Nếu công trình xây dựng không được kiểm soát chất lượng, thì khi đưa vào sử dụng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của nhân dân và xã hội, đặc biệt là các công trình đầu mối thủy lợi, th
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này do chính tôi nghiên cứu Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan trên./.
Ninh Thuận, tháng 3 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Đình Trường
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu làm Luận văn Thạc sỹ, bản thân đã được sự truyền đạt, hỗ trợ, tạo điều kiện rất nhiều của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ nhiệt tình của bạn bè, đồng nghiệp với những kiến thức khoa học, thực tiến trong sản xuất, cũng như kiến thức trong xã hội.
Tôi xin chân thành biết ơn với lòng thành kính tới PGS.TS Đinh Tuấn Hải, PGS TS Lê Văn Kiều đã hết lòng hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu, để hoàn thành Luận văn này.
Đồng thời, xin tỏ lòng biết ơn tới các giáo viên đã giảng dạy, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và trong thời gian làm Luận văn của mình.
Xin cảm ơn lãnh đạo cơ quan, các đồng nghiệp và gia đình đã hỗ trợ, giúp đỡ
và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành khóa học.
Tuy đã rất cố gắng thực hiện Luận văn với năng lực của bản thân, nhưng chắc chắn không thể tránh khỏi thiếu sót hoặc có phần nghiên cứu chưa sâu Rất mong nhận được sự góp ý và chỉ bảo của các thầy, cô.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Ninh Thuận, tháng 3 năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Đình Trường
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài: 1
2 Mục đích của Đề tài: 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu: 2
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 4
1.1 Đặt vấn đề 4
1.2 Chất lượng sản phẩm 5
1.2.1 Khái niệm về chất lượng sản phẩm 5
1.2.2 Đặc điểm của chất lượng sản phẩm 5
1.2.3 Phân loại chất lượng sản phẩm 5
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm 7
1.3 Quản lý chất lượng sản phẩm 9
1.3.1 Khái niệm về quản lý chất lượng sản phẩm 9
1.3.2 Các chức năng cơ bản của quản lý chất lượng 11
1.3.3 Nguyên tắc của quản lý chất lượng: 12
1.3.4 Các giai đoạn phát triển về nhận thức quản lý chất lượng 14
1.4 Chất lượng công trình xây dựng 19
1.4.1 Khái niệm về công trình xây dựng 19
1.4.2 Đặc điểm của sản phẩm công trình xây dựng 20
1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình xây dựng 20
1.5 Quản lý chất lượng công trình xây dựng 22
1.5.1 Chất lượng công trình xây dựng 22
1.5.2 Quản lý chất lượng công trình xây dựng 24
1.5.3 Vai trò của Quản lý chất lượng đối với công trình xây dựng 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 26
Trang 4CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG CÔNG
TRÌNH 27
2.1 Cơ sở pháp lý về quản lý chất lượng công trình xây dựng 27
2.1.1 Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính Phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng 29
2.2 Quản lý chất lượng công trình xây dựng 42
2.2.1 Các mô hình quản lý chất lượng công trình xây dựng 42
2.2.2 Nội dung quản lý chất lượng công trình xây dựng 47
2.2.3 Hiệu quả công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng 54
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 55
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH KÊNH TIẾP NƯỚC NHIỆT ĐIỆN VĨNH TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN 56
3.1 Hệ thống quản lý chất lượng công trình thủy lợi tại tỉnh Bình Thuận 56
3.2 Thu thập dữ liệu và phân tích về công tác quản lý chất lượng một số công trình thủy lợi tại địa phương 60
3.3 Phân tích đánh giá chất lượng một số công trình thủy lợi tại địa phương 65
3.4 Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng công trình Kênh tiếp nước Nhiệt điện Vĩnh Tân, tỉnh Bình Thuận 69
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 104
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 105
1 Kết quả đạt được của Luận văn 105
2 Hạn chế của đề tài 105
3 Kiến nghị 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 5DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Mô hình quản lý theo quá trình của hệ thống
Hình 2.1 Sơ đồ văn bản quy phạm pháp luật
Hình 2.2 Sơ đồ mô hình chung về quản lý chất lượng công trình xây dựng
Hình 2.3 Sơ đồ chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án
Hình 2.4 Sơ đồ chủ đầu tư thuê Tư vấn quản lý dự án
Hình 3.1 Một số hình ảnh về sự cố hạng mục công trình cầu máng số 3, công trình hồ chứa nước Sông Dinh 3
Hình 3.2 Một số hình ảnh bị sự cố công trình Kênh tiếp nước Nhiệt điện Vĩnh Tân
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Trong thời gian qua, hệ thống công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Bình Thuận được các cấp các ngành từ trung ương đến địa phương đã quan tâm đầu tư xây dựng để phục
vụ cho phát triển kinh tế dân sinh Một số dự án đầu tư đã đầu tư xây dựng hoàn thành phát huy rất tốt hiệu quả đầu tư công trình đáp ứng mục tiêu đề ra, tuy nhiên chất lượng nhiều công trình không được tốt, quá trình quản lý, khai thác phải thường xuyên duy tu, sửa chữa; bên cạnh đó, thì một số dự án đầu tư đang trong giai đoạn triển khai xây dựng Để đảm bảo phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương cũng như cung cấp nước cho phát triển các thành phần kinh tế và phân kỳ đầu tư các công trình theo nhu cầu nguồn vốn của từng giai đoạn Tỉnh Bình Thuận đã phê duyệt quy hoạch phát triển công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh, phân chia giai đoạn đầu tư
để đảm bảo việc cấp nước phục vụ cho việc phát triển kinh tế xã hội của địa phương Hiện nay, công tác xây dựng cơ bản đã phát triển rất mạnh để đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước Nhà nước đã và đang chú trọng, quan tâm nhiều hơn cho đầu tư xâydựng cơ bản trên nhiều lĩnh vực như: Cơ sở hạ tầng giao thông; Cơ sở phục vụ cho ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn (như công trình thủy lợi, hệ thống cấp thoátnước, hệ thống đê, kè biển chống xói lở….); Các công trình lớn quan trọng quốc gia phục vụ cho phát triển công nghiệp như trung tâm nhiệt điện, các dự án thủy điện, khai thác khoáng sản Các khu công nghiệp, khu đô thị được quy hoạch xây dựng với quy
mô, kỹ thuật phức tạp Từ đó, nhiều mặt của đất nước đã và đang thay đổi từng ngày Bên cạnh những kết quả đạt được thì vấn đề hiện nay được xã hội hết sức quan tâm đó
là chất lượng xây dựng công trình, vì đó là yếu tố rất quan trọng, có tính quyết định đến hiệu quả đầu tư của công trình Nếu công trình xây dựng không được kiểm soát chất lượng, thì khi đưa vào sử dụng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của nhân dân và
xã hội, đặc biệt là các công trình đầu mối thủy lợi, thủy điện, … không ít công trình do không bảo đảm chất lượng đã lún nứt, thậm chí bị sự cố gây mất an toàn cho người và thiệt hại tài sản không chỉ tại nơi xây dựng công trình mà còn ảnh hưởng cả một khu vực rộng lớn
Trang 7Hoạt động xây dựng là một loại hình hoạt động đặc thù, sản phẩm của hoạt động xâydựng là các công trình phục vụ theo mục đích và công năng đã được xác định; do đó,không bao giờ cho phép sản phẩm không đạt chất lượng Vì vậy, việc quản lý chấtlượng, giá thành và thời gian xây dựng luôn là mục tiêu cho ngành xây dựng.
Những năm gần đây ngành nông nghiệp nước ta nói chung và tỉnh Bình Thuận nóiriêng đã có một bước phát triển vượt bậc Bình Thuận từ một tỉnh thiếu nước đến nay
cơ bản đã chủ động nguồn nước, nhiều công trình thủy lợi được đầu tư xây dựng mới
và nhiều công trình thủy lợi hiện có cũng được nâng cấp sửa chữa nhằm đáp ứng vớiviệc nâng cao năng lực tưới, tăng khả năng làm việc của các công trình Để nhữngcông trình sau khi xây dựng hoàn thành hoặc nâng cấp và sửa chữa đảm bảo các yêucầu về kỹ thuật cũng như thẩm mỹ công trình, thì công tác quản lý chất lượng xây
dựng công trình là nhiệm vụ quan trọng Vì vậy, bản thân chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng xây dựng công trình Kênh tiếp nước Nhiệt điện Vĩnh Tân, tỉnh Bình Thuận”, làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý xây dựng.
2 Mục đích của Đề tài:
- Đánh giá được công tác quản lý chất lượng xây dựng công trình thủy lợi
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng xây dựng công trình Kênh tiếpnước Nhiệt điện Vĩnh Tân, tỉnh Bình Thuận
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Các vấn đề liên quan đến công tác quản lý chấtlượng xây dựng công trình thủy lợi từ đó đề ra các biện pháp nhằm nâng cao chấtlượng xây dựng công trình
3.2 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nhằm nângcao chất lượng xây dựng công trình Kênh tiếp nước Nhiệt điện Vĩnh Tân, tỉnh BìnhThuận
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: Thu thập các tài liệu liên quan đến hồ sơ
dự án, hồ sơ thiết kế công trình và các chỉ dẫn kỹ thuật áp dụng cho công trình đồngthời nghiên cứu hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn và các văn bản hiện hành có liên quanđến công tác xây dựng công trình
- Phương pháp quan sát trực tiếp: Thu thập số liệu dựa vào quan sát trực tiếp tại hiện
Trang 8- Phương pháp kết hợp giữa lý thuyết và thực tế.
