1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng hoạt động và nhu cầu đào tạo của nhân viên y tế thôn bản về truyền thông giáo dục sức khỏe tại huyện trùng khánh, tỉnh cao bằng năm 2017

109 249 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

điều kiện cho nhân viên YTTB làm tốt được nhiệm vụ của họ đã và đang trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu trong tăng cường công tác chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng hiện nay.. Trong

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH

  

NÔNG BẢO ANH

THùC TR¹NG HO¹T §éNG Vµ NHU CÇU §µO T¹O CñA NH¢N VI£N Y TÕ TH¤N B¶N VÒ TRUYÒN TH¤NG - GI¸O DôC SøC KHáE T¹I HUYÖN TRïNG KH¸NH, TØNH CAO B»NG N¡M 2017

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

THÁI BÌNH – 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH

NÔNG BẢO ANH

THùC TR¹NG HO¹T §éNG Vµ NHU CÇU §µO T¹O

CñA NH¢N VI£N Y TÕ TH¤N B¶N VÒ TRUYÒN TH¤NG - GI¸O DôC SøC KHáE

T¹I HUYÖN TRïNG KH¸NH, TØNH CAO B»NG N¡M 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

Mã số: 8720701

Hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Nguyễn Đức Thanh

2 GS.TS Trần Quốc Kham

THÁI BÌNH - 2018

Trang 3

Trong gần 2 năm học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Y Dược Thái Bình, tôi luôn nhận được sự động viên, hướng dẫn và tạo điều kiện kịp thời về nhiều mặt của các thầy giáo, cô giáo, các anh chị đồng nghiệp và của người thân

Lời đầu tiên, em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học, Khoa Y tế Công cộng Trường Đại học Y Dược Thái Bình cùng các thầy, cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Đức Thanh, GS.TS Trần Quốc Kham, đã tận tình hướng dẫn và định hướng cho tôi trong suốt quá trình hoàn thiện luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn Ban Giám đốc và cán bộ viên chức Trung tâm Truyền thông – Giáo dục sức khỏe tỉnh Cao Bằng; các y, bác sỹ làm việc tại Trung tâm Y tế, Trạm Y tế các xã, thị trấn của huyện Trùng Khánh, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu tại thực địa Đặc biệt xin trân trọng cảm ơn các anh, chị là đối tượng nghiên cứu nơi tôi thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình và bạn bè thân thiết của tôi - những người đã luôn động viên, khích lệ tôi trong suốt cả quá trình học tập và nghiên cứu

Xin trân trọng cảm ơn và kính chúc tất cả mọi người sức khỏe, hạnh phúc và thành công trong cuộc sống!

Thái Bình, tháng 6 năm 2018

Tác giả luận văn

Nông Bảo Anh

Trang 4

Tôi là: Nông Bảo Anh, học viên học viên khóa đào tạo trình độ Thạc sĩ

Chuyên ngành: Y tế công cộng, Trường Đại học Y Dược Thái Bình

Xin cam đoan:

1 Đây là luận văn do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của:

4 Tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về những điều cam đoan trên

Thái Bình, ngày 26 tháng 5 năm 2018

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nông Bảo Anh

Trang 5

BMTE : Bà mẹ trẻ em

CSSKBĐ : Chăm sóc sức khỏe ban đầu

CTV : Cộng tác viên

HIV : Human Immunodeficiency Virus

(Vi-rút gây suy giảm miễn dịch ở người) KHHGĐ : Kế hoạch hóa gia đình

NVYTCĐ : Nhân viên y tế cộng đồng

TT-GDSK : Truyền thông – Giáo dục sức khỏe

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Một số khái niệm 3

1.2 Hoạt động của nhân viên YTTB 4

1.2.1 Vai trò của mạng lưới nhân viên YTTB 4

1.2.2 Công tác TT-GDSK và hoạt động của mạng lưới YTTB 7

1.3 Nhu cầu đào tạo của nhân viên YTTB 17

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Đối tượng, địa bàn và thời gian nghiên cứu 22

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22

2.1.2 Địa bàn nghiên cứu 22

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 26

2.2 Phương pháp nghiên cứu 26

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 26

2.2.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu 26

2.2.3 Nội dung và chỉ số đánh giá trong nghiên cứu 27

2.2.4 Phương pháp thu thập thông tin 29

2.2.5 Một số khái niệm và chỉ tiêu đánh giá trong nghiên cứu 31

2.2.6 Xử lý số liệu 32

2.2.7 Hạn chế sai số 32

2.2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 32

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34

3.1 Thực trạng hoạt động TT-GDSK của nhân viên YTTB 34

3.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 34

3.1.2 Hoạt động TT-GDSK của nhân viên YTTB 38

Trang 7

3.2.1 Kiến thức của nhân viên YTTB về TT-GDSK 46

3.2.2 Nhu cầu đào tạo của YTTB về TT-GDSK 51

3.2.3 Hộp kết quả nghiên cứu định tính về công tác TT-GDSK của nhân viên YTTB 55

Chương 4: BÀN LUẬN 59

4.1 Thực trạng hoạt động tt-gdsk của nhân viên YTTB 60

4.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 60

4.1.2 Hoạt động TT-GDSK của nhân viên YTTB 64

4.2 Kiến thức và nhu cầu đào tạo của nhân viên YTTB 71

4.2.1 Kiến thức của nhân viên YTTB về TT-GDSK 71

4.2.2 Nhu cầu đào tạo của YTTB về truyền thông – GDSK 75

KẾT LUẬN 80

KHUYẾN NGH 82 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

Bảng 3.1 Giới tính, thành phần dân tộc và độ tuổi của nhân viên YTTB 34Bảng 3.2 Trình độ chuyên môn ngành y tế của nhân viên YTTB 35Bảng 3.3 Các chức danh kiêm nhiệm khác ở địa phương của nhân viên

YTTB 36

Bảng 3.4 Lý do chính tham nhân viên YTTB tham gia công tác, chia theo

vùng khó khăn 37Bảng 3.5 Trang thiết bị truyền thông hiện có của nhân viên YTTB, chia

theo vùng khó khăn 38Bảng 3.6 Loại tài liệu thường được nhân viên YTTB sử dụng nhất, chia

theo vùng khó khăn 39Bảng 3.7 Hình thức TT-GDSK nhân viên YTTB thường sử dụng chia theo

vùng khó khăn 40Bảng 3.8 Những khó khăn của nhân viên YTTB khi thực hiện các hoạt

động TT-GDSK 41Bảng 3.9 Khó khăn khi nhân viên YTTB thực hiện TT-GDSK, chia theo giới 42Bảng 3.10 Lĩnh vực TT-GDSK nhân viên YTTB thường thực hiện 43Bảng 3.11 Lĩnh vực TT-GDSK khó khăn nhất khi nhân viên YTTB thực

hiện tại cộng đồng 43Bảng 3.12 Mức độ thực hiện các lĩnh vực TT-GDSK của nhân viên YTTB

tại cộng đồng 44Bảng 3.13 Tỷ lệ nhân viên YTTB được cán bộ Trạm Y tế xuống giám sát

khi thực hiện TT-GDSK 46Bảng 3.14 Tỷ lệ nhân viên YTTB hiểu biết về các phương pháp TT-GDSK 46Bảng 3.15 Tỷ lệ nhân viên YTTB biết về các hình thức TT-GDSK trực tiếp,

chia theo vùng khó khăn 47

Trang 9

chia theo vùng khó khăn 47Bảng 3.17 Tỷ lệ nhân viên YTTB biết về các nội dung cần phải có trong bản

kế hoạch 1 buổi TT-GDSK 48Bảng 3.18 Tỷ lệ nhân viên YTTB tự nhận xét về kỹ năng lập kế hoạch, thăm

hộ gia đình và thảo luận nhóm 49Bảng 3.19 Tỷ lệ nhân viên YTTB tự nhận xét về kỹ năng tƣ vấn, làm mẫu

trong TT-GDSK 50Bảng 3.20 Tỷ lệ nhân viên YTTB tham gia các khóa tập huấn về TT-GDSK

do các đơn vị y tế tổ chức 51Bảng 3.21 Tỷ lệ nhân viên YTTB đề xuất số ngày 1 đợt tập huấn về TT-

GDSK phù hợp 52Bảng 3.22 Những khó khăn gặp phải của nhân viên YTTB khi tham gia

tập huấn 53Bảng 3.23 Tỷ lệ nhân viên YTTB đề xuất địa điểm phù hợp cho lớp tập

huấn, chia theo giới 53Bảng 3.24 Tỷ lệ nhân viên YTTB đề xuất địa điểm phù hợp cho lớp tập

huấn, chia theo nhóm xã 54Bảng 3.25 Tỷ lệ nhân viên YTTB đề xuất địa điểm phù hợp cho lớp tập

huấn, chia theo nhóm tuổi 54Bảng 3.26 Tỷ lệ nhân viên YTTB đề xuất số ngày tập huấn phù hợp,chia

theo thâm niên công tác 55

Trang 10

Biểu đồ 3.1 Trình độ học vấn của nhân viên YTTB 35Biểu đồ 3.2 Số năm công tác của nhân viên YTTB 36Biểu đồ 3.3 Mức độ đáp ứng của tài liệu so với nhu cầu truyền thông của

nhân viên YTTB 39Biểu đồ 3.4 Mức độ phối hợp của các cán bộ khác tại thôn bản với nhân

viên YTTB 42Biểu đồ 3.5 Tự đánh giá kỹ năng nói của nhân viên YTTB 44Biểu đồ 3.6 Số buổi nhân viên YTTB thực hiện các hoạt động TT-GDSK

hàng tháng 45Biểu đồ 3.7 Mức độ lồng ghép TT-GDSK trong các hoạt động khác của

nhân viên YTTB 45Biểu đồ 3.8 Tỷ lệ nhân viên YTTB kể đƣợc tên các đối tƣợng truyền thông

giáo dục sức khỏe 49Biểu đồ 3.9 Tỷ lệ nhân viên YTTB cho rằng thời gian tập huấn TT-GDSK

phù hợp 51Biểu đồ 3.10 Tỷ lệ nhân viên YTTB đề xuất địa điểm tập huấnTT-GDSK

phù hợp 52

Trang 11

Hộp 1: Các bất cập trong công tác TT-GDSK của nhân viên YTTB 56 Hộp 2: Thực trạng phối kết hợp của các ban ngành đoàn thể ở địa phương

với nhân viên YTTB trong công tác TT-GDSK 56 Hộp 3: Những khó khăn gì khi nhân viên YTTB thực hiện các hoạt động

