá, tìm tòi khoa học Nội dung củamột khái niệm có thể rất rộng, rất sâu, tiệm cận tới chân lí khoa học, và có thể được

Trang 15

diễn đạt bằng hàng loạt những ý kiến nhận xét Mặt khác, rõ ràng là không phảikhái niệm nào cũng được phản ánh bằng từ mà nó có thể được biểu hiện bằng hơn

một từ Ví dụ: nước cứng, tổ hợp quỹ đạo, mặt gặt đập liên hợp, công nghệ sinh

học,

Nghĩa của từ cũng phản ánh những đặc trưng chung, khái quát của sự vật,hiện tượng do con người nhận thức được trong đời sống thực tiễn tự nhiên và xãhội Tuy nhiên, nó có thể chưa phải là kết quả của nhận thức đã tiệm cận đến chân

lí khoa học Vì thế, sự vật, hiện tượng nào mà càng ít được nghiênc cứu, phám pháthì nhận thức về nó được phản ánh trong nghĩa của từ gọi tên nó càng xa với kháiniệm khoa học

Bên cạnh đó, ta thấy rằng, không phải từ nào cũng phản ánh khái niệm (cácthán từ và các từ công cụ ngữ pháp chẳng hạn) và trong nghĩa của từ còn có thểhàm chứa cả sự đánh giá về mặt này hay mặt khác, có thể chứa cả cảm xúc và thái

độ của con người,

Để tiện so sánh, chúng ta phân tích từ nước của tiếng Việt Khái niệm khoa học về nước là: Hợp chất của ôxi và hiđrô mà trong thành phần của mỗi phân tử

nước có hai nguyên tử hiđrô và mọt nguyên tử ôxi

Nghĩa "nôm" của từ nước có thể được miêu tả dưới dạng từ điển ngắn gọn là: Chất lỏng không màu, không mùi và hầu như không vị, có sẵn trong ao hồ, sông

suối,

Miêu tả như thế thật ra là chưa đủ Rất nhiều thứ, loại (biểu vật) được

người Việt quy về loại nước mà chả cần chúng đảm bảo thuộc tính lỏng, còn có

nước nhiều hay ít, mùi vị thế nào, thậm chí có nước hay không, điều đó không

quan trọng Chẳng hạn: nước biển, nước mắm, nước xốt, nước dứa, nước ép hoa

quả,

phở nước (đối lập với phở xào)

Trang 16

mỡ nước (đối lập với mỡ khô)

nước gang (gang lỏng – Ví dụ: Đổ nước gang vào khuôn đúc)

nước dãi, nước bọt, nước mắt, nước giải, nước ối…

Phân tích như trên đây chứng tỏ rằng nghĩa và khái niệm không đồng nhất

Đó là nói về các từ nói chung Đối với nhiều thuật ngữ khoa học, sự phân biệt giữanghĩa và khái niệm không cần đặt ra nữa: chúng đã tiệm cận đến giới hạn của nhau

1.1.2 Các thành phần nghĩa của từ

1.1.2.1 Nghĩa biểu vật

Nghĩa biểu vật gắn với chức năng biểu vật Sự vật, hiện tượng, đặc điểm…ngoài ngôn ngữ được từ biểu thị tạo nên nghĩa biểu vật của từ Nghĩa biểu vậtkhông phải là sự vật, hiện tượng…y như chúng có trong thực tế, mà chỉ bắt nguồn

từ thực tế Nghĩa biểu vật là sự phản ánh sự vật, hiện tượng…trong thực tế vào

ngôn ngữ Đó là những mẩu, những mảnh, những đoạn cắt của thực tế nhưng

không hoàn toàn trùng với thực tế

Nghĩa biểu vật (denotative meaning): Là liên hệ giữa từ với sự vật (hoặchiện tượng, thuộc tính, hành động, ) mà nó chỉ ra Bản thân sự vật, hiện tượng,thuộc tính, hành động, đó, người ta gọi là biểu vật hay cái biểu vật (denotat).Biểu vật có thể hiện thực hoặc phi hiện thực, hữu hình hay vô hình, có bản chất vật

chất hoặc phi vật chất Ví dụ: đất, trời, mưa, nắng, nóng, lạnh, ma, quỷ, thánh,

thàn, thiên đường, địa ngục, [4,166-171].

Mỗi từ không chỉ có một nghĩa biểu vật mà có nhiều nghĩa biểu vật khác

Trang 17

Ví dụ 1 : Nghĩa biểu vật của từ “mũi”

+ Bộ phận nhô lên giữa mặt người và động vật có xương sống, là cơ quan dùng đểthở và ngửi

Trang 18

+ Bộ phận nhọn nhô ra phía trước của một số vật thường dùng hàng ngày: mũi kim,

mũi kéo, mũi dao,

+ Bộ phận nhọn nhô ra phía trước của một số vật dùng vận tải trên nước như tàu,

thuyền: mũi tàu, mũi thuyền

+ Bộ phận có đầu nhọn nhô ra phía trước của một số loại vũ khí như: mũi tên, mũi giáo, mũi kiếm,…

+ Doi đất nhọn nhô ra khỏi bờ sông, trên biển: mũi Né (Bình Thuận), mũi Cà

Mau…

Từ mỗi nghĩa biểu vật nêu trên, trong quá trình sử dụng, từ “mũi” có thể tham gia

vào nhiều kết hợp khác nhau, với các ý nghĩa khác nhau Nếu không hiểu được

ranh giới giữa các nghĩa biểu vật sẽ không thể hiểu chính xác nghĩa của từ “mũi”

trong từng trường hợp

Ví dụ 2: Nghĩa biểu vật của từ “hoa”