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
5.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài: Hệ thống hóa và phân tích một số vấn đề lý luận có
liên quan đến chất lượng xây dựng công trình Kênh tiếp nước Nhiệt điện Vĩnh Tân,tỉnh Bình Thuận Dựa trên các cơ sở lý luận khoa học đó luận văn đề ra các giải phápnâng cao công tác quản lý chất lượng công trình, áp dụng cho thực tế công trình
5.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài: Thông qua kết quả nghiên cứu, phân tích, đánh giá
và các giải pháp đề xuất của đề tài để làm tài liệu cơ bản, thiết thực cho các nhà nghiêncứu, các nhà quản lý dự án, nhà thầu thi công trong công tác đảm bảo chất lượng côngtrình thủy lợi
Trang 9CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG
XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
1.1 Đặt vấn đề
Hiện nay, trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam nói riêng và của cácquốc gia trên thế giới nói chung đều cho thấy phải có một nền tảng cơ sở hạ tầng vữngchắc mới đảm bảo cho sự phát triển đồng bộ và ổn định Bên cạnh đó việc đầu tư xâydựng cơ bản là nhân tố chính quyết định tới chất lượng của hệ thống cơ sở hạ tầng chomột nền kinh tế phát triển Hiện nay, Nhà nước ta đã và đang chú trọng đầu tư cho xâydựng cơ bản trên các lĩnh vực như: Cơ sở hạ tầng giao thông (bao gồm đường bộ,đường sắt, hệ thống cầu lớn nhỏ, cảng biển, cảng sông, cảng hàng không ); Cơ sởphục vụ cho nông nghiệp như công trình thủy lợi, hệ thống cấp thoát nước, các trungtâm phát triển chăn nuôi trồng trọt Các công trình lớn phục vụ cho phát triển côngnghiệp như dầu khí, khai thác khoáng sản Các khu, cụm công nghiệp trọng điểm, cáckhu đô thị, khu dân cư mới được xây dựng với những công trình cao tầng kỹ thuậtphức tạp Đó là chưa kể các công trình Nhà nước và nhân dân cùng làm để phục vụcông cuộc xây dựng nông thôn mới trên phạm vi cả nước (chủ yếu là các công trìnhgiao thông nông thôn và kiên cố hóa hệ thống kênh mương nội đồng) và các công trìnhđược cải tạo nâng cấp Bộ mặt của đất nước nói chung và của từng địa phương nóiriêng đang thay đổi từng ngày Chính bởi lý do đó mà việc nghiên cứu và phân tíchcông tác thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản nhằm đề ra giải pháp nâng cao chất lượngcông trình xây dựng và kết quả đầu tư, luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu
Ðể nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về chất lượng các công trình xây dựng, cầntăng cường kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan quản lý nhà nước đối với các chủ thểtham gia hoạt động xây dựng về việc chấp hành, tuân thủ các quy định của pháp luật
về quản lý chất lượng, quy trình, quy phạm trong thiết kế, thi công xây dựng vànghiệm thu Phân giao quyền và trách nhiệm đầy đủ, cụ thể, rõ ràng cho các cơ quanquản lý nhà nước về chất lượng công trình xây dựng Làm rõ trách nhiệm của các chủthể tham gia hoạt động xây dựng trong công tác quản lý chất lượng và an toàn xây
Trang 10dựng Do đó, để nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng công trình xây dựng đang là vấn
đề mang tính cốt lỏi, là yêu cầu hết cấp bách trọng trong giai đoạn hiện nay
1.2 Chất lượng sản phẩm
1.2.1 Khái niệm về chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm được hiểu theo nhiều cách khác nhau dựa trên những cách tiếpcận khác nhau đều có một điểm chung nhất đó là sự phù hợp với yêu cầu Yêu cầu nàybao gồm cả các yêu cầu của khách hàng mong muốn thõa mãn những nhu cầu củamình và cả các yêu cầu mang tính kỹ thuật, kinh tế và các tính chất pháp lý khác Do
đó, cần phải hiểu khái niệm về chất lượng một cách có hệ thống mới đảm bảo hiểuđược một cách đầy đủ nhất và hoàn thiện nhất về chất lượng Từ đó, có thể hình thànhkhái niệm chất lượng tổng hợp là sự thỏa mãn yêu cầu trên tất cả các phương diện:Tính năng của sản phẩm và dịch vụ đi kèm; Giá cả phù hợp; Thời gian; Tính an toàn
và độ tin cậy
1.2.2 Đặc điểm của chất lượng sản phẩm
- Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu, nếu một sản phẩm vì lý do nào đó màkhông được nhu cầu chấp nhận thì bị coi là có chất lượng kém, cho dù trình độ côngnghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại Đây là một kết luận then chốt và là
cơ sở để các nhà chất lượng định ra chính sách, chiến lược của nhà kinh doanh Mặtkhác, nhu cầu luôn biến động nên chất lượng cũng biến động theo thời gian, khônggian, điều kiện sử dụng
- Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, cần xem xét đặc tính của đối tượng cóliên quan đến sự thỏa mãn những nhu cầu cụ thể Các nhu cầu này không chỉ từ phíakhách hàng mà còn từ các bên có liên quan, ví dụ như các yêu cầu mang tính pháp chế,nhu cầu của cộng đồng xã hội Ngoài ra, chất lượng không chỉ là thuộc tính của sảnphẩm, hàng hóa mà cần xuyên suốt trong cả hệ thống hay quá trình tạo ra sản phẩm
1.2.3 Phân loại chất lượng sản phẩm
Phân loại chất lượng theo hệ thống ISO 9000:
- Chất lượng thiết kế: Là chất lượng thể hiện những thuộc tính chỉ tiêu của sản phẩm
Trang 11nghiên cứu nhu cầu thị trường và định ra để sản xuất Chất lượng thiết kế được thểhiện qua các bản vẽ, các yêu cầu về vật liệu chế tạo, thử nghiệm và hướng dẫn sửdụng Chất lượng thiết kế có thể được hiểu là chất lượng chính sách nhằm đáp ứng về
lý thuyết đối với yêu cầu sử dụng, điều này có đạt được trong thực tế hay không thì nócòn phụ thuộc nhiều yếu tố trong quá trình thực hiện
- Chất lượng tiêu chuẩn: Là mức chất lượng đảm bảo đúng các chỉ tiêu đặc trưng củasản phẩm do các tổ chức quốc tế, nhà nước hay các cơ quan có thẩm quyền quy định.Các thuộc tính và chỉ tiêu này sau khi được phê chuẩn thì chất lượng này trở thànhpháp lệnh, văn bản pháp quy để các bên liên quan thực hiện Gồm các loại tiêu chuẩn:Tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn ngành, tiêu chuẩn doanh nghiệp,…
- Chất lượng thực tế: Là mức độ thực tế đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của sản phẩm và
nó được thể hiện sau quá trình sản xuất, trong quá trình sử dụng sản phẩm, do các yếu
tố nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, phương pháp quản lý chi phối
- Chất lượng cho phép: Là mức độ cho phép về độ lệch giữa chất lượng tiêu chuẩn vàchất lượng thực tế của sản phẩm Chất lượng cho phép do cơ quan quản lý Chất lượngsản phẩm và hợp đồng giữa hai bên quy định Chất lượng cho phép phụ thuộc vào điềukiện kinh tế - kỹ thuật, trình độ lành nghề của công nhân, phương thức quản lý củadoanh nghiệp,…
- Chất lượng tối ưu: Là mức chất lượng mà tại đó lợi nhận đạt được do nâng cao chấtlượng lớn hơn chi phí đạt mức chất lượng đó Được biểu thị khả năng toàn diện đápứng nhu cầu của thị trường trong điều kiện xác định với những chi phí xã hội thấpnhất Nó nói lên mối quan hệ giữa Chất lượng sản phẩm và chi phí
Phân loại chất lượng theo mục đích công dụng của sản phẩm:
- Chất lượng thị trường: Là giá trị các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm đạt được mức độhợp lý nhất trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định Do đó, chất lượng sản phẩmthỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng có khả năng cạnh tranh trên thị trường, sức tiêuthụ nhanh, hiệu quả cao
- Chất lượng thị hiếu: Là mức chất lượng của sản phẩm phù hợp với ý thích, sở trường,
Trang 12- Chất lượng thành phần: Là mức chất lượng có thể thỏa mãn nhu cầu mong đợi củamột số người hay một số nhóm người Đây là mức chất lượng hướng vào một nhómngười nhất định, một bộ phận tạo nên chất lượng toàn diện, đáp ứng nhu cầu theo sởthích cá nhân.
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
Nhóm nhân tố khách quan.
- Thị trường: Chất lượng sản phẩm luôn gắn liền với sự vận động và biến đổi của thịtrường, đặc biệt là nhu cầu thị trường tác động trực tiếp đến chất lượng của sản phẩm.Trên cơ sở nghiên cứu thị trường doanh nghiệp xác định được khách hàng của mình làđối tượng nào? Quy mô ra sao? Và tiêu thụ ở mức như thế nào? Từ đó doanh nghiệp
có thể xây dựng chiến lược sản phẩm, kế hoạch sản xuất để có thể đưa ra những sảnphẩm với mức chất lượng phù hợp, giá cả hợp lý với nhu cầu và khả năng tiêu dùng ởnhững thời điểm nhất định
- Trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật: Ngày nay không có sự tiến bộ kinh tế xãhội nào không gắn liền với tiến bộ khoa học công nghệ trên thế giới Trình độ pháttriển của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy mạnh mẽ sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.Tiến bộ khoa học kỹ thuật đã tạo ra những bước đột phá quan trọng trong hầu hết cáclĩnh vực mới Tạo ra những thay đổi to lớn trong sản xuất, nâng cao năng suất và chấtlượng sản phẩm
- Cơ chế chính sách quản lý của Nhà nước: Có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trìnhthúc đẩy cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm Việc ban hành các hệ thống chỉ tiêuchất lượng sản phẩm, các quy định về sản phẩm đạt chất lượng, xử lý nghiêm hànggiả, hàng kém chất lượng, các chính sách ưu đãi cho đầu tư đổi mới công nghệ là nhân
tố tạo động lực cho phát huy tính sáng tạo cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm
- Điều kiện tự nhiên: Có tác động mạnh mẽ đến việc bảo quản và nâng cao chất lượngsản phẩm, đặc biệt là những nước có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều như ViệtNam Nó tác động đến cơ lý hóa của sản phẩm, trong quá trình sản xuất cũng như traođổi, lưu thông và tiêu dùng Đồng thời cũng ảnh hưởng tới hiệu quả vận hành các thiết
bị máy móc và vật liệu trong quá trình sản xuất
Trang 13- Văn minh và thói quen tiêu dùng: Trình độ văn hóa, thói quen và sở thích của mỗingười là khác nhau Do đó đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu, phân đoạnthị trường theo các chỉ tiêu, phương thức lựa chọn khác nhau trên cơ sở các nhân tốảnh hưởng để xác định chất lượng sản phẩm cho phù hợp với từng đối tượng.
Nhóm nhân tố chủ
quan.