TT-GDSK khi tiếp xúc với các đối tượng 57 Hộp 4: Những giải pháp cụ thể để nâng cao hoạt động TT-GDSK của nhân

viên YTTB 58

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) là một định hướng chiến lược quan trọng của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đối với mọi quốc gia trên toàn cầu, với mục tiêu “sức khỏe cho mọi người” nhằm đảm bảo cho mọi người dân có cơ hội tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và được chăm sóc sức khỏe, đảm bảo tính công bằng, bình đẳng trong phát triển kinh tế xã hội Nói đến CSSKBĐ là đề cập đến hệ thống y tế cơ sở [1]

Y tế thôn bản (YTTB) nằm trong hệ thống y tế cơ sở, đóng vai trò quan trọng trong công tác CSSKBĐ cho nhân dân, trong đó nhân viên y tế thôn, bản đóng vai trò là nòng cốt Nhân viên YTTB là những người gần dân nhất, họ sống ngay tại thôn, bản nắm chắc được tình hình đời sống và bệnh tật ở mỗi gia đình Nhân viên YTTB là tai mắt, là cánh tay, là đôi chân của trạm y tế (TYT) trong các hoạt động chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân Vì vậy nhân viên YTTB có ý nghĩa thực sự quan trọng và rất cần thiết trong việc chăm sóc sức khoẻ tại cộng đồng, nhất là tại khu vực nông thôn

và miền núi [28]

Nhận thức được vai trò quan trọng của YTTB trong công tác CSSKBĐ tại cộng đồng Đảng, Chính phủ, Bộ Y tế đã ra nhiều nghị quyết, chỉ thị, thông tư, quyết định về tăng cường và củng cố mạng lưới y tế cơ sở trong đó có YTTB Một trong những văn bản có ý nghĩa quan trọng đối với nhân viên YTTB hiện nay là Thông tư số 07/2013/TT-BYT ngày 08/3/2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế qui định về tiêu chuẩn, chức năng, nhiệm vụ của nhân viên YTTB Thông tư cũng đã chỉ rõ: truyền thông giáo dục sức khỏe

là nhiệm vụ số 1 trong 9 nhiệm vụ của nhân viên YTTB [8]

Ở nước ta, tổ chức mạng lưới y tế đã và đang và phối hợp liên ngành trong cung ứng dịch vụ y tế tại các cấp còn gặp khó khăn trong hoạt động do thiếu các cơ chế liên quan đến huy động sử dụng nguồn lực [33] Việc tạo

Trang 13

điều kiện cho nhân viên YTTB làm tốt được nhiệm vụ của họ đã và đang trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu trong tăng cường công tác chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng hiện nay

Theo thống kê của Sở Y tế Cao Bằng, hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh

có 2486 nhân viên YTTB/2486 thôn bản, đảm bảo 100% thôn bản có nhân viên y tế Mạng lưới nhân viên YTTB đã dần ổn định và đi vào hoạt động có hiệu quả Nhờ đó mà một số chương trình mục tiêu y tế quốc gia như: tiêm chủng mở rộng, vệ sinh nước sạch và môi trường, chăm sóc sức khỏe sinh sản, phòng chống các dịch bệnh nguy hiểm,… đều đạt chỉ tiêu, tình hình dịch bệnh trên địa bàn tỉnh được khống chế Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có các

số liệu nghiên cứu chính thức về thực trạng hoạt động cũng như nhu cầu đào tạo của đội ngũ nhân viên YTTB trên địa bàn tỉnh nói chung, huyện Trùng Khánh nói riêng

Trong bối cảnh trên, để có cơ sở hoạch định chính sách phù hợp nâng cao vai trò và vị thế cũng như hiệu quả của đội ngũ nhân viên YTTB trong công tác truyền thông – giáo dục sức khỏe (TT-GDSK), chúng tôi nghiên

cứu đề tài “Thực trạng hoạt động và nhu cầu đào tạo của nhân viên y tế thôn bản về truyền thông - giáo dục sức khỏe tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng năm 2017” với 2 mục tiêu sau:

1 Mô tả thực trạng hoạt động truyền thông - giáo dục sức khỏe của nhân viên y tế thôn bản huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng năm 2017

2 Đánh giá kiến thức, kỹ năng và xác định nhu cầu đào tạo liên tục về lĩnh vực truyền thông - giáo dục sức khỏe của nhân viên y tế thôn bản trên địa bàn nghiên cứu

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số khái niệm

Liên quan tới công tác TT-GDSK, một số khái niệm về thông tin, truyền thông, giáo dục sức khỏe và hành vi sức khỏe được trình bày trong phần dưới đây được đưa ra dựa theo tài liệu tập huấn các kỹ năng TT-GDSK của Trung tâm TT-GDSK Trung ương [36]:

* Truyền thông:

- Là quá trình giao tiếp, chia sẻ, trao đổi thông tin giữa người truyền thông với người nhận nhằm đạt được sự hiểu biết, nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của đối tượng

- Truyền thông là quá trình tác động qua lại liên tục giữa 2 người hay nhiều người để cùng nhau chia sẻ các thông tin, ý kiến, thái độ, tình cảm, kỹ năng tạo nên sự thay đổi hành vi của đối tượng Đặc trưng quan trọng của truyền thông là tính 2 chiều

* Giáo dục sức khỏe:

Là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến tình cảm và lý trí của con người nhằm thay đổi hành vi có hại thành có lợi cho sức khỏe cá nhân, các nhóm và cả cộng đồng

* Hành vi sức khỏe:

Là những thói quen, việc làm hằng ngày ảnh hưởng tốt hoặc xấu tới sức khỏe

Trang 15

1.2 Hoạt động của nhân viên YTTB

1.2.1 Vai trò của mạng lưới nhân viên YTTB

Chủ trương về công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu được hình thành từ năm 1975 bởi ý tưởng của Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và đã trở thành nội dung quan trọng trong Nghị quyết tại Đại hội của WHO nhân kỷ niệm 30 năm thành lập WHO vào tháng 5/1977 Sau đó nội dung này cũng trở thành Nghị quyết của Hội nghị Quốc tế Alma – Ata vào tháng 9/1978 do WHO

và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đồng tổ chức, với sự cam kết của các quốc gia, đặc biệt là các nước thuộc thế giới thứ 3 Hội nghị đã nhất trí rằng:

“Chăm sóc sức khỏe ban đầu là một cách tiếp cận để đạt tới sức khỏe cho mọi người” [60]

Tổ chức Y tế Thế giới cũng cho rằng CSSKBĐ phải đi đôi với việc đào tạo nhân viên CSSKBĐ, hay còn gọi là Nhân viên y tế cộng đồng (Community Health Workers) Để phục vụ cho việc đào tạo nhân viên y tế cộng đồng (NVYTCĐ), WHO đã biên soạn nhiều chương trình, tài liệu đào tạo thông qua nhiều dự án của các tổ chức quốc tế như: Ngân hàng Thế giới, WHO, Ngân hàng ADB,… cho các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam

Nghị quyết số 90/CP của Chính phủ ngày 21/8/1997 về phương hướng

và chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục-y tế-văn hoá cũng nêu rõ:

xã hội hoá các hoạt động giáo dục-y tế-văn hoá là cuộc vận động và tổ chức

sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội nhằm từng bước nâng cao hưởng thụ về giáo dục, y tế, văn hoá và sự phát triển về thể chất và tinh thần của nhân dân

Trong điều 3 chương I của Nghị định số 73/1999/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/9/1999 về Chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, văn hoá, y tế, thể thao đã ghi: Nhà nước khuyến khích các tổ chức và cá nhân huy động các nguồn lực trong nhân

Trang 16

dân và các tổ chức thuộc mọi thành phần kinh tế để phát triển các hoạt động

giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao theo đúng quy định của pháp luật

Nhân viên YTTB là lực lượng nòng cốt đóng vai trò quan trọng trong các chương trình CSSKBĐ ở nhiều quốc gia đang phát triển trên thế giới Nhiệm vụ chủ yếu của họ là làm công tác CSSKBĐ, tuyên truyền vận động vệ sinh phòng bệnh Phần lớn họ làm việc theo hướng hoàn toàn tự nguyện, họ được hưởng thù lao rất thấp và ít chịu sự quản

lý và theo dõi của nhà nước [50], [61]

Hiện nay ở nước ta, tổ chức mạng lưới y tế đã và đang và phối hợp liên ngành trong cung ứng dịch vụ y tế tại các cấp còn gặp khó khăn trong hoạt động do thiếu các cơ chế liên quan đến huy động sử dụng nguồn lực giữa hai bên [33]

Ở Thái Lan có 2 loại nhân viên y tế cộng đồng, một là những truyền thông viên y tế, hai là tình nguyện viên y tế Những truyền thông viên được đào tạo và cung cấp những nguyên tắc chỉ đạo cho phép họ phục vụ như những người truyền bá thông tin y tế tới nhóm từ 10 - 15 hộ gia đình Cứ 10 truyền thông viên có 1 tình nguyện viên y tế Những tình nguyện viên y tế được huấn luyện kỹ hơn và có trách nhiệm nâng cao sức khoẻ, phòng ngừa dịch bệnh, chăm sóc một số bệnh đơn giản Hiện nay Thái Lan có khoảng 42.325 tình nguyện viên y tế và khoảng 434.803 truyền thông viên y tế, phủ khoảng 90% thôn bản [61]

