Trong bối cảnh tiến hành nghiên cứu của chúng tôi, E-Learning là cho phép học tập, học tập trong một thế giới ảo mà ở đó công nghệ kết hợp với óc sáng tạo của con người để thúc đẩy và tá
Trang 1DỮ LIỆU MICROSOFT ACCESS”, SGK TIN HỌC 12
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sư phạm tin học
Trang 2DỮ LIỆU MICROSOFT ACCESS”, SGK TIN HỌC 12
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Sư phạm Tin học
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN NGỌC TÚ
HÀ NỘI - 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo – TS Nguyễn Ngọc Tú, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô giáo trong Viện Công nghệ thông tin trường Đại học sư phạm Hà Nội 2 đã giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ em để em có thể hoàn thành khóa luận này
Trong quá trình thực hiện đề tài, do thời gian có hạn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng như kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên bài khóa luận tốt nghiệp của em chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót nên em rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy, cô và các bạn sinh viên để khóa luận của em được hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2019
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Hồng Liễu
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận tốt nghiệp được hoàn thành là kết quả của bản thân em trong
quá trình học tập và nghiên cứu Cùng với sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô
giáo trong viện CNTT trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là sự hướng
dẫn tận tình của thầy giáo – TS Nguyễn Ngọc Tú
Em xin cam đoan kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực
Hà Nội, tháng 05 năm 2019
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Hồng Liễu
Trang 5DANH SÁCH THUẬT NGỮ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
Trang 6DANH SÁCH THUẬT NGỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
B-Learning Blended Learning Dạy học kết hợp
CBT Computer Based Training Đào tạo dựa trên máy
tính E-Learning Electronic Learning Dạy học trực tuyến
LMS Learning Management System Hệ thống quản lý học
tập
LCMS Learning Content Management
System
Hệ thống quản lý nội dung học tập
F2F Face-to-face Học tập ở dạng giáp
mặt WBT Web Based Training Đào tạo dựa trên web
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 4
1.1 Dạy học trực tuyến (E-Learning) 4
1.1.1 Lịch sử phát triển 4
1.1.2 Khái niệm và phân loại 5
1.1.3 Các chuẩn của E-Learning 10
1.1.4 Ưu và nhược điểm của E-Learning 15
1.1.5 Các nguyên tắc khi thiết kế bài giảng E-Learning 19
1.2 Dạy học kết hợp (B-Learning) 21
1.2.1 Khái niệm 21
1.2.2 Đặc điểm của B-Learning 22
1.2.3 Tiêu chuẩn khi thiết kế B-Learning 24
1.2.4 Nguyên tắc thiết kế B-Learning 26
1.2.5 Các mô hình học tập B-Learning 28
1.3 Mô hình “Lớp học đảo ngược” (Flipped Classroom – FL) 30
1.3.1 Khái niệm 30
1.3.2 Cách thức tổ chức mô hình lớp học đảo ngược 33
1.3.3 Khó khăn và thách thức khi sử dụng mô hình lớp học đảo ngược đối với giáo viên 36
1.3.4 Các bước tạo bài giảng bằng mô hình lớp học đảo ngược 38
1.3.5 Một số lưu ý về mô hình lớp học đảo ngược 38
CHƯƠNG 2 ÁP DỤNG MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC TRONG DẠY HỌC NỘI DUNG “HỆ QUẢN TRỊ CƠ SỞ DỮ LIỆU MICROSOFT ACCESS”, CHƯƠNG 2 SÁCH GIÁO KHOA TIN HỌC 12 40
2.1 Cấu trúc và nội dung 40
Trang 82.2 Mục tiêu 41
2.2.1 Kiến thức 41
2.2.2 Kỹ năng 42
2.2.3 Thái độ 42
2.3 Thiết kế nội dung theo mô hình “Lớp học đảo ngược” 42
2.3.1 Đề xuất kế hoạch 42
2.3.2 Yêu cầu đối với Giáo viên và Học sinh 47
2.3.3 Kế hoạch dạy học chi tiết 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
PHỤ LỤC 74
Trang 9DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1.1: So sánh lớp học truyền thống và lớp học đảo ngược 33
Bảng 2.1: Phân phối chương trình Chương 2 – Tin học 12 41
Bảng 2.2: Đề xuất phân phối chương trình Chương 2 – Tin học 12 44
DANH SÁCH HÌNH Hình 1.1: Mô hình hệ thống E-Learning 8
Hình 1.2: Quy trình B-Learning 27
Hình 1.3: Quy trình chung dạy học theo mô hình “Lớp học đảo ngược” 33
Hình 2.1: Tiến trình dạy học theo mô hình “Lớp học đảo ngược” 45
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thực tế dạy học ngày nay cho thấy, cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ và sự bùng nổ của công nghệ thông tin, HS được tiếp cận với lượng tri thức rất phong phú và đa dạng từ rất nhiều nguồn cung cấp khác nhau Do đó, các em HS có nhu cầu khám phá thế giới xung quanh rất lớn Vì vậy, trong dạy học ngoài cung cấp cho các em các tri thức mà còn cần phải giúp các em có phương pháp học tập đúng đắn, giúp các em phát triển năng lực sáng tạo, tính độc lập, tự chủ của bản thân Để thực hiện điều này, giáo dục chúng ta cũng phải thay đổi và cụ thể hơn là chúng ta cần đổi mới phương pháp dạy học
Định hướng đổi mới phương pháp dạy – học đã được xác định trong nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1 – 1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12 – 1996), được thể chế hóa trong luật Giáo dục (12 – 1998), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo Luật Giáo dục, điều 24.2 đã ghi:
“Phương pháp giáo dục phải phát huy tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của
HS, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp
tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn tác động tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS” Trong đó, việc thay đổi phương pháp dạy học môn Tin là điều quan trọng và cần thiết Bởi vì, xã hội chúng ta đang trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 – kỷ nguyên của công nghệ thông tin Nó ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực đời sống và giáo dục không là một ngoại lệ Đặc biệt với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin như hiện nay, công nghệ thông tin là một công cụ hỗ trợ đắc lực không thể thiếu cho công tác đổi mới phương pháp dạy học CNTT phát triển ra đời dạy học trực tuyến (E-Learning) giúp việc học trở nên vô cùng dễ dàng, tiếp thu những lợi ích của E-Learning mang lại việc sử dụng công nghệ kết hợp với phương pháp dạy học truyền thống (Blended Learning) đang ngày càng phát triển và phổ biến trên thế giới Một trong những mô hình B-Learning là mô hình “Lớp học đảo ngược”
Trang 11(Flipped Classroom), mô hình này là một trong những mô hình giúp HS có khả năng tự học cao và HS có nhiều thời gian thực hành trên lớp hơn qua đó sẽ phát huy được tính sáng tạo của HS
Ngoài ra mô hình “Lớp học đảo ngược” rất phù hợp với đặc thù của môn Tin học là thực hành, thao tác nhiều nên việc dạy cho HS nắm được, hiểu sâu về bản chất, nội dung thao tác, quy trình là điều vô cùng quan trọng
Từ đó, tôi chọn đề tài “Lớp học đảo ngược”: Lý thuyết và ứng dụng trong dạy học nội dung “Hệ quản trị cơ sở dữ liệu Microsoft Access” sách giáo khoa Tin học lớp 12 làm đề tài khóa luận của mình, để hiểu và áp dụng mô hình vào nội dung học dạy học ở trường THPT để có những tiết học hứng thú và hiệu quả hơn