+ Các loại hoa: hoa hồng, hoa lan, hoa mai,…

+ Các bộ phận của hoa: đài, cánh, nhụy,…

+ Tính chất, trạng thái của hoa: đẹp, xấu, nở, tàn, tươi, héo,…

+ Màu sắc của hoa: đỏ, vàng, hồng,…

+ Mùi của hoa: thơm ngát, ngào ngạt,…

+ Hình dáng, kích thước của hoa: to, nhỏ, …

1.1.2.2 Nghĩa biểu niệm

Nghĩa biểu niệm của từ là tập hợp của một số nét nghĩa chung và riêng, kháiquát và cụ thể theo một tổ chức, một trật tự nhất định Giữa các nét nghĩa có nhữngquan hệ nhất định Tập hợp này ứng với một hoặc một số ý nghĩa biểu vật của từ.Tập hợp các nét nghĩa phạm trù, khái quát chung cho nhiều từ được gọi là cấu trúcbiểu niệm

Nghĩa biểu niệm (significative meaning): Là liên hệ giữa từ với ý (hoặc ýnghĩa, ý niệm – signification – nếu chúng ta không cần phân biệt nghiêm ngặt mấy

Trang 19

tên gọi này) Cái ý đó người ta gọi là cái biểu niệm hoặc biểu niệm (sự phản ánhcác thuộc tính của biểu vật vào trong ý thức của con người) [4,166-171].

Ví dụ 1: Phân tích nghĩa biểu niệm của từ “che”, ta sẽ thấy có một sự tiến lên

về quá trình nhận thức như sau:

+ Làm cho người khác không nhìn thấy: che mặt, che mắt, che ngực,…

+ Làm cho không bị tác động từ bên ngoài: che nắng, che mưa

+ Bưng bít không cho người ta nhận ra khuyết điểm: bao che

Từ các nghĩa biểu niệm trên, khi đi vào thực tế, từ “che” còn nhiều nghĩa khác

nhau

Ví dụ 2: Nghĩa biểu niệm ( vật thể nhân tạo ) ( thay thế hoặc tăng cường

công tác lao động ) ( bằng tay ) : dao, cưa, búa, đục, khoan, lưới, nơm, dao,

kiếm,…

1.1.2.3 Nghĩa biểu thái

Sự vật, hiện tượng được biểu thị trong ngôn ngữ đều là những sự vật, hiệntượng đã được nhận thức, được thể nghiệm bởi con người Do đó cùng với tên gọi,con người thường gửi kèm những cách đánh giá của mình và chính mình lắm khikhông tự biết

Núi thường gợi ra cái gì “to lớn”, biển gợi ra cái “mênh mông”, lâu đài cũng

gợi ra sự “cao to”, hang hốc gợi ra sự “sâu thấp tối tăm” Từ mặt trời thường được gán cho cường độ “mạnh, chói chang”, từ trăng lại gợi ra cường độ “yếu, êm dịu”.

Luồng thường mạnh hơn làn, tảng phải lớn hơn hòn Cha gợi ra sự “nghiêm nghị”,

mẹ trái lại chứa đựng sự “âu yếm, dịu dàng”…

Như vậy, từ là một thể thống nhất cho nên mỗi thành phần ý nghĩa là nhữngphương diện khác nhau của cái thể thống nhất đó Sự hiểu biết đày đủ về ý nghĩacủa từ phải là sự hiểu biết thấu đáo từng mặt một nhưng cũng phải là sự hiểu biếttổng quát về những mối liên hệ quy định lẫn nhau giữa chúng

Trang 20

Thuộc phạm vi ý nghĩa biểu thái của từ bao gồm những nhân tố đánh giá(như: to – nhỏ, mạnh – yếu,…), nhân tố cảm xúc (như: dễ chịu, sợ hãi, khóchịu,…), nhân tố thái độ (như: trọng, yêu, khinh, ghét,…) mà từ gợi ra cho ngườinói và người nghe

Đối với các nhân tố cảm xúc, thái độ, có những từ khi phát âm lên gợi cho

chúng ta cảm xúc sợ hãi: ma quái, chém giết, tàn sát,… hoặc gợi ra sự ghê tởm:

đờm dãi, mửa, đĩ thõa,… Và có những từ gợi ra cảm giác khoan khoái dễ chịu: thanh thoát, êm ái, quê hương,… Có những từ giúp chúng ta bộc lộ sự khinh bỉ: đê tiện, hèn hạ, thô bỉ, lì lợm, ton hót, bợ đỡ,… Lại có những từ giúp ta bày tỏ lòng

tôn trọng: cao quý, ca ngợi, đàng hoàng, thẳng thắn,…hay sự thiết tha: khẩn thiết,

da diết, ân cần, vồn vã, đắm say,…

1.2 Hiện tượng chuyển nghĩa của từ

Trong sự chuyển biến ý nghĩa, có khi nghĩa biểu vật đầu tiên không còn nữa,chúng ta quên đi Nhưng thường thì cả nghĩa đầu tiên và các nghĩa mới đều cùngtồn tại, cùng hoạt động, khiến khó nhận biết hay khó khẳng định nghĩa nào là nghĩađầu tiên của từ

Giữa nghĩa đầu tiên với các nghĩa mới có thể diễn ra sự biến đổi theo nghĩa

móc xích Phần lớn các trường hợp của từ chuyển biến theo lối “tỏa ra” nghĩa là

các nghĩa mới đều dựa vào nghĩa đầu tiên mà xuất hiện Mối liên hệ giữa nghĩa đầutiên với những nghĩa xuất hiện sau có khi còn thấy rõ nhờ nét nghĩa cơ sở Song có

Trang 21

khi mối liên hệ này bị đứt quãng Như thế sự chuyển biến ý nghĩa cũng là một

phương thức để tạo thêm từ mới bên cạnh các phương thức ghép hoặc láy [6,147].

