1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp thuộc tập đoàn dệt may việt nam tt

13 213 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 375,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những đóng góp mới của nghiên cứu Về lý luận: Luận án đã làm rõ được khái niệm CSR và thực hiện CSR của DN; Xác minh tính phù hợp, đặc thù của mô hình và đề xuất các nhân tố ảnh hưởng

Trang 1

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Lý do lựa chọn đề tài

Theo quan điểm của các nhà kinh tế, trách nhiệm cuối cùng của một DN là tối đa

hóa lợi nhuận và tạo ra giá trị cho cổ đông (Friedman, 1970) Do vậy, tài chính là động

lực duy nhất thúc đẩy các hoạt động của một DN Ngày nay, quan niệm đó đã nhường

chỗ cho cách thức kinh doanh của DN ngoài sử dụng các nguồn lực của DN phục vụ cho

lợi ích của cổ đông còn cần quan tâm đến các bên liên quan cũng như cần được điều

hành từ một quan điểm đạo đức Tư duy rộng mở hơn này, được gọi là "CSR của DN"

(Corporate Socail Responsibility – CSR) (Freeman, 1984)

Vinatex (Vinatex) là một trong những DN có đóng góp lớn cho nền kinh tế Với

đặc thù là ngành sử dụng nhiều lao động phổ thông; quá trình sản xuất của các DN

dệt may tác động trực tiếp đến môi trường; mức độ cạnh tranh trên thị trường trong

nước và thế giới cao, chịu nhiều rào cản khi xuất khẩu hàng hóa vào thị trường Mỹ,

EU, Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước khác Tuy nhiên, thực hiện CSR trong các DN

thuộc Vinatex vẫn còn bộc lộ những hạn chế, tồn tại và thiếu sót Nhiều DN vẫn chưa

thực sự chủ động tìm hiểu nhân tố ảnh hưởng đến động lực thực hiện CSR, vẫn còn

nhiều DN thực hiện do sự ép buộc của hệ thống pháp luật, do sức ép từ các bên liên

quan hoặc thực hiện được hoạt động này nhưng lại vi phạm lĩnh vực khác dẫn đến

năng lực cạnh tranh còn thấp, chưa xây dựng được uy tín để thuyết phục niềm tin của

người tiêu dùng, của các đối tác, của cộng đồng và xã hội

Để các DN thuộc Vinatex chủ động thực hiện CSR thì rất cần thiết phải xác

định được nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR của các DN Do đó, việc lựa chọn

nghiên cứu về CSR với tên đề tài “Nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR của các

DN thuộc Tập đoàn dệt may Việt Nam” là rất cần thiết và có ý nghĩa

Về tổng quan nghiên cứu CSR, thực hiện CSR và nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện

CSR đã được nhiều tác giả, nhiều DN trong và ngoài nước tập trung nghiên cứu như:

1 Caroll A.B., (1991), The Pyramid of CSR: Toward the Moral Management

of Organizational Stakeholders, Management of Organizational Stakeholders,

Business Horizons, pp.39-48

2 Caroll A.B., (1979), A Three-Dimensional Conceptual Model of Corporate

Performance Academy of Management Review, No.4, pp.497-505

3 Davis, K 1973 The case for and against business assumption of social

responsibilities Academy of Management Journal, Vol.16, pp 312-322

4 Friedman, M (1970), The social responsibility of business is to increase its

profits, York Times Magazine, pp 32-33, 122-124

5 Galbreath Jeremy (2010), ”Drivers of Corporate Social Responsibility: The

Role of Formal Strategic Planning and Firm Culture”, British Journal of

Management, Vol 21, pp.511–525

6 Maignan, i & Ferrell, O C 2000 Measuring Corporate Citizenship in Two Countries: The Case of the United States and France Journal of Business Ethics, Vol

23, No 3, pp 283-297

7 Maignan, i & Ferrell, O C 2004 Corporate Social Responsibility and Marketing: An Integrative Framework Journal of the Academy of Marketing Science, Vol 32, Issue 1, pp 3–19

8 Mcwilliams, A., Siegel, D & Wright, P 2006 Corporate social responsibility: Strategic implications Journal of Management Studies, Vol.43, No.1, pp.01-18

Ngoài ra còn rất nhiều nghiên cứu khác nữa mà nghiên cứu sinh không nêu hết trong phạm vi của nội dung này Nhưng nhìn chung chưa có nghiên cứu nào phân tích nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR tại các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam một cách hệ thống, toàn diện Vì vậy, có thể khẳng định đây là công trình nghiên cứu độc lập, nghiêm túc, không có sự trùng lặp, sao chép, đồng thời là lĩnh vực mới mẻ cả về lý luận và thực tiễn cần phải được nghiên cứu

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của luận án

• Mục tiêu tổng quát:

- Xây dựng mô hình nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR tại các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam

- Kiểm định thang đo của các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR tại các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam

- Kết luận về chiều hướng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến thực hiện CSR tại các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam để làm căn cứ cho việc đề xuất hàm ý chính sách, giải pháp tăng cường thực hiện trách nhiệm xã hội tại đơn vị

• Mục tiêu cụ thể:

- Lựa chọn định nghĩa CSR và thực hiện CSR cho phù hợp với bối cảnh, điều kiện kinh doanh tại các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam

- Đánh giá thực trạng thực hiện CSR tại các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam

- Xây dựng mô hình lý thuyết và kiểm định nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR tại các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam

- Đưa ra hàm ý và đề xuất khuyến nghị đối với Nhà nước, các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam trong quá trình xem xét, đánh giá, xác định thứ tự ưu tiên của các nhân tố ảnh hưởng và nâng cao hơn nữa nhận thức về tầm quan trọng thực hiện CSR

1.3 Câu hỏi nghiên cứu chính của luận án

• Câu hỏi 1: Những nhân tố nào ảnh hưởng đến thực hiện CSR của các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam?

Trang 2

• Câu hỏi 2: Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến thực hiện CSR của các

DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam như thế nào?

• Câu hỏi 3: Khuyến nghị nào cần được đưa ra đối với các chủ thể khi đánh giá

nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR của các DN thuộc Tập đoàn Dệt may Việt Nam?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

• Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận án là các nhân tố ảnh

hưởng đến thực hiện CSR của các DN thuộc Vinatex

• Phạm vi nghiên cứu: Bao gồm các DN thuộc Vinatex, các dữ liệu sử dụng

trong nghiên cứu được thu thập chủ yếu trong giai đoạn từ 2016 – 2019

• Tóm tắt phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu định tính bằng

việc thu thập thông tin từ các bài báo, tạp chí ngành, các tạp san, internet, bản tin và các

số liệu từ Tổng cục thống kê, trên website và nghiên cứu định lượng áp dụng phương

pháp thu thập số liệu ngẫu nhiên phi xác xuất có phân tầng từ các DN thuộc Vinatex

1.5 Những đóng góp mới của nghiên cứu

Về lý luận: Luận án đã làm rõ được khái niệm CSR và thực hiện CSR của DN;

Xác minh tính phù hợp, đặc thù của mô hình và đề xuất các nhân tố ảnh hưởng gồm:

(1) Hoạch định chiến lược định hướng bên ngoài, (2) Hoạch định chiến lược định

hướng bên trong, (3) Luật và thực thi pháp luật, (4) Văn hóa nhân văn của DN Trong

đó, nhân tố “Luật và thực thi pháp luật” được tác giả xây dựng mới trong mô hình; Là

nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam áp dụng nghiên cứu định lượng đối với 1 lĩnh vực

khó lượng hóa như văn hóa nhân văn của DN với thực hiện CSR

Về thực tiễn: (1) Luận án đã đánh giá được thực trạng thực hiện CSR và thực

trạng các nhân tố ảnh hưởng tới thực hiện TNXH của các DN thuộc Vinatex (2)

Luận án kiểm định được độ tin cậy của các khái niệm và thang đo nghiên cứu trong

mô hình (3) Luận án phát hiện nhân tố “Luật và thực thi pháp luật” có tác động thuận

chiều đến thực hiện CSR của các DN thuộc Vinatex (4) Luận án đã đề xuất được một

số hàm ý chính sách đối với các DN thuộc Vinatex và khuyến nghị với Nhà nước

nhằm thúc đẩy các DN dệt may thực hiện CSR ngày một tốt hơn

1.6 Kết cấu của luận án

Luận án gồm 5 chương, được trình bày trong 118 trang, với 31 bảng, 7 hình, 2

sơ đồ, 8 biểu đồ minh họa, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo

Chương 1: Giới thiệu chung về nghiên cứu

Chương 2: Tổng quan nghiên cứu, khoảng trống và mô hình nghiên cứu

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và Kiến nghị

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, KHOẢNG TRỐNG

VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Một số vấn đề chung về thực hiện CSR