Ngày nay, hầu hết chính phủ các nước nhận thấy tầm quan trọng của những chương trình y tế công cộng trong việc giảm tỷ lệ mắc bệnh, tình trạng ốm yếu, sự lão hóa… các chương trình y tế quốc gia như: Tiêm chủng

mở rộng, phòng chống bệnh lao, phòng chống HIV/AIDS, tiểu đường, huyết áp… đều rất cần có sự tham gia của nhân viên y tế cộng đồng hay nhân viên YTTB Trong khi có thiên tai, thảm họa, những người cung cấp dịch vụ sơ

cứu ban đầu thường là NVYTCĐ

Trang 17

Nhân viên y tế cộng đồng được gọi bằng nhiều tên gọi ở những quốc gia khác nhau Theo WHO, nhân viên y tế cộng đồng được định nghĩa: Nhân viên y tế cộng đồng phải là thành viên của cộng đồng nơi mà họ làm việc, phải được chọn từ cộng đồng, phải trả lời cho cộng đồng về những hành động của họ, phải được sự đồng ý của hệ thống y tế nhưng không cần thiết phải là một bộ phận của tổ chức y tế nào và được đào tạo ngắn hạn hơn nhân viên y tế chuyên nghiệp [9]

Nhân viên YTTB được hiểu là bất kỳ nhân viên y tế nào thực hiện các chức năng liên quan đến việc chăm sóc sức khoẻ tại các thôn bản Ngoài ra, người ta cũng cho rằng nhân viên YTTB nên là thành viên của cộng đồng nơi họ làm việc và được các cộng đồng lựa chọn, chịu trách nhiệm trước cộng đồng về các hoạt động của họ, cần được hỗ trợ bởi hệ thống y tế và có đào tạo ngắn hơn công nhân chuyên nghiệp [53]

Có rất nhiều loại nhân viên YTTB khác nhau và các tên khác nhau được sử dụng, như các nhân viên y tế gia đình, một từ đồng nghĩa với nhân viên YTTB Nhân viên YTTB có thể hoạt động trong khu vực nhà nước hoặc tư nhân, đáp ứng một hoặc nhiều bệnh và vấn đề sức khoẻ và cho thấy

sự khác biệt về trình độ kiến thức và đào tạo, thiết lập thực tiễn và thù lao của họ và mối quan hệ của họ với các quy định hiện hành [41]

Tại Phi-líp-pin, hoạt động chăm sóc sức khỏe ban đầu phát triển một cách khá toàn diện, là Quốc gia được WHO coi là một mô hình mẫu trong các nước thuộc thế giới thứ 3, đã đặc biệt quan tâm tới tính tự chủ của địa phương trong chăm sóc sức khỏe, coi trọng tính cộng đồng, huy động cả hệ thống y tế tư nhân và các tổ chức phi chính phủ tham gia Ban Sức khỏe ở địa phương, kết nối hoạt động cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe- ở làng xã của các nhân viên y tế cộng đồng với các tuyến điều trị khác [21]

Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đình Thanh về Thực trạng làm mẹ an toàn và vai trò của cán bộ y tế trong việc nâng cao công tác

Trang 18

làm mẹ an toàn tại huyện Hưng Nguyên, Nghệ An năm 2014 [31]: tỷ lệ nhân viên y tế thôn kiêm nhiệm chức danh khác chiếm 27,8% Tỷ lệ này không có

sự chênh lệch nhiều giữa hai vùng miền núi và đồng bằng thuộc địa bàn nghiên cứu Lý do chính của nhân viên y tế thôn tham gia công tác hiện tại được các đối tượng nghiên cứu đưa ra nhiều nhất là do yêu thích và tự nguyện đăng ký (75,6%) Số đối tượng đưa ra lý do làm thêm để cải thiện thu nhập chiếm 10,3%; tỷ lệ này ở vùng đồng bằng cao hơn so với vùng núi (79,2% so với 8,8%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05)

1.2.2 Công tác TT-GDSK và hoạt động của mạng lưới YTTB

Tháng 9 năm 1978, tại Alma - Ata (Thủ đô nước Cộng hoà Kazắcstan),

Tổ chức Y tế thế giới đã phối hợp với Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc tổ chức Hội nghị quốc tế về y tế, có 134 quốc gia và 67 tổ chức quốc tế tham dự bàn

về chăm sóc sức khoẻ ban đầu Hội nghị đã đề ra Chiến lược “Sức khoẻ cho mọi người đến năm 2000” và để thực hiện các mục tiêu của chiến lược, Hội nghị đã nêu lên tám nội dung CSSKBĐ Giáo dục sức khỏe chiếm vị trí số một trong tám nội dung CSSKBĐ và là giải pháp hữu hiệu góp phần nâng cao sức khỏe, phòng chống bệnh tật tại cộng đồng Tổ chức Y tế thế giới rất coi trọng công tác giáo dục sức khỏe và nêu rõ mục tiêu của giáo dục sức khỏe là cung cấp các kiến thức, hướng dẫn kỹ năng thực hành, giúp cho cá nhân, cộng đồng nhận thức rõ vấn đề sức khỏe của mình, chủ động lựa chọn biện pháp giải quyết các vấn đề sức khỏe, bệnh tật phù hợp với hoàn cảnh

thực tế của mỗi người, mỗi cộng đồng [44]

Việt Nam đã tham dự và cam kết thực hiện các mục tiêu của Tuyên ngôn Alma- Ata Năm 1980, Chính phủ chỉ đạo ngành Y tế triển khai thực hiện Chiến lược chăm sóc sức khoẻ ban đầu Từ kinh nghiệm thực tiễn và điều kiện đặc thù, Việt Nam bổ sung thêm hai nội dung, vì vậy ở nước ta có

10 nội dung chăm sóc sức khoẻ ban đầu, trong đó giáo dục sức khoẻ vẫn là nội dung đứng ưu tiên thứ nhất

Trang 19

Công tác TT-GDSK ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân Hơn nữa, công tác TT-GDSK là sự nghiệp của cả cộng đồng, trong đó ngành y tế giữ vai trò nòng cốt và các Trung tâm TT-GDSK là hạt nhân

Ngày 22/01/2002, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số CT/TW về việc Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở Chỉ thị nêu rõ:

06-“Phải tăng cường công tác truyền thông, làm cho cấp uỷ và chính quyền các cấp hiểu đúng vai trò của y tế cơ sở trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, để lãnh đạo và chỉ đạo việc kiện toàn mạng lưới y tế cơ sở trên địa bàn Đồng thời phải đẩy mạnh công tác giáo dục sức khỏe, góp phần nâng cao nhận thức cho người dân, để họ tự thay đổi các hành vi không có lợi cho sức khoẻ bằng hành vi có lợi cho sức khoẻ, tích cực tham gia phong trào Toàn dân vì sức khoẻ” [1]

Nghị quyết số 46-NQ/TW của Bộ Chính trị, ngày 23/2/2005 về việc thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới, trong đó chỉ rõ, phải: “Nâng cao hiệu quả thông tin - giáo dục

- truyền thông nhằm tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức, trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân; trang bị kiến thức và kỹ năng để mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng có thể chủ động phòng bệnh, xây dựng nếp sống vệ sinh, rèn luyện thân thể, hạn chế những lối sống và thói quen có hại đối với sức khoẻ, tham gia tích cực các hoạt động bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ cho cộng đồng” [2]

Nhằm góp phần thực hiện Chỉ thị 06, ngày 07/6/2011 Bộ Y tế ban hành Quyết định số 1827/QĐ-BYT về việc phê duyệt Chương trình hành động TT–GDSK giai đoạn 2011-2015 Quyết định này một lần nữa khẳng định vai trò quan trọng của công tác TT-GDSK [6] Ngày 22/9/2011, Bộ Y

tế ra Quyết định số 3447/QĐ-BYT về việc ban hành bộ Tiêu chí Quốc gia về

Trang 20

y tế xã giai đoạn 2011-2020, bao gồm 10 tiêu chí trong đó có tiêu chí 10 về truyền thông - giáo dục sức khỏe [7]

Các văn bản của Đảng và Nhà nước cho thấy vai trò quan trọng của công tác TT-GDSK, thể hiện quan điểm, chính sách xây dựng và củng cố hệ thống TT-GDSK từ Trung ương đến cơ sở, là việc làm cấp bách không thể thiếu Cùng với các văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, của ngành Y tế đã được ban hành, thì vai trò quan trọng của TT-GDSK cũng được các Trường Đại học Y Dược ghi nhận, biên soạn nội dung giáo trình giảng dạy cho học sinh, sinh viên [4]:

+ TT–GDSK là nội dung thứ nhất trong CSSKBĐ, đồng thời là một nội dung được sử dụng trong tất cả các nội dung khác, TT-GDSK là giải pháp có tầm quan trọng hàng đầu trong CSSKBĐ

+ Trong khi tiến hành các chương trình y tế, TT-GDSK phải được tiến hành trước, trong và sau mỗi cuộc vận động quần chúng tham gia vào các chương trình đó

+ Đầu tư cho TT-GDSK là đầu tư có lãi nhất, có hiệu quả cao nhất so với các dịch vụ y tế khác, chi phí cho giáo dục sức khỏe ít tốn kém TT-GDSK đặc biệt quan trọng đối với y tế cơ sở của các nước đang phát triển Tuy nhiên kết quả của TT-GDSK không thể thấy ngay được, nhưng khi đạt được kết quả thì nó thường bền vững và có ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng cuộc sống cá nhân và cộng đồng