- Trình độ lao động của doanh nghiệp: Trong tất cả các hoạt động sản xuất, nhân tốcon người luôn là nhân tố căn bản quyết định tới chất lượng của các hoạt động đó Nóđược phản ánh thông qua trình độ chuyên môn, tay nghề, kỹ năng kinh nghiệm, ý thứctrách nhiệm của từng lao động trong doanh nghiệp Trình độ của người lao động cònđược đánh giá thông qua sự hiểu biết, nắm vững về phương pháp công nghệ, quy trìnhsản xuất, các tính năng của máy móc thiết bị và các điều kiện đảm bảo an toàn chodoanh nghiệp
- Trình độ máy móc công nghệ mà doanh nghiệp sử dụng: Đối với mỗi doanh nghiệp,công nghệ luôn là một trong những yếu tố cơ bản quyết định tới chất lượng sản phẩm.Trình độ hiện đại, tính đồng bộ và khả năng vận hành công nghệ ảnh hưởng rất lớnđến chất lượng sản phẩm Do đó, trong điều kiện hiện nay với trình độ máy móc côngnghệ ở mức trung bình khó có thể cho ra sản phẩm có chất lượng cao Đối với cácdoanh nghiệp tự động hóa cao, dây chuyền và tính chất sản xuất hàng loạt thì chấtlượng sản phẩm chịu ảnh hưởng rất nhiều Do đó, trình độ các doanh nghiệp về côngnghệ thiết bị máy móc phụ thuộc rất nhiều và không thể tách rời trình độ công nghệthế giới
- Trình độ tổ chức và quản lý sản xuất của doanh nghiệp: Các yếu tố sản xuất nhưnguyên vật liệu, máy móc thiết bị, lao động,… dù có ở trình độ cao, song không được
tổ chức một cách hợp lý, phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng giữa các khâu sản xuất thìcũng khó có thể tạo ra những sản phẩm có chất lượng Không những thế, nhiều khi còngây thất thoát, lãng phí nhiên liệu, nguyên vật liệu của doanh nghiệp Do đó công tác
tổ chức sản xuất và lựa chọn phương pháp tổ chức trong doanh nghiệp đóng một vaitrò hết sức quan trọng Do đó sự ra đời của hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu
Trang 14- Chất lượng nguyên vật liệu: Là yếu tố chính tham gia trực tiếp vào quá trình sảnxuất, cấu thành thực thể sản phẩm Chất lượng sản phẩm cao hay thấp phụ thuộc trựctiếp vào chất lượng nguyên vật liệu đầu vào Quá trình cung ứng nguyên vật liệu đầuvào có chất lượng tốt, đầy đủ, kịp thời, đồng bộ sẽ đảm bảo quá trình sản xuất diễn raliên tục, nhịp nhàng, sản phẩm ra đời với chất lượng cao Ngược lại, không thể cóđược những sản phẩm có chất lượng cao từ nguyên liệu sản xuất không đảm bảo, đồngbộ; hơn nữa còn gây ra sự lãng phí, thất thoát nguyên vật liệu.
- Quan điểm lãnh đạo của doanh nghiệp: Mặc dù công nhân là người trực tiếp sản xuất
ra sản phẩm nhưng người quản lý là người phải chịu trách nhiệm đối với những sảnphẩm sản xuất ra Do vậy họ phải nhân thức được rằng không chỉ do lỗi ở trình độ taynghề người công nhân mà còn do chính bản thân mình
1.3 Quản lý chất lượng sản phẩm
1.3.1 Khái niệm về quản lý chất lượng sản phẩm.
Chất lượng không tự nhiên sinh ra, nó là kết quả của sự tác động của hàng loạt yếu tố
có liên quan chặt chẽ với nhau Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải quản
lý đúng đắn các yếu tố này Quản lý chất lượng là một khía cạnh của chức năng quản
lý để xác định và thực hiện chính sách chất lượng Hoạt động quản lý trong lĩnh vựcchất lượng được gọi là quản lý chất lượng Hiện nay đang tồn tại các quan điểm vềquản lý chất lượng:
- Theo GOST 15467-70: Quản lý chất lượng là xây dựng, đảm bảo và duy trì mức chấtlượng tất yếu của sản phẩm khi thiết kế, chế tạo, lưu thông và tiêu dùng Điều nàyđược thực hiền bằng cách kiểm tra chất lượng có hệ thống, cũng như tác động hướngđích tới các nhân tố và điều kiện ảnh hưởng tới chất lượng chi phí
- Theo A.G.Robestson, một chuyên gia người Anh về chất lượng cho rằng: Quản lýchất lượng được xác định như một hệ thống quản trị nhằm xây dựng chương trình và
sự phối hợp các cố gắng của những đơn vị khác nhau để duy trì và tăng cường chấtlượng trong các tổ chức thiết kế, sản xuất sao cho đảm bảo nền sản xuất có hiệu quảnhất, đối tượng cho phép thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu của người tiêu dùng
Trang 15- Theo các tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản (JIS) xác định: Quản lý chất lượng là hệthống các phương pháp sản xuất tạo điều kiện sản xuất tiết kiệm hàng hóa có chấtlượng cao hoặc đưa ra những dịch vụ có chất lượng thỏa mãn yêu cầu người tiêu dùng.
- Theo giáo sư, tiến sỹ Kaoru Ishikawa, một chuyên gia nổi tiếng trong lĩnh vực quản
lý chất lượng của Nhật Bản đưa ra định nghĩa quản lý chất lượng có nghĩa là: Nghiêncứu triển khai, thiết kế sản xuất, và bảo dưỡng một số sản phẩm có chất lượng, kinh tếnhất, có ích nhất cho người tiêu dùng và bao giờ cũng thỏa mãn nhu cầu của người tiêudùng
- Theo Philip Crosby, một chuyên gia người Mỹ về chất lượng định nghĩa quản lý chấtlượng: là một phương tiện có tính chất hệ thống đảm bảo việc tôn trọng tổng thể tất cảcác thành phần của một kế hoạch hành động
- Theo tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO 9000 cho rằng: quản lý chất lượng là mộthoạt động có chức năng quản lý chung nhằm mục đích đề ra chính sách, mục tiêu,trách nhiệm và thực hiện chúng bằng các biện pháp như hoạch định chất lượng, kiểmsoát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệthống chất lượng
Như vậy tuy còn nhiều tồn tại các định nghĩa khác nhau về quản lý chất lượng, nhưngnhìn chung chúng có nhiều điểm giống nhau như:
+ Mục tiêu trực tiếp của quản lý chất lượng là đảm bảo chất lượng và cải tiến chấtlượng phù hợp với nhu cầu thị trường với chi phí tối ưu
+ Thực chất của quản lý chất lượng là tổng hợp các hoạt động của chức năng quản lýnhư: Hoạch định, tổ chức, kiểm soát và điều chỉnh Nói cách khác, quản lý chất lượngchính là chất lượng được quản lý
+ Quản lý chất lượng là hệ thống các hoạt động, các biện pháp (hành chính, tổ chức,kinh tế, kỹ thuật, xã hội) Quản lý chất lượng là nhiệm vụ của tất cả mọi người, mọithành viên trong xã hội, trong doanh nghiệp, là trách nhiệm của tất cả các cấp, nhưngphải được lãnh đạo cao nhất chỉ đạo
Trang 161.3.2 Các chức năng cơ bản của quản lý chất lượng
- Chức năng hoạch định: Hoạch định chất lượng là một hoạt động xác định mục tiêu vàcác phương tiện, nguồn lực và biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu chất lượng sảnphẩm Nhiệm vụ của hoạch định chất lượng là:
+ Nghiên cứu thị trường để xác định yêu cầu của khách hàng về sản phẩm hàng hóadịch vụ, từ đó xác định yêu cầu về chất lượng, các thông số kỹ thuật của sản phẩmdịch vụ
+ Xác định mục tiêu chất lượng sản phẩm cần đạt được và chính sách chất lượng củadoanh nghiệp
+ Chuyển giao kết quả hoạch định cho các bộ phận tác nghiệp
Hoạch định chất lượng có tác dụng định hướng phát triển chất lượng cho doanhnghiệp Tạo điều kiện nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường, giúp các doanhnghiệp chủ động thâm nhập và mở rộng thị trường Khai thác có hiệu quả hơn cácnguồn lực và tiềm năng trong dài hạn, góp phần làm giảm chi phí, nâng cao chấtlượng
- Chức năng tổ chức: Tiến hành các biện pháp kinh tế tổ chức kỹ thuật, chính trị tưtưởng, hành chính nhằm thực hiện kế hoạch đã xác định
- Chức năng kiểm tra, kiểm soát: Là quá trình điều khiển, đánh giá các hoạt động tácnghiệp thông qua những kỹ thuật, phương tiện, phương pháp và hoạt động nhằm đảmbảo chất lượng sản phẩm theo đúng yêu cầu đặt ra
- Chức năng kích thích: Đảm bảo và nâng cao chất lượng được thực hiện thông qua ápdụng chế độ thưởng phạt về chất lượng đối với người lao động và áp dụng giải thưởngquốc gia về đảm bảo và nâng cao chất lượng
- Chức năng điều chỉnh, điều hòa phối hợp: Là toàn bộ những hoạt động nhằm tạo ra
sự phối hợp đồng bộ, khắc phục các tồn tại và đưa chất lượng sản phẩm lên mức caohơn trước nhằm giảm dần các khoảng cách giữa mong muốn của khách hàng và thực
Trang 171.3.3 Nguyên tắc của quản lý chất lượng:
- Định hướng bởi khách hàng:
Trong cơ chế thị trường, khách hàng là người đặt ra các yêu cầu đối với sản phẩm nhưchất lượng, kiểu cách, giá cả và các dịch vụ đi kèm Do đó, để tồn tại và phát triển cácdoanh nghiệp phải biết tập trung định hướng các sản phẩm dịch vụ của mình theo yêucầu của khách hàng
Quản lý chất lượng phải hướng tới khách hàng và đáp ứng tốt nhất nhu cầu khách hàngthông qua các hoạt động điều tra nghiên cứu nhu cầu, đồng thời lấy việc phục vụ đápứng tốt nhất nhu cầu khách hàng làm mục tiêu phát triển
Khách hàng ngày nay có vị trí rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗidoanh nghiệp Chính vì vậy, hoạt động của doanh nghiệp ngày nay đều phải hướngtheo khách hàng, lấy việc thỏa mãn khách hàng là mục tiêu số một
- Coi trọng con người:
Con người giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong quá trình hình thành đảm bảo và nângcao chất lượng Vì vậy, trong công tác quản lý chất lượng cần áp dụng những biệnpháp thích hợp để có thể huy động hết khả năng của mọi người mọi cấp vào công việc.Lãnh đạo doanh nghiệp phải là người xác định được chính sách và chiến lược pháttriển cho doanh nghiệp, đồng thời phải thiết lập được sự thống nhất đồng bộ giữa mụcđích, chính sách của doanh nghiệp, người lao động và của xã hội trong đó đặt lợi íchcủa người lao động lên trên hết
Phải có sự thống nhất giữa lãnh đạo với cán bộ quản lý trung gian và nhân viên đểmang lại kết quả, hiệu quả mong muốn Nhân viên phải được trao quyền để thực hiệncác yêu cầu về chất lượng Tôn trọng con người sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp
- Quản lý chất lượng phải toàn diện và đồng bộ:
Chất lượng là tổng hợp của tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội và nó liênquan đến mọi lĩnh vực
Quản lý chất lượng đòi hỏi đảm bảo tính đồng bộ trong các mặt hoạt động vì nó là kết
Trang 18Quản lý chất lượng phải toàn diện và đồng bộ vì nó giúp cho các hoạt động của doanhnghiệp ăn khớp với nhau, từ đó tạo ra sự thống nhất trong các hoạt động.