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của CSR

CSR những năm 1950: Đại diện là nghiên cứu của Bowen (1953), CSR thuộc

về những người kinh doanh; Những năm 1960: Phát triển cách hiểu CSR và tìm kiếm

hệ thống lý luận phù hợp, tiêu biểu là Davis (1960), McGuire (1963) với tư tưởng

hướng đến sự phản ứng của các đối tượng liên quan trong xã hội; Những năm 1970:

Xuất hiện tranh luận giữa 2 trường phái là quản trị “đại diện” là Milton Friedman (1970), DN chỉ có trách nhiệm tối đa hóa lợi nhuận và quản trị “đa bên”, DN phải có

ý thức về những tác động lên xã hội và phải có trách nhiệm với chính hành vi của mình;

Những năm 1980: Nổi bật là Freeman (1984), nhấn mạnh sự ảnh hưởng của các đối

tượng liên quan đến thực hiện CSR của DN và mối quan hệ giữa CSR với hiệu quả hoạt động của DN; Những năm 1990: Wood và Carroll (1999), CSR là công cụ chiến lược,

do vậy cần tích hợp CSR vào chiến lược của DN; Những năm 2000: Porter & Kramer

(2002), Kotler & Lee (2005) nhấn mạnh chiến lược CSR là lợi thế cạnh tranh của DN

2.1.2 Lợi ích của thực hiện CSR

Thực hiện CSR sẽ giúp DN: Giảm chi phí và nâng cao năng suất lao động; Nâng cao giá trị thương hiệu và uy tín của DN; Tăng doanh thu và cơ hội tiếp cận thị trường mới; Thu hút, giữ chân nhân viên giỏi và có tay nghề cao; Tăng sự trung thành

và giảm rủi ro

2.1.3 Các đối tượng thực hiện CSR của DN

Dựa trên định nghĩa về CSR của WB (World Bank, 2010) do Nhóm phát triển kinh tế tư nhân đề xuất, CSR của DN phải gắn liền với vấn đề phát triển bền vững

DN cần thực hiện CSR đối với người lao động; đối với người tiêu dùng; với cộng đồng và CSR đối với môi trường

2.2 Tổng quan nghiên cứu về CSR trong các DN

2.2.1 Các khái niệm quan trọng

* CSR và các cấu phần của CSR Quan điểm của Carroll (1979) dường như

nhận được nhiều sự đồng thuận từ các nhà nghiên cứu nhất (Galbreath, 2010) Theo Carroll, CSR bao gồm bốn lĩnh vực chính gồm: trách nhiệm với tăng trưởng kinh tế, tuân thủ luật pháp, với các vấn đề đạo đức và cuối cùng là trách nhiệm tình nguyện Trách nhiệm với tăng trưởng kinh tế là yếu tố quan trọng nhất, thứ đến là trách nhiệm tuân thủ luật pháp, tiếp theo là trách nhiệm đạo đức, cuối cùng là trách nhiệm tình

nguyện (Carroll, 1979) Cũng theo Carroll, trách nhiệm kinh tế là trách nhiệm đầu

tiên và trước hết của DN, đó là vấn đề tự nhiên mang tính bản chất, DN được giả định

Trang 3

là có trách nhiệm sản xuất hàng hóa và dịch vụ mà xã hội mong muốn (Galbreath,

2010), sau đó bán chúng để thu về lợi nhuận (Carroll, 1979) và qua đó làm tăng

trưởng kinh tế nói chung (Galbreath, 2010) Trách nhiệm pháp lý, xã hội mong muốn

các DN hoàn thành nhiệm vụ kinh tế trong các khuôn khổ pháp lý, nói cách khác là

đáp ứng các trách nhiệm về kinh tế và pháp lý một cách đồng thời (Carroll, 1979,

Galbreath, 2010) Trách nhiệm đạo đức Mặc dù cả trách nhiệm về kinh tế cũng như trách

nhiệm về luật pháp đều thể hiện một góc độ nào đó của trách nhiệm đạo đức (Carroll,

1979) Tuy nhiên, trách nhiệm đạo đức vẫn có những điểm khác biệt đó là những mong

đợi của xã hội mà không được quy định thành luật, đòi hỏi DN phải đáp ứng những yêu

cầu, chuẩn mực cao hơn là luật pháp (Carroll, 1979) đó chính là các quy tắc đạo đức và

chính các quy tắc này xác định các hành vi được coi là chuẩn mực ứng xử của xã hội

(Galbreath, 2010) Khía cạnh cuối cùng là trách nhiệm tình nguyện, đây là các trách nhiệm

đòi hỏi sự tuân thủ của các DN là ít nhất, còn ít hơn các trách nhiệm đạo đức Trách nhiệm

tình nguyện là các trách nhiệm mà xã hội không bắt buộc, pháp luật không yêu cầu, thậm

chí hoàn toàn không tổn hại đến đạo đức nếu không thực hiện (Galbreath, 2010, Carroll,

1979) Đó có thể là đóng góp từ thiện, đào tạo cho những người khó có khả năng lao

động, trợ giúp những người nghiện ma túy (Carroll, 1979), đầu tư vào các công trình phúc

lợi ở địa phương (Galbreath, 2010)

* CSR và thực hiện CSR Trong luận án này, tác giả sử dụng khái niệm CSR

của Maignan và cộng sự, được xây dựng dựa trên quan điểm của Carroll về thành

phần cấu tạo của CSR, theo đó “CSR của một DN là mức độ mà DN đó đáp ứng

những trách nhiệm về kinh tế, luật pháp, đạo đức và những trách nhiệm mang tính

tình nguyện khác mà những người liên quan mong đợi ở họ” (Maignan et al., 1999,

Maignan and Ferrell, 2000, Maignan and Ferrell, 2001, Galbreath, 2010) Trong đó,

Maignan và cộng sự cho rằng CSR là mức độ đáp ứng với đòi hỏi của xã hội nói

chung, như vậy, khái niệm này đã bao hàm thực hiện CSR của DN Nói cách khác,

khái niệm CSR cũng chính là khái niệm thực hiện CSR

2.2.2 Các hướng nghiên cứu về thực hiện TNXH trong các DN

Các nghiên cứu thường có hai hướng chính là các kiến thức lý thuyết CSR và

truyền thông, công bố CSR Những nghiên cứu hướng tới truyền thông, công bố CSR

thường nhắm tới tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng tới việc DN quyết định truyền thông,

công bố về mức độ thực hiện CSR tới những người liên quan (khách hàng, các nhà

hoạt động xã hội, các cơ quan quản lý nhà nước…) Ở góc độ khác, các nghiên cứu

về kiến thức lý thuyết CSR, thường được chú trọng hơn (Alcañiz et al., 2010), với

mối quan tâm chính của các nghiên cứu này là tìm hiểu xem những yếu tố nào ảnh

hưởng tới và bị ảnh hưởng bởi mức độ thực hiện CSR của các DN Các nghiên cứu

về kiến thức lý thuyết này lại được chia làm hai nhánh Đầu tiên là các nghiên cứu

dành sự quan tâm tới các yếu tố thúc đẩy DN thực hiện CSR (đầu vào của CSR), như

các nghiên cứu của: (Schouten et al., 2014); (Zheng and Zhang, 2016); (Zheng and Zhang, 2016); (El-Bassiouny and Letmathe, 2018); (Khurshid et al., 2018); (Pasricha

et al., 2018); (Shnayder and Rijnsoever, 2018)… Nhánh thứ hai là các nghiên cứu hướng sự tập trung vào kết quả của việc thực hiện CSR (đầu ra của CSR), như các nghiên cứu của: (Pérez and Bosque, 2013); (El-Kassar et al., 2017); (Wood et al., 2018) Mục tiêu là tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng tới việc thực hiện CSR của các DN, tác giả lựa chọn cách tiếp cận theo đầu vào, tức là đặt trọng tâm nghiên cứu xem có những nhân tố nào ảnh hưởng tới thực hiện CSR của các DN cho luận án của mình