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lí luận về dạy học trực tuyến (E-Learning), dạy học kết hợp (Blended Learning – B-Learning) và một trường hợp cụ thể lớp học đảo ngược (Flipped Classroom) Nghiên cứu chương trình, SGK Tin học hiện hành ở bậc THPT của Việt Nam, nhằm tìm cách áp dụng các hình thức trên vào thực tiễn dạy học một cách phù hợp
Áp dụng mô hình “Lớp học đảo ngược” vào dạy học một nội dung cụ thể
ở cấp THPT: “Hệ quản trị cơ sở dữ liệu Microsoft Access”, chương 2 SGK Tin học 12
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu lí luận về dạy học trực tuyến, dạy học kết hợp, lớp học đảo ngược và các phương pháp dạy học tích cực phù hợp
Nghiên cứu áp dụng mô hình “Lớp học đảo ngược” và bối cảnh Nhà trường Việt Nam với một nội dung dạy học cụ thể
Trang 123 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Các hình thức dạy học trực tuyến, dạy học kết hợp: khái niệm, lịch sử hình thành, phân loại, nguyên tắc,… và một trường hợp riêng: “Lớp học đảo ngược”
Chương trình Tin học 12 THPT của Việt Nam: nội dung, phân phối, chuẩn kiến thức – kỹ năng, SGK và một nội dung dạy học cụ thể: “Hệ quản trị cơ sở dữ liệu Microsoft Access”
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp tiên nghiệm
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp thực nghiệm khoa học
5 Nội dung chính của đề tài
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Áp dụng mô hình “Lớp học đảo ngược” trong dạy học nội dung “Hệ quản trị cơ sở dữ liệu Microsoft Access”, chương 2 sách giáo khoa Tin học
12
Trang 13CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Dạy học trực tuyến (E-Learning)
1.1.1 Lịch sử phát triển
Thuật ngữ E-Learning đã trở nên quen thuộc trên thế giới trong vài thập
kỷ gần đây Cùng với sự phát triển của CNTT và mạng truyền thông, các phương thức giáo dục, đào tạo ngày càng phát triển và cải tiến nhằm nâng cao chất lượng, tiết kiệm thời gian và tiền bạc cho người học Ngay từ khi ra đời, E-Learning đã xâm nhập và hầu hết các hạt động huấn luyện đào tạo của các nước trên thế giới Điều đó chứng minh sự thành công của các hệ thống giáo dục hiện đại có sử dụng phương pháp E-Learning
Quá trình phát triển của E-Learning có thể chia thành các thời kỳ như sau: Trước năm 1983: Thời kỳ này máy tính chưa sử dụng rộng rãi, phương pháp giáo dục “Lấy giáo viên làm trung tâm” là phương pháp phổ biến nhất trong các trường học Học sinh chỉ có thể trao đổi tập trung kiến thức xung quanh giáo viên và các bạn học Học sinh thụ động tiếp nhận kiến thức từ giáo viên
Giai đoạn 1984 – 1993: Sự ra đời của hệ điều hành Windows, máy tính, phần mềm trình chiếu PowerPoint cùng các công cụ đa phương tiện khác đã mở
ra một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên đa phương tiện Những công cụ này cho phép tạo ra các bài giảng có tích hợp hình ảnh và âm thanh dựa trên công nghệ CBT (Computer Bases Training) Bài học được phân phối đến người học qua đĩa
CD – ROM hoặc đĩa mềm Vào bất kỳ thời gian nào, ở đâu, người học cũng có thể mua và tự học Tuy nhiên sự hướng dẫn của giáo viên chỉ là rất hạn chế
Giai đoạn 1994 – 1999: Công nghệ Web ra đời, các nhà cung cấp dịch vụ đào tạo bắt đầu nghiên cứu thách thức cải tiến phương pháp giáo dục bằng công nghệ này Các chương trình: E-mail, Web, trình duyệt,… bắt đầu trở nên phổ biến đã làm thay đổi bộ mặt của đào tạo bằng đa phương tiện
Giai đoạn trong những năm 2000: Công nghệ truy nhập mạng và băng
Trang 14một cuộc cách mạng trong giáo dục đào tạo Ngày nay thông qua Web giáo viên
có thể kết hợp hướng dẫn trực tuyến (hình ảnh, âm thanh, các công cụ trình diễn) tới mọi người học, nâng cao hơn chất lượng dịch vụ đào tạo Càng ngày công nghệ Web càng phát triển và càng chứng tỏ có khả năng mang lại hiệu quả cao trong giáo dục đào tạo, cho phép đa dạng hóa các môi trường học tập Tất cả những điều đó đã tạo ra cuộc cách mạng trong đào tạo với chất lượng cao và hiệu quả Đó chính là làn sóng của E-Learning và hiện nay chúng ta đang ở trong giai đoạn của làn sóng này Cùng với xu hướng chung của thế giới, ở Việt Nam, E-Learning cũng đã được một số cơ quan tổ chức đào tạo truyền bá và triển khai ứng dụng Trên mạng Internet có hàng trăm trang Web cung cấp dịch vụ đào tạo theo mô hình E-Learning
Vào khoảng năm 2010 trở đi, sự bùng nổ về công nghệ ứng dụng trên các nền tảng di động hay sự phát triển vượt bậc của một thế hệ mạng xã hội mới như Facebook, Google, Instagram,… đã làm cho hệ thống tương tác thông tin với người sử dụng Internet trở nên phong phú hơn bao giờ hết Qua đó, các phương thức tương tác trên môi trường đào tạo trực tuyến cũng có những chuyển biến thay đổi rõ rệt nhằm phù hợp hơn với người sử dụng Các ứng dụng di động kết nối Internet cho phép người học tương tác trong môi trường E-Learning mọi lúc, mọi nơi
1.1.2 Khái niệm và phân loại
bộ (LAN)
Trang 15Ở một khía cạnh rộng hơn, E-Learning được hiểu như môi trường học tập
tổ hợp các công nghệ lưu trữ, mã hóa và truyền tải dữ liệu Ở môi trường này, ngoài việc người học và giáo viên có thể tương tác với nhau, hoặc tương tác với
hệ thống học trực tuyến Người học có thể lựa chọn cho mình những phương pháp học tập cũng như chọn các công cụ hỗ trợ tiến trình học tập sao cho đạt hiệu quả cao nhất
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về E-Learning:
“E-Learning là sử dụng các công nghệ Web và Internet trong học tập” [1]
“E-Learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông” (Compare Infobase Inc)
“Việc phân phối các hoạt động, quá trình và sự kiện đào tạo và học tập thông qua các phương tiện điện tử như Internet, Extranet, CD – ROM, video tape, DVD, TV, các thiết bị cá nhân…” [2]
“E-Learning nghĩa là việc học tập hay đào tạo được chuẩn bị, phân phối hoặc quản lý sử dụng nhiều công cụ của công nghệ thông tin, truyền thông khác nhau và đưa thực hiện mức cục bộ hay toàn cục” [3]
“Việc học tập được phân phối hoặc hỗ trợ qua công nghệ điện tử Việc phân phối qua nhiều kỹ thuật khác nhau như Internet, TV, video tape, các hệ thống giảng dạy thông minh và việc đào tạo dựa trên máy tính (CBT)” (Sun Microsystem, Inc)
“E-Learning là một vài hành động hoặc quá trình ảo đã có được dữ liệu, thông tin, kỹ năng hoặc kiến thức Trong bối cảnh tiến hành nghiên cứu của chúng tôi, E-Learning là cho phép học tập, học tập trong một thế giới ảo mà ở đó công nghệ kết hợp với óc sáng tạo của con người để thúc đẩy và tác động phát triển nhanh chóng và ứng dụng kiến thức sâu rộng.”
“E-Learning là tất cả những hoạt động dựa vào máy tính và Intenet để hỗ trợ dạy và học cả ở trên lớp và ở từ xa” [4]
Theo PGS.TS Lê Huy Hoàng, “E - Learning là một loại hình đào tạo chính qui hay không chính qui hướng tới thực hiện tốt mục tiêu học tập, trong đó
Trang 16có sự tương tác trực tiếp giữa người dạy với người học cũng như giữa cộng đồng học tập một cách thuận lợi thông qua công nghệ thông tin và truyền thống.”