+ TT-GDSK giúp cá nhân và cộng đồng hiểu biết hành vi sức khỏe,

tự lựa chọn các hành vi thích hợp nhằm nâng cao trạng thái sức khỏe, đồng thời cũng giúp cá nhân và cộng đồng tăng cường việc sử dụng hợp lý các dịch vụ y tế

Sự ảnh hưởng của thông tin, giáo dục, truyền thông tới cá nhân và nhóm xã hội hết sức mạnh mẽ và có xu hướng ngày càng tăng Thông tin, giáo dục, truyền thông không chỉ đóng vai trò cung cấp thông tin mà còn có

Trang 21

khả năng xây dựng và duy trì các giá trị kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc [38] Ở nước ta, trong điều kiện mới, để tạo điều kiện cho mạng lưới

y tế cơ sở trong đó có nhân viên YTTB thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm

vụ, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định phê duyệt Đề án Xây dựng

và phát triển mạng lưới y tế cơ sở trong tình hình mới [13], trong đó đề cập tới nội dung sau:

- Các TYT phải thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ của chăm sóc sức khỏe ban đầu; thực hiện việc quản lý sức khỏe toàn diện, liên tục cho từng người dân trên địa bàn, tập trung vào việc theo dõi, tư vấn về sức khỏe, chăm sóc giảm nhẹ, phục hồi chức năng, chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, bà mẹ, trẻ em; phòng chống các bệnh lây nhiễm, không lây nhiễm, quản lý các bệnh mạn tính; khám bệnh, chữa bệnh theo chức năng, nhiệm vụ và kết nối, chuyển bệnh nhân lên các cơ sở y tế tuyến trên

- Các cơ sở y tế huyện, y tế xã, YTTB phải tích cực tham gia các hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi của người dân để bảo vệ và nâng cao sức khỏe, các hoạt động về y tế dự phòng, chăm sóc sức khỏe ban đầu

Mạng lưới y tế cơ sở trong đó có nhân viên YTTB là nền tảng của hệ thống y tế quốc gia, đóng vai trò quan trọng trong công tác CSSKBĐ cho người dân Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính được tiến hành từ tháng 12/2012-9/2013 trên 75 nhân viên YTTB và 223 nhân viên TYT, cán bộ Ủy ban nhân dân xã, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Ban quản lý ấp sống tại huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh cho kết quả [29]: Tổng cộng có 29 hoạt động của nhân viên YTTB theo Thông tư 39/2010/TT-BYT được khảo sát trong nghiên cứu này Hầu hết các hoạt động đều có tỷ lệ nhân viên thực hiện cao (> 90%) trừ các hoạt động giám sát chất lượng nguồn nước (36%), hỗ trợ sinh đẻ (5,3%), sơ cấp cứu (69,3%), hướng dẫn trồng thuốc nam (73,3%) Các yếu tố phụ cấp nghề, thời

Trang 22

gian lãnh phụ cấp, thời gian TYT giám sát, số ngày làm việc đều có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với việc thực hiện hoạt động của nhân viên Hầu hết các hoạt động được quy định theo Thông tư 39/2010/TT-BYT đều được nhân viên YTTB thực hiện tốt Các ban ngành đoàn thể liên quan cần đề ra chính sách nhằm cải thiện hơn chế độ đãi ngộ, cách thức quản lý đối với nhân viên YTTB giúp họ gắn bó và hoạt động có hiệu quả hơn trong công tác YTTB [10], [29]

Các bằng chứng cho thấy các nhân viên YTTB có thể thực hiện các can thiệp chính về sức khoẻ bà mẹ và trẻ em trong chăm sóc sức khoẻ ban đầu

và cộng đồng, bao gồm các can thiệp để tăng cường chủng ngừa cho trẻ em

và tỷ lệ bú mẹ [53]

Khi các chính phủ ngày càng tăng cường hệ thống y tế thông qua việc

sử dụng các nhân viên YTTB [46], cần phải hiểu rõ hơn về các yếu tố có thể ảnh hưởng đến hoạt động của nhân viên YTTB Các nhà hoạch định chính sách và người thực hiện cần biết tại sao nhân viên YTTB hoạt động có hiệu quả hay không và những yếu tố cụ thể nào góp phần vào đó Các nghiên cứu gần đây cho thấy rằng các dịch vụ nhân viên YTTB có thể được tăng cường bằng các biện pháp tuyển dụng, các chính sách lưu giữ và duy trì công việc [44], [49], [55]

Đã có một số nghiên cứu cho thấy rằng động lực của nhân viên YTTB

có thể được tăng cường bằng các chính sách khuyến khích, quan điểm nghề nghiệp và giám sát Ngoài ra, đào tạo cơ bản và giáo dục thường xuyên đã được báo cáo có ảnh hưởng đến hoạt động của nhân viên YTTB [48], [52], [54], [59] Hỗ trợ cộng đồng cũng có thể tăng cường hiệu quả hoạt động của nhân viên YTTB

Nghiên cứu của Lê Cảnh Nhạc về huy động tiềm năng cộng đồng trong truyền thông giáo dục phòng chống tai nạn thương tích trẻ em cho thấy: Đối với cán bộ chuyên trách vùng cao, cần phải đầu tư các phương tiện

Trang 23

phục vụ công tác truyền thông như: xe đạp, tăng âm, loa đài, video, lao tay,

áp phích, tờ rơi…để có điều kiện tiếp cận các đối tượng truyền thông [27] Đối với đồng bào dân tộc thiểu số thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng cao hình thức truyền thông trực tiếp vẫn giữ vai trò chủ đạo như tuyên truyền của tổ chức cơ sở đảng cho đảng viên, cán bộ trong các cuộc họp; tuyên truyền của các cộng tác viên trong các hoạt động hàng ngày; tuyên truyền trực tiếp tại

hộ gia đình [35]

Nghiên cứu của Nguyễn Đình Thanh về thực trạng làm mẹ an toàn và vai trò của cán bộ y tế trong việc nâng cao công tác làm mẹ an toàn tại huyện Hưng Nguyên, Nghệ An năm 2014 [31] cho thấy: trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân trong đó có TT-GDSK, tỷ lệ nhân viên YTTB hài lòng hoặc rất hài lòng với công việc đang đảm nhiệm chiếm 71,0%, trong đó số rất hài lòng chiếm 44,9% Tỷ lệ không hài lòng với công việc

đang đảm nhiệm chỉ chiếm 6% cho cả hai vùng Số nhân viên YTTB không

hài lòng với công việc hiện tại, lý do không hài lòng chủ yếu là do phụ cấp thấp (92,9%), tiếp đến là chính sách, chế độ đãi ngộ khác chưa phù hợp, không được chính quyền hỗ trợ (cùng tỷ lệ 42,9%) Các lý do khác được đưa

ra với tỷ lệ từ 7,1% đến 28,6%)

Nghiên cứu của tác giả Tạc Văn Nam (2011) tại tỉnh Bắc Kạn cho thấy: tất cả 100% số nhân viên YTTB đã được đào tạo cơ bản theo yêu cầu của công việc (lớp YTTB 3 tháng), 51,4% đã tốt nghiệp trình độ y tá sơ học Hầu hết nhân viên YTTB đều được cấp tài liệu để phục vụ công tác TT-GDSK nhưng có đến 76,4% cho rằng các loại tài liệu này là chưa đủ Tất cả 100% nhân viên YTTB tổ chức các hoạt động TT-GDSK tại cộng đồng nơi

họ sinh sống 100% nhân viên YTTB cho rằng mức phụ cấp của họ là quá thấp, chưa tương xứng với nhiệm vụ của họ [23]

Một số nghiên cứu ngoài nước cho thấy nhân viên YTTB cảm thấy được công nhận bởi cộng đồng, điều này làm tăng cường động lực của họ

Trang 24

[43], [44] Người ta phát hiện ra rằng các tình nguyện viên y tế cộng đồng ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào đã thực hiện tốt hơn nếu họ nhận thấy họ có trách nhiệm nhiều hơn Tính linh hoạt trong các nhiệm vụ như là một nhân tố

có thể đóng góp vào việc của nhân viên YTTB ở Uganda, mặc dù nó cũng có thể dẫn đến việc bỏ bê các vấn đề sức khoẻ nhất định trong chương trình [42] Một nghiên cứu khác cho thấy mối tương quan giữa thời gian dành cho mỗi bệnh nhân và hiệu quả của nhân viên YTTB ở Zambia Các nhân viên YTTB từ trung bình đến thấp tương ứng với thời gian liên hệ khách hàng rất ngắn [47]

Về giới tính của nhân viên YTTB: một nghiên cứu về nhân viên YTTB ở Kenya cho thấy nhân viên YTTB nam cao gấp 1.6 lần so với nữ giới, trong khi đó phụ nữ 58% có khả năng tư vấn tốt hơn và 71% có khả năng thuyết phục được khách hàng của mình chấp nhận lựa chọn dựa trên bằng chứng cho việc chăm sóc tốt hơn nam giới [45]

Một nghiên cứu về điều trị kháng retrovirus cộng đồng và những người ủng hộ điều trị bệnh lao (CATTS) ở Uganda, sử dụng một mô hình hồi quy để xác định các đặc tính của CATTS ảnh hưởng đến việc mất thông tin theo dõi, phát hiện CATTS ở nam hơn [40]

Kebriaei và Moteghedi (2009) đã đo được sự hài lòng của công việc của nhân viên YTTB tại Iran bằng cách tiến hành một cuộc điều tra cắt ngang và không có sự khác biệt giữa nam và nữ trong sự hài lòng công việc (một trong những yếu tố quyết định trực tiếp của hoạt động của nhân viên YTTB) [51]