2.2.3 Lý thuyết được sử dụng trong các nghiên cứu về thực hiện TNXH

2.2.3.1 Thuyết quản trị các bên liên quan của Freeman Theo Freeman thì các bên liên quan là “bất kỳ nhóm hay cá nhân nào bị ảnh hưởng bởi hoặc có thể ảnh hưởng tới việc đạt được mục tiêu của tổ chức” (Freeman

and McVea, 2001) Các bên liên quan có thể là cổ đông, nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, cộng đồng và các nhóm khác (Freeman and McVea, 2001) CSR của DN trong nền kinh tế đòi hỏi phải liên kết các hoạt động của DN với kỳ vọng về xã hội, kinh tế, môi trường của các bên liên quan (Kanji and Chopra, 2010) Theo Freeman thì chính các nghiên cứu về CSR đã nhấn mạnh vai trò của các bên liên quan và gây dựng mối quan hệ tốt đối với các nhóm, cá nhân này sẽ đảm bảo sự thành công lâu dài của DN (Freeman and McVea, 2001) Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các phong trào xã hội, các DN ít quan tâm tới các bên liên quan đã phải chịu những thiệt hại nặng nề Nên ngày càng nhiều DN tích hợp việc quản trị các bên liên quan thông qua thực hiện CSR vào mục tiêu hoạt động của mình (Freeman and McVea, 2001) Quan điểm này của Freeman nhận được sự đồng tình của một số nhà nghiên cứu, tiêu biểu cho những nghiên cứu đi theo hướng này, như: (Clarkson, 1995); (Decker, 2004); (Maignan and Ferrell, 2004)…

2.2.3.2 Mô hình TNXH kim tự tháp (CSR Pyramidal Model) của Carroll

Carroll đã đưa ra bốn khái niệm cấu thành CSR, gồm: trách nhiệm kinh tế, trách nhiệm luật pháp, trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm tình nguyện Kế thừa mô hình của Carroll, Maignan và cộng sự đã đưa ra quan điểm được nhiều sự ủng hộ các nhà nghiên cứu khác, phù hợp với yêu cầu đo lường CSR trên thực tế, đó là bốn thành phần cấu thành của CSR có vai trò như nhau (Maignan et al., 1999, Maignan and Ferrell, 2000, Galbreath, 2010) Đồng thời, Maignan và cộng sự cũng đưa ra định nghĩa về CSR, tạo cơ sở lý thuyết vững chắc cho các nghiên cứu sau này (Galbreath, 2010) Rất nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng mô hình kim tự tháp về CSR của Carroll trong các nghiên cứu của mình về thực hiện CSR ở các lĩnh vực khác nhau, ở các nền văn hóa khác nhau, như: (Wartick and Cochran, 1985); (Maignan et al., 1999); (Joyner and Payne, 2002); (Schwartz and Carroll, 2003); (Galbreath, 2010)…

2.2.3.3 Kết hợp sử dụng cả hai lý thuyết Mô hình kim tự tháp của Carroll và Quản trị các bên liên quan của Freeman

Trang 4

Luận án kế thừa cơ sở lý thuyết của cả hai lý thuyết nền tảng trên, với cốt lõi là

mô hình Kim tự tháp của Carroll về các thành phần cấu thành của thực hiện CSR

(Carroll, 1979), được điều chỉnh vai trò của các thành phần này trong tổng thể bởi

Maignan và cộng sự (Maignan et al., 1999, Maignan and Ferrell, 2000) Còn các nhân tố

tác động tới thực hiện CSR lại dựa trên cơ sở lý thuyết về Quản trị các bên liên quan của

Freeman Hầu hết các nghiên cứu tiếp cận theo mô hình kim tự tháp của Carroll đều đi

theo hướng kết hợp này ((Maignan et al., 1999); (Maignan and Ferrell, 2000); (Maignan

and Ferrell, 2001); (Joyner and Payne, 2002); (Schwartz and Carroll, 2003); (Galbreath,

2010)…) Tác giả đã quyết định lựa chọn mô hình của Carroll và định nghĩa có điều

chỉnh của Maignan và cộng sự về thực hiện CSR, kết hợp với lý thuyết quản trị các bên

liên quan của Freeman trong nghiên cứu làm nền tảng lý thuyết của mình

2.2.4 Tổng quan các nhân tố ảnh hưởng tới thực hiện CSR

2.2.4.1 Hoạch định chiến lược

Các bên liên quan, như khách hàng, nhà cung cấp, các tổ chức xã hội, các cơ

quan quản lý, cổ đông, người lao động… mong muốn hay tạo áp lực lên thực hiện

CSR của DN bằng việc yêu cầu các DN phải tăng cường hoạch định chiến lược

hướng tới họ (Galbreath, 2010, Carroll and Hoy, 1984) Thông qua đánh giá môi

trường cả bên trong và bên ngoài, DN sẽ tăng cường thực hiện một số vấn đề có tính

chất phi thị trường, như: hành xử có CSR với cộng đồng và môi trường tự nhiên

(Fineman and Clarke, 1996) Các DN phát triển các nghiên cứu về môi trường kinh

doanh, sau đó thể hiện vào trong định hướng chiến lược của mình và đồng thời đưa ra

các phản ứng phù hợp bằng cách thực hiện các CSR (Galbreath, 2010, Carroll and

Hoy, 1984, Burke and Logsdon, 1996) Hoạch định chiến lược được xem xét dưới hai

xu hướng quan trọng là: hoạch định chiến lược định hướng bên trong và hoạch định

chiến lược định hướng bên ngoài, đây cũng chính là hai thành phần quan trọng của

hoạch định chiến lược (Galbreath, 2010, Kalyar et al., 2012)

Nghiên cứu của Kalyar và cộng sự (2012) trên mẫu 172 nhà quản lý cấp cao ở

Pakistan đã kết luận, chiến lược định hướng bên trong ảnh hưởng ổn định và mạnh

mẽ (mạnh hơn so với hoạch định chiến lược định hướng bên ngoài) tới mức độ thực

hiện CSR của DN, với hệ số β chuẩn hóa = 392, p < 0.01 (Kalyar et al., 2012) Kết

quả tương tự về ảnh hưởng của hoạch định chiến lược là tích cực tới thực hiện CSR,

cũng được Torugsa và cộng sự khẳng định trong nghiên cứu tiến hành trên 171 DN

vừa và nhỏ ở Australia (Torugsa et al., 2012), hay nghiên cứu của Galbreath (2010)

cũng khẳng định hoạch định chiến lược, cụ thể là chiến lược định hướng bên trong và

định hướng bên ngoài đều có tác động (dù ở mức không cao, β chuẩn hóa lần lượt =

0.12 và 0.11, p < 0.05) tới mức độ thực hiện CSR của DN Nghiên cứu trên các DN

Ấn Độ cũng khẳng định thực hiện CSR của DN sẽ bị cản trở nếu DN không lập kế

hoạch chiến lược (Goyal and Kumar, 2017)

Trong khi, ở các nước phương Tây, vai trò của hoạch định chiến lược đối với thực hiện CSR được nghiên cứu khá nhiều, thì ở Việt Nam các nghiên cứu về CSR nói chung, theo hiểu biết của tác giả, kể cả các nghiên cứu về CSR đứng trên góc độ hoạch định chiến lược còn khá hạn chế

2.2.4.2 Văn hóa doanh nghiệp

Văn hóa DN cũng là một yếu tố ảnh hưởng mạnh tới thực hiện CSR của DN (Galbreath, 2010, Wood, 1991) Văn hóa DN đề cập đến các giá trị, niềm tin mà các thành viên của DN nắm giữ (Kalyar et al., 2012) Các giá trị này định hình mức độ thực hiện các hành vi kinh doanh có trách nhiệm hoặc vô trách nhiệm (Kalyar et al., 2012), phản ánh ý thức trách nhiệm với các bên liên quan là điều kiện, tiền đề cho

DN vừa thành công trong kinh doanh bền vững vừa đảm bảo hành vi đạo đức (Sinclair, 1993) Văn hóa DN cũng góp phần định hình lên các hành vi đạo đức trong quảng cáo, trong đối xử với người lao động, với chất lượng sản phẩm và dịch vụ cũng như ứng xử với khách hàng (Herndon et al., 2001) Văn hóa DN cùng với định hướng văn hóa nhân văn của DN ảnh hưởng tới hiệu suất tổng thể của DN và bao gồm hai phần quan trọng là định hướng văn hóa và cường độ văn hóa đều ảnh hưởng tới thực hiện CSR của DN (Galbreath, 2010) Hậu quả là nhu cầu và lợi ích của cộng đồng, của các bên liên quan nhiều khả năng bị bỏ qua và gắn với đó là một mức thực hiện CSR thấp (Galbreath, 2010, Kalyar et al., 2012) Văn hóa nhân văn mang tính xây dựng, hợp tác hơn là cạnh tranh, làm cho các mối quan hệ giữa các thành viên trong