Như vậy có thể thấy rằng, dù có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về E-Learning nhưng chúng ta có thể hiểu đơn giản E-Learning là việc học hoàn toàn được thực hiện thông qua các thiết bị được kết nối với Internet và không cần đến lớp như lớp học truyền thống
E-Learning sẽ trở thành xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức và nó đem lại rất nhiều sự mới lạ cho nền giáo dục, như Luskin 2010 viết, ““E” trong thuật ngữ E-Learning được hiểu là “exciting, energetic, enthusiastic, emotional, extended, excellent và educational” – nghĩa là “học tập thú vị, năng động, nhiệt tình, cảm xúc, mở rộng, tuyệt vời và có giáo duc” [20]
Hiện nay, E-Learning đang thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nước trên thế giới với rất nhiều tổ chức, công ty hoạt động trong lĩnh vực E-Learning ra đời
Các kiểu trao đổi thông tin trong E-Learning:
Một – Một: Học sinh với học sinh, học sinh với giáo viên hoặc giáo viên với học sinh
Một – Nhiều: Giáo viên với các học sinh, học sinh với các học sinh khác
Nhiều – Một: Các học sinh với giáo viên, các học sinh với một học sinh Nhiều – Nhiều: Các học sinh với các học sinh, các học sinh với các học sinh và giáo viên
1.1.2.2 Phân loại E-Learning
Mô hình hệ thống E-Learning
Trung tâm của hệ thống E-Learning là hệ thống quản lý học tập LMS (Learning Management System) Theo đó người dạy, người học và người quản trị hệ thống đều truy cập vào hệ thống này với những mục tiêu khác nhau đảm bảo hệ thống hoạt động ổn định và việc dạy học diễn ra hiệu quả
Trang 17Để tạo và quản lý một khóa học, người dạy ngoài việc làm trực tiếp trên
hệ thống quản lý học tập, còn cần sử dụng các công cụ xây dựng nội dung học tập (Authoring Tools) để thiết kế, xây dựng nội dung khóa học và được đóng gói theo chuẩn (thường chuẩn là SCORM) gửi tới hệ thống quản lý học tập Trong một số trường hợp, nội dung khóa học có thể được thiết kế và xây dựng trực tiếp không cần các công cụ Authoring Tools Những hệ thống làm được việc đó có tên là hệ thống quản lý nội dung hoc tập LCMS (Learning Content Management System)
Hình 1.1: Mô hình hệ thống E-Learning
Trang 18Các dạng của E-Learning
Đào tạo dựa trên công nghệ (TBT – Technology Based Training): Là
hình thức đào tạo có sự áp dụng công nghệ, đặc biệt là dựa trên công nghệ thông tin
Đào tạo dựa trên máy tính (CBT – Computer Based Training)
Nghĩa rộng: Thuật ngữ này nói đến bất kỳ hình thức đào tạo nào có sử dụng máy tính
Nghĩa hẹp: Nói đến các ứng dụng (phần mềm) đào tạo trên các đĩa
CD – ROM hoặc cài trên các máy tính độc lập, không nối mạng, không có giao tiếp với thế giới bên ngoài Thuật ngữ này được hiểu đồng nhất với thuật ngữ CD–ROM Based Training
Đào tạo dựa trên web (WBT – Web Based Training): Là hình thức đào
tạo sử dụng công nghệ Web Nội dung học, các thông tin quản lý khóa học, thông tin về người học được lưu trữ trên máy chủ và người dùng có thể giao tiếp với nhau và với giáo viên, sử dụng các chức năng trao đổi trực tiếp, diễn đàn, e-mail,… thậm chí có thể nghe được giọng nói và nhìn thấy hình ảnh của người giao tiếp với mình
Đào tạo trực tuyến (Online Learning Training): Là hình thức đào tạo
có sử dụng kết nối mạng để thực hiện việc học chẳng hạn như lấy tài liệu học, giao tiếp giữa người học với nhau và với giáo viên…
Đào tạo từ xa (Distance Learning): Thuật ngữ này nói đến hình thức đào
tạo trong đó người dạy và người học không ở cùng một chỗ, thậm chí không ở cùng một địa điểm Ví dụ như việc đào tạo sử dụng công nghệ hội thảo cầu truyền hình hoặc công nghệ Web
Các loại hình trong E-Learning
Các loại hình trong E-Learning bao gồm:
- Dạng tự học (Standalone courses)
- Dạng lớp học ảo (Virtual Classroom courses)
Trang 19- Dạng trò chơi và mô phỏng (Learning games and simmulations)
- Dạng nhúng (Embeded E-Learning)
- Dạng kết hợp (Blended learning)
- Dạng di động (Mobile learning)
- Tri thức trực tuyến (Knowledge management)
Dạng tự học (Standalone courses): Khóa học được thực hiện bằng chính
người học mà không cần ai hướng dẫn hay học cùng bạn Người học có thể vào trang Web của môn học cần học xem tài liệu và làm bài tập có sẵn
Dạng lớp học ảo (Virtual Classroom courses): Là lớp học trực tuyến có
cấu trúc như một lớp học bình thường Có thể có hoặc không các cuộc họp trực tuyến
Dạng trò chơi và mô phỏng (Learning games and simmulations): Học
bằng cách thực hiện các trò chơi hay mô phỏng mà yêu cầu người học thăm dò
và dẫn đến khám phá những kiến thức mới
Dạng nhúng (Embeded E-Learning): E-Learning bao gồm trong hệ thống
khác, chẳng hạn như một chương trình máy tính, quy trình chuẩn đoán hoặc trợ giúp trực tuyến
Dạng kết hợp (Blended Learning): Sử dụng các hình thức học tập để hoàn
thành một mục tiêu duy nhất Có thể trộn lớp học và các hình thức E-Learning với các dạng E-Learning với nhau
Dạng di động (Mobile Learning): Học nhiều điều trong khi đang di
chuyển Được trợ giúp bởi các thiết bị di động như PDA (Personal Digital Assistant) và điện thoại di động thông minh
Tri thức trực tuyến (Knowledge management): Thông qua E-Learning ta
có thể sử dụng các tài liệu trực tuyến và các phương tiện truyền thông để giáo dục toàn dân hoặc một tổ chức chứ không riêng một cá nhân nào
1.1.3 Các chuẩn của E-Learning
Trang 20“Các thỏa thuận trên văn bản chứa các đặc tả kỹ thuật hoặc các tiêu chí chính xác khác được sử dụng một cách hệ thống như các luật, các chỉ dẫn hoặc các định nghĩa các đặc trưng, để đảm bảo các vật liệu, sản phẩm, quá trình và các dịch vụ phù hợp với mục đích của chúng.”
Sự khác nhau giữa chuẩn và đặc tả: Một lỗi thường gặp là nhầm lẫn giữa thuật ngữ “Chuẩn” (Standarrd) và “Đặc tả” (Speccification) Theo IEEE sự khác biệt này được giải thích như sau:
Chuẩn là một đặc tả được phát triển và công nhận bởi các ủy ban được công nhận trên thế giới, các tổ chức này gọi là Standards Development Organization (SDO), ví dụ như: IEEE (Insitute Electrical and Electronics Engineers), ISO (International Standard Organization), ANSI, CSA, CEN,…
Đặc tả được phát triển bởi các ủy ban được công nhận bởi thế giới một vài ví dụ về các ủy ban như sau: IEFT (Internet Engineering Task Force), W3C (World Wide Web Consortium), OMG (Object Management Group)
Trong hệ thống E-Learning, các chuẩn đảm bảo cho chúng ta có thể trao đổi thông tin hay sử dụng lại các đối tượng
Nhờ có chuẩn, toàn bộ thị trường E-Learning (người bán công cụ, khách hàng, người phát triển nội dung) sẽ tìm được tiếng nói chung, hợp tác với nhau được cả về mặt kỹ thuật và mặt phương pháp Các chuẩn hỗ trợ linh hoạt trong
hệ thống học
Wayne Hodgins [5] đã khẳng định rằng chuẩn E-Learning có thể giúp chúng ta giải quyết được những vấn đề sau:
Khả năng truy cập được (Accessibility): truy cập nội dung học tập từ một
nơi xa và phân phối cho nhiều nơi khác
Tính khả chuyển (Interoperability): sử dụng được nội dung học tập mà
phát triển tại một nơi, bằng nhiều công cụ và nền khác nhau tại nhiều nơi và hệ thống khác nhau