Các từ có ý nghĩa biểu vật cùng thuộc một phạm vi hoặc có ý nghĩa biểuniệm cùng một cấu trúc thì chuyển biến ý nghĩa theo cùng một hướng giống nhau

Có khi sự chuyển nghĩa theo cùng một hướng của các từ cùng một phạm vi biểuvật bất ngờ, lắt léo, nhưng khá thú vị Cũng như quy luật về sự chi phối của các nétnghĩa trong cấu trúc biểu niệm đối với các ý nghĩa biểu vật phát triển quanh nó,nhận xét về tính đồng hướng của các từ cùng phạm vi biểu vật và cùng cấu trúcbiểu niệm không có tính chất tuyệt đối

Động lực thúc đẩy sự chuyển nghĩa có nhiều Bản thân sự thay đổi sự vật,hiện tượng được gọi tên làm cho từ phải thay đổi cấu trúc biểu niệm Tuy nhiên,động lực chủ yếu thúc đẩy sự chuyển biến ý nghĩa vẫn là do nhu cầu giao tiếp đặt

ra Có những nhu cầu về mặt trí tuệ và những nhu cầu về mặt tu từ Ngôn ngữ luônluôn đứng trước đòi hỏi phải kịp thời sáng tạo ra những phương tiện mới để biểuthị những sự vật, hiện tượng và những nhận thức mới xuất hiện trong xã hội, đểthay thế những cách diễn đạt, những tên gọi đã cũ mòn, không còn khả năng gợi tảbộc lộ cảm xúc và gây ấn tượng sâu sắc ở người nghe nữa Thay đổi ý nghĩa củacác từ sẵn có, thổi vào chúng những luông sinh khí mới là một biện pháp tiết kiệm,sống động, giàu tính dân tộc, có tính nhân dân đậm đà, dễ dàng được chấp nhậnnhanh chóng, đáp ứng được những nhu cầu nói trên của giao tiếp Đó cũng là cáchkhai thác và phát huy tiềm năng của ngôn ngữ

1.2.2 Các phương thức chuyển nghĩa

“Chuyển nghĩa từ vựng là cách định danh thứ cấp trong ngôn ngữ với haiphương thức chủ yếu là ẩn dụ và hoán dụ Đây là hiện tượng vừa mang tính nhânloại vừa mang tính dân tộc” [7]

Trang 22

Để xây dựng và phát triển thêm nghĩa của từ, trong ngôn ngữ có nhiều cách.Trong đó, phương thức chuyển nghĩa phổ biến nhất trong ngôn ngữ là chuyểnnghĩa ẩn dụ và chuyển nghĩa hoán dụ

Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp, tác giả Đỗ Hữu Châu, sự phát triển nghĩacủa từ chủ yếu dựa vào hai quy luật chuyển nghĩa ẩn dụ và chuyển nghĩa hoán dụ

và trong cả lời ăn tiếng nói hàng ngày của chúng ta

Phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ: Phương thức ẩn dụ là phương thức lấy tên

gọi A của x để gọi tên y (để biểu thị y), nếu như x và y giống nhau Các sự vật được gọi tên, tức x và y, không có liên hệ khách quan, chúng thuộc những phạm trù hoàn toàn khác nhau Sự chuyển tên gọi này diễn ra tùy thuộc vào nhận thức có tính chất chủ quan của con người về sự giống nhau giữa chúng [10, 154-155].

Ví dụ: Từ “mũi” có nghĩa gốc chỉ bộ phận người hay cơ thể động vật, có

hình dạng nhọn, được chuyển sang để chỉ các bộ phận khác có hình dáng và vị trí

tương đồng: mũi thuyền, mũi tàu, mũi dao, mũi tên, đứng mũi chịu sào,…

Tác giả Nguyễn Thiên Giáp trong “Từ vựng học tiếng Việt” [5] đã phân chia

ẩn dụ từ vựng trên tính chất của sự giống nhau Kết quả là có những loại ẩn dụ dựatrên những sự tương đồng về:

+ Hình thức (lá – lá phổi)

+ Màu sắc (lá cây – màu xanh lá cây)

+ Chức năng (huyết mạch – con đường huyết mạch)

Trang 23

+ Thuộc tính, tính chất (khô – tình cảm khô khan, con người khô khan)

+ Đặc điểm, vẻ ngoài nào đó (Hoạn Thư – máu Hoạn Thư)

+ Ẩn dụ cụ thể trừu tượng (nắm tay – nắm công thức)

+ Chuyển tên các con vật thành cách gọi con người (cún con, chó con – thằng chó

Thứ nhất, tùy theo x và y là các sự vật cụ thể (có thể cảm nhận bằng giác

quan) hay trừu tượng mà ẩn dụ được chia thành ẩn dụ cụ thể - cụ thể và ẩn dụ cụthể - trừu tượng Nếu x và y đều là sự vật cụ thể thì nó là ẩn dụ cụ thể - cụ thể

Nghĩa của từ chân, mũi, cánh trong “chân bàn”, “chân núi”, “chân tường”,

…; “mũi thuyền”, “mũi đất”, “mũi dao”, “mũi quân”,…; “cánh buồm”, “cánh

đồng”, “cánh quạt”,… Nghĩa của các từ cắt, bám, nống,… nặng, nhạt, êm,… trong “cắt hộ khẩu”, “bám sản xuất”, “quân địch hòng nống ra”… “thuốc lá nặng”,

“lời pha trò nhạt”, “màu nhạt”, “tiếng hát rất êm”, “xe chạy rất êm”… là các ẩn

Thứ hai, quan trọng hơn là sự phân biệt cơ chế ẩn dụ theo nét nghĩa phạm trù

dựa vào đó mà xuất hiện các ẩn dụ Theo đó có các kiểu ẩn dụ sau:

Trang 24

Ẩn dụ hình thức, tức là những ẩn dụ dựa trên sự giống nhau về hình thức

giữa các sự vật Ví dụ “mũi tên”, “mũi thuyền”, “chân núi”, “chân trời”, “chân

bàn”,… đều là ẩn dụ hình thức bởi chúng đều có hình dáng giống như sự vật chính:

“mũi” là bộ phận nhô ra trên mặt, có hình dáng thon nhọn, “chân” là bộ phận dưới

cùng của cơ thể người, có tác dụng đỡ cả cơ thể và di chuyển… Dựa vào nét tươngđồng về hình dáng mà người ta sử dụng ẩn dụ để chuyển nghĩa