DN và giữa DN với các bên liên quan trở nên hài hòa, dễ chịu hơn Do đó, khi văn hóa nhân văn được chú trọng, các thành viên và DN không chỉ quan tâm tới nhu cầu

và lợi ích riêng của họ mà còn quan tâm và thực hiện các hành vi mang lại lợi ích cho

xã hội và các bên liên quan (Galbreath, 2010) và đó là cơ sở của việc thực hiện CSR trong các DN (Kalyar et al., 2012)

Nghiên cứu của Kalyar và cộng sự (2012) đã chỉ ra rằng, yếu tố văn hóa nhân văn là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất tới mức độ thực hiện CSR của DN, với β = 642,

p < 0.001 (Kalyar et al., 2012) Kết quả nghiên cứu của Kalyar và cộng sự nhận được

sự ủng hộ của Galbreath (2010) khi nghiên cứu trên 3.000 DN ở Australia, cũng tương tự Galbreath thấy rằng nhân tố văn hóa nhân văn tác động mạnh nhất tới mức

độ thực hiện CSR của các DN (gồm 1500 DN dịch vụ và 1500 DN sản xuất) ở Úc, với β chuẩn hóa = 0.51, p < 0.01 Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của Bowrin trên bốn nước vùng Caribbean dường như lại không ủng hộ sự ảnh hưởng của văn hóa DN tới CSR và trách nhiệm công bố CSR (Bowrin, 2013)

Tran và Jeppesen (2016) trong nghiên cứu ở Việt Nam về CSR cũng đã đề cập tới sự ảnh hưởng của văn hóa DN tới thực hiện CSR của DN Tuy nhiên, theo các tác giả thì các kỳ vọng về văn hóa DN và xã hội chỉ ảnh hưởng tới các CSR không chính thức và nghiên cứu này mới chỉ dừng ở định tính (Tran and Jeppesen, 2016)

Trang 5

2.2.4.3 Thời gian hoạt động, số lượng lao động, doanh thu

Các DN lớn thường có xu hướng thực hiện CSR nhiều hơn, do họ có tác động

tới xã hội lớn hơn là các DN nhỏ (Cowen et al., 1987) Thường quy mô của DN được

thể hiện dưới hai góc độ chính, là số lượng lao động và quy mô vốn Hai yếu tố này lại

chịu tác động mạnh của thời gian hoạt động của DN, thời gian hoạt động của DN càng

dài thì quy mô của DN càng lớn (Zheng and Zhang, 2016) và thời gian hoạt động của

DN thường được tính bằng số năm hoạt động của DN (Pasricha et al., 2018) Các yếu tố

này thường đóng vai trò là các biến kiểm soát quan trọng ảnh hưởng tới thực hiện CSR

của DN (Pasricha et al., 2018, Schouten et al., 2014, Shnayder and Rijnsoever, 2018)

Ngoài ra, việc thực hiện CSR của các DN dệt may Việt Nam còn phụ thuộc nhiều vào

luật pháp của đất nước mà DN xuất khẩu sản phẩm, do đó, DN càng có quy mô doanh

thu lớn thì càng chịu sự tác động từ phía khách hàng, chính phủ của nước nhập khẩu về

thực hiện CSR (Galbreath, 2010, Maignan and Ferrell, 2000, Maignan et al., 1999) Như

vậy, có thể nói, với DN dệt may thì số lượng lao động, số năm hoạt động và doanh thu

có khả năng sẽ ảnh hưởng tới thực hiện CSR của DN

2.2.5 Khoảng trống nghiên cứu

Dường như các yếu tố đầu vào của CSR chưa được các nhà nghiên cứu trong

bối cảnh Việt Nam chú ý nhiều Phần lớn các nghiên cứu theo hiểu biết của tác giả đều

hướng trọng tâm vào nghiên cứu lợi ích của CSR như: CSR với hiệu quả hoạt động của

DN; CSR là nguyên nhân đưa đến sự bền vững trong tăng trưởng (Long, 2015); CSR

tăng cường khả năng quản trị DN (Luu, 2012a); CSR và truyền thông CSR (Bilowol and

Doan, 2015); CSR với thương hiệu (Luu, 2012b); CSR với tăng cường học tập và chia

sẻ tri thức, từ đó tăng khả năng cạnh tranh (Luu, 2013a, Luu, 2013b)… Ở Việt Nam,

nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng tới thực hiện CSR của DN nói chung, trong đó các

nhân tố như hoạch định chiến lược và văn hóa nhân văn của DN ảnh hưởng tới thực hiện

CSR nói riêng, vẫn là một khoảng trống cần phải có thêm các nghiên cứu để bổ sung các

hiểu biết về nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR trong DN

2.2.6 Mô hình, giả thuyết nghiên cứu và thang đo

2.2.6.1 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

H1: Hoạch định chiến lược bên ngoài ảnh hưởng tích cực tới thực hiện CSR

của DN trong Vinatex

H2: Hoạch định chiến lược bên trong ảnh hưởng tích cực tới thực hiện CSR

của DN trong Vinatex

H3: DN càng có mức độ thực hiện văn hóa nhân văn cao thì mức độ thực hiện

CSR của các DN trong Vinatex càng cao

2.2.6.2 Thang đo sử dụng trong nghiên cứu Hoạch định chiến lược định hướng bên ngoài: Có 8 thang đo; Hoạch định chiến lược định hướng bên trong: Có 8 thang đo; Văn hóa nhân văn của DN: Có 7 thang đo; Thực hiện CSR của DN: Có 5 thang đo

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Quy trình tiến hành nghiên cứu

Nghiên cứu sinh mô tả quy trình nghiên cứu gồm 6 bước (xem hình 3.1)

3.2 Thiết kế nghiên cứu định tính

3.2.1 Thiết kế phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu định tính được tiến hành bằng phương pháp phỏng vấn sâu, với đối tượng chính được xác định là các nhà quản lý cấp trung và cao của một số DN thuộc Vinatex Các đối tượng này được lựa chọn do có các hiểu biết sâu rộng về chiến lược,

về tổ chức, về các chương trình thực hiện CSR của DN, cũng như khả năng tiếp cận các thông tin liên quan mà nghiên cứu cần thăm dò (Tan and Tan, 2005); (Tuominena

et al., 2004); (Galbreath, 2010) Nghiên cứu định tính được thực hiện trong thời gian

2 tuần, với sự trợ giúp của phần mềm nghiên cứu định tính Nvivo 10; Nghiên cứu định lượng được thực hiện với toàn bộ 110 DN thuộc Vinatex

3.2.2 Mục tiêu của nghiên cứu định tính

Mục tiêu thứ nhất: Là kiểm tra và sàng lọc các biến độc lập trong mô hình lý

thuyết tác giả đã đề xuất và xác định sơ bộ mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến

phụ thuộc Mục tiêu thứ hai: Là thăm dò xem còn nhân tố nào trong bối cảnh Vinatex

còn tác động tới thực hiện CSR mà trong tổng quan chưa phát hiện ra Trường hợp, xuất hiện nhân tố mới, tác giả sẽ tổng quan lại để kiểm tra tính hợp lý của nhân tố và

đề xuất thang đo mới

3.2.3 Thu thập và xử lý thông tin

Thông tin được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn sâu, tác giả liên hệ với đối tượng phỏng vấn và hẹn lịch làm việc Các cuộc phỏng vấn được diễn ra ở các địa điểm và thời gian thuận tiện cho đối tượng, trong quá trình phỏng vấn tác giả đều xin phép được ghi âm Quá trình gỡ băng được tiến hành ngay, thường là buổi tối sau khi phỏng vấn và không quá 24 giờ kể từ khi kết thúc cuộc phỏng vấn Dữ liệu thu thập được đều chuyển vào phần mềm Nvivo 10 để chuẩn bị cho phân tích

3.2.4 Kết quả nghiên cứu định tính

3.2.4.1 Kiểm tra tính phù hợp của thang đo, xác định sơ bộ mối quan hệ giữa các biến độc lập và phụ thuộc

Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy, một số thang đo được các chuyên gia về chiến lược và các nhà quản lý cấp cao đề nghị điều chỉnh