Xuất phát gốc của nhân viên YTTB là một yếu tố đã được xác định là

có thể liên quan đến hoạt động của họ Nhân viên YTTB đến từ cộng đồng

mà họ đang phục vụ đã được báo cáo là đáng tin cậy hơn bởi cộng đồng đó,

có thể ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện công việc của họ [56], [58] Tuy nhiên, theo kết quả một nghiên cứu ở Uganda, một số thành viên cộng đồng

Trang 25

ưa thích CATTS sống xa hơn và không đến thăm nhà của họ vì sự kỳ thị liên quan đến HIV [40]

Nhân viên YTTB là một người mà người đó giúp hướng dẫn gia đình

và hàng xóm hướng đến một sức khỏe tốt hơn Thông thường người này được lựa chọn bởi những người trong thôn bản vì người đó có khả năng đặc biệt hoặc tử tế, tốt bụng Một số nhân viên YTTB nhận được sự đào tạo và

sự giúp đỡ từ các chương trình được tổ chức, có thể là từ Bộ Y tế Những người khác không có một vị trí chính thức nào, nhưng họ chỉ đơn giản là một thành viên của cộng đồng gồm những người được kính trọng như thầy lang, hay người hướng dẫn về các vấn đề sức khỏe Thông thường họ học bằng cách quan sát, giúp đỡ và tự học [57]

Nghiên cứu về thực trạng hoạt động và các yếu tố liên quan của nhân viên YTTB tại huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh năm 2013 của tác giả Trương Thị Tuyết Nhung và cộng sự cho kết quả: tổng cộng có 29 hoạt động của nhân viên YTTB theo Thông tư 39/2010/TT-BYT được khảo sát trong nghiên cứu này Hầu hết các hoạt động đều có tỷ lệ nhân viên thực hiện cao (> 90%) trừ các hoạt động giám sát chất lượng nguồn nước (36%), hỗ trợ sinh đẻ (5,3%), sơ cấp cứu (69,3%), hướng dẫn trồng thuốc nam (73,3%) Các yếu tố phụ cấp nghề, thời gian lãnh phụ cấp, thời gian TYT giám sát, số ngày làm việc đều có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với việc thực hiện hoạt động của nhân viên [29]

Tác giả Nông Minh Dũng nghiên cứu Thực trạng hoạt động của nhân viên y tế thôn bản tỉnh Bắc Kạn năm 2011 [14] cho thấy: 53,6% nhân viên YTTB ở lứa tuổi 30-39; Nữ chiếm 73,9% và dân tộc Tày chiếm 76,8% Theo chúng tôi ở khu vực miền núi, đa số phụ nữ sinh đẻ lần đầu ngay sau 20 tuổi,

vì vậy từ 30 tuổi trở đi các bà mẹ mới có thời gian để sẵn sàng tham gia vào các hoạt động xã hội khác Hơn nữa, ở lứa tuổi trên 40 tuổi thì một phần do hạn chế về trình độ học vấn, một phần đã lớn tuổi ngại tham gia các hoạt

Trang 26

động xã hội Tỷ lệ nhân viên YTTB là nữ cũng cao hơn nam vì thường những nam giới rất ngại khi phải thực hiện những công việc thường xuyên tiếp cận với phụ nữ, trẻ em

Một nghiên cứu của Đoàn Trọng Nghĩa [25] cho thấy: tỷ lệ nhân viên YTTB có đủ tài liệu truyền thông (91,2%), tỷ lệ có nhưng không đủ là (6,3%), số không có tài liệu là (2,5%) Đa số nhân viên YTTB đều gặp phải khó khăn chung trong công tác TT-GDSK tại cộng đồng

Theo tác giả Đỗ Công Tuyển thực hiện đánh giá thực trạng công tác TT-GDSK và nâng cao hiệu quả hoạt động mạng lưới TT-GDSK từ tuyến tỉnh đến tuyến xã tại tỉnh Tuyên Quang [37] cho thấy: số nhân viên YTTB

đã qua đào tạo chuyên môn y, dược từ 03 tháng đến 12 tháng chiếm 88,5%, trong đó: số được đào tạo 12 tháng chiếm 10,1%, số được đào tạo 09 tháng chiếm 18,3%, số được đào tạo 06 tháng chiếm 25,7%, số được đào tạo 03 tháng chiếm 34,2% Số nhân viên YTTB chưa được đào tạo chiếm 11,4% (240/2.090), đây là số nhân viên YTTB mới được bổ sung

Nghiên cứu của Vũ Quốc Hải [16] cho thấy: tỷ lệ nhân YTTB là nữ chiếm đa số (80,8%); số YTTB được đào tạo chuyên môn về YTTB hoặc kỹ năng TT-GDSK chiếm 93,94%; thời gian YTTB công tác từ 11-15 năm chiếm tỷ lệ 43,4%; tỷ lệ YTTB có các phương tiện phục vụ công việc truyền thông thấp: 60,6% có sổ tay tuyên truyền, 22,2 % có túi truyền thông, 14,1%

có đèn pin, 12,1% có công cụ làm mẫu, các phương tiện khác như quần áo đi mưa, ủng đi mưa, xe đạp hầu như không có; 11,1% các xóm có đầy đủ phương tiện truyền thông

Nghiên cứu của Võ Bá Tước [34] tại An Giang thực hiện đối với trên

389 nhân viên YTTB cho thấy: nhóm tuổi của nhân viên y tế thôn, bản từ 30-60 chiếm tỉ lệ 82%, dưới 30 chiếm 13,4% và trên 60 là 4,6% Nữ giới chiếm tỷ lệ là 49,9% và nam giới là 50,1% Nhân viên y tế thôn, bản có trình

độ học vấn là trung học cơ sở và trung học phổ thông chiếm đa số với tỷ lệ

Trang 27

là 50,1% và 48,9%, còn 1% là trình độ tiểu học Tỷ lệ nhân viên YTTB có trình độ chuyên môn y tế là 77,1% còn lại 22,9% không có chuyên môn y tế Theo Thông tư số 39/2010/TT-BYT, tỷ lệ nhân viên YTTB đạt tiêu chuẩn là 93,3%; thực hiện nội dung nhiệm vụ ở mức đạt là 76,1% Dựa trên kết quả, nghiên cứu đưa ra kiến nghị Sở Y tế tổ chức thêm nhiều lớp đào tạo cho nhân viên YTTB theo chương trình của Bộ Y tế, đảm bảo đạt tiêu chuẩn Thông tư số 39/2010/TT-BYT; Các TYT xã/phường/thị trấn có kế hoạch hoạt động cụ thể cho nhân viên YTTB, phải duy trì chế độ giao ban hàng tháng, kiểm tra định kỳ với YTTB

Như vậy, qua kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy, vai trò của nhân viên YTTB phần nào đã được thể hiện trong công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, góp phần không nhỏ trong các hoạt động y tế tại tuyến y

tế cơ sở Tuy nhiên trên thực tế, thực trạng hoạt động của nhân viên YTTB nước ta vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân Nhân viên YTTB còn yếu cả về kiến thức và kỹ năng, chưa đủ năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ, tinh thần và ý thức trách nhiệm còn nhiều hạn chế, thiếu chủ động; chưa có đủ trang thiết bị y tế, túi thuốc; vai trò và vị thế của nhân viên YTTB chưa được cộng đồng coi trọng, ủng hộ

Hoạt động TT-GDSK không thay thế được các dịch vụ khác, nhưng

nó góp phần nâng cao hiệu quả của các dịch vụ chăm sóc sức khỏe khác Đầu tư cho TT-GDSK chính là đầu tư có chiều sâu, lâu dài cho công tác bảo

vệ và nâng cao sức khỏe Hoạt động TT-GDSK thể hiện quan điểm dự phòng trong chăm sóc sức khỏe, mang lại hiệu quả lâu dài, vì nếu mọi người

có hiểu biết và có những kỹ năng nhất định về phòng chống bệnh tật, nâng cao sức khỏe, họ có thể chủ động quyết định các hành vi chăm sóc sức khỏe đúng đắn Hiện nay, rất nhiều chương trình chăm sóc sức khỏe sẽ không thể thành công nếu không chú trọng đến vai trò của TT-GDSK nhằm thay đổi các hành vi liên quan đến sự tồn tại của các vấn đề sức khỏe, bệnh tật [17]

Trang 28

1.3 Nhu cầu đào tạo của nhân viên YTTB

Hệ thống y tế ở nước ta hiện nay được chia theo 4 tuyến: tuyến trung ương, tuyến tỉnh/thành phố, tuyến quận/huyện/thị xã và tuyến xã/phường Y

tế cơ sở bao gồm tuyến quận/huyện/thị xã và tuyến xã/ phường (gồm cả y tế thôn/bản/tổ dân phố) Y tế cơ sở đóng vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân Y tế cơ sở là đơn vị y tế gần dân nhất, phát hiện ra những vấn đề y tế sớm nhất và giải quyết hơn 80% khối lượng y tế tại chỗ, là nơi thể hiện sự công bằng trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân

Qua một thời gian thực hiện chủ trương kiện toàn mạng lưới y tế cơ

sở, bằng nhiều nỗ lực, đến năm 2006, cả nước đã có 98.278 thôn, bản, ấp có nhân viên YTTB hoạt động trên tổng số 116.376 thôn/bản/ấp chiếm 84,4%

Định hướng xây dựng và phát triển y tế cơ sở:

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và đầu tư cho mạng lưới y tế cơ sở Chỉ thị số 06/CT-TW ngày 22/1/2002 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở đã chỉ rõ: Tăng cường cán bộ và trang bị kỹ thuật cho mạng lưới y tế cơ sở Mở rộng các hình thức đào tạo và bồi dưỡng để phát triển đội ngũ nhân viên y tế

cơ sở, ưu tiên đào tạo cán bộ người dân tộc tại chỗ Bảo đảm đủ chức danh cán bộ cho TYT, chú trọng bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ y-dược học

cổ truyền Phấn đấu đến năm 2010, 80% TYT xã có bác sĩ, 100% thôn, bản

có nhân viên y tế với trình độ sơ học trở lên tham gia vào công tác CSSKBĐ

cho nhân dân, trong đó có công tác TT-GDSK [1]

