Trong lĩnhvực nghiên cứu văn học, quan niệm về diễn ngôn của một số nhà nghiên cứutiêu biểu như Valeri Igorovich Chiupa và Michel Foucault đang trở thành nềntảng cho nhiều trường phái lí
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
TẠ THỊ NHANH
DIỄN NGÔN GIỚI NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN
BÓNG ĐÈ (ĐỖ HOÀNG DIỆU) VÀ TRONG TRU ỆN NGẮN ĐIÊN CUỒNG NHƯ VỆ TUỆ (VỆ TUỆ)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Lý luận văn học
Hà Nội, 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
TẠ THỊ NHANH
DIỄN NGÔN GIỚI NỮ TRONG TRUYỆN NGẮN
BÓNG ĐÈ (ĐỖ HOÀNG DIỆU) VÀ TRONG TRU ỆN NGẮN ĐIÊN CUỒNG NHƯ VỆ TUỆ (VỆ TUỆ)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Lý luận văn học
Người hướng dẫn khoa học :
PGS.TS PHÙNG GIA THẾ
Hà Nội, 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tất cả sự kính trọng và biết ơn chân thành, sâu sắc nhất, em xin gửi
lời cảm ơn đến PGS.TS Phùng Gia Thế - người đã trực tiếp hướng dẫn tận
tình em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu Trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2, Ban Chủ nhiệm khoa Ngữ văn cùng toàn thể các Thầy côgiáo trong khoa Ngữ văn đã hết lòng quan tâm, dìu dắt và giúp đỡ em trongsuốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học tại Trường
Em cũng xin chân thành gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn
bè, đã luôn tạo điều kiện, động viên, khích lệ, giúp em hoàn thành tốt khóaluận tốt nghiệp của mình
Hà Nội, ngày 30 tháng 4 năm 2018
Sinh viên
Tạ Thị Nhanh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài: Diễn ngôn giới nữ
trong truyện ngắn Bóng đè (Đỗ Hoàng Diệu) và trong truyện ngắn Điên cuồng như Vệ Tuệ (Vệ Tuệ) là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn của PGS.TS Phùng Gia Thế Các kết quả được công bố trongkhóa luận là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trìnhnào khác
Hà Nội, ngày 30 tháng 4 năm 2018
Sinh viên
Tạ Thị Nhanh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
6 Phương pháp nghiên cứu 8
7 Bố cục khóa luận 8
NỘI DUNG 9
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DIỄN NGÔN VÀ VẤN ĐỀ GIỚI/PHÁI TÍNH TRONG VĂN HỌC 9
1.1 Một số vấn đề cơ bản về diễn ngôn 9
1.1.1 Khái niệm diễn ngôn 9
1.1.2 Hình thái diễn ngôn 14
1.1.3 Trật tự diễn ngôn 16
1.2 Vấn đề giới/phái tính trong nghiên cứu văn học 19
1.2.1 Phân biệt khái niệm “giới tính” và “phái tính” 19
1.2.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề giới nữ trong văn học 20
Chương 2 SO SÁNH DIỄN NGÔN GIỚI NỮ TRONG 25
TRUYỆN NGẮN BÓNG ĐÈ VÀ TRONG TRUYỆN NGẮN ĐIÊN CUỒNG NHƯ VỆ TUỆ 25
2.1 Những điểm tương đồng 25
2.1.1 Chủ thể diễn ngôn là hình tượng cái tôi tác giả 25
2.1.2 Diễn ngôn giới nữ gắn với ý thức nữ quyền 29
2.1.2.1 Sự phản kháng đối với nền văn hóa phụ quyền 29
2.1.2.2 Khẳng định khát vọng và quyền sống của người phụ nữ 34
Trang 62.1.3 Sex như là một phương tiện để nhà văn truyền tải thông điệp tới độc giả
39
2.2 Những điểm khác biệt 46
2.2.1 Phương thức kiến tạo diễn ngôn giới nữ 46
2.2.1.1 Ngôn ngữ nghệ thuật 46
2.2.1.2 Giọng điệu trần thuật 48
2.2.1.3 Không gian nghệ thuật 49
2.2.2 Trí tưởng tượng phong phú hay hiện thực chưa được khám phá 50
2.2.3 Tư tưởng của tác giả ẩn chứa sau những diễn ngôn giới nữ về tính dục 52
KẾT LUẬN 58 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7Từ khi xuất hiện, thuật ngữ diễn ngôn đã được quan tâm nghiên cứu.Diễn ngôn là một thuật ngữ được sử dụng rộng khắp trong các ngành khoahọc xã hội và nhân văn như: triết học, xã hội học, ngôn ngữ học, tâm lí học,nghiên cứu văn học,… Nội hàm của nó vì thế rất khác nhau theo cách thứccủa các nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau Trong lĩnhvực nghiên cứu văn học, quan niệm về diễn ngôn của một số nhà nghiên cứutiêu biểu như Valeri Igorovich Chiupa và Michel Foucault đang trở thành nềntảng cho nhiều trường phái lí thuyết hiện đại và mở ra một con đường đầytriển vọng cho các nhà nghiên cứu văn học.
Văn học hậu hiện đại cũng đặc biệt quan tâm đến vấn đề giới Đây làmột vấn đề phức tạp nhưng cũng đầy hấp dẫn thu hút nhiều nhà nghiên cứu.Nghiên cứu về giới không chỉ có ý nghĩa văn học mà còn có ý nghĩa xã hộisâu sắc, đặc biệt là trong giai đoạn văn học đang có những sự chuyển biếnmạnh mẽ như hiện nay
Trang 8Ở Việt Nam, từ sau 1986, sự đổi mới của đời sống văn hóa - xã hội đãtạo điều kiện thuận lợi cho sự đổi mới văn học Nhiều tác phẩm, tác giả mớilần lượt xuất hiện, những hiện tượng lạ, những cách tân táo bạo gây ồn ào dưluận đã tạo được tiếng vang trên văn đàn Tiêu biểu phải kể đến hiện tượng
Đỗ Hoàng Diệu với tập truyện ngắn Bóng đè Đỗ Hoàng Diệu là một trong
những tác giả nữ đầy bản lĩnh và táo bạo Tác phẩm của chị là những diễnngôn về giới, thẳng thắn đề cập đến những vấn đề của đời sống hiện đại,những vấn đề nhạy cảm như nhục cảm, ham muốn của người phụ nữ cũngnhư khát vọng về cuộc sống, về tình yêu, tình dục Truyện của chị có ngườithích, có người chê, nhưng tất cả phải công nhận đó là hơi thở mới thổi vàođời sống văn học Việt Nam những năm đầu thế kỉ XXI
Đọc Đỗ Hoàng Diệu, nhiều người đã tinh tế phát hiện ra có một sựtương đồng trong quan điểm, tư tưởng, phong cách của nữ tác giả với một nữnhà văn Trung Quốc cùng thời – Vệ Tuệ Thậm chí còn có ý kiến cho rằng ĐỗHoàng Diệu là “Vệ Tuệ của Việt Nam” Vệ Tuệ là một nhà văn Trung Quốc
có sở trường viết truyện ngắn Chị đã từng gây chấn động văn đàn TrungQuốc về đề tài tính dục vào những năm 90 của thế kỉ trước Tác phẩm của VệTuệ là những câu chuyện không hẳn là truyện mà là một cách nhìn, một cáchsống, một tuyên ngôn mới cho một lớp trẻ mới, mà tác giả là đại diện tiêubiểu Truyện của chị chỉ xoay quanh một chủ đề là tính dục, với những nhânvật có những cuộc tình không có tình yêu mà gần như chỉ bằng sự nổi loạncủa thân xác Một trong những tác phẩm gây được tiếng vang lớn của Vệ Tuệ
là truyện ngắn Điên cuồng như Vệ Tuệ.
Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu và Điên cuồng như Vệ Tuệ của Vệ Tuệ
ngay từ khi ra đời đã lập tức tạo nên một cơn bão trong giới văn học ở hainước, thu hút rất nhiều sự quan tâm của độc giả và giới phê bình, nghiên cứuvăn học, kích thích cảm hứng tranh luận trên văn đàn Đã có không ít các
Trang 9cuộc trao đổi trên các diễn đàn văn học, văn hóa bàn về những tác phẩm này,song sự quan tâm ấy mới chỉ dừng lại ở phạm vi các bài trao đổi, phỏng vấn,những bài viết, tiểu luận đăng trên các báo và tạp chí chứ chưa có một côngtrình nghiên cứu nào đề cập riêng tới vấn đề diễn ngôn giới nữ trong hai tácphẩm.