Tính thích ứng (Adaptability): đưa ra nội dung học tập được tạo ra có thể
được sử dụng ở nhiều ứng dụng ở nhiều ứng dụng khác nhau
Trang 21Tính bền vững (Durability): vẫn có thể sử dụng các nội dung học tập khi
công nghệ thay đổi, mà không phải thiết kế lại
Tính giảm chi phí (Affordability): tăng hiệu quả học tập rõ rệt trong khi
giảm thời gian và chi phí
1.1.3.1 Các chuẩn của E-Learning
Các loại chuẩn đảm bảo cho các giải pháp E-Learning có chi phí thấp, hiệu quả và mang lại sự thoải mái cho người tham gia E-Learning:
- Chuẩn đóng gói
- Chuẩn trao đổi thông tin
- Chuẩn Meta – Data
- Chuẩn chất lượng
- Một số chuẩn khác
a Chuẩn đóng gói (Packaging Standards)
Cho phép các khóa học tạo bởi các công cụ khác nhau bởi các nhà sản xuất khác nhau các gói nội dung (Packages) Các chuẩn này cho phép hệ thống quản lý nhập và sử dụng được các khóa học khác nhau
Chuẩn đóng gói mô tả các cách ghép các đối tượng học tập riêng rẽ để tạo
ra một bài học, khóa học hay các đơn vị nội dung khác, sau đó vận chuyển và sử dụng lại được nhiều hệ thống quản lý khác nhau (LMS/LCMS) Các chuẩn này đảm bảo hàng trăm hoặc hàng nghìn file được gộp và cài đặt đúng vị trí
Chuẩn đóng gói E-Learning bao gồm:
Cách để ghép nhiều đơn vị nội dung khác nhau thành một gói nội dung thống nhất Các đơn vị nội dung có thể là các khóa học, các file HTML, ảnh, mulimedia, style sheet và mọi thứ khác xuống đến một icon nhỏ nhất
Gồm những thông tin mô tả tổ chức của một khóa học hoặc module sao cho có thể nhập vào hệ thống quản lý và hệ thống quản lý có thể hiển thị menu
mô tả cấu trúc của khóa học và người học dựa vào menu đó
Trang 22Gồm các kỹ thuật hỗ trợ chuyển khóa học hoặc module từ hệ thống quản
lý này sang hệ thống quản lý khác mà không phải cấu trúc lại nội dung bên trong
b Chuẩn trao đổi thông tin (Communication Standards)
Cho phép các hệ thống quản lý đào tạo hiển thị từng bài học đơn lẻ Có thể theo dõi được kết quả kiểm tra và quá trình học tập của người học Chuẩn này quy định đối tượng học tập và hệ thống quản lý trao đổi thông tin với nhau như thế nào
Chuẩn trao đổi thông tin gồm 2 phần: Phần giao thức và mô hình dữ liệu
Giao thức xác định các quy luật quy định cách mã hệ thống quản lý và các đối tượng học tập trao đổi thông tin với nhau
Mô hình dữ liệu dùng cho quá trình trao đổi như điểm kiểm tra, tên người học, mức độ hoàn thành của người học,…
c Chuẩn Meta – Data (Metadata Standards)
Quy định cách mà các nhà sản xuất nội dung có thể mô tả khóa học và các module của mình để các hệ thống quản lý có thể tìm kiếm và phân loại được khi cần thiết
Metadata là dữ liệu về dữ liệu Với E-Learning, metadata mô tả khóa học
và các module Các chuẩn metadata cung cấp các cách mô tả về module E-Learning mà những người học và những người soạn bài có thể tìm thấy module họ cần Meatadata không có gì là bí ẩn, nó chỉ việc đánh nhãn có mang thông tin mô tả Mục đích chính thường là giúp cho việc phát hiện, tìm kiếm được dễ dàng hơn Metadata giúp nội dung E-Learning hữu ích hơn đối với người bán, người mua, người học và người thiết kế Metadata cung cấp một cách chuẩn mực để mô tả các khóa học, các bài, các chủ đề và media Những mô tả sẽ được dịch ra thành các bảng danh mục hỗ trợ cho việc tìm kiếm được nhanh chóng và dễ dàng hơn Metadata có thể giúp người soạn bài tìm nội dung họ cần
Trang 23và sử dụng ngay hơn là phát triển từ đầu Ngoài ra, Metadata còn cho phép bạn phân loại các khóa học, bài học và các module khác
d Chuẩn chất lượng (Quality Standards)
Kiểm soát toàn bộ quá trình thiết kế khóa học cũng như khả năng hỗ trợ của khóa học với những người tàn tật Chuẩn này nói đến chất lượng của các module và các khóa học
Một số chuẩn chất lượng:
Các chuẩn thiết kế E-Learning: Chuẩn chất lượng thiết kế chính cho
E-Learning là E-Learning Courseware Certification Standards của ASTD E-Learning Certification Institue Certification Institue chứng nhận rằng các khóa học của E-Learning tuân theo một chuẩn nhất định như thiết kế giao diện, tương thích với các hệ điều hành và các công cụ chuẩn, chất lượng sản xuất và thiết kế giảng dạy
Các chuẩn về tính truy cập được: Các chuẩn này liên quan đến làm như
thế nào để công nghệ thông tin có thể truy cập được với những người tàn tật, chẳng hạn như những người bị hỏng mắt, nghe kém, không có sự kết hợp tốt giữa mắt và tay không đọc được Hiện tại, không có các chuẩn dành riêng cho E-Learning tuy nhiên E-Learning có thể tận dụng các chuẩn dùng cho công nghệ thông tin và nội dung Web
e Một số chuẩn khác
Test Question: Đây là chuẩn các câu hỏi kiểm tra Các câu hỏi được phát
triển trong một LMS, LCMS hoặc các hệ thống trường học ảo thường không thể
di chuyển được sang các hệ thống khác Đặc tả IMS Question and Test Interoperability cố gắng tìm các cách chung để các bài kiểm tra, câu hỏi có thể dùng được trong nhiều hệ thống khác nhau
Enterprise Information Model: Các hệ thống quản lý cần trao đổi thông
tin với các hệ thống khác của doanh nghiệp IMS Enterprise Information Model
Trang 24tìm một cách để xác định các định dạng cho phép trao đổi các dữ liệu quản lý các
hệ thống
Learner Information Packaging: Trong thực tế, những người quản trị
dành rất nhiều thời gian đưa thông tin về học viên vào các hệ thống quản lý học tập khác nhau Đặc tả IMS Learner Information Packaging cố gắng xác định một định dạng chung về thông tin học viên Các mô tả tuân theo đặc tả có thể trao đổi một cách tự do giữa các hệ thống khác nhau
Các chuẩn viễn thông: Các chuẩn viễn thông áp dụng cho Internet và
cũng như vậy với E-Learning Một vài chuẩn sẽ cần thiết cho bạn nếu bạn dự định kết hợp các công cụ khác nhau cho mục đích liên kết, trao đổi thông tin
Tổ chức quan trọng nhất trong việc đưa ra các chuẩn viễn thông là International Telecommunications Union
1.1.4 Ưu và nhược điểm của E-Learning
E-Learning dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông, cụ thể hơn công nghệ mạng, kĩ thuật đồ họa, kĩ thuật mô phỏng, công nghệ tính toán,…
Hiệu quả của E-Learning cao hơn so với phương pháp truyền thống so E-Learning có tính tương tác cao dựa trên đa phương tiện (multimedia), tạo điều kiện cho người học trao đổi thông tin dễ dàng hơn, cũng như đưa ra nội dung học tập phù hợp với khả năng và sở thích của từng người Do vậy, E-Learning mang lại rất nhiều lợi ích:
Mở rộng phạm vi giảng dạy: Tổ chức lớp học trong các phòng học hay
tại các trung tâm đào tạo bị hạn chế bởi hai yếu tố: không gian và địa điểm Số lượng người học trong một phòng học nhất định bị giới hạn bởi sức chứa của phòng học đó Trong khi đó, E-Learning số người học của mỗi chương trình đào tạo sẽ tăng lên đáng kể Nhiều người có thể tham gia học mà không cần phải tập trung về một địa điểm mà có thể tham gia các chương trình đào tạo qua mạng Internet hoặc có thể học tập và nghe giảng một cách thoải mái ngay tại nhà riêng của mình
Giảng dạy tập trung: Không giống như những lớp học truyền thống, nơi
chỉ một người dạy duy nhất sẽ chịu trách nhiệm dạy cho một nhóm lớp các học