Quản lý chất lượng toàn diện và đồng bộ mới giúp cho việc phát hiện các vấn đề chấtlượng một cách nhanh chóng, kịp thời để từ đó có những biện pháp điều chỉnh
- Quản lý chất lượng phải đồng thời với đảm bảo chất lượng và cải tiến:
Đảm bảo và cải tiến là hai vấn đề có liên quan mật thiết với nhau Đảm bảo bao hàmviệc duy trì mức chất lượng thỏa mãn khách hàng, còn cải tiến sẽ giúp cho các sảnphẩm hàng hóa dịch vụ có chất lượng vượt mong đợi của khách hàng
Đảm bảo và cải tiến là sự phát triển liên tục không ngừng trong công tác quản lý chấtlượng, nếu chỉ giải quyết phiến diện một vấn đề thì sẽ không bao giờ đạt được kết quảnhư mong muốn
- Quản lý chất lượng phải thực hiện theo quá trình:
Quản lý chất lượng theo quá trình là tiến hành các hoạt động quản lý ở mọi khâu liênquan đến hình thành chất lượng, đó là từ khâu nghiên cứu nhu cầu khách hàng cho đếndịch vụ sau bán hàng
Quản lý chất lượng theo quá trình sẽ giúp doanh nghiệp có khả năng hạn chế những saihỏng do các khâu, các công đoạn đều được kiểm soát một cách chặt chẽ
Quản lý chất lượng sẽ giúp doanh nghiệp ngăn chặn những sản phẩm chất lượng kémtới tay khách hàng Đây chính là cơ sở để nâng cao khả năng cạnh tranh, giảm chi phí.Lấy phương châm phòng ngừa làm phương tiện cơ bản đề ngăn chặn và hạn chế nhữngnguyên nhân gây ra chất lượng kém cho chất lượng sản phẩm hàng hóa dịch vụ
Quản lý chất lượng theo quá trình sẽ khắc phục được rất nhiều hạn chế của phươngpháp quản lý chất lượng theo mục tiêu
- Quản lý chất lượng phải tuân thủ nguyên tắc kiểm tra:
Trong quản lý chất lượng, kiểm tra nhằm mục đích hạn chế và ngăn chặn những saisót, đồng thời tìm biện pháp khắc phục phòng ngừa và cải tiến
Kiểm tra là một biện pháp sử dụng tổng hợp các phương tiện kỹ thuật nhằm kiểm soát
Trang 191.3.4 Các giai đoạn phát triển về nhận thức quản lý chất lượng.
- Kiểm tra chất lượng
Một phương thức phổ biến nhất để đảm bảo chất lượng sản phẩm phù hợp với quiđịnh là kiểm tra các sản phẩm và chi tiết bộ phận, nhằm sàng lọc và loại bỏ các chi tiết,
bộ phận không đảm bảo tiêu chuẩn hay qui cách kỹ thuật
Các sản phẩm sau quá trình sản xuất mới tiến hành kiểm tra các khuyết tật Khi pháthiện ra các khuyết tật mới đề ra các biện pháp xử lý, thông thường phương pháp nàykhông phát hiện ra được nguyên nhân đích thực Để khắc phục những sai sót này thìcác doanh nghiệp đã tăng cường các cán bộ KCS Đi kèm với việc này là việc tăng chiphí rất nhiều mà công tác kiểm tra không đảm bảo, trong nhiều trường hợp độ tin cậyrất thấp
Do đó, kiểm tra chất lượng chỉ là một sự phân loại sản phẩm đã được chế tạo, đây làcách xử lý chuyện đã rồi Điều đó có nghĩa là chất lượng không được tạo dựng nên quakiểm tra Ngoài ra, để đảm bảo chất lượng sản phẩm phù hợp qui định một cách cóhiệu quả bằng cách kiểm tra, sàng lọc 100% sản phẩm cần phải thỏa mản các điềukiện:
+ Công việc kiểm tra cần được tiến hành một cách đáng tin cậy và không có sai sót.+ Chi phí cho sự kiểm tra phải ít hơn chi phí tổn thất do sản phẩm khuyết tật và nhữngthiệt hại do ảnh hưởng đến lòng tin của khách hàng
+ Quá trình kiểm tra không được ảnh hưởng đến chất lượng
Những điều kiện trên không phải thực hiện dễ dàng ngay cả với công nghiệp hiện đại.ngoài ra sản phẩm phù hợp qui định cũng chưa chắc đã thỏa mãn nhu cầu thị trườngnếu như các quy định không phản ánh đúng nhu cầu Do đó, vào những năm 1920,người ta đã bắt đầu chú trọng đến những quá trình trước đó, hơn là đợi đến khâu cuốicùng mới tiến hành sàng lọc sản phẩm Khái niệm kiểm soát chất lượng (QualityControl - QC) ra đời
- Kiểm soát chất lượng – QC (Quality Control)
Trang 20Walter A Shewhart (Mỹ) là người đầu tiên đề xuất việc sử dụng các biểu đồ kiểm soátvào việc quản lý các cụm công nghiệp và được coi là mốc ra đời của hệ thống kiểmsoát chất lượng hiện đại Theo đó, kiểm soát chất lượng là các hoạt động và kỹ thuậtmang tính tác nghiệp được sử dụng để đáp ứng các yêu cầu chất lượng Để kiểm soátchất lượng, phải kiểm soát được mọi yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tạo rachất lượng sản phẩm Việc kiểm soát này nhằm ngăn ngừa sản xuất ra sản phẩm kémchất lượng Do đó cần phải kiểm soát được 5 điều kiện cơ bản sau đây:
+ Kiểm soát con người: Tất cả mọi người từ lãnh đạo cao nhất đến nhân viên thườngtrực phải được đào tạo để thực hiện nhiệm vụ được giao; đủ kinh nghiệm để sử dụngcác phương pháp, quy trình cũng như biết cách sử dụng các trang thiết bị, phương tiện;
có đủ mọi điều kiện cần thiết để công việc có thể đạt được chất lượng mong muốn.+ Kiểm soát phương pháp và quá trình là phương pháp và quá trình phải phù hợp chắcchắn sản phẩm dịch vụ được tạo ra sẽ đạt được những yêu cầu đề ra
+ Kiểm soát việc cung ứng các yếu tố đầu vào: Nguồn cung cấp nguyên vật liệu phảiđược lựa chọn Nguyên liệu phải được kiểm tra chặc chẽ khi nhập vào và trong quátrình bảo quản
+ Kiểm soát trang thiết bị dùng trong sản xuất và thử nghiệm: Các loại thiết bị nàyphải phù hợp với mục đích sử dụng Đảm bảo được yêu cầu như hoạt động tốt, đảmbảo các yêu cầu kỹ thuật an toàn đối với công nhân vận hành, không gây ô nhiễm môitrường,
+ Kiểm soát thông tin: Mọi thông tin phải được người có thẩm quyền kiểm tra vàduyệt ban hành Thông tin phải được cập nhật và chuyển đến những chỗ cần thiết để
sử dụng
Kiểm soát chất lượng ra đời tại Mỹ, được áp dụng mạnh mẽ trong lĩnh vực quân sựnhưng không được các công ty Mỹ phát huy sau chiến tranh Nhưng ở Nhật bản việckiểm soát chất lượng mới được áp dụng và phát triển vào cuối những năm 1940 Tuynhiên để đạt được mục tiêu chính của quản lý chất lượng là thỏa mãn người tiêu dùngthì đó vẫn chưa phải là điều kiện đủ, nó đòi hỏi không chỉ áp dụng các phương pháp
Trang 21này vào quá trình xảy ra trước khi sản xuất và kiểm tra mà còn phải áp dụng cho cácquá trình xảy ra sau đó Từ đó khái niệm quản lý chất lượng toàn diện ra đời.