Nghị quyết số 46/ NQ/TW ngày 23/2/2005 của Bộ Chính trị (khóa IX)

về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới đã nhấn mạnh “Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị và cán bộ”

Trang 29

Quy định về chức năng, nhiệm vụ của nhân viên YTTB:

Thông tư số 07/2013/TT-BYT ngày 08/3/2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế

đã quy định khá chi tiết về chức năng, nhiệm vụ, chế độ phụ cấp và phương tiện, dụng cụ làm việc của nhân viên YTTB [8] :

Chức năng của nhân viên y tế thôn, bản:

- Nhân viên y tế thôn, bản làm công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu có chức năng tham gia chăm sóc sức khỏe ban đầu tại thôn, bản

- Nhân viên y tế thôn, bản có chức năng tham gia công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em tại thôn, bản

Nhiệm vụ của nhân viên y tế thôn, bản:

Nhiệm vụ của nhân viên y tế thôn, bản làm công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu:

* Tuyên truyền, giáo dục sức khoẻ tại cộng đồng:

- Thực hiện tuyên truyền, phổ biến kiến thức bảo vệ sức khoẻ, vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm;

- Hướng dẫn một số biện pháp chăm sóc sức khoẻ ban đầu; phòng, chống dịch bệnh tại cộng đồng;

- Tuyên truyền, giáo dục người dân về phòng, chống HIV/AIDS;

- Vận động, cung cấp thông tin, tư vấn về công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình

* Tham gia thực hiện các hoạt động chuyên môn về y tế tại cộng đồng:

- Phát hiện, tham gia giám sát và báo cáo tình hình dịch, bệnh truyền nhiễm, bệnh không lây nhiễm, bệnh xã hội, bệnh truyền qua thực phẩm tại thôn, bản;

- Tham gia giám sát chất lượng nước dùng cho ăn uống, sinh hoạt; công trình vệ sinh hộ gia đình, nơi công cộng tại thôn, bản;

Trang 30

- Tham gia triển khai thực hiện các phong trào vệ sinh phòng bệnh,

an toàn thực phẩm, nâng cao sức khỏe cộng đồng, xây dựng làng văn hóa sức khỏe

* Chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em và kế hoạch hoá gia đình:

- Tuyên truyền, vận động phụ nữ mang thai đến trạm y tế xã đăng ký quản lý thai, khám thai và đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để sinh đẻ; xử trí đẻ rơi cho phụ nữ có thai không kịp đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để sinh đẻ;

- Hướng dẫn, theo dõi chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ sơ sinh tại nhà trong 06 tuần đầu sau khi sinh đẻ;

- Hướng dẫn một số biện pháp đơn giản về theo dõi, chăm sóc sức khoẻ trẻ em và phòng, chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 05 tuổi;

- Hướng dẫn thực hiện kế hoạch hoá gia đình, cung cấp và hướng dẫn

sử dụng bao cao su, viên thuốc uống tránh thai theo quy định của Bộ Y tế ban hành

* Sơ cứu ban đầu và chăm sóc bệnh thông thường:

- Thực hiện sơ cứu ban đầu các cấp cứu và tai nạn;

- Chăm sóc một số bệnh thông thường tại cộng đồng;

- Tham gia hướng dẫn chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, người khuyết tật, người mắc bệnh xã hội, bệnh không lây nhiễm tại gia đình

* Tham gia thực hiện các chương trình y tế tại thôn, bản

* Vận động, hướng dẫn nhân dân nuôi trồng và sử dụng thuốc nam tại gia đình để phòng và chữa một số chứng, bệnh thông thường

* Tham gia giao ban định kỳ với trạm y tế xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là trạm y tế xã); tham gia các khoá đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về chuyên môn do cơ quan y tế cấp trên tổ chức để nâng cao trình độ

* Quản lý và sử dụng hiệu quả Túi y tế thôn, bản

* Thực hiện ghi chép, báo cáo kịp thời, đầy đủ theo hướng dẫn của TYT

Trang 31

Về kinh phí chi trả thù lao cho nhân viên YTTB: Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 75/2009/QĐ-TTg ngày 11/5/2009 quy định chế độ phụ cấp đối với nhân viên y tế thôn, ấp, bản, buôn, làng, sóc (gọi chung là thôn/bản) Theo đó, từ ngày 01/7/2009, mức phụ cấp hàng tháng bằng 0,5 và 0,3 so với mức lương tối thiểu chung [12]

Công tác truyền thông giảm mất cân bằng giới tính khi sinh tại cộng đồng cũng là một trong những nhiệm vụ của YTTB Xuất phát từ đặc thù của đối tượng quản lý nhà nước là dân số-một lĩnh vực xã hội rộng lớn, nên

để giải quyết được các vấn đề dân số cần sự tham gia của toàn xã hội Mặt khác, đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới, bản thân Nhà nước không có

đủ các nguồn lực để có thể giải quyết hết các vấn đề xã hội luôn nảy sinh mà cần thiết phải thu hút được nguồn lực từ các tổ chức bên ngoài Tuy nhiên, việc có thu hút được sự góp sức của các tổ chức khác để cùng giải quyết được các vấn đề xã hội phụ thuộc vào vai trò của Nhà nước trong việc đưa ra các cơ chế chính sách phù hợp, thuận lợi để các tổ chức xã hội chủ động tham gia [20]

Khảo sát nhanh nhu cầu tập huấn về GDSK của 63 Trung tâm GDSK (T4G) tuyến tỉnh năm 2013 của tác giả Lý Thu Hiền và cộng sự [18] cho thấy: 3 nội dung mà T4G có nhu cầu tập huấn nhiều nhất là nghiên cứu khoa học (53,2%), áp dụng công nghệ số trong sản xuất chương trình phát thanh/truyền hình (50,0%) và xây dựng nội dung chương trình phát thanh truyền hình cho biên tập, đạo diễn và quay phim (56,5%) Điều này rất phù hợp với kết quả tự đánh giá năng lực của cán bộ T4G, đây là những kỹ năng

TT-mà lãnh đạo các T4G cho rằng cán bộ đơn vị mình còn hạn chế Thời gian, thời điểm và địa điểm tổ chức tập huấn: kết quả nghiên cứu cho thấy, thời gian thích hợp nhất cho một khóa tập huấn từ 3 đến 5 ngày (90,4%); thời điểm mở lớp thích hợp là quý II (77,4%) hoặc quý III (40,3%) Có đến 80,6% các tỉnh lựa chọn mở lớp theo khu vực và 77% lãnh đạo các đơn vị đồng ý cử cán bộ tham gia tập huấn bằng nguồn kinh phí đơn vị tự chi trả Trung bình mỗi tỉnh có thể cử 2 người tham gia trong một khóa tập huấn

Trang 32

Công tác bảo vệ-chăm sóc sức khỏe cộng đồng ở vùng sâu, vùng xa, vùng cao, biên giới, hải đảo của chúng ta đã và đang đứng trước những thách thức rất lớn Có những vấn đề thuộc nguyên nhân khách quan như điều kiện

tự nhiên khó khăn, phức tạp và có những vấn đề thuộc nguyên nhân chủ quan như điều kiện kinh tế-xã hội chậm phát triển Do đó, để giải quyết tốt những vấn đề bất cập đã nêu, cần đẩy mạnh hơn nữa các chương trình y tế dựa vào cộng đồng và tranh thủ phát huy nguồn nhân lực y tế ngay tại địa phương, đặc biệt là đội ngũ nhân viên YTTB Cần có kế hoạch tập huấn đào tạo, đào tạo lại cho nhân viên YTTB theo các nội dung cụ thể mà nhân viên YTTB còn thấy khó thực hiện để có thể đảm nhiệm tốt hơn công việc họ được giao [11]

Nhu cầu TT-GDSK tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng:

Tại Cao Bằng, tất cả các chương trình y tế quốc gia đều đã được triển khai, góp phần quan trọng vào sự nghiệp chăm sóc bảo vệ sức khoẻ nhân dân địa phương Mạng lưới y tế thôn bản không ngừng được củng cố và hoàn thiện Từ khi thành lập đến nay toàn huyện hiện có 231 thôn bản và 100% số thôn bản đều có nhân viên YTTB hoạt động

Mô hình bệnh tật của huyện Trùng Khánh cũng mang đặc điểm chung của mô hình bệnh tật của tỉnh Cao Bằng nói riêng và các tỉnh Miền Bắc nói chung, các bệnh truyền nhiễm như: tiêu chảy, tay chân miệng… là chủ yếu Tuy nhiên, cũng theo kết quả đánh giá nhanh cho thấy: mỗi khi có vấn đề về sức khỏe, đa số người dân đều tìm đến các cơ sở y tế chứ ít khi tìm đến nhân viên YTTB Nhân viên YTTB chủ yếu là làm TT-GDSK, vận động tiêm chủng mở rộng, chăm sóc và quản lý thai cho phụ nữ mang thai, theo dõi sức khỏe trẻ em, theo dõi dịch bệnh Tất cả những vấn đề này đang đặt ra cho ngành y tế và chính quyền các cấp huyện Trùng Khánh cần sớm có những giải pháp đồng bộ nhằm củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của nhân viên YTTB trên địa bàn huyện, góp phần CSSKBĐ cho nhân dân ngày càng tốt hơn

Trang 33

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa bàn và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

+ Các đối tượng tham gia công tác là nhân viên YTTB tại địa phương với thời gian ít nhất là 6 tháng

+ Đồng ý tự nguyện tham gia trong nghiên cứu

+ Có mặt tại thời điểm nghiên cứu

* Nghiên cứu định tính:

