Chính sự tồn tại khách quan và sự ảnh hưởng của cạnh tranh đối với nền kinh tế nóichung và đến từng doanh nghiệp nói riêng nên việc nâng cao khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp là một đò
Trang 11
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫnkhoa học của PGS.TS Phạm Hùng Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luậnvăn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thứcnào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm
ơn và việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tàiliệu tham khảo đúng quy định
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Hà Nội, ngày tháng năm
2017
Tác giả luận văn
Nông Quang Thuận
Trang 2đỡ, động viên khích lệ của các thầy cô, bạn bè đồng nghiệp và người thân trong suốtthời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ.
Tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với PGS.TS Phạm Hùng đã trực tiếptận tình hướng dẫn cũng như cung cấp tài liệu thông tin khoa học cần thiết cho luậnvăn này
Xin chân thành cảm ơn Bộ môn Quản lý xây dựng, Khoa Công trình, Phòng Đào tạo,Trường Đại học Thủy Lợi đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt công việc nghiên cứukhoa học của mình
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, đơn vị công tác đãgiúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện Luận văn
Trang 3N ộ i , n g à y t h á n g n ă m
2 0 1 7
T ác gi ả lu ậ n vă n
N ô n g
Q u a n g T h u ậ n
Trang 43 3
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
CHƯƠNG 1 CƠ S L LU N V THỰC TIỄN VỀ N NG LỰC CẠNH TRANH TRONG DOANH NGHIỆP 3
1.1 Khái niệm và vai trò của cạnh tranh 3
1.1.1 Khái niệm cạnh tranh 3
1.1.2 Vai trò của cạnh tranh 4
1.2 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 6
1.2.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 6
1.2.2 Các cấp độ năng lực cạnh tranh 7
1.2.3 Vai trò của việc nâng cao năng lực cạnh tranh 10
1.2.4 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh 10
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 15
1.3 Kinh nghiệm về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 21
1.3.1 Trên thế giới 21
1.3.2 Tại Việt Nam 28
1.3.3 Những bài học kinh nghiệm 29
Kết luận chương 1 32
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG N NG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỬA ĐÔNG 33
2.1 Tổng quan về Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư Phát triển Cửa Đông 33
2.1.1 Giới thiệu tổng quan về Công ty 33
2.1.2 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty 34
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Công ty 34
2.1.4 Lĩnh vực kinh doanh và thị trường hoạt động 36
2.1.5 Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty từ năm 2012 - 2016 37
2.2 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty 42
Trang 54 4
2.2.1 Các nhân tố bên trong 42
2.2.2 Các nhân tố bên ngoài 52
2.3 Một số chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty 56
2.3.1 Nhóm chỉ tiêu định lượng 56
2.3.2 Nhóm chỉ tiêu định tính 61
2.4 Đánh giá hoạt động nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty trong thời gian qua 63
2.4.1 Ưu điểm 63
2.4.2 Khó khăn 64
2.4.3 Nguyên nhân 65
Kết luận chương 2 67
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO N NG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN CỬA ĐÔNG 68
3.1 Mục tiêu phát triển và phương hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty 68
3.1.1 Mục tiêu phát triển của công ty 68
3.1.2 Cơ sở để xây dựng mục tiêu 69
3.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty 71
3.2.1 Về phía công ty 71
3.2.2 Giải pháp về sản phẩm 72
3.2.3 Giải pháp về việc phát triển các nguồn lực của doanh nghiệp 80
3.2.4 Giải pháp về hoạt động nghiên cứu phát triển 86
Kết luận chương 3 88
KẾT LU N V KIẾN NGH 89
1 Kết luận 89
2 Kiến nghị 90
T I LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 92
Trang 65 5
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 2 1 Nhân sự các năm của công ty 35
Hình 2 2 Sơ đồ tổ chức bộ máy của công ty 35
Hình 2 3 Số công trình công ty đã thực hiện qua các năm 37
Hình 2 4 Lợi nhuận sau thuế TNDN giai đoạn 2012 - 2016 40
Hình 2 5 Nhân sự công ty năm 2016 45
Hình 2 6 Sơ đồ chức năng phòng Hành chính – Tổ chức 92
Hình 2 7 Sơ đồ chức năng phòng Kế hoạch – Tài chính 94
Hình 2 8 Sơ đồ chức năng các phòng Tư vấn 1, 2, 3 95
Trang 76 6
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2 1 Cơ cấu tài sản giai đoạn 2012 - 2016 38
Bảng 2 2 Báo cáo kết quả kinh doanh giai đoạn 2012 - 2016 40
Bảng 2 3 Cơ cấu lao động theo chức năng 43
Bảng 2 4 Cơ cấu lao động theo giới tính 44
Bảng 2 5 Cơ cấu lao động năm 2016 theo trình độ đào tạo 44
Bảng 2 6 Cơ cấu lao động theo độ tuổi 46
Bảng 2 7 Cơ cấu nguồn vốn công ty giai đoạn 2012 – 2016 48
Bảng 2 8 Tỷ trọng nguồn vốn giai đoạn 2012 - 2016 48
Bảng 2 9 Danh mục thiết bị sản xuất của công ty 50
Bảng 2 10 Kết quả hoạt động SXKD giai đoạn 2012 - 2016 56
Bảng 2 11 Chỉ tiêu thị phần tuyệt đối của công ty và một số đối thủ cạnh tranh chủ yếu 57
Bảng 2 12 Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của công ty 60
Bảng 2 13 Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản của công ty 60
Bảng 2 14 Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu 61
Trang 87 7
DNNN: Doanh nghiệp nhà nước
DNNVV: Doanh nghiệp vừa và nhỏ
GTVT: Giao thông vận tải
KCS: Kiểm tra chất lượng sản phẩm nội bộ
KH-TH: Kế hoạch - Tổng hợp
KS: Khảo sát
NNL: Nguồn nhân lực
OECD: Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
PCI: Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
PAPI: Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh SXKD: Sản xuất kinh doanh
WEF: Diễn đàn Kinh tế thế giới
WTO: Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 101 1
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh đóng vai trò vô cùng quan trọng và được coi
là động lực của sự phát triển của mỗi doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nóichung Cạnh tranh là động lực thúc đẩy sự phát triển của mọi thành phần kinh tế, gópphần xóa bỏ những độc quyền, bất hợp lý, bất bình đẳng trong kinh doanh Kết quảcủa quá trình cạnh tranh sẽ quyết định doanh nghiệp nào tiếp tục tồn tại và phát triểncòn doanh nghiệp nào sẽ bị phá sản và giải thể Do đó, vấn đề nâng cao năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp đã trở thành một vấn đề quan trọng mà bất cứ doanh nghiệpnào cũng phải quan tâm
Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư Phát triển Cửa Đông là một doanh nghiệp hoạt độngtrong lĩnh vực tư vấn khảo sát thiết kế các công trình xây dựng giao thông khá thànhcông trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn Doanh thu và số lượng nhân viên của công ty khôngngừng tăng lên theo các năm
Tuy nhiên, trên thị trường đang ngày càng xuất hiện nhiều những doanh nghiệp cạnhtranh với doanh nghiệp tư vấn Cửa Đông, đó là những công ty cổ phần, công ty TNHH
và doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong cùng lĩnh vực tư vấn khảo sát thiết kế cáccông trình giao thông Xuất phát từ những lý do, đồng thời là một cán bộ đã làm việc
lâu năm cho công ty nên tôi chọn đề tài “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh tại Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư Phát triển Cửa Đông – tỉnh Lạng Sơn” để làm luận
văn, với mong muốn góp phần nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công
ty trong những năm tới
2 Mục đích nghi n c u của đề tài
Thông qua việc nghiên cứu và phân tích các quan điểm về năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp, tác giả đi sâu làm rõ cở sở lý luận năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp, chỉ rõ các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, để từ đó đưa
ra các kiến nghị thích hợp nhằm giúp doanh nghiệp khai thác tối đa năng lực cạnh
Trang 112 2
tranh của mình trong công cạnh tranh và thâm nhập thị trường Xuất phát từ mục đíchtrên, nhiệm vụ đặt ra cho đề tài này là:
Trang 123 3
- Làm rõ các khái niệm và quan điểm về năng lực canh tranh của doanh nghiệp vàphân tích các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Phân tích thực trạng hoạt động của Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư Phát triển CửaĐông trong thời gian qua để chỉ rõ những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội của công ty
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần
Tư vấn Đầu tư Phát triển Cửa Đông trong thời gian tới
3 Cách tiếp cận và phương pháp nghi n c u
Trên cơ sở lý luận chung về năng lực cạnh tranh; hệ thống các văn bản, chế độ, chínhsách hiện hành về năng lực của Nhà nước nói chung, của Công ty nói riêng và tìnhhình triển khai thực hiện công tác năng lực cạnh tranh trong những năm vừa qua.Trong luận văn, tác giả sử dụng những phương pháp nghiên cứu chung của khoa họckinh tế như: Phương pháp thu thập số liệu, phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu,phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh, tham vấn ý kiến chuyên gia …để đưa
ra các đánh giá về thực trạng năng lực cạnh tranh trong Công ty
4 Đối tượng và phạm vi nghi n c u
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Hoạt động kinh doanh dịch vụ Tư vấn khảo sát thiết kế các công trình Giao thông củaCông ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư Phát triển Cửa Đông
- Môi trường kinh doanh dịch vụ tư vấn khảo sát thiết kế các công trình Giao thông trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn
- Các nguồn lực nội tại và mức độ khai thác chúng tại Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tưPhát triển Cửa Đông
- Các đối thủ cạnh tranh chính của Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư Phát triển CửaĐông
Trang 133 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ L LU N V TH C TIỄN VỀ N NG L C C NH TRANH TRONG DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm và vai trò của cạnh tranh
1.1.1 Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh là yếu tố luôn gắn liền với nền kinh tế thị trường, tuỳ từng cách hiểu vàcách tiếp cận mà có nhiều quan điểm về cạnh tranh:
- Cạnh tranh là sự phấn đấu về chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp mìnhsao cho tốt hơn doanh nghiệp khác
- Cạnh tranh là sự thôn tính lẫn nhau giữa các đối thủ cạnh tranh nhằm giành lấy thịtrường và khách hàng về doanh nghiệp của mình
- Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giành đượcnhững ưu thế hơn cùng một loại sản phẩm dịch vụ hoặc cùng một loại khách hàng vềphía mình so với các đối thủ cạnh tranh
Dưới thời kỳ CNTB phát triển vượt bậc, Các Mác đã quan niệm rằng: “Cạnh tranh TBCN là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch”.
Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992) ở Anh: “Cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là sự ganh đua kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại về phía mình”.
Ngày nay, dưới sự hoạt động của cơ chế thị trường có sự quản lý vĩ mô của nhà nước,khái niệm cạnh tranh có thay đổi đi nhưng về bản chất nó không hề thay đổi: Cạnhtranh vẫn là sự đấu tranh gay gắt, sự ganh đua giữa các tổ chức, các doanh nghiệpnhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và kinh doanh để đạt đượcmục tiêu của tổ chức hay doanh nghiệp đó
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, cạnh tranh là một điều kiện và là yếu tố kíchthích sản xuất kinh doanh, là môi trường và động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, tăngnăng suất lao động và tạo đà cho sự phát triển của xã hội
Trang 144 4
Như vậy, cạnh tranh là qui luật khách quan của nền sản xuất hàng hoá vận động theo
cơ chế thị trường Sản xuất hàng hoá càng phát triển, hàng hoá bán ra càng nhiều, sốlượng người cung ứng càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt Kết quả cạnh tranh sẽ cómột số doanh nghiệp bị thua cuộc và bị gạt ra khỏi thị trường trong khi một số doanhnghiệp khác tồn tại và phát triển hơn nữa Cạnh tranh sẽ làm cho doanh nghiệp năngđộng hơn, nhạy bén hơn trong việc nghiên cứu, nâng cao chất lượng sản phẩm giá cả
và các dịch vụ sau bán hàng nhằm tăng vị thế của mình trên thương trường, tạo uy tínvới khách hàng và mang lại nguồn lợi nhuận cho doanh nghiệp
1.1.2 Vai trò của cạnh tranh
1.1.2.1 Vai trò của cạnh tranh đối với nền kinh tế quốc dân
Cạnh tranh là động lực phát triển kinh tế nâng cao năng suất lao động xã hội Một nềnkinh tế mạnh là nền kinh tế mà các tế bào của nó là các doanh nghiệp phát triển có khảnăng cạnh tranh cao Tuy nhiên ở đây cạnh tranh phải là cạnh tranh hoàn hảo, cạnhtranh lành mạnh, các doanh nghiệp cạnh tranh nhau để cùng phát triển, cùng đi lên thìmới làm cho nền kinh tế phát triển bền vững Còn cạnh tranh độc quyền sẽ ảnh hưởngkhông tốt đến nền kinh tế, nó tạo ra môi trường kinh doanh không bình đẳng dẫn đếnmâu thuẫn về quyền lợi và lợi ích kinh tế trong xã hội, làm cho nền kinh tế không ổnđịnh Vì vậy, Chính phủ cần ban hành lệnh chống độc quyền trong cạnh tranh, trongkinh doanh để tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh Cạnh tranh hoàn hảo sẽ đào thảicác doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả Do đó buộc các doanh nghiệp phải lựa chọnphương án kinh doanh có chi phí thấp nhất, mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất Nhưvậy cạnh tranh tạo ra sự đổi mới mang lại sự tăng trưởng kinh tế
1.1.2.2 Vai trò của cạnh tranh đối với người tiêu dùng
Trên thị trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp càng diễn ra gay gắt thì người đượclợi nhất là khách hàng Khi có cạnh tranh thì người tiêu dùng không phải chịu một sức
ép nào mà còn được hưởng những thành quả do cạnh tranh mang lại như: chất lượngsản phẩm tốt hơn, giá bán thấp hơn, chất lượng phục vụ cao hơn Đồng thời kháchhàng cũng tác động trở lại đối với cạnh tranh bằng những yêu cầu về chất lượng hànghoá, về giá cả, về chất lượng phục vụ Khi đòi hỏi của người tiêu dùng càng cao làm
Trang 155 5
cho cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt hơn để giành được nhiềukhách hàng hơn
1.1.2.3 Vai trò của cạnh tranh đối với doanh nghiệp
Cạnh tranh là điều bất khả kháng đối với mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thịtrường Cạnh tranh có thể được coi là cuộc chạy đua khốc liệt mà các doanh nghiệpkhông thể tránh khỏi mà phải tìm mọi cách vươn nên để chiếm ưu thế và chiến thắng.Cạnh tranh thúc đẩy các doanh nghiệp luôn tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm,dịch vụ, thay đổi kiểu dáng mẫu mã đáp ứng nhu cầu của khách hàng Cạnh tranhkhuyến khích các doanh nghiệp áp dụng các công nghệ mới, hiện đại, tạo sức ép buộccác doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của mình để giảm giá thành,nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, tạo ra các sản phẩm mới khác biệt có sức cạnhtranh cao
Cạnh tranh khốc liệt sẽ làm cho doanh nghiệp thể hiện được khả năng “bản lĩnh” củamình trong quá trình kinh doanh Nó sẽ làm cho doanh nghiệp càng vững mạnh vàphát triển hơn nếu nó chịu được áp lực cạnh tranh trên thị trường
Chính sự tồn tại khách quan và sự ảnh hưởng của cạnh tranh đối với nền kinh tế nóichung và đến từng doanh nghiệp nói riêng nên việc nâng cao khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp là một đòi hỏi tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trường
Cạnh tranh là qui luật khách quan của kinh tế thị trường, mà kinh tế thị trường là kinh
tế TBCN Kinh tế thị trường là sự phát triển tất yếu và Việt Nam đang xây dựng mộtnền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN có sự quản lý vĩ môcủa nhà nước, lấy thành phần kinh tế nhà nước làm chủ đạo Dù ở bất kỳ thành phầnkinh tế nào thì các doanh nghiệp cũng phải vận hành theo qui luật khách quan của nềnkinh tế thị trường Nếu doanh nghiệp nằm ngoài quy luật vận động đó thì tất yếu sẽ bịloại bỏ, không thể tồn tại Chính vì vậy chấp nhận cạnh tranh và tìm cách để nâng caokhả năng cạnh tranh của mình chính là doanh nghiệp đang tìm con đường sống chomình
Trang 166 6
1.2 Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Trong quá trình nghiên cứu cạnh tranh, người ta đã sử dụng khái niệm năng lực cạnhtranh Tổ chức Hợp tác và và Phát triển Kinh tế (OECD) định nghĩa năng lực cạnhtranh là “Khả năng của các công ty, các ngành, các vùng, các quốc gia hoặc khu vựcsiêu quốc gia trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranhquốc tế trên cơ sở bền vững” Trên góc độ tổng quát lấy con người làm trung tâm, kháiniệm năng lực cạnh tranh được Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) quan niệm: “Đối vớidoanh nghiệp, khả năng cạnh tranh có nghĩa là tạo ra những lựa chọn tăng trưởng mới,mang lại giá trị cho các cổ đông Đối với xã hội, nâng cao khả năng cạnh tranh là tạo
ra việc làm mới và điều kiện sống tốt hơn”
Như vậy, Năng lực cạnh tranh được xem xét ở các góc độ khác nhau như năng lựccạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sảnphẩm và dịch vụ… luận văn này, sẽ chủ yếu đề cập đến năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp trong ngành
Hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp Có nhiều quan niệm gắn sức cạnh tranh với ưu thế của sản phẩm mà doanhnghiệp đưa ra thị trường Có quan đỉểm lại gắn sức cạnh tranh của doanh nghiệp theothị phần mà nó chiếm giữ, có người lại đồng nghĩa công cụ cạnh tranh với các chỉ tiêu
đo lường sức cạnh tranh của hàng hóa, của doanh nghiệp, có quan niệm lại hiểu rằngsức cạnh tranh đồng nghĩa với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh là khả năng giành được và duy trì thị phần trên thị trường với lợinhuận nhất định Quan điểm này tập trung vào kết quả, thị phần mà doanh nghiệp cóđược sau cạnh tranh, chưa chỉ ra được các yếu tố ảnh hường đến năng lực cạnh tranh.Năng lực cạnh tranh là khả năng cung ứng sản phẩm của chính doanh nghiệp trên cácthị trường khác nhau không phân biệt nơi bố trí doanh nghiệp Trong định nghĩa này,tác giả chỉ nhìn nhận năng lực cạnh tranh ở khía cạnh cung cấp sản phẩm mà không đềcập đến nhiều yếu tố khác bên trong doanh nghiệp
Trang 177 7