Trang 25sinh từ 20 đến 40 người Học online với E-Learning thường có tỷ lệ một giáo viên – một học sinh
Trong hệ thống đào tạo trực tuyến, học sinh được dạy học thông qua một chương trình giảng dạy mô phỏng Có nghĩa là, nếu học sinh không hiểu về một vấn đề nào đó thì có thể vẫn dễ dàng xem lại bài học của mình chỉ bằng một cú nhấp chuột đơn giản
Tiết kiệm thời gian và tiền bạc: Người học trực tuyến sẽ tiết kiệm được
cả thời gian và tiền bạc thay vì trường học của họ sẽ ở ngay trước màn hình máy tính Không giống như trong các khóa học trong các cơ sở đào tạo, học sinh của E-Learning sẽ tiết kiệm thời gian đi lại và tiết kiệm tiền cho các khoản chi phí sách giáo khoa, sách hướng dẫn và các tài liệu khác
Tự định hướng: Vì khóa học trực tuyến trong môt số dịch vụ, người học
có thể định hướng cho mình, bằng cách chọn khóa học phù hợp nhất đối với trình độ, sở thích, mục tiêu cả bản thân
Tự điều chỉnh: Với học trực tuyến, người học có thể tự điều chỉnh nhịp
điệu khóa học cho mình, nghĩa là người học có thể học từ từ hay nhanh do thời gian mình sắp xếp hay do khả năng tiếp thu của mình
Tính linh hoạt: Tính linh hoạt của một khóa học trực tuyến là rõ ràng bởi
vì bản chất của Internet, nền tảng của công nghệ cho việc học trực tuyến là linh hoạt Từ khi đăng ký học đến lúc hoàn thiện người học có thể học theo thời gian biểu mình đặt ra Không bị gò bó bởi thời gian và không gian lớp học dù bạn vẫn đang ở trong lớp học “ảo” Tính linh hoạt còn thể hiện ở “tự định hướng” và “tự điều chỉnh” như trình bày ở phần trên
Tính đồng bộ: Giáo trình và tài liệu của khóa học trực tuyến là có tính
đồng bộ cao vì các hầu hết học trình cùng tài liệu được soạn thảo và đưa vào chương trình dạy được xem xét và đưa lên mạng trực tuyến từ ban đầu Do vậy, tính đồng bộ phải được đảm bảo
Trang 26Tương tác và hợp tác: Học trực tuyến người học có thể giao lưu và tương
tác với nhiều người cùng lúc Họ cũng có thể hợp tác với bạn bè trong nhóm học trực tuyến để thỏa luận và làm bài tập về nhà Ngày nay, việc tương tác và hợp tác trên Internet là phổ biến qua form, blog, facebook,… và có thể tận dụng Internet để “vừa làm vừa học vừa chơi”
Hiệu quả: Học trực tuyến giúp người học không chỉ tiết kiệm chi phí mà
còn đáp ứng nhu cầu của mình
Dễ tiếp cận và thuận tiện: Dịch vụ học trực tuyến dựa trên công nghệ là
Internet, vì vậy việc tiếp cận rất dễ dàng Người học có thể tiếp cận và học bất cứ nơi đâu Đây cũng chính là tính thuận tiện của việc học trực tuyến
Bên cạnh những ưu điểm của E-Learning thì phương pháp này vẫn còn một số vấn đề còn hạn chế, chẳng hạn như:
Về phía người học:
Tham gia học tập dựa trên E-Learning đòi hỏi người học phải có khả năng làm việc độc lập với ý thức tự giác cao độ Bên cạnh đó, cũng cần thể hiện khả năng hợp tác, chia sẻ qua mạng một cách hiệu quả với giảng viên và các thành viên khác
Người học cần phải biết lập kế hoạch phù hợp với bản thân, tự định hướng
trong học tập, thực hiện tốt kế hoạch học tập đã đề ra
Trang 27Về phía nội dung học tập:
Trong nhiều trường hợp, không thể và không đưa ra các nội dung quá trừu tượng, quá phức tạp Đặc biệt là nội dung liên quan tới thí nghiệm thực hành mà công nghệ thông tin không thể thể hiện được hay thể hiện kém hiệu quả
Hệ thống E-Learning cũng không thể thay thế các hoạt động liên quan tới việc rèn luyện và hình thành kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng thao tác và vận động
Công tác đào tạo, công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng đội ngũ giảng viên đã
có nhiều hình thức tổ chức, xong chỉ mới dừng lại ở việc phổ cập tin học cơ bản nên giảng viên chưa hội đủ kiến thức, chưa sẵn sàng, chưa chủ động để thiết kế
và áp dụng sử dụng bài giảng E-Learning một cách hiệu quả
Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy học, đặc biệt là việc giảng dạy bằng bài giảng điện tử và bài giảng E-Learning của nhà trường còn thiếu thốn, chưa trang bị đủ máy chiếu trong các phòng học và trong các phòng học chưa được kết nối Internet,…
Trang 28Việc sử dụng phần mềm quản trị thư viện chưa đầy đủ và đồng bộ khó khăn trong công tác hỗ trợ giảng viên khi thực hiện Hơn nữa, ngân sách thường xuyên dành cho công nghệ thông tin của nhà trường còn thấp, chưa tương xứng với vị trí, vai trò, tác dụng của công nghệ thông tin trong hoạt động thư viện và hoạt động giảng dạy
Việc sử dụng công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp dạy học chưa được nhận thức đầy đủ, dẫn đến việc ứng dụng nó không đúng chỗ, không đúng lúc, nhiều khi bị lạm dụng
Hiện tại, không ít giáo viên lúng túng và thụ động khi ứng dụng công nghệ thông tin vào bài giảng Bên cạnh đó nhiều giảng viên lớn tuổi không thiết kế và
sử dụng bài giảng điện tử và bài giảng E-Learning trong giảng dạy do trình độ công nghệ thông tin có hạn
Khi sử dụng giáo án điện tử, nhiều giảng viên bị phụ thuộc vào màn hình máy tính, tiết học thì sinh động nhưng chữ chạy nhanh qua, học sinh ghi bài không kịp hoặc mải mê ghi bài,… dẫn đến một tiết học rời rạc, học sinh không
cả thấy nhận được nét đặc sắc của bài học
Giáo viên lạm dụng công nghệ thông tin, đưa quá nhiều hiệu ứng, tranh ảnh, màu sắc dẫn đến sự chi phối chú ý của học sinh trong tiết học quên mất trọng tâm bài giảng cần khai thác, không phát huy được óc sáng tạo và sự tưởng tượng thiếu sự tư duy để cảm nhận được cái hay, cái tính giá trị của môn học
Vì thế, trong tiết học giáo viên nên kết hợp cả phương pháp hiện đại và phương pháp truyền thống ngoài việc dùng các hình ảnh, đoạn phim ngắn để minh họa nên cho học sinh thỏa luận, tự nhận xét và phát biểu ý kiến của mình
do đó học sinh sẽ tiếp thu bài nhanh hơn
1.1.5 Các nguyên tắc khi thiết kế bài giảng E-Learning
Quy trình thiết kế bài giảng E-Learning gồm 5 bước cơ bản:
- Xác định mục tiêu và kiến thức cơ bản của bài học
- Xây dựng khi tư liệu phục vụ bài học
- Xây dựng kịch bản dạy học
- Lựa chọn công cụ và số hóa kịch bản
Trang 29- Chạy thử chương trình
- Sửa chữa và đóng gói bài giảng
a Xác định mục tiêu và kiến thức cơ bản của bài học
Người thực hiện là giáo viên và tổ bộ môn Bám sát nội dung chương trình, nghiên cứu kỹ giáo trình và tài liệu tham khảo, xác định nội dung trọng tâm
Trong dạy học hướng tập trung vào học sinh, mục tiêu chỉ rõ học xong bài học sinh đạt được cái gì Mục tiêu ở đây là mục tiêu học tập chứ không phải là mục tiêu giảng dạy, tức là sản phẩm mà học sinh có được sau bài học
Người thực hiện cần đọc kỹ sách giáo khoa, kết hợp với các tài liệu tham khảo để tìm hiểu nội dung của mỗi mục trong bài và cái đích cần đạt tới mỗi mục Trên cơ sở đó xác định đích cần đạt tới của bài học về kiến thức, kĩ năng, thái độ
Tuy nhiên, để xác định được đúng kiến thức cơ bản mỗi bài giáo viên cần đọc thêm tài liệu, sách báo tham khảo để mở rộng hiểu biết về vấn đề cần giảng dạy và tạo khả năng chọn đúng kiến thức
b Xây dựng kho tài liệu phục vụ bài giảng