Là Trưởng TYT xã, thị trấn trên địa bàn nghiên cứu

Ti u chu n a ch n Tr ng TYT:

+ Có kinh nghiệm làm Trưởng TYT xã ít nhất 02 năm

+ Đồng ý tự nguyện tham gia trong nghiên cứu

+ Phụ trách hoạt động TT – GDSK của TYT xã, thị trấn

+ Có mặt tại thời điểm nghiên cứu

2.1.2 Địa bàn nghiên cứu

Nghiên cứu được triển khai tại 20 Trạm Y tế của huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng

Trang 34

Đặc điểm địa bàn nghiên cứu - huyện Trùng Khánh:

- Trùng Khánh là huyện miền núi, cách Thành phố Cao Bằng 62 km;

có diện tích đất tự nhiên 466,924 km2 Phía Đông và Đông Nam giáp huyện

Hạ Lang; Phía Tây giáp huyện Trà Lĩnh; Phía Nam giáp huyện Quảng Uyên

và huyện Phục Hòa; Phía Bắc và Đông Bắc giáp huyện Tịnh Tây và huyện Đại Tân (Quảng Tây, Trung Quốc)

 Về hành chính, huyện bao gồm 01 thị trấn và 19 xã, với 231 xóm Tính đến thời điểm 6 tháng đầu năm 2017, Trùng Khánh có:

+ Tổng dân số là của huyện: 47.689 người, gồm có 03 dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc Tày chiếm 71,8%, Nùng chiếm 26,57%, Kinh chiếm 1,55%

+ Huyện Trùng Khánh có 08/20 xã đặc biệt khó khăn theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, vì vậy tỷ lệ hộ nghèo còn cao (chiếm 33,05% tổng số hộ); trình độ dân trí không đồng đều; giao thông đi lại đến các thôn, bản một số xã còn nhiều khó khăn; đa số người dân chủ yếu là chăn nuôi, sản xuất nông nghiệp như trồng lúa nước, hoa màu

+ Về hoạt động y tế, hiện nay trên địa bàn huyện Trùng Khánh có: 1 Bệnh viện đa khoa huyện; 1 Phòng khám đa khoa khu vực; 1 Trung tâm Y tế huyện; 20 Trạm Y tế xã, thị trấn; 231 nhân viên YTTB

- Về đội ngũ làm công tác TT-GDSK thì tại Bệnh viện Đa khoa huyện

có thành lập 01 Tổ Truyền thông - GDSK kiêm nhiệm; tại Trung tâm Y tế huyện có Phòng TT-GDSK với biên chế hiện nay có 03 người; tại các trạm y

tế xã có cán bộ phụ trách công tác TT-GDSK, đa số là do Trưởng TYT phụ trách và đội ngũ 231 nhân viên YTTB/231 thôn, bản là những truyền thông viên tại cộng đồng

Trang 35

- Về hoạt động TT-GDSK trên địa bàn huyện: theo nhận xét, đánh giá của Trung tâm TT-GDSK tỉnh Cao Bằng trong những năm gần đây, thì Trùng Khánh là một trong những huyện triển khai, thực hiện có hiệu quả các hoạt động TT-GDSK trên địa bàn:

+ Đối với Phòng Truyền thông – GDSK của Trung tâm Y tế huyện là

bộ phận tham mưu cho Lãnh đạo Trung tâm phối hợp tốt với Bệnh viện Đa khoa huyện, Phòng Văn hóa huyện, Đài Phát Thanh – Truyền hình huyện và các đơn vị liên quan đã triển khai các hoạt động TT-GDSK trên các phương tiện thông tin đại chúng; thực hiện chỉ đạo, giám sát chặt chẽ công tác TT-GDSK tuyến xã; có khả năng đào tạo nâng cao năng lực cho tuyến xã, nhân viên YTTB…

+ Đối với đội ngũ cán bộ y tế xã, thị trấn được giao phụ trách công tác TT-GDSK đa số là Trưởng trạm y tế, có trình độ chuyên môn khá cao và công tác lâu năm nên có nhiều kinh nghiệm, 100% đã được qua đào tạo, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ về TT-GDSK ít nhất 01 lần trở lên do Trung tâm Truyền thông – GDSK tỉnh và các đơn vị y tế tuyến trên tổ chức

+ Đối với đội ngũ nhân viên YTTB gần 100% đã qua đào tạo từ sơ cấp trở lên cũng đã được trang bị kiến thức, kỹ năng cần thiết để thực hiện các hoạt động TT-GDSK tại cộng đồng; hàng năm đội ngũ này cũng thường xuyên được đào tạo, tập huấn lại do các chương trình, dự án, các đơn vị trong ngành y tế thực hiện

Trang 37

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành trong thời gian từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 5 năm 2018

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính

) 1 (

d

p p

- d: sai số tuyệt đối lựa chọn (d=0,07)

Thay các giá trị trên vào công thức tính ta có n = 196 (nhân viên y tế

Trang 38

2.2.3 Nội dung và chỉ số đánh giá trong nghiên cứu

* Nội dung nghi n cứu của Mục ti u 1 - Thực trạng hoạt động GDSK của nhân viên YTTB:

TT-+ Đặc điểm chung của đối tượng:

 Tuổi của đối tượng

 Thành phần dân tộc của đối tượng

 Giới tính của đối tượng

 Trình độ học vấn của đối tượng

 Trình độ chuyên môn của đối tượng

 Thâm niên làm nhân viên YTTB của đối tượng

 Kiêm nhiệm các chức danh khác ở địa phương của đối tượng

 Lý do chính tham gia làm YTTB của đối tượng

+ Công tác TT-GDSK của đối tượng:

 Trang thiết bị truyền thông hiện có

 Loại tài liệu thường được nhân viên YTTB sử dụng nhất

 Mức độ đáp ứng của tài liệu so với nhu cầu truyền thông

 Hình thức TT-GDSK nhân viên YTTB thường sử dụng

 Những khó khăn của nhân viên YTTB khi thực hiện các hoạt động TT-GDSK

Trang 39

 Mức độ phối hợp của các cán bộ khác tại thôn bản với nhân viên YTTB

 Lĩnh vực TT-GDSK nhân viên YTTB thường thực hiện

 Lĩnh vực TT-GDSK khó khăn nhất khi nhân viên YTTB thực hiện tại cộng đồng

 Mức độ thực hiện các lĩnh vực TT-GDSK của YTTB tại cộng đồng

 Tự đánh giá kỹ năng nói trước đông người của nhân viên YTTB

 Số buổi nhân viên YTTB thực hiện các hoạt động TT-GDSK hàng tháng

 Số lần cán bộ Trạm y tế xã xuống giám sát nhân viên YTTB thực hiện TT-GDSK trong năm

 Mức độ lồng ghép TT-GDSK trong các hoạt động của cá nhân, gia đình

 Tỷ lệ nhân viên YTTB được cán bộ Trạm y tế xuống giám sát khi thực hiện TT-GDSK

* Nội dung nghi n cứu của Mục ti u 2- Đánh giá kiến thức và xác định

nhu cầu đào tạo liên tục về TT-GDSK của nhân viên YTTB:

+ Kiến thức về truyền thông - GDSK của đối tượng:

 Tỷ lệ đối tượng hiểu biết về các phương pháp TT-GDSK

 Tỷ lệ đối tượng hiểu biết về các hình thức TT-GDSK trực tiếp

 Tỷ lệ đối tượng biết về các kỹ năng TT-GDSK cần thiết

 Tỷ lệ nhân viên YTTB kể được các nội dung cần phải có trong bản

kế hoạch 1 buổi TT-GDSK

 Tỷ lệ đối tượng kể được tên các đối tượng của TT-GDSK

 Tự nhận xét về kỹ năng lập kế hoạch TT-GDSK, thăm hộ gia đình, thảo luận nhóm

 Tự nhận xét về kỹ năng truyền thông tư vấn, làm mẫu

Trang 40

+ Nhu cầu đào tạo của đối tượng:

 Tỷ lệ nhân viên YTTB tham gia các khóa tập huấn về TT-GDSK do các đơn vị y tế tổ chức

 Tỷ lệ đối tượng cho rằng thời gian tập huấn phù hợp

 Tỷ lệ nhân viên YTTB đề xuất số ngày 1 đợt tập huấn về phù hợp

 Tỷ lệ YTTB đề xuất địa điểm tập huấn phù hợp

 Những khó khăn của nhân viên YTTB khi tham gia tập huấn

 Tỷ lệ YTTB đề xuất địa điểm tập huấn phù hợp, chia theo giới

 Tỷ lệ YTTB đề xuất địa điểm tập huấn phù hợp, chia theo nhóm xã

 Tỷ lệ YTTB đề xuất địa điểm tập huấn phù hợp, chia theo tuổi

 Tỷ lệ nhân viên YTTB đề xuất số ngày 1 đợt tập huấn về phù hợp, chia theo thâm niên công tác

2.2.4 Phương pháp thu thập thông tin

- Phương pháp thu thập thông tin đối với nhân viên YTTB

+ Phỏng vấn trực tiếp với các đối tượng là nhân viên YTTB bằng bộ công cụ điều tra đã chuẩn bị sẵn

* Cấu trúc của bộ công cụ:

 Phần 1: Thông tin chung về nhân viên YTTB

 Phần 2: Thực trạng hoạt động về TT-GDSK của nhân viên YTTB

 Phần 3: Kiến thức về TT-GDSK của nhân viên YTTTB

 Phần 4: Nhu cầu đào tạo của nhân viên YTTTB

+ Trong trường hợp đối tượng đi vắng, phỏng vấn viên phải hẹn gia đình quay lại để phỏng vấn nếu đối tượng không đi xa

+ Nếu đối tượng từ chối hợp tác trả lời thì điều tra viên chuyển sang đối tượng khác để phỏng vấn