Năng lực cạnh tranh được xác định bằng thế mạnh mà công ty có thể hay huy độngđược để có thể cạnh tranh thắng lợi
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thịphần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và nướcngoài Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được thể hiện thông qua khả năng xâydựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm đáp ứngtốt nhu cầu của khách hàng so với đối thủ cạnh tranh và đạt được các mục tiêu củadoanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và quốc tế
Một số quan điểm cho rằng năng lực cạnh tranh chủ yếu phải là thực lực của chínhdoanh nghiệp Điều này cũng đúng, tuy nhiên nếu sức cạnh tranh chỉ là thực lực và lợithế của bản thân chính chủ thể thì chưa hoàn toàn đầy đủ và chính xác vì doanh nghiệpcạnh tranh thắng lợi hay không bị tác động của rất nhiều nhân tố, trong đó có tác độngcủa ngoại lực Trong thực tế có doanh nghiêp thực lực rất nhỏ nhưng vẫn duy trì được
vị trí cùa nó trên thị trường so với các đối thủ cạnh tranh bằng cách huy động ngoại lựcbên ngoài Do đó nếu chỉ hiểu sức cạnh tranh của doanh nghiệp là thực lực hay lợi thếcủa chính doanh nghiệp thì sẽ làm giảm đi những suy nghĩ, ý tưởng kinh doanh mạohiểm, dám sử dụng thực lực hay lợi thế của doanh nghiệp khác vào việc duy tri vị trícùa doanh nghiệp mình trên thị trường Đó không phải là sức cạnh tranh của doanhnghiệp trong thời kỳ mờ cửa hội nhập kinh tế thế giới mà là sức cạnh trạnh của doanhnghiệp trong thời kỳ đóng cửa Cách hiểu đó không còn phù hợp vói bối cảnh mới củanền kinh tế thế giới Do đó có thể hiểu: “năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thựclực và lợi thế mà doanh nghiệp có thể huy động để duy trì vả cải thiện vị trí của nó sovới đối thủ cạnh tranh trên thị trường một cách lâu dài và có ý chí nhằm thu được lợiích ngày càng cao cho doanh nghiệp
1.2.2 Các cấp độ năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh có thể được phân biệt thành ba cấp độ: Năng lực cạnh tranh cấpquốc gia, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm,dịch vụ Chúng có mối tương quan mật thiết với nhau, phụ thuộc lẫn nhau Năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp bị hạn chế khi năng lực cạnh tranh cấp quốc gia và củasản phẩm doanh nghiệp đó đều thấp Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như đã
Trang 188 8
được trình bày ở mục 1.2.1, sau đây tác giả chỉ đề cập đến hai cấp độ năng lực cạnh
tranh còn lại
1.2.2.1 Năng lực cạnh tranh quốc gia
Năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng của Nhà nước để sản xuất, phân phối vàphục vụ hàng hoá trong nền kinh tế quốc tế cạnh tranh với hàng hoá và dịch vụ đã sảnxuất ở các nước khác và làm như vậy theo một cách thức nhằm nâng cao mức sống.Hoặc một cách cụ thể hơn, năng lực cạnh tranh quốc gia được quan niệm là năng lựccùa nền kinh tế đạt được tăng trương bền vừng, thu hút được đầu tư, bảo đảm ổn địnhkinh tể, xã hội, nàng cao đời sống của người dân, chủ yếu nhờ khả năng cung cấp côngnghệ hoặc bang cách tự sáng tạo hoặc tiếp thu nhanh chóng và tích cực công nghệ từnước khác (Đinh Văn Ân, 2003) Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) cho rằng, năng lựccạnh tranh của một quốc gia là: “Năng lực của nền kinh tế nhằm đạt và duy trì đượcmức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vừng tương đối và các đặctrưng kinh tế khác”
Theo bài viết của Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ được đăng trên CổngThông tin điện tử Chính phủ (2016) thì Năng lực cạnh tranh quốc gia là tổng hợp cácthể chế, chính sách và nhân tố quyết định mức độ hiệu quả và tính năng suất của mộtquốc gia Một nền kinh tế có năng suất, hiệu quả là nền kinh tế có năng lực sử dụng,khai thác tốt các nguồn lực có hạn
Nói cách khác, bản chất của năng lực cạnh tranh quốc gia là năng lực vận hành nềnkinh tế có hiệu quả, với chi phí hợp lý nhất mang lại kết quả thịnh vượng và bền vữngtối đa nhất Năng lực cạnh tranh quốc gia có mối tương quan mật thiết với môi trườngkinh doanh Hoàn thiện và đảm bảo hiệu lực, hiệu quả thực thi các quy định pháp luậtcũng như các cơ chế, chính sách tạo thuận lợi hoạt động kinh doanh không chỉ gópphần nâng cao năng suất, chất lượng hoạt động của doanh nghiệp, mà còn thúc đẩyphân bổ nguồn lực một cách minh bạch, và do vậy, trực tiếp và gián tiếp nâng caonăng suất của nền kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
Trang 199 9
Nền kinh tế có được phát triển bền vững hay không phụ thuộc nhiều vào năng lực cạnhtranh quốc gia cao hay thấp cũng như mức độ thuận lợi hay kém thuận lợi của môitrường kinh doanh
Trang 2010 1 0
Hiện nay trên thế giới, “Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu” (GCI) của Diễn đànKinh tế thế giới được công nhận rộng rãi là chỉ số phổ biến dùng để đánh giá năng lựccạnh tranh của các nền kinh tế trong tương quan so sánh toàn cầu Chỉ số GCI đánh giánăng lực cạnh tranh thông qua 12 chỉ số trụ cột được phân vào 3 nhóm Nhóm 1- Cácchỉ số phản ánh các yêu cầu căn bản của một nền kinh tế, gồm: (1) thể chế, (2) cơ sở
hạ tầng, (3) môi trường kinh tế vĩ mô, (4) y tế và giáo dục tiểu học Nhóm 2 - Các chỉ
số để nền kinh tế phát triển theo hướng chất lượng, hiệu quả gồm: (5) giáo dục và đàotạo sau tiểu học, (6) hiệu quả thị trường hàng hóa, (7) hiệu quả thị trường lao động, (8)trình độ phát triển của thị trường tài chính; (9) Sẵn sàng công nghệ và (10) quy mô thịtrường Nhóm 3 - Các chỉ số phản ánh trình độ của doanh nghiệp và năng lực đổi mớisáng tạo gồm: (11) trình độ kinh doanh, (12) Năng lực đổi mới sáng tạo
Mặc dù 12 chỉ số trụ cột được đo lường riêng biệt, nhưng trên thực tế, các trụ cột này
và các chỉ số thành phần đều liên quan đến nhau và tương tác, hỗ trợ cho nhau Ba độtphá chiến lược của Việt Nam đã phản ánh tới 9 trong số 12 chỉ số trụ cột Với 3 trụ cộtcòn lại (mức độ sẵn sàng công nghệ, trình độ kinh doanh và năng lực đổi mới sáng tạo)phụ thuộc vào chính sách khoa học công nghệ và chính sách phát triển doanh nghiệp.Đây là những trọng tâm chính trong hoạch định chính sách nhằm nâng cao năng lựccạnh tranh quốc gia trong giai đoạn tới Một số nội dung được đánh giá trong Chỉ sốcăng lực cạnh tranh toàn cầu có sự tương đồng về nội hàm với chỉ số năng lực cạnhtranh cấp tỉnh (PCI), chỉ số hiệu quả hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật kinhdoanh của các bộ ngành (MEI) và chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh(PAPI) đang áp dụng tại Việt Nam; nhất là về vấn đề thể chế và mô hình tăng trưởng.Vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia đã được đề cập nhất quán trong các chủtrương, chính sách của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước Qua 30 năm đổimới, năng lực cạnh tranh của Việt Nam có thay đổi và được cải thiện dần nhưng so vớithế giới và kể cả khu vực ASEAN vẫn còn ở mức thấp
Trong năm 2016 Việt Nam xếp vị trí 60/138 nền kinh tế được Diễn đàn Kinh tế thếgiới (WEF) đánh giá khu vực Đông Nam Á, Việt Nam đứng thứ 6, sau Singapore(2), Malaysia (25), Thái Lan (34), Indonesia (41) và Philippines (57)
Trang 2111 1 1
1.2.2.2 Năng lực cạnh tranh sản phẩm, dịch vụ
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ là khả năng trao đổi sản phẩm, thoả mãnnhu cầu của khách hàng so với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh Năng lực cạnhtranh của sản phẩm được đo bằng thị phần của sản phẩm đó Năng lực cạnh tranh củasản phẩm phụ thuộc vào chất lượng, giá cả, tốc độ cung cấp, dịch vụ đi kèm, uy tín củangười bán, thương hiệu, quảng cáo, điều kiện mua bán, v.v Theo Michael Pọrter thìnăng lực cạnh tranh cùa sản phẩm là sự vượt trội của nó (về nhiều chỉ tiêu) so với sảnphẩm cùng loại do các đối thủ khác cung cấp trên cùng một thị trường (MichaelE.Porter, 1990)