Người thực hiện là giáo viên và nhóm kỹ thuật Nguồn tư liệu thường được lấy từ một phần mềm dạy học nào đó hoặc từ Internet,… hoặc được xây dựng mới bằng đồ họa, bằng ảnh quét, ảnh chụp, quay video,…
Khi tiến hành, cần chọn lựa các phần mềm dạy học có sẵn cần dùng đến trong bài học để đặt liên kết Xử lý các tư liệu thu được để nâng cao chất lượng
về hình ảnh, âm thanh Khi sử dụng các đoạn phim, hình ảnh, âm thanh cần phải đảm bảo các yêu cầu về mặt nội dung, phương pháp, thẩm mỹ và ý đồ sư phạm
Sau khi có được đầy đủ tư liệu cần cho bài giảng phải tiến hành sắp xếp lại
tổ chức lại thành thư viện tư liệu
Trang 30Người thực hiện giáo viên và nhóm kỹ thuật Cần căn cứ vào nhu cầu của người sử dụng, căn cứ vào nguồn tài chính, căn cứ vào trình độ của cán bộ kỹ thuật sử dụng công cụ như thế nào
Có nhiều công cụ như: Adobe Presenter, Lecture Marker,… tuy nhiên một phần mềm được nhiều giáo viên sử dụng là Adobe Presenter vì nó có khả năng tích hợp với PowerPoint nên tạo tính thân thiện và gần gũi với giáo viên
Xây dựng được bài gảng PowerPoint Quá trình xây dựng phải đảm bảo các bước trong quá trình dạy học: ghi âm, thu hình (quay video giáo viên giảng bài), biên tập video, âm thanh, sử dụng phần mềm để đồng bộ bài giảng
d Chạy thử chương trình, sửa chữa và đóng gói sản phẩm
Người thực hiện là nhóm kỹ thuật Chạy thử chương trình, kiểm soát lỗi và chỉnh sửa bài giảng Sau đó đóng gói bài giảng trực tuyến
Đối với bài học, không phải nội dung nào cũng dễ dàng chuyển đổi sang E-Learning, có rất nhiều môn học, nghành học phần nội dung có tính thực hành, thực tế cao thì khó có thể sử dụng E-Learning để giảng dạy như các nghành liên
Trang 31quan đến y khoa, múa, hội họa,… nhưng đối với những môn học thiên về rèn luyện kỹ năng và hoạt động theo quy trình, có sự thay đổi nhanh về nội dung học tập, có yêu cầu cập nhật kịp thời, sẽ là những nội dung thích hợp của E-Learning
Như vậy, có thể nói E-Learning hiện nay và tương lai vẫn chưa thể thay thể hoàn toàn cách dạy – học truyền thống, mà cần phải có sự kết hợp với nhau
để đem lại hiệu quả tốt nhất cho quá trình dạy – học Vì vậy, mô hình giáo dục B-Learning (Blended Learning – dạy học kết hợp hay dạy học pha trộn) đã ra đời đáp ứng những nhu cầu đó
Blended Learning là sự kết hợp giữa hình thức học truyền thống và hình thức học trực tuyến theo phương thức sao cho hai hình thức này hỗ trợ lẫn nhau B-Learning tạo cơ hội cho các cá nhân có thể tận dụng đươc những điểm ưu việt nhất của hai hình thức này Sẽ giành được nhiều thời gian hơn cho các giáo viên
và giúp học sinh cá nhân hóa việc học của họ trong và ngoài trường học Các công cụ và nền tảng hỗ trợ B-Learning là hệ thống quản lý học tập (LMS) và các thiết bị di động như máy tính bảng và điện thoại thông minh [8]
Tóm lại, B-Learning là một khái niệm được sử dụng trong lĩnh vực giáo dục nhằm mô tả một chương trình học tập kết hợp giữa thời gian tương tác trên lớp và áp dụng công nghệ trong hoạt động dạy – học Phần lớn thời lượng của một chương trình học áp dụng phương pháp này vẫn sẽ diễn ra trong lớp với sự hướng dẫn của giáo viên (giống như các phương pháp dạy học truyền thống khác), một phần thời lượng của chương trình học tập được thực hiện thông qua việc áp dụng công nghệ vào trong giáo dục Từ đó giúp cải thiện trải nghiệm và nâng cao kết quả học tập của người học
Tùy từng môn học, nghành học chương trình đào tạo và hoàn cảnh điều kiện nhất định thì hình thức dạy học này sẽ được áp dụng với sự cân bằng thích hợp các giai đoạn học được chất lượng dạy học cũng như những mục tiêu đào tạo đặt ra
1.2.2 Đặc điểm của B-Learning
B-Learning là một hình thức tổ chức dạy học tích cực áp dụng những
Trang 32nghệ Nền tảng của phương pháp này tạo thành dựa trên những ưu điểm của giáo dục truyền thống Face-to-face và giáo dục trên máy tính thay vì sử dụng một cách riêng lẻ Đặc điểm cơ bản của B-Learning:
Cung cấp một phương pháp mới để học và giảng dạy B-Learning linh hoạt về không gian và thời gian diễn ra các hoạt động dạy và học sao cho phù hợp với từng nội dung, khả năng tổ chức vì việc học vừa diễn ra trên lớp vừa diễn ra thông qua máy tính Thời gian học được thay đổi cho phù hợp với khả năng học của cá nhân học sinh
Giảng dạy làm thế nào để học sinh tự học Hoạt động của học sinh là linh hoạt tự học có hướng dẫn, với vai trò chủ đạo của mình,học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động học trên lớp “thật” và trên lớp “ảo” Ngoài kiến thức về chuyên môn, học sinh còn trau dồi được kỹ năng tiếp cận và làm chủ công nghệ
Tạo ra dạy học kỹ thuật số Áp dụng phương pháp dạy học tiên tiến, phù hợp với nội dung dạy, tương thích với từng đối tượng học và khả năng của học sinh
B-Learning kế thừa những ưu điểm của học trực tuyến E-Learning B-Learning cho phép có thể học với tốc độ hiệu quả nhanh nhất có thể Giúp cho người học ghi nhớ kiến thức nhanh hơn thông qua tính tương tác của nó, cho phép người học tăng tốc độ học thông qua các công cụ học tập mà họ đã quen thuộc và tiếp nhận những công cụ học tập mà họ ít sử dụng nhất Người học có thể truy cập từ bất cứ một máy tính nào, ở bất kỳ đâu trên thế giới, với chi phí rất thấp để tham gia lớp học “ảo”, thảo luận, trao đổi và tìm kiếm tài liệu phục vụ học tập
Tối ưu hóa việc sử dụng phương tiện Trong B-Learning, ngoài những phương tiện công nghệ thông tin và trực tuyến để hỗ trợ trong dạy học truyền thống còn có sự nâng cao và khai thác tối ưu những tiện ích từ các phương tiện hiện đại khác nhau trong đó có máy tính và Internet
Cải thiện học tập dựa trên dự án, hợp lý hóa các nội dung học Theo đó, cấu trúc nội dung chương trình được phân chia và bố trí một cách phù hợp hơn trên cơ sở sách giáo khoa và phân phối nội dung chương trình THPT ban hành
Trang 33Cải thiện quá trình giảng dạy Hoạt động của giáo viên có mối liên hệ chặt chẽ và thống nhất với các giáo viên khác và nhà kỹ thuật trong việc thiết kế các nội dung, đưa ra các chỉ dẫn cho người tham gia vào khóa học
1.2.3 Tiêu chuẩn khi thiết kế B-Learning
Có 3 tiêu chuẩn thiết kế B-Learning: [9]
Kết hợp ở mức độ thấp: Bổ sung một số các hoạt động theo dạng thức
kết hợp đối với khóa học có sẵn ở dạng truyền thống (mặt giáp mặt – face – F2F)
face-to-Kết hợp ở mức độ vừa: Thay thế một số các hoạt động trong khóa học có
sẵn ở dạng truyền thống (F2F) bằng dạng thức kết hợp
Kết hợp ở mức độ cao: Thiết kế lại toàn bộ khóa học theo dạng kết hợp
Hai dạng kết hợp đầu tiên có thể xem là dựa trên nền tảng của hình thức dạy học truyền thống (F2F) có bổ sung hoặc thay thế một số hoạt động học tập ở dạng trực tuyến (OL – Online Learning)
Kết hợp ở mức độ thấp thuận lợi với người dạy chưa tự tin hoặc mới làm quen với việc sử dụng các công cụ công nghệ dạy học và hỗ trợ trực tuyến, cũng như mới làm quen với việc thiết kế các bài học ở dạng kết hợp Dựa trên nền tảng của các bài học có sẵn không cần thiết phải thay đổi phương pháp giảng dạy, người dạy có thể bổ sung một số các hoạt động dạy học ở dạng trực tuyến