Ẩn dụ vị trí, tức là những ẩn dụ dựa trên sự giống nhau về vị trí giữa các sự

vật xét trong chỉnh thể sự vật Ví dụ “ruột bút”, “lòng sông”, “đầu làng”, “ngọn núi” (so với ngọn cây), “gốc của vấn đề”, “ngành khoa học”, không phải vì chúng

có hình dáng giống như sự vật chính mà là vì tương quan vị trí của chúng với các

sự vật khác (như so với vỏ bút, so với sườn núi, chân núi…) cũng giống như tươngquan vị trí của các sự vật trên so với toàn bộ cơ thể hay so với cả cái cây

Ẩn dụ cách thức, tức là những ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về cách thức

thực hiện giữa hai hoạt động, hiện tượng Ví dụ, khi nói “cắt hộ khẩu”, “nắm tư tưởng”, “đừng có vặn nhau nữa”… là chúng ta chỉ rõ cách thức “chuyển hộ khẩu”,

cách thức “nhận thức tư tưởng”, cách thức “truy hỏi nhau để tìm ra sự thực”…cũng

giống như cách thức chúng ta cắt, nắm, vặn… một sự vật vật lí nào đó.

Ẩn dụ chức năng, tức là dựa vào sự giống nhau về chức năng giữa các sự vật.

Ví dụ, “bến” trong “bến xe”, “bến tàu”…không giống về hình dạng, không giống

về vị trí… với “bến sông”, “bến đò” mà nó chỉ giống với sự vật sau ở chức năng

“đầu mối giao thông” mà thôi Các ẩn dụ chức năng khác như “chốt” trong “giữ

chốt”, “cửa” trong “cửa sông”, “cửa rừng”, “cửa mở” (tức là “đột phá khẩu”) Ví

dụ “Phao” là vật thả nổi trên mặt nước để làm mục tiêu hoặc để giúp cho vật kháccùng nổi (phao bơi, phao cứu hộ,…) Nó cũng được dùng để gọi tên cho tài liệu sửdụng trái phép khi làm bài thi, coi như vật được cứu giúp

Trang 25

Ẩn dụ kết quả, tức là những ẩn dụ dựa vào sự giống nhau về tác động của các

sự vật đối với con người Ví dụ, nói “ấn tượng nặng nề” là muốn nói tác động của

“ấn tượng” đối với lí trí, tình cảm của chúng ta cũng giống như một vật nào đó cótrọng lượng lớn mà chúng ta phải mang, phải gánh, làm chúng ta cử động khókhăn, đu đứng chậm chạp, không nhẹ nhàng, thanh thoát Trong những ẩn dụ kếtquả, có một loại đáng được chú ý đặc biệt, đó là những ẩn dụ dùng tên gọi củanhững cảm giác thuộc giác quan này để gọi tên những cảm giác của giác quan khác

hay những “cảm giác” của trí tuệ, tình cảm Như “chua”, “ngọt”, “nhạt”, “mặn”,

“cay”, “chát”,…là những cảm giác vị giác được dùng để gọi các cảm giác cho

thính giác “nói chua loét”, “lời nói ngọt ngào”, “pha trò nhạt quá”, “nói cay quá” hay cảm giác thị giác “màu đỏ rất nhạt” Thực ra, trong cách nói “lời nói ngọt

ngào”, “pha trò nhạt”, “giọng chua chát”… các cảm giác không có tính chất thính

giác thuần túy mà đã mang nặng tính chất trí tuệ, tình cảm Các cảm giác xúc giác

như “nặng”, “nhẹ”, “êm”… cảm giác khứu giác “thối” được dùng cho các cảm giác thính giác, thị giác như “tiếng nói vùng biển rất nặng”, “nhẹ giọng thôi”,…

“màu xanh rất nhẹ”, “hát rất êm”,… “nói thối quá, không ngửi được”… Loại ẩn dụ này còn được gọi là ẩn dụ chuyển đổi cảm giác.

Trong cuốn “Từ vựng học Tiếng Việt”, tác giả Nguyễn Thiện Giáp lại chia

ẩn dụ thành tám kiểu dựa vào sự giống nhau về một số tiêu chí như:

- Sự giống nhau về hình thức: là cơ sở của các ẩn dụ

Ví dụ: mũi tên, chân trời, chân tường,…

- Sự giống nhau về màu sắc: là cơ sở ẩn dụ của các từ chỉ màu tiếng Việt như

màu xanh da trời, xanh lá cây, vàng chanh,… => Hệ thống các từ chỉ màu

trong tiếng Việt trở nên phong phú

- Sự giống nhau về chức năng

Ví dụ: Bến xe, bến sông, …

Trang 26

- Sự giống nhau về một thuộc tính, tính chất nào đó

Ví dụ: Lời nói đường mật, câu chuyện nhạt,…

- Sự giống nhau về một đặc điểm, một vẻ ngoài nào đó

Ví dụ: Người đàn ông chuyên gạ gẫm, lừa gạt phụ nữ được gọi là sở khanh.

- Ẩn dụ từ cụ thể đến trừu tượng

Ví dụ: Suy nghĩ chín, nắm kiến thức,…

- Chuyển tên các con vật thành tên người

Ví dụ: Cún con của mẹ, đồ rắn độc, đồ thỏ đế,…

- Chuyển tính chất của sinh vật sang sự vật, hiện tượng khác (thường được coi

là hiện tượng nhân cách hóa)

Theo Đinh Trọng Lạc (2001, tr 52,53), ẩn dụ được chia ra làm hai loại là ẩn

dụ định danh, ẩn dụ nhận thức

Ẩn dụ định danh là một thủ pháp có tính chất thuần túy kĩ thuật dùng để

cung cấp những tên gọi mới bằng cách dùng vốn từ vựng cũ, ví dụ “đầu làng, chân

trời, chân ghế” Đây là nguồn tạo nên những tên gọi chứ không phải là loại ẩn dụ

nhằm phát hiện những sắc thái ý nghĩa Nó không tác động vào trực giác để gợi mở

mà tác động vào cách nhìn để chỉ xuất, không đem lại cho người đọc những cảmxúc về vẻ đẹp của ngôn từ mang tính biểu cảm, không gợi sự liên tưởng phongphú.[8]