1.2.3 Vai trò của việc nâng cao năng lực cạnh tranh
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh tồn tại như một quy luật kinh tế khách quan
và do vậy việc nâng cao năng lực cạnh tranh để cạnh tranh trên thị trường luôn đượcđặt ra đối với các doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế sâu rộng nhưhiện nay Cạnh tranh ngày càng gay gắt khi trên thị trường ngày càng xuất hiện nhiềucác đối thủ cạnh tranh nước ngoài với tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ, quản lý
và có sức mạnh thị trường Nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp là một đòihỏi cấp bách để doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh một cách lành mạnh và hợp pháp trênthương trường Không những thế, với xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới hiệnngay, việc nâng cao năng lực cạnh tranh ở các doanh nghiệp có ý nghĩa hết sức quantrọng và quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp Bởi lẽ suy cho cùng, mục đíchcuối cùng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là mang lại càng nhiều lợinhuận, khi đó việc nâng cao năng lực cạnh tranh tại doanh nghiệp được xem như làmột chiến lược không thể thiếu trong định hướng phát triển và nó góp phần vào việchoàn thành mục tiêu của doanh nghiệp
Nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ nhằm mục đích là đem lại lợi ích cho doanhnghiệp, mà còn góp phần vào sự tăng trưởng của ngành và cả quốc gia; đó cũng làcông cụ hữu hiệu của Nhà nước để điều tiết các hoạt động kinh doanh trên thị trường
1.2.4 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của
Trang 2212 1 2
doanh nghiệp Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tínhbằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạtđộng trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường Trên cơ sở các so sánh đó, muốntạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh vớiđối tác của mình Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn các đòi hỏicủa khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối thủ cạnh tranh.Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ tất cảnhững yêu cầu của khách hàng Thường thì doanh nghiệp có lợi thế về mặt này và cóhạn chế về mặt khác; vấn đề cơ bản là, doanh nghiệp phải nhận biết được điều này và
cố gắng phát huy tốt những điểm mạnh mà mình đang có để đáp ứng tốt nhất nhữngđòi hỏi của khách hàng Để đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, cầnphải xác định được các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh từ những lĩnh vực hoạtđộng khác nhau và cần thực hiện việc đánh giá bằng cả định tính và định lượng Cácdoanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh ở những ngành, lĩnh vực khác nhau cócác yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh khác nhau Mặc dù vậy, vẫn có thể tổng hợpđược các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp qua các nhóm chỉtiêu sau:
1.2.4.1 Nhóm chỉ tiêu định lượng
* Thị phần phản ánh thế mạnh của doanh nghiệp trong ngành, là chỉ tiêu được doanhnghiệp hay dùng để đánh giá mức độ chiếm lĩnh thị trường của mình so với đối thủcạnh tranh Thị phần lớn sẽ tạo lợi thế cho doanh nghiệp chi phối và hạ thấp chi phísản xuất do lợi thế về quy mô Thị phần của doanh nghiệp trong một thời kỳ là tỷ lệphần trăm thị trường mà doanh nghiệp đã chiếm lĩnh được trong thời kỳ đó Có cácloại thị phần sau:
- Thị phần tuyệt đối: Thị phần của doanh nghiệp đối với một loại hàng hoá, dịch vụnhất định là tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của doanh nghiệp này với tổngdoanh thu của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoá, dịch vụ đó trên thịtrường liên quan hoặc tỷ lệ phần trăm giữa doanh số mua vào của doanh nghiệp này
Trang 2313 1 3
với tổng doanh số mua vào của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoá, dịch
vụ đó trên thị trường liên quan theo tháng, quý, năm
Công thức tính:
Trang 2414 1 4
Thị phần tuyệt đối= Doanh thu của doanh nghiệp
Tổng doanh thu trên thị trường*100
- Thị phần tương đối: Là tỷ lệ so sánh về doanh thu của công ty so với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất Nó cho biết vị thế của công ty trong cạnh tranh trên thị trường nhưthế nào Công thức tính:
Thị phần tương đối= Doanh thu của doanh nghiệp
Doanh thu của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất
- Năng suất lao động:
Năng suất lao động là chỉ tiêu tổng hợp của nhiều yếu tố như: con người, công nghệ,
cơ sở vật chất kỹ thuật, tổ chức phối hợp Do vậy nó là tiêu chí rất quan trọng để đánhgiá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng suất lao động được đo bằng sản lượngsản phẩm đảm bảo chất lượng trên một đơn vị số lượng lao động làm ra sản phẩm đó.Công thức tính:
Năng suất lao động= Lượng sản phẩm đảm bảo chất lượng
Số lượng lao động làm ra sản phẩm đóNăng suất lao động của doanh nghiệp càng cao bao nhiêu thì năng lực cạnh tranh càngcao bấy nhiêu so với các doanh nghiệp cùng lĩnh vực
* Tỷ số về khả năng sinh lời
- Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS)
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu ROS (Return on sales) được xác định bằng tỷ lệ của lợi nhuận trên doanh thu thuần trong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp
Công thức tính:
ROS = Lợi nhuận
Doanh thu thuần
Trang 25Tử số có thể là các khoản mục lợi nhuận khác nhau, tùy theo mục đích và đối tượngphân tích mà nhà nghiên cứu lựa chọn: Lợi nhuận gộp, lợi nhuận trước lãi vay, thuế vàkhấu hao TSCĐ (EBITDA), lợi nhuận hoạt động (lợi nhuận trước lãi vay và thuế -EBIT), Lợi nhuận trước thuế (EBT), lợi nhuận sau thuế (EAT) Thông thường các nhàphân tích lựa chọn lợi nhuận sau thuế làm tử số, khi đó tỷ suất này trở thành tỷ suất lợinhuận sau thuế trên doanh thu - một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh khả năng sinh lời củatoàn bộ hoạt động của doanh nghiệp:
Trang 26ROS =Lợi nhuận ế
Doanh thu thuần
Tỷ suất này cho biết quy mô lợi nhuận được tạo ra từ mỗi đồng doanh thu thuần củadoanh nghiệp
ROS càng cao cho thấy khả năng sinh lợi từ doanh thu càng cao, và ngược lại Tỷ suấtnày còn gián tiếp phản ánh hiệu quả quản lý chi phí của doanh nghiệp; ROS càng caocho thấy tỷ lệ chi phí phát sinh trên mỗi đồng doanh thu càng thấp, doanh nghiệp quản
lý chi phí hiệu quả
- Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản:
Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA - Return on assets) được tính bằng tỷ lệ của lợinhuận sau thuế trên tổng tài sản bình quân trong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.Công thức tính:
ROA= Lợi nhuận sau thuế
Tổng tài sản bình quânMẫu số là tổng tài sản bình quân = (Tổng tài sản đầu kỳ + tổng tài sản cuối kỳ)/2.Trong trường hợp không có đủ số liệu, nhà phân tích có thể sử dụng giá trị tổng tài sảntại một thời điểm nào đó (ví dụ cuối kỳ kinh doanh) thay thế cho tổng tài sản bìnhquân
Tỷ suất này cho biết quy mô lợi nhuận sau thuế được tạo ra từ mỗi đồng được đầu tưvào tổng tài sản của doanh nghiệp, từ đó phản ánh khả năng sinh lợi từ các tài sản hoặc
Trang 27tần suất khai thác các tài sản của doanh nghiệp.