Đọc hai tác phẩm, chúng tôi nhận thấy giữa chúng quả có những néttương đồng bởi tác giả đều là những nữ nhà văn sống trong giai đoạn xã hội
có nhiều biến chuyển đổi mới Diễn ngôn trong hai tác phẩm là diễn ngôn củagiới nữ, đại diện cho giới nữ lên tiếng, thể hiện tư tưởng, quan điểm cùng khátvọng của người phụ nữ trong xã hội mới Tuy nhiên, do sự khác nhau về quốcgia cũng như mỗi người có một cá tính, phong cách, mỗi nhà văn khi thể hiệntiếng nói của mình lại có những nét riêng biệt Tất cả sự khó khăn và hấp dẫn
của đối tượng thôi thúc người viết chọn đề tài nghiên cứu: Diễn ngôn giới nữ
trong truyện ngắn Bóng đè (Đỗ Hoàng Diệu) và trong truyện ngắn Điên cuồng như Vệ Tuệ (Vệ Tuệ) Qua đề tài này, người nghiên cứu muốn đưa ra ý
kiến riêng của bản thân, sự cảm nhận của chính mình sau khi đọc và cảm thụhai tác phẩm, nhìn từ góc độ diễn ngôn giới
2 Lịch sử vấn đề
Có thể nói cả Đỗ Hoàng Diệu và Vệ Tuệ đều là những nhà văn mới trênvăn đàn, hơn nữa tác phẩm của họ không phải ai cũng có thể đọc và cảm nhậnđược, chưa nói đến cảm nhận đúng Vì thế số lượng những công trình nghiêncứu, những bài viết về hai tác giả và tác phẩm này còn hạn chế và chưa mangtính hệ thống
Truyện ngắn Bóng đè là một tác phẩm mới trên văn đàn Việt Nam Bàn
luận về tác phẩm này có rất nhiều ý kiến khác nhau và gây nhiều tranh cãi.Nhà nghiên cứu văn học Phạm Xuân Nguyên cho rằng: “Những phản ứng
nhiều chiều cho thấy Bóng đè quả thực là một hiện tượng văn học thách thức
Trang 10cảm nhận và đánh giá của giới trong nghề, và của giới đọc giả rộng rãi Vì tưtưởng của tác phẩm, vì cách viết của tác giả Truyện ngắn Đỗ Hoàng Diệu gầnnhư viết về phụ nữ và dục tính Phụ nữ trong quan hệ với dục tính, nhưngquan trọng hơn, phụ nữ và dục tính trong quan hệ với xã hội và lịch sử Ởđây, có phần nào màu sắc nữ quyền Tuy nhiên, chị dùng người nữ và chuyệndục tính như một bộ mã để gửi đi một thông điệp của mình cho cuộc sốngnày” Không giống với nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, dịch giả
Trần Tiễn Cao Đăng “không hoan nghênh” tác phẩm Bóng đè, cho rằng Đỗ Hoàng Diệu “không có văn” và Bóng đè chỉ đơn thuần viết về tình dục trong
nghĩa thấp kém của từ đó và viết “một cách sống sượng,… nhân vật không cómột cuộc sống tinh thần và tình yêu thương con người” Ông nói: “Tôi khôngthích cách hành văn của Đỗ Hoàng Diệu, tôi thấy người viết văn Việt Namvẫn bị ràng buộc bởi những mặc cảm về quá khứ, mặc cảm nhược tiểu Tôimong được đọc những nhà văn mới, viết với một phong thái hào sảng”
Truyện ngắn Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu cũng thu hút sự quan tâm
của nhiều nhà nghiên cứu, học giả khác, với những công trình nghiên cứunhư:
Dương Phương Vinh với bài viết Đỗ Hoàng Diệu và “Bóng đè” trong
ngày giông bão, đăng trên báo Tiền Phong ngày 29/9/2005 Bài viết về buổi
phỏng vấn Đỗ Hoàng Diệu về tác phẩm Bóng đè, từ đó nói lên quan điểm cá
nhân của người viết cũng như khẳng định giá trị của tập truyện và truyện ngắn
Bóng đè.
Tác giả Nguyễn Hòa trong bài viết Sáng tác “Bóng đè”, phê bình “nói
mớ” đăng trên trang Thơ trẻ ngày 22/11/2005 khẳng định: “… Trả lời phỏng
vấn trên tạp chí Đẹp, Đỗ Hoàng Diệu khẳng định “sex” chỉ là “cái vỏ”, chỉ là
“phương tiện” giúp chị chuyển tải một “thông điệp khác” Nhưng một khi cáiđọng lại lúc đọc xong tác phẩm chỉ là sự ngổn ngang của những “sự cương
Trang 11cứng thúc lên”, “cảm giác cứng cáp quệt ngang đâm vào”, “bốc cao, phịch hạ,chèn lấp, tọng đầy, thả hút mê man”, “cắt trọn trong một cú thọc sâu”, “nhồivào, thúc sâu, bền bỉ, mạnh mẽ”… thì thông điệp mà tác giả ngỡ đã đem đếncho người đọc chỉ còn là một ngộ nhận, một ngụy biện” [6] Anh cũng chorằng, việc quá lạm dụng yếu tố tình dục trong sáng tác của Đỗ Hoàng Diệu sẽkhiến tác phẩm mất đi sự tinh tế, làm tác phẩm thêm phần đơn điệu và đẩynguy cơ “đóng băng” các nỗ lực tìm kiếm của Đỗ Hoàng Diệu trong giai đoạn
“tiền Bóng đè” Anh khẳng định thêm: “không nên bắt tác giả phải “leo” lên
những thang bậc mà bản thân tác giả chưa có khả năng leo tới”
Trên trang Thơ trẻ ngày 20/8/2006, tác giả Nguyễn Mậu Hùng Kiệt có
bài viết Người đàn bà bị Bóng đè có bàn tay thanh tao đã khẳng định tài năng cũng như đóng góp của Đỗ Hoàng Diệu với Bóng đè Tác giả viết: “Chị đã
dám dấn thân “lặn ngụp” trong vực thẳm đầy rẫy nóng của chính mình vàphát ra tiếng kêu khát khao hạnh phúc” [9]
Trang h t t ps : / / g i a i t r i v n e x p r e ss n e t có đăng bài Sức mạnh ám gợi và
tưởng tượng trong Bóng đè ngày 13/9/2010 của tác giả Hoàng Tố Mai – bài
viết tại Tọa đàm về văn học nữ quyền diễn ra ngày 9/9 tại Viện Văn học Việt
Nam, Hà Nội Tác giả bài viết khẳng định: “Nhiều người không thích Bóng
đè Nhưng số người thích nó vẫn đông hơn Và dù thích hay không thích thì
người ta không thể phủ nhận ấn tượng Bóng đè để lại Lâu lắm mới có một
truyện ngắn đặc sắc như vậy” [10] Bài viết tập trung vào những chi tiết mangtính chất ám gợi và đề cao sự tưởng tượng trong tác phẩm, tác giả một phầncũng lên tiếng bênh vực, thông cảm cho người phụ nữ
Trên trang t p : //ht n e w vi e t a r t c o m , tác giả Đỗ Ngọc Thạch với bài viết
Ba cây bút nữ đại náo văn đàn đầu thế kỉ XXI ngày 20/10/2010 khẳng định tài
năng của ba nữ nhà văn Y Ban, Đỗ Hoàng Diệu và Nguyễn Ngọc Tư khi viết
về người phụ nữ với những nhục cảm và bản năng của họ
Trang 12Trên blog cá nhân ngày 23/4/2011, tác giả Ngô Thị Thu Thủy trong bài
viết Một cách tiếp cận tác phẩm Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu đã nêu ra nhiều
quan điểm, ý kiến trái chiều của nhiều nhà phê bình văn học khi tiếp nhận tácphẩm này Từ đó tác giả nêu lên những quan điểm của mình về những yếu tốtình dục mà Đỗ Hoàng Diệu đã sử dụng, những quan niệm về văn hóa đồngthời khẳng định sự sáng tạo của nhà văn trong công cuộc cách tân nghệ thuật
Bài viết Ám ảnh Trung Hoa trong Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu do tác
giả Việt Minh tổng hợp và bình luận đăng trên blog cá nhân ngày 27/2/2012khẳng định tài năng cũng như những thế mạnh của Đỗ Hoàng Diệu khi khaithác đời sống ở lĩnh vực tình dục cũng như văn hóa Mở đầu bài viết, tác giảkhẳng định: “Ấn tượng đầu tiên là quái dị và ghê rợn Sau đó là sexy” [12]
Trang h t t p :/ / ht h ph u o ng b lo g sp ot c o m đ ăng tiểu luận “Vấn đề tiếp
nhận tác phẩm Bóng đè” của nhóm Kiệt, Tuấn, Anh, My ngày 9/9/2013 Bài viết đưa ra những ý kiến trái chiều trong việc tiếp nhận tác phẩm Bóng đè và
đưa ra quan điểm riêng của nhóm tác giả về tác phẩm
Nói về truyện ngắn Điên cuồng như Vệ Tuệ của nữ nhà văn Vệ Tuệ,
đây là một tác phẩm văn học ngoại quốc và như trên đã nói, nó thuộc dòngvăn học trẻ, mới, vì thế số lượng những bài viết về tác phẩm này quả thực cònhạn chế Trước một tác phẩm mới mẻ và táo bạo, nhà nghiên cứu, phê bìnhvăn học Vương Trí Nhàn tỏ vẻ ủng hộ: “Dù có nhiều trang tả cảnh làm tình,song không thể nói những trang truyện ở đây mang tính khiêu dâm Trong conmắt của lớp trẻ, cái sự gọi là ngoan ngoãn hay hư hỏng (theo tiêu chuẩn cũ)thực ra không có gì quan trọng Điều khiến họ bận tâm là được sống theo ýmình Mặc dầu vậy, họ không bao giờ rơi vào hưởng lạc thuần túy mà vẫnlàm việc như điên Tâm trí họ không ngớt bị giày vò bởi những vấn đề nhânbản” [14, 9]
Trang wed h t t p: / / p h a m ngo c h i e n com có bài viết Tình yêu hay tình
dục trong Điên cuồng như Vệ Tuệ của tác giả Phạm Duy Mẫn Tác giả bài
viết cho rằng : “Khi đọc tác phẩm thì cảm nhận đầu tiên đó là tình dục” vàchỉ ra
Trang 13những yếu tố mang tính dục ảnh hưởng đến Vệ Tuệ Tác giả cũng chỉ ra “bêncạnh bản năng thì con người vẫn còn có tình yêu” và khẳng định: “tình yêu vàtình dục là hai vấn đề cơ bản và chủ yếu nhất trong tác phẩm "Điên cuồngnhư Vệ Tuệ" Trong đó tình dục đóng vai trò chủ đạo và xuyên suốt tác phẩm.Nhưng thông qua vấn đề tình dục, Vệ Tuệ muốn bộc lộ một nỗi niềm khátkhao về một tình yêu điên cuồng và cháy bỏng” [11].