Nói cách khác, những ẩn dụ từ vựng học không hoặc rất ít có khả năng gợihình, tạo hình hoặc gợi cảm Bởi trải qua quá trình được sử dụng lâu dài của các ẩn

dụ này, mối liên tưởng giữa hai sự vật được so sánh trở nên quá mờ nhạt, hình ảnhđược so sánh trở nên sáo mòn

Ẩn dụ nhận thức là loại ẩn dụ nảy sinh do kết quả của việc làm biến chuyểnkhả năng kết hợp của những từ chỉ dấu hiệu khi làm thay đổi ý nghĩa của chúng từ

cụ thể đến trừu tượng Ví dụ: những từ chỉ đặc trưng như lạnh giá vốn có ý nghĩa

cụ thể và thường có khả năng kết hợp với những từ chỉ sự vật, hiện tượng như: thời

Trang 27

tiết (thời tiết lạnh giá) nay được ẩn dụ hóa, được dùng với ý nghĩa trừu tượng có

khả năng kết hợp với những từ ngữ như tâm hồn (tâm hồn giá lạnh) và cả những động từ có thể ẩn dụ hóa theo cách này như: tâm hồn mơ mộng, cuộc sống bấp

bênh,… Loại ẩn dụ này là nguồn tạo nên hiện tượng đa nghĩa của từ.[8]

Những ẩn dụ từ vựng kiểu này còn có khả năng gợi hình, gợi cảm, có tínhhình tượng Nó tạo nên những cách dùng mới của từ

Các nhà nghiên cứu phân loại ẩn dụ dựa trên các nét tương đồng, nhưng dotiếp cận từ các tiêu chí, phạm trù khác nhau nên có các cách gọi tên và phân loạikhông giống nhau

1.2.2.2 Chuyển nghĩa hoán dụ

Phương thức chuyển nghĩa hoán dụ: Phương thức hoán dụ là phương thức

lấy tên gọi A của x để gọi y nếu x và y đi đôi với nhau trong thực tế Mối liên hệ đi đôi với nhau giữa x và y là có thật, không tùy thuộc vào nhận thức của con người Cho nên các hoán dụ có tính khách quan hơn ẩn dụ [3, 154 – 155].

Ví dụ: Từ “cổ” có nghĩa gốc chỉ bộ phận cơ thể người hay động vật, ở vị trí

nối giữa đầu và cơ thể, có chức năng giữ đầu trên cơ thể Nó được chuyển nghĩa để

chỉ bộ phận của trang phục (cổ áo) Từ “tay” cũng có nghĩa gốc chỉ bộ phận cơ thể người, được chuyển nghĩa để chỉ bộ phận trang phục (tay áo)…

Các phương thức hoán dụ:

Hoán dụ dựa trên quan hệ bộ phận – toàn thể giữa hai ý nghĩa biểu vật x vày; x là bộ phận của y hoặc x là toàn thể, y là bộ phận Cơ chế này có các dạng nhỏ:

+ Lấy tên gọi của bộ phận cơ thể thay cho cả cơ thể, cho cả người hay cho cả toàn

thể Ví dụ chân, tay, mặt, miệng là tên các bộ phận cơ thể Nhưng trong các câu

Trang 28

“có chân trong đội bóng đá”, “một tay cờ xuất sắc”, “đủ mặt anh tài”, “gia đình bảy tám miệng ăn” thì chúng chỉ cả người, cả cơ thể trọn vẹn.

+ Lấy tên gọi của tiếng kêu, của đặc điểm hình dáng để gọi các con vật: con tu hú,

con tắc kè, con mèo, con quạ… rắn sọc dưa, cạp nong, cạp nia, con bạc má,con vành khuyên…

+ Lấy tên gọi của đơn vị thời gian nhỏ gọi tên đơn vị thời gian: Xuân, thu, đông,… dùng để chỉ “năm”.

+ Tên riêng được dùng thay cho tên gọi của loại: Tam Đảo, Thăng Long,…vốn là tên riêng có khi được dùng để chỉ “thuốc lá”.

+ Lấy tên gọi của một số nhỏ để chỉ một số lớn, không đếm hết; hoặc lấy tên gọi

của một số cụ thể để chỉ một số không xác định: Trăm, nghìn,… trong các câu

“trăm người như một”, “trăm miệng một lời”, “nghìn người một chí”, “nghìn thu

bạc mệnh một đời tài hoa”… đều chỉ một số lớn, nhiều hơn chúng gấp bội Còn

trong trường hợp vài ba, dăm bảy thì những con số “vài” “ba”, “dăm” (năm),

“bảy”…đều là những con số nói lên một số lượng không chính xác tuy không bé

hơn hay lớn hơn chúng là bao nhiêu

Hoán dụ dựa trên quan hệ vật chứa – vật bị chứa Tên gọi vật chứa được

dùng để chỉ những cái nằm trong nó Ví dụ “nhà” là “công trình kiến trúc để ở”, tức là “vật chứa” Nhưng trong câu “một nhà sum họp trúc mai” thì “nhà” là những

người trong gia đình, tức những người “được chứa đựng trong cái nhà” Tương tự

như “cả làng tỉnh dậy giữa đêm khuya”, “cả sân vận động reo lên khi bóng bay vào lưới”, “cả thành phố nhộn nhịp”, “lớp ta đã giành được giải thưởng về thi đua học

tốt”…

Hoán dụ dựa trên quan hệ nguyên liệu và sản phẩm tạo ra từ nguyên liệu Ví

dụ “thau” là hợp kim đồng và thiếc, trong trường hợp “cái thau” thì nó lại chỉ đồ