ROA càng cao chứng tỏ khả năng sinh lợi trên tổng tài sản, hoặc tần suất khai tháctổng tài sản càng lớn
Tuy nhiên, cần đề phòng trường hợp doanh nghiệp tạm thời có ROA cao không hẳn là
vì khai thác tài sản một cách hiệu quả mà là vì thiếu hụt đầu tư vào tài sản, có thể ảnhhưởng đến hoạt động lâu dài của doanh nghiệp
- Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE):
Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE - Return on equity) được xác định bằng tỷ
lệ của lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu bình quân trong kỳ của doanh nghiệp.Công thức tính:
Trang 28ROE= Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu bình quânMẫu số là vốn chủ sở hữu bình quân = (VCSH đầu kỳ + VCSH cuối kỳ)/2 Trongtrường hợp không có đủ số liệu, nhà phân tích có thể sử dụng giá trị VCSH tại mộtthời điểm nào đó (ví dụ cuối kỳ kinh doanh) thay thế cho VCSH bình quân
Tỷ suất này cho biết quy mô lợi nhuận sau thuế được tạo ra từ mỗi đồng vốn của chủ
sở hữu, từ đó phản ánh hiệu quả khai thác VCSH của doanh nghiệp và mức doanh lợi
mà nhà đầu tư đạt được khi đầu tư vào doanh nghiệp Do đó, ROE được các nhà đầu tưđặc biệt quan tâm khi đánh giá khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, là cơ sở để raquyết định đầu tư
Nói chung, ROE càng cao cho thấy khả năng sinh lợi trên VCSH càng tốt
Tuy nhiên cần đề phòng trường hợp doanh nghiệp có ROE cao không hẳn là vì khaithác vốn chủ sở hữu một cách hiệu quả mà là vì lệ thuộc quá nhiều vào vốn vay, khiếncho cơ cấu tài chính mất cân bằng và hàm chứa nhiều rủi ro cho doanh nghiệp (Nếudoanh nghiệp tăng tỷ trọng vốn vay thì tỷ trọng VCSH sẽ giảm do đó mẫu số ROE cóthể giảm và trong điều kiện thích hợp thì ROE sẽ tăng)
Trang 291.2.4.2 Nhóm chỉ tiêu định tính
* Uy tín, thương hiệu:
Đây là chỉ tiêu có tính chất rất khái quát, nó bao gồm rất nhiều yếu tố như: chất lượngsản phẩm, các hoạt động dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp, hoạt động Marketing,quan hệ của doanh nghiệp với các tổ chức tài chính, mức độ ảnh hưởng của doanhnghiệp với chính quyền Đó là tài sản vô hình vô giá mà doanh nghiệp nào cũng coitrọng, nếu mất uy tín thì chắc chắn doanh nghiệp sẽ không có khả năng cạnh tranh trênthương trường Có uy tín doanh nghiệp có thể huy động được rất nhiều nguồn lực như:vốn, nguyên vật liệu, và đặc biệt là sự an tâm, gắn bó của người lao động với doanhnghiệp hay sự ủng hộ của chính quyền địa phương với công ty
* Kinh nghiệm của doanh nghiệp:
Một công ty có bề dày kinh nghiệm trên thương trường thì cũng được đánh giá rất cao
về năng lực cạnh tranh Kinh nghiệm lâu năm sẽ giúp công ty nâng cao chất lượng sảnphẩm, có thể nắm bắt và sử lý nhiều tình huống phức tạp với chi phí và thời gian thấpnhất Đây cũng chính là một lợi thế của doanh nghiệp trong cuộc chạy đua với các đốithủ khác
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Mỗi một doanh nghiệp hoạt động trong bất cứ lĩnh vực nào cũng đều phải chịu sự tácđộng của môi trường xung quanh và chiụ sự tác động từ chính bản thân doanh nghiệp
Do đó khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào bản thân doanhnghiệp mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khách quan khác của môi trương xung quanhdoanh nghiệp Nhìn chung có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp, song tóm gọn lại đều có hai nhóm nhân tố cơ bản: Nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp và nhóm nhân tố bên ngoài doanh nghiệp.
1.2.5.1 Nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp
* Nguồn nhân lực:
Trước hết, nhân tố nguồn nhân lực có vai trò quan trọng nhất trong mọi hoạt động củadoanh nghiệp Trình độ nguồn nhân lực thể hiện ở trình độ quản lý của các cấp lãnh
Trang 30đạo, trình độ chuyên môn của cán bộ công nhân viên, trình độ tư tưởng văn hoá củamọi thành viên trong doanh nghiệp Trình độ nguồn nhân lực cao sẽ tạo ra các sảnphẩm có hàm lượng chất xám cao, thể hiện trong kết cấu kỹ thuật của sản phảm, mẫu
mã, chất lượng và từ đó uy tín, danh tiếng của sản phẩm sẽ ngày càng tăng, doanhnghiệp sẽ tạo được vị trí vững chắc của mình trên thương trường và trong lòng côngchúng, hướng tới sự phát triển bền vững Nguồn nhân lực của doanh nghiệp bao gồm:Quản trị viên doanh nghiệp: Gồm ban giám đốc và các trưởng phó các phòng ban Đây
là đội ngũ có ảnh hưởng quyết định đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp; Đội ngũ này có trách nhiệm tổ chức quản lý doanh nghiệp một cách tốt nhất;trước hết là áp dụng phương pháp quản lý hiện đại đã được doanh nghiệp của nhiềunước áp dụng thành công như phương pháp quản lý theo tình huống, quản lý theo tiếpcận quá trình và tiếp cận hệ thống, quản lý theo chất lượng như ISO 9000, ISO 1400.Bản thân doanh nghiệp phải tự tìm kiếm và đào tạo cán bộ quản lý cho chính mình.Muốn có được đội ngũ cán bộ quản lý tài giỏi và trung thành, ngoài yếu tố chính sáchđãi ngộ, doanh nghiệp phải định hình rõ triết lý dùng người, phải trao quyền chủ độngcho cán bộ và phải thiết lập được cơ cấu tổ chức đủ độ linh hoạt, thích nghi cao với sựthay đổi
Đội ngũ cán bộ công nhân viên trực tiếp sản xuất sản phẩm: Đội ngũ công nhân ảnhhưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm, do vậy cần tạo điều kiện cho họ hoàn thànhtốt những công việc được giao; đội ngũ này cũng cần được thường xuyên bồi dưỡng vàtạo điều kiện cho đi học tập nâng cao tay nghề để đáp ứng được đòi hỏi của công việcngày càng cao
* Nguồn lực vật chất (Máy móc thiết bị và công nghệ):
Máy móc thiết bị và công nghệ ảnh hưởng rất lớn đến năng lực của doanh nghiệp, nó
là nhân tố quan trọng bậc nhất thể hiện năng lực sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Nó ảnh hưởng trực tiếp đến sản phẩm, chất lượng của sản phẩm và giá thànhcủa sản phẩm Một doanh nghiệp có hệ thống trang thiết bị hiện đại với công nghệ phùhợp cho phép rút ngắn thời gian sản xuất, giảm mức tiêu hao năng lượng, tăng năngsuất, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra lợi thế cạnh tranh
Trang 31đối với sản phẩm của doanh nghiệp Công nghệ còn tác động đến tổ chức sản xuất củadoanh nghiệp, nâng cao trình độ cơ khí hóa, tự động hóa của doanh nghiệp Như vậynhất định khả năng cạnh tranh sẽ tốt hơn.
* Nguồn lực tài chính của doanh nghiệp:
Khả năng tài chính của doanh nghiệp quyết định tới việc thực hiện hay không thựchiện bất cứ một hoạt động đầu tư, mua sắm hay phân phối của doanh nghiệp Mộtdoanh nghiệp có năng lực cạnh tranh cao là doanh nghiệp có nguồn vốn dồi dào, luônđảm bảo huy động được vốn trong những điều kiện cần thiết, có nguồn vốn huy độnghợp lý, có kế hoạch sử dụng vốn hiệu quả để phát triển lợi nhuận và phải hạch toán cácchi phí rõ ràng để xác định được hiệu quả chính xác Nếu không có nguồn vốn dồi dàothì hạn chế rất lớn tới kết quả hoạt động của doanh nghiệp như hạn chế việc sử dụngcông nghệ hiện đại, hạn chế việc đào tạo nâng cao trình độ cán bộ và nhân viên, hạnchế triển khai nghiên cứu, ứng dụng, nghiên cứu thị trường, hạn chế hiện đại hoá hệthống tổ chức quản lý Như vậy, doanh nghiệp có nguồn vốn dồi dào sẽ duy trì và nângcao sức cạnh tranh, củng cố vị trí của mình trên thị trường
* Trình độ tổ chức quản trị doanh nghiệp và chính sách chiến lược của công ty:
- Thứ nhất là về cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp: Nếu một doanh nghiệp có cơ cấu tổchức hợp lý, phân công trách nhiệm và quyền hạn rõ ràng thì mọi hoạt động sẽ trôichảy, có năng suất Ngược lại một cơ cấu chồng chéo, quyền lực không được phânchia thì hiệu quả hoạt động sẽ kém Trong đó thì cơ cấu Ban lãnh đạo có phẩm chất vàtài năng có vai trò quan trọng bậc nhất, ảnh hưởng tới sự thành công của doanh nghiệp.Một nhà lãnh đạo giỏi không chỉ biết làm cho bộ máy công ty vận hành đúng quy luật
và còn phải làm cho nó hoạt động một cách linh hoạt, uyển chuyển cho phù hợp với sựthay đổi của môi trường trong và ngoài doanh nghiệp
- Thứ hai là công tác đào tạo: Quản trị doanh nghiệp trước hết là phải làm tốt công tác giáo dục đào tạo trong công ty Lãnh đạo doanh nghiệp phải tiến hành thường xuyên việc giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, văn hóa cho mọi thành viên Từ đó giúp họ nhận thức tốt về pháp luật, về đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, khuyến khích mọi người tiết kiệm, chống lãng phí, tham nhũng, giảm thiểu những chi phí vô ích,
Trang 32ngoài ra còn tạo môi trường văn hoá lành mạnh trong công ty giúp mọi người đoànkết, gắn bó, tạo dựng được tập thể vững mạnh cùng phấn đấu cho mục tiêu “nâng caonăng lực cạnh tranh” của doanh nghiệp.