+ Trong quá trình phỏng vấn chỉ có hai người (điều tra viên và đối tượng phỏng vấn), và ngồi đối diện nhau, không có người thứ ba, trừ khi đối tượng phỏng vấn là người dân tộc ít người cần phải có thêm phiên dịch

Ngày đăng: 10/09/2019, 00:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Nguyễn Linh Chi (2013), "Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao hoạt động của đội ngũ nhân viên YTTB tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái năm 2012", Kỷ yếu các đề nghi n cứu khoa h c của hệ Truyền thông – Giáo dục sức khỏe năm 2013, tr.80-89. tr.179-188 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp nâng cao hoạt động của đội ngũ nhân viên YTTB tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái năm 2012
Tác giả: Nguyễn Linh Chi
Năm: 2013
14. Nông Minh Dũng (2011), Thực trạng hoạt động của nhân viên y tế thôn bản tỉnh Bắc Kạn năm 2011, Tạp chí Khoa h c &amp; Công nghệ, 89 (01), tr. 281-289 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa h c & Công nghệ
Tác giả: Nông Minh Dũng
Năm: 2011
15. Vũ Đức Điến (2014), Th c trạng hoạt động và nhu cầu đào tạo của cán bộ chuy n trách d n số xã tại tỉnh thái bình năm 2014, Luận án BSCKII, Trường Đại học Y Dược Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Th c trạng hoạt động và nhu cầu đào tạo của cán bộ chuy n trách d n số xã tại tỉnh thái bình năm 2014
Tác giả: Vũ Đức Điến
Năm: 2014
16. Vũ Quốc Hải (2015), "Thực trạng hoạt động Truyền thông – Giáo dục sức khỏe hệ thống y tế thôn bản tỉnh Hòa Bình năm 2014", Kỷ yếu các đề nghi n cứu khoa h c của hệ Truyền thông – Giáo dục sức khỏe năm 2014, tr.80-89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng hoạt động Truyền thông – Giáo dục sức khỏe hệ thống y tế thôn bản tỉnh Hòa Bình năm 2014
Tác giả: Vũ Quốc Hải
Năm: 2015
17. Nguyễn Văn Hiến (2010), Nghi n cứu th c trạng truyền thông giáo dục sức khỏe tuyến huyện và x y d ng mô hình thí điểm phòng Truyền thông giáo dục sức khỏe Trung t m Y tế d phòng huyện, Đề tài cấp Bộ - Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi n cứu th c trạng truyền thông giáo dục sức khỏe tuyến huyện và x y d ng mô hình thí điểm phòng Truyền thông giáo dục sức khỏe Trung t m Y tế d phòng huyện
Tác giả: Nguyễn Văn Hiến
Năm: 2010
18. Lý Thu Hiền (2013), "Khảo sát nhanh về nhu cầu tập huấn về TT- GDSK của 63 Trung tâm TT-GDSK tuyến tỉnh năm 2013", Kỷ yếu các đề tài nghi n cứu khoa h c của hệ TT-GDSK năm 2013 - Trung tâm TT-GDSK TW, tr. 5-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát nhanh về nhu cầu tập huấn về TT-GDSK của 63 Trung tâm TT-GDSK tuyến tỉnh năm 2013
Tác giả: Lý Thu Hiền
Năm: 2013
19. Trần Minh Hùng (2017), Th c trạng hoạt động và nhu cầu đào tạo của nh n vi n YTTB về phòng chống sốt xuất huyết tại huyện Gò Quao, tỉnh Ki n Giang năm 2016, Luận văn Thạc sĩ Y tế công cộng, Trường Đại Học Y Dược Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Th c trạng hoạt động và nhu cầu đào tạo của nh n vi n YTTB về phòng chống sốt xuất huyết tại huyện Gò Quao, tỉnh Ki n Giang năm 2016
Tác giả: Trần Minh Hùng
Năm: 2017
20. Tạ Thị Hương (2015) “Vai trò quản lý nhà nước trong giải quyết mất cân bằng cơ cấu giới tính khi sinh ở Việt Nam”. Tạp chí D n số và Phát triển, Số 4-2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò quản lý nhà nước trong giải quyết mất cân bằng cơ cấu giới tính khi sinh ở Việt Nam”. "Tạp chí D n số và Phát triển
21. Klaus Krickeberg, Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Thị Bích (2014), Giáo dục sức khỏe, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục sức khỏe
Tác giả: Klaus Krickeberg, Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Thị Bích
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2014
22. Nguyễn Văn Nam (2016), Th c trạng hoạt động và nhu cầu đào tạo của đội ngũ cộng tác vi n d n số tại thành phố Việt Trì tỉnh Phú Th năm 2016, Luận văn Thạc sĩ Y tế công cộng, Trường Đại học Y Dược Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Th c trạng hoạt động và nhu cầu đào tạo của đội ngũ cộng tác vi n d n số tại thành phố Việt Trì tỉnh Phú Th năm 2016
Tác giả: Nguyễn Văn Nam
Năm: 2016
23. Tạc Văn Nam (2009). Nghi n cứu th c trạng nguồn c phục vụ công tác TTGDSK của Ngành y tế tỉnh Bắc Kạn năm 2007-2008, đề xuất một số giải pháp đến năm 2015, Đề tài cấp cơ sở - Trung tâm TT- GDSK tỉnh Bắc Kạn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi n cứu th c trạng nguồn c phục vụ công tác TTGDSK của Ngành y tế tỉnh Bắc Kạn năm 2007-2008, đề xuất một số giải pháp đến năm 2015
Tác giả: Tạc Văn Nam
Năm: 2009
24. Vũ Thúy Nga và cộng sự (2016). "Tổng quan tài liệu về chuẩn mực đạo đức, phong cách và thái độ phục vụ của NVYT ở nước ta". Tạp chí Chính sách Y tế, Số 19-2016; tr. 4-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan tài liệu về chuẩn mực đạo đức, phong cách và thái độ phục vụ của NVYT ở nước ta
Tác giả: Vũ Thúy Nga và cộng sự
Năm: 2016
25. Đoàn Trọng Nghĩa (2011), X y d ng đội ngũ nh n vi n y tế thôn bản tại huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Bi n, khó khăn và giải pháp. Chuyên đề tốt nghiệp chuyên khoa I – YTCC, Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: X y d ng đội ngũ nh n vi n y tế thôn bản tại huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Bi n, khó khăn và giải pháp
Tác giả: Đoàn Trọng Nghĩa
Năm: 2011
26. Hoàng Việt Ngọc (2012), Th c trạng th c hiện nhiệm vụ và kết quả n ng cao năng c của nh n vi n YTTB tại huyện Võ Nhai và Định Hóa tỉnh Thái Nguy n, Luận văn BSCKII, Trường đại học Y dược Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Th c trạng th c hiện nhiệm vụ và kết quả n ng cao năng c của nh n vi n YTTB tại huyện Võ Nhai và Định Hóa tỉnh Thái Nguy n
Tác giả: Hoàng Việt Ngọc
Năm: 2012
27. Lê Cảnh Nhạc (2010), Huy động tiềm năng cộng đồng trong truyền thông giáo dục phòng chống tai nạn thương tích trẻ em, Tạp chí D n số và Phát triển, số 4, tr.18-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí D n số và Phát triển
Tác giả: Lê Cảnh Nhạc
Năm: 2010
29. Trương Thị Tuyết Nhung, Lê Vinh (2014), "Thực trạng hoạt động và các yếu tố liên quan của nhân viên YTTB (ấp) tại huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh năm 2013", Tạp chí Y H c TP. Hồ Chí Minh, 18(6), pp.736-745 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng hoạt động và các yếu tố liên quan của nhân viên YTTB (ấp) tại huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh năm 2013
Tác giả: Trương Thị Tuyết Nhung, Lê Vinh
Năm: 2014
30. Nguyễn Hữu Quý (2015). Mô tả việc th c hiện nhiệm vụ của nh n vi n y tế thôn tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Đề tài cấp cơ sở - Trung tâm TT-GDSK thành phố Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô tả việc th c hiện nhiệm vụ của nh n vi n y tế thôn tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
Tác giả: Nguyễn Hữu Quý
Năm: 2015
31. Nguyễn Đình Thanh (2014), Th c trạng àm mẹ an toàn và vai trò của cán bộ y tế trong việc n ng cao công tác àm mẹ an toàn tại huyện H ng Nguy n, Nghệ An năm 2014. Luận văn BSCKII QLYT - Trường Đại học Y Dược Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Th c trạng àm mẹ an toàn và vai trò của cán bộ y tế trong việc n ng cao công tác àm mẹ an toàn tại huyện H ng Nguy n, Nghệ An năm 2014
Tác giả: Nguyễn Đình Thanh
Năm: 2014
33. Phạm Lê Tuấn và cộng sự (2018), "Thực trạng tổ chức mạng lưới và phối hợp liên ngành trong cung ứng dịch vụ y tế tại các huyện đảo và đề xuất các giải pháp chính sách". Tạp chí Y h c Cộng đồng, Số 43 năm 2018; tr 42-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng tổ chức mạng lưới và phối hợp liên ngành trong cung ứng dịch vụ y tế tại các huyện đảo và đề xuất các giải pháp chính sách
Tác giả: Phạm Lê Tuấn và cộng sự
Năm: 2018
34. Võ Bá Tước (2013), "Đánh giá hoạt động nhân viên y tế thôn bản tỉnh An Giang năm 2012 theo Thông tƣ 39/TT-BYT ngày 10/9/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế", Kỷ yếu các đề nghi n cứu khoa h c của hệ Truyền thông – Giáo dục sức khỏe năm 2013, tr.09-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hoạt động nhân viên y tế thôn bản tỉnh An Giang năm 2012 theo Thông tƣ 39/TT-BYT ngày 10/9/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế
Tác giả: Võ Bá Tước
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w