Trang 6

3.2.4.2 Bổ sung thêm nhân tố mới

Trong quá trình thực hiện phỏng vấn sâu, với câu hỏi “Theo Anh/chị còn yếu tố

nào ảnh hưởng tới việc DN thực hiện CSR của DN mình mà chưa được phản ánh trong

bảng hỏi và nên được quan tâm đưa vào bảng hỏi?” Tác giả đã nhận được một số gợi ý

về hệ thống pháp luật và thực thi pháp luật Tác giả đã tiến hành tổng quan lại và nhận

thấy có một số nghiên cứu đã ủng hộ quan điểm này Do đó, tác giả đã mô phỏng ý

tưởng của đối tượng phỏng vấn sâu và đưa thêm một yếu tố là: Pháp luật và thực thi

pháp luật vào trong bảng hỏi Sau khi nghiên cứu định tính, với sự góp ý của các

chuyên gia và mô hình nghiên cứu dự kiến, tác giả đã chỉnh sửa mô hình nghiên cứu

chính thức, gồm 4 nhân tố ảnh hưởng, các giả thuyết nghiên cứu được viết lại như sau:

H1: Hoạch định chiến lược bên ngoài ảnh hưởng tích cực tới thực hiện CSR

của DN trong Vinatex

H2: Hoạch định chiến lược bên trong ảnh hưởng tích cực tới thực hiện CSR

của DN trong Vinatex

H3: Luật và thực thi pháp luật càng cao thì mức độ thực hiện CSR của DN

trong Vinatex càng cao

H4: DN càng có mức độ thực hiện văn hóa nhân văn cao thì mức độ thực hiện

CSR của DN trong Vinatex càng cao

Hình 3.2: Mô hình nghiên cứu chính thức

Nguồn: từ tổng quan và nghiên cứu định tính của tác giả

Bảng hỏi chính thức sau khi nhận được sự góp ý của các chuyên gia, được sử

dụng làm bảng hỏi chính thức trong nghiên cứu định lượng (bảng 3.3) Như vậy, sau

khi chỉnh sửa lại, bảng hỏi chính thức bao gồm bốn biến độc lập, một biến phụ thuộc

và có tổng cộng 24 biến quan sát Trong đó: Biến độc lập Hoạch định chiến lược định

hướng bên ngoài có 6 biến quan sát, từ BN1 đến BN6; Biến độc lập Hoạch định chiến

lược định hướng bên trong có 5 biến quan sát, từ BT1 tới BT5; Biến độc lập Luật và

thực thi Pháp luật có 4 biến quan sát, từ PL1 tới PL4; Biến độc lập Văn hóa nhân văn

Biến kiểm soát:

Số lượng lao động Doanh thu

Số năm hoạt động

Hoạch định chiến lược

định hướng bên ngoài

Hoạch định chiến lược

định hướng bên trong

Thực hiện trách nhiệm xã hội của các

DN thuộc Vinatex Văn hóa nhân văn của DN

Luật và thực thi pháp luật

của DN có 4 biến quan sát, từ VH1 tới VH4; Biến phụ thuộc Thực hiện CSR có 5 biến quan sát, từ TN1 tới TN5

Mô hình hồi quy mô tả các nhân tố ảnh hưởng thực hiện CSR của các DN thuộc Vinatex: Y = βo + β1*X1 + β2*X2 + + β4*X4 + e

3.3 Thiết kế nghiên cứu định lượng

3.3.1 Xác định kích thước mẫu

Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng lý thuyết chọn mẫu của Hair và cộng sự (Hair, 1998), với bảng hỏi gồm 24 thang đo, thì tối thiểu của nghiên cứu này là 24x5

= 120 phiếu Tuy nhiên, do tổng số DN thuộc Vinatex chỉ có 110 đơn vị, do đó tác giả tiến hành thu thập thông tin từ 110 DN thuộc Vinatex, mỗi DN phát ra 03 phiếu, kết quả thu về 322 phiếu trong đó có 04 phiếu không hợp lệ do điền thiếu thông tin,

do đó tổng số phiếu hợp lệ đạt 318 phiếu và thuộc 106 DN thuộc Vinatex Kết quả sau 04 lần phân tích nhân tố khám phá (EFA) đã loại trừ 03 thang đo của các biến độc lập, do vậy nghiên cứu chỉ còn tổng cộng 21 thang đo, với 106 DN được khảo sát nên

cỡ mẫu vẫn đảm bảo độ tin cậy trong phân tích nhân tố khám phá

3.3.2 Phương pháp xử lý dữ liệu

Phân tích nhân tố khám phá EFA; Tiến hành kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng

kỹ thuật Cronbach's Alpha; Phân tích số liệu thống kê; Phân tích tần số; Phân tích hồi quy

3.4 Phương pháp đánh giá thực trạng thực hiện TNXH và các nhân tố ảnh hưởng tới thực hiện TNXH tại các DN thuộc Vinatex

3.4.1 Phương pháp đánh giá thực trạng thực hiện CSR tại các DN thuộc Vinatex

Đánh giá “Thực trạng thực hiện CSR của các DN thuộc Vinatex” theo công thức sau: Mean Y = (MeanTN1 + MeanTN2 + MeanTN3 + MeanTN4 + MeanTN5)/5 Trong đó: Mean Y: Là điểm trung bình của “Thực trạng thực hiện CSR của các DN thuộc Vinatex”

3.4.2 Phương pháp đánh giá thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR tại các DN thuộc Vinatex

Các nhân tố ảnh hưởng cũng được đánh giá với thang đo 5 mức độ, giá trị của các nhân tố được tính theo giá trị trung bình của các biến quan sát và cũng được chia thành 5 khoảng tương ứng với 5 mức độ từ thấp đến cao và bề rộng mỗi khoảng là 0.8 đơn vị Khi

đó, tác giả sẽ căn cứ vào các mức độ ở trên để đưa ra những nhận xét, đánh giá và kết luận

về thực trạng các nhân tố ảnh hưởng tới thực hiện CSR tại các DN thuộc Vinatex

Trang 7

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Thực trạng thực hiện TNXH tại Tập đoàn Dệt may Việt Nam

4.1.1 Giới thiệu chung về Tập đoàn Dệt may Việt Nam

Lịch sử hình thành và phát triển.Tập đoàn đã hoàn thành công tác cổ phần

hóa và chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty cổ phần từ 29/01/2015 Vinatex

gồm có công ty mẹ, các đơn vị nghiên cứu đào tạo và 110 công ty con, công ty liên

kết là các công ty cổ phần Ngành nghề kinh doanh chính của Vinatex Sản xuất

kinh doanh, xuất nhập khẩu, đầu tư dệt may thời trang, nguyên liệu, phụ liệu, vật tư,

thiết bị, phụ tùng, hóa chất, thuốc nhuộm, thiết bị phụ tùng ngành dệt may thời trang;

chuyển giao công nghệ nghề dệt, sợi, nhuộm, may công nghiệp, nghề cơ khí, bảo trì,

quản lý công ty dệt may; Dịch vụ giám định, kiểm nghiệm, kiểm tra chất lượng sản

phẩm và nguyên phụ liệu dệt may, giống bông, giống cây trồng…Chiến lược phát

triển của Vinatex đến 2020 Vinatex tập trung phát triển theo hướng chuyên môn

hoá, hiện đại hoá, tạo ra bước nhảy vọt về giá trị gia tăng của sản phẩm dệt, may

thông qua việc thực hiện ba chương trình trồng bông, dệt vải chất lượng cao và đào

tạo nguồn nhân lực có tính quyết định đến sự phát triển bền vững, ổn định lâu dài của

ngành Dệt - May Việt Nam

4.1.2 Quan điểm thực hiện CSR tại Vinatex

Nâng cao hiệu quả các tài sản trí tuệ, trong đó xây dựng được những thương

hiệu dệt may mạnh, nâng cao và phát triển giá trị của các thương hiệu trong Tập đoàn

và bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh; Coi CSR là một chiến lược dài hạn

Cách tiếp cận chiến lược CSR có vai trò ngày càng quan trọng tới khả năng cạnh

tranh của các DN thuộc Vinatex, giúp tạo ra giá trị của DN, đồng thời chiếm được

lòng tin và sự tôn trọng của người tiêu dùng, đối tác nói riêng và cộng đồng xã hội

nói chung; Trách nhiệm với các vấn đề về môi trường, con người và xã hội là cốt lõi

của sự phát triển bền vững; nâng cao hiểu biết và thực hiện CSR nhằm tăng cường

liên kết với chuỗi cung ứng toàn cầu trong sản xuất bền vững; Lợi ích dài hạn của