- Thứ ba là việc áp dụng các phương pháp quản trị mới: Nếu biết áp dụng các phươngpháp và biện pháp quản trị mới sẽ mang lại hiệu quả và năng suất cao, giảm đượcnhiều chi phí, tạo điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh Nếu ta sử dụng một lối mòntrong quản trị sẽ dẫn đến sự trì trệ, bảo thủ, không phù hợp với những thay đổi của cơchế thị trường và đặc biệt sẽ bị đối thủ ” bắt bài” tìm kẽ hở để chiếm mất thị phần củacông ty
1.2.5.2 Nhóm nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
Theo mô hình kim cương của M.Porter thì có tổng cộng 56 chỉ tiêu cụ thể được phânthành 4 nhóm sau: Một là, các điều kiện yếu tố đầu vào, gồm: kết cấu hạ tầng vật chất
- kỹ thuật; hạ tầng hành chính, nguồn nhân lực, hạ tầng công nghệ, thị trường tàichính Hai là, các điều kiện về cầu: sở thích của người mua, tình hình pháp luật về tiêudùng, về công nghệ thông tin Ba là, các ngành cung ứng và ngành liên quan: chấtlượng và số lượng các nhà cung cấp địa phương, khả năng tại chỗ về nghiên cứuchuyên biệt và dịch vụ đào tạo, mức độ hợp tác giữa các khu vực kinh tế, khả năngcung cấp tại chỗ các chi tiết và phụ kiện máy móc Bốn là, bối cảnh đối với chiến lược
và cạnh tranh của doanh nghiệp, gồm hai phân nhóm là động lực và cạnh tranh (cácrào cản vô hình, sự cạnh tranh của các nhà sản xuất địa phương, hiệu quả của việcchống độc quyền) Tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xâydựng nói chung và các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ tư vấn xây dựng giao thôngnói riêng thì nhóm nhân tố bên ngoài có thể cụ thể bằng những yếu tố sau:
* Khách hàng:
Suy cho cùng tất cả các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều nhằm thoả mãnnhu cầu của khách hàng Nếu doanh nghiệp nào càng đáp ứng tốt nhu cầu của kháchhàng so với các đối thủ cạnh tranh thì họ càng nhận được sự ủng hộ và sự trung thành
từ phía khách hàng Trong điều kiện có sự cạnh gay gắt thì vai trò của khách hàngcàng trở nên quan trọng và ưu tiên hơn Tuy nhiên thực tế là người mua luôn muốn trả
Trang 33giá thấp vì vậy sẽ thực hiện việc ép giá, gây áp lực đòi chất lượng cao hơn hoặc đòiđược phục vụ nhiều hơn đối với doanh nghiệp khi có điều kiện, do vậy sẽ làm giảm lợinhuận của doanh nghiệp và doanh nghiệp không thể thoả mãn được tất cả các nhu cầucủa tất cả khách hàng Cho nên các doanh nghiệp cần phải phân loại khách hàng thànhcác nhóm khác nhau, trên cơ sở đó tiến hành phân tích và đưa ra các chính sách thíchhợp để thu hút ngày càng nhiều khách hàng về phía mình.
* Đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành:
Các đối thủ cạnh tranh trong ngành quyết định tính chất và mức độ tranh đua giànhgiật lợi thế trong ngành, mà mục đích cuối cùng là giữ vững và phát triển thị phần hiện
có, đảm bảo thu được lợi nhuận cao nhất Cạnh tranh trở nên khốc liệt khi ngành ở giaiđoạn bão hoà hoặc suy thoái hoặc có đông đối thủ cạnh tranh cùng năng lực Đây làđối tượng ảnh hưởng rất lớn đến doanh nghiệp, là động lực kích thích mỗi doanhnghiệp không ngừng phải nâng cao năng lực của mình Vì chỉ cần doanh nghiệp cónhững bước đi sai lầm thì chính họ sẽ là mối đe doạ lớn của công ty trong việc tranhgiành thị trường Do vậy doanh nghiệp cần phải tìm hiểu mọi thông tin về đối thủ như:mục đích tương lai, các nhận định, các tiềm năng, chiến lược hiện tại, những điểmmạnh, điểm yếu, khả năng thích nghi với môi trường của đối thủ cạnh tranh Trên cơ
sở đó hoàn thiện những mặt còn yếu kém, phát huy những thế mạnh của doanh nghiệptừng bước nâng cao năng lực cạnh tranh hơn đối thủ
* Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn:
Khi một ngành có sự gia tăng thêm đối thủ cạnh tranh mới thì hệ quả là tỷ suất lợinhuận giảm và tăng thêm mức độ cạnh tranh Các đối thủ cạnh tranh mới tham gia vàothị trường sau nên họ có lợi thế trong ứng dụng những thanh tựu mới của khoa học,công nghệ Không phải lúc nào cũng gặp phải đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, nhưng khiđối thủ mới xuất hiện thì vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ thay đổi Vì vậy doanhnghiệp cần phải tạo cho mình một hàng rào ngăn cản sự xâm nhập của các đối thủ mới.Những hàng rào này là lợi thế sản xuất theo quy mô, đa dạng hoá sản phẩm, sự đòi hỏi
có nguồn tài chính lớn, chi phí chuyển đổi mặt hàng cao, khả năng hạn chế xâm nhậpcác kênh tiêu thụ
Trang 34* Người cung ứng các yếu tố đầu vào:
Nói đến đầu vào là nói đến việc cung cấp các yếu tố cần thiết để doanh nghiệp tiếnhành sản xuất kinh doanh như: nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, vốn, nhânlực Trong thời đại của sự phân công lao động, của chuyên môn hoá thì mọi doanhnghiệp không nên tiến hành sản xuất theo kiểu "tự cung, tự cấp" tức là tự lo cho mình
từ khâu đầu vào đến khâu đầu ra Điều này sẽ giảm hiệu quả sản xuất vì không tậndụng và phát huy được lợi thế so sánh giữa các ngành, các quốc gia Các doanh nghiệpnên tìm đến những nhà cung ứng đầu vào bên ngoài có uy tín vì đây là điều kiện cầnthiết để đảm bảo cho tiến trình sản xuất kinh doanh được thuận lợi, đảm bảo cho đầu
ra của các quá trình đó có năng suất và chất lượng cao Nếu nhà cung cấp không giaohàng đúng hẹn, đúng chủng loại và đảm bảo chất lượng thì doanh nghiệp cũng sẽ saihẹn với khách hàng của mình và ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
* Các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước:
- Môi trường chính trị: Đây là yếu tố có tác động lớn tới mọi doanh nghiệp Nếu quốcgia nào có môi trường chính trị ổn định, ít biến động, một thể chế minh bạch rõ ràngthì thu hút được rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài và tạo điều kiện thuận lợi cho cácdoanh nghiệp yên tâm kinh doanh vì tài sản của họ được đảm bảo, rủi ro cũng ít hơn.Đối với các doanh nghiệp nước ngoài thì họ có thể xác định đầu tư làm ăn lâu dài tạiquốc gia đó, còn với doanh nghiệp trong nước thì có điều kiện phát huy năng lực cạnhtranh của mình
- Môi trường pháp lý: yếu tố này được mọi doanh nghiệp quan tâm vì nó ảnh hưởngtrực tiếp đến lợi ích cũng như nghĩa vụ của doanh nghiệp
Trước khi bắt tay vào kinh doanh một lĩnh vực gì đó thì doanh nghiệp cũng phải xemxét tới hệ thống văn bản pháp lý của quốc gia có cho phép kinh doanh mặt hàng đó haykhông? các thủ tục cần thiết là gì? những quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp rasao? Do vậy, nếu một quốc gia có hệ thống luật pháp cồng kềnh, phức tạp, chồngchéo, thủ tục hành chính rườm rà, nhiều tiêu cực, quá nhiều cửa, và đặc biệt hay thayđổi chính sách hoặc chính sách đưa ra còn chưa phù hợp với thực tế thì đây quả thực là
Trang 35rào cản vô cùng lớn cho doanh nghiệp, làm hạn chế khả năng cạnh tranh của doanhnghiệp trên thương trường.