- Đảm bảo chất lượng – QA (Quality Assurance)
Sau khi kiểm soát được chất lượng sản phẩm, các doanh nghiệp cần phải duy trì mứcchất lượng đã được thông qua việc đảm bảo chất lượng sản phẩm Đây là quá trìnhcung cấp các hồ sơ chứng minh việc kiểm soát chất lượng và các bằng chứng việckiểm soát chất lượng sản phẩm cho khách hàng Đảm bảo chất lượng được thực hiệndựa trên hai yếu tố: Phải chứng minh được việc thực hiện kiểm soát chất lượng và đưa
ra được những bằng chứng về việc kiểm soát ấy
Đảm bảo chất lượng là mọi hoạt động có kế hoạch và có hệ thống được kiểm định đểđem lại lòng tin thỏa đáng để sản phẩm thỏa mãn các yêu cầu đã định đối với chấtlượng Do đó, người cung cấp phải xây dựng một hệ thống đảm bảo chất lượng có hiệulực và hiệu quả; đồng thời, làm thế nào để chứng minh cho khách hàng biết điều đó
Đó chính là nội dung cơ bản của hoạt động đảm bảo chất lượng
Các biện pháp đảm bảo chất lượng:
+ Trong quá trình thiết kế sản phẩm: Tập hợp và chuyển hóa nhu cầu của khách hàngthành đặc biệt của sản phẩm; đưa ra các phương án khác nhau cho quá trình thiết kế,thử nghiệm; kiểm tra các phương án để lựa chọn phương án tối ưu
+ Trong quá trình sản xuất: Mục đích của khâu quản lý quá trình sản xuất không phải
là loại bỏ những sản phẩm xấu, kém chất lượng sau quá trình sản xuất mà phải ngănchặn những nguyên nhân làm xuất hiện sản phẩm xấu trong quá trình sản xuất với mụcđích: Đảm bảo chất lượng sản phẩm được hình thành ở mức cao nhất; đảm bảo chi phísản xuất thấp nhất,… Để đảm bảo các mục tiêu này, cần thực hiện các công việc sau:Cung ứng vật tư đảm bảo số lượng, chất lượng, tổ chức lao động hợp lý, kiểm tra chấtlượng sau từng công đoạn sản xuất, chất lượng thành phẩm,…
+ Trong quá trình sử dụng sản phẩm: Thỏa mãn các khiếu nại khi cung cấp sản phẩmchất lượng thấp; ấn định thời gian bảo hành, lập các trạm bảo dưỡng sửa chữa định kỳ
và cung cấp phụ tùng thay thế để đảm bảo uy tín cho nhà sản xuất
Trang 22Là việc xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng, đồng thời tính toán hiệu quả kinh tế để
có thể có được giá thành rẽ nhất Bằng việc đề ra các chính sách thích hợp, quản lýchất lượng cho phép tiết kiệm tối đa và giảm thiểu các chi phí không cần thiết
- Quản lý chất lượng toàn diện – TQM
Quản lý chất lượng toàn diện là một phương pháp quản lý trong một tổ chức, địnhhướng vào chất lượng, dựa trên sự tham gia của mọi thành viên và nhằm đem lại sựthành công dài hạn thông qua sự thỏa mãn khách hàng và lợi ích của mọi thành viêncủa Công ty và xã hội Hiện nay tồn tại nhiều khái niệm về quản lý chất lượng toàndiện như:
Theo Armand V Feigenbaum giáo sư Mỹ rất nổi tiếng trong lĩnh vực chất lượng:
“Quản lý chất lượng toàn diện - TQM là một hệ thống hữu hiệu nhằm hội nhập những
nỗ lực về phát triển duy trì và cải tiến chất lượng của các tổ, nhóm trong một doanhnghiệp để có thể tiếp thị, áp dụng khoa học kỹ thuật, sản suất và cung ứng dịch vụnhằm thoả mãn hoàn toàn nhu cầu của khách hàng một cách kinh tế nhất”
Theo giáo sư Nhật bản Histoshi Kume (Nhật): “Quản lý chất lượng toàn diện –TQM là một dụng pháp quản trị đưa đến thành công, tạo thuận lợi cho tăng trưởng bềnvững của một tổ chức thông qua việc huy động hết tâm trí của tất cả các thành viênnhằm tạo ra chất lượng một cách kinh tế theo yêu cầu của khách hàng
Theo ISO 8402: 1994: “Quản lý chất lượng toàn diện – TQM là cách quản lý một tổchức tập trung vào chất lượng, dựa trên sự tham gia của tất cả các thành viên nhằm đạtđược sự thành công lâu dài nhờ việc thoả mãn khách hàng và đem lại lợi ích cho cácthành viên của tổ chức đó và cho xã hội
Các quan niệm tuy có cách diễn đạt khác nhau nhưng chủ yếu tập trung vào sự nỗ lựccủa tất cả các thành viên trong tổ chức doanh nghiệp nhằm xây dựng một hệ thốngquản lý chất lượng của tổ chức, đảm bảo duy trì cải tiến chất lượng, nâng cao hiệu quảquản lý chất lượng, thoả mãn nhu cầu khách hàng góp phần thúc đẩy sự phát triển của
tổ chức mình
Mục tiêu của quản lý chất lượng toàn diện là:
Trang 23Nâng cao uy tín, lợi nhuận của doanh nghiệp và thu nhập của các thành viên, cải tiếnchất lượng sản phẩm và thỏa mãn nhu cầu khách hàng ở mức tốt nhất có thể; tiết kiệmtối đa các chi phí, giảm những chi phí không cần thiết; tăng năng suất lao động, hạ giáthành sản phẩm sản xuất; rút ngắn thời gian giao hàng.
Nội dung của quản lý chất lượng toàn diện là:
Am hiểu chất lượng: Là cái nhìn và sự am hiểu về chất lượng, các thuật ngữ, các kháiniệm, các quá trình, các lĩnh vực liên quan đến chất lượng
Cam kết và chính sách: Là giai đoạn hoạch định và phổ biến các chính sách chất lượngcho tất cả mọi thành viên
Tổ chức chất lượng là giai đoạn thiết lập và tổ chức bộ máy nhân sự trong đó, xác định
rõ trách nhiệm, chức năng của mỗi cá nhân, bộ phận các cấp lãnh đạo trung gian, cácphòng ban;
Đo lường chất lượng: Là giai đoạn xác định và phân tích các chi phí chất lượng nhưchi phí sai hỏng bên trong, chi phí sai hỏng bên ngoài, chi phí thẩm định, chi phíphòng ngừa trên cơ sở đó đề ra biện pháp để giảm thiểu các chi phí đó;
Lập kế hoạch chất lượng: Là một văn bản đề cập riêng đến từng sản phẩm hoạt độngdịch vụ và vạch ra những hoạt động cần thiết có liên quan đến chất lượng trên cơ sởthiết lập các đồ thị lưu hình
Thiết kế chất lượng: Là tổng hợp các hoạt động nhằm xác định nhu cầu, triển khainhững gì thỏa mãn nhu cầu, kiểm tra sự phù hợp với nhu cầu và đảm bảo là các nhucầu được thỏa mãn
Xây dựng hệ thống chất lượng: Là một hệ thống cấp I liên quan đến thiết kế, sản xuấthoặc thao tác và lắp đặt được áp dụng khi khách hàng định rõ hàng hóa hoặc dịch vụphải hoạt động như thế nào chứ không phải nói theo những thuật ngữ kỹ thuật đã đượcxác lập
Kiểm tra chất lượng: Là việc sử dụng các công cụ SPC (các công cụ thống kê) để kiểmtra xem quy trình có được kiểm soát, có đáp ứng được các yêu cầu hay không
Trang 24Hợp tác về chất lượng: Là một nhóm người cùng làm một hoặc một số công việc giốngnhau, một cách tự nguyện đều đặn nhằm xác minh, phân tích và giải quyết những vấn
đề liên quan đến công việc và kiến nghị những giải pháp cho ban quản lý
Đào tạo và huấn luyện về chất lượng: Quá trình lập kế hoạch và tổ chức triển khai cácnội dung đào tạo, huấn luyện cho cấp lãnh đạo cao nhất cho đến nhân viên mới nhất vàthấp nhất hiểu rõ trách nhiệm của mỗi người về đáp ứng yêu cầu của khách hàng
Hình 1.1 Mô hình quản lý theo quá trình của hệ thống
1.4 Chất lượng công trình xây dựng
1.4.1 Khái niệm về công trình xây dựng
Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vậtliệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình được liên kết định vị với đất, có thể baogồm sản phẩm dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặtnước, được xây dựng theo thiết kế Công trình xay dựng bao gồm: Công trình dân
Trang 251.4.2 Đặc điểm của sản phẩm công trình xây dựng
Sản phẩm công trình xây dựng có đặc điểm riêng biệt khác với các ngành sản xuấtkhác, cục thể:
- Sản phẩm xây lắp là những công trình xây dựng, vật kiến trúc có quy mô đa dạng, kếtcấu phức tạp mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất sản phẩm xây lắp lâu dài Đặcđiểm này đòi hỏi việc tổ chức quản lý và hạch toán sản phẩm xây lắp nhất thiết phảilập dự toán (dự toán thiết kế, dự toán thi công) Quá trình sản xuất xây lắp phải so sánhvới dự toán, lấy dự toán làm thước đo, đồng thời, để giảm bớt rủi ro phải mua bảohiểm cho công trình xây lắp
- Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc theo giá thỏa thuận với chủđầu tư (giá đấu thầu)
- Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất, còn các điều kiện để sản xuất phải dichuyển theo địa điểm đặc sản phẩm
- Sản phẩm xây lắp từ khi khởi công đến khi hoàn thành công trình bàn giao đưa vào
sử dụng thường kéo dài Quá trình thi công được chia thành nhiều giai đoạn, mỗi giaiđoạn được chia thành nhiều công việc khác nhau, các công việc này thường diễn rangoài trời nên chịu tác động lớn của nhân tố môi trường như nắng, mưa, bão… đặcđiểm này đòi hỏi việc tổ chức quản lý, giám sát chặc chẽ sao cho đảm bảo chất lượngcông trình đúng như thiết kế, dự toán
1.4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình xây dựng
Giống như trên các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác, chất lượng công trình và côngtác quản lý chất lượng công trình xây dựng có nhiều nhân tố ảnh hưởng Có thể phânloại các nhân tố đó theo nhiều tiêu chí khác nhau Nhưng trong nội dung này chỉ đềcập tới việc phân loại các yếu tố ảnh hưởng theo tiêu chí chủ quan và khách quan
- Theo chủ quan (là những yếu tố doanh nghiệp có thể kiểm soát được và nói chungxuất phát từ phía bản thân doanh nghiệp):
- Đơn vị thi công: Nhà thầu thi công xây dựng trên công trường, là nhân tố biến sản
Trang 26quản lý chất lượng Do vậy bên cạnh những kỹ năng nghề nghiệp mà mỗi cá nhân đơn
vị có được (kỹ năng chuyên môn), mỗi cá nhân cũng như toàn đội đều phải được bồidưỡng, đào tạo nhận thức về chất lượng và tầm quan trọng của công tác quản lý chấtlượng công trình xây dựng để họ có ý thức thực hiện nghiêm chỉnh Đồng thời hướngmọi hoạt động mà họ thực hiện vì mục tiêu chất lượng
- Chất lượng nguyên vật liệu: Nguyên vật liệu là một bộ phận quan trọng, một phầnhình thành nên công trình Nguyên vật liệu là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng tới chấtlượng công trình Vậy nguyên vật liệu với chất lượng như thế nào thì được coi là đảmbảo?
- Với tình trạng nguyên vật liệu như hiện nay, chẳng hạn như: Xi măng, cát, đá, ngoàinhững loại vật liệu đạt chất lượng tốt, được các cơ quan có chuyên môn chứng nhậnthì luôn luôn có một lượng hàng chất lượng kém được trà trộn vào trong quá trình lưuthông trên thị trường Nếu trong quá trình thi công mà sử dụng những loại này sẽ ảnhhưởng xấu tới chất lượng công trình xây dựng, thậm chí nặng hơn là ảnh hưởng tớitính mạng con người (khi công trình đã hoàn thành và được đưa vào sử dụng) Do vậy,trong quá trình triển khai thi công công trình, nếu không được phát hiện kịp thời, sẽ bịmột số công nhân ý thức kém, vì mục đích trục lợi trộn lẫn vào trong quá trình thicông hoặc do nhà cung cấp trộn lẫn hàng kém chất lượng vào Do đó, đối với sắt, thép,
xi măng, bên cạnh những hàng tốt, chất lượng cao, có thương hiệu nổi tiếng, còn cókhông ít vật liệu kém chất lượng
- Và một thực trạng nữa, các mẫu thí nghiệm đưa vào công trình, thường là đơn vị thicông giao cho một bộ phận làm, nhưng họ không thí nghiệm mà chứng nhận luôn, do
đó không đảm bảo Chẳng hạn như nước trộn vữa bê tông không đảm bảo chất lượngdẫn đến bê tông cốt thép kém chất lượng hoặc là sử dụng cát nhiểm mặn chất lượngkém trong quá trình tri công làm ảnh hưởng đến chất lượng công trình sau này
- Ý thức của công nhân trong công tác xây dựng: Ý thức công nhân trong công tác xâydựng rất quan trọng Nếu như, công nhân không có ý thức, chuyên môn nghề nghiệpkém, trộn tỷ lệ cấp phối không đúng tỷ lệ xây dựng và công tác giám sát trong quátrình đo lường cấp phối cốt kiệu không chặc chẽ sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường
Trang 27- Biện pháp kỹ thuật thi công: Trong quá trình thi công xây dựng công trình luôn luônphải tuân thủ các tiêu chuẩn chất lượng và hồ sơ thiết kế thi công, nếu không sẽ ảnhhưởng tới chất lượng công trình, các cấu kiện chịu lực sẽ không được đảm bảo Ví dụ,các cấu kiện thi công công trình đặc biệt đúng trình tự, đúng chủng loại vật liệu theoyêu cầu của hồ sơ thiết kế, nếu thi công không đúng, xử lý khe lạnh không đảm bảoyêu cầu làm cho các cấu kiện sẽ không được đảm bảo chất lượng dẫn đến công trình
do có một vài phần tử chịu lực kém so với thiết kế
- Những yếu tố khách quan: Thời tiết khắc nghiệt, mưa nắng bất thường, ảnh hưởngchất lượng, tiến độ công trình, công nhân phải làm việc đôi khi đốt cháy giai đoạn, cáckhoản dừng kỹ thuật không được như ý muốn (cốp pha cần bao nhiêu ngày, đổ trầnbao nhiêu ngày) ảnh hưởng tới chất lượng
- Địa chất công trình: Nếu những công trình có địa chất phức tạp, ảnh hưởng tới côngtác khảo sát dẫn đến nhà thầu, chủ đầu tư, thiết kế phải thống nhất lại, mất thời gian dothay đổi, xử lý các phương án nền móng công trình làm ảnh hưởng đến tiến độ chungcủa công trình Đối với các công trình yêu cầu tiến độ nghiêm ngặt thì đây là một điềubất lợi Bởi lẽ công việc xử lý nền móng phải tốn rất nhiều thời gian
1.5 Quản lý chất lượng công trình xây dựng
1.5.1 Chất lượng công trình xây dựng
- Theo quan niệm hiện đại, chất lượng công trình xây dựng, xét từ góc độ bản thân sảnphẩm xây dựng, chất lượng công trình xây dựng được đánh giá bởi các đặc tính cơ bảnnhư: Công năng, tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật, độ bền vững, tính thẩm mỹ, an toàntrong khai thác sử dụng, tính kinh tế và đảm bảo về thời gian phục vụ của công trình
- Theo cách nhìn rộng hơn, chất lượng công trình xây dựng được hiểu không chỉ từ góc
độ bản thân sản phẩm xây dựng và người hưởng thụ sản phẩm xây dựng mà bao gồm
cả quá trình hình thành sản phẩm xây dựng cùng với các vấn đề liên quan khác Một sốvấn đề cơ bản liên quan đến chất lượng công trình xây dựng là:
+ Chất lượng công trình xây dựng cần được quan tâm ngay từ khi hình thành ý tưởng
về xây dựng công trình, từ khâu quy hoạch, lập dự án, đến khảo sát thiết kế, thi công
Trang 28vụ Chất lượng công trình xây dựng thể hiện ở chất lượng quy hoạch xây dựng, chấtlượng dự án đầu tư xây dựng công trình, chất lượng khảo sát, chất lượng các bản vẽthiết kế
+ Chất lượng công trình tổng thể phải được hình thành từ chất lượng của nguyên vậtliệu, cấu kiện, chất lượng của công việc xây dựng riêng lẻ, của các bộ phận, hạng mụccông trình
+ Các tiêu chuẩn kỹ thuật không chỉ thể hiện ở các kết quả thí nghiệm, kiểm địnhnguyên vật liệu, cấu kiện, máy móc thiết bị đưa vào công trình mà còn ở quá trình hìnhthành và thực hiện các bước công nghệ thi công, chất lượng các công việc của đội ngũcông nhân, kỹ sư lao động trong quá trình thực hiện các hợp đồng xây dựng
+ Chất lượng luôn gắn với vấn đề an toàn công trình An toàn không chỉ là trong khâukhai thác sử dụng mà phải đảm bảo an toàn trong giai đoạn thi công xây dựng đối vớibản thân công trình, với đội ngũ công nhân kỹ sư cùng các thiết bị xây dựng và khuvực công trình
+ Tính thời gian trong xây dựng không chỉ thể hiện ở thời hạn hoàn thành toàn bộcông trình để đưa vào khai thác sử dụng mà còn thể hiện ở việc đáp ứng theo tiến độquy định đối với từng hạng mục công trình
+ Tính kinh tế không chỉ thể hiện ở số tiền quyết toán công trình chủ đầu tư phải chitrả mà còn thể hiện ở góc độ đảm bảo lợi nhuận cho cho các nhà đầu tư thực hiện cáchoạt động dịch vụ xây dựng như lập dự án, khảo sát thiết kế, thi công xây dựng
+ Ngoài ra, chất lượng công trình xây dựng cần chú ý vấn đề môi trường không chỉ từgóc độ tác động của dự án tới các yếu tố môi trường mà cả tác động theo chiều ngượclại của các yếu tố môi trường tới quá trình hình thành dự án
Tóm lại: Chất lượng công trình xây dựng là đáp ứng các yêu cầu đặt ra trong nhữngđiều kiện nhất định Nó thể hiện sự phù hợp về quy hoạch, đạt được độ tin cậy trongkhâu thiết kế, thi công, vận hành theo tiêu chuẩn quy định, có tính xã hội, thẩm mỹ vàhiệu quả đầu tư cao, thể hiện tính đồng bộ trong công trình, thời gian xây dựng đúngtiến độ
Trang 291.5.2 Quản lý chất lượng công trình xây dựng
Quản lý chất lượng công trình xây dựng là tập hợp các hoạt động từ đó đề ra các yêucầu, quy định và thực hiện các yêu cầu, quy định đó bằng các biện pháp như kiểm soátchất lượng, đảm bảo chất lượng, cải tiến chất lượng Hoạt động quản lý chất lượngcông trình xây dựng chủ yếu là công tác giám sát và tự giám sát của chủ đầu tư và cácchủ thể khác Nói cách khác, quản lý chất lượng công trình xây dựng là tập hợp cáchoạt động của cơ quan, đơn vị có chức năng quản lý thông qua kiểm tra, đảm bảo chấtlượng, cải tiến chất lượng trong các giai đoạn từ chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, kếtthúc xây dựng và đưa vào khai thác sử dụng
1.5.3 Vai trò của Quản lý chất lượng đối với công trình xây dựng
- Công tác quản lý chất lượng các công trình xây dựng có vai trò to lớn đối với côngtác đầu tư xây dựng cơ bản nói chung, đối với các Chủ đầu tư được giao nhiệm vụquản lý công trình xây dựng và các doanh nghiệp xây dựng nói riêng Hàng năm,nguồn vốn đầu tư dành cho xây dựng xây dựng cơ bản rất lớn, chiếm từ 20-25% GDP
Vì vậy công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng cần được ưu tiên và quan tâmhàng đầu vì đó là chất lượng xây dựng Do chất lượng xây dựng là yếu tố quan trọngtrong quá trình xây dựng, quyết định đến việc phát triển chung của từng địa phương,những nơi có quy hoạch xây dựng đồng bộ, chất lượng công trình đảm bảo, thuận lợitrong giao thông, đi lại sẽ có tác động lớn đến việc phát triển kinh tế xã hội của khuvực, nâng cao chất lượng về đời sống của nhân dân trong vùng và cải thiện đáng kể bộmặt đô thị, nông thôn của khu vực đó Công trình xây dựng không bảo đảm chất lượng
sẽ có nguy hại đến đời sống xã hội của mọi người, không ít công trình do không bảođảm chất lượng đã lún nứt, thậm chí sập đổ mất an toàn gây thiệt hại về vật chất và cảsinh mạng con người, không phát huy được hiệu quả đầu tư, ảnh hưởng đến đời sốngcủa nhân dân Hàng năm trên phạm vi cả nước đều có các công trình giao thông, thủylợi, thủy điện, công trình dân dụng, công nghiệp bị sự cố công trình (đặc biệt là đối vớicác hạng mục hồ chứa nước của công trình thủy lợi và thủy điện, khi gặp sự cố sẽ gâythiệt hại rất lớn về người và tài sản,…), chất lượng công trình không bảo đảm cũnggây mất mỹ quan, giảm độ bền vững của công trình, gây lãng phí tốn kém, thậm chí có
Trang 30công trình phải phá dỡ để làm lại Những điều đó đã ảnh hưởng đến uy tín nghềnghiệp, đến đời sống xã hội, khiến cho dư luận thêm bức xúc.
- Cùng với việc chỉ đạo chống thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản; Đảng và Nhànước đã quan tâm chỉ đạo vấn đề bảo đảm chất lượng công trình xây dựng trên cácmặt, đó là: Tăng cường quản lý nhà nước về xây dựng, tích cực đầu tư trang thiết bị kỹthuật hiện đại, áp dụng các tiến bộ khoa học trong xây dựng Nhà nước đã ban hànhLuật Xây dựng, Chính phủ đã có các Nghị định, các bộ ngành liên quan đã có nhữngThông tư hướng dẫn, xây dựng được các bộ đơn giá, định mức, các quy định về quychuẩn, tiêu chuẩn Thiết lập bộ máy quản lý tham mưu giúp việc cho công tác quản lýnhà nước về chất lượng xây dựng như ở Trung ương có Cục quản lý chất lượng xâydựng, ở các tỉnh có các Trung tâm Kiểm định chất lượng Xây dựng pháp lệnh thanhtra, hệ thống thanh tra xây dựng từ Bộ đến các tỉnh và huyện được kiện toàn bố trí sắpxếp lại Ở các trung tâm và doanh nghiệp tư vấn thiết kế, kiểm định được đầu tư cácphòng thí nghiệm kiểm định, nhiều nơi được Bộ xây dựng công nhận đạt tiêu chuẩnLAS Công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ, phân cấp quản lý đầu tư xây dựng, cấpchứng chỉ hành nghề, cải cách thủ tục hành chính trong xây dựng có nhiều cố gắng đãgóp phần đưa công tác xây dựng cơ bản nói chung và chất lượng xây dựng nói riêngtừng bước đi vào nề nếp
- Tuy nhiên, chất lượng công trình xây dựng vẫn đang là vấn đề bức xúc hàng đầu,công trình không bảo đảm chất lượng cũng là nguyên nhân làm thất thoát trong đầu tưxây dựng cơ bản Do đó, vấn đề cần thiết đặt ra hiện nay đó là làm sao để công tácquản lý chất lượng công trình xây dựng có hiệu quả, đạt được mục tiêu đề ra ban đầu
Trang 31KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trên cơ sở quan điểm và lý luận thực tiễn về chất lượng sản phẩm, quản lý chất lượngsản phẩm cũng như chất lượng công trình và quản lý chất lượng công trình xây dựng.Qua đó khẳng định có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình xây dựngtrong quá trình thực hiện một công trình xây dựng
Công tác quản lý chất lượng công trình trong hoạt động xây dựng có vai trò, ý nghĩaquan trọng trong việc đảm bảo và nâng cao chất lượng công trình, hạn chế tối đa các
sự cố công trình có thể xảy ra do chủ quan của con người, tạo sự ổn định về cơ sở hạtầng góp phần vào sự phát triển chung của đất nước
Qua Chương này học viên đã nêu những khai quát và cơ sở lý luận về khái niệm chấtlượng xây dựng, công tác quản lý chất lượng xây dựng Trong thực tế chất lượng xâydựng và công tác quản lý chất lượng xây dựng diễn ra ở từng bước trong quá trình thựchiện dự án Do đó, đơn vị được giao quản lý thực hiện dự án và nhà thầu làm tốt nhiệm
vụ của mình sẽ hạn chế tối đa những sai sót, nâng cao chất lượng sản phẩm xây dựng
do mình thực hiện Bên cạnh đó nếu thực hiện tốt công tác quản lý chất lượng xâydựng sẽ giảm được chi phí nhân công, máy móc thiết bị, tăng năng suất lao động.Nâng cao chất lượng tạo sự tin cậy giữa các bên và nhân dân Qua chương một này đãkhẳng định tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng xây dựng và quản lý chấtlượng xây dựng trong quá trình thực hiện dự án
Trang 32CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
2.1 Cơ sở pháp lý về quản lý chất lượng công trình xây dựng.
• Hệ thống các văn bản Quy phạm pháp luật:
- Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2013;
- Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18 tháng 6 năm 2014;
- Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ hướng dẫnthi hành Luật đấu thầu và lựa chọn nhà thầu theo Luật xây dựng;
- Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ về quản lýchất lượng và bảo trì công trình xây dựng;
- Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 05 tháng 8 năm 2015 của Chính phủ về Quản lý
dự án đầu tư xây dựng công trình
- Nghị định số 121/2013/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ về xửphạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khaithác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản
và Đầu tư, Bộ Tài chính,
Trang 33HIẾN PHÁP
LUẬT (BỘ LUẬT), PHÁP LỆNH
NGHỊ ĐỊNH CHÍNH PHỦ
Trang 34TƯ QUYẾT ĐỊNH CỦA BỘ TRƯỞNG CHỈ THỊ CỦA BỘ TRƯỞNG QUY CHUẨN KỸ THUẬT
Hình 2.1 Sơ đồ văn bản quy phạm pháp luật
• Văn bản Quy phạm pháp luật do Quốc hội, Chính phủ ban hành
Hệ thống văn bản pháp luật phải đồng bộ, đầy đủ, hoàn chỉnh, ổn định lâu dài và đượcthực tiễn chấp nhận, tạo ra hành lang pháp lý, là công cụ chủ yếu, quan trọng nhất củaquản lý nhà nước đối với mọi hoạt động của ngành xây dựng khi đất nước ta chuẩn bịbước và thời kỳ hội nhập và toàn cầu hóa
Luật Xây dựng 2014 sửa đổi so với Luật Xây dựng 2003 với nhiều điểm mới để tăngcường công tác kiểm soát, quản lý chất lượng xây dựng công trình ở tất cả các giaiđoạn trong quá trình đầu tư xây dựng, đảm bảo công khai, minh bạch về quá trình thựchiện dự án, đảm bảo dự án đầu tư xây dựng đúng mục tiêu, chất lượng, hiệu quả, nângcao vai trò quản lý của Nhà nước về xây dựng, cụ thể như:
Thứ nhất, hiện nay đa số các dự án sử dụng vốn nhà nước của từng lĩnh vực như Y tế,
Giáo dục, đều lựa chọn áp dụng mô hình mỗi ngành thành lập ban quản lý dự án đểtrực tiếp quản lý từng dự án đầu tư xây dựng của ngành mình Cách làm này dẫn đếngia tăng về số lượng ban quản lý dự án, nhưng hạn chế về năng lực Để khắc phục,Luật đã bổ sung quy định hình thức ban quản lý chuyên ngành, ban quản lý khu vựcđối với các công trình đầu tư công
Thứ hai, phạm vi của Luật xây dựng điều chỉnh các hoạt động đầu tư xây dựng từ khâu
quy hoạch xây dựng, lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi,
Trang 35thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng cho đến khảo sát, thiết kế thi công xâydựng, nghiệm thu, bàn giao công trình đưa vào sử dụng, bảo hành, bảo trì các côngtrình xây dựng, nhằm quản lý chặt chẽ đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước, khắcphục lãng phí thất thoát, nâng cao chất lượng công trình.
Thứ ba, Luật tập trung vào vấn đề đổi mới kiểm soát, quản lý chất lượng xây dựng ở
tất cả các giai đoạn của quá trình đầu tư Trong đó, yêu cầu cơ quan chuyên môn vềxây dựng phải tăng cường kiểm soát quá trình xây dựng trong tất cả các khâu nhằmchống thất thoát lãng phí, nâng cao chất lượng công trình xây dựng
Thứ tư, đổi mới cơ chế quản lý chi phí nhằm quản lý chặt chẽ chi phí đầu tư xây dựng
từ nguồn vốn nhà nước, bảo đảm sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ từ các chủ thểtham gia hợp đồng xây dựng
Thứ năm, sửa đổi xác định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư
xây dựng, phân công, phân cấp hợp lý giữa các bộ, ngành, địa phương
2.1.1 Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính Phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng
Trên cơ sở nội dung của Luật Xây dựng 2014 quy định và tổng kết những hạn chếtrong quá trình triển khai thực hiện Nghị định số 15/2013/NĐ-CP, Chính phủ ban hànhNghị định số 46/2015/NĐ-CP để triển khai thực hiện công tác quản lý chất lượng vàbảo trì công trình xây dựng Theo đó, Nghị định quy định trình tự công việc từ giaiđoạn khảo sát, thiết kế, thi công đến bảo trì công trình xây dựng Quy định trách nhiệmcủa từng chủ thể tham gia hoạt động xây dựng công trình trong từng giai đoạn Sự thayđổi của Nghị định này phù hợp hơn với thực tế và giúp các chủ thể nắm bắt ngay cácquy định về quản lý chất lượng công trình xây dựng trong toàn bộ quá trình hoạt độngđầu tư xây dựng Việc quản lý chất lượng công trình xây dựng phải tuân thủ theo cácnguyên tắc cơ bản sau:
- Công trình xây dựng phải được kiểm soát chất lượng theo quy định của Nghị địnhnày và pháp luật có liên quan từ công tác chuẩn bị, triển khai thực hiện đầu tư xâydựng đến quản lý, sử dụng công trình nhằm đảm bảo an toàn cho người, tài sản, thiết
bị, công trình và các công trình lân cận
Trang 36- Hạng mục công trình, công trình xây dựng hoàn thành chỉ được phép đưa vào khaithác, sử dụng sau khi được nghiệm thu bảo đảm yêu cầu của thiết kế xây dựng, tiêuchuẩn áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật cho công trình, các yêu cầu của hợp đồng xây dựng
và quy định của pháp luật có liên quan
- Nhà thầu khi tham gia hoạt động xây dựng phải có đủ điều kiện năng lực theo quyđịnh, phải có biện pháp tự quản lý chất lượng các công việc xây dựng do mình thựchiện, Nhà thầu chính hoặc tổng thầu có trách nhiệm quản lý chất lượng công việc donhà thầu phụ thực hiện
- Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức quản lý chất lượng công trình phù hợp với hìnhthức đầu tư, hình thức quản lý dự án, hình thức giao thầu, quy mô và nguồn vốn đầu tưtrong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng công trình theo quy định của Nghị định này.Chủ đầu tư được quyền tự thực hiện các hoạt động xây dựng nếu đủ điều kiện năng lựctheo quy định của pháp luật
- Cơ quan chuyên môn về xây dựng hướng dẫn, kiểm tra công tác quản lý nhà nước vềchất lượng của các tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng công trình; thẩm định thiết kế,kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng, tổ chức thực hiện giám định chấtlượng công trình xây dựng; kiến nghị và xử lý các vi phạm về chất lượng công trìnhxây dựng theo quy định của pháp luật
- Các chủ thể tham gia hoạt động đầu tư xây dựng trên chịu trách nhiệm về chất lượngcác công việc do mình thực hiện
Một số trích dẫn từ Nghị định số 46/2015/NĐ-CP quy định cụ thể từ giai đoạn khảo sát, thiết kế, giám sát, thi công nhằm nâng cao chất lượng công trình:
Điều 11 Trình tự quản lý chất lượng khảo sát xây dựng
1 Lập và phê duyệt nhiệm vụ khảo sát xây dựng
2 Lập và phê duyệt phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng
3 Quản lý chất lượng công tác khảo sát xây dựng
4 Nghiệm thu, phê duyệt kết quả khảo sát xây dựng
Điều 12 Nhiệm vụ khảo sát xây dựng
Trang 371 Nhiệm vụ khảo sát xây dựng được lập cho công tác khảo sát phục vụ việc lập dự ánđầu tư xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thiết kế sửa chữa, cải tạo, mở rộng,nâng cấp công trình hoặc phục vụ các công tác khảo sát khác có liên quan đến hoạtđộng xây dựng.
2 Nhiệm vụ khảo sát xây dựng do nhà thầu thiết kế lập Trường hợp chưa lựa chọnđược nhà thầu thiết kế, người quyết định đầu tư hoặc chủ đầu tư được thuê tổ chức, cánhân có đủ điều kiện năng lực lập nhiệm vụ khảo sát xây dựng
4 Nhiệm vụ khảo sát xây dựng được sửa đổi, bổ sung trong các trường hợp sau:
a) Trong quá trình thực hiện khảo sát xây dựng, phát hiện các yếu tố khác thường cóthể ảnh hưởng trực tiếp đến giải pháp thiết kế hoặc khi có thay đổi nhiệm vụ thiết kếcần phải bổ sung nhiệm vụ khảo sát xây dựng;
b) Trong quá trình thiết kế, nhà thầu thiết kế phát hiện nhiệm vụ khảo sát xây dựng,báo cáo khảo sát xây dựng không đáp ứng yêu cầu thiết kế;
c) Trong quá trình thi công, phát hiện các yếu tố khác thường so với tài liệu khảo sát,thiết kế có thể ảnh hưởng đến chất lượng công trình, biện pháp thi công xây dựng côngtrình
5 Khi lập nhiệm vụ khảo sát phải xem xét nhiệm vụ khảo sát và kết quả khảo sát đãthực hiện ở bước thiết kế trước và các kết quả khảo sát có liên quan được thực hiệntrước đó (nếu có)
Điều 13 Phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng
1 Nhà thầu khảo sát lập phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng phù hợp với nhiệm vụkhảo sát xây dựng, các tiêu chuẩn về khảo sát xây dựng được áp dụng và trình chủ đầu
tư phê duyệt
3 Chủ đầu tư kiểm tra và phê duyệt phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng Chủ đầu tư
có thể thuê đơn vị tư vấn có đủ điều kiện năng lực để thẩm tra phương án kỹ thuậtkhảo sát xây dựng làm cơ sở cho việc phê duyệt
Điều 14 Quản lý chất lượng công tác khảo sát xây dựng
Trang 381 Nhà thầu khảo sát có trách nhiệm bố trí đủ người có kinh nghiệm và chuyên mônphù hợp để thực hiện khảo sát theo quy định của hợp đồng xây dựng; cử người có đủđiều kiện năng lực để làm chủ nhiệm khảo sát và tổ chức thực hiện biện pháp kiểmsoát chất lượng quy định tại phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng.
3 Chủ đầu tư được quyền đình chỉ công việc khảo sát khi phát hiện nhà thầu khôngthực hiện đúng phương án khảo sát đã được phê duyệt hoặc các quy định của hợp đồngxây dựng
Điều 16 Nghiệm thu, phê duyệt báo cáo kết quả khảo sát xây dựng
1 Nghiệm thu báo cáo kết quả khảo sát xây dựng:
a) Chủ đầu tư kiểm tra khối lượng công việc khảo sát xây dựng đã thực hiện, xem xét
sự phù hợp về quy cách, số lượng và nội dung của báo cáo khảo sát so với quy địnhcủa nhiệm vụ khảo sát xây dựng, phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng được chủ đầu
tư phê duyệt và quy định của hợp đồng xây dựng; thông báo chấp thuận nghiệm thubáo cáo kết quả khảo sát xây dựng bằng văn bản đến nhà thầu khảo sát nếu đạt yêucầu
Trường hợp báo cáo kết quả khảo sát xây dựng chưa đạt yêu cầu, chủ đầu tư gửi nhàthầu khảo sát ý kiến không chấp thuận nghiệm thu bằng văn bản, trong đó nêu các nộidung chưa đạt yêu cầu mà nhà thầu khảo sát phải chỉnh sửa hoặc phải thực hiện khảosát lại;
b) Chủ đầu tư có thể thuê đơn vị tư vấn có đủ điều kiện năng lực để kiểm tra báo cáokết quả khảo sát xây dựng làm cơ sở cho việc quyết định nghiệm thu
2 Chủ đầu tư phê duyệt trực tiếp vào báo cáo kết quả khảo sát xây dựng sau khi thôngbáo chấp thuận nghiệm thu báo cáo này và chịu trách nhiệm về kết quả phê duyệt củamình
3 Nhà thầu khảo sát chịu trách nhiệm về chất lượng khảo sát xây dựng do mình thựchiện Việc nghiệm thu và phê duyệt báo cáo kết quả khảo sát xây dựng của chủ đầu tưkhông thay thế và không làm giảm trách nhiệm về chất lượng khảo sát xây dựng donhà thầu khảo sát thực hiện
Trang 391 Lập nhiệm vụ thiết kế xây dựng công trình.
2 Quản lý chất lượng công tác thiết kế xây dựng
3 Thẩm định, thẩm tra thiết kế xây dựng
4 Phê duyệt thiết kế xây dựng công trình
5 Nghiệm thu thiết kế xây dựng công trình
Điều 18 Nhiệm vụ thiết kế xây dựng công trình
1 Chủ đầu tư lập hoặc thuê tổ chức, cá nhân có năng lực phù hợp lập nhiệm vụ thiết
kế xây dựng công trình
2 Nhiệm vụ thiết kế xây dựng công trình phải phù hợp với báo cáo nghiên cứu tiềnkhả thi hoặc báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư xây dựng công trình Nhiệm vụ thiết kếxây dựng công trình là căn cứ để lập dự án đầu tư xây dựng công trình, lập thiết kế xâydựng công trình Chủ đầu tư có thể thuê tổ chức tư vấn, chuyên gia góp ý hoặc thẩmtra nhiệm vụ thiết kế khi cần thiết
4 Nhiệm vụ thiết kế xây dựng công trình được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với điềukiện thực tế để đảm bảo hiệu quả dự án đầu tư xây dựng công trình
Điều 19 Chỉ dẫn kỹ thuật
1 Chỉ dẫn kỹ thuật là cơ sở để thực hiện giám sát thi công xây dựng công trình, thicông và nghiệm thu công trình xây dựng Chỉ dẫn kỹ thuật do nhà thầu thiết kế hoặcnhà thầu tư vấn khác được chủ đầu tư thuê lập Chỉ dẫn kỹ thuật được phê duyệt là mộtthành phần của hồ sơ mời thầu thi công xây dựng, làm cơ sở để quản lý thi công xâydựng, giám sát thi công xây dựng và nghiệm thu công trình
2 Chỉ dẫn kỹ thuật phải phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn áp dụng cho côngtrình xây dựng được phê duyệt và yêu cầu của thiết kế xây dựng công trình
3 Bắt buộc thực hiện lập chỉ dẫn kỹ thuật đối với công trình cấp đặc biệt, cấp I và cấp
II Đối với công trình di tích và các công trình còn lại, chỉ dẫn kỹ thuật có thể được lậpriêng hoặc quy định trong thuyết minh thiết kế xây dựng công trình
Trang 401 Nội dung quản lý chất lượng của nhà thầu thiết kế xây dựng công trình:
a) Bố trí đủ người có kinh nghiệm và chuyên môn phù hợp để thực hiện thiết kế; cửngười có đủ điều kiện năng lực để làm chủ nhiệm đồ án thiết kế, chủ trì thiết kế;
b) Chỉ sử dụng kết quả khảo sát đáp ứng được yêu cầu của bước thiết kế và phù hợpvới quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn được áp dụng cho công trình;
c) Chỉ định cá nhân, bộ phận trực thuộc tổ chức của mình hoặc thuê tổ chức, cá nhânkhác đủ điều kiện năng lực theo quy định để thực hiện công việc kiểm tra nội bộ chấtlượng hồ sơ thiết kế;
d) Trình chủ đầu tư hồ sơ thiết kế để được thẩm định, phê duyệt theo quy định củaLuật Xây dựng; tiếp thu ý kiến thẩm định và giải trình hoặc chỉnh sửa hồ sơ thiết kếtheo ý kiến thẩm định;
đ) Thực hiện điều chỉnh thiết kế theo quy định
2 Nhà thầu thiết kế chịu trách nhiệm về chất lượng thiết kế xây dựng công trình domình thực hiện; việc thẩm tra, thẩm định và phê duyệt thiết kế của cá nhân, tổ chức,chủ đầu tư, người quyết định đầu tư hoặc cơ quan chuyên môn về xây dựng khôngthay thế và không làm giảm trách nhiệm của nhà thầu thiết kế về chất lượng thiết kếxây dựng công trình do mình thực hiện
3 Trường hợp nhà thầu thiết kế làm tổng thầu thiết kế thì nhà thầu này phải đảm nhậnthiết kế những hạng mục công trình chủ yếu hoặc công nghệ chủ yếu của công trình vàchịu trách nhiệm toàn bộ về việc thực hiện hợp đồng với bên giao thầu Nhà thầu thiết
kế phụ chịu trách nhiệm về tiến độ, chất lượng thiết kế trước tổng thầu và trước phápluật đối với phần việc do mình đảm nhận
4 Trong quá trình thiết kế xây dựng công trình quan trọng quốc gia, công trình có quy
mô lớn, kỹ thuật phức tạp, nhà thầu thiết kế xây dựng có quyền đề xuất với chủ đầu tưthực hiện các thí nghiệm, thử nghiệm mô phỏng để kiểm tra, tính toán khả năng làmviệc của công trình nhằm hoàn thiện thiết kế, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật và an toàncông trình
Điều 23 Trình tự quản lý chất lượng thi công xây dựng