Ví dụ người học ngoài hoạt động thường kỳ phải nộp bài, thảo luận qua mạng,… người dạy có thể kết hợp với mạng xã hội như facebook để thực hiện được các hoạt động Tương tự đối với người học cũng không cần yêu cầu cao về mức độ
sử dụng công nghệ Người học được đánh giá bởi các hoạt động trên lớp (F2F) cũng như hoạt động ngoài không gian lớp học truyền thống (OL)
Có thể thấy, dạng thức này có thể gây quá tải với cả người dạy và người học Người học có thể nhìn nhận cùng tham gia hai khóa học: truyền thống và trực tuyến, bởi lẽ một số hoạt động học tập trong dạng thức truyền thống vẫn được giữ nguyên và chỉ bổ sung một số các hoạt động ở dạng trực tuyến Người dạy cũng có thể cảm thấy quá tải bởi lượng công việc bổ sung khi thực hiện đánh
Trang 34không nhận được hỗ trợ kĩ thuật cần thiết từ đội ngũ kĩ thuật viên chuyên nghiệp trong duy trì hoặc hỗ trợ các công cụ dạy học trực tuyến
Để giảm tải và giảm bớt các khó khăn mới làm quen và sử dụng các công nghệ hỗ trợ dạy học kết hợp, người dạy có thể bước đầu bổ sung một số hoạt động học tập đơn giản Những hoạt động này nên hướng tới việc phục vụ các ý
đồ và phương pháp dạy học cụ thể, thay vì việc sử dụng các công cụ và công nghệ đơn thuần Người dạy cũng có thể tham gia một số diễn đàn dành cho giáo viên hoặc thành lập tham gia các nhóm giáo viên tìm hiểu về công nghệ để vận dụng vào dạy học phù hợp Ví dụ nhóm MIE Experts Việt Nam nơi các giáo viên chia sẻ với nhau rất nhiều các công cụ học tập có sử dụng công nghệ thông tin rất hữu ích và thú vị Qua đó giáo viên thảo luận sinh hoạt chuyên môn tại các bộ môn học tham khảo tư vấn của các giáo viên khác có kinh nghệm hơn Bằng cách này giúp giáo viên có thêm sự tự tin, kinh nghiệm tăng dần để có chuyên môn dạy học kết hợp ở mức độ cao hơn
Đối với dạng thức kết hợp ở mức vừa, một số hoạt động học tập được thiết
kế lại và thay thế bởi các hoạt động học tập trong môi trường trực tuyến Đòi hỏi người dạy phải có kiến thức hiểu biết nhất định và có sự tự tin khi sử dụng công nghệ để thiết kế hoạt động học tập và môi trường dạy học được tốt hơn Ở mức
độ vừa đòi hỏi người dạy cần lựa chọn và phân bố các hoạt động dạng F2F và
OL sao cho phù hợp Ngoài ra người cần tự tin và thông thạo công nghệ dạy học nhất định Tuy nhiên thời gian và khối lượng công việc trên lớp sẽ giảm bớt khi
đã chuyển đổi thành công một số hoạt động ở dạng trực tiếp, giáp mặt trên lớp thành hoạt động tự học, trực tuyến của người học qua đó nâng cao khả năng tự học của người học
Dạng kết hợp ở mức độ cao đặt ra yêu cầu cao nhất đối với người dạy khi thiết kế khóa học Người dạy thiết kế khóa học hoàn toàn mới thay vì điều chỉnh khóa học dựa trên nội dung và tiến trình dạy học truyền thống Để thiết kế khóa học và dạy học ở dạng thức này, người dạy phải hiểu biết cao và các công cụ, công nghệ để thiết kế bài dạy, khóa học và kiểm tra đánh giá ở dạng thức kết hợp
và trực tuyến Việc thiết kế và xây dựng khóa học kiểu này có thể mất thời gian
Trang 35từ 2 tới 3 lần sao với thiết kế các khóa học theo dạng thức truyền thống Đây là một trở ngại khá lớn đòi hỏi phải đầu tư thời gian và công sức
Cũng giống như 2 dạng thức kết hợp ở mức thấp và mức vừa, dạng thức kết hợp ở mức cao cần chú ý đến 4 yếu tố trong việc thiết kế: nội dung dạy học, quá trình dạy học, sản phẩm học tập, sự tác động đến người học Nội dung dạy học bao gồm các nguồn tư liệu, tài nguyên yêu cầu người học khai thác nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và đạt được mục tiêu dạy học, quá trình dạy học bao gồm sự tương tác của người học với người dạy và bạn học trong quá trình học tập, thực thi nhiệm vụ, sản phẩm học tập là kết quả của người học khi thực hiện mỗi nhiệm vụ, hoạt động học tập được yêu cầu, sự tác động tới người học và kết quả của quá trình dạy học theo dạng thức B-Learning có tác động như thế nào tới người học
Việc đưa ra 3 xu thế thiết kế B-Learning giúp cho việc triển khai có tính khả thi hơn, phù hợp với điều kiện về cơ sở vật chất, con người, nội dung môn học và bối cảnh của từng cơ sở giáo dục
1.2.4 Nguyên tắc thiết kế B-Learning
B-Learning xuất phát từ chính yêu cầu của quá trình dạy học khi công nghệ ngày càng phát triển và thâm nhập sâu rộng vào các mặt của đời sống con người, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục Để triển khai B-Learning một cách hiệu quả cần phải thực hiện theo một tuần tự thích hợp Qua phân tích đặc điểm cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến B-Learning, nguyên tắc thiết kế B-Learning
có thể trải qua 4 giai đoạn như sau:
Trang 36Hình 1.2: Quy trình B-Learning
Giai đoạn 1 - Chuẩn bị: Trong giai đoạn này người dạy và người học
được tiếp xúc với những yếu tố của B-Learning Cùng với việc chuẩn bị nền tảng học tập, người tham gia cần rèn luyện những kỹ năng cần thiết cho việc B-Learning như sử dụng, khai thác mạng, làm việc với phần mềm, đăng ký và đăng nhập vào hệ thống Cùng với đó là việc phát triển hệ thống các tài liệu học tập, từng bước tiếp cận hệ thống quản lý học tập điện tử Đây là khâu chuẩn bị, tạo tiền đề cho triển khai các giai đoạn tiếp theo
Giai đoạn 2 – Thiết kế và thử nghiệm: Xây dựng chương trình, kế hoạch
và thiết kế các nội dung và hoạt động học tập dựa trên nền tảng học tập Tạo một chương trình học tập tích hợp không chỉ đơn giản là kết hợp học trực tuyến và học truyền thống mà phụ thuộc vào nhiều yếu tố Để đến được thành công, sự thiết kế B-Learning cần phải có ý tưởng rõ ràng, do đó cần lưu ý các điểm sau: xác định rõ mục tiêu giảng dạy, xác định các trình độ đối tượng dạy học, chú ý đến nội dung dạy học, mục tiêu và đối tượng để tích hợp các phương pháp học tập thích hợp nhất, xây dựng chương trình giảng dạy tốt (bao gồm cả đánh giá) cần khai thác tối đa các khả năng hỗ trợ của công nghệ thông tin, nên trao đổi,
Chuẩn bị nền tảng và
kỹ năng học tập
Xây dựng nội dung
và các hoạt động rồi chạy thử
Chia sẻ các nội dung và hoạt động với HS và GV rồi tiến hành dạy học F2F
Đánh giá kết quả học tập và điều chỉnh
Trang 37tham khảo ý kiến của các chuyên gia, đồng nghiệp, thiết kế các chương trình B-Learning mới chỉ thành công một nửa mà sự thực hiện, hỗ trợ của các phương tiện cũng rất cần thiết để thành công Giáo viên cần dạy học sinh như thế nào để tự học, đảm bảo học sinh có thể thành công bằng cách tạo điều kiện thuận lợi, cung cấp cho họ công nghệ và hỗ trợ kỹ thuật thích hợp Sau đó, tiến hành chạy thử, xem xét kết quả, phân tích cải thiện các nội dung cũng như các hoạt động học
Giai đoạn 3 – Chia sẻ và triển khai: Chia sẻ các nội dung và hoạt động
học tập đã thiết kế với người học và người tham gia, đặc biệt trao đổi với những giáo viên có kinh nghiệm để học hỏi Sau đó, áp dụng triển khai thực tế các hình thức kết hợp trong quá trình dạy học, cụ thể dạy học truyền thống F2F dựa trên nội dung và hoạt động đã xây dựng trực tuyến hệ thống
Giai đoạn 4 – Đánh giá và điều chỉnh: Đánh giá kết quả học tập của học
sinh Từ kết quả đó cùng với sự trao đổi với học sinh và đồng nghiệp điều chỉnh
và cải tiến mô hình sao cho phù hợp
1.2.5 Các mô hình học tập B-Learning
Nhằm đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của người học cũng như các giáo
viên, giảng viên từng cấp học, các nhà giáo dục đã phát triển 6 mô hình dạy học
kết hợp:
Mô hình Blended Face-to-face (hướng dẫn trực tiếp trên lớp có kết nối
Internet): Mô hình này dựa trên mô hình lớp học truyền thống, mặc dù phần lớn các hoạt động học trực tuyến Thời lượng học trực tiếp với giáo viên là bắt buộc đối với mô hình này và các hoạt động trực tuyến được sử dụng để bổ trợ kiến thức cho người học Đọc tài liệu, làm bài tập trắc nghiệm và các bài tập đánh giá khác đều được hoàn thành online, ở nhà Mô hình này cho phép học sinh và giáo viên có nhiều thời gian để chia sẻ kiến thức, kĩ năng cũng như dành cho các hoạt động học tập đặc biệt như thảo luận và làm việc nhóm Mô hình này cũng đặc biệt phù hợp với những lớp học đa dạng, học sinh có sự phân khúc khác nhau về khả năng nhận thức
Trang 38Mô hình Rotation (Mô hình quay vòng/luân phiên): Đây là sự biến thể
của mô hình trạm học tập được các giáo viên, giảng viên sử dụng trong nhiều năm qua Thời gian biểu được thiết lập để các học sinh, sinh viên có thời gian học tập trực tuyến (thông qua các thiết bị điện tử trong lớp học) và học trực tiếp với giáo viên Phương pháp này bao gồm ba mô hình học tập nhỏ: Station rtation (hoán đổi trạm), Lab rotation (hoán đổi lớp học) và Individual rotation (quay vòng cá nhân) Đối với mô hình luân phiên chuyển trạm yêu cầu học sinh hoán đổi các trạm (trạm là các nhóm nhỏ học tập được giáo viên chia mục đích tìm hiểu các phần nhỏ trong bài học) trong thời gian quy định theo hướng dẫn của giáo viên Mô hình luân chuyển lớp học yêu cầu học sinh, sinh viên phải thay đổi địa điểm học tập xoay quanh khuôn viên trường và mô hình quay vòng cá nhân cho phép một học sinh được luân phiên thay đổi các hình thức học tập khác nhau theo lịch học tập Mô hình này phù hợp với giáo dục bậc trung học cơ sở, trung học phổ thông hơn là giáo dục bậc đại học
Mô hình Flex: Mô hình này chủ yếu dựa trên hướng dẫn giảng dạy trực
tuyến, các giáo viên không chỉ đưa ra những hướng dẫn mà còn đóng vai trò là người trực tiếp hướng dẫn học sinh Toàn bộ chương trình học được người học truy cập các phần mềm học tập trực tuyến Giáo viên phải xây dựng hệ thống bài giảng online, các phương pháp đánh giá, kiểm tra trực tuyến Phương pháp này đặc biệt phù hợp với các đối tượng vừa học vừa làm
Mô hình Lab school: Mô hình này cho phép học sinh được tham gia các
lớp học trực tuyến toàn thời gian trong suốt khóa học Các giáo viên sẽ không tham gia giảng dạy trực tuyến trên lớp mà thay vào đó là các trợ giảng đã được đào tạo tham gia giải đáp thắc mắc cho học sinh trên lớp
Mô hình Self – blended: Mô hình này cho phép học sinh được tham gia
học các môn học không nằm trong chương trình học của họ Học sinh vẫn tham gia các lớp học truyền thống nhưng sau đó có thể đăng ký tham gia học các môn học khác và tự học
Trang 39Mô hình Online drive: Mô hình này hoàn toàn trái ngược với mô hình
học tập truyền thống Học sinh học tập từ xa và nhận huớng dẫn học tập thông qua nền tảng trực tuyến Giáo viên là người thiết kế các bài giảng trực tuyến, các bài tập, bài đánh giá để học sinh truy cập học tập trực tuyến Học sinh được giáo viên giải đáp thắc mắc qua hỏi đáp trực tuyến
1.3 Mô hình “Lớp học đảo ngược” (Flipped Classroom – FL)
1.3.1 Khái niệm
Với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, giáo viên có thêm nhiều lựa chọn
để tăng tính hiệu quả trong dạy học Dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược cho phép người học được truy xuất bài giảng và các tài nguyên học tập ngoài giờ lên lớp, do đó tăng cường sự chủ động tích cực của người học trong giờ học chính khóa Những nghiên cứu cho thấy kết quả tích cực của mô hình này Vậy
mô hình lớp học đảo ngược là gì?
Mô hình lớp học đảo ngược (Flipped Classroom hay Flipped Learning) là một trong những dạng thức của học tập kết hợp (Blended Learning) được quan tâm rất nhiều trong những năm gần đây Nó được quan tâm bởi vì những kết quả tích cực mà nó mang lại Trong mô hình lớp học đảo ngược, bài giảng của giáo viên được truyền tải để người học nghiên cứu trước khi tới lớp, do vậy thời gian cho các hoạt động tích cực của người học được nhiều hơn Ngoài ra, các kỹ năng giao tiếp, độc lập của người học được tăng cường Aliye và cộng sự tổng hợp 62 bài báo trong lĩnh vực kỹ thuật liên quan tới Flipped Claasroom từ năm
2000 – 2015 cho thấy mô hình Flippes Classroom tạo ra môi trường học tập linh hoạt và uyển chuyển, các kỹ năng để học tập suốt đời suy nghĩ sâu và các phẩm chất tích cực khác [12]
Mô hình lớp học đảo ngược có sự đảo ngược trong tiến trình học tập Người học được giao nhiệm vụ tự tìm hiểu/tự nghiên cứu nội dung học tập, tài liệu thông qua các bài tập gợi mở, các video bài giảng (học tập trực tuyến) trước khi được giải đáp ở trên lớp học truyền thống (học tập giáp mặt)
Trang 40Vai trò và mối quan hệ giữa người học – người dạy Người học đóng vai trò trung tâm của quá trình học tập (tự tìm tòi, khai phá tri thức) Người dạy đóng vai trò là người hướng dẫn, giải đáp và tổ chức các hoạt động Người dạy và người học đều được tham gia vào quá trình đánh giá và tự đánh giá dưới sự trợ giúp của công nghệ (thông qua nền tảng là môi trường web)
Phương pháp dạy học chủ yếu là các phương pháp tích cực hóa hoạt động người học, theo dạng thức học tập chủ động
Phương tiện và kỹ thuật dạy học: các phương tiện kỹ thuật hiện đại Nguồn tài liệu, các video bài giảng được cung cấp qua mạng
Sự đảo ngược tiến trình học tập là đặc điểm cơ bản để phân biệt mô hình
FL với các dạng thức khác của B-Learning Những đặc trưng này cho thấy để sử dụng được mô hình FL cần có những điều kiện nhất định về cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin và kỹ năng công nghệ thông tin cơ bản của người dạy
và người học Mô hình FL có thể được áp dụng cho nhiều trình độ, nhiều lĩnh vực và chủ đề
Vậy sự đảo ngược tiến trình học tập trong mô hình FL khác như thế nào so với các mô hình học tập khác của B-Learning Theo thang cấp độ tư duy Bloom mới nhất, ta thấy có 6 mức độ tư duy: Biết, Hiểu, Vận dụng, Phân tích, Đánh giá
và Sáng tạo Trong quá trình học tập thông thường HS sẽ được cung cấp các kiến thức ở mức độ thấp là “Biết” và “Hiểu” còn các kiến thức ở mức độ cao hơn trong thang Bloom sẽ thường cho HS về nhà Nhưng đối với mô hình FL thì ngược lại HS sẽ tìm hiểu kiến thức trước ở nhà thông qua các tài liệu GV cung cấp để đạt được mức độ “Biết” và “Hiểu” Còn khi lên lớp thì GV tổ chức các hoạt động cùng với HS với kiến thức HS đã tìm hiểu trước để đạt được các cấp
độ cao hơn của mức độ tư duy là “Vận dụng”, “Phân tích”, “Đánh giá” và “Sáng tạo” Cách học này đòi hỏi học sinh phải dùng nhiều đến hoạt động trí não được gọi là “High thinking” Như vậy những nhiệm vụ bậc cao trong thang tư duy được thực hiện bởi cả thầy và trò Vậy sự khác nhau giữa lớp học truyền thống
và lớp học đảo ngược là: [13]