- Môi trường kinh tế: Bao gồm các chính sách phát triển kinh tế, chính sách thươngmại, chính sách cạnh tranh, chính sách đầu tư Các chính sách và biện pháp kinh tếnhằm khuyến khích hay hạn chế, ưu tiên hay kìm hãm sự phát triển của từng ngành cụthể, do đó ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp trong các ngành
đó Do đó, các chính sách kinh tế, các quy định và thủ tục hành chính phải đơn giản,minh bạch, không phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp sẽ có tác độngmạnh tới kết quả, hiệu quả và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
- Môi trường khí hậu tự nhiên: Cũng tuỳ vào từng doanh nghiệp khác nhau mà sự ảnhhưởng của yếu tố này cũng khác nhau Nếu quốc gia có vị trí địa lý thuận lợi cho thôngthương quốc tế thì là điều kiện tốt để doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu nângcao được năng lực của mình Ví dụ như đối với ngành xây dựng sản phẩm là các côngtrình do vậy điều kiện khí hậu cũng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sản phẩm và tiến
độ thi công của doanh nghiệp
* Bối cảnh quốc tế và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật:
Ngày nay thế giới đang chuyển biến mạnh mẽ, thời đại của hội nhập kinh tế quốc tế,của toàn cầu hoá, của công nghệ tự động hoá Đó quả thực là vũ đài kinh tế lớn, là sânchơi chung cho mọi quốc gia, nó sẽ là cơ hội cho doanh nghiệp nào biết tận dụng.Đồng thời nó cũng tạo điều kiện tốt cho doanh nghiệp nâng cao được năng lực củamình bằng việc chuyển giao công nghệ, vốn, nhân lực có trình độ tay nghề vào trongsản xuất
1.3 Kinh nghiệm về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.3.1 Trên thế giới
Trong các chính sách hỗ trợ để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp, hầu hết cácquốc gia xác định DNNVV là đối tượng trọng tâm, do đây là lực lượng quan trọngquyết định sự tăng trưởng và ổn định của nền kinh tế, tác động nhanh đến chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, giải quyết các vấn đề xã hội, huy động các nguồn lực xãhội cho đầu tư phát triển Bên cạnh đó, các DNNVV lại là chủ thể dễ bị tổn thương
Trang 36nhất trong quá trình toàn cầu hóa do có thị phần nhỏ, hoạt động quy mô nhỏ nên luôntrong tình trạng thiếu vốn so với nhu cầu phát triển, khả năng tiếp cận thông tin, côngnghệ và trình độ lao động cũng bị hạn chế.
Để hỗ trợ cho nhóm doanh nghiệp này trong quá trình hội nhập, các nước xây dựngcác chính sách hỗ trợ với mục tiêu phù hợp Đối với các nước đang phát triển, trọngtâm trong chính sách hỗ trợ doanh nghiệp là nâng cao sức cạnh tranh trên thị trườngnội địa Đối với các nước phát triển và các nền kinh tế có trình độ hội nhập sâu rộng,các chính sách quan tâm hơn đến việc hỗ trợ doanh nghiệp vươn ra thị trường bênngoài, phát triển thành các công ty xuyên quốc gia, cạnh tranh ở phạm vi khu vực vàthế giới Bên cạnh đó, mỗi nước và vùng lãnh thổ lại có ưu tiên riêng về quy mô doanhnghiệp, như Hàn Quốc tập trung phát triển các tập đoàn lớn, Đài Loan phát triểnDNNVV và đều thu được thành công Điểm quan trọng là, chính sách hỗ trợ như thếnào? Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp có thể khác nhau nhưng đều phải bảo đảm theobốn nguyên tắc: Không trái với các cam kết quốc tế và các quy định của Tổ chứcThương mại thế giới (WTO); tạo môi trường để doanh nghiệp phát huy nội lực và tựphát triển; bảo đảm công bằng về cơ hội trong tiếp cận chính sách; phù hợp với mụctiêu, chiến lược quốc gia
Chính sách hỗ trợ các DNNVV của các nước thường tập trung vào 3 nhóm chính sáchchủ yếu sau:
3.1.1.1 Chính sách tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi
Môi trường kinh doanh được coi là thuận lợi khi bảo đảm các yếu tố: Có hệ thống luậtpháp, hành chính rõ ràng, minh bạch, hiệu lực và hiệu quả, ít tốn kém nguồn lực thờigian và tiền bạc; bảo đảm sự ổn định của kinh tế vĩ mô, hạn chế tác động của các yếu
tố bất khả kháng và biến động của thị trường đối với DNNVV; có các biện pháp đểbảo đảm thị trường cho DNNVV, như ổn định về giá cả của hàng hóa và dịch vụ, giảmbớt hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước, ổn định về quan hệ quốc tế
Trong việc bảo đảm môi trường kinh doanh thuận lợi có hai xu hướng: Xu hướng thứnhất là tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp nói chung, khôngphân biệt quy mô (các nền kinh tế Bắc Mỹ, như Mỹ, Ca-na-đa, và một số nước khác
Trang 3723 23
như Xin-ga-po tiếp cận theo xu hướng này) Xu hướng thứ hai là tập trung điển hìnhcác chương trình hỗ trợ phát triển DNNVV trong khoảng thời gian nhất định (đại đa sốcác nước và vùng lãnh thổ đều tiếp cận theo xu hướng này, như Trung Quốc, NhậtBản, Thái Lan, Đài Loan, Mê-hi-cô, Pê-ru ) Một số nước, như Trung Quốc, còn cócác chính sách riêng cho DNNVV, như giảm áp lực cạnh tranh và lũng đoạn từ cáccông ty lớn bằng việc xác định một số loại sản phẩm, dịch vụ dành riêng cho DNNVVsản xuất, cung ứng và chính phủ mua bao tiêu sản phẩm để bảo đảm đầu ra cho doanhnghiệp; yêu cầu DNNN hợp tác với DNNVV thông qua tư cách thầu phụ
Trong các chính sách bảo đảm môi trường kinh doanh thuận lợi, các nước mới nổi vàđang phát triển thường tập trung tạo khung pháp lý thuận lợi cho hoạt động kinhdoanh, cải cách hệ thống thủ tục hành chính Ví dụ: Chính phủ Trung Quốc hằng nămđều tiến hành rà soát lại tất cả các thủ tục hành chính và tiếp nhận những phản ánh củadoanh nghiệp để bãi bỏ những thủ tục đã lạc hậu, không còn phù hợp Trong khi đó,các nước phát triển, do đã có một hệ thống luật pháp chặt chẽ, nhất quán, minh bạchhơn và hệ thống hành chính ít gây trở ngại đối với hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp, nên quan tâm đến việc giảm bớt sự tác động của các yếu tố thị trường đối vớihoạt động của doanh nghiệp, như ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định giá cả, hạn chế nhữngrủi ro do xung đột, chiến tranh, dịch bệnh Tuy nhiên, các nước này vẫn rất chú ý đếnviệc tiếp tục đơn giản hóa các thủ tục hành chính
3.1.1.2 Chính sách tăng khả năng tiếp cận tài chính cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
Doanh nghiệp nhỏ và vừa luôn trong tình trạng khát vốn do tiềm lực tài chính tươngđối hạn chế và có ít tài sản để có thể thế chấp vay vốn từ ngân hàng Do vậy, các nướcthường áp dụng hai nhóm chính sách để hỗ trợ vốn kinh doanh cho doanh nghiệp: Thứ
nhất, tăng cường nguồn vốn dành riêng cho các DNNVV thông qua hệ thống ngân
hàng; hình thành các loại quỹ, như quỹ đầu tư, quỹ hỗ trợ phát triển, quỹ bảo hiểm;xây dựng các chương trình hay dự án tài chính vi mô để tăng cung tín dụng cho các
doanh nghiệp; thực hiện các chương trình ưu đãi thuế Thứ hai, tăng số lượng các tài
sản để doanh nghiệp có thể thế chấp vay vốn, bằng việc đơn giản hóa các thủ tục đăng
ký tài sản, cho phép áp dụng các hình thức thế chấp linh hoạt hơn, như thế chấp bằngđộng sản, trang thiết bị, tài sản đang đầu tư
Trang 3824 24
Tùy thuộc vào tình hình tài chính, ngân sách mà mỗi nước sử dụng các chính sách hỗtrợ tài chính cho DNNVV phù hợp Trên thực tế, chính sách hỗ trợ tài chính của cácnước rất đa dạng:
- Vốn mạo hiểm và hỗ trợ xuất khẩu là các công cụ tài chính chủ yếu được áp dụngphổ biến ở nhiều nước Bắt đầu từ một số quốc gia phát triển như Mỹ, Ca-na-đa, NhậtBản, Hàn Quốc, Xin-ga-po, hiện nay nhiều nước cũng đã áp dụng công cụ này, nhưcác nước khu vực Mỹ La-tinh (Chi-lê, Pê-ru, Mê-hi-cô ), các nước và vùng lãnh thổchâu Á (Trung Quốc, Ma-lai-xi-a, Đài Loan, Thái Lan ) Ví dụ, Chính phủ Xin-ga-pothực hiện hỗ trợ tài chính hoặc đứng ra bảo lãnh với ngân hàng cho các doanh nghiệp
có tính sáng tạo cao, có tiềm năng phát triển vay vốn sản xuất, kinh doanh; hoặc lựachọn để hỗ trợ vốn cho những người trẻ thành lập doanh nghiệp để thực hiện ý tưởngkinh doanh sáng tạo của mình Chính phủ Anh đã thành lập mạng lưới “nhà đầu tưmạo hiểm” để lựa chọn và cung cấp vốn cho các doanh nghiệp có triển vọng hoặc các
ý tưởng có khả năng thực thi Chính phủ Trung Quốc áp dụng chính sách hỗ trợ xuấtkhẩu mạnh mẽ, trong đó có việc hoàn thuế xuất khẩu cho các doanh nghiệp, năm 2011
tỷ lệ hoàn thuế xuất khẩu của nước này lên đến 15
- Bảo lãnh tín dụng cũng là một công cụ được nhiều chính phủ áp dụng nhằm tăng khảnăng tiếp cận tài chính cho DNNVV Quỹ bảo lãnh tín dụng DNNVV ở Mỹ, Anh, Ca-na-đa có 100 vốn hoạt động do ngân sách nhà nước cấp, trong khi tỷ lệ này ở vùnglãnh thổ Đài Loan là 61 , Hàn Quốc: 39 , Thái Lan: 27 và Ấn Độ chỉ có 3 Cáchlàm của Trung Quốc có đặc thù hơn khi xây dựng hệ thống các tổ chức tài chính vớinguồn vốn hoạt động chủ yếu từ ngân sách nhà nước và từ việc xã hội hóa để bảo lãnhtín dụng cho DNNVV Đến nay, Trung Quốc đã có hơn 4.000 tổ chức tài chính đứng
ra bảo lãnh cho DNNVV vay vốn (hiện vốn vay của các DNNVV tại Trung Quốc chủyếu thông qua các tổ chức tài chính này) Trong khối ASEAN, Ma-lai-xi-a với gần600.000 DNNVV là quốc gia có chính sách hỗ trợ tài chính mạnh mẽ cho doanhnghiệp như thành lập “Quỹ cho các DNNVV” và “Quỹ các doanh nghiệp mới”, đểgiúp doanh nghiệp vay vốn với lãi suất thấp, khoảng 4 - 6 /năm, với chương trình
“Cho vay nhỏ” cho phép các doanh nghiệp dưới 5 lao động vay vốn mà không phải thếchấp Các DNNVV hoạt động hiệu quả nhưng có khó khăn trong trả nợ cũng được nhà
Trang 3925 25
nước bảo lãnh nợ thông qua “Kế hoạch giải quyết nợ cho các doanh nghiệp nhỏ”; giảm
70 thuế thu nhập doanh nghiệp trong 5 năm hoặc trợ cấp thuế đầu tư bằng 60 chiphí vốn hợp lệ cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ vàcác ngành mới nổi
3.1.1.3 Chính sách thúc đẩy thị trường dịch vụ phục vụ phát triển doanh nghiệp
Dịch vụ phát triển doanh nghiệp là hệ thống các dịch vụ được sử dụng bởi doanhnghiệp, nhằm giúp hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn Trong thị trường dịch vụ choDNNVV, các nước thường tập trung phát triển các nhóm dịch vụ, như chính sách hỗtrợ về thông tin; chính sách hỗ trợ về đào tạo; hỗ trợ về công nghệ; hỗ trợ tiếp thị vàtiếp cận thị trường
Phương pháp tiếp cận đến thị trường này cũng đã có nhiều thay đổi Một số nước, nhưIn-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a hay Ấn Độ trước đây đã tiếp cận thị trường này theophương pháp truyền thống, đó là chính phủ đứng ra hoặc thông qua tổ chức kinhdoanh phi lợi nhuận cung cấp các dịch vụ bằng nguồn vốn của chính phủ và các nhàtài trợ Hiện nay, phần lớn các nước, trong đó có Trung Quốc, đã tiếp cận với phươngpháp mới dựa trên nguyên tắc: Phát triển thị trường bền vững bao gồm các tổ chứckhác nhau, chủ yếu là khu vực tư nhân, cung cấp các dịch vụ trên cơ sở cạnh tranh;chính phủ khuyến khích nhiều chủ thể khác nhau cung cấp các dịch vụ chất lượng choDNNVV trên cơ sở thương mại; chính phủ sẽ ngừng can thiệp khi thị trường này đãtương đối phát triển
Mô hình hệ thống dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp của Xin-ga-po là một ví dụ rất thànhcông Nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp khi đầu tư ra nướcngoài hoặc tham gia thị trường xuất khẩu, Chính phủ nước này đã thành lập quỹ đàotạo cho các giám đốc, nhà quản lý những kiến thức về các thị trường trọng điểm, nhưTrung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Nga; thành lập Tổ chức phát triển doanh nghiệp, cóvăn phòng ở hơn 30 nước trên thế giới với trách nhiệm tập hợp và cung cấp thông tin
về thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước đi khảo sát ở nước ngoài, hỗ trợ tổ chứccác hội nghị, hội thảo ở nước ngoài, thành lập cổng thông tin điện tử cho các giám đốc
tư vấn trực tiếp với các chuyên gia kinh tế hàng đầu về kinh nghiệm và các thông lệquốc tế
Trang 4026 26
Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước
Giống như Việt Nam, hệ thống DNNN là một bộ phận cấu thành quan trọng của kinh
tế nhà nước ở Trung Quốc, đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân Trongnhững năm qua, cùng với quá trình hội nhập, Chính phủ Trung Quốc đã tiến hànhnhiều chính sách phát triển và nâng cao sức cạnh tranh của hệ thống DNNN, có thểtổng hợp thành những nội dung lớn như:
1 - Điều chỉnh lại cơ cấu DNNN: Năm 2003, Trung Quốc thành lập Ủy ban Quản lý vàgiám sát tài sản nhà nước (SASAC) nhằm chỉ đạo, quản lý và giám sát quá trình điềuchỉnh và tái cơ cấu DNNN Theo lĩnh vực, kinh tế nhà nước chỉ tập trung vào nhữngngành nghề quan trọng, những lĩnh vực chủ yếu, những ngành nghề liên quan đến anninh quốc gia Theo phạm vi, đầu tư phát triển lại những khu công nghiệp cũ ở khuĐông Bắc và vùng duyên hải làm cơ sở hỗ trợ và thúc đẩy khu vực trung tâm và phíaTây
2 - Tiến hành cổ phần hóa DNNN theo nguyên tắc “giữ lớn, bỏ nhỏ”, tập trung pháttriển các doanh nghiệp lớn, các tập đoàn có thực lực hùng hậu, sức cạnh tranh lớn, cóthể phát triển thành các tập đoàn xuyên quốc gia, xuyên khu vực, bao gồm nhiều thànhphần sở hữu Các doanh nghiệp, tập đoàn này trở thành trụ cột trong nền kinh tế quốcdân và là lực lượng cạnh tranh quốc tế chủ yếu Giải thể các DNNN làm ăn thua lỗ,sức cạnh tranh kém, hao phí nguồn lực, kỹ thuật lạc hậu, chất lượng thấp, mức độ ônhiễm môi trường cao, đặc biệt trong các ngành khai thác than, dầu khí, sản xuất xi-măng, thủy tinh, nhiệt điện
3 - Hoàn thiện thể chế quản lý DNNN hiện đại, tách bạch giữa quản lý nhà nước vàquản lý doanh nghiệp: Chính phủ thực hiện chức năng chủ sở hữu thông qua người đạidiện, có trách nhiệm hữu hạn tương ứng với vốn sở hữu, không can dự vào hoạt độngsản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Tiến hành thị trường hóa hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp, chế độ lương của đội ngũ quản lý và nhân viên căn cứ theochức trách và thành tích
4 - Cơ cấu lại các khoản nợ của DNNN: Những doanh nghiệp trọng điểm có triển vọngnhưng gặp khó khăn, có thể trả nợ bằng cổ phiếu; nâng cao tỷ trọng đầu tư trực tiếp