CSR là cho chính nội bộ DN nên việc xây dựng VHDN trong Tập đoàn là ưu tiên

hàng đầu VHDN và đạo đức kinh doanh trong Tập đoàn được quán triệt xuyên suốt

qua việc tập trung vào cải thiện quan hệ công việc nhằm giảm bớt tai nạn, giảm tỷ lệ

nhân viên thôi việc, tăng năng suất lao động…

4.1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR trong các DN thuộc Vinatex

Hoạch định chiến lược phát triển cho cả 1 Tập đoàn kinh tế lớn đòi hỏi sự

chuẩn bị rất kỹ lưỡng, phải xem xét đến rất nhiều yếu tố Các yếu tố bên trong như là

hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, công nghệ đang sử dụng, sự sáng tạo của

nhân viên, văn hóa DN, phong cách của người lãnh đạo và thậm chí cả lợi ích của cả nhà đầu tư/cổ đông Các yếu tố bên ngoài như mức độ cạnh tranh, chất lượng sản phẩm, các vấn đề cộng đồng quan tâm Cùng 1 lúc Tập đoàn phải thực hiện tốt và đồng bộ nhiều nhiệm vụ, nên khi hoạch định chiến lược, Vinatex phải phân bổ các nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất, con người cân đối hài hòa (Ông Lê Nho Thướng)

Đề cập đến Văn hóa nhân văn của DN, đại diện lãnh đạo Công đoàn Tập đoàn, Ông Lê Nho Thướng cho rằng “vì cách hiểu, cách thực hành CSR trong các DN còn nhiều khác nhau nên để thực hiện CSR song song đó các DN cần xây dựng và thực hiện VHDN từ đó sẽ làm rõ nguyên tắc cơ bản trong các ứng xử Trong đó đạo đức

và vấn đề về tính nhân văn của đội ngũ lãnh đạo, của DN được xem là yếu tố tiên quyết ảnh hưởng đến các hoạt động của CSR” “Văn hóa nhân văn của lãnh đạo, của

DN là lắng nghe nguyện vọng của nhân viên, khuyến khích và thưởng phạt nhân viên hợp lý, dành thời gian và hỗ trợ nhân viên khi gặp khó khăn”

4.1.4 Thực hiện CSR trong các DN thuộc Vinatex

Ngành dệt may là một ngành có những đóng góp quan trọng cho các vấn đề toàn cầu như: tăng trưởng kinh tế, việc làm cho người lao động, phúc lợi cho cộng đồng… (White et al., 2017) Sản xuất hàng may mặc tạo ra những tác động tiêu cực tới môi trường, xã hội như: chất thải và ô nhiễm (vải vóc dư thừa, thuốc nhuộm vải, độc tố trong quá trình sản xuất vải tổng hợp, thuốc trừ sâu trong trồng bông và lanh…), sự lãng phí trong tiêu dùng (ngành thời trang được coi là một trong những ngành cổ súy cho văn hóa trọng tiêu dùng và sự xa hoa lãng phí), sự ảnh hưởng tiêu cực tới quyền con người, tiền lương và tiêu chuẩn lao động (đặc biệt là ở các nước đang phát triển) (Ma et al., 2015) Thực tế, tại Việt Nam khái niệm và thực hiện CSR

đã phát triển từ lâu trước khi được du nhập từ các nước phương Tây (Tran and Jeppesen, 2016) và đã được không ít các DN quan tâm thực hiện ở các mức độ khác nhau, trong đó điển hình có một số DN dệt may như:

4.1.4.1 Thực hiện CSR tại Công ty May Việt Tiến 4.1.4.2 Thực hiện CSR tại Tổng Công ty Đức Giang– CTCP (DUGARCO) 4.1.4.3 Thực hiện CSR tại Tổng công ty May 10 – CTCP

4.1.5 Những kết luận rút ra

Kinh nghiệm trong thực hiện CSR của các DN thuộc Vinatex như sau: Việc triển khai thực hiện CSR trong DN vừa là nhu cầu vừa là động lực phát triển bền vững cho DN trong thời gian tới Ngay từ khâu triển khai, nhận thức của lãnh đạo về CSR khá đầy đủ, họ đều xem CSR là thẻ thông hành có giá trị để lưu thông hàng hóa nhằm chiếm lĩnh thị trường trong khu vực và thế giới Sự quyết tâm cao của lãnh đạo

Trang 8

đã tạo sức lan tỏa cao đến tất cả thành viên trong DN Thực hiện CSR trong DN

không chỉ là khẩu hiệu mà là các hành động cụ thể, có ý nghĩa và giá trị thực

Hạn chế trong thực hiện CSR như: Thụ động (do buộc phải tuân thủ) và áp dụng

chưa đầy đủ các quy tắc ứng xử CoC, CoE Chưa thấy rõ được cơ hội và tính ưu việt của

thực hiện CSR nên quá trình triển khai thực hiện CSR còn mang tính bị động và đối phó,

chủ yếu tập trung vào DN làm hàng xuất khẩu, DN có đối tác là nước ngoài Thậm chí

CSR tại Việt Nam thường xuyên bị gạt ra ngoài trong nhiều hoạt động của DN và không

được đặt phù hợp với các mục tiêu kinh tế (Nguyen and Truong, 2016)

Nguyên nhân chủ yếu: Nhận thức và hiểu của các cấp quản lý về thực hiện

CSR trong một số DN, một số nhà lãnh đạo, quản lý thuộc Tập đoàn còn hạn chế,

chưa đầy đủ DN gặp khó khăn trong tuân thủ CSR là do mỗi nhà nhập khẩu lại có bộ

tiêu chuẩn CoC riêng Nguồn lực tài chính để đầu tư đổi mới công nghệ, cho bộ phận

R&D nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường không đủ nên không

thể triển khai nhanh được

4.2 Thực trạng thực hiện CSR và các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR tại

các DN thuộc Vinatex

4.2.1 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA các nhân tố ảnh hưởng đến thực

hiện TNXH các DN thuộc Vinatex

Bảng 4.1: Bảng tóm tắt các hệ số khi phân tích nhân tố lần 1

Lần

Tổng số

biến quan

sát

Số biến quan sát

bị loại

Hệ số

Phương sai trích

Số nhân

tố phân tích được

Nguồn: Kết quả xử lý số liệu trên phần mềm SPSS

Qua bảng số liệu cho thấy, hệ số KMO = 0.761 thỏa mãn điều kiện 0.5<KMO<1 và

giá trị Sig.=0.000 (bảng 4.1), do vậy các nhân tố phù hợp với dữ liệu khảo sát và các biến

quan sát có tương quan tuyến tính với nhân tố đại diện

Tổng phương sai được giải thích trong phân tích EFA lần 1 của 19 thang đo trong

nghiên cứu có giá trị phương sai trích đạt 77.016% với điểm dừng các nhân tố Eigenvalues

bằng 1.015 (bảng 4.2)

Bảng 4.3: Tóm tắt các hệ số khi phân tích nhân tố lần 2

Lần Tổng số biến

quan sát

Số biến quan sát bị loại

Hệ số

Phương sai trích

Số nhân tố phân tích được

Nguồn: Kết quả xử lý số liệu trên phần mềm SPSS

Qua bảng số liệu cho thấy, hệ số KMO = 0.768 thỏa mãn điều kiện 0.5<KMO<1 và

giá trị Sig.=0.000, tổng số biến quan sát là 18, số biến quan sát bị loại là 1, phương sai

trích là 75.212 và số nhân tố phân tích được là 6 Tổng phương sai được giải thích trong phân tích EFA lần 2 của 18 thang đo trong nghiên cứu có giá trị phương sai trích là 75.212% với điểm dừng các nhân tố Eigenvalues bằng 1.024 (bảng 4.4)

Bảng 4.5: Tóm tắt các hệ số khi phân tích nhân tố lần 3

Lần

Tổng số biến quan sát

Số biến quan sát

bị loại

Hệ số

Phương sai trích

Số nhân

tố phân tích được

Nguồn: Kết quả xử lý số liệu trên phần mềm SPSS

Khi tiến hành phân tích EFA lần thứ 3 thì hệ số KMO = 0.778 và giá trị Sig.=0.000, tổng số biến quan sát là 17, số biến bị loại là 1, giá trị phương sai trích là 72.400 và số nhân

tố phân tích là 5 Tổng phương sai được giải thích trong phân tích EFA lần 3 của 17 thang