Có thể thấy hầu như chưa có công trình nào móc nối hai tác phẩm Bóng
đè của Đỗ Hoàng Diệu và Điên cuồng như Vệ Tuệ của Vệ Tuệ Nhìn chung,
những bài viết về hai tác giả và hai tác phẩm này chủ yếu mới được in trêncác diễn đàn và báo mạng, trên các báo và tạp chí, chưa thực sự phong phú về
số lượng và chưa sâu về mức độ khảo sát Đa số các tác giả chỉ đi sâu tìm hiểu
đề tài sex, tính dục trong các tác phẩm Chưa có một công trình nào đi sâunghiên cứu vấn đề diễn ngôn giới nữ trong hai tác phẩm này một cách đầy đủ
và đúng đắn, mặc dù đây là một đề tài hết sức hấp dẫn và có giá trị Nhận thức
được điều đó, chúng tôi chọn đề tài Diễn ngôn giới nữ trong truyện ngắn
Bóng đè (Đỗ Hoàng Diệu) và trong truyện ngắn Điên cuồng như Vệ Tuệ (Vệ Tuệ) cho khóa luận tốt nghiệp của mình, với mong muốn cung cấp một cái
nhìn đầy đủ và toàn diện hơn cho độc giả từ góc độ diễn ngôn giới nữ về haitác phẩm mới mẻ và hấp dẫn này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Diễn ngôn giới nữ trong truyện ngắn
Bóng đè (Đỗ Hoàng Diệu) và trong Điên cuồng như Vệ Tuệ (Vệ Tuệ).
Trang 144.2 Phạm vi nghiên cứu: Trong khuôn khổ khóa luận, chúng tôi tiến
hành khảo sát ở hai tác phẩm là truyện ngắn Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu và truyện ngắn Điên cuông như Vệ Tuệ của Vệ Tuệ.
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trước hết, người viết tiến hành tìm hiểu những vấn đề chung về diễnngôn và vấn đề giới/phái tính trong văn học Sau đó, chúng tôi ứng dụng
những lí thuyết về diễn ngôn giới nữ để soi chiếu lên hai tác phẩm Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu và Điên cuồng như Vệ Tuệ của Vệ Tuệ trên cái nhìn so
sánh để rút ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai tác phẩm Từ đókhẳng định giá trị của mỗi tác phẩm và những đóng góp mới mẻ của mỗi tácgiả đối với nền văn học nước nhà nói riêng và văn học đương đại nói chung
6 Phương pháp nghiên cứu
Để tiếp cận và nghiên cứu đề tài, khóa luận đã sử dụng kết hợp nhiềuphương pháp, trong đó chủ yếu là các phương pháp sau:
Trang 15NỘI DUNG
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DIỄN NGÔN
VÀ VẤN ĐỀ GIỚI/PHÁI TÍNH TRONG VĂN HỌC
1.1 Một số vấn đề cơ bản về diễn ngôn
1.1.1 Khái niệm diễn ngôn
Từ khi xuất hiện, thuật ngữ diễn ngôn đã được quan tâm nghiên cứu từnhiều góc độ Giờ đây, diễn ngôn đã trở thành khái niệm của khoa học liênngành và khoa học đa ngành Diễn ngôn là một thuật ngữ được sử dụng rộngkhắp trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn như: triết học, xã hội học,ngôn ngữ học, tâm lí học, nghiên cứu văn học,… Nội hàm của nó vì thế rấtkhác nhau theo cách thức của các nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực nghiêncứu khác nhau Chính vì thế, khó có thể xác lập một định nghĩa duy nhất vềthuật ngữ này Trong lịch sử nghiên cứu diễn ngôn, đã có rất nhiều nhữngquan điểm và cách tiếp cận khác nhau về khái niệm diễn ngôn, trong đó có bahướng tiếp cận cơ bản khái niệm này: thứ nhất, quan điểm của các nhà cấutrúc chủ nghĩa như R Barthes, G Gennette dựa trên nền tảng là ngôn ngữ họccủa F de Saussure cho diễn ngôn là cấu trúc văn bản; thứ hai, quan điểm củanhà triết học, lí luận văn học M Bakhtin cho diễn ngôn là các thể loại lời nói
và thứ ba là tư tưởng của M Foucault với ba định nghĩa về diễn ngôn
Thứ nhất, quan điểm coi diễn ngôn như là cấu trúc văn bản Trong ngữhọc do các nhà ngữ học đề xuất, những luận điểm của F.de Saussure trong
Ngôn ngữ học đại cương đã đặt nền móng cho khuynh hướng nghiên cứu cấu
trúc văn bản, một khuynh hướng phát triển rầm rộ vào những năm 1960- 1970
ở Liên Xô và châu Âu Ngôn ngữ học đại cương ra đời đã đánh dấu một bước
ngoặt trong nghiên cứu ngôn ngữ: chuyển từ nghiên cứu sự biến đối của ngônngữ qua các thế hệ sang nghiên cứu bản chất của ngôn ngữ Sausure có sựphân biệt giữa lời nói và ngôn ngữ Theo đó, ngôn ngữ là một hệ thống, một
Trang 16kết cấu tinh thần khái quát, trừu tượng còn lời nói là sự vận dụng ngôn ngữtrong những hoàn cảnh cụ thể và bởi các cá nhân cụ thể Ngôn ngữ là yếu tốthuộc về cộng đồng xã hội trong khi lời nói thuộc về các nhân Ngôn ngữ lànhững cấu trúc bất biến còn lời nói thuộc bình diện sinh thành khả biến Ôngchỉ ra đối tượng nghiên cứu ngôn ngữ học là ngôn ngữ - sản phẩm của xã hộikết đọng lại trong óc mỗi người, còn lời nói là đối tượng nghiên cứu của xãhội học Vào những năm 1960, ngôn ngữ học của Sausure và chủ nghĩa cấutrúc của Bloomfield phát triển đến giai đoạn cực thịnh Lúc này, nghiên cứuvăn bản trở thành một khuynh hướng phát triển hết sức rầm rộ Trong giaiđoạn này, khái niệm diễn ngôn và văn bản gần như chưa có sự phân biệt rõràng Sự phân định không rạch ròi giữa diễn ngôn và văn bản có thể thấy quaviệc sử dụng chồng chéo, lẫn lộn hai thuật ngữ discourse và text Diễn ngôn
có thể được coi như một đơn vị cấu trúc văn bản Quan điểm của Saussurecho rằng ngôn ngữ đối lập với lời nói và chỉ đi sâu nghiên cứu ngôn ngữ vìcho rằng lời nói là phù du Ông quy ngôn ngữ vào mối quan hệ giữa cái biểuđạt và cái được biểu đạt, hướng tới tính chất trừu tượng và khách quan củangôn ngữ
Khác với F de Saussure, trong khuynh hướng lí luận văn học mà người
đề xướng là M Bakhtin lại cho rằng diễn ngôn như là các thể loại lời nói vàchú trọng nghiên cứu phương diện sinh thành của lời nói Ông cho rằng ngônngữ là tất cả những gì đang được sử dụng trong đời sống chứ không phảinhững thứ nằm im trong từ điển Ngôn ngữ là một dòng chảy không ngừngnghỉ, sinh thành năng động và đầy mâu thuẫn Trong khi Saussure quy ngônngữ vào mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt thì Bakhtin lại chorằng bản chất của ngôn ngữ là đối thoại, mọi lời nói đều là sự phản hồi vớinhững lời nói trước đó và đều nhằm hướng tới những đối tượng nhất định.Diễn ngôn là khái niệm trung tâm của Bakhtin trong quan điểm về ngôn ngữ
Trang 17Ông cho rằng diễn ngôn là ngôn ngữ trong sử dụng, trong chỉnh thể sốngđộng cụ thể của nó, trong bối cảnh xã hội, diễn ngôn như một đơn vị thực tếcủa giao tiếp lời nói, là các thể loại lời nói Mỗi phát ngôn riêng biệt đềumang tính cá thể và chúng ta gọi những phát ngôn đó là những thể loại diễnngôn Những thể loại diễn ngôn sơ khởi này là nền tảng hình thành các thểloại diễn ngôn sau đó như ngôn ngữ văn chương nghệ thuật, hành vi khoa học
và xã hội… Trong khi Saussure chỉ tập trung vào những quy ước, quy luậttrừu tượng và chung nhất của ngôn ngữ thì Bakhtin lại cho rằng không có mộtngôn ngữ nào lại không gắn với một quan điểm, một ngữ cảnh, một đối tượngnhất định và nó mang tính lịch đại Theo Bakhtin, ngôn ngữ là là lãnh thổchung của cả người nói lẫn người nghe, là cầu nối mọi người lại với nhau.Chính quan niệm này của Bakhtin và các nhà nghiên cứu Nga đã đặt nềnmóng cho việc xây dựng khái niệm diễn ngôn thành một phạm trù của thipháp học và tu từ học hiện đại