Trang 29

vật được làm từ hợp kim đó Tương tự mì (dạng lương thực kéo, cán thành sợi),

đồng (đơn vị tiền tệ), bạc (với nghĩa là tiền), gương, kính (dụng cụ đeo mắt hoặc để

soi)…

Hoán dụ dựa trên quan hệ đồ dùng, dụng cụ với người sử dụng Ví dụ, cây

vi-ô-lông, cây sáo,…cây bút trẻ với nghĩa “nhạc công” hoặc “nhà văn” là những

hoán dụ lấy tên gọi dụng cụ để chỉ người

Hoán dụ dựa trên quan hệ dụng cụ - ngành nghề Tên gọi các dụng cụ được

gọi thay cho tên ngành nghề Ví dụ, “sân khấu” là nơi biểu diễn của cá ngành nghệ thuật như “tuồng”, “chèo”, “ kịch”… Do đó từ này có thể được dùng để chỉ tổng hợp các ngành đó “sân khấu của thủ đô”… Từ “màn ảnh” cũng là hoán dụ “Búa,

súng, cày, bút,…” là các hoán dụ chỉ nghề nghiệp trong “tay búa, tay súng”, “tay cày tay súng”, “tay bút tay súng”…

Hoán dụ dựa trên quan hệ vật chứa và lượng vật chất được chứa đựng Hầuhết tất cả các sự vật trong tiếng Việt (chủ yếu là đồ vật) có thể chứa đựng một cái

gì đó thì đều có thể được dùng để chỉ đơn vị đo lường (thể tích) như “mấy thùng gạo”, “ba bồ sách”… “một giường quần áo”, “một tủ vải vóc”…

Hoán dụ dựa trên quan hệ cơ quan chức năng và chức năng Tên gọi các cơ

quan được dùng để gọi cho các chức năng như đầu chỉ trí tuệ, lí trí, tim chỉ tình cảm, bụng chỉ tâm địa, mắt chỉ thị giác, mũi chỉ thính giác,…

Hoán dụ dựa vào quan hệ tư thế cụ thể và nguyên nhân của tư thế Tên gọicác tư thế quan sát được dùng để chỉ các hành vi hoặc tình trạng sinh lí, tâm lí đi

kèm với chúng Ví dụ, tắt thở, nhắm mắt, xuôi cẳng sáo, xuôi tay,… chỉ cái chết,

khoanh tay chỉ sự bất lực, cúi đầu chỉ sự cam chịu, quỳ gối chỉ sự khuất phục nhục

nhã, ngẩng đầu chỉ sự bất khuất…

Trang 30

Hoán dụ dựa vào âm thanh để gọi tên động tác Những tiếng động do hoạt

động gây ra được dùng để gọi tên động tác Như đét (đánh bằng roi), bịch (đấm vào ngực), bợp (tát vào gáy) Bởi tiếng Việt giàu các từ tượng thanh nên thông

thường các từ tượng thanh thường đi kèm với một tên gọi chỉ hoạt động sinh ra các

tiếng động đó như thổi ào ào, nói bi bô, chảy róc rách Tuy nhiên, có nhiều trường

hợp động từ chính bị lược bỏ để câu văn gọn sáng Trường hợp này các “tiếng

động” – tức các từ tượng thanh – đã trở thành các hoán dụ gọi tên hoạt động: đứa

trẻ bi bô, gió ào ào, sấm ùng ùng, súng đoành đoành…

Thực chất, mối quan hệ giữa các sự vật rất đa dạng nên cũng có thể phânchia hoán dụ thành các loại khác nữa

Trong một từ có thể vừa có nghĩa chuyển ẩn dụ,vừa có nghĩa chuyển hoán

dụ Tức là, phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ và hoán dụ có thể ở trong cùng mộttừ

Ví dụ: Từ “chân” có các nghĩa:

1) Bộ phận dưới cùng của cơ thể người hay động vật, dùng để đi đứng

2) Bộ phận dưới cùng của một số đồ dùng, có tác dụng đỡ các bộ phận khác:

chân đèn, chân giường,…

3) Phần dưới cùng của một số vật, tiếp giáp và bám chặt vào nền: chân núi,

chân tường, chân răng,…

4) Chân con người, coi là biểu tượng của cương vị, tư cách hay phận sự nào đó

trong một tổ chức: chân tổ tôm, chân sút,…

 Các nghĩa phụ 2, 3 là nghĩa chuyển ẩn dụ, nghĩa 4 là nghĩa chuyển hoán

dụ từ nghĩa 1

Chúng ta cũng cần phân biệt ẩn dụ và hoán dụ tu từ học với ẩn dụ, hoán dụ

từ vựng học

Trang 31

-của tư tưởng, tình cảm

Không được ghi trong từ điển,

1.2.3 Kết quả của hiện tượng chuyển nghĩa

Sự chuyển nghĩa có thể dẫn tới kết quả là ý nghĩa sau khác hẳn với ý nghĩatrước Thậm chí ngay cùng một từ, sự chuyển nghĩa có thể khiến nó trở thành đồngnghĩa với các từ trái nghĩa của nó trước kia

1.2.3.1 Thay đổi ý nghĩa biểu vật

Khi các nghĩa chuyển còn liên hệ với nhau thì sự chuyển nghĩa có thể làmthay đổi nghĩa biểu vật, làm cho ý nghĩa của từ mở rộng ra hoặc thu hẹp lại Nghĩacủa từ mở rộng ra là tính khái quát của nó tăng lên, các nét nghĩa cụ thể, quy địnhphạm vi biểu vật bị loại bỏ hay mờ nhạt đi Nói cách khác thì sự mở rộng ý nghĩa

là hậu quả của hiện tượng tăng thêm các ý nghĩa biểu vật của từ Sự “thu hẹp” ý

nghĩa của từ đi kèm với sự cụ thể hóa ý nghĩa, đi kèm với việc tăng thêm nhữngnét nghĩa cụ thể, quy định phạm vi biểu vật của từ

- Mở rộng: ý nghĩa của từ tăng tính khái quát, từ gọi tên nhiều sự vật hiện tượng