đo trong nghiên cứu có giá trị phương sai trích là 72.400% với điểm dừng các nhân tố Eigenvalues bằng 1.026 (bảng 4.6)

Bảng 4.7: Tóm tắt các hệ số khi phân tích nhân tố lần 4 Lần Tổng số biến

quan sát

Số biến quan sát bị loại

Hệ số

Phương sai trích

Số nhân tố phân tích được

Nguồn: Kết quả xử lý số liệu trên phần mềm SPSS

Khi tiến hành phân tích EFA lần thứ 4 thu được hệ số KMO = 0.779 và giá trị Sig.=0.000, tổng số biến quan sát là 16, số biến quan sát bị loại là 1, phương sai trích là 69.922 và số nhân tố phân tích được là 4 Tổng phương sai được giải thích trong phân tích EFA lần 4 của 16 thang đo nghiên cứu có giá trị phương sai trích là 69.922% với điểm dừng các nhân tố Eigenvalues bằng 1.389 (bảng 4.8)

Như vậy, sau khi thu thập số liệu và phân tích cho thấy, các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện TNXH tại các DN thuộc Vinatex phù hợp với mô hình lý thuyết Để có thể tiến hành các bước nghiên cứu ứng dụng tiếp theo, các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện TNXH tại các

DN thuộc Tập đoàn Dệt may VN được mã hóa lại khái niệm và thang đo (bảng 4.9)

4.2.2 Kiểm định độ tin cậy thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR tại các DN thuộc Vinatex

Thang đo nhân tố “Hoạch định chiến lược định hướng bên ngoài” có hệ số Cronbach’s Alpha là 0.833>0.6, đạt yêu cầu Thang đo nhân tố “Hoạch định chiến lược định hướng bên trong” có 04 quan sát và hệ số Cronbach’s Alpha đạt 0.749>0.6 và hệ số tương quan biến tổng của cả 04 biến quan sát đều lớn hơn 0.3, các hệ số Cronbach’s Alpha nếu bỏ biến của các biến quan sát đều nhỏ hơn 0.749 nên đây là thang đo tốt và phù hợp Thang đo nhân tố “Luật và thực thi pháp luật” có hệ số Cronbach’s Alpha đạt 0.774>0.6 là thang đo phù hợp Thang đo nhân tố “Văn hóa nhân văn của DN” có hệ số Cronbach’s Alpha là 0.931>0.6 và có hệ số Cronbach’s Alpha nếu bỏ biến của các biến quan sát thành

Trang 9

phần cũng đều nhỏ hơn 0.931, hệ số tương quan biến tổng của các quan sát cũng đều lớn

hơn 0.3 nên không lợi bỏ biến nào và thang đo là phù hợp Thang đo nhân tố “Thực hiện

CSR” có hệ số Cronbach’s Alpha là 0.845>0.6 và hệ số Cronbach’s Alpha nếu bỏ biến của

cả 03 quan sát đều nhỏ hơn 0.845, cũng như hệ số tương quan biến tổng của các biến thành

phần đều lớn hơn 0.3 Do vậy, đây là thang đo tốt, có độ tin cậy và phù hợp

Tóm lại, kết quả kiểm định độ tin cậy của các thang đo nhân tố ảnh hưởng cho thấy

tất cả các chỉ tiêu đều có chỉ số Cronbach’s Alpha >0,6, thể hiện rằng các chỉ tiêu trên đều

đạt độ tin cậy, thích hợp được sử dụng trong phân tích nhân tố Cả 4 nhân tố được đề xuất

trong mô hình lý thuyết là các thành phần chính ảnh hưởng đến thực hiện CSR của các DN

thuộc Vinatex đều được giữ lại trong mô hình phân tích

4.2.3 Thống kê mô tả về thực hiện TNXH và các nhân tố ảnh hưởng đến thực

hiện CSR tại các DN thuộc Vinatex

4.2.3.1 Thống kê mô tả về thực hiện CSR tại các DN thuộc Vinatex

Giá trị trung bình nhân tố đạt 3.7774 điểm và giá trị trung bình các thang đo dao

động trong khoảng từ 3.675 – 3.870 điểm, tất cả đều thuộc mức 4 (Đồng ý)

Từ kết quả trên cho thấy, nhìn chung các DN thuộc Vinatex đã có ý thức tự giác

trong việc thực hiện CSR ở tất cả các mức độ trách nhiệm Trong đó, việc thực hiện CSR

kinh tế luôn được quan tâm thực hiện tốt nhất Mặt khác, các DN thuộc Vinatex không quá

phụ thuộc vào các quy định của pháp luật khi thực hiện các trách nhiệm về kinh tế, thực

hiện trách nhiệm pháp lý của các DN thuộc Vinatex mặc dù đã tương đối tốt nhưng cũng

cần được quan tâm hơn, bởi đó là những trách nhiệm mang tính chất bắt buộc mà DN cần

tuân thủ Bên cạnh đó, trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm tình nguyện cũng đã được các

DN thuộc Vinatex hết sức quan tâm và tự nguyện thực hiện với giá trị trung bình là 3.825

điểm và 3.802 điểm Ngoài ra, thực hiện CSR của các DN thuộc Vinatex cũng còn được thể

hiện trong ứng xử là luôn nỗ lực để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng Như vậy,

có thể nói, hiện nay ý thức về thực hiện CSR của các DN thuộc Vinatex là tương đối cao và

mang tính chất tự nguyện cao

4.2.3.2 Thống kê nhân tố Hoạch định chiến lược định hướng bên ngoài

Các biến quan sát được đánh giá ở mức độ trung bình với giá trị trung bình nhân tố

đạt 3.0164 điểm (ở mức 3, Nửa đồng ý, nửa không đồng ý) và giá trị trung bình các quan sát

dao động trong khoảng 2.831 – 3.195 điểm Trong đó, cao nhất là thang đo BN1 với giá trị

cao nhất đạt được là 3.195 điểm, còn thang đo thấp nhất là BN2 có giá trị trung bình đạt

2.831 điểm Kết quả này cho thấy, các vấn đề thuộc về môi trường bên ngoài ảnh hưởng

chưa thực sự rõ rệt tới hoạch định chiến lược của các DN thuộc Vinatex

4.2.3.3 Thống kê nhân tố Hoạch định chiến lược định hướng bên trong

Các biến quan sát được đánh giá ở mức độ tương đối cao với giá trị trung bình nhân

tố đạt 4.1455 điểm (ở mức 4, Đồng ý, và mức điểm này cũng tiệm cận mức 5) và giá trị

trung bình các quan sát cũng tương đối đều nhau và dao động trong khoảng 4.064 – 4.264 điểm Trong đó, cao nhất là thang đo BT1 với giá trị rất cao là 4.264 điểm, điều này cho thấy, các DN thuộc Vinatex đã luôn đánh giá cao và xem xét rất tỉ mỉ các nhân tố bên trong

DN khi tiến hành hoạch định chiến lược

4.2.3.4 Thống kê nhân tố Luật và thực thi pháp luật

Các DN thuộc Vinatex đánh giá cao vai trò của nhân tố “Luật và thực thi pháp luật” đối với việc thực hiện CSR của DN khi giá trị trung bình của nhân tố này đạt 4.258 điểm (Mức 5, Rất đồng ý) và giá trị trung bình của các thang đo cũng cao và dao động trong khoảng 4.221 – 4.308 điểm.Các DN thuộc Vinatex thực hiện tốt CSR thì vai trò của “Luật

và thực thi pháp luật” là hết sức cần thiết

4.2.3.5 Thống kê nhân tố Văn hóa nhân văn của DN

Giá trị trung bình nhân tố đạt 2.4643 điểm (Mức 3, nửa đồng ý, nửa không đồng ý), trong đó có 03 thang đo có giá trị trung bình thuộc mức 3 (Nửa đồng ý, nửa không đồng ý)

và một thang đo đạt ở mức 2 (ít đồng ý) Tại các DN thuộc Vinatex, văn hóa nhân văn chưa thực sự được đề cao, nhu cầu của các cá nhân trong DN ít được quan tâm vì thế việc giải quyết các xung đột, các vấn đề trong DN chưa thực sự mang tính chất xây dựng

4.3 Thực trạng mức độ tác động của các nhân tố ảnh hưởng thực hiện CSR tại các DN thuộc Vinatex

4.3.1 Kiểm định dữ liệu phân phối chuẩn

Kết quả phân tích cho thấy, Độ xiên của tất cả các biến quan sát cho các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR tại các DN thuộc Vinatex đều có giá trị trong khoảng từ -3 đến 3