Cũng bàn về thuật ngữ diễn ngôn, triết gia người Pháp M Foucault đitheo khuynh hướng xã hội học để xây dựng khái niệm diễn ngôn Đối lập vớiquan điểm của Saussure nhấn mạnh bản chất liên thông giữa từ và vật,Foucault nhìn thấy sự không thống nhất giữa từ và vật, sự chiến thắng vàthống trị của từ trong đời sống con người Ông cho rằng thực tại được cấuthành từ các diễn ngôn Foucault còn làm cho tình thế trở nên phức tạp hơnkhi ông chẳng những không cố gắng đi tìm một định nghĩa thống nhất mà còn
đa dạng hóa nội hàm của thuật ngữ diễn ngôn ngay trong định nghĩa củachính mình Foucault khẳng định: “Thay vì giảm dần các nét nghĩa đã khá mơ
hồ của từ diễn ngôn, tôi tin rằng thực tế tôi đã bổ sung thêm ý nghĩa của nó:lúc thì coi nó như một khu vực chung của tất cả các nhận định được cá thểhóa, và đôi khi lại xem nó như một hoạt động được quy chuẩn nhằm tạo nênmột tập hợp các nhận định” [23] Trong trích dẫn trên, cùng một lúc Foucault
Trang 18đã đưa ra ba cách định nghĩa về diễn ngôn Thứ nhất, có thể nói là định nghĩarộng nhất, diễn ngôn là tất cả các nhận định nói chung Sara Mills – mộtchuyên gia về Foucault giải thích thêm, tức là “tất cả các phát ngôn hoặc vănbản mang nghĩa và có một hiệu lực nào đó trong thế giới thực, đều được coi làdiễn ngôn” Thứ hai, diễn ngôn như là một nhóm các nhận định được cá thểhóa Đây là định nghĩa thường được Foucault sử dụng để nhận dạng các diễnngôn cụ thể được tổ chức theo một cách thức nào đó và có một mạch lạc vàmột hiệu lực chung, chẳng hạn: diễn ngôn nữ quyền, diễn ngôn thuộc địa,diễn ngôn nam tính, diễn ngôn nữ tính, diễn ngôn phân tâm học,… Diễn ngôntrong cách hiểu này được dùng ở số nhiều Thứ ba, diễn ngôn như một hoạtđộng được kiểm soát/điều chỉnh nhằm tạo nên một tập hợp các nhận định.Đây là định nghĩa có ảnh hưởng nhất đối với nhiều nhà lí luận Điều màFoucault quan tâm ở đây là những quy tắc và cấu trúc tạo ra những nhận định,những diễn ngôn cụ thể.
Theo Foucault, chúng ta chỉ có thể tiếp cận với những diễn ngôn xácđịnh qua những hình dung của chúng ta về cái thực, tức là, chúng ta không thểtiếp cận trực tiếp với cái thực mà phải thông qua một công cụ, phương tiệntruyền dẫn, đó là các diễn ngôn Chẳng hạn, lũ lụt là hiện tượng xảy ra độc lậpvới tư duy và ngôn ngữ của con người, nhưng khi con người cắt nghĩa hiệntượng này thì nó đã được đưa vào trong các diễn ngôn Diễn ngôn khí tượnghọc cho đó là sự dâng cao mực nước một cách đột ngột sau một trận mưa lớn;diễn ngôn khoa học cho rằng đó là hệ quả của sự biến đổi khí hậu toàn cầu;diễn ngôn chính trị xem đó là hệ quả của những sai phạm trong cơ chế quản línhà nước,… Như vậy, những hiện tượng của thế giới khách quan vẫn luôn tồntại nhưng chúng chỉ được nhận biết thông qua các diễn ngôn của con người.Sara Mills khái quát: “Diễn ngôn không đơn giản là sự truyền dẫn hiện thựcvào trong ngôn ngữ; diễn ngôn cần được nhìn nhận như một hệ thống cấu trúc
Trang 19nên cái cách thức chúng ta nhận biết về hiện thực” [23] Người ta không thểchạm tay vào sự thực bởi cái mà chúng ta nhìn thấy, nghe thấy chỉ là diễnngôn về sự thực Những văn bản ghi chép lại lịch sử, hay những tác phẩm vănhọc thuộc thể loại kí trung đại Việt Nam, tác giả tuyên bố ghi chép lại mộtcách chân thực sự thật, mắt thấy tai nghe của đời sống, nhưng thực tế lại trànngập các yếu tố hư cấu, tưởng tượng như chuyện người đội lốt thú, mây ngũsắc hay ánh hào quang bao phủ bầu trời, chuyện âm phù dương trợ, thần linhbáo mộng để lập nghiệp lớn,… Như vậy, những văn bản này chỉ là nhữngdiễn ngôn về sự thật chứ không phải sự thật như nó vốn có Ẩn dưới bề sâucủa nó là những ý thức hệ, những quyền lực, những tư tưởng hệ đã chi phốitới cách tư duy và miêu tả của nhà văn về sự thực.
Mặc dù ba định nghĩa của Foucault được liệt kê khá độc lập, nhưngtrong thực tế nghiên cứu các định nghĩa này luôn được sử dụng xen kẽ nhau
và định nghĩa này có thể bao trùm lên định nghĩa khác tùy theo hướng triểnkhai của người nghiên cứu Chẳng hạn, nghiên cứu diễn ngôn giới nữ là mộtdạng diễn ngôn cụ thể - một cách tự nhiên gắn liền với định nghĩa thứ hai.Tuy nhiên trong quá trình phân tích không thể không hướng tới khả năng tạonghĩa và hiệu lực của nó đến thế giới khách quan theo định nghĩa thứ nhất.Khi tìm hiểu nguyên nhân hình thành, luân chuyển, biến đổi của diễn ngôn cụthể này lại không thể không quan tâm đến định nghĩa thứ ba
“Theo V.I Chiupa, diễn ngôn (tiếng Pháp: discours – lời nói) – là phátngôn, hành động lời nói tạo sinh văn bản gồm người nghe bình đẳng vớingười nói và được xem là “sự kiện giao tiếp tương tác văn hóa xã hội” (VanDijk) giữa chủ thể, khách thể và người tiếp nhận Chữ “diễn ngôn” có nguồngốc từ tiếng Latinh, nghĩa là “chạy tới chạy lui khắp tứ phía” (trong các côngtrình của Thomas Aquinas, nó có nét nghĩa đàm luận, nghị luận)” [2]
Trang 20Từ những quan niệm trên, có thể đi đến một khái niệm chung nhất vềdiễn ngôn Diễn ngôn là hình thức biểu hiện ngôn ngữ của con người trongmột điều kiện lịch sử, xã hội nhất định; nó là cách nói năng, phương thức biểuđạt chứa đựng một tư tưởng, quan điểm, lập trường nào đó về thế giới kháchquan Diễn ngôn không phải là công cụ diễn đạt mà là bản thân tư tưởng, mọi
tư tưởng đều biểu hiện thành diễn ngôn Diễn ngôn chịu sự chi phối của hìnhthái ý thức xã hội, trạng thái tri thức và cơ chế quyền lực trong xã hội
1.1.2 Hình thái diễn ngôn
Hình thái diễn ngôn là hệ thống cấp bậc của chủ thể, khách thể vàngười nhận trong diễn ngôn, quy định các tham số của hoạt động giao tiếp(sản xuất và tiếp nhận văn bản), đáp ứng trạng thái bức thiết mang tính lịch sửcủa nhận thức xã hội (trạng thái tinh thần của văn hoá xã hội)
Tương tự như khái niệm hình thái kinh tế – xã hội của chủ nghĩa Mác,khái niệm hình thái diễn ngôn được Michel Pêcheux (cũng như M Foucault)đưa vào phạm vi các vấn đề tu từ học và thi pháp học nhằm chỉ ranh giới củanhững gì có thể và cần phải nói, có thể nói và cần phải nói thế nào từ một lậptrường nào đó trong những hoàn cảnh nào đó Trên thực tế, trường phái phântích diễn ngôn Pháp đã thu hẹp cách hiểu khái niệm hình thái diễn ngôn tớimức chỉ còn tương tự như khái niệm “thể loại lời nói ” theo quan niệm củaBakhtin Trong khi đó, tu từ học hiện đại và lĩnh vực gắn với nó thi là pháphọc giao tiếp cần tới khái niệm hình thái diễn ngôn như là nền móng củaphạm trù loại hình học Với ý nghĩa như thế, hình thái diễn ngôn là cấu hìnhcủa các thẩm quyền thuộc về cái được biểu đạt, sáng tạo và tiếp nhận diễnngôn tạo thành một không gian giao tiếp vô hình
Có bốn hình thái diễn ngôn Cổ xưa nhất là hình thái diễn ngôn vị thế –bầy đàn Nó tạo ra một không gian giao tiếp huyền thoại hoặc tương tự nhưhuyền thoại của sự đồng thanh nhất trí theo kiểu hợp xướng Nó xuất phát từ
Trang 21bức tranh thế giới vốn có từ trước, đã thành thông lệ, trong đó, chỉ những gìtuần hoàn, lặp lại mới có ý nghĩa Nó dùng lời chỉ hiệu với nghĩa xác địnhtheo ngữ cảnh Nó dành cho chủ thể lời nói vị thế diễn xướng và định hướngphát ngôn vào việc sao lại ý thức đám đông – chúng ta của người tiếp nhậnvới tập quán ổn định Tuyệt đại đa số văn bản quảng cáo có thể xem là ví dụcủa hình thái diễn ngôn này trong đời sống hiện đại.
Tiếp theo là sự xuất hiện của hình thái diễn ngôn vai – quy phạm vàogiai đoạn muộn hơn Nó trau dồi loại lời biểu tượng, đóng kín, gây cảm giác ở
đó có cả “một hệ thống ý nghĩa đã hoàn kết và bị giới hạn nghiêm ngặt” (M.Bakhtin) Nó dành cho tác giả vị thế tự hạn chế theo phép tắc đã ấn định vàđòi hỏi ở người tiếp nhận luôn đóng vai một ý thức – nó, chịu sự điều khiểncủa tập quán cần phải theo Vì thế mới xuất hiện không gian giao tiếp quyền
uy của sự đồng thuận theo kiểu độc điệu vốn là đặc trưng của chủ nghĩa thủcựu và về sau nàylà chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học
Hình thái diễn ngôn đối nghịch – chủ động xuất hiện từ thời trung đạivới chủ nghĩa Barocco, đạt tới sự phồn thịnh ở cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ
XX, tạo nên thi pháp lãng mạn chủ nghĩa, và tiếp tục cất cao giọng trong thựctiễn văn hoá xã hội ở các nước phát triển cho tới tận bây giờ Biểu hiện cựcđoan của hình thái diễn ngôn này là thi pháp của chủ nghĩa tiên phong: bấthoà theo nguyên tắc đối thoại do ham muốn điều khiển, không gian giao tiếp
“phi quyền lực” (R Barthes) đòi hỏi một: “bức tranh thế giới ngẫu nhiên(Perelman), chiết trung; ngôn từ hình tượng đầy tính “bất thường” gắn vớimột khu vực ý nghĩa rộng mở, một vị thế tự biểu hiện đầy cảm hứng từ phíachủ thể và khả năng lựa chọn sáng tạo của ý thức – tôi từ phía người tiếp nhậnphát ngôn
Theo tiến trình lịch sử, hình thái diễn ngôn hội tụ – chủ động xuất hiệnmuộn nhất và cho đến nay vẫn chưa hình thành xong xuôi Nó phát triển
Trang 22không gian giao tiếp “đối thoại đồng thuận” mà đặc trưng là “nơi gần cận vàchốn xa xôi được khắc phục” (nhưng không hoà tan), không phải là sự tướcđoạt, mà là “sự chồng xếp của ý nghĩa lên trên ý nghĩa”, là “sự kết hợp nhiềugiọng nói (hành lang của các giọng nói) bổ sung cho sự hiểu biết” Cơ sở củaloại diễn ngôn phát triển lời nói lóng “hai giọng” (M Bakhtin) với khu vực
mở rộng ý nghĩa này là bức tranh thế giới mang tính xác suất và sự đồng tìnhcủa ý thức - anh luôn tuân theo lối sống có ý thức trách nhiệm: vị thế cảmhứng tự khách quan hoá (trong trường giá trị của ý thức người khác) của chủthể và vị thế bổ sung phóng chiếu ý nghĩa đối với người tiếp nhận phát ngôn.Vốn có nguồn cội gắn với những pháp lệ trong kinh Phúc âm về hành vi giaotiếp của Đức Kitô, hình thái diễn ngôn này được hình thành ở thời đại khủnghoảng tính nghệ thuật phi cổ điển, nó tự bộc lộ trong thi pháp học phi truyềnthống, cũng như trong triết học đối thoại, trong giáo dục học hội tụ(pédagogie convergente), trong khoa học đa ngành như một xu hướng nhậnthức khoa học hiện đại
1.1.3 Trật tự diễn ngôn
Diễn ngôn không chỉ là phương tiện biểu đạt và giao tiếp mà còn làphương thức tồn tại của con người Diễn ngôn kiến tạo tri thức và hiện thực,buộc con người hành xử theo sự chỉ dẫn của chính nó Do vậy, diễn ngôn baogiờ cũng có một trật tự nhất định Chỉ xuất phát từ phương diện trật tự diễnngôn, người nghiên cứu mới lí giải được vì sao một diễn ngôn nào đó đượccho là hợp thức và trở thành chân lí, nằm trong khu vực sân chơi của văn hóacòn những diễn ngôn khác lại bị cấm đoán và có xu hướng trôi dạt sang khu
vực ngoại biên Trong Trật tự của diễn ngôn (The Order of Discourse)
(1970), Foucault khẳng định: “Trong mọi xã hội sự sản xuất diễn ngôn cùnglúc bị kiểm soát, tuyển chọn, tổ chức và phân phối lại bởi một số nhữngphương thức/quy trình mà vai trò của nó là để né tránh những sức mạnh và sự
Trang 23nguy hiểm của diễn ngôn, để dành quyền điều khiển/kiểm soát với những sựkiện ngẫu nhiên của diễn ngôn, để tránh né những khó khăn do nó gây ra”[25] Nó dẫn tới một số những nguyên tắc, cơ chế kiểm soát, Foucault nói đếnhai hệ thống loại trừ: loại trừ từ bên ngoài và loại trừ từ bên trong.
Trật tự bên trong của diễn ngôn được kiểm soát bởi các nguyêntắc mà vai trò của chúng là hạn chế tính sự kiện và tính ngẫu nhiên của diễnngôn Có ba nguyên tắc tham gia vào việc chỉnh đốn diễn ngôn từ bên trong,
cụ thể là: Thứ nhất, nguyên tắc bình luận (commentary) Trong hoạt độnggiao tiếp, bao giờ cũng có diễn ngôn gốc và diễn ngôn thứ sinh Thực chấtdiễn ngôn thứ sinh chính là một cách diễn giải khác về diễn ngôn gốc.Nguyên tắc này một mặt cho phép chủ thể có thể tạo ra vô số diễn ngôn mới,mặt khác lại ngăn chặn tính ngẫu nhiên của diễn ngôn bằng cách giới hạnngười ta chỉ được nói những gì vốn đã được thừa nhận, được xem là cáiđương nhiên Chúng ta chỉ nói trên cơ sở những gì đã có từ trước Thứ hai lànguyên tắc tác quyền (tác giả) Nguyên tắc này có chức năng nhóm gộp cácdiễn ngôn tạo nên tính thống nhất của diễn ngôn và là cội nguồn tạo sinh cáclớp ý nghĩa của diễn ngôn Nguyên tắc tác giả kiểm soát diễn ngôn thông quabản sắc của cái tôi và cái cá thể Thứ ba, nguyên tắc chuyên khoa Nguyên tắcnày là một hệ thống vô danh có khuynh hướng đối lập với hai nguyên tắc trên.Các phát ngôn muốn thuộc về một chuyên khoa nào đó thì cần phải thỏa mãncác điều kiện cụ thể như: cần hướng tới một loại đối tượng nhất định; cần vậndụng các phương tiện khái niệm và thao tác kĩ thuật cụ thể; cần phải phù hợpvới một loại hệ hình lí thuyết nào đó
Hệ thống loại trừ bên ngoài bao gồm 3 nguyên lí Thứ nhất:nguyên lí cấm đoán (prohibition) với vai trò trung tâm của những cấm kị(taboos) Áp lực của những cấm kị giúp ngăn chặn những diễn ngôn về vấn đềnày được xuất hiện hoặc truyền bá Trong một số trường hợp nhất định, khi
Trang 24buộc đề cập đến những cấm kị, cần phải có những “hóa trang”, những cách
“đi vòng” thích hợp Chẳng hạn, trong văn học trung đại, nhà văn, nhà thơchịu áp lực cấm kị của tư tưởng Nho giáo, những vấn đề tình yêu, tình dụckhông được khuyến khích Nếu muốn viết về nó, tác giả phải mượn nhữnghình tượng nghệ thuật giúp người đọc có khả năng liên tưởng đến vấn đềđược nói đến chứ không được đề cập một cách trực tiếp
Thứ hai: nguyên lí về sự đối lập giữa điên và lí tính (madness andreason) Theo Foucault, bệnh điên được thiết lập ở vào thời điểm lý tính(reason) khu biệt với phi lý tính (unreason), một sự khu biệt xảy ra thậm chí làtrước khi phân tâm học đề cập đến chứng bệnh này Như thế bệnh điên là mộtkiến tạo của xã hội hơn là một tồn tại trong thực tế Sự kiến tạo này là cầnthiết cho sự tồn tại hợp thức của những diễn ngôn lí tính Trên thực tế, sự khubiệt giữa hai loại diễn ngôn điên và lí tính của Foucault không chỉ có ý nghĩatrong việc giải quyết mối quan hệ của hai loại diễn ngôn này mà nó đồng thờihàm chứa những gợi ý mang tính lí thuyết xung quanh vấn đề cơ chế kiến tạodiễn ngôn Từ những phân tích của Foucault về hai loại diễn ngôn trên có thểthấy một thực tế: sự hình thành của một diễn ngôn nào đó bao giờ cũng baohàm trong nó sự loại trừ một/một số diễn ngôn khác, biến những diễn ngônnày trở thành những tồn tại bất thường, không tự nhiên, thiếu hợp thức
Thứ ba, nguyên lí sự đối lập giữa chân lí và sai lầm (truth and falsity).Trọng tâm kiến giải triết học của Foucault ở đây không phải là đưa ra nhữngtiêu chí khách quan để nhận diện về một diễn ngôn đúng hay sai mà hướng tớivấn đề: làm thế nào mà một số cá nhân lại có thể có quyền năng nói về chânlí? Những diễn ngôn của họ trở thành những diễn ngôn có hiệu lực và sứcmạnh của chân lí? Ở đây có sự tham dự của các thiết chế xã hội – nhân tố đemlại quyền lực cho diễn ngôn Foucault cho rằng mỗi thời đại có sở nguyệnchân lí riêng Như thế, không thể xem chân lí như là sự kiện tự nó Trái lại
Trang 25diễn ngôn về chân lí luôn được hậu thuẫn bởi một loạt những thiết chế Trong
xã hội hiện đại đó là: trường đại học, ban ngành của chính phủ, nhà xuất bản,các tổ chức khoa học Tất cả những thiết chế này loại trừ những nhận định
mà chúng xem là sai lạc và đảm bảo cho những nhận định được xem là chân líluôn vận hành Điều này cho thấy Foucault thừa nhận sự tham dự của nhữnglực lượng vật chất trong xã hội vào trong quá trình kiến tạo diễn ngôn
1.2 Vấn đề giới/phái tính trong nghiên cứu văn học
1.2.1 Phân biệt khái niệm “giới tính” và “phái tính”
Giới tính (sex) và phái tính (gender) là hai khái niệm lâu nay đã đượcluận bàn khá nhiều không riêng gì trong nghiên cứu văn học mà còn ở cả một
số lĩnh vực khác như sinh học, tâm lí học, xã hội học… Có người đề xuất dịch
“gender” là giới tính xã hội còn “sex” là giới tính sinh học Một số người lạihiểu “gender” là giới và “sex” là giới tính Một hướng xác lập khác còn gọi
“gender” là giới tính còn “sex” là phái tính… Những cách xác định tên gọi ởtrên còn có phần rườm rà và chưa thống nhất Trong phạm vi bài viết, chúngtôi đồng thuận với cách xác lập phổ biến hiện nay là giới tính (sex) và pháitính (gender) Một cách khái quát nhất, có thể hình dung về hai khái niệm nàynhư sau:
Phái tính (gender) là khái niệm dùng để phân biệt nam và nữ dựa trêncác đặc điểm về văn hóa - xã hội Theo đó, mỗi xã hội sẽ tùy thuộc vào nhữngtập tục văn hóa và những quy tắc ứng xử riêng của nền văn hóa mà hình thànhquan điểm mang tính đặc thù về nam tính và nữ tính Chẳng hạn, trong xã hộiViệt Nam, do sự ăn sâu của tư tưởng trọng nam khinh nữ từ ngàn đời nay,nhắc đến người nam, người ta vẫn nghĩ đến “phái mạnh”, là những người trụcột của gia đình, đất nước Nam giới với ưu thế sức mạnh cơ bắp đã trở thành
“kẻ mạnh” lo những việc lớn, chinh chiến, vùng vẫy biển khơi Ngược lại,phụ nữ mặc định thuộc “phái yếu” chân yếu tay mềm, là đối tượng đứng sau
Trang 26hậu thuẫn cho nam nhân, lo những việc cỏn con trong nhà và hầu như không
có tiếng nói quyết định Thế nhưng tư tưởng này đang ngày càng thay đổitrong xã hội hiện đại, vai trò của nam và nữ đang dần trở nên bình đẳng Nhưthế, phái tính là sản phẩm được kiến tạo trên nền tảng của văn hóa - xã hội
Nó không dĩ thành bất biến mà có thể biến đổi theo sự vận động của nền vănhóa - xã hội Nói khác đi, không gian văn hóa - xã hội, ở vào những thời điểmlịch sử cụ thể lại có thể hình thành những diễn ngôn khác nhau về phạm trùphái tính Trong khi đó, khái niệm giới tính (sex) thường được sử dụng nhằmphân biệt nam giới và nữ giới về mặt sinh học thông qua những yếu tố nhưhoocmon, nhiễm sắc thể, buồng trứng, âm vật, dương vật… Khác với pháitính, giới tính là những đặc điểm sinh học bẩm sinh, mang tính phổ quát vàkhông thay đổi ở cả hai giới
Trên đây là sự phân biệt chỉ mang tính chất tương đối bởi nếu tư duysâu hơn thì sẽ thấy phái tính (gender) là một khái niệm không đơn thuần chỉnhằm phân biệt hai giới nam và nữ dưới áp lực của văn hóa- xã hội Tuy có sựkhác nhau nhưng chúng có mối liên hệ rất mật thiết Nói khác đi, chúng là haimặt cùng tồn tại trong mỗi bản thể người Do đó, xem xét diễn ngôn về giới
nữ trong văn học thực chất là việc phân tích, lí giải cơ chế hình thành phátngôn về các mặt phái tính và giới tính (mặt xã hội và mặt sinh học) của ngườiphụ nữ
1.2.2 Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề giới nữ trong văn học
Trong cái nhìn lịch sử, nhất là từ khi hệ thống văn tự được xác lập, phái
nam gần như giữ vai trò thống trị tuyệt đối Không phải ngẫu nhiên mà man vừa có nghĩa là nam vừa có nghĩa là nhân loại trong khi đó woman mang tính
chỉ giới rõ nét (nữ được sinh ra từ nam) Có thể nói, tôn ti trật tự và thái độtrọng nam khinh nữ từ chỗ là một vấn đề lớn trong đời sống xã hội đã chuyểndịch vào lãnh địa sáng tạo và thưởng thức văn học cũng như nhiều hoạt động
Trang 27tinh thần khác Những cuộc thù tạc, đàm đạo văn chương chỉ diễn ra giữanhững người đàn ông với nhau, nó không có chỗ cho “nữ nhi thường tình”.Trong văn học trung đại, về cơ bản giới cầm bút vẫn thuộc về đàn ông Thực
ra, trong vòng cương toả của tư tưởng nam quyền, đã bắt đầu xuất hiện nhữngtài danh văn học là nữ giới như Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan vàđặc biệt là Hồ Xuân Hương Mặc dù giàu tinh thần nổi loạn và phản kháng,nhưng những khúc tự tình của nữ sĩ họ Hồ vẫn chủ yếu là những tiếng thanthân trách phận Đó là lí do khiến Bà Chúa thơ Nôm phải ao ước: “Ví đây đổiphận làm trai được/Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu” Câu thơ này ẩn trong
đó một trạng thái tâm lý không chỉ riêng của Hồ Xuân Hương mà là của giớinữ: muốn nên sự nghiệp, phải đổi phận Mong ước kia, một mặt cho thấy sựđổi phận ấy dường như là bất khả trong thực tế, mặt khác, gián tiếp xác nhận
vị thế ưu thắng của đàn ông
Phải bước sang xã hội hiện đại, khi dân trí được nâng cao, phụ nữ bắtđầu được đi học, được tự do bầu cử, tầng lớp công chức đã có sự tham gia củaphụ nữ thì cán cân công bằng về giới mới bắt đầu được hiện thực hoá Giờđây, phụ nữ có quyền li hôn chính đáng và được pháp luật bảo vệ Tuy nhiên,quá trình ấy không phải lúc nào cũng diễn ra thuận lợi và nhanh chóng màphải trải qua rất nhiều quanh co, sóng gió
Vai trò của phụ nữ đặc biệt được đề cao sau năm 1945 với sự ra đời củaHội phụ nữ Việt Nam Đó là tiền đề văn hoá và xã hội thuận lợi để “văn học
nữ tính” có cơ hội phát triển So với trước đây, đội ngũ các nhà văn nữ cầmbút đông đảo hơn và tài năng của họ được thừa nhận rộng rãi hơn Nhiều tácphẩm của họ có ảnh hưởng đến công chúng và được giảng dạy trong nhàtrường từ phổ thông đến đại học Những thay đổi trên đây trong lĩnh vực vănhọc thể hiện sự thay đổi rất lớn về ý thức phái tính và thái độ đề cao vai tròcủa nữ giới Tuy nhiên, do yêu cầu của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội
Trang 28chủ nghĩa, đời sống tinh thần của nữ giới mới được khai thác nhiều ở khíacạnh xã hội mà chưa được chú ý nhiều đến đặc trưng về giới Vấn đề pháitính và âm hưởng nữ quyền chủ yếu nằm trong hệ tư tưởng chung của thời đạichứ chưa trở thành mối quan tâm thực sự của nhà văn với tư cách là ngườithiết tạo nên những tư tưởng nghệ thuật riêng của chính mình.
Sự phát triển mạnh mẽ của đất nước theo hướng đổi mới và những nỗlực tạo nên sự bình đẳng về giới kể từ 1986 đến nay đã tạo nên những tiền đề
cơ bản để giúp người phụ nữ thoát khỏi sự áp chế của đàn ông, khiến cho họ
có khả năng tồn tại độc lập và có khả năng tự quyết số phận của mình Ngườiphụ nữ không còn quanh quẩn nơi xó bếp mà đã tham gia nhiều hơn vào cáchoạt động xã hội Nhiều phụ nữ được cử giữ những chức vụ cao trong hệthống chính trị Nhưng quan trọng hơn, ý thức về giới một cách tự giác đã ănsâu vào tâm thức của đội ngũ cầm bút và tạo nên âm hưởng nữ quyền trongvăn học Mặc dù hình tượng người phụ nữ vốn xuất hiện từ lâu trong văn họcnhưng toàn bộ phẩm chất, giá trị cũng như đời sống tinh thần và thể xác của
họ luôn được nhìn bằng đôi mắt của nam quyền Chỉ khi nào, các vấn đề trênđây thoát khỏi hệ quy chiếu giá trị và quan điểm nam quyền thì văn học nữtính mới xuất hiện đầy đủ với đúng nghĩa của nó Ở Việt Nam, văn học sau
1986 cũng chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của văn học nữ tính đến mức cóngười cho rằng đây là thời kì “âm thịnh dương suy” với sự góp mặt củanhững cây bút có thực tài như Phạm Thị Hoài, Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo,Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ… và gần đây là Vi Thùy Linh,Phan Huyền Thư, Đỗ Hoàng Diệu, Nguyễn Thị Ngọc Tư… Những cây bútnày đã đem đến cho văn đàn những tiếng nói mới mẻ, buộc các nhà văn vàcác nhà phê bình nam giới phải thừa nhận tài năng của họ
Vấn đề phái tính và văn học nữ tính đến nay vẫn chưa được giới họcthuật nước ta quan tâm nhiều mặc dù trong ý thức, chúng ta đều hiểu đây là
Trang 29một vấn đề quan trọng của đời sống hiện đại Đồng thời, nó cho thấy, bêncạnh những bộ môn khoa học nghiên cứu những vấn đề bản thể văn chương,vẫn tồn tại những khuynh hướng phê bình chính trị, xã hội Sự hiện diện củavăn học nữ tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam nói riêng vàvăn học trên thế giới nói chung có thể coi là một bước phát triển thực sự củavăn học theo hướng dân chủ hoá Nghiên cứu vấn đề giới nữ trong văn họcthực sự đã tạo ra một cuộc “cách mạng giới” trong văn học, chính thức đánh
đổ hoàn toàn sự thống trị tự nhiên của chế độ phụ quyền và chủ nghĩa namgiới trung tâm trong văn học, mang đến một hướng nghiên cứu mới, thúc đẩy
sự phát triển của văn học nữ quyền
Như vậy, ở chương này, người viết tập trung vào hai vấn đề: Thứ nhất
là một số vấn đề chung về diễn ngôn và thứ hai là vấn đề giới/phái tính trongvăn học Về thuật ngữ diễn ngôn, chúng tôi đi từ một số quan điểm của cácnhà nghiên cứu từ nhiều phương diện khác nhau như: quan điểm của các nhàcấu trúc chủ nghĩa như R Barthes, G Gennette dựa trên nền tảng là ngôn ngữhọc của F de Saussure cho diễn ngôn là cấu trúc văn bản; quan điểm của nhàtriết học, lí luận văn học M Bakhtin cho diễn ngôn là các thể loại lời nói và tưtưởng của M Foucault với ba định nghĩa về diễn ngôn Từ đó xác lập mộtkhái niệm về diễn ngôn như sau: Diễn ngôn là hình thức biểu hiện ngôn ngữcủa con người trong một điều kiện lịch sử, xã hội nhất định; nó là cách nóinăng, phương thức biểu đạt chứa đựng một tư tưởng, quan điểm, lập trườngnào đó về thế giới khách quan Diễn ngôn không phải là công cụ diễn đạt mà
là bản thân tư tưởng, mọi tư tưởng đều biểu hiện thành diễn ngôn Diễn ngônchịu sự chi phối của hình thái ý thức xã hội, trạng thái tri thức và cơ chếquyền lực trong xã hội Chúng tôi cũng tiến hành tìm hiểu hình thái diễn ngôn
và trật tự diễn ngôn dựa theo những công trình nghiên cứu trước đó để ápdụng vào tác phẩm được nghiên cứu trong khóa luận này Tiếp sau đó, chúng
Trang 30tôi đã xác lập một cách hiểu chung nhất về hai khái niệm giới tính và phái tính
vì thực tế giữa hai khái niệm này còn có sự hiểu chồng chéo, rườm rà Việcxác lập sẽ tạo cơ sở để hiểu hơn về văn học nữ tính trong sự đối sánh với vănhọc nam tính đã có từ lâu Chúng tôi cũng chỉ ra ý nghĩa quan trọng và cấpthiết của việc nghiên cứu vấn đề giới nữ trong văn học Đây có thể coi là mộtbước phát triển thực sự của văn học theo hướng dân chủ hoá, chính thức đánh
đổ hoàn toàn sự thống trị tự nhiên của chế độ phụ quyền và chủ nghĩa namgiới trung tâm trong văn học, mang đến một hướng nghiên cứu mới, thúc đẩy
sự phát triển của văn học nữ quyền
Trang 31Chương 2 SO SÁNH DIỄN NGÔN GIỚI NỮ TRONG
TRUYỆN NGẮN BÓNG ĐÈ VÀ TRONG TRUYỆN NGẮN
ĐIÊN CUỒNG NHƯ VỆ TUỆ
2.1 Những điểm tương đồng
2.1.1 Chủ thể diễn ngôn là hình tượng cái tôi tác giả
Cũng giống như các diễn ngôn khác, diễn ngôn văn học tạo ra hiệnthực, tạo nên một cách nhìn mới về thế giới, sáng tạo một thế giới đời sống.Diễn ngôn văn học tạo lập tri thức, biểu hiện năng lực cảm thụ cái đẹp, cách lígiải, cách cắt nghĩa thế giới và con người của chủ thể phát ngôn Chủ thể phátngôn trong văn học vì thế không tồn tại trước sự phát ngôn, nó được sinh ratrong sự phát ngôn của chính nó Trên hầu khắp các trang viết của các tác giả
nữ, người tiếp nhận luôn nhìn thấy sự hiển hiện thường trực của chân dungcuộc sống cá nhân nhà văn
Đọc truyện ngắn Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu và truyện ngắn Điên
cuồng như Vệ Tuệ của Vệ Tuệ, điểm tương đồng đầu tiên dễ nhận thấy nhất
giữa hai tác phẩm này chính là chủ thể diễn ngôn là hình tượng cái tôi tác giả
Người kể chuyện xuất hiện trực tiếp ở ngôi thứ nhất, xưng “tôi” Trong Bóng
đè, nhân vật tôi là một cô gái thành thị (không có tên), kết hôn với một chàng
trai gốc nông thôn Họ sống với nhau khá hạnh phúc dù chàng trai lắm khiphát hoảng trước đòi hỏi tình dục mạnh mẽ của cô vợ trẻ Mở đầu truyện,nhân vật tôi cảm nhận về đôi bàn tay có vẻ đẹp kì lạ khó lí giải của mình:
“Tôi có bàn tay nhỏ nhắn và mềm mại hiếm thấy Bàn tay không thay đổi theomùa hay béo gầy cơ thể […] Tôi chìa bàn tay ra trước nắng, nhìn như nhìnbàn tay một kẻ khác Giông gió, bão lũ, nắng hạn, tôi có thể chết đi rồi mà bàntay vẫn nguyên vẹn với năm ngón ngắn dài, làn da mỏng tanh không trọnglượng Chỉ có tôi hiểu vì sao bàn tay tôi tách rời ra khỏi thể xác mình Chỉ cótôi hiểu vì sao tôi hay trốn những vách dựng loang loáng một chiếc bóng Thụ
Trang 32không hiểu Chính tôi đôi khi cũng thấy mình là lạ” [1] Nhân vật tôi bắt đầu
kể lại câu chuyện mà theo cô là bi kịch khi cô theo chồng về quê ăn giỗ, tất cảbốn lần Đời sống tinh thần tù hãm, lưu cữu của làng quê cùng với sự đối xử
sự khắc nghiệt của gia đình nhà chồng đã đem đến cho cô những cơn bóng đènửa thực nửa hư rất đáng sợ Cô bị một hồn ma, có thể là ông bố chồng cưỡnghiếp Điều đáng nói là ngoài những cảm giác sợ hãi, xấu hổ, cô gái còn cảmnhận được những khoái lạc thể xác mà chồng cô không thể mang lại Chồng
và mẹ chồng cô dường như biết việc này nhưng không ra tay can thiệp mà chỉ
tỏ thái độ ghẻ lạnh, xa cách Sau bốn lần về quê chồng ăn giỗ, hôn nhân của
cô bị đe dọa Kết thúc truyện cô gái có thai, bằng cảm nhận của mình cô chắcchắn hồn ma kia chính là cha của đứa trẻ
Một cốt truyện đặc biệt như vậy cùng với ngôi kể thứ nhất đầy sinh
động đủ để Bóng đè được dư luận chú ý Lập tức người ta quan tâm đến mối
liên hệ giữa nhân vật tôi trong truyện và tác giả Đỗ Hoàng Diệu Trong nhiềubài trả lời phỏng vấn, Diệu đã khẳng định mình và nhân vật tôi trong tác phẩm
không đồng nhất: “Mọi người liên tục hỏi tôi về Bóng đè, tại sao tôi viết, tôi
viết khi nào, cảm giác ra sao Có nhà văn lớp trước đã mắng chửi tôi thẳngcánh là viết văn trong vô thức, viết bẩn nhớp, không trong sạch, chay tịnh Tôingớ người Nghĩ mình phải ghi tên vào trường chuyên dạy cách mơ
Nhiều người thắc mắc về cuộc sống riêng của tôi Họ phỏng đoán, vẽchân cho rắn, vẽ chó thêm sừng khắp nơi Họ không biết rằng, khi tôi mườilăm, tôi đã viết một bài luận, và thày giáo không tin, thày nói ít nhất bài vănnày phải của một người ngoài bốn mươi từng trải
Tôi không trách họ đã đồng nhất nhân vật và tác giả, bởi chỉ duy nhất
mình tôi bơi trong những giấc mơ của chính mình Chỉ mình tôi biết Bóng đè
là một giấc mơ, Vu quy là một giấc mơ Và tôi không phải người kể chuyện
khéo léo, tôi đã kể lại giấc mơ của mình bằng ngôn ngữ hôn mê Chỉ có điều,
Trang 33cùng với thời gian, giấc mơ tôi ngày càng trở nên khác thường” [22] Ở mộtbài viết khác, chị nói: “Tôi từng bị bóng đè nhiều lần Và cái cảm giác nặng
nề bị trói buộc, tứ chi bất động trong khi trí óc vẫn tỉnh táo đã hằn in vào tiềmthức Nhiều năm nay, không còn bị bóng đè, cảm giác ấy vẫn hiện rõ mồnmột Chắc chắn nhiều người trên thế gian này cũng từng bị bóng đè như tôi.Chúng ta gọi hiện tượng ấy là bóng đè, chúng ta nói bị bóng đè, không ai nóiđược bóng đè Như vậy có thể suy diễn bóng đè là việc không tốt cho conngười Chính vì thế, tôi mượn hiện tượng có thật này để viết truyện ngắn.Chính vì thế, tôi đặt tên truyện là “Bóng đè” Bao giờ cũng vậy, trong cái xấu
có cái tốt, bị bóng đè sau “hoá giá” cũng có nghĩa được bóng đè!” [7] Đànhrằng, bóng đè là một hiện tượng tâm lí mà hầu hết ai cũng gặp phải một lầntrong đời, trong đó có tác giả Nhưng đánh đồng Đỗ Hoàng Diệu là nhân vậttôi trong tác phẩm là có phần khiên cưỡng, chưa nói đến việc tôi có anh chồng
gốc gác nhà quê tên Thụ, còn Đỗ Hoàng Diệu, sau Bóng đè, đã theo chồng tây
định cư bên Mỹ!
Chỉ có thể nói rằng nhân vật tôi trong tác phẩm chính là hình tượng cáitôi tác giả Trong những sáng tác của mình, Đỗ Hoàng Diệu vẫn thường làmđiều này: xây dựng lên một nhân vật tôi, thường là một cô gái trẻ, trực tiếp kể
về những câu chuyện của mình, như trong Vu quy, Dòng sông hủi, Căn bệnh,
Bóng đè,… Đặt cạnh nhau người kể chuyện ở ngôi thứ nhất - “tôi” trong Bóng
đè và “tôi” trong Vu quy, sẽ thấy lộ ra hai nhân vật người phụ nữ vừa giống
nhau lại vừa khác nhau Một người miên man với quá khứ, tìm thấy “khoáicàm tình dục” trong quan hệ với “tiền nhân” Một người chỉ biết tới hiện tạivới những “kỷ niệm tình dục”, hầu như mọi kỷ niệm dù thỏa mãn hay thấtvọng cũng đều đáng nhớ và nhớ một cách chi tiết Những diễn ngôn của nhânvật tôi trong tác phẩm cũng chính là những diễn ngôn của Đỗ Hoàng Diệu, đạidiện cho giới nữ mà lên tiếng
Trang 34Điên cuồng như Vệ Tuệ lại là một truyện dài được viết theo lối bán tự
truyện Cây bút nữ linglei của Trung Quốc gần như tái hiện chính mình trêntrang sách, thậm chí đưa tên mình thành tên tác phẩm Nhân vật chính là
“tôi”, cũng tên Tuệ, có thể được hiểu chính là tác giả Vệ Tuệ Tuệ trong tácphẩm cũng là một nữ nhà văn Tác phẩm kể về cuộc đời của nhân vật, cũngchính là cuộc đời của tác giả Trong truyện, nhân vật đang ấp ủ một tác phẩmmới mà cô ghi lại từ chính những giấc mơ, những hồi ức của mình Ít có nhàvăn nào dám dùng hình ảnh của chính mình để thể hiện trong tác phẩm Có lẽ,
Vệ Tuệ muốn gây ra một sự chú ý lớn và sẽ thu hút được nhiều người đọc tácphẩm của mình hơn Và Tuệ đã đạt được những thành công lớn thông quaviệc bộc lộ tâm trạng, suy nghĩ, cách đánh giá của bản thân đối với cuộc sốnghiện tại đầy rẫy những khó khăn và cám dỗ
Vệ Tuệ sinh vào khoảng đầu những năm bảy mươi của thế kỉ trước,thuộc lớp thanh niên lớn lên cùng với những đổi thay của Trung Quốc trongnhững thập niên cuối cùng của thế kỉ XX Người thanh niên này đi vào vănhọc theo lối nhân tiện thì thử cầm bút một phen và chính từ chỗ không biết sợ
là gì mà lại có được tiếng nói riêng trong văn học Có lần Vệ Tuệ tự thú:
“Khát vọng của tôi gần như lí do tồn tại của tôi là làm cho thành phố nổ tungnhư một trận pháo hoa” Khát vọng ấy đã được đền đáp với sự thành công của
cuốn Cục cưng Thượng Hải Không chỉ trong tiểu thuyết đầu tay này mà cả
trong những truyện vừa và truyện ngắn tiếp sau, nhà văn vẫn có lối viết tựthuật một cách cố ý, dù cho nữ nhân vật chính mang một cái tên nào đi chăngnữa và cuộc đời được khai thác dưới những khía cạnh khác thì bạn đọc vẫn dễdàng nhận thấy rằng nhân vật trong sách với tác giả chỉ là một
Hóa thân vào nhân vật trong tác phẩm, hai cây bút Đỗ Hoàng Diệu và
Vệ Tuệ giữ vài trò chủ thế phát ngôn với vị thế chủ động Họ chủ động đề cập