Trang 32

+ Sàn: mặt nền của một bề mặt được láng xi- măng, gỗ,…

Nhưng khi nói: “giá sàn” lại để chỉ mức giá tối thiểu được quy định với một loại hàng hóa; “điểm sàn” là mức điểm xét tuyển tối thiểu do cơ quan chức năng quy

định để các trường nhận đơn xét tuyển của thí sinh;…

+ Nóng: chỉ nhiệt độ ở mức cao

Nhưng khi nói: “đường dây nóng” để chỉ đường dây điện thoại trực tiếp có thể liên lạc để phản ánh, yêu cầu, cần tư vấn,… vào bất cứ lúc nào; “vay nóng” là vay mượn gấp,cần có ngay và chỉ tạm trong một thời gian ngắn; “màu nóng” là những

màu thiên về đỏ hoặc vàng, gợi cảm giác nóng bức,…

+ Ngân hàng: tổ chức kinh tế hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh và quản lí cácnghiệp vụ về tiền tệ, tín dụng

Nhưng khi nói: “ngân hàng máu” là nói đến kho lưu trữ những thành phần, bộ phận của cơ thể để sử dụng khi cần; “ngân hàng đề” là kho lưu trữ các tài liệu đề

thi của các trường học

- Thu hẹp: từ việc gọi tên nhiều sự vật tiến đến gọi tên ít sự vật

Ví dụ: Mùi: gọi tên được các loại mùi: ôi, thơm, hắc…

Nhưng khi nói “miếng thịt có mùi” thì mùi bị thu hẹp nghĩa biểu vật, nó chỉ gọi tên

được mùi ôi

1.2.3.2 Thay đổi ý nghĩa biểu thái

Sự chuyển biến về nghĩa có thể làm thay đổi ý nghĩa biểu thái(nghĩa xấu đihay tốt lên)

- Làm cho nghĩa của từ tốt lên: từ nghĩa trung hoà trở thành nghĩa tốt

Ví dụ: Chín (trung tính) => chín chắn (thang độ dương tính)

- Làm cho nghĩa của từ xấu đi: từ nghĩa tốt, nghĩa trung hoà trở thành nghĩa xấu

Ví dụ: Nhạt (trung tính) => nhạt nhẽo, lạnh nhạt (thang độ âm tính)

Trang 33

1.3 Khái quát về tục ngữ, ca dao Việt Nam

Ca dao tục ngữ là một hành trình tìm về cội nguồn của nước Việt Nam mếnyêu Đọc ca dao để thấy khí thiêng sông núi Việt, đọc ca dao để thấy tinh thần hiệnhữu, bản sắc dân tộc của dân tộc Việt Thấy ra ý thức dân tộc và sức mạnh tinhthần của người Việt, thấy cái tinh thần kháng chiến quật cường của người Việt,nhất định không chịu đồng hoá

Ca dao tục ngữ là niềm tự hào to lớn của dân tộc Việt Nam Không phải dântộc nào cũng có được văn chương và thi sĩ tính như thế Non nước Việt Nam đẹpnghìn thu, vô song Người nước Việt cũng khác thường Trải qua nhiều thời đại,kho tàng văn chương bình dân Việt Nam càng phong phú, súc tích với biết bao câutục ngữ, ca dao, những câu hát điệu hò muôn hình muôn vẻ Dân ca là ca dao đãđược dân gian hát và hò qua nhiều thể điệu đặc thù của từng địa phương

1.3.1 Đặc điểm về nội dung

1.3.1.1.Đặc điểm về nội dung của tục ngữ

Trong văn học dân gian, tục ngữ là thể loại có nội dung phản ánh rộng lớn nhất,bao quát cả một phạm vi phản ánh rộng, gồm cả tự nhiên, xã hội và con người Trước hết, tục ngữ phản ánh kinh nghiệm và hiểu biết của con người về thiên nhiên

và tổng kết những kinh nghiệm sản xuất của nhân dân lao động Chẳng hạn:

– Mùa hè đang nắng, cỏ gà trắng thì mưa.

– Chớp Đông nhay nháy , gà gáy thì mưa.

– Gió đông là thông lúa chiêm bấc là duyên lứa mùa.

– Tôm chảng vạng, cá rớm đông.

Thứ hai,tục ngữ phản ánh về xã hội và con người

Số lượng tục ngữ về xã hội con người lớn hơn rất nhiều so với tục ngữ về kinhnghiệm ứng xử trước thiên nhiên và kinh nghiệm sản xuất

Nhiều tục ngữ đã phản ánh kinh nghiệm lịch sử quý báu như:

– Đói lên Bắc, chạy giặc-xuống Nam.

Trang 34

– Đói tự do hơn no sông quỷ

Nội dung quan trọng nhất của tục ngữ là phản ánh phong tục tập quán, đúc rút kinhnghiệm ứng xử của con người trong gia đình và ngoài xã hội:

– Cưới vợ hiền hòa, làm nhà hướng Nam.

– Nhân tài là báu vật quốc gia.

1.3.1.2 Đặc điểm về nội dung của ca dao

Ca dao lao động: là phần lời cốt lõi của dân ca lao động Những bài ca lao động tồntại như là một bộ phận của quá trình lao động

Ca dao ru con: hát ru có từ lâu đời và rất phổ biến, lời hát ru phần nhiều là nhữngcâu ca dao có sẵn

Cái ngủ mày ngủ cho lâu

Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về

Ca dao nghi lễ, phong tục: Trong nhiều bài ca tế thần, các yếu tố trữ tình cũng cómặt, cùng với yếu tố hiện thực, chúng biểu hiện sức mạnh của đời sống hiện thựctrong các hình thức sinh hoạt tôn giáo trong nhân dân

Dập dìu cánh hạc chơi vơi

Tiễn thuyền Vua Lý đang dời kinh đô

Khi đi nhớ cậu cùng cô

Khi về lại nhớ c á r ô T ổ n g T r ườ n g

Ca dao trào phúng, bông đùa

Lỗ mũi mười tám gánh lông

Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho

Đêm nằm thì ngáy o o

Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà

Đi chợ thì hay ăn quà

Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm

Trang 35

Trên đầu những rác cùng rơm

Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu.

Ca dao trữ tình

Hỡi cô tát nước bên đàng

Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi?

Ước gì sông rộng một gang

Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi

Ca dao than thân

"Thân em như tấm lụa đào

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai."

1.3.2 Đặc điểm về hình thức

1.3.2.1 Đặc điểm hình thức của tục ngữ

Tục ngữ , có tính đa nghĩa tính ứng dụng và tính hàm súc nên đặc điểm dễ nhậnthấy ở tục ngữ là lời ít ý nhiều Những câu càng có ý nghĩa khái quát thì càng ngắngọn, ngôn ngữ có thể cô đọng đến mức tối đa nếu chỉ là một khối tông đúc sẵn, chỉdiễn tả một khái niệm thì tục ngữ là một câu hoàn chỉnh về ngữ pháp, diễn dạt một

ý trong câu tục ngữ ngắn nhất dù chỉ gồm ba từ nhưng vẫn mang ý nghĩa khái quát

– Tiền kiếm được thì để trong nhà

– Tiền của ông bà thì đê ngoài sân

Trang 36

Tục ngữ thường có cấu trúc cân đối với các dạng cơ bản là: dạng so sánh (Phép

vua thua lệ làng), dạng tương phản (Mềm nắn, rắn buông), dạng nhân quả (gieo gỉó gặt bão).

Tục ngữ có thể có vần hoặc không có vần Những câu có vần thường có hình thứckhá dài Ví dụ:

– Cửa người Bồ tát, cửa mình lạc bước

– Xưa nay thế thái nhân tình.

Những câu tục ngữ không có vần thường ngắn gọn, cô đọng, hàm súc và rất giàuhình ảnh Chẳng hạn:

– Đánh trống qua cửa nhà sấm.

– Trâu điếc thì ghét trâu ăn.

– Tre già măng mọc.

1.3.2.2 Đặc điểm hình thức của ca dao

Ca dao thường là những bài ngắn, hai, bốn, sáu hoặc tám câu Âm điêu lưuloát và phong phú

Đặc điểm của ca dao về hình thức là vần vừa sát lại vừa thanh thoát, không

gò ép lại giản dị và tươi tắn Nghe có vẻ như lời nói thường mà lại gọn gàng, chảichuốt, miêu tả được những tình cảm sâu sắc Có thể nói về mặt tả cảnh, tả tìnhkhông có hình thức văn chương nào vượt qua hình thức của ca dao

Ca dao dùng hình ảnh để nói lên những cái đẹp, những cái tốt nhưng cũng

có khi để nói về cái xấu nhưng không nói thẳng Nhờ phương pháp hình tượng hóanên lời của ca dao tuy giản dị mà lại rất hàm súc

Thể thơ: Ca dao sử dụng nhiều thể thơ khác nhau, thể l ụ c b á t r ất phổ biếntrong ca dao; thể s o n g th ấ t l ụ c bá t đ ược sử dụng không nhiều; thể vãn thường gồm

một câu có 4 hoặc 5 chữ, rất đắc dụng trong đồng dao Ngoài ra ca dao cũng sửdụng hợp thể là thể thơ gồm từ 4, 5 chữ thường kết hợp với lục bát biến thể

Trang 37

Cấu trúc có các loại sau: Cấu trúc theo lối ngẫu nhiên không có chủ đề nhấtđịnh; cấu trúc theo lối đối thoại, và cấu trúc theo lối phô diễn về thiên nhiên.

1.4 Khái quát về nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Việt

Do có nhiều tiêu chí xác định các cơ quan BPCTN khác nhau nên rất khó đểxác định chính xác số lượng BPCTN Từ điển tiếng Việt không có mục từ riêng về

“Bộ phận cơ thể người” Theo từ điển [9] nghĩa của “Bộ phận” là phần làm nên

một chỉnh thể: bộ phận cơ thể con người, bộ phận của máy móc ; “Cơ thể” là tập hợp thống nhất của mọi bộ phận trong một sinh vật; cơ thể động vật Từ đây có thể

hiểu, BPCTN là những bộ phận thống nhất làm nên chỉnh thể một cơ thể người

Căn cứ theo danh mục thuật ngữ giải phẫu người Terminologia Anatomica(TA), được phát triển bởi Ủy Ban Liên Đoàn về thuật ngữ giải phẫu (FCAT) vàLiên đoàn Quốc tế các Hiệp hội của các nhà giải phẫu học (IFAA) thì cơ thể người

có hơn 7500 cơ quan Trong số đó có những phần vẫn còn đang tranh cãi và cónhững bộ phận thật ra chỉ là thành tố cấu thành nên các cơ quan trong cơ thể người

Việc xác định tên gọi bộ phận BPCTN còn trở nên khó khăn hơn do tồn tạihai hệ thống tên gọi cùng lúc: hệ thống các tên gọi thông dụng và hệ thống các têngọi theo khoa học Trong phạm vi giới hạn của khóa luận, chúng tôi xác định tiêuchí lựa chọn từ gọi tên BPCTN phục vụ cho nhiệm vụ của khóa luận là: các từ cótính phổ biến trong giao tiếp hàng ngày, ưu tiên chọn các từ thuộc hệ thống tên gọithông dụng, không thuộc hệ thống các tên gọi khoa học Trường hợp có hai tên gọikhác nhau cho cùng một cơ quan vẫn được chúng tôi khảo sát trong khóa luận Căn

cứ vào các tiêu chí trên, số lượng bộ phận cơ thể con người đã được tiếng Việtchia cắt định danh là 289 Để định danh 289 BPCTN, tiếng Việt đã sử dụng 397tên gọi (gồm cả tên gọi biến thể) Trong 397 tên gọi BPCTN có 263 tên gọi thuần

Ngày đăng: 10/09/2019, 21:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w