Do vậy, có thể kết luận, dữ liệu thu thập được về các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện CSR tại các DN thuộc Vinatex tuân theo quy luật phân phối chuẩn, các biến trong mô hình có quan hệ tuyến tính và có thể sử dụng để tiến hành các phân tích hồi quy tuyến tính

4.3.2 Kiểm định mô hình nghiên cứu bằng phân tích hồi quy bội

Phân tích hồi quy nhằm mục đích kiểm định sự phụ thuộc của thực hiện CSR tại các

DN thuộc Vinatex vào các nhân tố đó Đồng thời mô hình hồi quy cũng có thể giúp xác định được vai trò của từng nhân tố tác động đến thực hiện CSR tại các DN thuộc Vinatex Giá trị của các nhân tố được dùng để chạy hồi quy là giá trị trung bình của các biến quan sát

đã được kiểm định

4.3.3 Xem xét ma trận hệ số tương quan

Trước khi tiến hành các phân tích hồi quy bội thì mối tương quan tuyến tính giữa các biến cần được xem xét Qua hệ số tương quan giữa biến “Thực hiện CSR tại các DN thuộc Vinatex” với các biến độc lập (bảng 4.17), có thể kết luận các biến độc

Trang 10

lập có thể đưa vào mô hình để giải thích cho thực hiện CSR tại các DN thuộc

Vinatex Ngoài ra hệ số tương quan giữa các biến độc lập có giá trị đáng kể nên mối

quan hệ giữa các biến này cần phải xem xét kỹ lưỡng trong phân tích hồi quy tuyến

tính bội nhằm tránh hiện tượng đa cộng tuyến

4.3.4 Dò tìm sự vi phạm giả định mô hình hồi quy

Tiếp theo trong phân tích cần kiểm định các giả định của mô hình hồi quy gồm các

phần dư phân phối chuẩn, không có mối quan hệ tương quan giữa các biến độc lập (đa cộng

tuyến) Như vậy, việc xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính giữa biến phụ thuộc (TN) với

các biến độc lập là hoàn toàn phù hợp (Xem phụ lục)

4.3.5 Xây dựng mô hình nghiên cứu thực hiện CSR tại các DN thuộc Vinatex

bằng phương pháp hồi quy bội

Bảng 4.18: Bảng kết quả hồi quy của mô hình thực hiện CSR tại các DN

thuộc Vinatex Model Summary b

định R2 R2 hiệu chỉnh Sai số chuẩn

của ước lượng Durbin-Watson

a Predictors: (Constant), Tbinh_VH, Tbinh_LP, Tbinh_BT, Tbinh_BN

b Dependent Variable: Tbinh_TN

Nguồn: Kết quả xử lý số liệu trên phần mềm SPSS

Kết quả phân tích hồi quy thu được cho thấy, trị số R = 0.629 nghĩa là mối quan hệ

giữa các biến trong mô hình tương đối chặt chẽ Hệ số xác định R2 = 0.396, điều này nói

lên độ thích hợp của mô hình là 39,6% hay nói cách khác thì 39,6% sự biến thiên của “Thực

hiện CSR tại các DN thuộc Vinatex” được giải thích bởi 04 nhân tố ảnh hưởng nêu trên

Bảng phân tích phương sai ANOVA (Bảng 4.19), giá trị F = 16.538 với mức ý nghĩa

Sig = 0.000 < 0.05, bước đầu cho thấy mô hình hồi quy tuyến tính phù hợp với tập dữ liệu và

có thể sử dụng được Để đánh giá việc mô hình hồi quy không vi phạm hiện tượng đa cộng

tuyến nghiên cứu xem xét hệ số phóng đại phương sai VIF Hệ số phóng đại phương sai VIF

(bảng 4.20) của tất cả các nhân tố đều nhỏ hơn 2, có thể kết luận rằng, mô hình hồi quy không

vi phạm hiện tượng đa cộng tuyến, tức là các biến độc lập có tương quan chặt chẽ với nhau

Từ kết quả phân tích hồi quy cho thấy, các nhân tố tác động đều có ý nghĩa trong mô

hình (Sig.<0.05) và có tác động tới thực hiện CSR tại các DN thuộc Vinatex Trong đó, cả

bốn biến trong mô hình đều tác động cùng chiều và tỉ lệ thuận với biến phụ thuộc (các hệ số

hồi quy đều mang dấu dương) Hệ số hồi quy của các biến trong mô hình có giá trị báo cáo

lần lượt là: (1) BN: Hoạch định chiến lược định hướng bên ngoài đạt 0.218; (2) BT: Hoạch

định chiến lược định hướng bên trong đạt 0.185; (3) LP: Luật và thực thi pháp luật đạt 0.149; (4) VH: Văn hóa nhân văn của DN đạt 0.123

Kết quả phân tích hồi quy có mô hình:

TN = 0.218BN + 0.185BT + 0.149LP + 0.123VH + 1.419 + e

4.3.6 Phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tác động tới thực hiện CSR tại các DN thuộc Vinatex

Mô hình trên giải thích được 37,2% (R2 hiệu chỉnh = 0.372) sự thay đổi của thực hiện CSR tại các DN thuộc Vinatex là do các biến độc lập trong mô hình tạo ra, còn lại 62,8% sự thay đổi được giải thích bởi các nhân tố khác ngoài mô hình

Mô hình cho thấy có 04 biến độc lập tác động thuận chiều tới thực hiện CSR tại các

DN thuộc Vinatex và ở mức độ tin cậy đạt không dưới 97,3% (MaxSig=0.027) Nghiên cứu xem xét hệ số ước lượng đã chuẩn hóa (Beta) để xác định vị trí ảnh hưởng của các biến độc lập đến thực hiện CSR tại các DN thuộc Vinatex Các hệ số này có thể chuyển hóa dưới dạng phần trăm như trình bày ở bảng 4.12 Kết quả số liệu cho thấy các nhân tố tác động tới thực hiện CSR tại các DN thuộc Vinatex có thể xếp theo tứ tự tác động từ cao xuống thấp như sau: Mức tác động mạnh nhất là “Hoạch định chiến lược định hướng bên ngoài” có β1

= 0.253 chiếm 28,95%; xếp thứ hai là “Hoạch định chiến lược định hướng bên trong” có β2

= 0.216 chiếm 24,71%; thứ ba là “Văn hóa nhân văn của DN” có β4 = 0.203 chiếm 23,23%; cuối cùng là “Luật và thực thi pháp luật” có β3 = 0.202 chiếm 23,11%

4.4 Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu

Để kiểm định các giả thuyết nghiên cứu, tác giả tiến hành kiểm định sự khác không của các hệ số hồi quy β1, β2, β3, β4 tương ứng với các giả thuyết H1, H2, H3, H4 (Bảng 4.23) Tổng hợp kết quả kiểm định mô hình hồi quy với 04 biến độc lập và 01 biến phụ thuộc Bảng 4.23 cho thấy các giả thuyết H1, H2, H3, H4 đều được chấp nhận Từ những phân tích trên, có thể kết luận mô hình nghiên cứu lý thuyết thích hợp với dữ liệu nghiên cứu Kết quả kiểm định mô hình nghiên cứu của các nhân tố ảnh hưởng là Hoạch định chiến lược định hướng bên ngoài, Hoạch định chiến lược định hướng bên trong; Luật và thực thi pháp luật; Văn hóa nhân văn của DN hệ số Beta là 0.253;0.216; 0.202 và 0.203

Như vậy có thể thấy, để tăng cường thực hiện CSR của các DN thuộc Vinatex thì ngay từ bước hoạch định chiến lược mà cụ thể là từ khi thiết lập các mục tiêu, sứ mệnh của

DN, bản thân các DN thuộc Vinatex cần phải đánh giá đúng vai trò của các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài ảnh hưởng tới hoạch định chiến lược của DN, qua đó gián tiếp tác động mạnh lên ý thức thực hiện CSR Bên cạnh đó, Văn hóa nhân văn của DN cũng cần được quan tâm nhiều hơn, bởi vì các DN thuộc Vinatex đã sớm ý thức được vai trò quan trọng của nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực chất lượng cao thì cần thiết phải quan tâm đến nhu cầu

cá nhân của nhân viên, văn hóa cá nhân của họ, coi trọng những ý tưởng và đóng góp của họ

Ngày đăng: 10/09/2019, 10:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm